Nội dung Văn Bản Quy Phạm Pháp Luật được biên tập lại từ 04 nguồn chính: https://vbpl.vn/; www.congbao.hochiminhcity.gov.vn; https://congbao.chinhphu.vn/ và https://www.ipvietnam.gov.vn /

218 DANH MỤC VĂN BẢN PHÁP LUẬT

Chương IX THI HÀNH BIỆN PHÁP TƯ PHÁP BẮT BUỘC CHỮA BỆNH

 Chương IX

THI HÀNH BIỆN PHÁP TƯ PHÁP BẮT BUỘC CHỮA BỆNH

 

Điều 130. Quyết định áp dụng biện pháp tư pháp bắt buộc chữa bệnh

1. Quyết định áp dụng biện pháp tư pháp bắt buộc chữa bệnh bao gồm: quyết định của Tòa án, quyết định của Viện kiểm sát về áp dụng biện pháp tư pháp bắt buộc chữa bệnh.

2. Quyết định áp dụng biện pháp tư pháp bắt buộc chữa bệnh phải ghi rõ tên cơ quan, họ tên, chức vụ người ra quyết định; họ tên, ngày, tháng, năm sinh, nơi cư trú của người chấp hành biện pháp tư pháp bắt buộc chữa bệnh; tên cơ quan có nhiệm vụ thi hành.

3. Trong thời hạn 03 ngày làm việc kể từ ngày ra quyết định, cơ quan ra quyết định phải gửi quyết định đó cho cá nhân, cơ quan sau đây:

a) Người chấp hành biện pháp tư pháp bắt buộc chữa bệnh, người đại diện của người đó;

b) Viện kiểm sát cùng cấp trong trường hợp Tòa án ra quyết định;

c) Cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp tỉnh nơi người chấp hành biện pháp tư pháp bắt buộc chữa bệnh cư trú;

d) Cơ sở khám bệnh, chữa bệnh được chỉ định bắt buộc chữa bệnh;

đ) Cơ quan đề nghị Tòa án, Viện kiểm sát áp dụng biện pháp tư pháp bắt buộc chữa bệnh.

Điều 131. Cơ quan, tổ chức được giao nhiệm vụ thi hành biện pháp tư pháp bắt buộc chữa bệnh

Cơ sở khám bệnh, chữa bệnh được chỉ định bắt buộc chữa bệnh có nhiệm vụ thực hiện việc khám bệnh, chữa bệnh cho người bị áp dụng biện pháp tư pháp bắt buộc chữa bệnh.

Điều 132. Nhiệm vụ, quyền hạn của Viện kiểm sát trong thi hành biện pháp tư pháp bắt buộc chữa bệnh

1. Nhiệm vụ, quyền hạn của Viện kiểm sát trong việc áp dụng và thi hành biện pháp tư pháp bắt buộc chữa bệnh được thực hiện theo quy định tại Chương này.

2. Viện kiểm sát thực hiện chức năng kiểm sát việc tuân theo pháp luật của cơ quan, tổ chức, cá nhân trong việc thi hành biện pháp tư pháp bắt buộc chữa bệnh theo quy định của Luật này và quy định khác của pháp luật có liên quan.

Điều 133. Bảo đảm điều kiện thi hành biện pháp tư pháp bắt buộc chữa bệnh

Nhà nước bảo đảm các điều kiện về cơ sở vật chất, kinh phí để thi hành biện pháp tư pháp bắt buộc chữa bệnh.

Điều 134. Thẩm quyền đề nghị áp dụng biện pháp tư pháp bắt buộc chữa bệnh, hồ sơ đưa người vào cơ sở khám bệnh, chữa bệnh để bắt buộc chữa bệnh

1. Thẩm quyền đề nghị áp dụng biện pháp tư pháp bắt buộc chữa bệnh được quy định như sau:

a) Cơ quan đang thụ lý giải quyết vụ án trong giai đoạn điều tra có quyền đề nghị Viện kiểm sát có thẩm quyền;

b) Trại giam, trại tạm giam thuộc Bộ Công an, trại tạm giam thuộc Bộ Quốc phòng, cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp tỉnh, cơ quan thi hành án hình sự cấp quân khu trong giai đoạn thi hành án có quyền đề nghị Tòa án nhân dân khu vực, Tòa án quân sự cấp quân khu nơi phạm nhân chấp hành án.

2. Cơ quan đề nghị áp dụng biện pháp tư pháp bắt buộc chữa bệnh có trách nhiệm lập hồ sơ đưa người vào cơ sở khám bệnh, chữa bệnh để bắt buộc chữa bệnh, hồ sơ bao gồm:

a) Quyết định của Viện kiểm sát hoặc Tòa án về áp dụng biện pháp tư pháp bắt buộc chữa bệnh;

b) Kết luận giám định pháp y; kết luận giám định pháp y lâm sàng;

c) Lý lịch cá nhân, lý lịch bị can hoặc lý lịch phạm nhân của người chấp hành biện pháp tư pháp bắt buộc chữa bệnh;

d) Tài liệu khác có liên quan.

3. Trường hợp Viện kiểm sát, Tòa án tự mình quyết định áp dụng biện pháp tư pháp bắt buộc chữa bệnh thì Viện kiểm sát, Tòa án đã ra quyết định có trách nhiệm lập hồ sơ và đề nghị cơ quan đang thụ lý giải quyết vụ án trong giai đoạn điều tra hoặc trại giam, trại tạm giam trong giai đoạn thi hành án đưa người vào cơ sở bắt buộc chữa bệnh.

Điều 135. Đưa người vào cơ sở khám bệnh, chữa bệnh để bắt buộc chữa bệnh

1. Ngay sau khi nhận được quyết định áp dụng biện pháp tư pháp bắt buộc chữa bệnh, cơ quan đang giải quyết vụ án trong giai đoạn điều tra hoặc trại giam, trại tạm giam trong giai đoạn thi hành án, cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp tỉnh, cơ quan thi hành án hình sự cấp quân khu trong trường hợp hoàn, tạm đình chỉ chấp hành án phạt tù có nhiệm vụ giao người bị áp dụng biện pháp tư pháp bắt buộc chữa bệnh và hồ sơ kèm theo cho cơ sở khám bệnh, chữa bệnh được chỉ định theo quyết định của Viện kiểm sát hoặc quyết định của Tòa án; trường hợp người bị áp dụng biện pháp tư pháp bắt buộc chữa bệnh là phạm nhân thì sao gửi quyết định áp dụng biện pháp tư pháp bắt buộc chữa bệnh cho cơ quan quản lý thi hành án hình sự Bộ Công an, Bộ Quốc phòng.

2. Cơ sở khám bệnh, chữa bệnh được Viện kiểm sát hoặc Tòa án chỉ định có trách nhiệm tiếp nhận người bị áp dụng biện pháp tư pháp bắt buộc chữa bệnh và hồ sơ kèm theo, lập biên bản giao nhận. Cơ quan có trách nhiệm đưa người vào cơ sở khám bệnh, chữa bệnh phải thông báo cho gia đình của người bị áp dụng biện pháp tư pháp bắt buộc chữa bệnh về nơi người đó đang chữa bệnh.

Khi tiếp nhận người bị áp dụng biện pháp tư pháp bắt buộc chữa bệnh, cơ sở khám bệnh, chữa bệnh được chỉ định có trách nhiệm sau đây:

a) Kiểm tra thông tin để xác định đúng người bị áp dụng biện pháp tư pháp bắt buộc theo quyết định của cơ quan có thẩm quyền;

b) Lập biên bản giao nhận người bị áp dụng biện pháp tư pháp bắt buộc chữa bệnh; biên bản bàn giao hồ sơ, tài liệu;

c) Tổ chức khám sức khỏe cho người bị áp dụng biện pháp tư pháp bắt buộc chữa bệnh. Trường hợp chưa đủ hồ sơ quy định tại khoản 2 Điều 134 của Luật này thì cơ sở khám bệnh, chữa bệnh yêu cầu cơ quan đề nghị áp dụng biện pháp tư pháp bắt buộc chữa bệnh cung cấp đầy đủ.

3. Thời gian bắt buộc chữa bệnh thực tế của phạm nhân tại cơ sở khám bệnh, chữa bệnh được trừ vào thời gian chấp hành án phạt tù.

Đối với người đang chấp hành án phạt tù, nếu thời gian chấp hành biện pháp tư pháp bắt buộc chữa bệnh tại cơ sở khám bệnh, chữa bệnh bằng hoặc dài hơn thời gian phải chấp hành án phạt tù thì trại giam, trại tạm giam, cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp tỉnh, cơ quan thi hành án hình sự cấp quân khu nơi đề nghị áp dụng biện pháp tư pháp bắt buộc chữa bệnh cấp chứng nhận chấp hành xong án phạt tù cho họ.

Điều 136. Tổ chức quản lý, điều trị cho người bị áp dụng biện pháp tư pháp bắt buộc chữa bệnh

1. Cơ sở khám bệnh, chữa bệnh có trách nhiệm quản lý, tổ chức điều trị bệnh cho người bị áp dụng biện pháp tư pháp bắt buộc chữa bệnh; việc điều trị bệnh không được phân biệt đối xử.

2. Trong thời gian bắt buộc chữa bệnh, gia đình của người bị áp dụng biện pháp tư pháp bắt buộc chữa bệnh được gặp và phối hợp chăm sóc người bị áp dụng biện pháp tư pháp bắt buộc chữa bệnh và phải chấp hành đúng nội quy của cơ sở khám bệnh, chữa bệnh và quy định về thăm gặp, chăm sóc.

Trường hợp cơ sở khám bệnh, chữa bệnh có căn cứ cho rằng người bị áp dụng biện pháp tư pháp bắt buộc chữa bệnh không mắc bệnh như kết luận giám định pháp y, pháp y tâm thần thì đề nghị cơ quan đã ban hành quyết định áp dụng biện pháp tư pháp bắt buộc chữa bệnh trưng cầu giám định lại.

3. Trường hợp người bị áp dụng biện pháp tư pháp bắt buộc chữa bệnh bỏ trốn, cơ sở khám bệnh, chữa bệnh phải lập biên bản và thông báo ngay cho cơ quan đề nghị áp dụng biện pháp tư pháp bắt buộc chữa bệnh, Công an cấp xã nơi cơ sở khám bệnh, chữa bệnh đóng trụ sở, Công an cấp xã nơi người bị áp dụng biện pháp tư pháp bắt buộc chữa bệnh cư trú và gia đình của người đó biết để phối hợp truy tìm, áp giải người đó trở lại cơ sở khám bệnh, chữa bệnh.

Hết thời hạn 03 ngày kể từ ngày phát hiện người bị áp dụng biện pháp tư pháp bắt buộc chữa bệnh bỏ trốn mà việc truy tìm không có kết quả thì Cơ sở khám bệnh, chữa bệnh đề nghị cơ quan đã đề nghị áp dụng biện pháp tư pháp bắt buộc chữa bệnh để tổ chức truy nã, áp giải người đó trở lại cơ sở khám bệnh, chữa bệnh.

4. Chính phủ quy định về biện pháp tổ chức quản lý người bị áp dụng biện pháp tư pháp bắt buộc chữa bệnh trong thời gian điều trị tại cơ sở khám bệnh, chữa bệnh.

Điều 137. Chấm dứt thi hành biện pháp tư pháp bắt buộc chữa bệnh

1. Khi người bị áp dụng biện pháp tư pháp bắt buộc chữa bệnh đã khỏi bệnh hoặc đủ khả năng nhận thức, đủ khả năng điều khiển hành vi, thủ trưởng cơ sở khám bệnh, chữa bệnh thông báo cho cơ quan đề nghị áp dụng biện pháp tư pháp bắt buộc chữa bệnh để tiến hành trưng cầu giám định pháp y, pháp y tâm thần về tình trạng bệnh của người đó.

Căn cứ vào kết luận giám định pháp y, pháp y tâm thần về việc người đó đã khỏi bệnh hoặc đủ khả năng nhận thức, đủ khả năng điều khiển hành vi, cơ quan đề nghị áp dụng biện pháp tư pháp bắt buộc chữa bệnh đề nghị Tòa án hoặc Viện kiểm sát đã ra quyết định áp dụng biện pháp tư pháp bắt buộc chữa bệnh quyết định đình chỉ việc thi hành biện pháp này.

2. Tòa án hoặc Viện kiểm sát đã ra quyết định đình chỉ thi hành biện pháp tư pháp bắt buộc chữa bệnh có trách nhiệm gửi quyết định cho cơ quan đề nghị áp dụng biện pháp tư pháp bắt buộc chữa bệnh để thông báo cho cơ sở khám bệnh, chữa bệnh và gia đình của người đó.

3. Sau khi nhận được quyết định đình chỉ, cơ quan đề nghị áp dụng biện pháp tư pháp bắt buộc chữa bệnh phải đến nhận người bị áp dụng biện pháp tư pháp bắt buộc chữa bệnh. Việc giao nhận phải lập biên bản, trong đó ghi rõ thời gian chữa bệnh tại cơ sở khám bệnh, chữa bệnh.

4. Trường hợp quyết định áp dụng biện pháp tư pháp bắt buộc chữa bệnh bị hủy thì cơ sở khám bệnh, chữa bệnh bàn giao người bị áp dụng biện pháp tư pháp bắt buộc chữa bệnh cho cơ quan đề nghị áp dụng biện pháp tư pháp bắt buộc chữa bệnh.

Điều 138. Giải quyết trường hợp người bị áp dụng biện pháp tư pháp bắt buộc chữa bệnh chết

1. Trường hợp người bị áp dụng biện pháp tư pháp bắt buộc chữa bệnh chết, thủ trưởng cơ sở khám bệnh, chữa bệnh phải báo ngay cho cơ quan điều tra, Viện kiểm sát có thẩm quyền để xác định nguyên nhân chết, thông báo cho gia đình của người chết, cơ quan quy định tại khoản 1 và khoản 3 Điều 134 của Luật này.

2. Sau khi được cơ quan điều tra và Viện kiểm sát có thẩm quyền cho phép, cơ sở khám bệnh, chữa bệnh có trách nhiệm mai táng. Kinh phí cho việc mai táng do ngân sách nhà nước cấp. Trường hợp gia đình của người chết đề nghị nhận tử thi để mai táng và tự chịu chi phí thì cơ sở khám bệnh, chữa bệnh giao cho họ thực hiện. Việc tổ chức mai táng phải bảo đảm an ninh, trật tự, vệ sinh môi trường.

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét