CÔNG VĂN
Kính gửi:
- Các Toà án nhân dân và Toà án quân sự các cấp
- Các đơn
vị thuộc Toà án nhân dân tối cao
Trong thời
gian chuẩn bị Hội nghị và tại Hội nghị triển khai công tác ngành Toà án
năm 2002 và tập huấn nghiệp vụ (từ ngày 28 đến ngày 30-12-2001) cũng như trong
thời gian vừa qua nhiều Toà án nhân dân địa phương và Toà án quân sự các cấp đề
nghị Toà án nhân dân tối cao giải đáp một số vấn đề nghiệp vụ. Sau đây là
giải đáp của Toà án nhân dân tối cao về các vấn đề đó; cụ thể là:
I. VỀ
HÌNH SỰ.
1. Có ý kiến
cho rằng Nghị quyết số 32/1999/QH10 ngày 21-12-1999 của Quốc hội về
việc thi hành Bộ luật hình sự (sau đây gọi tắt là Nghị quyết số 32) nhưng
không quy định là để thi hành Bộ luật hình sự cụ thể nào, thế nhưng trong Nghị
quyết số 229/2000/NQ-UBTVQH10 ngày 28-1-2000 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội
về việc triển khai thực hiện Mục 3 Nghị quyết của Quốc hội "về việc
thi hành Bộ luật hình sự" (sau đây gọi tắt là Nghị quyết số 229) và
Thông tư liên tịch số 02/2000/TTLT-TANDTC-VKSNDTC-BTP-BCA ngày 5-7-2000
"Hướng dẫn thi hành Điều 7 Bộ luật hình sự năm 1999 và Mục 2 Nghị
quyết số 32/1999/QH10 ngày 21-12-1999 của Quốc hội" (sau đây gọi
tắt là Thông tư liên tịch số 02) lại nêu cụ thể là Bộ luật hình sự năm 1999.
Như vậy Nghị quyết số 229 và Thông tư liên tịch số 02 có mâu thuẫn với Nghị quyết
số 32 hay không?
Trước hết cần
phải khẳng định là các văn bản quy phạm pháp luật này không có gì mâu thuẫn với
nhau. Tất cả các văn bản này đều có nội dung triển khai thi hành Bộ luật hình sự
năm 1999. Nghiên cứu Nghị quyết số 32 chúng ta có thể nhận thấy mặc dù tên của
Nghị quyết là "về việc thi hành Bộ luật hình sự", nhưng trong nội
dung của Nghị quyết đã thể hiện rõ là về việc thi hành Bộ luật hình sự năm
1999; cụ thể tại Mục 1 của Nghị quyết đã quy định: "Bộ luật hình sự của nước
Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam được Quốc hội thông qua ngày 21-12-1999 có
hiệu lực từ ngày 01-7-2000". Bộ luật hình sự này thay thế... Như vậy
khái niệm "Bộ luật hình sự này" trong Nghị quyết số 32 phải hiểu
là Bộ luật hình sự năm 1999.
Giả thiết
cho rằng trong nội dung Nghị quyết số 32 chỉ đề cập đến "Bộ luật hình sự"
mà không có một quy định nào đề cập cụ thể đến "Bộ luật hình sự năm
1999" và để hiểu thống nhất là Bộ luật hình sự nào, thì theo quy định của
Hiến pháp năm 1992 Uỷ ban thường vụ Quốc hội có thẩm quyền giải thích cụ thể đó
là Bộ luật hình sự nào; do đó, trong Nghị quyết số 229 đã giải thích cụ thể đó
là Bộ luật hình sự năm 1999 là không có gì mâu thuẫn. Trên cơ sở Nghị quyết số
229, các cơ quan có thẩm quyền đã ban hành Thông tư liên tịch số 02 và hướng dẫn
cụ thể đó là Bộ luật hình sự năm 1999 là đúng quy định của pháp luật.
2. Khi áp dụng
Điều 7 Bộ luật hình sự năm 1999, việc so sánh Bộ luật hình sự năm 1999 với
Bộ luật hình sự năm 1985 để xác định trường hợp nào thuộc quy định tại khoản 2
hoặc khoản 3 Điều 7 Bộ luật hình sự năm 1999 được thực hiện như thế nào? So
sánh các điều luật tương ứng quy định trong hai Bộ luật hình sự hay so
sánh các khoản cụ thể trong các điều luật tương ứng quy định trong hai Bộ
luật hình sự này?
Trong các khoản 1, 2 và 3 Điều 7 Bộ luật hình sự năm 1999 quy định: "Điều luật được áp dụng...", "Điều luật quy định một tội phạm...", "Điều luật xoá bỏ một tội phạm...". Khác với Điều 7, trong Điều 8 Bộ luật hình sự năm 1999 quy định các loại tội phạm không dùng "điều luật" mà dùng "khung hình phạt đối với tội ấy..."; Do đó, việc so sánh Bộ luật hình sự năm 1999 với Bộ luật hình sự năm 1985 để xác định trường hợp nào thuộc quy định tại khoản 2 hoặc khoản 3 Điều 7 Bộ luật hình sự năm 1999 được thực hiện bằng việc so sánh các điều luật tương ứng quy định trong hai Bộ luật hình sự. Vấn đề này đã được hướng dẫn cụ thể tại Thông tư liên tịch số 02/2000/TTLT-TANDTC-VKSNDTC-BTP-BCA ngày 5-7-2000 của Toà án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Bộ Tư pháp, Bộ Công an "Hướng dẫn thi hành Điều 7 Bộ luật hình sự năm 1999 và Mục 2 Nghị quyết số 32/1999/QH10 ngày 21-12-1999 của Quốc hội" (sau đây gọi tắt và viết tắt là TTLT số 02). Ngoài ra, việc so sánh phải bằng các điều luật tương ứng quy định trong hai Bộ luật hình sự, chứ không phải bằng các khoản cụ thể trong các điều luật tương ứng, bởi vì trong nhiều điều luật của Bộ luật hình sự năm 1999 quy định nhiều khoản hơn trong điều luật tương ứng của Bộ luật hình sự năm 1985. Ví dụ: "Tội giết người do vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng" Điều 102 Bộ luật hình sự năm 1985 chỉ quy định 1 khoản, còn Điều 96 Bộ luật hình sự năm 1999 quy định hai khoản hoặc "Tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khoẻ người khác" (không thuộc trong trạng thái tinh thần bị kích động mạnh, không thuộc trường hợp vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng) Điều 109 Bộ luật hình sự năm 1985 quy định 3 khoản, còn Điều 104 Bộ luật hình sự năm 1999 quy định 4 khoản. Nếu so sánh theo khoản thì trong các trường hợp này không thể so sánh được.
Tuy nhiên, thực tiễn áp dụng cho thấy bằng việc so sánh các điều luật tương ứng thì điều luật của Bộ luật hình sự năm 1999 nhẹ hơn, nhưng điều luật của Bộ luật hình sự năm 1985 có quy định khác có lợi hơn hoặc ngược lại; do đó, tại điểm b7 Mục 2 và tại điểm d7 Mục 3 TTLT số 02 đã hướng dẫn cụ thể việc áp dụng pháp luật trong các trường hợp này.
Hai ví dụ sau đây minh hoạ việc so sánh trên:
A. Về tội giết người:
- So sánh Điều 101 Bộ luật hình sự năm 1985 với Điều 93 Bộ luật hình sự năm 1999 nếu theo điều luật, rõ ràng Điều 101 Bộ luật hình sự năm 1985 nhẹ hơn; do đó, đối với hành vi giết người được thực hiện trước ngày 1-7-2000 mà không thuộc một trong các trường hợp định khung tăng nặng, thì phải áp dụng khoản 2 Điều 101 Bộ luật hình sự năm 1985 để xét xử. Tuy nhiên, xem xét khoản 2 Điều 93 Bộ luật hình sự năm 1999 thì mức cao nhất của khung hình phạt là mười lăm năm tù; do đó, tuy áp dụng khoản 2 Điều 101 Bộ luật hình sự năm 1985 để xét xử, nhưng phải áp dụng tinh thần quy định có lợi cho người phạm tội quy định tại khoản 2 Điều 93 Bộ luật hình sự năm 1999, cụ thể là dù trong trường hợp nào cũng không được xử phạt quá mười lăm năm tù.
B. Về tội cố ý gây thương tích: So sánh Điều 109 Bộ luật hình sự năm 1985 với Điều 104 Bộ luật hình sự năm 1999 nếu theo điều luật, rõ ràng Điều 109 Bộ luật hình sự năm 1985 nhẹ hơn; do đó, đối với hành vi cố ý gây thương tích cho người khác được thực hiện trước ngày 1-7-2000 mà tỷ lệ thương tật dưới 11% nhưng thuộc trường hợp có tính chất côn đồ hoặc tái phạm nguy hiểm thì phải áp dụng Điều 109 Bộ luật hình sự năm 1985 để xét xử. Tuy nhiên, trước khi Bộ luật hình sự năm 1999 có hiệu lực thi hành thì phải áp dụng khoản 2 Điều 109 Bộ luật hình sự năm 1985 để xét xử, nhưng nay theo quy định tại Điều 104 Bộ luật hình sự năm 1999 trường hợp này thuộc quy định tại khoản 1; do đó, cần áp dụng tinh thần quy định này có lợi cho người phạm tội, cho nên chỉ được áp dụng khoản 1 Điều 109 Bộ luật hình sự năm 1985 để xét xử.
3. Theo quy
định tại khoản 1 Điều 60 Bộ luật hình sự năm 1999, thì khi cho hưởng án
treo Toà án ấn định thời gian thử thách. Thế nhưng tại khoản 5 Điều 5 Nghị
định số 61/2000/NĐ-CP ngày 30-10-2000 của Chính phủ lại quy định thời gian thử
thách của án treo được tính từ ngày cơ quan, tổ chức giám sát, giáo dục người
đó nhận được quyết định thi hành bản án và trích lục bản án? Như vậy, hai quy định
này có mâu thuẫn với nhau không? Toà án ấn định thời gian thử thách như thế
nào? Thời gian thử thách được tính từ ngày nào?
Quy định tại khoản 5 Điều 5 Nghị định số 61/2000/NĐ-CP ngày 30-10-2000 của Chính phủ (sau đây gọi tắt là Nghị định số 61) không có gì mâu thuẫn với quy định tại Điều 60 Bộ luật hình sự năm 1999.
Việc Toà án cho người bị xử phạt tù được hưởng án treo và ấn định thời gian thử thách vẫn thực hiện theo quy định tại Điều 60 Bộ luật hình sự năm 1999 theo thủ tục chung; cụ thể là vẫn thực hiện như các hướng dẫn trước đây.
Khoản 5 Điều 5 Nghị định số 61 quy định: "Người được hưởng án treo là cán bộ, công chức, quân nhân, công nhân quốc phòng, người lao động làm công ăn lương, thì thời gian thử thách cũng được tính vào thời gian công tác, thời gian tại ngũ nhưng không được tính vào thời gian xét nâng lương, phong quân hàm theo niên hạn. Thời gian thử thách được tính từ ngày cơ quan, tổ chức giám sát, giáo dục người đó nhận được quyết định thi hành bản án và trích lục bản án".
Như vậy quy định tại khoản 5 Điều 5 Nghị định số 61 được áp dụng đối với người được hưởng án treo là cán bộ, công chức, quân nhân, công nhân quốc phòng, người lao động làm công ăn lương nếu vẫn được tiếp tục làm việc, thì thời gian thử thách để được tính vào thời gian công tác, thời gian tại ngũ chỉ được tính từ ngày cơ quan, tổ chức giám sát, giáo dục người đó nhận được quyết định thi hành bản án và trích lục bản án, chứ không phải kể từ ngày Toà án cho hưởng án treo và ấn định thời gian thử thách.
4. Một người
đang chấp hành hình phạt tù do bị ốm nặng đã được Chánh án Toà án ra quyết định
cho được tạm đình chỉ chấp hành hình phạt tù. Trong thời gian được tạm đình chỉ
chấp hành hình phạt tù, thì người đó lại phạm tội mới và bị đưa ra xét xử.
Trong trường hợp này phải áp dụng khoản nào của Điều 51 Bộ luật hình sự năm
1999 để tổng hợp hình phạt?
- Một người đang chấp hành hình phạt tù do bị ốm nặng đã được Chánh án Toà án ra quyết định cho được tạm đình chỉ chấp hành hình phạt tù, thì người đó đang phải chấp hành bản án đối với phần hình phạt tù còn lại và các quyết định khác trong bản án, mà họ chưa thi hành. Nếu trong thời gian này người đó lại phạm tội mới và bị đưa ra xét xử, thì việc tổng hợp hình phạt đối với họ theo quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 1999.
5. Người phạm
tội bị bắt quả tang đã khai báo đầy đủ hành vi phạm tội của mình, thì có được
áp dụng tình tiết giảm nhẹ "thành khẩn khai báo" quy định tại điểm p
khoản 1 Điều 46 Bộ luật hình sự năm 1999 hay không?
- Mặc dù người phạm tội bị bắt quả tang, nhưng sau khi bị bắt đã khai báo đầy đủ hành vi phạm tội của mình phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án thì Toà án áp dụng tình tiết giảm nhẹ "thành khẩn khai báo" quy định tại điểm p khoản 1 Điều 46 Bộ luật hình sự năm 1999 cho họ. Nếu sau khi bị bắt người phạm tội quanh co, chối tội hoặc khai báo không đúng sự thật của vụ án và chỉ sau khi cơ quan tiến hành tố tụng đã chứng minh được đầy đủ hành vi phạm tội của họ, họ mới nhận sự việc phạm tội của họ đúng như cơ quan tiến hành tố tụng đã chứng minh, thì không được áp dụng tình tiết giảm nhẹ "thành khẩn khai báo" quy định tại điểm p khoản 1 Điều 46 Bộ luật hình sự. Tuy nhiên, trong trường hợp tại cơ quan điều tra hoặc tại phiên toà sơ thẩm người phạm tội quanh co, chối tội hoặc khai báo không đúng sự thật, nhưng sau khi có kết luận điều tra hoặc sau khi xét xử sơ thẩm đến phiên toà phúc thẩm đã khai báo lại một cách đầy đủ và đúng sự thật diễn biến việc phạm tội, thì vẫn được áp dụng tình tiết giảm nhẹ "thành khẩn khai báo" đối với họ, nhưng mức độ giảm nhẹ trong trường hợp này không thể bằng trong trường hợp ngay từ đầu họ đã khai báo đầy đủ và đúng sự thật diễn biến việc phạm tội.
6. Khi xét xử
vụ án hình sự về tội cố ý gây thương tích, trong đó bị cáo là chồng (hoặc là vợ),
người bị hại là vợ (hoặc là chồng) thì có buộc người chồng (hoặc người vợ) phải
bồi thường thiệt hại cho người vợ (hoặc người chồng) do sức khoẻ bị xâm phạm
hay không?
- Về nguyên tắc theo quy định tại Điều 42 Bộ luật hình sự năm 1999, các điều 609, 610 và 613 Bộ luật dân sự thì người chồng (hoặc người vợ) phải có trách nhiệm bồi thường thiệt hại. Tuy nhiên, theo quy định tại Điều 39 Bộ luật tố tụng hình sự thì việc Toà án có buộc người chồng (hoặc người vợ) phải bồi thường thiệt hại cho người vợ (hoặc người chồng) do sức khoẻ bị xâm phạm hay không là phụ thuộc vào người bị hại có yêu cầu hay không. Trong trường hợp người bị hại là người vợ (hoặc người chồng) có yêu cầu thì Toà án cần buộc người chồng (hoặc người vợ) có trách nhiệm bồi thường thiệt hại cho người vợ (hoặc người chồng) do sức khoẻ bị xâm phạm. Tuy nhiên, trong trường hợp này cần chú ý là quan hệ giữa bị cáo và người bị hại là vợ chồng cho nên còn bị điều chỉnh bởi Luật hôn nhân và gia đình; do đó, khi quyết định việc bồi thường thiệt hại cần chú ý đến các quy định của Luật hôn nhân và gia đình về trách nhiệm, nghĩa vụ của vợ, chồng; về chế độ tài sản riêng, tài sản chung của vợ, chồng...
7. Phân biệt
việc áp dụng tình tiết giảm nhẹ trong trường hợp “tự thú” và trong
trường hợp “đầu thú” như thế nào?
“Tự thú” là
tự mình nhận tội và khai ra hành vi phạm tội của mình, trong khi chưa ai phát
hiện được mình phạm tội. Người nào bị bắt, bị phát hiện về một hành vi phạm tội
cụ thể, nhưng trong quá trình điều tra đã tự mình nhận tội và khai ra những
hành vi phạm tội khác của mình mà chưa bị phát hiện, thì cũng được coi là tự
thú đối với việc tự mình nhận tội và khai ra những hành vi phạm tội của mình mà
chưa bị phát hiện. “Đầu thú” là có người đã biết mình phạm tội, nhưng biết
không thể trốn tránh được nên đến cơ quan có thẩm quyền trình diện để cơ quan
có thẩm quyền xử lý theo quy định của pháp luật. Tuy nhiên, theo Thông tư
liên ngành số 05/TTLN ngày 2-6-1990 của Bộ Nội vụ, Viện kiểm sát nhân dân
tối cao, Toà án nhân dân tối cao, Bộ Tư pháp "Hướng dẫn thi hành
chính sách đối với người phạm tội ra tự thú", thì các trường hợp này
đều được coi là tự thú. Tuy hướng dẫn các trường hợp này đều được coi là tự
thú để xem xét giảm nhẹ trách nhiệm hình sự nhưng không hướng dẫn cụ thể trong
trường hợp nào áp dụng khoản 1, trong trường hợp nào áp dụng khoản 2 Điều
38 Bộ luật hình sự năm 1985. Để áp dụng đúng và thống nhất tình tiết giảm
nhẹ trách nhiệm hình sự trong các trường hợp trên đây, Toà án nhân dân tối cao
hướng dẫn cụ thể như sau:
- Nếu người
phạm tội tự mình nhận tội và khai ra hành vi phạm tội của mình, trong khi chưa
ai phát hiện được mình phạm tội thì áp dụng tình tiết giảm nhẹ "tự
thú" quy định tại khoản 1 Điều 46 Bộ luật hình sự năm 1999 đối với
người phạm tội.
- Nếu có người
đã biết hành vi phạm tội của người phạm tội nhưng biết không thể trốn tránh được
nên người phạm tội đến cơ quan có thẩm quyền trình diện thì áp dụng khoản 2 Điều
46 Bộ luật hình sự năm 1999 để xem xét giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho người
phạm tội. Cũng cần chú ý là, trong trường hợp này, nếu người phạm tội thành khẩn
khai báo, ăn năn hối cải hoặc có những việc làm khác thuộc trường hợp được coi
là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự thì được hưởng tình tiết giảm nhẹ
trách nhiệm hình sự tương ứng quy định tại khoản 1 Điều 46 Bộ luật hình sự
năm 1999.
8. Đối
với người nước ngoài phạm tội nhưng có nhiều tình tiết giảm nhẹ, nếu xử phạt tù
thì không thể cho hưởng án treo được. Vậy có thể áp dụng hình phạt tiền đối với
họ được không?
Việc áp dụng
hình phạt tiền là hình phạt chính đối với người phạm tội nói chung, cũng như đối
với người nước ngoài phạm tội nói riêng phải tuân thủ quy định tại Điều 30 Bộ
luật hình sự năm 1999. Trong trường hợp người phạm tội là người nước ngoài có
nhiều tình tiết giảm nhẹ, nếu xử phạt tù thì không thể cho hưởng án treo được,
nhưng họ có đủ các điều kiện quy định tại Điều 47 Bộ luật hình sự năm 1999 và
đã được hướng dẫn tại Mục 10 Nghị quyết số 01/2000/NQ-HĐTP ngày 4-8-2000 của Hội
đồng Thẩm phán Toà án nhân dân tối cao "Hướng dẫn áp dụng một số quy định
trong Phần chung của Bộ luật hình sự năm 1999" để có thể được chuyển sang
một hình phạt khác thuộc loại nhẹ hơn, thì tuỳ từng trường hợp cụ thể mà Toà án
có thể áp dụng hình phạt trục xuất hoặc hình phạt tiền.
9. Đề
nghị hướng dẫn các tình tiết hàng phạm pháp là hàng cấm (thuốc lá điếu của nước
ngoài) có số lượng lớn, có số lượng rất lớn và có số lượng đặc biệt lớn.
Để áp dụng
đúng và thống nhất các tình tiết này thì cần phải có sự thống nhất của liên
ngành để hướng dẫn. Tuy nhiên, trong thời gian chờ hướng dẫn của liên ngành,
Toà án nhân dân tối cao tạm thời hướng dẫn như sau:
- Được coi
là hàng phạm pháp có số lượng lớn đối với thuốc lá điếu nước ngoài từ 1.500 bao
đến dưới 4.500 bao (mỗi bao 20 điếu);
- Được coi
là hàng phạm pháp có số lượng rất lớn đối với thuốc lá điếu nước ngoài từ 4.500
bao đến dưới 13.500 bao (mỗi bao 20 điếu);
- Được coi
là hàng phạm pháp có số lượng đặc biệt lớn đối với thuốc lá điếu nước ngoài từ
13.500 bao trở lên (mỗi bao 20 điếu).
10. Nếu chỉ
căn cứ vào số lượng tiền giả thì trường hợp nào áp dụng khoản 1, trường hợp
nào áp dụng khoản 2 và trường hợp nào áp dụng khoản 3 Điều 180 Bộ luật
hình sự năm 1999.
Đây là vấn đề
cần phải có sự thống nhất của liên ngành để hướng dẫn. Trong thời gian chờ hướng
dẫn của liên ngành, Toà án nhân dân tối cao tạm thời hướng dẫn như sau:
A. Đối
với tội làm tiền giả, ngân phiếu giả, công trái giả:
- áp dụng
khoản 1 Điều 180 Bộ luật hình sự năm 1999 để xét xử bị cáo, nếu tiền giả dưới 3
triệu đồng;
- áp dụng
khoản 2 Điều 180 Bộ luật hình sự năm 1999 để xét xử bị cáo, nếu tiền giả từ 3
triệu đồng đến dưới 15 triệu đồng;
- áp dụng
khoản 3 Điều 180 Bộ luật hình sự năm 1999 để xét xử bị cáo, nếu tiền giả từ 15
triệu đồng trở lên.
B. Đối
với tội tàng trữ, vận chuyển, lưu hành tiền giả, ngân phiếu giả, công trái giả:
- áp dụng
khoản 1 Điều 180 Bộ luật hình sự năm 1999 để xét xử bị cáo, nếu tiền giả dưới
10 triệu đồng;
- áp dụng
khoản 2 Điều 180 Bộ luật hình sự năm 1999 để xét xử bị cáo, nếu tiền giả từ 10
triệu đồng đến dưới 30 triệu đồng;
- áp dụng
khoản 3 Điều 180 Bộ luật hình sự năm 1999 để xét xử bị cáo, nếu tiền giả từ 30
triệu đồng trở lên.
11. Đối
với người nhiều lần lưu hành tiền giả thì số lượng tiền giả để truy cứu trách
nhiệm hình sự là căn cứ vào từng lần cụ thể hay lấy tổng số lượng tiền giả của
tất cả các lần cộng lại? Nếu lấy tổng số lượng tiền giả của tất cả các lần cộng
lại thì có áp dụng tình tiết tăng nặng “phạm tội nhiều lần” quy định tại điểm g
khoản 1 Điều 48 Bộ luật hình sự năm 1999 nữa hay không?
Cần phải lấy
tổng số lượng tiền giả của tất cả các lần phạm tội cộng lại để truy cứu trách
nhiệm hình sự. Nếu trong các lần phạm tội đó có trường hợp đã hết thời hiệu
truy cứu trách nhiệm hình sự thì không xem xét trách nhiệm hình sự đối với trường
hợp đó (không cộng số lượng tiền giả của lần phạm tội đó). Nếu có hai lần phạm
tội lưu hành tiền giả trở lên thì ngoài việc cộng số lượng tiền giả của các lần
phạm tội để làm căn cứ truy cứu trách nhiệm hình sự, còn phải áp dụng tình tiết
tăng nặng “phạm tội nhiều lần” quy định tại điểm g khoản 1 Điều 48 Bộ luật hình
sự năm 1999.
12. Đề
nghị hướng dẫn đối với các trường hợp sử dụng điện trái phép làm chết người thì
xét xử về tội gì?
Để xét xử
đúng tội cần phải xem xét từng trường hợp cụ thể. Về nguyên tắc chung, Toà án
nhân dân tối cao hướng dẫn như sau:
A. Đối
với trường hợp sử dụng điện trái phép để chống trộm cắp mà làm chết người thì
người phạm tội phải bị xét xử về tội giết người.
B. Đối
với trường hợp sử dụng điện trái phép để diệt chuột, chống súc vật phá hoại mùa
màng thì cần phân biệt như sau:
- Nếu người sử dụng điện mắc điện ở nơi có nhiều người qua lại (cho dù có làm biển báo hiệu), biết việc mắc điện trong trường hợp này là nguy hiểm đến tính mạng con người, nhưng cứ mắc hoặc có thái độ bỏ mặc cho hậu quả xẩy ra và thực tế là có người bị điện giật chết, thì người phạm tội bị xét xử về tội giết người.
- Nếu người sử dụng điện mắc điện ở nơi họ tin rằng không có người qua lại, có sự canh gác cẩn thận, có biển báo nguy hiểm và tin rằng hậu quả chết người không thể xảy ra..., Nhưng hậu quả có người bị điện giật chết, thì người phạm tội bị xét xử về tội vô ý làm chết người.
II. VỀ TỐ
TỤNG HÌNH SỰ
1. Theo quy
định của pháp luật thì Viện kiểm sát có quyền kháng nghị đối với các bản án,
quyết định của Toà án. Vậy quyết định trả hồ sơ cho Viện kiểm sát để điều tra bổ
sung thì Viện kiểm sát có quyền kháng nghị hay không?
Viện kiểm
sát không có quyền kháng nghị quyết định trả hồ sơ cho Viện kiểm sát để điều
tra bổ sung. Theo tinh thần quy định tại Điều 154 Bộ luật tố tụng hình sự thì
những vấn đề cần điều tra bổ sung phải được nêu rõ trong quyết định yêu cầu điều
tra bổ sung. Nếu xét thấy những vấn đề cần điều tra bổ sung mà Toà án yêu cầu
là có căn cứ và cần thiết thì Viện kiểm sát tiến hành điều tra bổ sung; trong
trường hợp kết quả điều tra bổ sung dẫn tới đình chỉ vụ án thì Viện kiểm sát ra
quyết định đình chỉ vụ án và báo cho Toà án biết. Nếu xét thấy những vấn đề cần
điều tra bổ sung mà Toà án yêu cầu là không có căn cứ không thể điều tra bổ
sung được thì Viện kiểm sát vẫn giữ nguyên quyết định truy tố. Toà án tiến hành
xét xử căn cứ vào hồ sơ vụ án và kết quả thẩm vấn tại phiên toà để quyết định
khi nghị án.
2. Trong nhiều
hồ sơ vụ án hình sự (và dân sự) có các giấy tờ, tài liệu như đăng ký xe máy, giấy
phép lái xe, giấy tờ tuỳ thân... Sau khi xét xử nếu đương sự đến xin lại giấy tờ
mà Toà án cho họ lấy về thì có vi phạm quy định tại Điều 58 Bộ luật tố tụng
hình sự hay không?
Điều 58 Bộ
luật tố tụng hình sự chỉ quy định thẩm quyền xử lý vật chứng trong các giai đoạn
điều tra, truy tố, xét xử đối với vật chứng là công cụ, phương tiện phạm tội, vật
cấm lưu hành; vật chứng là những vật, tiền bạc thuộc sở hữu xã hội chủ nghĩa hoặc
thuộc sở hữu của người khác bị người phạm tội chiếm đoạt hoặc dùng làm công cụ
phạm tội; vật chứng là tiền bạc hoặc tài sản do phạm tội mà có; vật chứng không
có giá trị hoặc không sử dụng được. Đối với các giấy tờ, tài liệu tuỳ
thân, như: hộ chiếu, giấy chứng minh nhân dân, thẻ thương binh, giấy đăng ký xe
máy, giấy phép lái xe..., Thì theo quy định tại Điều 120 Bộ luật tố tụng hình sự
khi khám xét Điều tra viên được tạm giữ nếu là vật chứng hoặc có liên quan trực
tiếp đến vụ án. Việc tạm giữ này phải tuân thủ quy định tại Điều 120 Bộ luật tố
tụng hình sự. Sau khi Toà án đã xét xử và bản án đã có hiệu lực pháp luật, nếu
đương sự đến Toà án xin được lấy lại giấy tờ, tài liệu này, thì việc có trả lại
giấy tờ, tài liệu này cho đương sự hay không về nguyên tắc chung phải căn cứ
vào quyết định của Toà án trong bản án; cụ thể là:
A. Nếu trong
bản án không có quyết định của Toà án có liên quan trực tiếp đến việc sử dụng
các giấy tờ, tài liệu này và các giấy tờ, tài liệu này là cần thiết trong cuộc
sống và sinh hoạt của người bị kết án hoặc của thân nhân người bị kết án, thì
Toà án trả lại các giấy tờ, tài liệu này cho họ.
Ví dụ:
- Giấy chứng
minh nhân dân, Thẻ thương binh, Giấy chứng nhận huân chương, huy chương... Thì
Toà án trả lại cho họ.
- Trong bản
án không có quyết định cấm hành nghề lái xe thì Toà án trả lại giấy phép lái xe
cho họ.
B. Nếu trong
bản án có quyết định của Toà án có liên quan trực tiếp đến việc họ được tiếp tục
sử dụng các giấy tờ, tài liệu này, thì Toà án trả lại các giấy tờ, tài liệu này
cho họ.
Ví dụ: Trong
bản án có quyết định trả lại chiếc xe máy cho người phạm tội thì Toà án trả lại
giấy đăng ký xe máy cho họ.
C. Nếu trong
bản án có quyết định của Toà án có liên quan trực tiếp đến việc không được tiếp
tục sử dụng các giấy tờ, tài liệu này thì không trả lại các giấy tờ, tài liệu
này cho họ.
Ví dụ:
- Trong bản
án có quyết định tịch thu chiếc xe máy của người phạm tội, đã dùng vào việc thực
hiện tội phạm thì không trả lại giấy đăng ký xe máy đó cho họ.
- Trong bản
án có quyết định cấm hành nghề lái xe trong hai năm, kể từ ngày chấp hành xong
hình phạt tù thì không trả lại giấy phép lái xe cho họ. Tuy nhiên, hết thời hạn
cấm mà giấy phép lái xe này vẫn có giá trị sử dụng thì Toà án trả lại giấy phép
lái xe này cho họ.
Cần lưu ý rằng
phải phôtô lại các giấy tờ, tài liệu sẽ trả lại và việc trả lại các giấy tờ,
tài liệu này phải được lập thành biên bản, có chữ ký của người trả và của người
nhận; bản phôtô các giấy tờ, tài liệu và biên bản trả lại giấy tờ, tài liệu phải
được lưu vào hồ sơ vụ án đúng vị trí của các giấy tờ, tài liệu có trong hồ sơ vụ
án đã được trả lại.
3. Theo quy
định tại Điều 87 Bộ luật tố tụng hình sự thì Tòa án có quyền ra quyết định khởi
tố vụ án nếu qua xét xử tại phiên toà mà phát hiện được người phạm tội mới cần
phải điều tra. Vậy Viện kiểm sát có quyền kháng nghị quyết định này hay không?
Theo quy định
tại Điều 87 Bộ luật tố tụng hình sự, nếu qua việc xét xử tại phiên toà mà phát
hiện được tội phạm hoặc người phạm tội mới cần phải điều tra, thì Toà án ra quyết
định khởi tố vụ án (đoạn 2 khoản 1). Quyết định khởi tố vụ án này phải được gửi
đến Viện kiểm sát để xem xét, quyết định việc điều tra (khoản 3).
Khi kiểm sát
việc khởi tố vụ án hình sự, nếu xét thấy quyết định khởi tố của Toà án không có
căn cứ thì theo quy định tại khoản 3 Điều 91 Bộ luật tố tụng hình sự, Viện
kiểm sát có quyền kháng nghị lên Toà án cấp trên.
4. Vì bị cáo
ốm không đến được phiên toà nên Toà án phải quyết định hoãn xét xử nhiều lần, vậy
trường hợp này giải quyết như thế nào?
Theo quy định
tại Điều 162 Bộ luật tố tụng hình sự thì trong trường hợp bị cáo đã được giao
giấy triệu tập hợp lệ, nhưng vắng mặt tại phiên toà với lý do "bị ốm",
tuỳ từng trường hợp mà Toà án quyết định như sau:
1. Nếu đúng
bị cáo bị ốm (có bệnh án, có chứng nhận của cơ sở chữa bệnh...) Và sự vắng mặt
của bị cáo không trở ngại cho việc xét xử (như: phạm tội quả tang, chứng cứ đã
đầy đủ rõ ràng...), Thì Tòa án có thể tiến hành xét xử vắng mặt bị cáo (điểm c
khoản 2 Điều 162); nếu sự vắng mặt của bị cáo có trở ngại cho việc xét xử (như:
cần đối chất, cần kiểm tra một số tình tiết nào đó của vụ án...), Thì Toà án phải
hoãn phiên toà (đoạn 1 khoản 1 Điều 162).
2. Nếu gia
đình bị cáo thông báo cho Toà án về việc bị cáo ốm, nhưng không có chứng cứ chứng
minh là bị cáo bị ốm (không có bệnh án, không có chứng nhận của cơ sở chữa bệnh...),
Thì sự vắng mặt của bị cáo là không có lý do chính đáng và bị cáo sẽ bị áp giải
đến phiên toà (đoạn 1 khoản 1 Điều 162). Tuy nhiên, trong trường hợp sự vắng mặt
của bị cáo không trở ngại cho việc xét xử thì Toà án có thể tiến hành xét xử vắng
mặt bị cáo (điểm c khoản 2 Điều 162).
3. Nếu bị
cáo bị ốm do bệnh tâm thần hoặc bị bệnh hiểm nghèo khác (ung thư, lao phổi nặng...),
Thì Toà án phải ra quyết định tạm đình chỉ vụ án cho đến khi bị cáo khỏi bệnh
(đoạn 2 khoản 1 Điều 162). Nếu họ thuộc đối tượng phải áp dụng biện pháp bắt buộc
chữa bệnh, thì Toà án phải ra quyết định áp dụng biện pháp bắt buộc chữa bệnh đối
với họ.
5. Theo Pháp
lệnh Thủ tục giải quyết các vụ án dân sự phải có đơn khởi kiện của các đối tượng
theo luật định thì Toà án mới giải quyết các vụ án. Vậy phần dân sự trong vụ án
hình sự được tách ra để giải quyết riêng thì khi giải quyết phần dân sự đó họ
có phải làm đơn khởi kiện hay không, trong trường hợp nào thì tách phần dân sự
trong vụ án hình sự để giải quyết riêng?
Theo tinh thần
quy định tại Điều 42 Bộ luật hình sự năm 1999 thì khi xét xử một vụ án hình sự
cùng với việc quyết định trách nhiệm hình sự đối với người phạm tội, Toà án buộc
người phạm tội phải trả lại những vật, tiền bạc đã chiếm đoạt cho người sở hữu
hoặc người quản lý hợp pháp, phải sửa chữa hoặc bồi thường các thiệt hại vật chất
đã được xác định do hành vi phạm tội gây ra. Tuy nhiên, trong một số trường hợp
Toà án phải tách phần dân sự trong vụ án hình sự để giải quyết trong một vụ án
dân sự khác khi có yêu cầu. Thông thường Toà án chỉ tách phần dân sự trong vụ
án hình sự để giải quyết trong một vụ án dân sự khác khi chưa xác định được người
bị hại, nguyên đơn dân sự hoặc đã xác định được người bị hại, nguyên đơn dân sự
nhưng khi xét xử không biết họ ở đâu hoặc đã xác định được người bị hại, nguyên
đơn dân sự, nhưng họ chưa có yêu cầu trả lại những vật, tiền bạc đã bị người phạm
tội chiếm đoạt, chưa có yêu cầu phải sửa chữa hoặc bồi thường thiệt hại, chưa
chứng minh được đầy đủ thiệt hại do tội phạm gây ra. Đối với các trường hợp
này, Toà án chỉ thụ lý để giải quyết phần dân sự khi đương sự có yêu cầu (có
đơn yêu cầu hoặc đơn khởi kiện) và vụ án được giải quyết theo thủ tục chung
theo quy định của Pháp lệnh Thủ tục giải quyết các vụ án dân sự.
6. Khi xét xử
sơ thẩm một số vụ án hình sự, Toà án đã quyết định xử phạt bị cáo đúng bằng thời
gian tạm giam và trả tự do ngay cho bị cáo tại phiên tòa. Việc quyết định như vậy
có đúng hay không và việc quyết định như vậy có ảnh hưởng gì tới quyền kháng
cáo, kháng nghị và việc ra quyết định thi hành án hay không?
Khi quyết định
hình phạt, Toà án cấp sơ thẩm căn cứ vào quy định của Bộ luật hình sự, cân nhắc
tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, nhân thân người
phạm tội, các tình tiết giảm nhẹ và tăng nặng trách nhiệm hình sự, xét thấy
trong trường hợp cụ thể đó xử phạt bị cáo mức hình phạt tù bằng thời gian bị
cáo đã bị tạm giam là thoả đáng, thì Toà án cấp sơ thẩm có quyền xử phạt bị cáo
đúng bằng thời gian bị cáo đã bị tạm giam. Theo quy định tại Điều 201 Bộ luật tố
tụng hình sự thì một trong những trường hợp Hội đồng xét xử phải tuyên bố trả lại
tự do ngay tại phiên toà cho bị cáo đang bị tạm giam nếu họ không bị tạm giam về
một tội phạm khác khi thời hạn tù bằng thời gian bị cáo đã bị tạm giam; do đó,
trong trường hợp Toà án cấp sơ thẩm đã quyết định xử phạt bị cáo đúng bằng thời
gian bị cáo bị tạm giam và tuyên bố trả lại tự do ngay cho bị cáo tại phiên
toà, nếu họ không bị tạm giam về một tội phạm khác là đúng với các quy định của
pháp luật.
Việc quyết định
như trên không có ảnh hướng gì tới quyền kháng cáo, kháng nghị và việc ra quyết
định thi hành án. Những vấn đề này vẫn được thực hiện theo quy định chung của Bộ
luật tố tụng hình sự.
7. Người bị
kết án làm đơn xin hoãn thi hành án phạt tù với lý do ốm nặng. Theo hướng
dẫn tại Thông tư liên ngành số 03/TTLN ngày 30-6-1993 thì trường hợp ốm nặng
là người bị các bệnh như: lao, ung thư, bại liệt... Nếu theo bệnh án của người
bị kết án xin hoãn thi hành án phạt tù thì họ bị bệnh khác (không phải là các bệnh
nêu trên) với tỷ lệ mất sức lao động là trên 70%. Trong trường hợp này có coi
là họ ốm nặng để cho họ hoãn thi hành án hay không?
Theo hướng dẫn
tại điểm d Mục 2 Thông tư liên ngành số 03/TTLN ngày 30- 6-1993 của Toà án nhân
dân tối cao - Bộ Nội vụ- Viện kiểm sát nhân dân tối cao "Hướng dẫn thực hiện
một số quy định của Pháp lệnh Thi hành án phạt tù" thì: "một trong những
lý do để Toà án cho người bị kết án được hoãn hoặc tạm đình chỉ chấp hành hình
phạt tù là "người bị kết án ốm nặng". Người bị kết án ốm nặng là người
bị kết án bị đau ốm tới mức không thể đi chấp hành hình phạt tù hoặc tiếp tục
chấp hành hình phạt tù được. Việc đi chấp hành hình phạt tù hoặc tiếp tục chấp
hành hình phạt tù sẽ rất nguy hiểm đến tính mạng của họ và cần thiết phải cho họ
được hoãn hoặc tạm đình chỉ chấp hành hình phạt tù để cho họ có điều kiện chữa
bệnh (như bị bệnh ung thư, bị lao nặng, bị bại liệt...)". Như vậy, theo hướng
dẫn trên đây thì không phải khi người bị kết án bị mắc một trong các bệnh: lao,
ung thư, bại liệt mới được coi là bị ốm nặng. Cần chú ý là ba loại bệnh đó chỉ
là ví dụ, nếu người bị kết án mắc phải, thì được coi là bị ốm nặng.
Trong Thông tư sau khi viện dẫn ba loại bệnh đó còn có ba dấu chấm
(...). Điều đó có nghĩa là ngoài ba loại bệnh đó còn có thể có nhiều
loại bệnh khác (ví dụ như: xơ gan cổ chướng, AIDS...), Nếu người bị kết án mắc
phải các bệnh này thì cũng có thể coi là họ bị ốm nặng để xem xét cho họ hoãn
chấp hành hình phạt tù hoặc tạm đình chỉ chấp hành hình phạt tù. Tuy nhiên, dù
mắc phải bệnh gì, thì điều kiện quyết định để cho người bị kết án được hoãn chấp
hành hình phạt tù hoặc được tạm đình chỉ chấp hành hình phạt tù là họ phải bị
đau ốm tới mức không thể đi chấp hành hình phạt tù hoặc tiếp tục chấp hành hình
phạt tù được, việc đi chấp hành hình phạt tù hoặc tiếp tục chấp hành hình phạt
tù sẽ rất nguy hiểm đến tính mạng của họ. Việc quyết định hoãn hoặc tạm đình chỉ
thi hành hình phạt tù trong các trường hợp này là nhằm tạo cho họ có điều kiện
để chữa bệnh.
8. Khi hồ sơ
vụ án do Viện kiểm sát chuyển đến cho Toà án, nhưng cáo trạng chưa được tống đạt
cho bị can thì Toà án có nhận hồ sơ vụ án và vào sổ thụ lý hay không? Nếu Toà
án nhận hồ sơ thì Toà án có quyền áp dụng các biện pháp ngăn chặn không?
1. Vấn đề có
nhận hồ sơ vụ án và vào sổ thụ lý hay không trong trường hợp này đã được hướng
dẫn tại các điểm 1 và 2 Thông tư liên ngành số 7/TTLN ngày 15-9-1990 của Toà án
nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao "Hướng dẫn việc giao nhận
hồ sơ vụ án hình sự"; cụ thể là "Đối với vụ án chỉ có bị can bị tạm
giam thì trong thời hạn ba ngày, kể từ ngày ra quyết định truy tố Viện kiểm sát
gửi đến Toà án hồ sơ vụ án và quyết định truy tố cùng với biên bản về việc Viện
kiểm sát giao cáo trạng cho bị can. Nếu trong hồ sơ vụ án chưa có biên bản về
việc Viện kiểm sát giao cáo trạng cho bị can thì Toà án chưa nhận hồ sơ vụ
án. Đối với vụ án vừa có bị can đang bị tạm giam, vừa có bị can tại ngoại,
cũng như vụ án chỉ có bị can tại ngoại, thì trong thời hạn ba ngày, kể từ ngày
ra quyết định truy tố, Viện kiểm sát gửi đến Toà án hồ sơ vụ án và quyết định
truy tố cùng với biên bản giao cáo trạng cho bị can đang bị tạm giam, cũng như
bị can tại ngoại. Nếu Viện kiểm sát gặp khó khăn trong việc giao cáo trạng cho
bị can tại ngoại, thì chậm nhất là 15 ngày kể từ ngày gửi cho Toà án hồ sơ vụ
án, Viện kiểm sát gửi đến Toà án biên bản về việc Viện kiểm sát giao cáo trạng
cho bị can tại ngoại. Hết thời hạn đó, nếu Viện kiểm sát không gửi đến Toà án đủ
các biên bản giao cáo trạng cho bị can, thì Toà án trả hồ sơ cho Viện kiểm sát
vì lý do chưa hoàn thành thủ tục tố tụng" (Xem cuốn các văn bản về hình sự,
dân sự, kinh tế và tố tụng; năm 1990; trang 164-165).
2. Việc hướng
dẫn Toà án nhận hồ sơ vụ án trong trường hợp có bị can tại ngoại và Viện kiểm
sát gặp khó khăn trong việc giao cáo trạng cần được hiểu là Toà án tạm thời nhận
hồ sơ chờ Viện kiểm sát hoàn thành thủ tục tố tụng. Trong trường hợp này Toà án
chỉ vào sổ theo dõi mà chưa thụ lý vụ án. Toà án chỉ thụ lý vụ án và phân công
Thẩm phán làm chủ toạ phiên toà sau khi Viện kiểm sát đã hoàn thành thủ tục tố
tụng (sau khi nhận được biên bản bàn giao cáo trạng cho bị can). Chỉ khi có căn
cứ khẳng định được rằng bị can đã nhận được cáo trạng, Tòa án đã thụ lý vụ án,
thì Toà án mới có quyền quyết định áp dụng biện pháp ngăn chặn.
9. Một người
thực tế có tham gia vào việc phạm tội nhưng không bị truy cứu trách nhiệm hình
sự hoặc được miễn trách nhiệm hình sự theo quy định tại Điều 12 và Điều 25 Bộ
luật hình sự năm 1999 (Ví dụ: Trẻ em từ đủ 14 tuổi đến chưa đủ 16 tuổi không chịu
trách nhiệm hình sự về tội phạm ít nghiêm trọng, tội phạm nghiêm trọng theo quy
định tại khoản 2 Điều 12 Bộ luật hình sự năm 1999) hoặc họ có thể là bị đơn dân
sự hoặc người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án. Nếu như xét thấy sự
có mặt của họ tại phiên toà là cần thiết để khai báo và đối chất với các bị cáo
trong vụ án, Tòa án đã triệu tập họ hợp lệ đến lần thứ 2 mà họ vẫn cố tình vắng
mặt không có lý do chính đáng, thì có thể dẫn giải họ đến phiên toà được không?
Nếu được thì áp dụng điều khoản nào của Bộ luật tố tụng hình sự và cơ quan nào
được quyền ra lệnh dẫn giải, cơ quan nào thi hành lệnh dẫn giải?
Theo quy định
tại khoản 1 Điều 43 Bộ luật tố tụng hình sự thì "người nào biết được những
tình tiết có liên quan đến vụ án đều có thể được triệu tập đến làm chứng".
Như vậy, đối với trường hợp một người thực tế có tham gia thực hiện tội phạm
nhưng không bị truy cứu trách nhiệm hình sự (do chưa đến tuổi phải chịu trách
nhiệm hình sự về tội phạm đã thực hiện) hoặc được miễn trách nhiệm hình sự, thì
họ không những có thể là bị đơn dân sự hoặc người có quyền lợi, nghĩa vụ liên
quan đến vụ án mà họ còn có thể là người làm chứng; vì vậy, nếu xét thấy sự có
mặt của họ tại phiên toà là cần thiết để khai báo và đối chất với các bị cáo
trong vụ án, thì Tòa án có thể triệu tập họ đến phiên toà với tư cách là người
làm chứng. Trong trường hợp họ đã được Toà án triệu tập, nhưng cố ý không đến
mà không có lý do chính đáng thì theo quy định tại khoản 4 Điều 43 Bộ luật tố tụng
hình sự họ có thể bị dẫn giải đến phiên toà. Việc dẫn giải người làm chứng đến
phiên toà đã được hướng dẫn tại điểm 2 Thông tư liên ngành số 01/TTLN ngày 20-3-1993
của TANDTC, VKSNDTC, BNV, BTP "Hướng dẫn áp dụng một số quy định của Luật
sửa đổi, bổ sung một số điều của BLTTHS"; cụ thể là: "... Trong
trường hợp... Toà án ra quyết định dẫn giải người làm chứng, thì quyết định
đó được gửi cho Thủ trưởng cơ quan công an cùng cấp. Cơ quan công an có
trách nhiệm dẫn giải người làm chứng đến đúng thời gian, địa điểm ghi
trong quyết định..." (Xem cuốn Các văn bản về hình sự, dân sự, kinh tế
và tố tụng; Toà án nhân dân tối cao xuất bản năm 1995; trang 106, 107).
10. Hiện nay
ở địa phương có hai quan điểm trái ngược nhau về một vấn đề như sau:
- Quan điểm
thứ nhất cho rằng: ở giai đoạn điều tra chỉ có những người là điều tra viên mới
được quyền tiến hành tố tụng, thu thập các chứng cứ (như hỏi cung bị can, ghi lời
khai của người bị hại hoặc nhân chứng...); Còn những tình tiết có liên quan đến
vụ án được thu thập bởi những người không phải là điều tra viên thì không phải
là chứng cứ pháp lý được quy định tại Điều 48 Bộ luật tố tụng hình sự.
- Quan điểm
thứ hai cho rằng: những cán bộ cảnh sát hình sự hoặc phó (trưởng) công an xã,
phường, thị trấn cũng có thể ghi lời khai của người bị hại hoặc nhân chứng...
Thu thập vật chứng... Và các tài liệu đó cũng được xem là chứng cứ.
Trong hai
quan điểm trên thì quan điểm nào là đúng?
Trước hết cần
chú ý là không phải bất cứ biên bản hỏi cung bị can, biên bản ghi lời khai của
người bị hại, biên bản ghi lời khai của nhân chứng... (mặc dù do điều tra viên
thực hiện) đều được coi là chứng cứ. Chỉ được coi là chứng cứ những gì có thật,
được thu thập theo trình tự do Bộ luật tố tụng hình sự quy định mà cơ quan điều
tra, Viện kiểm sát và Toà án dùng làm căn cứ để xác định có hay không có hành
vi phạm tội, người thực hiện hành vi phạm tội cũng như những tình tiết khác cần
thiết cho việc giải quyết vụ án đúng đắn. Ví dụ: Biên bản ghi lời khai của một
người được điều tra viên xác định là người làm chứng, nhưng sự thực người đó
không biết bất cứ tình tiết nào có liên quan đến vụ án, thì biên bản ghi lời
khai của người này không phải là chứng cứ.
Theo quy định
tại Điều 49 Bộ luật tố tụng hình sự thì: "Để thu thập chứng cứ, cơ quan điều
tra, Viện kiểm sát và Tòa án có quyền... Yêu cầu các cơ quan, tổ chức và cá
nhân cung cấp tài liệu, trình bày những tình tiết làm sáng tỏ vụ án" (khoản
1) và "... Cơ quan, tổ chức hoặc bất cứ cá nhân nào đều có thể đưa ra
tài liệu, đồ vật và trình bày những vấn đề có liên quan đến vụ án" (khoản
2). Đồng thời theo quy định tại Điều 60 Bộ luật tố tụng hình sự thì:
"những tình tiết có liên quan đến vụ án được ghi trong các tài liệu do cơ
quan, tổ chức hoặc cá nhân cung cấp có thể được coi là chứng cứ. Trong trường
hợp những tài liệu này có những dấu hiệu quy định tại Điều 56 Bộ luật này
thì được coi là vật chứng". Do đó, trong các trường hợp cán bộ cảnh sát
hình sự, Trưởng hoặc Phó trưởng công an xã, phường, thị trấn trong khi thực hiện
công vụ đã tiến hành lập biên bản về việc vi phạm pháp luật, ghi lời khai của
người bị hại hoặc người làm chứng... Và chuyển cho cơ quan điều tra, Viện kiểm
sát và Toà án thì các tài liệu này cũng được coi là chứng cứ, nếu đáp ứng các
điều kiện quy định tại khoản 1 Điều 48 Bộ luật tố tụng hình sự.
11. Cách xác
định ngày, tháng sinh của bị can, bị cáo, người bị hại chưa thành niên như thế
nào để xem xét trách nhiệm hình sự đối với bị can, bị cáo trong trường hợp các
cơ quan tiến hành tố tụng đã áp dụng mọi biện pháp hợp pháp nhưng vẫn không xác
định được?
Điều 11 Bộ
luật tố tụng hình sự quy định: "Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát và Toà án
phải áp dụng mọi biện pháp hợp pháp để xác định sự thật của vụ án một cách
khách quan, toàn diện và đầy đủ, làm rõ những chứng cứ xác định có tội và chứng
cứ xác định vô tội, những tình tiết tăng nặng và những tình tiết giảm nhẹ trách
nhiệm của bị can, bị cáo.
Trách nhiệm
chứng minh tội phạm thuộc về các cơ quan tiến hành tố tụng. Bị can, bị cáo có
quyền nhưng không buộc phải chứng minh là mình vô tội".
Như vậy,
theo tinh thần quy định trên đây trong trường hợp các cơ quan tiến hành tố tụng
đã áp dụng mọi biện pháp hợp pháp mà vẫn không xác định được ngày, tháng sinh của
bị can, bị cáo, người bị hại thì về nguyên tắc chung các cơ quan tiến hành tố tụng
phải áp dụng phương pháp nào xác định trách nhiệm hình sự của bị can, bị cáo
chính xác và có lợi cho bị can, bị cáo; do đó, trong trường hợp này cần xác định
ngày, tháng sinh của bị can, bị cáo, người bị hại chưa thành niên như sau:
1. Cách xác
định ngày, tháng sinh của bị can, bị cáo chưa thành niên.
A- Nếu xác định
được tháng cụ thể, nhưng không xác định được ngày nào trong tháng đó thì lấy
ngày cuối cùng của tháng đó làm ngày sinh của bị can, bị cáo để xem xét trách
nhiệm hình sự đối với bị can, bị cáo;
B- Nếu xác định
được quý cụ thể của năm, nhưng không xác định được ngày, tháng nào trong quý đó
thì lấy ngày cuối cùng của tháng cuối cùng của quý đó làm ngày sinh của bị can,
bị cáo để xem xét trách nhiệm hình sự đối với bị can, bị cáo;
C- Nếu xác định
được cụ thể nửa đầu năm hay nửa cuối năm, nhưng không xác định được ngày, tháng
nào trong nửa đầu năm hay nửa cuối năm thì lấy ngày 30 tháng 6 hoặc ngày
31 tháng 12 tương ứng của năm đó làm ngày sinh của bị can, bị cáo để xem
xét trách nhiệm hình sự đối với bị can, bị cáo;
D- Nếu không
xác định được nửa năm nào, quý nào, tháng nào trong năm thì lấy ngày 31 tháng
12 của năm đó làm ngày sinh của bị can, bị cáo để xem xét trách nhiệm hình sự đối
với bị can, bị cáo.
2. Cách xác
định ngày, tháng sinh của người bị hại chưa thành niên.
A- Nếu xác định
được tháng cụ thể, nhưng không xác định được ngày nào trong tháng đó thì lấy
ngày mồng một của tháng đó làm ngày sinh của người bị hại để xem xét trách nhiệm
hình sự đối với bị can, bị cáo;
B- Nếu xác định
được quý cụ thể của năm, nhưng không xác định được ngày, tháng nào trong quý đó
thì lấy ngày mồng một của tháng đầu của quý đó làm ngày sinh của người bị hại để
xem xét trách nhiệm hình sự đối với bị can, bị cáo;
C- Nếu xác định
được cụ thể nửa đầu năm hay nửa cuối năm, nhưng không xác định được ngày, tháng
nào của nửa đầu năm hay nửa cuối năm thì lấy ngày mồng một tháng giêng hoặc
ngày mồng một tháng 7 tương ứng của năm đó làm ngày sinh của người bị hại để
xem xét trách nhiệm hình sự đối với bị can, bị cáo;
D- Nếu không
xác định được nửa năm nào, quý nào, tháng nào trong năm, thì lấy ngày mồng một
tháng giêng của năm đó làm ngày sinh của người bị hại để xem xét trách nhiệm
hình sự đối với bị can, bị cáo.
12. Đề
nghị hướng dẫn về thủ tục điều chỉnh hình phạt tù đối với các bị cáo không có
kháng cáo, kháng nghị trong trường hợp Chánh án Toà án đã xét xử sơ thẩm đã ra
quyết định thi hành án và người bị kết án đang chấp hành hình phạt tù, nhưng lại
được Toà án cấp phúc thẩm giảm hình phạt tù theo quy định tại khoản 2 Điều 221
Bộ luật tố tụng hình sự?
Không cần phải
có bất kỳ thủ tục nào điều chỉnh hình phạt tù, quyết định thi hành án phạt tù đối
với bị cáo không có kháng cáo, không bị kháng cáo, kháng nghị trong trường hợp
Chánh án Toà án đã xét xử sơ thẩm đã ra quyết định thi hành án phạt tù và họ
đang chấp hành hình phạt tù, nhưng lại được Tòa án cấp phúc thẩm giảm án theo
quy định tại khoản 2 Điều 221 Bộ luật tố tụng hình sự, bởi vì việc Chánh án Toà
án đã xét xử sơ thẩm đã ra quyết định thi hành án phạt tù là đúng. Việc tính thời
hạn chấp hành hình phạt tù cho người bị kết án trong trường hợp này cũng được
thực hiện tương tự như trong trường hợp người đang chấp hành hình phạt tù được
giảm thời hạn chấp hành hình phạt tù. Cụ thể là Toà án cấp phúc thẩm trực tiếp
hoặc thông qua Toà án cấp sơ thẩm gửi cho cơ quan thi hành án phạt tù, người bị
kết án bản sao bản án phúc thẩm để thi hành. Cơ quan thi hành án sẽ lưu bản
sao bản án phúc thẩm này vào hồ sơ thi hành án và căn cứ vào bản sao bản án
phúc thẩm này để tính thời hạn chấp hành hình phạt tù cho người bị kết án.
Đối với Toà
án cấp phúc thẩm cần chú ý là trong trường hợp bị cáo bị phạt tù và đang chấp
hành hình phạt tù mà Toà án cấp phúc thẩm giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo và hình
phạt này bằng hoặc ngắn hơn thời hạn họ đã chấp hành hình phạt tù, thì Toà án cấp
phúc thẩm cần tuyên bố trong bản án là trả tự do ngay cho bị cáo, nếu họ không
bị tạm giữ, tạm giam về hành vi vi phạm pháp luật khác.
13. Trường hợp
bị cáo bỏ trốn, cơ quan công an đã ra lệnh truy nã nhưng không có kết quả; Toà
án xét xử vắng mặt bị cáo và ra quyết định thi hành án phạt tù nhưng không bắt
được bị cáo; trường hợp này Toà án có phải yêu cầu cơ quan công an ra lệnh truy
nã mới để bắt người bị kết án đi chấp hành hình phạt tù hay không?
Theo tinh thần
quy định của Bộ luật tố tụng hình sự, cũng như tinh thần hướng dẫn trong Thông
tư liên ngành số 03/TTLN ngày 7-1-1995 của Toà án nhân dân tối cao, Viện kiểm
sát nhân dân tối cao, Bộ Nội vụ, thì thẩm quyền ra quyết định (lệnh) truy nã và
quyết định đình nã là của cơ quan điều tra. Quyết định (lệnh) truy nã chỉ hết
hiệu lực khi người bị truy nã đã chết hoặc bị bắt giữ theo quyết định (lệnh)
truy nã hoặc trong trường hợp có quyết định đình nã của cơ quan điều tra; do
đó, trong trường hợp bị cáo bỏ trốn, cơ quan công an đã ra quyết định (lệnh)
truy nã nhưng không có kết quả và Toà án xét xử vắng mặt bị cáo theo đúng quy định
của Bộ luật tố tụng hình sự và hướng dẫn trong Thông tư liên ngành số 03/TTLN
nói trên, thì khi bản án sơ thẩm của Toà án có hiệu lực pháp luật Chánh án Toà
án đã xử sơ thẩm ra quyết định thi hành án và gửi cho cơ quan thi hành án phạt
tù cùng bản sao bản án này mà không cần phải yêu cầu cơ quan điều tra ra quyết
định (lệnh) truy nã mới.
14. Điều
276 Bộ luật tố tụng hình sự quy định: "Trong trường hợp cần thiết, việc hỏi
cung bị can tại cơ quan điều tra phải có mặt đại diện của gia đình bị
can...". Vậy "trường hợp cần thiết" là những trường hợp như thế
nào để có căn cứ xác định có sự vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng hay không?
Việc quy định
(hoặc hướng dẫn) cụ thể những trường hợp nào là trường hợp cần thiết mà khi thuộc
một trong những trường hợp đó việc hỏi cung bị can tại cơ quan điều tra phải có
mặt đại diện của gia đình bị can là rất quan trọng, bởi lẽ để căn cứ vào đó mà
Viện kiểm sát, Toà án xác định có sự vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng hay
không. Tuy nhiên, do Bộ luật tố tụng hình sự chưa có quy định cụ thể và Bộ Công
an, Bộ Quốc phòng cũng chưa có hướng dẫn, đồng thời theo quy định tại khoản 1
Điều 276 Bộ luật tố tụng hình sự, thì đại diện của gia đình bị can, bị cáo có
quyền và nghĩa vụ tham gia tố tụng theo quyết định của cơ quan điều tra; do đó,
việc đánh giá trường hợp nào là "trường hợp cần thiết" hiện nay phụ
thuộc vào đánh giá của cơ quan điều tra. Vì vậy, trong giai đoạn chuẩn bị xét xử
cũng như tại phiên toà, nếu theo đánh giá của Toà án thì trường hợp đó có thể
được coi là trường hợp cần thiết, nhưng việc hỏi cung bị can tại cơ quan điều
tra không có mặt đại diện của gia đình bị can (do cơ quan điều tra đánh giá trường
hợp này không phải là trường hợp cần thiết), thì Toà án không được trả hồ sơ để
điều tra bổ sung với lý do vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng.
15. Hội thẩm
nhân dân là giáo viên đã nghỉ hưu có thể tham gia thành phần Hội đồng xét xử đối
với bị cáo vị thành niên theo như quy định tại khoản 1 Điều 277 Bộ luật tố tụng
hình sự được hay không?
Khi xét xử
sơ thẩm mà bị cáo là người chưa thành niên, thì theo quy định tại khoản 1 Điều
277 Bộ luật tố tụng hình sự "thành phần Hội đồng xét xử phải có một Hội thẩm
nhân dân là giáo viên hoặc là cán bộ Đoàn thanh niên cộng sản Hồ Chí
Minh".
Khái niệm
"giáo viên" quy định tại khoản 1 Điều 277 Bộ luật tố tụng hình sự cần
được hiểu là những "nhà giáo" - những người làm nhiệm vụ giảng dạy,
giáo dục trong nhà trường hoặc các cơ sở giáo dục khác, kể cả trong trường hợp
họ đã nghỉ hưu.
16. Trường hợp
bị cáo là người chưa thành niên đã bỏ nhà đi khỏi địa phương, nhiều năm đến địa
phương khác, không có nơi ở nhất định, gia đình bị cáo cũng đã chuyển đi không
còn ai ở địa phương nơi bị cáo sinh ra. Chính quyền địa phương nơi bị cáo cư
trú trước đây cũng như tại nơi bị cáo đến đều trả lời không biết bị cáo là ai
nên họ không tham gia làm đại diện. Trong trường hợp này việc áp dụng khoản 1
Điều 276 Bộ luật tố tụng hình sự như thế nào?
Vấn đề này
đã được hướng dẫn tại điểm 6 Thông tư liên ngành số 03/TTLN ngày 20-6-1992
của Toà án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Bộ Nội vụ "Hướng
dẫn thực hiện một số quy định của Bộ luật tố tụng hình sự về lý lịch của bị
can, bị cáo"; cụ thể: "Theo quy định ở Điều 276 Bộ luật tố tụng hình
sự thì tại phiên toà xét xử bị cáo là người chưa thành niên phải có mặt đại diện
của gia đình bị cáo, đại diện của nhà trường hoặc tổ chức xã hội nơi bị cáo học
tập, lao động và sinh sống. Tuy nhiên, trong trường hợp không xác minh được lý
lịch của bị cáo thì tại phiên toà xét xử không nhất thiết phải có mặt đại diện
của gia đình bị cáo, đại diện của nhà trường hoặc tổ chức xã hội". (Xem Cuốn
các văn bản về hình sự, dân sự, kinh tế và tố tụng; Toà án nhân dân tối
cao xuất bản năm 1992; trang 144). Như vậy, trong trường hợp này, Toà
án chỉ cần yêu cầu Đoàn luật sư cử người bào chữa cho bị cáo theo quy định
tại điểm b khoản 2 Điều 37 và Điều 275 Bộ luật tố tụng hình sự.
17. Nếu tại
phiên toà Hội đồng xét xử thấy cần khởi tố vụ án do phát hiện được tội phạm mới
hoặc người phạm tội mới cần phải điều tra thì hình thức quyết định khởi tố vụ
án bằng một quyết định khởi tố vụ án riêng hay ghi thành một điểm trong phần
quyết định của bản án? Dù bằng hình thức nào thì việc kháng cáo, kháng nghị đối
với quyết định này như thế nào?
Theo quy định
tại khoản 1 Điều 87 Bộ luật tố tụng hình sự, thì "...Toà án ra quyết định
khởi tố vụ án nếu qua việc xét xử tại phiên toà mà phát hiện được tội phạm hoặc
người phạm tội mới cần phải điều tra". Khoản 3 Điều này quy định
"Trong thời hạn 24 giờ... Quyết định khởi tố của Toà án được gửi đến Viện
kiểm sát để xem xét, quyết định việc điều tra". Đồng thời theo quy định
về nội dung bản án tại Điều 198 Bộ luật tố tụng hình sự thì trong bản án không
có việc xem xét quyết định khởi tố vụ án. Như vậy, theo các quy định này thì việc
Toà án khởi tố vụ án tại phiên toà là bằng một quyết định khởi tố vụ án riêng
mà không được ghi thành một điểm trong phần quyết định của bản án.
Theo quy định
tại khoản 3 Điều 91 Bộ luật tố tụng hình sự thì "trong trường hợp quyết định
khởi tố của Toà án không có căn cứ thì Viện kiểm sát kháng nghị lên Toà án cấp
trên".
Cần chú ý là
theo quy định tại Điều 87 Bộ luật tố tụng hình sự thì cả Toà án cấp sơ thẩm và
Toà án cấp phúc thẩm đều có quyền ra quyết định khởi tố vụ án. Đồng thời
theo quy định tại khoản 2 Điều 213 Bộ luật tố tụng hình sự thì chỉ có quyết định
tạm đình chỉ hoặc đình chỉ vụ án của Toà án cấp sơ thẩm mới có thể bị kháng cáo
(trừ quyết định về việc áp dụng biện pháp bắt buộc chữa bệnh thì việc kháng cáo
hoặc kháng nghị đối với quyết định này được tiến hành như đối với bản án sơ thẩm);
do đó, đối với quyết định khởi tố vụ án của Toà án thì không người nào có quyền
kháng cáo.
18. Tại
phiên toà phúc thẩm nếu những người tham gia tố tụng hoặc Viện kiểm sát đề nghị
hoãn phiên toà vì chưa được thông báo về việc kháng cáo, kháng nghị theo quy định
tại Điều 210 Bộ luật tố tụng hình sự thì giải quyết như thế nào, có phải
hoãn phiên toà theo Điều 168a Bộ luật tố tụng hình sự không?
Khoản 1 Điều
210 Bộ luật tố tụng hình sự chỉ quy định Toà án cấp sơ thẩm thông báo cho Viện
kiểm sát mà không quy định cụ thể là Viện kiểm sát nào (Viện kiểm sát cùng cấp
hay Viện kiểm sát cấp trên trực tiếp của Viện kiểm sát cùng cấp). Tinh thần của
quy định này cần được hiểu là Viện kiểm sát cùng cấp. Theo quy định tại khoản 1
Điều 217 Bộ luật tố tụng hình sự thì: "Tại phiên toà phúc thẩm sự tham gia
của kiểm sát viên Viện kiểm sát cùng cấp là bắt buộc; nếu vắng mặt thì phải
hoãn phiên toà". Đồng thời theo hướng dẫn tại Mục 3 phần VI
Thông tư liên ngành số 01/TTLN ngày 8-12-1988 của Tòa án nhân dân tối cao,
Viện kiểm sát nhân dân tối cao "Hướng dẫn thi hành một số quy định trong Bộ
luật tố tụng hình sự" thì: "Để tạo điều kiện cho Viện kiểm sát cấp
phúc thẩm có tài liệu tham gia phiên toà, khi gửi hồ sơ kháng cáo, kháng nghị,
Toà án cấp sơ thẩm cần gửi thêm một bản sao bản án cho Viện kiểm sát cấp phúc
thẩm (bản này không đánh số thứ tự các tài liệu trong hồ sơ).
Để cả hai
bên đều được chủ động thời gian nghiên cứu hồ sơ, trong thời hạn 3 ngày kể từ
ngày nhận hồ sơ, Toà án cấp phúc thẩm chuyển hồ sơ cho Viện kiểm sát cùng cấp để
Viện kiểm sát nghiên cứu trước. Thời gian nghiên cứu hồ sơ của Viện kiểm sát cấp
tỉnh là 10 ngày, của Viện phúc thẩm Viện kiểm sát nhân dân tối cao là 20 ngày.
Viện kiểm sát phải hoàn trả hồ sơ cho Toà án trong thời hạn đó". (Xem cuốn
Các văn bản về hình sự, dân sự và tố tụng; Toà án nhân dân tối cao xuất bản năm
1990; trang 138).
Mặt khác
theo quy định tại Điều 214 Bộ luật tố tụng hình sự thì "Toà án cấp phúc thẩm
xem xét nội dung kháng cáo, kháng nghị. Nếu xét thấy cần thiết thì Toà án cấp
phúc thẩm có thể xem xét các phần khác không bị kháng cáo, kháng nghị của bản
án". Điều này có nghĩa là khi nghiên cứu hồ sơ vụ án để tham gia
phiên toà phúc thẩm, Viện kiểm sát cấp phúc thẩm cũng phải nghiên cứu các phần
khác không bị kháng cáo, kháng nghị của bản án sơ thẩm; do đó, nếu Viện kiểm
sát cấp phúc thẩm đề nghị hoãn phiên toà vì chưa được thông báo về việc kháng
cáo, kháng nghị là không đúng tinh thần quy định của Bộ luật tố tụng hình sự và
các hướng dẫn của Thông tư liên ngành nói trên.
Đối với những
người tham gia tố tụng liên quan đến việc kháng cáo, kháng nghị mà xin hoãn
phiên tòa với lý do chưa được thông báo về việc kháng cáo, kháng nghị thì theo
quy định tại khoản 1 Điều 210 Bộ luật tố tụng hình sự "Toà án cấp sơ thẩm
phải thông báo cho họ biết"; do đó, nếu họ có yêu cầu xin hoãn phiên toà
thì Toà án cấp phúc thẩm chấp nhận yêu cầu của họ về việc xin hoãn phiên toà
đó, đồng thời thông báo luôn cho họ biết về việc kháng cáo, kháng nghị.
Thời hạn
hoãn phiên toà phúc thẩm theo quy định tại khoản 2 Điều 217 Bộ luật tố tụng
hình sự là không được quá 30 ngày, kể từ ngày ra quyết định hoãn phiên toà.
19. Tại
phiên toà trong phần xét hỏi thấy có những chứng cứ quan trọng đối với vụ án mà
không thể bổ sung tại phiên toà được, thì Hội đồng xét xử có quyền quyết định
trả hồ sơ để điều tra bổ sung không? Nếu được thì đối với quyết định đưa vụ án
ra xét xử trước đó được giải quyết như thế nào?
Mặc dù trong
phần xét xử sơ thẩm của Bộ luật tố tụng hình sự không có Điều luật quy định cụ
thể về việc Hội đồng xét xử quyết định trả hồ sơ để điều tra bổ sung như Điều
154 quy định thẩm quyền của Thẩm phán trong giai đoạn chuẩn bị xét xử. Tuy
nhiên, điều đó không có nghĩa là tại phiên toà sơ thẩm, khi thấy có một
trong các trường hợp quy định tại khoản 1 Điều 154 Bộ luật tố tụng hình sự,
Hội đồng xét xử không được ra quyết định trả hồ sơ để điều tra bổ sung.
Theo quy định tại khoản 2 Điều 173 Bộ luật tố tụng hình sự thì một
trong các quyết định mà Hội đồng xét xử phải thảo luận và thông qua tại phòng
nghị án, đó là quyết định yêu cầu điều tra bổ sung. Điều đó có nghĩa là tại
phiên toà khi xét thấy có một trong các trường hợp quy định tại khoản 1 Điều
154 Bộ luật tố tụng hình sự thì Hội đồng xét xử áp dụng khoản 2 Điều 173 Bộ luật
tố tụng hình sự để ra quyết định trả hồ sơ để điều tra bổ sung.
Theo hướng dẫn
tại Mục 4 Phần I Thông tư liên ngành số 01/TTLN ngày 8-12-1988 của Toà án nhân
dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao "Hướng dẫn thi hành một số quy
định trong Bộ luật tố tụng hình sự" thì: "khi Toà án trả hồ sơ để Viện
kiểm sát điều tra bổ sung, thì Toà án xoá sổ thụ lý, Viện kiểm sát ghi việc Toà
án trả hồ sơ vào sổ thụ lý của mình. Khi nhận lại hồ sơ, Toà án thụ lý lại.
Ngày chuyển hồ sơ cho Viện kiểm sát và ngày thụ lý lại cũng được đóng dấu (hoặc
ghi) vào bìa hồ sơ"; do đó, đối với quyết định đưa vụ án ra xét xử trước
đó Toà án không phải giải quyết gì, mà vẫn được lưu trong hồ sơ vụ án. Sau khi
Viện kiểm sát đã điều tra bổ sung hoặc không bổ sung được những vấn đề mà Toà
án yêu cầu điều tra bổ sung và chuyển hồ sơ vụ án cho Toà án thì Toà án thụ lý
lại và giải quyết vụ án theo thủ tục chung. Theo hướng dẫn tại Mục II Thông tư
liên ngành nói trên thì "... Khi nhận lại hồ sơ trong thời hạn 15 ngày,
Toà án ra quyết định đưa vụ án ra xét xử" (xem cuốn Các văn bản về
hình sự, dân sự và tố tụng; Toà án nhân dân tối cao xuất bản năm 1990;
trang 135).
20. Điều
28 Bộ luật tố tụng hình sự quy định những trường hợp phải thay đổi người tiến
hành tố tụng. Thực tế có trường hợp Luật sư và Thư ký phiên toà có quan hệ là
cha con ruột thì có coi là vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng không?
Nếu không có
căn cứ rõ ràng nào khác (ngoài các căn cứ quy định tại các điểm 1 và 2 Điều 28,
Điều 33 Bộ luật tố tụng hình sự), mặc dù trong vụ án giữa người tiến hành tố tụng
là Thư ký phiên toà và người tham gia tố tụng là Luật sư (người bào chữa) có
quan hệ ruột thịt (cha con, anh em ruột...) Thì Thư ký phiên toà không thuộc một
trong các trường hợp phải từ chối tiến hành tố tụng hoặc bị thay đổi theo quy định
của Bộ luật tố tụng hình sự. Tuy nhiên, trong trường hợp này theo quy định tại
điểm a khoản 2 Điều 35 Bộ luật tố tụng hình sự thì Luật sư không được bào chữa.
Nếu Toà án chấp nhận họ là người bào chữa là vi phạm quy định tại điểm a khoản
2 Điều 35 Bộ luật tố tụng hình sự, tức là vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng.
Tuy nhiên, thực tiễn cho thấy có Luật sư đã tham gia bào chữa cho bị can từ
giai đoạn điều tra (hoặc bào chữa cho bị cáo từ giai đoạn sơ thẩm) và tiếp tục
bào chữa cho bị cáo tại phiên toà sơ thẩm (hoặc bào chữa cho bị cáo tại phiên
toà phúc thẩm) thì trong trường hợp này để tạo thuận lợi cho Luật sư và bảo đảm
quyền bào chữa của bị cáo, Toà án không phân công người thân thích của Luật sư
làm Thư ký phiên toà. Nếu đã phân công thì cần thay đổi người khác làm Thư ký
phiên toà.
21. Bị cáo bị
Toà án cấp sơ thẩm phạt tù và phạt tiền là hình phạt bổ sung. Chỉ có bị cáo
kháng cáo xin được hưởng án treo. Khi xét xử phúc thẩm, Toà án cấp phúc thẩm giữ
nguyên hoặc giảm mức hình phạt tù, nhưng cho bị cáo được hưởng án treo, đồng thời
tăng mức hình phạt tiền là hình phạt bổ sung. Toà án cấp phúc thẩm quyết định
như vậy có đúng hay không?
Trong trường
hợp này chỉ có kháng cáo của bị cáo xin được hưởng án treo và Toà án cấp phúc
thẩm giữ nguyên (hoặc giảm) mức hình phạt tù, nhưng cho bị cáo được hưởng án
treo là theo hướng có lợi cho bị cáo. Tuy nhiên việc Toà án cấp phúc thẩm tăng
mức hình phạt tiền là hình phạt bổ sung khi không có kháng nghị của Viện kiểm
sát là vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng quy định tại khoản 3 Điều 221 Bộ luật
tố tụng hình sự.
22. Việc xét
giảm thời gian thử thách của án treo được tiến hành như thế nào? Thành phần của
Hội đồng xét giảm thời gian thử thách của án treo gồm những ai?
Trước đây về
điều kiện, thủ tục và thành phần Hội đồng xét giảm thời gian thử thách của án
treo đã được hướng dẫn cụ thể tại Mục VIII Nghị quyết số 1/HĐTP ngày
18-10-1990 của Hội đồng Thẩm phán Toà án nhân dân tối cao "Hướng dẫn về việc
áp dụng Điều 44 Bộ luật hình sự" (xem cuốn Các văn bản về hình sự, dân sự
và tố tụng tập 2; năm 1992; tr.13). Quy định về án treo trong Bộ luật hình sự
năm 1999 về cơ bản không có gì khác quy định về án treo trong Bộ luật hình sự
năm 1985; do đó, điều kiện, thủ tục và thành phần Hội đồng xét giảm thời gian
thử thách của án treo vẫn được thực hiện theo hướng dẫn trong Nghị quyết số
1/HĐTP nói trên. Cần lưu ý là ở những Toà án nhân dân huyện, quận, thị xã,
thành phố thuộc tỉnh, Toà án quân sự khu vực nếu có đủ Thẩm phán thì Hội đồng
xét giảm thời gian thử thách của án treo là ba Thẩm phán; nếu không có đủ
ba Thẩm phán thì thành phần Hội đồng xét giảm thời gian thử thách của án
treo là hai Thẩm phán và một Hội thẩm nhân dân (hoặc Hội thẩm quân nhân).
23. Đối
với các vụ án về các tội chiếm đoạt nếu theo quy định tại khoản 1 Điều 145 Bộ
luật tố tụng hình sự là thuộc thẩm quyền xét xử của Toà án nhân dân cấp huyện,
nhưng trong vụ án có người bị hại hoặc nguyên đơn dân sự là người nước ngoài hoặc
tổ chức nước ngoài, thì Toà án cấp nào có thẩm quyền xét xử?
Không chỉ đối
với các vụ án về các tội chiếm đoạt, mà đối với tất cả các loại vụ án nói
chung, nếu theo quy định tại khoản 1 Điều 145 Bộ luật tố tụng hình sự là thuộc
thẩm quyền xét xử của Toà án nhân dân cấp huyện, nhưng trong vụ án có bị cáo,
người bị hại, người có quyền lợi hoặc nghĩa vụ liên quan, nguyên đơn dân sự là
người nước ngoài hoặc tổ chức nước ngoài, thì căn cứ vào các quy định của pháp
luật tố tụng hiện hành là thuộc thẩm quyền xét xử của Toà án nhân dân cấp tỉnh.
24. Hiện nay
vừa có các Đoàn luật sư vừa có các Văn phòng luật sư. Vậy trong các trường
hợp pháp luật quy định bắt buộc phải có Luật sư bào chữa cho bị cáo, thì
Toà án yêu cầu Đoàn luật sư hay yêu cầu Văn phòng luật sư cử người bào chữa cho
bị cáo?
Theo tinh thần
quy định tại khoản 2 Điều 37 Bộ luật tố tụng hình sự thì trong các trường hợp
pháp luật quy định bắt buộc phải có Luật sư bào chữa cho bị cáo, nếu bị cáo hoặc
người đại diện hợp pháp của họ không mời người bào chữa, thì Toà án phải yêu cầu
Đoàn luật sư cử người bào chữa cho bị cáo. Toà án phải yêu cầu Đoàn luật sư mà
không phải là Văn phòng luật sư, bởi vì Đoàn luật sư là một tổ chức xã hội nghề
nghiệp, còn Văn phòng luật sư là tổ chức hoạt động kinh doanh, dịch vụ tư vấn
pháp lý.
25. Người bị
kết án là phụ nữ đang chấp hành hình phạt tù, nhưng phát hiện là có thai và được
Ban giám thị trại giam đề nghị Toà án cho tạm đình chỉ chấp hành hình phạt tù,
thì Toà án có chấp nhận không?
Theo quy định
tại Điều 61 và Điều 62 Bộ luật tố tụng hình sự, thì phụ nữ đang có thai là một
trong các trường hợp có thể được tạm đình chỉ chấp hành hình phạt tù; do đó,
khi người bị kết án là phụ nữ đang chấp hành hình phạt tù, nhưng phát hiện có
thai, nếu Ban giám thị trại giam đề nghị Toà án cho tạm đình chỉ chấp hành hình
phạt tù, thì nói chung Toà án nên chấp nhận cho họ được tạm đình chỉ chấp hành
hình phạt tù, trừ các trường hợp sau đây:
A) Nếu xét
thấy cho họ được tạm đình chỉ chấp hành hình phạt tù thì họ lại tiếp tục phạm tội;
B) Họ không
có nơi cư trú nhất định;
C) Họ bị xử
phạt tù từ 10 năm trở lên về tội rất nghiêm trọng hoặc tội đặc biệt nghiêm trọng.
III. VỀ
DÂN SỰ
1. Về trách
nhiệm bồi thường thiệt hại do nguồn nguy hiểm cao độ gây ra quy định tại các
khoản 2, 3 và 4 Điều 627 Bộ luật dân sự được xác định như thế nào?
A. Khoản 2
Điều 627 Bộ luật dân sự quy định về chủ thể phải chịu trách nhiệm bồi thường
thiệt hại do nguồn nguy hiểm cao độ gây ra. Trước đây Toà án nhân dân tối cao tạm
hướng dẫn là: "Nếu chủ sở hữu đã giao cho người khác chiếm hữu, hoặc giao
cho người khác sử dụng nguồn nguy hiểm cao độ, thì chủ sở hữu và người chiếm hữu
hoặc người sử dụng phải chịu trách nhiệm liên đới bồi thường thiệt hại do nguồn
nguy hiểm cao độ gây ra" (Xem Cuốn giải đáp một số vấn đề về hình sự, dân
sự, kinh tế, lao động, hành chính và tố tụng; Toà án nhân dân tối cao xuất bản
năm 1999; trang 111). Nay Toà án nhân dân tối cao thống nhất hướng dẫn như sau:
- Chủ sở hữu
nguồn nguy hiểm cao độ phải bồi thường thiệt hại do nguồn nguy hiểm cao độ gây
ra nếu chủ sở hữu vẫn chiếm hữu, sử dụng.
- Người được
chủ sở hữu giao cho chiếm hữu, sử dụng nguồn nguy hiểm cao độ phải bồi thường
thiệt hại do nguồn nguy hiểm cao độ gây ra, trừ trường hợp chủ sở hữu và người
được giao chiếm hữu, sử dụng có thoả thuận khác. Thoả thuận khác không được
trái pháp luật, trái đạo đức xã hội hoặc không nhằm trốn tránh việc bồi thường
(ví dụ: chủ sở hữu và người được giao chiếm hữu, sử dụng thoả thuận cùng chịu
trách nhiệm liên đới bồi thường thiệt hại; thoả thuận chủ sở hữu bồi thường thiệt
hại trước, sau đó người được giao chiếm hữu, sử dụng sẽ hoàn trả cho chủ sở hữu
khoản tiền đã bồi thường; thoả thuận ai có điều kiện hơn thì người đó bồi thường
thiệt hại trước...)
B. Khoản 3
Điều 627 Bộ luật dân sự quy định các trường hợp phải bồi thường thiệt hại do
nguồn nguy hiểm cao độ gây ra.
Theo quy định
tại khoản 3 này thì chủ sở hữu, người được chủ sở hữu giao chiếm hữu, sử dụng
nguồn nguy hiểm cao độ phải bồi thường thiệt hại cả khi không có lỗi, trừ thiệt
hại xảy ra hoàn toàn do lỗi cố ý của người bị thiệt hại (ví dụ một người đâm đầu
vào xe ô tô để tự tử), thiệt hại xảy ra trong trường hợp bất khả kháng hoặc
tình thế cấp thiết. Tuy nhiên, trong trường hợp pháp luật có quy định khác về
trách nhiệm bồi thường thiệt hại trong trường hợp bất khả kháng hoặc tình thế cấp
thiết thì thực hiện theo quy định đó của pháp luật.
C. Khoản 4
Điều 627 Bộ luật dân sự quy định trách nhiệm bồi thường thiệt hại do nguồn nguy
hiểm cao gây ra trong trường hợp nguồn nguy hiểm cao độ bị chiếm hữu, sử dụng
trái pháp luật.
Về nguyên tắc
chung nếu chủ sở hữu, người được chủ sở hữu giao chiếm hữu, sử dụng nguồn nguy
hiểm cao độ không có lỗi trong việc để nguồn nguy hiểm cao độ bị chiếm hữu, sử
dụng trái pháp luật (đã thực hiện đầy đủ các quy định về bảo quản, sử dụng...
Nguồn nguy hiểm cao độ), thì chỉ người chiếm hữu, sử dụng trái pháp luật nguồn
nguy hiểm cao độ mà gây thiệt hại phải bồi thường. Nếu chủ sở hữu, người được
chủ sở hữu giao chiếm hữu, sử dụng nguồn nguy hiểm cao độ cũng có lỗi (Ví dụ: để
xe ô tô bên vệ đường không khoá và không rút chìa khoá khỏi ổ điện...) Để
nguồn nguy hiểm cao độ bị chiếm hữu, sử dụng trái pháp luật và gây thiệt hại,
thì phải liên đới cùng với người chiếm hữu, sử dụng trái pháp luật bồi thường
thiệt hại.
2. Việc quyết
định bồi thường thiệt hại do tính mạng, sức khoẻ bị xâm phạm quy định tại Điều
616 Bộ luật dân sự được thực hiện theo phương thức nào, bởi vì thực tiễn cho thấy
có Toà án quyết định bồi thường hàng tháng, có Toà án quyết định bồi thường một
lần...?
Điều 616 Bộ
luật dân sự chỉ quy định thời hạn hưởng bồi thường thiệt hại do tính mạng, sức
khỏe bị xâm phạm (bao gồm bồi thường thiệt hại trong trường hợp người bị thiệt
hại mất hoàn toàn khả năng lao động; tiền cấp dưỡng trong trường hợp người bị
thiệt hại chết). Khi giải quyết yêu cầu đối với các khoản này, trước hết Toà án
cần tiến hành hoà giải; nếu qua hoà giải mà các bên thoả thuận được với nhau về
phương thức bồi thường thiệt hại nào (hàng tháng, hàng quý, hàng năm hoặc một lần)
thì Toà án chấp nhận sự thoả thuận của các bên về phương thức bồi thường thiệt
hại đó. Trường hợp các bên không thoả thuận được thì Toà án quyết định phương
thức bồi thường thiệt hại hàng tháng. Trong trường hợp đặc biệt, nếu người được
bồi thường thiệt hại hoặc người được cấp dưỡng yêu cầu được bồi thường hoặc cấp
dưỡng theo phương thức một lần và xét thấy yêu cầu của họ là chính đáng và người
phải bồi thường, người có nghĩa vụ cấp dưỡng có điều kiện thi hành án thì Toà
án có thể quyết định phương thức một lần.
3. Khi giải
quyết các tranh chấp về cho vay ngoại tệ có lãi thì đối với phần lãi cần quyết
định như thế nào?
Theo quy định
của pháp luật hiện hành thì các giao dịch giữa các cá nhân về việc vay ngoại tệ
có lãi là vô hiệu; do đó, khi có tranh chấp và có yêu cầu Toà án giải quyết thì
Toà án áp dụng Điều 146 Bộ luật dân sự buộc bên vay phải trả cho bên cho vay số
nợ gốc (tính ra tiền Việt Nam tại thời điểm xét xử sơ thẩm). Đối với khoản
lãi nếu bên vay đã trả cho bên cho vay thì phải tuyên tịch thu sung quỹ Nhà nước;
nếu chưa trả thì không tuyên tịch thu.
4. Khi có
các yêu cầu chia tài sản chung là nhà mặt phố có diện tích hẹp, nhưng có địa thế
kinh doanh tốt thì cần giải quyết thế nào?
Về nguyên tắc
chúng ta phải tuân theo quy định tại Điều 238 Bộ luật dân sự về chia tài sản
thuộc sở hữu chung. Để có quyết định đúng Toà án cần điều tra xem xét cụ
thể nhà ở. Nếu các đương sự đều có yêu cầu chia tài sản chung và tài sản chung
đó có thể chia được để sử dụng kinh doanh, cho thuê lại (vẫn bảo đảm điều kiện
sinh hoạt tối thiểu và sự độc lập của mỗi chủ sở hữu sau khi chia) thì Toà án
quyết định chia tài sản chung. Nếu tài sản chung là nhà ở đó không thể chia được
(không bảo đảm điều kiện sinh hoạt tối thiểu và sự độc lập của mỗi chủ sở hữu
sau khi chia) thì Toà án cho định giá tài sản thành tiền theo giá thực tế chuyển
nhượng tại địa phương vào thời điểm xét xử sơ thẩm để chia.
5. Khi giải
quyết việc ly hôn và có yêu cầu phân chia tài sản mà có trường hợp người khác nợ
vợ chồng họ hoặc vợ chồng họ nợ người khác, thì có đưa những người đó vào tham
gia tố tụng không?
Khi giải quyết
việc ly hôn và có yêu cầu phân chia tài sản mà người khác nợ vợ chồng họ hoặc vợ
chồng họ nợ người khác thì cần phải đưa người nợ hoặc chủ nợ vào tham gia tố tụng
với tư cách là người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan, trừ các trường hợp sau
đây:
- Vợ chồng
cùng đồng ý không buộc người nợ phải trả nợ cho họ;
- Chủ nợ đồng
ý không buộc vợ chồng họ phải trả nợ cho chủ nợ.
- Chủ nợ
chưa có yêu cầu vợ chồng họ phải trả nợ cho chủ nợ.
6. Người có
công với cách mạng được Nhà nước trợ cấp hay hỗ trợ cho một khoản tiền. Nay người
đó đã chết, nếu xảy ra tranh chấp đòi chia số tiền đó và có yêu cầu Toà án giải
quyết, thì đây là vụ án chia thừa kế hay vụ án dân sự khác?
Tuỳ thuộc
vào từng trường hợp cụ thể mà xác định đó là vụ án gì; cụ thể như sau:
A. Trong các
trường hợp sau đây là tranh chấp chia thừa kế, nếu có yêu cầu Toà án giải quyết
thì Toà án thụ lý để giải quyết theo thủ tục chung như đối với vụ án chia thừa
kế:
- Nếu khoản
tiền đó là Nhà nước trợ cấp hay hỗ trợ cho chính người có công với cách mạng và
người đó đã nhận được khi còn sống, nhưng sau khi chết còn để lại số tiền đó hoặc
tài sản được tạo lập từ số tiền đó và những người thân thích của người đó có
tranh chấp;
- Nếu khoản
tiền đó là Nhà nước trợ cấp hay hỗ trợ cho chính người có công với cách mạng,
nhưng sau khi người đó chết, thì những người thân thích của người đó mới nhận
được và giữa họ có tranh chấp.
B. Trong trường
hợp khoản tiền đó là Nhà nước trợ cấp hay hỗ trợ cho những người thân thích của
người có công với cách mạng và giữa họ có tranh chấp, đồng thời có yêu cầu Toà
án giải quyết, thì đây là vụ án dân sự về yêu cầu chia tài sản chung, nhưng cần
chú ý:
- Nếu trong
văn bản, tài liệu về trợ cấp, hỗ trợ có ghi rõ trợ cấp hay hỗ trợ cho người nào
cụ thể, thì chỉ những người có tên trong văn bản, tài liệu đó mới được hưởng.
- Nếu trong
văn bản, tài liệu về trợ cấp, hỗ trợ không ghi rõ trợ cấp hay hỗ trợ cho người
nào cụ thể mà chỉ ghi trợ cấp, hỗ trợ cho thân nhân của người có công với cách
mạng, thì cần căn cứ vào văn bản quy phạm pháp luật của nhà nước quy định về đối
tượng, điều kiện được hưởng trong việc thực hiện chính sách cụ thể đó để xác định
thân nhân của người có công với cách mạng trong việc thực hiện trợ cấp, hỗ trợ
cụ thể này bao gồm những ai. Chỉ những người thuộc đối tượng và có đủ điều kiện
đã quy định mới được hưởng.
7. Trong trường
hợp hai bên nam nữ kết hôn với nhau nhằm mục đích để được xuất cảnh đi nước
ngoài hoặc để được nhập hộ khẩu, nếu đương sự có đơn xin ly hôn thì Toà án huỷ
việc kết hôn trái pháp luật hay xử cho ly hôn?
Theo quy định
của Luật hôn nhân và gia đình năm 2000 thì nếu việc kết hôn vi phạm một trong
các quy định tại Điều 9 và Điều 10 của Luật này là trái pháp luật và nếu dù một
trong các bên hoặc cả hai bên có đơn xin ly hôn, thì tuỳ từng trường hợp vi phạm
mà Toà án áp dụng Điều 9, Điều 10 và Điều 16 Luật hôn nhân và gia đình năm
2000 huỷ việc kết hôn trái pháp luật.
Trong trường
hợp hai bên nam nữ kết hôn với nhau mặc dù chỉ với mục đích để được xuất cảnh
đi nước ngoài hoặc để được nhập hộ khẩu nhưng không vi phạm một trong các Điều
9, Điều 10 Luật hôn nhân và gia đình năm 2000, nay đương sự xin ly hôn thì Tòa
án thụ lý và giải quyết vụ án xin ly hôn theo thủ tục chung.
8. Trường hợp
nam, nữ bắt đầu chung sống với nhau như vợ chồng trong khoảng thời gian từ ngày
03-01-1987 đến ngày 01-01-2001 và đến nay họ có yêu cầu Toà án giải quyết cho
ly hôn. Khi giải quyết vụ án Toà án nhận thấy họ không đủ điều kiện kết hôn
theo quy định của Luật hôn nhân và gia đình năm 2000 thì Toà án tuyên bố không
công nhận quan hệ vợ chồng hay tuyên bố huỷ kết hôn trái pháp luật?
Điểm b Mục 3
Nghị quyết số 35/2000/QH10 ngày 9-6-2000 của Quốc hội "Về việc thi hành Luật
hôn nhân và gia đình" (sau đây gọi tắt là Nghị quyết số 35 của Quốc hội)
quy định: "Nam và nữ chung sống với nhau như vợ chồng từ ngày 03-01-1987 đến
ngày 01-01-2001 mà có đủ điều kiện kết hôn theo quy định của Luật này thì có
nghĩa vụ đăng ký kết hôn trong thời hạn hai năm, kể từ ngày Luật này có hiệu
lực cho đến ngày 01-01-2003; trong thời hạn này mà họ không đăng ký kết hôn,
nhưng có yêu cầu ly hôn thì Toà án áp dụng các quy định về ly hôn của Luật hôn
nhân và gia đình năm 2000 để giải quyết".
Theo quy định
trên đây Toà án áp dụng các quy định về ly hôn của Luật hôn nhân và gia đình
năm 2000 để giải quyết việc ly hôn khi có yêu cầu nếu có đủ các điều kiện sau
đây:
A. Nam và nữ
chung sống với nhau như vợ chồng từ ngày 03-01-1987 đến ngày 01-01-2001 và đang
chung sống với nhau như vợ chồng (Thế nào là nam và nữ chung sống với nhau như
vợ chồng đã được hướng dẫn tại điểm d mục 2 Thông tư liên tịch số
01/2001/TTLT-TANDTC-VKSNDTC- BTP ngày 3-1-2001 của Toà án nhân dân tối
cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Bộ Tư pháp "Hướng dẫn thi
hành Nghị quyết số 35/2000/QH10 ngày 9-6-2000 của Quốc hội về việc thi
hành Luật hôn nhân và gia đình").
B. Việc họ
chung sống với nhau như vợ chồng có đủ các điều kiện kết hôn theo quy định của
Luật hôn nhân và gia đình năm 2000 (Thế nào là vi phạm điều kiện kết hôn
đã được hướng dẫn tại điểm d Mục 2 Nghị quyết số 02/2000/NQ-HĐTP ngày
23-12-2000 của Hội đồng Thẩm phán Toà án nhân dân tối cao "Hướng dẫn áp dụng
một số quy định của Luật hôn nhân và gia đình năm 2000").
Như vậy,
trong trường hợp họ không có đủ các điều kiện a và b trên đây thì quan hệ của họ
không được coi như quan hệ vợ chồng, nếu họ có yêu cầu ly hôn thì Toà án áp dụng
điểm b khoản 3 Nghị quyết số 35 của Quốc hội tuyên bố không công nhận quan hệ vợ
chồng mà không tuyên bố huỷ kết hôn trái pháp luật, bởi vì họ không có đăng ký
kết hôn. Trong trường hợp này nếu có yêu cầu về con và tài sản thì Toà án áp dụng
khoản 2 và khoản 3 Điều 17 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2000 để giải quyết.
IV. VỀ TỐ
TỤNG DÂN SỰ
1. Trong trường
hợp có đương sự đề nghị trưng cầu giám định, nhưng họ lại không nộp tiền tạm ứng
chi phí về giám định thì Toà án giải quyết như thế nào?
Trong trường
hợp này Toà án cần giải thích cho đương sự có đề nghị trưng cầu giám định biết
quy định tại Điều 33 Pháp lệnh Thủ tục giải quyết các vụ án dân sự; cụ thể là:
"Đương sự đã đề nghị trưng cầu giám định phải nộp tiền tạm ứng chi phí về
giám định; nếu vì họ không nộp mà việc giám định không được tiến hành thì Toà
án có thể căn cứ vào kết quả điều tra đã đạt được để giải quyết vụ án hoặc tự
mình trưng cầu giám định". Nếu Toà án đã giải thích mà đương sự không nộp
tiền tạm ứng chi phí về giám định và vì thế việc giám định không thể tiến hành
được, thì Toà án có thể tự mình trưng cầu giám định. Tuy nhiên, thực tiễn cho
thấy trong tố tụng dân sự trách nhiệm chứng minh là của đương sự cho nên thông
thường Toà án không tự mình trưng cầu giám định, song Toà án cần tiến hành mọi
biện pháp có thể để điều tra, thu thập chứng cứ và căn cứ vào kết quả điều tra,
thu thập chứng cứ đã đạt được để giải quyết vụ án.
2. Tại điểm
5 Phần II Nghị quyết số 03/HĐTP ngày 19-10-1990 của Hội đồng Thẩm phán Toà án
nhân dân tối cao "Hướng dẫn áp dụng một số quy định của Pháp lệnh Thủ tục
giải quyết các vụ án dân sự" có hướng dẫn: "Trước khi xét xử phúc thẩm
Toà án cũng tiến hành hoà giải...". Thực tiễn xét xử cho thấy trước khi
xét xử phúc thẩm các Toà án cấp phúc thẩm thường không tiến hành hoà giải. Vậy
có vi phạm thủ tục tố tụng không?
Trước đây Hội
đồng Thẩm phán Toà án nhân dân tối cao có hướng dẫn: "trước khi xét xử
phúc thẩm Toà án cũng tiến hành hoà giải...". Hướng dẫn này không cụ thể
là có bắt buộc hay không? Nay Toà án nhân dân tối cao hướng dẫn cụ thể về vấn đề
này như sau:
Theo quy định
tại Điều 65 Pháp lệnh Thủ tục giải quyết các vụ án dân sự thì trước khi xét xử
phúc thẩm Toà án "có quyền" hoà giải. Như vậy theo tinh thần của quy
định này thì trước khi xét xử phúc thẩm không bắt buộc Toà án cấp phúc thẩm phải
tiến hành hoà giải. Tuy nhiên, theo quy định tại Điều 5 Pháp lệnh Thủ tục giải
quyết các vụ án dân sự thì: "Trong quá trình giải quyết vụ án, Toà án tiến
hành hoà giải để giúp các đương sự thoả thuận với nhau về giải quyết vụ án, trừ
những trường hợp không hoà giải được hoặc pháp luật quy định không được hoà giải";
do đó, sau khi thụ lý vụ án để tiến hành giải quyết theo trình tự phúc thẩm,
Toà án cấp phúc thẩm nên tiến hành hoà giải để các đương sự thoả thuận với nhau
về việc giải quyết vụ án (trừ những trường hợp không hoà giải được hoặc pháp luật
quy định không được hoà giải). Trong trường hợp trước khi mở phiên toà, Toà án
tiến hành hoà giải mà các đương sự thoả thuận được với nhau về việc giải quyết
vụ án thì lập biên bản hoà giải thành. Trong trường hợp tại phiên toà, Toà án
tiến hành hoà giải mà các đương sự thoả thuận được với nhau về việc giải quyết
vụ án thì không cần phải lập biên bản hoà giải thành, nhưng phải ghi đầy đủ vào
biên bản phiên toà. Tuy nhiên, cần chú ý là dù trước khi mở phiên toà, Toà án
tiến hành hoà giải mà các đương sự thoả thuận được với nhau về việc giải quyết
vụ án thì Toà án cấp phúc thẩm cũng phải mở phiên toà. Trên cơ sở sự thoả thuận
của các đương sự về việc giải quyết vụ án, Toà án cấp phúc thẩm căn cứ vào điểm
2 Điều 69 Pháp lệnh Thủ tục giải quyết các vụ án dân sự để sửa bản án sơ thẩm,
công nhận sự thoả thuận của các đương sự.
3. Về giao dịch
dân sự về nhà ở thuộc sở hữu tư nhân được xác lập trước ngày 1-7-1991 mà có người
Việt Nam định cư ở nước ngoài, cá nhân, tổ chức nước ngoài tham gia, nếu có yêu
cầu thì Toà án có thụ lý giải quyết hay không?
Theo quy định
tại Điều 2 Nghị quyết số 58/1998/NQ-UBTVQH10 ngày 20-8-1998 của Uỷ ban thường vụ
Quốc hội "Về giao dịch dân sự về nhà ở được xác lập trước ngày
1-7-1991", thì Nghị quyết này áp dụng đối với giao dịch dân sự về nhà ở
thuộc sở hữu tư nhân được xác lập trước ngày 1-7-1991 bao gồm: thuê nhà ở; cho
mượn; cho ở nhờ nhà ở; mua bán nhà ở; đổi nhà ở; tặng cho nhà ở; thừa kế nhà ở;
quản lý nhà vắng chủ giữa cá nhân với cá nhân mà có người Việt Nam định cư ở nước
ngoài, cá nhân, tổ chức nước ngoài tham gia. Tại khoản 2 Mục II Thông tư liên tịch
số 01/1999/TTLT-TANDTC-VKSNDTC ngày 25-1-1999 của Toà án nhân dân tối cao, Viện
kiểm sát nhân dân tối cao "Hướng dẫn áp dụng một số quy định tại Nghị quyết
về giao dịch dân sự về nhà ở được xác lập trước ngày 1-7-1991 của Uỷ ban thường
vụ Quốc hội" cũng đã hướng dẫn đối với các tranh chấp phát sinh từ các
giao dịch dân sự về nhà ở quy định tại khoản 1 Điều 2 Nghị quyết số
58/1998/NQ-UBTVQH10 nói trên mà có người Việt Nam định cư ở nước ngoài, cá
nhân, tổ chức nước ngoài tham gia, thì Toà án chưa thụ lý giải quyết; nếu đã thụ
lý và đang giải quyết thì ra quyết định tạm đình chỉ việc giải quyết; nếu đã có
quyết định tạm đình chỉ việc giải quyết, thì tiếp tục tạm đình chỉ việc giải
quyết.
Đây là vấn đề
rất bức xúc, đang được Uỷ ban thường vụ Quốc hội xem xét và sẽ có Nghị quyết
riêng để giải quyết đối với loại giao dịch dân sự này.
4. Người nước
ngoài đến Việt Nam làm việc, học tập... Và kết hôn với người Việt Nam theo đúng
quy định của pháp luật Việt Nam. Sau một thời gian chung sống, thì người
nước ngoài về nước và không còn có liên lạc gì với người vợ (hoặc người chồng)
ở Việt Nam với thời gian trên 6 tháng. Người vợ (hoặc người chồng) ở Việt Nam
có đơn yêu cầu Toà án giải quyết cho ly hôn với người nước ngoài đó, thì Toà án
có thụ lý để giải quyết không?
Trong Báo
cáo Công tác ngành Toà án năm 2000 (tr. 34) có đề xuất theo hướng nếu có yêu cầu
Toà án giải quyết cho ly hôn với người nước ngoài thì Toà án thụ lý và giải quyết
cho ly hôn. Đề xuất này là đáp ứng được đòi hỏi của thực tiễn, bảo vệ được
quyền, lợi ích hợp pháp của người Việt Nam. Tuy nhiên, theo quy định của Pháp lệnh
Thủ tục giải quyết các vụ án dân sự thì Toà án phải thụ lý để giải quyết,
nhưng cần phân biệt như sau:
A. Nếu thông
qua con đường ngoại giao, qua việc uỷ thác tư pháp hoặc bằng các biện pháp khác
mà đã liên hệ được với bị đơn là người nước ngoài, thì Toà án ra quyết định đưa
vụ án ra xét xử không phụ thuộc vào thái độ của bị đơn có đồng ý, không đồng ý
hoặc cố tình trốn tránh (cần chú ý là phải có văn bản chứng minh việc đã liên hệ
được với bị đơn, như: biên bản làm việc với bị đơn, lời khai của bị đơn, văn bản
của cơ quan thực hiện việc uỷ thác cho biết đã liên hệ được với bị đơn…).
B. Nếu thông
qua con đường ngoại giao, qua việc uỷ thác tư pháp hoặc bằng các biện pháp khác
mà chưa liên hệ được với bị đơn là người nước ngoài, thì Toà án phải áp dụng điểm
c khoản 1 Điều 45 Pháp lệnh Thủ tục giải quyết các vụ án dân sự ra quyết định tạm
đình chỉ việc giải quyết vụ án, chờ quy định mới của cơ quan có thẩm quyền.
5. Công dân
Việt Nam đi học tập, lao động, công tác ở nước ngoài sau khi hết thời hạn thì bỏ
đi đâu không rõ và đã quá thời hạn hai năm. Người có quyền, lợi ích liên quan
có yêu cầu Toà án nhân dân giải quyết tuyên bố mất tích thì thuộc thẩm quyền giải
quyết của Toà án cấp nào?
Khi công dân
Việt Nam đi học tập, lao động, công tác ở nước ngoài sau khi hết thời hạn thì bỏ
đi đâu không rõ và không có tin tức thì không thể coi đây là trường hợp có nhân
tố nước ngoài; do đó, nếu người có quyền, lợi ích liên quan có yêu cầu Toà án
nhân dân giải quyết tuyên bố mất tích, thì Toà án nhân dân cấp huyện có thẩm
quyền thụ lý giải quyết.
6. Đối
với trường hợp Tòa án cấp phúc thẩm không chấp nhận đơn kháng cáo, nhưng xét thấy
phần án phí trong bản án sơ thẩm có sai sót nên có sửa một phần của bản án sơ
thẩm về phần án phí. Vậy trường hợp này đương sự có phải chịu tiền án phí phúc
thẩm không?
Theo quy định
tại khoản 2 Điều 53 Pháp lệnh Thủ tục giải quyết các vụ án dân sự, thì trong phần
quyết định của bản án Toà án cần quyết định về việc giải quyết vụ án, về án phí
và quyền kháng cáo của đương sự. Đối với các quyết định về cấp dưỡng, bồi
thường thiệt hại về tính mạng, sức khoẻ, trả tiền công lao động, cấm hoặc buộc
phải thực hiện hành vi nhất định thì Hội đồng xét xử có thể quyết định cho thi
hành ngay. Mặt khác theo khoản 2 Điều 12 Nghị định số 70/CP ngày 12-6-1997 của
Chính phủ "quy định về án phí, lệ phí Toà án” thì : “Đương sự kháng cáo
không phải chịu án phí phúc thẩm nếu Toà án cấp phúc thẩm sửa bản án, quyết định
sơ thẩm, huỷ một phần hoặc toàn bộ bản án, quyết định sơ thẩm”. Do đó, đối với
trường hợp Toà án cấp phúc thẩm tuy chỉ sửa một phần quyết định của bản án về
phần án phí, thì cũng là đã sửa một phần quyết định của bản án sơ thẩm; vì vậy,
trong trường hợp này đương sự kháng cáo không phải chịu án phí phúc thẩm.
7. Nguyên
đơn nộp tiền tạm ứng án phí, nhưng thường chưa xuất trình được ngay biên lai nộp
tiền cho Toà án được mà phải sau một thời gian; vậy trong trường hợp này khi
Toà án nhận được biên lai thì Toà án lấy ngày thụ lý vụ án là ngày nào, ngày nhận
được biên lai hay ngày đương sự nộp tiền (ghi trong biên lai)? Nếu lấy ngày
đương sự nộp tiền (ghi trong biên lai), thì trong thời gian từ ngày đương sự nộp
tiền đến ngày Toà án nhận được biên lai, Toà án đã thụ lý nhiều vụ án khác.
Cần chú ý là
khoản 1 và khoản 3 Điều 37 Pháp lệnh Thủ tục giải quyết các vụ án dân sự chỉ
quy định thời hạn phải nộp tiền tạm ứng án phí, mà không quy định cụ thể thời hạn
phải xuất trình cho Toà án biên lai nộp tiền tạm ứng án phí. Thực tiễn cho thấy
là ngày đương sự xuất trình biên lai nộp tiền tạm ứng án phí cho Toà án thường
sau ngày đương sự nộp tiền tạm ứng án phí cho cơ quan thi hành án. Khoản 2 Điều
37 Pháp lệnh Thủ tục giải quyết các vụ án dân sự quy định: “Toà án thụ lý vụ án
kể từ ngày nguyên đơn nộp tiền tạm ứng án phí. Nếu đương sự được miễn án phí
thì ngày thụ lý là ngày Toà án nhận đơn khởi kiện. Nếu đương sự được miễn nộp
tiền tạm ứng án phí thì ngày thụ lý là ngày Toà án cho miễn nộp tiền tạm ứng án
phí”. Mặc dù khoản 2 Điều 37 này không quy định cụ thể như Điều 33 Pháp lệnh Thủ
tục giải quyết các vụ án kinh tế, khoản 2 Điều 35 Pháp lệnh Thủ tục giải quyết
các tranh chấp lao động, khoản 2 Điều 32 Pháp lệnh Thủ tục giải quyết các vụ án
hành chính, nhưng không nên hiểu máy móc "ngày nguyên đơn nộp tiền tạm ứng
án phí" là ngày họ trực tiếp nộp tiền tạm ứng án phí cho cơ quan thi hành
án (ghi trong biên lai). Về nguyên tắc, Toà án chỉ chấp nhận đương sự đã nộp tiền
tạm ứng án phí khi họ xuất trình cho Toà án biên lai nộp tiền tạm ứng án phí;
do đó, trong trường hợp nguyên đơn đã nộp tiền tạm ứng án phí tại cơ quan thi
hành án, nhưng chưa xuất trình được ngay biên lai nộp tiền tạm ứng án phí cho
Toà án mà phải sau một thời gian mới xuất trình cho Toà án được, thì ngày thụ
lý vụ án là ngày đương sự xuất trình biên lai nộp tiền tạm ứng án phí.
8. Theo Toà
án thì khi có người đến nộp đơn xin ly hôn Toà án hướng dẫn cho họ đến cơ
quan thi hành án để nộp dự phí ly hôn, nhưng ở một số địa phương khi đương
sự đến nộp dự phí ly hôn thì cơ quan thi hành án thu ngay án phí
ly hôn và nộp luôn vào công quỹ. Cơ quan thi hành án cho rằng thu
ngay án phí ly hôn mới đúng Nghị định số 70/CP của Chính phủ. Vì vậy, khi Toà
án có quyết định trả 50% dự phí cho đương sự thì cơ quan thi hành án không trả
lại cho đương sự. Cách hiểu như một số cơ quan thi hành án như vậy có đúng
không? Nếu cơ quan thi hành án không trả lại cho đương sự tiền dự phí ly hôn
thì phải giải quyết như thế nào?
Trước hết cần
lưu ý với các Toà án các cấp là khái niệm "dự phí" được sử dụng
trước khi Toà án nhân dân tối cao ban hành Thông tư số 85/TATC ngày
6-8-1982 "Về chế độ án phí, lệ phí tại Toà án". Kể từ khi ban hành
Thông tư này đến nay trong các văn bản quy phạm pháp luật không dùng khái niệm
"dự phí" này nữa. Theo Thông tư số 40/TATC ngày 1-6-1976 của Toà án
nhân dân tối cao "về chế độ án phí, lệ phí và cấp phí thi hành tại Toà án
nhân dân" thì dự phí sơ thẩm chính là tiền tạm ứng án phí sơ thẩm, dự
phí kháng cáo chính là tiền tạm ứng án phí phúc thẩm (xem Tập hệ thống hoá
luật lệ về tố tụng dân sự; Toà án nhân dân tối cao xuất bản năm 1976; trang 64,
65). Theo quy định tại khoản 1 Điều 37 Pháp lệnh Thủ tục giải quyết các vụ án
dân sự, thì khi nhận được đơn khởi kiện “nếu thấy vụ án thuộc thẩm quyền của
mình, Toà án báo ngay cho nguyên đơn nộp tiền tạm ứng án phí. Trong thời hạn một
tháng, kể từ ngày nộp đơn, nguyên đơn phải nộp tiền tạm ứng án phí, trừ trường
hợp được miễn án phí hoặc được miễn nộp tiền tạm ứng án phí”.
Đồng thời
khoản 2 và khoản 3 Điều 2 Nghị định số 70/CP ngày 12-6-1997 của Chính phủ
“quy định về án phí, lệ phí Toà án” quy định:
“...
2. Tiền tạm ứng
án phí, tiền tạm ứng lệ phí được nộp cho cơ quan thi hành án có thẩm quyền để gửi
vào tài khoản tạm giữ mở tại Kho bạc Nhà nước và được rút ra để thi hành án
theo quy định của Toà án.
3. Trong trường
hợp người nộp tiền tạm ứng án phí, lệ phí nêu tại khoản 2 Điều này được hoàn trả
một phần hoặc toàn bộ số tiền đã nộp, thì cơ quan thi hành án đã thu tiền tạm ứng
phải làm thủ tục trả lại tiền cho người đã nộp. Trong trường hợp người đã nộp
tiền tạm ứng án phí, lệ phí phải chịu án phí thì ngay sau khi bản án, quyết định
của Toà án có hiệu lực thi hành số tiền tạm ứng đã thu phải được chuyển nộp
vào ngân sách Nhà nước”.
Như vậy, khi
nhận đơn xin ly hôn, xét thấy vụ án thuộc thẩm quyền của mình Toà án đã báo cho
nguyên đơn đến cơ quan thi hành án để nộp tiền tạm ứng án phí ly hôn là đúng.
Theo tinh thần quy định tại Điều 11 Nghị định số 70/CP nói trên và khoản 2 Điều
53 Pháp lệnh Thủ tục giải quyết các vụ án dân sự, thì đương sự chỉ phải chịu án
phí khi có quyết định của Toà án về việc giải quyết vụ án trong đó có quyết định
về án phí. Việc một số cơ quan thi hành án cho rằng trong trường hợp xin ly hôn
thì thu ngay án phí ly hôn mà không phải là tiền tạm ứng án phí ly hôn là hoàn
toàn không đúng với quy định tại Nghị định số 70/CP nói trên của Chính phủ. Các
Toà án cần thực hiện đúng quy định trong Nghị định số 70/CP của Chính phủ về án
phí, lệ phí Toà án. Khi bản án, quyết định của Toà án có hiệu lực pháp luật
trong đó có quyết định của Toà án trả lại 50% tiền tạm ứng án phí cho đương sự
thì theo quy định của Hiến pháp, Luật tổ chức Tòa án nhân dân, Pháp lệnh Thi
hành án dân sự, Nghị định số 70/CP của Chính phủ, cơ quan thi hành án có trách
nhiệm phải thi hành. Nếu không thi hành là không đúng quy định của pháp luật và
đương sự có quyền khiếu nại đến cơ quan có thẩm quyền giải quyết.
9. Ông A làm
đơn khởi kiện đến Toà án, nhưng do hoàn cảnh đặc biệt là vì già yếu không đi lại
được, đường xá xa xôi, không có ai để uỷ quyền, nên không có mặt tại phiên toà
được. Trong khi đó có cơ sở xác định quyền lợi của ông A bị xâm hại. Vậy Toà án
nơi cư trú của nguyên đơn có được thụ lý để giải quyết vụ án hay không? Nếu Toà
án có thẩm quyền thụ lý vụ án, nhưng nguyên đơn vì già yếu, ốm đau không thể có
mặt tại Toà án, nên không thể tiến hành hoà giải được, thì Toà án có được xét xử
vắng mặt nguyên đơn hay không?
A- Nếu không
thuộc một trong các trường hợp quy định tại các điểm 3, 4 và 5 Điều 14 Pháp lệnh
Thủ tục giải quyết các vụ án dân sự, thì Toà án nơi cư trú của nguyên đơn không
được thụ lý vụ án để giải quyết, vì vụ án không thuộc thẩm quyền giải quyết của
Toà án đó.
B- Theo quy
định tại Điều 5 Pháp lệnh Thủ tục giải quyết các vụ án dân sự thì hoà giải là
thủ tục bắt buộc chỉ khi không hoà giải được hoặc hoà giải không thành thì mới
đưa vụ án ra xét xử, trừ những trường hợp không phải hoà giải quy định tại Điều
43 của Pháp lệnh này. Đồng thời theo hướng dẫn tại điểm 4 Mục II Nghị quyết
số 03/HĐTP ngày 19-10-1990 của Hội đồng thẩm phán Toà án nhân dân tối cao
"Hướng dẫn áp dụng một số quy định của Pháp lệnh Thủ tục giải quyết các vụ
án dân sự", thì những việc không hoà giải được là những việc "bị đơn
đã được triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai mà vẫn vắng mặt không có lý do chính
đáng (khoản 4 Điều 44) hoặc những trường hợp không có điều kiện tiến hành hoà
giải như: có một bên đương sự đang ở nước ngoài, đang bị giam giữ hoặc do những
trở ngại khách quan như bị tai nạn, ốm đau nên không thể có mặt được khi hoà giải".
Mặt khác theo quy định tại khoản 3 Điều 48 Pháp lệnh Thủ tục giải quyết các vụ
án dân sự thì "việc xét xử vẫn được tiến hành nếu đương sự yêu cầu xét xử
vắng mặt họ...". Như vậy, theo các quy định và hướng dẫn trên đây trong
trường hợp nguyên đơn do sức khỏe già yếu, ốm đau, không có người để uỷ quyền
cho họ tham gia tố tụng và có yêu cầu xét xử vắng mặt họ, thì Toà án không phải
tiến hành hoà giải và tiến hành việc xét xử vụ án theo thủ tục chung mà không cần
sự có mặt của nguyên đơn.
10. Tại khoản
2 Điều 11 Nghị định số 70/CP quy định “Trước khi mở phiên toà, Toà án hoà giải
mà các đương sự tự thoả thuận với nhau về giải quyết vụ án, thì đương sự phải
chịu 50% mức án phí quy định tại Điều 7 của Nghị định này".
Tại khoản 3
Điều 11 quy định “... Trong trường hợp thuận tình ly hôn, thì mỗi bên đương sự
phải chịu một nửa án phí dân sự sơ thẩm”
Vậy trong
trường hợp thuận tình ly hôn thì theo Nghị định số 70/CP nói trên mỗi bên
đương sự phải chịu 25.000đ hay 12.500đ?
Cần chú ý là
trường hợp vợ chồng thuận tình ly hôn không thuộc trường hợp các đương sự thoả
thuận được với nhau về vấn đề phải giải quyết trong vụ án (hòa giải thành) để
được tính án phí theo quy định tại khoản 2 Điều 11 Nghị định số 70/CP ngày
12-6-1997 của Chính phủ "quy định về án phí, lệ phí Toà án”. Trong trường
hợp cả hai vợ chồng xin ly hôn (thuận tình ly hôn), Toà án tiến hành hoà giải để
hai bên đương sự trở về đoàn tụ với nhau, nhưng họ vẫn kiên quyết xin ly hôn
thì đây là hoà giải đoàn tụ không thành. Nếu như đối với các trường hợp tranh
chấp khác thì trong trường hợp này Toà án phải lập biên bản hoà giải không
thành và đưa vụ án ra xét xử, nhưng đối với trường hợp họ vẫn kiên quyết xin ly
hôn, thì Toà án lập biên bản hoà giải đoàn tụ không thành và sau đó lập biên bản
về sự thoả thuận của các đương sự về thuận tình ly hôn... Hết thời hạn 15 ngày
kể từ ngày lập các biên bản này mà các đương sự không có thay đổi ý kiến thì
Toà án áp dụng khoản 2 Điều 44 Pháp lệnh Thủ tục giải quyết các vụ án dân sự,
Điều 90 Luật hôn nhân và gia đình năm 2000 ra quyết định công nhận cho thuận
tình ly hôn. Chính vì vậy, khoản 3 Điều 11 Nghị định số 70/CP nói trên quy định
trong trường hợp thuận tình ly hôn, thì mỗi bên đương sự phải chịu một nửa án
phí dân sự sơ thẩm, có nghĩa là phải chịu một nửa của 50.000 đồng (tức là
25.000 đồng).
11. Trong vụ
án ly hôn hai bên thoả thuận chia tài sản chung thì Toà án có cần phải định giá
tài sản hay không và họ có phải chịu án phí đối với tài sản như vụ án có giá ngạch
hay không?
Có cần phải
định giá tài sản hay không và họ có phải chịu án phí đối với tài sản như vụ án
có giá ngạch hay không thì tuỳ vào từng trường hợp cụ thể như sau:
A. Nếu các
đương sự đã tự thoả thuận được với nhau về việc chia tài sản chung và sự thoả
thuận đó bảo đảm quyền lợi chính đáng của vợ và con theo quy định tại Điều 90,
Điều 95 Luật hôn nhân và gia đình năm 2000, thì Toà án không cần phải định giá
tài sản và họ không phải chịu án phí đối với tài sản như vụ án có giá ngạch.
B. Nếu các
đương sự khi có yêu cầu ly hôn chưa thoả thuận được với nhau về việc chia tài sản
và cũng chưa thoả thuận được về giá trị tài sản có yêu cầu Toà án giải quyết hoặc
có thoả thuận với mức thấp nhằm mục đích trốn thuế, giảm tiền nộp án phí
thì theo quy định tại điểm đ khoản 1 Điều 38 Pháp lệnh Thủ tục giải quyết
các vụ án dân sự, Toà án phải yêu cầu cơ quan chuyên môn định giá hoặc lập hội
đồng định giá tài sản có tranh chấp trước khi hoà giải. Nếu Toà án tiến hành
hoà giải theo quy định tại Điều 44 Pháp lệnh Thủ tục giải quyết các vụ án dân sự
(Toà án tiến hành hoà giải trước khi mở phiên toà) mà các đương sự thoả thuận
được với nhau về việc chia tài sản chung, thì theo quy định tại khoản 3 Điều 7,
khoản 2 Điều 11 Nghị định số 70/CP ngày 12-6-1997 của Chính phủ quy định về
án phí, lệ phí Toà án, các đương sự phải chịu 50% mức án phí quy định tại
khoản 2 Điều 7 của Nghị định này, nếu họ không thuộc trường hợp được miễn
nộp án phí. Nếu tại phiên toà Toà án tiến hành hoà giải mà các đương sự mới thoả
thuận được với nhau về việc chia tài sản chung thì họ phải chịu án phí như trường
hợp Toà án phải tiến hành xét xử.
12. Theo quy
định tại khoản 2 Điều 31 Pháp lệnh Thủ tục giải quyết các vụ án dân sự thì:
“... Người kháng cáo theo thủ tục phúc thẩm phải nộp tiền tạm ứng án phí phúc
thẩm trong thời hạn kháng cáo; Nếu trong thời hạn đó mà không nộp tiền tạm ứng
án phí phúc thẩm thì coi như không kháng cáo..., Trừ trường hợp có lý do chính
đáng". Thực tiễn cho thấy trong phần quyết định của các bản án dân sự sơ
thẩm chỉ ghi quyền kháng cáo mà không ghi “nếu có kháng cáo thì phải nộp
50.000đ tiền tạm ứng án phí phúc thẩm trong thời hạn kháng cáo". Như vậy
trong các bản án dân sự sơ thẩm không ghi vấn đề này có phải là thiếu sót hay
không? Đề nghị hướng dẫn có cần phải ghi thêm việc phải nộp 50.000đ tiền tạm
ứng án phí phúc thẩm trong phần quyết định của bản án dân sự sơ thẩm hay không?
Khoản 2 Điều
53 Pháp lệnh Thủ tục giải quyết các vụ án dân sự quy định:
“Trong bản
án Hội đồng xét xử trình bày đầy đủ nội dung vụ án, những tình tiết đã được chứng
minh, những chứng cứ, căn cứ pháp luật mà Toà án dựa vào để giải quyết các vấn
đề trong vụ án, quyết định của Toà án về giải quyết vụ án, về án phí và quyền
kháng cáo của các đương sự... Đối với các quyết định về cấp dưỡng, bồi thường
thiệt hại về tính mạng, sức khoẻ, trả tiền công lao động, cấm hoặc buộc phải thực
hiện hành vi nhất định thì Hội đồng xét xử có thể quyết định cho thi hành
ngay". Như vậy, theo khoản 2 Điều 53 này thì Tòa án chỉ phải ghi trong phần
quyết định của bản án dân sự sơ thẩm quyền kháng cáo (ai có quyền kháng cáo, thời
hạn kháng cáo và đối tượng kháng cáo) mà không phải ghi hậu quả của việc không
nộp tiền tạm ứng án phí phúc thẩm, nếu có kháng cáo; do đó, trong các bản án
dân sự sơ thẩm không ghi hậu quả của việc không nộp tiền tạm ứng án phí phúc thẩm
là đúng với quy định của Pháp lệnh Thủ tục giải quyết các vụ án dân sự mà không
phải là thiếu sót.
Để bảo đảm
cho các đương sự thực hiện được quyền kháng cáo theo đúng quy định của pháp luật
tại Phần VII Nghị quyết số 03/HĐTP ngày 19-10-1990 của Hội đồng Thẩm phán Toà
án nhân dân tối cao “Hướng dẫn áp dụng một số quy định của Pháp lệnh Thủ tục giải
quyết các vụ án dân sự” đã hướng dẫn:
"Các
đương sự phải chịu án phí theo quy định của pháp luật, cho nên ngay sau khi nhận
đơn khởi kiện của đương sự, Toà án phải giải thích cho họ biết về chế độ án
phí, về việc họ phải nộp tiền tạm ứng án phí thì Toà án mới thụ lý vụ án để giải
quyết; giải thích ngay cho tất cả các đương sự biết cả việc nếu họ kháng cáo
theo thủ tục phúc thẩm thì họ phải nộp tiền tạm ứng án phí phúc thẩm trong thời
hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm và hậu quả của việc không nộp tiền tạm ứng
án phí phúc thẩm trong thời hạn đó" (Mục 2) và "Người kháng cáo không
nộp tiền tạm ứng án phí phúc thẩm trong thời hạn kháng cáo (trừ trường hợp
không phải nộp tiền tạm ứng án phí phúc thẩm), mặc dù đã được Toà án giải
thích, nhắc nhở, thì coi như không kháng cáo và Toà án cấp sơ thẩm không phải gửi
hồ sơ lên Toà án cấp phúc thẩm, nhưng trong hồ sơ phải phản ánh rõ việc giải
thích, nhắc nhở đó.” (Mục 3).
13. Một người
có hành vi phạm tội đã bị khởi tố bị can, nhưng bỏ trốn. Cơ quan điều tra
đã ra quyết định truy nã, nhưng đã hơn hai năm vẫn không có kết quả. Người có
quyền, lợi ích liên quan như Ngân hàng là chủ nợ có đơn yêu cầu Toà án tuyên bố
người bị truy nã đó mất tích để xử lý khoản nợ theo quy định của pháp luật hoặc
người vợ (hay người chồng) có đơn yêu cầu Toà án tuyên bố người bị truy nã đó mất
tích đồng thời xin ly hôn với người đó thì Toà án có thụ lý vụ án hay không? Nếu
thụ lý vụ án thì hướng giải quyết vụ án đó như thế nào?
Theo quy định
tại Điều 36 Pháp lệnh Thủ tục giải quyết các vụ án dân sự, thì trường hợp này
không thuộc một trong những trường hợp Toà án trả lại đơn khởi kiện; do đó, Toà
án phải thụ lý vụ án theo quy định tại Điều 37 của Pháp lệnh này. Việc giải quyết
vụ án về tuyên bố một người mất tích trong trường hợp này cũng được thực hiện
theo thủ tục chung có nghĩa là phải theo đúng các quy định tại khoản 1 Điều 88
Bộ luật dân sự, các quy định của Pháp lệnh Thủ tục giải quyết các vụ án dân sự
và hướng dẫn tại Mục III Nghị quyết số 03/HĐTP ngày 19-10-1990 của Hội đồng Thẩm
phán Toà án nhân dân tối cao "Hướng dẫn áp dụng một số quy định của Pháp lệnh
Thủ tục giải quyết các vụ án dân sự". Trong trường hợp người vợ (hoặc người
chồng) của người bị Toà án tuyên bố mất tích xin ly hôn, thì căn cứ vào khoản 2
Điều 88 Bộ luật dân sự và khoản 2 Điều 89 Luật hôn nhân và gia đình năm 2000,
Toà án giải quyết cho ly hôn. Đối với chia tài sản chung của vợ chồng, việc
nuôi dưỡng giáo dục con và việc quản lý tài sản của người bị tuyên bố mất tích,
thì Toà án áp dụng các quy định của Luật hôn nhân và gia đình năm 2000, Điều
89 Bộ luật dân sự để giải quyết.
14. Cả hai vợ
chồng đều có đơn xin ly hôn, Tòa án đã thụ lý và tiến hành hoà giải để hai bên
trở về đoàn tụ với nhau, nhưng không thành. Cả hai bên đều xin được ly hôn và
thoả thuận được với nhau về việc chia tài sản chung, việc trông nom nuôi dưỡng
giáo dục con. Toà án đã lập biên bản về việc cả hai bên thật sự tự nguyện ly
hôn và về việc các đương sự thoả thuận được với nhau về việc chia tài sản
chung, việc trông nom, nuôi dưỡng giáo dục con. Trong thời hạn 15 ngày, một
trong hai bên đương sự thay đổi ý kiến về việc chia tài sản chung và yêu cầu
Toà án giải quyết. Vậy trong trường hợp này Toà án phải giải quyết như thế nào?
Toà án có được tách phần tự nguyện xin ly hôn và ra quyết định công nhận sự thoả
thuận của các đương sự về mặt tình cảm (ly hôn) hay không? Toà án có được tiếp
tục tiến hành hoà giải về việc chia tài sản chung hay không?
Theo hướng dẫn
tại điểm 2 Mục II Nghị quyết số 03/HĐTP ngày 19-10-1990 của Hội đồng Thẩm phán
Toà án nhân dân tối cao "Hướng dẫn áp dụng một số quy định của Pháp lệnh
Thủ tục giải quyết các vụ án dân sự" thì "hoà giải cũng là một thủ tục
bắt buộc khi cả hai vợ chồng có đơn xin thuận tình ly hôn; do đó, nếu Toà án đã
hoà giải để hai bên đương sự trở về đoàn tụ với nhau, nhưng họ vẫn kiên quyết
xin ly hôn, thì Toà án lập biên bản hoà giải đoàn tụ không thành, sau đó lập
biên bản về sự thoả thuận của các đương sự về thuận tình ly hôn, phân chia tài
sản và nuôi con...Việc ra quyết định công nhận sự thoả thuận của các đương sự
hoặc quyết định đưa vụ án ra xét xử trong các trường hợp này cũng được thực hiện
theo hướng dẫn trên" (Xem cuốn Các văn bản về hình sự, dân sự và tố tụng;
Toà án nhân dân tối cao xuất bản năm 1992; tr.292). Theo hướng dẫn tại đoạn 1
điểm 2 này cũng như quy định tại khoản 2 Điều 44 Pháp lệnh Thủ tục giải quyết
các vụ án dân sự thì "trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày lập biên bản hoà
giải thành mà có đương sự thay đổi ý kiến...Thì Toà án đưa vụ án ra xét xử".
Mặt khác theo tinh thần quy định tại Điều 90 Luật hôn nhân và gia đình năm 2000
thì khi thuận tình ly hôn các bên phải có thoả thuận việc chia tài sản chung,
việc trông nom, nuôi dưỡng, giáo dục con, Toà án mới công nhận thuận tình ly
hôn. Như vậy, trong trường hợp trên đây mặc dù chỉ có một đương sự thay đổi ý
kiến về việc chia tài sản chung thì Toà án cũng không được tách phần thuận tình
ly hôn để ra quyết định công nhận thuận tình ly hôn mà Toà án ra quyết định đưa
vụ án ra xét xử theo thủ tục chung và tất cả các vấn đề đều được giải quyết
trong bản án của Tòa án.
15. Anh A
xin ly hôn chị B, Toà án thụ lý vụ án và tiến hành hoà giải. Tại phiên hoà giải
anh A nhất trí về đoàn tụ với chị B. Trong trường hợp này, Toà án ra quyết định
đình chỉ giải quyết vụ án ngay sau khi các đương sự thoả thuận được với nhau
hay sau 15 ngày, kể từ ngày lập biên bản về việc các đương sự thoả thuận được với
nhau.
Toà án ra
quyết định gì và vào thời điểm nào là hoàn toàn phụ thuộc vào nội dung của việc
"anh A nhất trí với chị B"; cụ thể là:
A- Nếu tại
phiên hoà giải mà anh A nhất trí về đoàn tụ với chị B và rút đơn xin ly hôn,
thì Toà án lập biên bản về việc anh A rút đơn xin ly hôn và áp dụng điểm 2 Điều
46 Pháp lệnh Thủ tục giải quyết các vụ án dân sự ra quyết định đình chỉ việc giải
quyết vụ án.
B- Nếu tại
phiên hoà giải mà anh A nhất trí về đoàn tụ với chị B nhưng không rút đơn xin
ly hôn mà thoả thuận cùng chị B về đoàn tụ với nhau trên cơ sở hoà giải của Toà
án, thì theo quy định tại khoản 2 Điều 44 Pháp lệnh Thủ tục giải quyết các vụ
án dân sự Toà án lập biên bản hoà giải thành. Trong trường hợp này trong thời hạn
15 ngày kể từ ngày lập biên bản hoà giải thành, đương sự không thay đổi ý kiến,
thì Toà án ra quyết định công nhận sự thoả thuận của các đương sự. Quyết định
này có hiệu lực pháp luật.
16. Về nội
dung hoà giải và thành phần tham gia hoà giải trong vụ án về ly hôn (vợ hoặc chồng
có đơn xin ly hôn hoặc cả hai vợ chồng xin ly hôn), còn có ý kiến khác nhau.
Theo một số
Toà án hiểu thì mục đích của việc hoà giải là để hai bên đương sự về đoàn tụ với
nhau; do đó, nội dung hòa giải là phân tích, khuyên nhủ để vợ chồng về đoàn tụ
với nhau và thành phần mà Toà án triệu tập để hoà giải là nguyên đơn và bị đơn
trong vụ kiện (vợ và chồng). Một số Viện kiểm sát nhân dân cho rằng nội dung và
thành phần tham gia hoà giải như trên là chưa đầy đủ. Theo ý kiến của Viện kiểm
sát thì việc hoà giải mà Toà án phải tiến hành bao gồm cả 3 nội dung: hoà giải
về hôn nhân, nuôi con và phân chia tài sản; thành phần tham gia hoà giải ngoài
nguyên đơn, bị đơn (vợ chồng) còn phải có mặt người có quyền lợi và nghĩa vụ
liên quan (chủ nợ hoặc con nợ).
Đề nghị Toà
án nhân dân tối cao hướng dẫn: Việc hòa giải trong vụ kiện ly hôn bao gồm những
vấn đề gì và nội dung nào? Thành phần tham gia hoà giải gồm những ai?
Việc xác định
những vấn đề gì cần phải tiến hành hoà giải, nội dung hoà giải như thế nào và
ai phải có mặt khi hoà giải trong các vụ án ly hôn phải tuỳ vào từng trường hợp
cụ thể.
A. Về những
vấn đề gì cần phải tiến hành hoà giải
Theo tinh thần
quy định tại Điều 43 Pháp lệnh Thủ tục giải quyết các vụ án dân sự, thì trong
quá trình giải quyết vụ án Toà án tiến hành hoà giải để các đương sự thoả thuận
với nhau về việc giải quyết tất cả những vấn đề mà một hoặc các bên đương sự có
yêu cầu Toà án giải quyết, trừ các việc Toà án không được tiến hành hoà giải
quy định tại các điểm 1, 2, 3 và 4 Điều 43 này. Tuy nhiên, tuỳ từng trường hợp
cụ thể mà Toà án quyết định tiến hành hoà giải việc gì trước và hoà giải việc
gì sau.
Ví dụ 1: Vợ
hoặc chồng có đơn xin ly hôn hoặc cả hai vợ chồng đều có đơn xin ly hôn và yêu
cầu Toà án giải quyết việc chia tài sản, cũng như việc trông nom, nuôi dưỡng,
giáo dục con, thì trước hết Toà án tiến hành hoà giải để hai bên trở về đoàn tụ
với nhau; nếu hai bên đồng ý trở về đoàn tụ với nhau, thì Toà án không phải tiến
hành hoà giải các vấn đề khác còn lại; nếu một trong hai bên hoặc cả hai bên
kiên quyết xin ly hôn, thì Toà án tiến hành hoà giải các vấn đề khác còn lại với
nội dung trong trường hợp Toà án xử cho ly hôn hay công nhận cho thuận tình ly
hôn thì các đương sự thoả thuận việc chia tài sản như thế nào, việc trông nom,
nuôi dưỡng, giáo dục con như thế nào?
Ví dụ 2: Một
hoặc hai bên đã kết hôn trái pháp luật có yêu cầu Toà án huỷ việc kết hôn trái
pháp luật, giải quyết việc chia tài sản chung của họ và việc trông nom, nuôi dưỡng,
giáo dục con, thì Toà án không được tiến hành hoà giải yêu cầu huỷ việc kết hôn
trái pháp luật, nhưng Toà án vẫn phải tiến hành hoà giải với nội dung trong trường
hợp Toà án huỷ việc kết hôn trái pháp luật thì các đương sự thoả thuận việc
chia tài sản như thế nào và việc trông nom, nuôi dưỡng, giáo dục con như thế
nào?
B. Về nội
dung hoà giải
Việc hoà giải
các vấn đề khác nhau có nội dung khác nhau. Tuy nhiên, có thể khái quát nội
dung của hoà giải là bằng sự có mặt của người Thẩm phán, các bên đương sự trình
bày những lý do mà họ phải yêu cầu Toà án giải quyết. Trên cơ sở đó Thẩm phán hỏi
ý kiến của các bên; phân tích các quy định của pháp luật; những mặt được của việc
các bên thoả thuận được với nhau về việc giải quyết vấn đề đó; hậu quả pháp lý
của việc Toà án phải quyết định...Có thể nói nội dung hoà giải và kết quả của
việc hoà giải phụ thuộc rất nhiều vào năng lực, kỹ năng nghiệp vụ của người Thẩm
phán.
C. Về thành
phần tham gia hoà giải
Theo quy định
tại khoản 1 Điều 44 Pháp lệnh Thủ tục giải quyết các vụ án dân sự thì:
"nguyên đơn, bị đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan phải có mặt
khi hoà giải". Tuy nhiên, trong khi hoà giải về ly hôn mà có người có quyền
lợi, nghĩa vụ liên quan (chủ nợ hoặc con nợ của vợ chồng) thì cần phân biệt như
sau:
- Nếu giữa
người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan (chủ nợ hoặc con nợ) với vợ chồng đã tự
thoả thuận được với nhau về việc giải quyết quyền, nghĩa vụ của các bên, thì
không cần phải tiến hành hoà giải giữa vợ chồng với người có quyền lợi, nghĩa vụ
liên quan (chủ nợ hoặc con nợ).
- Nếu giữa
người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan (chủ nợ hoặc con nợ) với vợ chồng không
thoả thuận được với nhau về việc giải quyết quyền, nghĩa vụ của các bên thì cần
phân biệt là trong vụ án này có hai nhóm quan hệ: nhóm quan hệ giữa vợ, chồng
và nhóm quan hệ giữa vợ chồng với người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan (chủ nợ
hoặc con nợ). Mặt khác, nhóm quan hệ giữa vợ chồng là quan hệ nhân thân; do đó,
không tiến hành hoà giải hai nhóm quan hệ này trong cùng một phiên hoà giải. Nếu
thuộc trường hợp có điều kiện tiến hành hoà giải thì cần tiến hành hoà giải việc
giải quyết quyền, nghĩa vụ giữa vợ chồng với người có quyền lợi, nghĩa vụ liên
quan (chủ nợ hoặc con nợ) trong một phiên hoà giải khác.
V. VỀ
HÀNH CHÍNH.
1. Trong trường
hợp có nhiều người khiếu kiện đến Toà án đối với một quyết định hành chính
trong việc áp dụng biện pháp buộc tháo dỡ nhà ở... (khoản 2 Điều 11 Pháp lệnh
Thủ tục giải quyết các vụ án hành chính), thì có thuộc thẩm quyền giải quyết của
Toà án hay không, nếu tất cả những người này không khiếu nại đến người có thẩm
quyền giải quyết khiếu nại tiếp theo?
Theo quy định
tại khoản 1 Điều 13 Pháp lệnh Thủ tục giải quyết các vụ án hành chính (đã được
sửa đổi, bổ sung), thì trong trường hợp khiếu nại quyết định hành chính, hành
vi hành chính không được giải quyết hoặc trong trường hợp khiếu nại quyết định
hành chính, hành vi hành chính, khiếu nại quyết định kỷ luật buộc thôi việc cán
bộ, công chức đã được giải quyết lần đầu, nhưng người khiếu nại không đồng ý,
thì họ có quyền khiếu nại đến người có thẩm quyền giải quyết khiếu nại tiếp
theo hoặc khiếu kiện vụ án hành chính tại Toà án có thẩm quyền. Theo điểm a khoản
1 Điều 13 này chỉ trong trường hợp có nhiều người, trong đó có người khởi kiện
vụ án hành chính tại Toà án có thẩm quyền, có người khiếu nại đến người có thẩm
quyền giải quyết tiếp theo (cùng đối với một quyết định hành chính hoặc hành vi
hành chính), thì việc giải quyết mới thuộc thẩm quyền của người có thẩm quyền
giải quyết khiếu nại tiếp theo; do đó, trong trường hợp có nhiều người khiếu kiện
đến Toà án đối với một quyết định hành chính trong việc áp dụng biện pháp buộc
tháo dỡ nhà ở... Mà không có ai khiếu nại đến người có thẩm quyền giải quyết
khiếu nại tiếp theo hoặc trong trường hợp có nhiều người đều khiếu kiện đến Toà
án đối với một quyết định hành chính trong việc áp dụng biện pháp buộc tháo dỡ
nhà ở...Đồng thời đều khiếu nại đến người có thẩm quyền giải quyết khiếu nại tiếp
theo, thì việc giải quyết khiếu kiện đó thuộc thẩm quyền của Toà án.
2. Đề
nghị giải đáp cụm từ: "... Vì những trở ngại khách quan khác" mà người
khởi kiện không khởi kiện được trong thời hạn quy định tại khoản 2 Điều 30 Pháp
lệnh Thủ tục giải quyết các vụ án hành chính.
Theo quy định
tại khoản 2 Điều 30 Pháp lệnh Thủ tục giải quyết các vụ án hành chính thì những
trường hợp được coi là trở ngại khách quan là những trường hợp vì ốm đau, thiên
tai, địch hoạ, đi công tác, học tập ở nơi xa. Ngoài ra trong thực tế còn có những
trở ngại khác; ví dụ: do nhu cầu chiến đấu và phục vụ chiến đấu nơi xa; do yêu
cầu của công tác đặc biệt không được liên lạc với bên ngoài; do bị một tổ chức
tội phạm bắt cóc... Cũng được coi là trở ngại khách quan mà trong điều luật
không thể liệt kê cụ thể hết được cho nên mới dùng cụm từ "trở ngại khách
quan khác". Tham khảo Từ điển Tiếng Việt thì "khách quan" là cái
tồn tại bên ngoài không phụ thuộc vào ý thức, ý chí của con người... Và
"trở ngại" là cái gây khó khăn, cái làm cản trở. Như vậy, có thể hiểu
"trở ngại khách quan" là những khó khăn, cản trở tồn tại bên ngoài
không phụ thuộc vào ý thức, ý chí của con người. Ngoài những trở ngại khách
quan được quy định cụ thể tại khoản 2 Điều 30 Pháp lệnh Thủ tục giải quyết các
vụ án hành chính, thì bất cứ một trở ngại nào đáp ứng các điều kiện này đều có
thể được Toà án chấp nhận là "trở ngại khách quan khác" và thời gian
có trở ngại khách quan đó không tính vào thời hiệu khởi kiện.
3. Người ra
quyết định hành chính bị khiếu kiện đã chuyển công tác đi nơi khác hoặc do chia
tách huyện, tách tỉnh không còn ở huyện, tỉnh cũ hoặc về hưu, thì xác định tư
cách "người bị kiện" như thế nào? Toà án nơi xảy ra khiếu kiện hay
Toà án nơi người đã ra quyết định cư trú (hay công tác) có thẩm quyền giải quyết
khiếu kiện này?
Cần chú ý là
người có thẩm quyền trong cơ quan hành chính nhà nước quy định tại Điều 4 Pháp
lệnh Thủ tục giải quyết các vụ án hành chính là người có chức vụ, chức danh cụ
thể và theo quy định của pháp luật thì người có chức vụ, chức danh đó mới có thẩm
quyền ra quyết định hành chính hoặc có hành vi hành chính. Mặc dù một quyết định
hành chính hoặc một hành vi hành chính do một người cụ thể (Nguyễn Văn A, Nguyễn
Văn B...) Ký hoặc thực hiện, nhưng việc người đó ký quyết định hành chính hoặc
thực hiện hành vi hành chính đó phải dưới danh nghĩa một chức vụ, chức danh có
thẩm quyền (ví dụ: Chủ tịch Uỷ ban nhân dân huyện..., Trưởng Công an phường...);
Do đó, chỉ có thể gọi quyết định hành chính đó, hành vi hành chính đó của Chủ tịch
Uỷ ban nhân dân... Của Trưởng Công an phường... Mà không thể gọi quyết định
hành chính đó, hành vi hành chính đó của một người cụ thể (Nguyễn Văn A, Nguyễn
Văn B...). Vì vậy, trong trường hợp người ra quyết định hành chính hoặc có hành
vi hành chính đã chuyển công tác đi nơi khác hoặc về hưu... Mà quyết định hành
chính hoặc hành vi hành chính đó bị khiếu kiện, thì người được bầu, được cử, được
bổ nhiệm... Thay chức vụ, chức danh của người đó phải kế thừa quyền và nghĩa vụ,
có nghĩa họ chính là người bị kiện.
Trên cơ sở
xác định người bị kiện như trên, căn cứ vào quy định tại Điều 12 Pháp lệnh Thủ
tục giải quyết các vụ án hành chính để tuỳ từng trường hợp cụ thể mà xác định
Toà án nào có thẩm quyền giải quyết vụ án hành chính đó.
VI. VỀ
LAO ĐỘNG.
Trong một
doanh nghiệp Nhà nước có việc lập quỹ trái phép. Người lao động được giao nhiệm
vụ quản lý quỹ trái phép đã chiếm đoạt tiền trong quỹ trái phép đó, nên đã bị
doanh nghiệp ra quyết định xử lý kỷ luật bằng hình thức sa thải. Vậy quyết định
xử lý kỷ luật của doanh nghiệp là đúng hay sai?
Mặc dù là quỹ
trái phép nhưng vẫn là tài sản của Nhà nước; do đó, hành vi chiếm đoạt tiền
trong quỹ trái phép của người được giao trách nhiệm quản lý là hành vi
tham ô. Căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 85 Bộ luật lao động, thì doanh nghiệp
có quyền xử lý kỷ luật người lao động bằng hình thức sa thải.
Trên đây là
những giải đáp của Toà án nhân dân tối cao về một số vấn đề vướng mắc trong thực
tiễn công tác của Toà án. Trong quá trình thực hiện nếu có vấn đề gì chưa cụ thể
hoặc chưa phù hợp với thực tiễn, đề nghị phản ánh cho Toà án nhân dân tối
cao để có hướng dẫn bổ sung hoặc sửa đổi.
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét