Mục 1. XỬ LÝ TRÁCH NHIỆM THẨM PHÁN
Điều 9. Xử lý trách nhiệm bằng hình thức kiểm điểm trước cơ quan, đơn vị
Thẩm phán bị xử lý trách nhiệm bằng hình thức kiểm điểm trước cơ quan, đơn vị khi có một trong những hành vi vi phạm sau đây:
1. Thẩm phán có một trong những hành vi vi phạm trong việc xử lý đơn, thụ lý đơn khởi kiện, đơn yêu cầu giải quyết vụ, việc:
a) Xử lý đơn khởi kiện để quá thời hạn 05 ngày làm việc, kể từ ngày hết thời hạn quy định tại Khoản 3 Điều 191 Bộ luật tố tụng dân sự; Khoản 3 Điều 121 Luật tố tụng hành chính;
b) Xử lý đơn yêu cầu giải quyết vụ, việc dân sự để quá thời hạn 07 ngày làm việc, kể từ ngày hết thời hạn quy định tại Điều 363 Bộ luật tố tụng dân sự;
c) Thụ lý vụ, việc chậm quá thời hạn 05 ngày làm việc, kể từ ngày đủ điều kiện thụ lý theo quy định tại Điều 195; khoản 4 Điều 363 Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 125 Luật tố tụng hành chính;
d) Trả lại đơn khởi kiện, đơn yêu cầu giải quyết việc dân sự không đúng quy định của pháp luật, gây ảnh hưởng đến quyền, lợi ích hợp pháp của cơ quan, tổ chức, cá nhân hoặc gây dư luận xấu, ảnh hưởng đến uy tín của Tòa án nhân dân.
2. Để từ 01 đến 03 vụ, việc quá thời hạn dưới 06 tháng, kể từ ngày hết thời hạn chuẩn bị xét xử, thời hạn chuẩn bị xét đơn yêu cầu theo quy định của pháp luật nhưng không có lý do chính đáng.
3. Ra 01 quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời không đúng quy định của pháp luật hoặc không ra quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời theo quy định của pháp luật.
4. Ra bản án, quyết định, sau khi được công bố trên Cổng thông tin điện tử Tòa án có nhiều sai sót bị phát hiện, gây dư luận xấu, ảnh hưởng đến uy tín của Tòa án nhân dân.
5. Thẩm phán chủ tọa phiên tòa, không thực hiện hoặc thực hiện không đúng việc công bố bản án, quyết định trên Cổng thông tin điện tử của Tòa án theo quy định của Nghị quyết 03/2017/NQ-HĐTP ngày 16/3/2017 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao.
6. Có hành vi chậm ra bản án, cấp trích lục, giao hoặc gửi bản án không đúng quy định của pháp luật.
7. Trong thời gian giữ nhiệm kỳ, Thẩm phán có tỷ lệ bản án, quyết định bị hủy do lỗi chủ quan từ trên 1,16% đến dưới 2% so với tổng số vụ, việc đã tham gia giải quyết, xét xử.
8. Ra 01 quyết định tạm đình chỉ xét xử, giải quyết vụ, việc không có căn cứ theo quy định của pháp luật.
9. Trong một năm, Thẩm phán ra bản án xử phạt 01 bị cáo hình phạt tù cho hưởng án treo, cảnh cáo, phạt tiền (hình phạt chính), cải tạo không giam giữ không đúng quy định của pháp luật.
Điều 10. Xử lý trách nhiệm bằng hình thức tạm dừng thực hiện nhiệm vụ được giao
Thẩm phán bị xử lý trách nhiệm bằng hình thức tạm dừng thực hiện nhiệm vụ được giao trong thời gian 30 ngày khi có một trong những hành vi vi phạm sau đây:
1. Đã bị xử lý trách nhiệm bằng hình thức kiểm điểm trước cơ quan, đơn vị nhưng sau đó tiếp tục có một trong những hành vi vi phạm được quy định tại các khoản từ khoản 1 đến khoản 6 Điều 9 Quy định này.
2. Ra từ 02 quyết định tạm đình chỉ xét xử, giải quyết vụ, việc không có căn cứ gây ảnh hưởng đến quyền, lợi ích hợp pháp của cơ quan, tổ chức, cá nhân.
3. Để từ trên 03 vụ, việc quá thời hạn dưới 06 tháng hoặc 01 vụ, việc trở lên quá thời hạn từ 06 tháng trở lên kể từ ngày hết thời hạn chuẩn bị xét xử, thời hạn chuẩn bị xét đơn yêu cầu theo quy định của pháp luật nhưng không có lý do chính đáng.
4. Chậm ra bản án; cấp trích lục, giao hoặc gửi bản án không đúng quy định của pháp luật gây ảnh hưởng đến quyền, lợi ích hợp pháp của cơ quan, tổ chức, cá nhân.
5. Trong một năm công tác, Thẩm phán ra bản án xử phạt 02 bị cáo hình phạt tù cho hưởng án treo, cảnh cáo, phạt tiền (hình phạt chính), cải tạo không giam giữ không đúng quy định của pháp luật.
6. Ra 01 quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời không đúng quy định của pháp luật hoặc không ra quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời theo quy định của pháp luật, gây thiệt hại phải bồi thường theo Luật trách nhiệm bồi thường của Nhà nước.
7. Trong thời gian giữ nhiệm kỳ, Thẩm phán ra bản án, quyết định bị hủy do lỗi chủ quan chiếm tỷ lệ từ 2% đến dưới 3% trên tổng số vụ, việc đã tham gia giải quyết, xét xử.
Điều 11. Xử lý trách nhiệm bằng hình thức bố trí làm công việc khác
Thẩm phán bị xử lý trách nhiệm bằng hình thức bố trí làm công việc khác khi có một trong những hành vi vi phạm sau đây:
1. Ra bản án tuyên bị cáo có tội, nhưng sau đó có bản án hoặc quyết định có hiệu lực pháp luật của Tòa án có thẩm quyền tuyên bị cáo đó không có tội, hoặc hủy bản án để điều tra lại mà sau đó bị can được đình chỉ điều tra, đình chỉ vụ án vì không có sự việc phạm tội hoặc hành vi không cấu thành tội phạm.
2. Xét xử bỏ lọt tội phạm đối với 01 bị cáo do lỗi chủ quan trong trường hợp Viện kiểm sát truy tố, Thẩm phán tuyên bị cáo không có tội nhưng sau đó Tòa án có thẩm quyền ra bản án tuyên bị cáo có tội.
3. Ra bản án, quyết định không đúng pháp luật, gây thiệt hại cho cơ quan, tổ chức, cá nhân dẫn đến việc Tòa án phải bồi thường theo Luật trách nhiệm bồi thường của Nhà nước.
4. Có bản án, quyết định bị hủy vì rõ ràng sai trong việc: Xem xét, đánh giá chứng cứ; vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng; áp dụng pháp luật không đúng gây thiệt hại đến tài sản Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của cơ quan, tổ chức, cá nhân hoặc gây ảnh hưởng đến uy tín của Tòa án.
5. Trong thời gian giữ nhiệm kỳ, Thẩm phán ra bản án, quyết định bị hủy do lỗi chủ quan chiếm tỷ lệ từ 3% trở lên trên tổng số vụ, việc đã tham gia giải quyết, xét xử.
6. Trong một năm công tác, Thẩm phán ra bản án xử phạt 03 bị cáo trở lên hình phạt tù cho hưởng án treo, cảnh cáo, phạt tiền (hình phạt chính), cải tạo không giam giữ không đúng quy định của pháp luật.
7. Trong một năm công tác, Thẩm phán áp dụng hình phạt tù cho hưởng án treo, hình phạt cảnh cáo, phạt tiền (hình phạt chính), cải tạo không giam giữ không đúng quy định của pháp luật đối với 01 bị cáo phạm tội tham nhũng hoặc 01 bị cáo phạm tội khác nhưng gây dư luận xấu.
8. Đã bị xử lý trách nhiệm bằng hình thức tạm dừng thực hiện nhiệm vụ được giao theo quy định tại khoản 5 Điều 10 Quy định này, nhưng sau đó tiếp tục ra 01 quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời không đúng quy định của pháp luật hoặc không ra quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời theo quy định của pháp luật gây thiệt hại dẫn đến Tòa án phải bồi thường theo Luật trách nhiệm bồi thường của Nhà nước.
Điều 12. Xử lý trách nhiệm bằng hình thức chưa xem xét đề nghị bổ nhiệm lại Thẩm phán
Khi kết thúc nhiệm kỳ, Thẩm phán bị xử lý trách nhiệm bằng hình thức chưa xem xét đề nghị bổ nhiệm lại trong những trường hợp sau đây:
1. Thẩm phán được giao giải quyết, xét xử dưới 100 vụ, việc có bản án, quyết định bị hủy do lỗi chủ quan chiếm tỷ lệ từ 1,5 % đến dưới 3% trên tổng số vụ, việc đã giải quyết, xét xử.
2. Thẩm phán được giao giải quyết, xét xử từ 100 vụ, việc trở lên có bản án, quyết định bị hủy do lỗi chủ quan chiếm tỷ lệ từ trên 1,16% đến dưới 3% trên tổng số vụ, việc đã giải quyết, xét xử.
3. Để từ 03 vụ, việc quá thời hạn giải quyết, xét xử theo quy định của pháp luật từ 12 tháng trở lên nhưng không có lý do chính đáng.
4. Ra bản án xử phạt 01 đến 03 bị cáo hình phạt tù cho hưởng án treo, cảnh cáo, phạt tiền (hình phạt chính), cải tạo không giam giữ không đúng quy định của pháp luật.
Điều 13. Xử lý trách nhiệm bằng hình thức không xem xét đề nghị bổ nhiệm lại Thẩm phán
Khi kết thúc nhiệm kỳ, Thẩm phán bị xử lý trách nhiệm bằng hình thức không xem xét đề nghị bổ nhiệm lại trong những trường hợp sau đây:
1. Có tổng số bản án, quyết định bị hủy do lỗi chủ quan chiếm tỷ lệ trên 3% so với tổng số vụ, việc đã giải quyết, xét xử.
2. Có một trong những hành vi vi phạm quy định từ khoản 1 đến khoản 4 Điều 11 Quy định này.
3. Ra bản án xử phạt 04 bị cáo trở lên hình phạt tù cho hưởng án treo, cảnh cáo, phạt tiền (hình phạt chính), cải tạo không giam giữ không đúng quy định của pháp luật.
4. Quyết định hình phạt tù cho hưởng án treo, hình phạt cảnh cáo, phạt tiền (hình phạt chính), cải tạo không giam giữ không đúng quy định của pháp luật đối với bị cáo phạm tội tham nhũng hoặc đối với bị cáo phạm tội khác gây dư luận xấu.
5. Trong nhiệm kỳ, Thẩm phán có từ hai lần trở lên bị xử lý trách nhiệm bằng hình thức tạm dừng thực hiện nhiệm vụ được giao, quy định tại khoản 6 Điều 10 Quy định này.
6. Ban hành các quyết định khác không đúng quy định của pháp luật, gây thiệt hại nghiêm trọng đến tài sản, quyền lợi ích hợp pháp của cơ quan, tổ chức, cá nhân mà Tòa án phải bồi thường theo Luật trách nhiệm bồi thường của Nhà nước.
Điều 14. Trách nhiệm của Thẩm phán trong Hội đồng xét xử
Việc xác định trách nhiệm của các Thẩm phán trong Hội đồng xét xử được thực hiện như sau:
1. Đối với Thẩm phán chủ tọa có 01 bản án, quyết định bị hủy do lỗi chủ quan thì tính là 01 vụ, việc; trừ trường hợp ý kiến của Thẩm phán khác với ý kiến của Hội đồng xét xử nhưng là thiểu số; ý kiến đó phải được thể hiện bằng văn bản và lưu hồ sơ vụ án.
2. Đối với các Thẩm phán còn lại, mỗi bản án, quyết định bị hủy do lỗi chủ quan thì tính bằng 1/2 vụ, việc; trừ trường hợp ý kiến của Thẩm phán khác với ý kiến của Hội đồng xét xử nhưng là thiểu số; ý kiến đó phải được thể hiện bằng văn bản và lưu hồ sơ vụ án.
3. Trường hợp bản án, quyết định bị hủy một phần do lỗi chủ quan thì tính bằng 1/2 vụ, việc đối với Thẩm phán chủ tọa; 1/4 vụ, việc đối với Thẩm phán thành viên khác; trừ trường hợp ý kiến của Thẩm phán khác với ý kiến của Hội đồng xét xử nhưng là thiểu số; ý kiến đó phải được thể hiện bằng văn bản và lưu hồ sơ vụ án.
4. Tỷ lệ bản án, quyết định bị hủy do lỗi chủ quan được tính trên tổng số vụ, việc mà Thẩm phán được phân công làm chủ tọa phiên tòa, phân công giải quyết việc Dân sự và tham gia Hội đồng xét xử.
Điều 15. Trách nhiệm của Thẩm phán khi ra bản án, quyết định bị sửa nghiêm trọng do lỗi chủ quan
Thẩm phán được phân công giải quyết vụ, việc nhưng ra bản án hoặc quyết định bị sửa nghiêm trọng do lỗi chủ quan nhưng chưa đến mức bị xử lý kỷ luật thì bị xử lý trách nhiệm theo Quy định này. Trách nhiệm đối với 1 bản án, quyết định bị sửa nghiêm trọng do lỗi chủ quan của Thẩm phán tính bằng 1/2 bản án, quyết định bị hủy do lỗi chủ quan.
Điều 16. Quy định về thời gian chưa xem xét đề nghị bổ nhiệm lại Thẩm phán
1. Khi kết thúc nhiệm kỳ, Thẩm phán đã giải quyết, xét xử dưới 100 vụ, việc có tỷ lệ bản án, quyết định bị hủy do lỗi chủ quan quy định tại khoản 1 Điều 12 Quy định này thì thời gian chưa xem xét đề nghị bổ nhiệm lại được thực hiện như sau:
a) Có bản án, quyết định bị hủy do lỗi chủ quan trên tổng số vụ, việc đã giải quyết, xét xử trong nhiệm kỳ chiếm tỷ lệ từ 1,5% đến 2% thì chưa xem xét đề nghị bổ nhiệm lại trong thời hạn 06 tháng;
b) Có bản án, quyết định bị hủy do lỗi chủ quan trên tổng số vụ, việc đã giải quyết, xét xử trong nhiệm kỳ chiếm tỷ lệ từ trên 2% đến 2,4% thì chưa xem xét đề nghị bổ nhiệm lại trong thời hạn 09 tháng;
c) Có bản án, quyết định bị hủy do lỗi chủ quan trên tổng số vụ, việc đã giải quyết, xét xử trong nhiệm kỳ chiếm tỷ lệ từ trên 2,4% đến 2,6% thì chưa xem xét đề nghị bổ nhiệm lại trong thời hạn 12 tháng;
d) Có bản án, quyết định bị hủy do lỗi chủ quan trên tổng số vụ, việc đã giải quyết, xét xử trong nhiệm kỳ chiếm tỷ lệ từ trên 2,6% đến dưới 3% thì chưa xem xét đề nghị bổ nhiệm lại trong thời hạn 18 tháng.
2. Khi kết thúc nhiệm kỳ, Thẩm phán đã giải quyết, xét xử từ 100 vụ, việc trở lên có tỷ lệ bản án, quyết định bị hủy do lỗi chủ quan quy định tại khoản 2 Điều 12 Quy định này thì thời gian chưa xem xét đề nghị bổ nhiệm được thực hiện như sau:
a) Có bản án, quyết định bị hủy do lỗi chủ quan trên tổng số vụ, việc đã giải quyết, xét xử trong nhiệm kỳ chiếm tỷ lệ từ trên 1,16% đến 1,2% thì chưa xem xét đề nghị bổ nhiệm lại trong thời hạn 06 tháng;
b) Có bản án, quyết định bị hủy do lỗi chủ quan trên tổng số vụ, việc đã giải quyết, xét xử trong nhiệm kỳ chiếm tỷ lệ từ trên 1,2 % đến 1,5 % thì chưa xem xét đề nghị bổ nhiệm lại trong thời hạn 09 tháng;
c) Có bản án, quyết định bị hủy do lỗi chủ quan trên tổng số vụ, việc đã giải quyết, xét xử trong nhiệm kỳ chiếm tỷ lệ từ trên 1,5% đến 2% thì chưa xem xét đề nghị bổ nhiệm lại trong thời hạn 12 tháng;
d) Có bản án, quyết định bị hủy do lỗi chủ quan trên tổng số vụ, việc đã giải quyết, xét xử trong nhiệm kỳ chiếm tỷ lệ từ trên 2% đến dưới 3% thì chưa xem xét đề nghị bổ nhiệm lại trong thời hạn 18 tháng.
3. Khi kết thúc nhiệm kỳ, Thẩm phán có bản án xử phạt bị cáo hình phạt tù cho hưởng án treo, cảnh cáo, phạt tiền (hình phạt chính), cải tạo không giam giữ không đúng quy định của pháp luật thì thời gian chưa xem xét đề nghị bổ nhiệm lại được thực hiện như sau:
a) Ra bản án xử phạt 01 bị cáo hình phạt tù cho hưởng án treo, cảnh cáo, phạt tiền (hình phạt chính), cải tạo không giam giữ không đúng quy định của pháp luật thì chưa xem xét đề nghị bổ nhiệm lại trong thời hạn 09 tháng;
b) Ra bản án xử phạt 02 bị cáo hình phạt tù cho hưởng án treo, cảnh cáo, phạt tiền (hình phạt chính), cải tạo không giam giữ không đúng quy định của pháp luật thì chưa xem xét đề nghị bổ nhiệm lại trong thời hạn 12 tháng;
c) Ra bản án xử phạt 03 bị cáo hình phạt tù cho hưởng án treo, hình phạt cảnh cáo, phạt tiền (hình phạt chính), cải tạo không giam giữ không đúng quy định của pháp luật thì chưa xem xét đề nghị bổ nhiệm lại trong thời hạn 18 tháng.
4. Khi kết thúc nhiệm kỳ, Thẩm phán để từ 03 vụ, việc quá thời hạn giải quyết, xét xử theo quy định của pháp luật từ 12 tháng trở lên nhưng không có lý do chính đáng thì chưa xem xét đề nghị bổ nhiệm lại trong thời hạn 12 tháng.
1. Đối với Tòa án nhân dân cấp cao, Tòa án nhân dân cấp tỉnh: Chánh án Tòa án nhân dân cấp cao, Chánh án Tòa án nhân dân cấp tỉnh tổ chức cuộc họp kiểm điểm. Thành phần tham dự bao gồm: Tập thể lãnh đạo, đại diện cấp ủy, công đoàn, Ủy ban Thẩm phán, đại diện lãnh đạo các Tòa chuyên trách, đại diện lãnh đạo các phòng chức năng của cơ quan trực tiếp quản lý, sử dụng Thẩm phán. Thẩm phán có hành vi vi phạm đọc bản tự kiểm điểm; các thành viên dự họp nhận xét, đánh giá về tính chất, mức độ của hành vi vi phạm, đề nghị thời gian chưa xem xét đề nghị bổ nhiệm lại hoặc kiến nghị không xem xét đề nghị bổ nhiệm lại Thẩm phán. Hồ sơ đề nghị xử lý trách nhiệm Thẩm phán gửi đến Toà án nhân dân tối cao (qua Ban Thanh tra) để thẩm tra.
2. Đối với Tòa án nhân dân cấp huyện:
a) Chánh án Tòa án nhân dân cấp huyện tổ chức cuộc họp kiểm điểm. Thành phần tham dự bao gồm: Tập thể lãnh đạo, đại diện cấp ủy, công đoàn và các Thẩm phán đang công tác tại cơ quan. Thẩm phán có hành vi vi phạm đọc bản tự kiểm điểm; các thành viên dự họp nhận xét, đánh giá về tính chất, mức độ của hành vi vi phạm, đề nghị thời gian chưa xem xét đề nghị bổ nhiệm lại hoặc kiến nghị không xem xét đề nghị bổ nhiệm lại Thẩm phán. Hồ sơ đề nghị xử lý trách nhiệm gửi đến Chánh án Tòa án nhân dân cấp tỉnh. Trong thời hạn 07 ngày làm việc, Tòa án nhân dân cấp tỉnh gửi hồ sơ đề nghị xử lý trách nhiệm đến Tòa án nhân dân tối cao (qua Ban Thanh tra) để thẩm tra.
b) Đối với Thẩm phán trung cấp được biệt phái công tác tại Tòa án nhân dân cấp huyện thì Chánh án Tòa án nhân cấp huyện tổ chức cuộc họp kiểm điểm. Lập hồ sơ đề nghị xử lý trách nhiệm gửi đến Chánh án Tòa án nhân dân cấp tỉnh. Sau khi nhận được hồ sơ đề nghị xử lý trách nhiệm, trong thời hạn 07 ngày làm việc, Chánh án Tòa án nhân dân cấp tỉnh có văn bản đánh giá, nhận xét, kiến nghị gửi kèm hồ sơ đề nghị xử lý trách nhiệm đến Tòa án nhân dân tối cao (qua Ban Thanh tra) để thẩm tra.
3. Nội dung cuộc họp xử lý trách nhiệm người có hành vi vi phạm phải được lập thành biên bản. Biên bản phải được công khai tại cuộc họp và do người chủ trì cuộc họp và người ghi biên bản ký. Biên bản cuộc họp phải có kiến nghị áp dụng hình thức xử lý trách nhiệm đối với người có hành vi vi phạm.
4. Sau khi nhận được hồ sơ đề nghị xử lý trách nhiệm Thẩm phán của Toà án nhân dân trực tiếp quản lý, sử dụng Thẩm phán gửi đến hoặc trong quá trình thực hiện nhiệm vụ thanh tra, kiểm tra, giám sát Thẩm phán, phát hiện Thẩm phán thuộc trường hợp sẽ bị xử lý trách nhiệm bằng hình thức chưa xem xét đề nghị bổ nhiệm lại hoặc không xem xét đề nghị bổ nhiệm lại thì Ban Thanh tra Toà án nhân dân tối cao phối hợp với Vụ Tổ chức - Cán bộ và cơ quan trực tiếp quản lý, sử dụng Thẩm phán, thẩm tra hồ sơ giám sát Thẩm phán, nghiên cứu, đề xuất Chánh án Toà án nhân dân tối cao xem xét, quyết định.
5. Căn cứ kết quả phiên họp Hội đồng tuyển chọn, giám sát Thẩm phán quốc gia, Vụ Tổ chức - Cán bộ phối hợp với Ban Thanh tra thông báo đến Chánh án Toà án nhân dân trực tiếp quản lý, sử dụng Thẩm phán có hành vi vi phạm biết để thực hiện và lưu hồ sơ giám sát Thẩm phán.
1. Thẩm phán có bản án, quyết định bị Tòa án có thẩm quyền hủy, sửa do lỗi chủ quan, nếu không đồng ý với quyết định đó thì có thể kiến nghị đến Tòa án có thẩm quyền để xem xét, giải quyết.
2. Trình tự, thủ tục xem xét đơn kiến nghị đối với bản án, quyết định của Thẩm phán bị Tòa án nhân dân cấp tỉnh hủy, sửa do lỗi chủ quan, thực hiện như sau:
a) Bản án, quyết định của Thẩm phán Tòa án nhân dân cấp huyện bị Tòa án nhân dân cấp tỉnh hủy, sửa, nếu Thẩm phán không đồng ý với quyết định đó thì gửi đơn kiến nghị, kèm theo bản án, quyết định bị hủy, sửa và các tài liệu có liên quan đến Tòa án nhân dân cấp cao để xem xét, giải quyết;
b) Trong thời hạn 30 ngày, kể từ ngày nhận được đơn kiến nghị và các tài liệu gửi kèm theo của Thẩm phán, Chánh án Tòa án nhân dân cấp cao có trách nhiệm chỉ đạo tổ chức nghiên cứu, giải quyết và thông báo cho Thẩm phán có đơn kiến nghị được biết kết quả; đồng thời gửi Ban Thanh tra Tòa án nhân dân tối cao 01 ban để phục vụ công tác giám sát Thẩm phán.
3. Trình tự, thủ tục xem xét đơn kiến nghị đối với bản án, quyết định của Thẩm phán bị Tòa án nhân dân cấp cao hoặc Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hủy, sửa do lỗi chủ quan, thực hiện như sau:
a) Bản án, quyết định của Thẩm phán bị Tòa án nhân dân cấp cao hủy, sửa do lỗi chủ quan, nếu Thẩm phán không đồng ý với quyết định của Tòa án nhân dân cấp cao thì gửi đơn kiến nghị đến Tòa án nhân dân tối cao (qua Ban Thanh tra) để xem xét, đề xuất;
b) Bản án, quyết định của Thẩm phán bị Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hủy, sửa do lỗi chủ quan, nếu Thẩm phán không đồng ý với quyết định của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao thì gửi đơn kiến nghị, kèm theo bản án, quyết định bị hủy, sửa và các tài liệu có liên quan đến Tòa án nhân dân tối cao (qua Bản Thanh tra) để nghiên cứu, đề xuất;
c) Thẩm phán có đơn kiến nghị Tòa án nhân dân cấp cao xem xét, giải quyết, nếu không đồng ý với kết quả giải quyết của Tòa án nhân dân cấp cao thì gửi đơn kiến nghị đến Tòa án nhân dân tối cao (qua Ban Thanh tra) để nghiên cứu, đề xuất;
d) Căn cứ vào tính chất vụ, việc, Ban Thanh tra chuyển đơn kiến nghị, kèm theo các tài liệu có liên quan của Thẩm phán đến các Vụ Giám đốc, kiểm tra để xem xét, giải quyết. Trong thời hạn 30 ngày, kể từ ngày nhận được đơn kiến nghị và các tài liệu do Ban Thanh tra chuyển đến, các Vụ giám đốc, kiểm tra có trách nhiệm tổ chức nghiên cứu, đề xuất, xây dựng tờ trình, trình Chánh án Tòa án nhân dân tối cao xem xét, quyết định; đồng thời thông báo cho Ban Thanh tra biết kết quả để trả lời cho người có đơn kiến nghị;
đ) Ngay sau khi nhận được ý kiến của Chánh án Tòa án nhân dân tối cao hoặc người được Chánh án ủy quyền do các Vụ Giám đốc, kiểm tra chuyển đến, Ban Thanh tra thông báo cho Thẩm phán có đơn kiến nghị được biết và lưu hồ sơ giám sát Thẩm phán.
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét