|
VIỆN KIỂM SÁT NHÂN DÂN Số: 01/2017/TTLT-VKSNDTC-TANDTC-BCA-BTP |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Hà Nội, ngày 13 tháng 12 năm 2017 |
Căn cứ Bộ luật Tố tụng hình
sự số 101/2015/QH13 ngày 27 tháng 11 năm 2015;
Căn cứ Luật Giám định tư pháp số 13/2012/QH13 ngày 20 tháng 6 năm 2012;
Căn cứ Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật số
80/2015/QH13 ngày 22 tháng 6 năm 2015;
Căn cứ Nghị định số 85/2013/NĐ-CP ngày 29/7/2013 của
Chính phủ hướng dẫn thi hành Luật Giám định tư pháp năm 2012 và Nghị định số
34/2016/NĐ-CP ngày 14/5/2016 của Chính phủ hướng dẫn Luật Ban hành văn bản quy
phạm pháp luật năm 2015.
Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Chánh án Tòa án nhân dân tối
cao, Bộ trưởng Bộ Công an, Bộ trưởng Bộ Tư pháp thống nhất ban hành Thông tư liên tịch quy định những trường hợp cần thiết
phải trưng cầu giám định tư pháp trong giải quyết vụ án, vụ việc về tham nhũng, kinh tế.
Chương I
Thông tư liên tịch này quy định những trường hợp cần
thiết phải trưng cầu giám định tư pháp và việc phối hợp giữa cơ quan có thẩm
quyền tiến hành tố tụng với cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan để thực hiện
giám định tư pháp trong giải quyết vụ án, vụ việc về tham nhũng, kinh tế.
Thông tư liên tịch này áp dụng đối với các đối tượng sau
đây:
1. Cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng; người có thẩm
quyền tiến hành tố tụng;
2. Tổ chức giám định tư pháp, người giám định tư pháp,
giám định viên tư pháp được trưng cầu giám định;
3. Cơ quan, tổ chức, cá nhân khác có liên quan.
Điều 3. Nguyên tắc trưng cầu giám
định, đánh giá và sử dụng kết luận giám định
1. Việc trưng cầu giám định, đánh giá, sử dụng kết luận
giám định trong giải quyết vụ án, vụ việc về tham nhũng, kinh tế phải tuân thủ
đúng quy định của pháp luật, tuân theo quy chuẩn chuyên môn nhằm bảo đảm cho
việc giải quyết vụ án, vụ việc được chính xác, khách quan và đúng pháp luật.
2. Ngoài những trường hợp bắt buộc phải trưng cầu giám
định theo quy định tại Điều 206 của Bộ luật Tố tụng hình sự thì những trường
hợp cần thiết phải trưng cầu giám định theo Thông tư liên tịch này chỉ được
thực hiện khi chưa có đủ chứng cứ để chứng minh hành vi phạm tội, tính chất,
mức độ thiệt hại do hành vi phạm tội gây ra.
3. Khi trưng cầu giám định cơ quan tiến hành tố tụng,
người tiến hành tố tụng phải lựa chọn tổ chức, cá nhân có đủ năng lực chuyên
môn nghiệp vụ, điều kiện cơ sở vật chất để thực hiện việc giám định ở lĩnh vực
hoặc chuyên ngành cần giám định. Khi đánh giá, sử dụng kết luận giám định, cơ
quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng phải bảo đảm xem xét, đánh giá
khách quan, toàn diện kết luận giám định làm căn cứ cho việc giải quyết vụ án,
vụ việc.
4. Tổ chức, cá nhân được trưng cầu giám định có trách
nhiệm tiến hành giám định bảo đảm đúng thời hạn và kết luận cụ thể về nội dung
được trưng cầu giám định, chịu trách nhiệm về những nội dung đã kết luận theo
quy định của pháp luật.
5. Tổ chức, cá nhân được trưng cầu giám định phải giữ bí
mật, không được tiết lộ nội dung thông tin, tài liệu, kết luận giám định cho cơ
quan, tổ chức, cá nhân không có thẩm quyền.
Không
được lạm dụng việc trưng cầu, thực hiện, đánh giá, sử dụng kết luận giám định
để gây cản trở quá trình giải quyết vụ án, vụ việc hoặc làm ảnh hưởng đến tính
chính xác, khách quan của việc giải quyết vụ án, vụ việc.
Chương II
Điều 4. Những trường hợp cần thiết
phải trưng cầu giám định
Những trường hợp cần thiết phải trưng cầu giám định theo
Thông tư liên tịch này, bao gồm:
1. Khi cần xác định chất lượng, nguồn gốc, xuất xứ của
tài sản, hàng hóa, hàng giả, hàng thật, hàng cấm;
2. Khi cần truy nguyên về tài liệu, đồ vật, chữ ký, chữ
viết, con dấu, dấu vết, dữ liệu điện tử;
3. Khi cần xác định tính chính xác của các dụng
cụ cân, đo, đong, đếm và các máy móc, thiết bị khác;
4. Khi cần xác định hành vi vi phạm pháp luật trong lĩnh
vực đầu tư, gồm:
a) Về lập, thẩm định, quyết định chủ trương đầu tư; quyết
định đầu tư dự án;
b) Về đấu thầu;
c) Về khảo sát, tư vấn thiết kế, thi công, giám sát,
nghiệm thu, thanh quyết toán;
d) Về quản lý vốn đầu tư như: Tạm ứng vốn không đúng quy
định; sử dụng vốn thi công không đúng mục đích; bảo lãnh cho vay vốn, tạm ứng
vốn, thực hiện hợp đồng hoặc điều chuyển vốn cho vay; cho vay vốn không
đúng chế độ;
đ) Hành vi khác vi phạm pháp luật trong lĩnh vực đầu tư.
5. Trường hợp gặp khó khăn, vướng mắc trong việc xác định
mức độ thiệt hại do hành vi vi phạm pháp luật trong lĩnh vực đầu tư gây ra, thì
mức độ thiệt hại được xác định theo nguyên tắc lấy tổng chi phí đầu tư dự án
trừ đi chi phí hợp lý, hợp lệ hoặc được xác định theo một hoặc trong các cách
thức sau đây:
a) Tiền lãi suất ngân hàng của khoản tiền đã tạm ứng vốn
mà sử dụng khoản tiền này không đúng mục đích dẫn đến không có khả năng thu hồi
hoặc làm mất vốn đầu tư;
b) Tiền lãi suất ngân hàng của các khoản đầu tư cho vay,
ủy thác hoặc điều chuyển vốn, sử dụng vốn không đúng quy định của pháp luật gây
thất thoát, lãng phí;
c) Khoản chi phí phát sinh về tiền lãi vay của khoản vốn
đã đầu tư và các chi phí khác đối với dự án kể từ khi dự án ngừng thi công hoặc
ngừng hoạt động;
d) Tổng mức đầu tư phải điều chỉnh tăng lên so với tổng
mức đầu tư ban đầu mà nguyên nhân do có hành vi vi phạm pháp luật dẫn đến phải
kéo dài thời gian thực hiện dự án hoặc làm chậm tiến độ thực hiện dự án.
6. Khi cần xác định hành vi vi phạm pháp luật về thuế,
tài chính, kế toán, bảo hiểm, ngân hàng, chứng khoán, đất đai, tài nguyên, nông
nghiệp, lâm nghiệp, thủy lợi và các lĩnh vực khác khi xét thấy cần
thiết.
1. Khi thuộc trường hợp cần thiết phải trưng cầu giám
định theo quy định tại Điều 4 Thông tư liên tịch này, cơ quan tiến hành tố
tụng, người tiến hành tố tụng phải xác định rõ nội dung, lĩnh vực hoặc chuyên
ngành cần giám định; lựa chọn tổ chức, cá nhân có đủ điều kiện thực hiện giám
định để ra quyết định trưng cầu giám định.
2. Quyết định trưng cầu giám định phải có đầy đủ nội dung
theo quy định tại khoản 2 Điều 205 Bộ luật Tố tụng hình sự.
Nội dung trưng cầu giám định chỉ nêu yêu cầu mang tính
chuyên môn ở lĩnh vực hoặc chuyên ngành cần giám định, không nêu yêu cầu mang
tính pháp lý.
3. Thời hạn giám định được tính kể từ ngày tổ chức, cá
nhân được trưng cầu giám định nhận được quyết định trưng cầu giám định và đầy
đủ hồ sơ, đối tượng trưng cầu giám định, tài liệu kèm theo.
Thời hạn giám định thực hiện theo quyết định trưng cầu
giám định. Trường hợp việc giám định không thể tiến hành trong thời hạn quy
định tại khoản này thì cơ quan, tổ chức, cá nhân thực hiện giám định phải kịp
thời thông báo bằng văn bản, nêu rõ lý do cho cơ quan trưng cầu, người yêu cầu
giám định; đồng thời nêu rõ thời gian dự kiến hoàn thành việc giám định và ban
hành kết luận giám định.
4. Trường hợp cần thiết, trước khi ra quyết định trưng
cầu giám định, cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng phải phối
hợp, trao đổi với cơ quan, tổ chức, cá nhân dự kiến được trưng cầu giám định và cơ
quan, tổ chức, cá nhân có liên quan để thống nhất về nội dung trưng cầu giám
định, thời hạn giám định và vấn đề khác (nếu có).
5. Trường hợp có nhiều nội dung cần giám định hoặc nội
dung phức tạp, cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng có thể tách
thành nhiều nội dung trưng cầu giám định khác nhau, ra nhiều lần quyết định
trưng cầu giám định để bảo đảm đáp ứng yêu cầu về tiến độ giải quyết vụ án, vụ
việc.
6. Trường hợp nội dung trưng cầu giám định liên quan đến
nhiều lĩnh vực, thuộc trách nhiệm của nhiều cơ quan, tổ chức thì cơ quan tiến
hành tố tụng, người tiến hành tố tụng phải xác định lĩnh vực chính để giao
trách nhiệm cho cơ quan, tổ chức chủ trì và cơ quan, tổ chức phối hợp thực hiện
giám định.
Cơ quan, tổ chức được giao trách nhiệm chủ trì thực hiện
giám định phải làm đầu mối, tổ chức việc thực hiện và ký, đóng dấu xác nhận
trong kết luận giám định. Cơ quan, tổ chức phối hợp phải cử người tham gia thực
hiện giám định.
7. Trường hợp phát sinh vấn đề vướng mắc trong việc phối
hợp trưng cầu, thực hiện giám định, cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành
tố tụng chủ trì, phối hợp với cơ quan, tổ chức được trưng cầu, giám định và cơ
quan, tổ chức liên quan để giải quyết.
Điều 6. Giao, nhận quyết định trưng
cầu giám định, hồ sơ, đối tượng trưng cầu giám định
1. Việc giao, nhận quyết định trưng cầu giám định, hồ sơ,
đối tượng trưng cầu giám định, tài liệu, đồ vật có liên quan (nếu có) được thực
hiện theo cách thức sau đây:
a) Trực tiếp giao nhận tại trụ sở của tổ chức hoặc cá
nhân được trưng cầu giám định;
b) Trực tiếp giao nhận tại trụ sở cơ quan tiến hành tố
tụng trong trường hợp người giám định được trưng cầu thực hiện giám định tại cơ
quan tiến hành tố tụng theo yêu cầu, nhiệm vụ đặc biệt;
c) Trực tiếp giao nhận tại hiện trường đối với đối tượng
giám định không thể di dời được;
d) Gửi qua đường bưu chính.
2. Việc giao, nhận quyết định trưng cầu giám định, hồ sơ,
đối tượng trưng cầu giám định, tài liệu, đồ vật có liên quan hoặc mẫu so sánh
kèm theo (nếu có) phải được lập biên bản. Biên bản giao, nhận phải có đủ nội
dung theo quy định tại khoản 2 Điều 27 Luật Giám định tư pháp và Điều 133 Bộ
luật Tố tụng hình sự.
Trường hợp đối tượng trưng cầu giám định đang được niêm
phong thì việc mở niêm phong phải được thực hiện theo quy định của pháp luật.
3. Thời hạn giao hoặc gửi quyết định trưng cầu giám định,
hồ sơ, đối tượng trưng cầu giám định, tài liệu liên quan cho tổ chức, cá nhân
thực hiện giám định được thực hiện theo quy định tại khoản 3 Điều 205 Bộ luật
Tố tụng hình sự.
Điều 7. Phối hợp trong tổ chức, thực
hiện việc giám định
1. Trong thời hạn thực hiện giám định, cơ quan tiến hành
tố tụng, người tiến hành tố tụng sau khi giao quyết định trưng cầu giám định,
hồ sơ, đối tượng trưng cầu giám định, tài liệu liên quan thì phải theo dõi đôn
đốc việc triển khai thực hiện quyết định trưng cầu giám định, yêu cầu tổ chức,
cá nhân được trưng cầu giám định cử người thực hiện, xây dựng kế hoạch thực
hiện giám định, dự kiến tiền bồi dưỡng giám định, chi phí giám định và thông
báo cho cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng.
2. Người đứng đầu tổ chức được trưng cầu giám định phải
lập kế hoạch thực hiện giám định, lựa chọn giám định viên tư pháp, người giám
định tư pháp theo vụ việc phù hợp với nội dung trưng cầu giám định, quyết định
hình thức giám định là giám định cá nhân hoặc giám định tập thể và trong thời
hạn 05 ngày kể từ ngày nhận được quyết định trưng cầu giám định, hồ sơ, đối
tượng trưng cầu giám định, tài liệu liên quan, tổ chức được trưng cầu giám định
phải có văn bản gửi cho cơ quan, người trưng cầu giám định danh sách những
người được phân công thực hiện giám định, đầu mối liên hệ và hình thức giám
định.
Trong thời hạn 05 ngày, kể từ ngày nhận được quyết định
trưng cầu giám định, hồ sơ, đối tượng trưng cầu giám định, tài liệu liên quan,
cá nhân được trưng cầu giám định phải lập kế hoạch thực hiện giám định bằng văn
bản, gửi cho cơ quan, người trưng cầu giám định và thực hiện đầy đủ yêu cầu của
cơ quan, người trưng cầu giám định.
3. Trường hợp quyết định trưng cầu giám định có nội dung
liên quan đến trách nhiệm thực hiện của nhiều tổ chức giám định thì tổ chức
được giao trách nhiệm chủ trì thực hiện việc giám định phải đề nghị tổ chức
giám định có trách nhiệm phối hợp cử người đủ điều kiện tham gia thực hiện giám
định. Tổ chức được giao trách nhiệm chủ trì giám định phân công người làm đầu
mối thực hiện việc giám định và thông báo bằng văn bản cho cơ quan,
người trưng cầu giám định biết.
Tổ chức được đề nghị giám định phải gửi văn bản cử người
có đủ điều kiện tham gia việc giám định.
4. Trong quá trình thực hiện giám định, nếu có thay đổi
người thực hiện giám định, thời hạn giám định không đủ để hoàn thành việc giám
định hoặc có vấn đề khác phát sinh thì tổ chức, cá nhân thực hiện giám định
phải kịp thời thông báo bằng văn bản cho cơ quan trưng cầu giám định biết để
thống nhất phương án giải quyết. Trường hợp cần thiết, cơ quan trưng cầu giám
định tổ chức họp, trao đổi với tổ chức, cá nhân thực hiện giám định và cơ quan, tổ chức, cá nhân có
liên quan để giải quyết vướng mắc phát sinh hoặc việc không thống nhất ý kiến
giữa bên trưng cầu và bên thực hiện trưng cầu giám định.
5. Cơ quan trưng cầu giám định có trách nhiệm thanh toán
đầy đủ, kịp thời tiền bồi dưỡng, chi phí giám định cho tổ chức, cá nhân thực
hiện giám định và thực hiện đầy đủ các nghĩa vụ, trách nhiệm của người trưng
cầu giám định tư pháp theo quy định của Luật Giám định tư pháp, Thông tư liên
tịch này và quy định pháp luật khác có liên quan để bảo đảm thời hạn, điều kiện
thực hiện giám định.
Điều 8. Đánh giá, sử dụng kết luận
giám định
1. Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng khi
xem xét, đánh giá, sử dụng kết luận giám định phải bảo đảm thống nhất, phù hợp
với các chứng cứ khác có liên quan đến vụ án, vụ việc.
2. Trường hợp kết luận giám định chưa rõ hoặc khi cần
thiết, để tạo cơ sở cho việc đánh giá, sử dụng kết luận giám định được chính
xác, khách quan, cơ quan trưng cầu giám định, người trưng cầu giám định định
yêu cầu tổ chức, cá nhân thực hiện giám định giải thích cụ thể về quá trình
thực hiện giám định, kết quả giám định.
Tổ chức, cá nhân thực hiện giám định có trách nhiệm tham
gia hoặc cử đại diện tham gia tố tụng và trình bày, giải thích về kết luận giám
định theo yêu cầu của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng.
3. Trường hợp trong vụ án, vụ việc về tham nhũng, kinh tế
có nhiều kết luận giám định khác nhau về cùng một nội dung, trong đó đã có kết
luận giám định lại trong trường hợp quy định tại Điều 212 Bộ luật Tố tụng hình
sự, mà các cơ quan tiến hành tố tụng vẫn không thống nhất được về việc sử dụng
kết luận giám định làm căn cứ để giải quyết vụ án, vụ việc thì cơ quan
tiến hành tố tụng đang thụ lý vụ án, vụ việc báo cáo cấp có thẩm quyền xem xét,
đánh giá, sử dụng kết luận giám định theo các tiêu chí sau đây:
a) Trình độ chuyên môn, nghiệp vụ của người giám định;
b) Phương pháp, quy trình thực hiện giám định;
c) Trang thiết bị, phương tiện chuyên dụng sử dụng thực
hiện giám định;
d) Sự độc lập, khách quan của việc thực hiện giám định.
4. Trường hợp cần thiết, cơ quan tiến hành tố tụng đang
thụ lý vụ án, vụ việc phối hợp với cơ quan tiến hành tố tụng khác, tổ chức, cá
nhân thực hiện giám định, chuyên gia trong lĩnh vực giám định tư pháp và tổ
chức, cá nhân khác có liên quan để thống nhất làm rõ các nội dung cần thiết
phục vụ cho việc đánh giá, sử dụng kết luận giám định làm căn cứ cho việc giải
quyết vụ án, vụ việc.
Điều 9. Phối hợp thực hiện việc thống
kê, báo cáo
1. Cơ quan tiến hành tố tụng có trách nhiệm thực
hiện thống kê, báo cáo việc thực hiện giám định tư pháp theo định kỳ (06 tháng
và hằng năm) theo quy định của Luật Giám định tư pháp và các quy định pháp luật
khác có liên quan.
Nội dung báo cáo phải nêu rõ về kết quả, số liệu thống kê
về quyết định trưng cầu giám định tư pháp; khó khăn, vướng mắc về việc ra kết
luận giám định, sử dụng kết luận giám định; việc tham gia tố tụng của người
giám định; chi phí, chế độ bồi dưỡng giám định; về trao đổi thông tin trong quá
trình giám định, thông báo tiến độ giám định; việc từ chối giám định của cơ
quan, tổ chức, cá nhân khi được trưng cầu và các nội dung cần thiết khác trong
giải quyết các vụ án, vụ việc về tham nhũng, kinh tế.
2. Báo cáo, thống kê về giám định tư pháp của Cơ quan
điều tra, Viện kiểm sát, Tòa án ở cấp Trung ương gửi đến Bộ Tư pháp; báo cáo,
thống kê về giám định tư pháp của Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Tòa án cấp
tỉnh gửi đến Sở Tư pháp.
1. Khi được cơ quan tiến hành tố tụng đề nghị và trong
phạm vi chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của mình, Bộ Tư pháp, Sở Tư pháp có
trách nhiệm thông tin, đôn đốc các cơ quan quản lý lĩnh vực giám định tư pháp
giải quyết khó khăn, vướng mắc về giám định tư pháp hoặc báo cáo, kiến nghị với
Thủ tướng Chính phủ, Chính phủ hoặc Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh và cơ
quan có thẩm quyền khác chỉ đạo giải quyết khó khăn, vướng mắc đó.
2. Trên cơ sở thông tin, số liệu thống kê về giám định tư
pháp do cơ quan tiến hành tố tụng cung cấp theo quy định tại Điều 9 của Thông
tư liên tịch này, Bộ Tư pháp, Sở Tư pháp có trách nhiệm đôn đốc các bộ, cơ quan
ngang bộ hoặc sở, ban, ngành quản lý lĩnh vực giám định thực hiện các giải pháp
củng cố, tăng cường số lượng, chất lượng tổ chức, cá nhân thực hiện việc giám
định để đáp ứng kịp thời, có chất lượng yêu cầu giải quyết các vụ án, vụ việc
về tham nhũng, kinh tế.
3.
Bộ Tư pháp, Sở Tư pháp có trách nhiệm phối hợp với các cấp, các ngành hữu quan
tập hợp, lập, công bố danh sách giám định viên tư pháp, tổ chức giám định tư
pháp công lập, tổ chức giám định tư pháp ngoài công lập, người giám định tư
pháp theo vụ việc và tổ chức giám định tư pháp theo vụ việc; các lĩnh vực giám
định của từng tổ chức, cá nhân và đăng tải công khai các thông tin này trên
Trang thông tin điện tử của cơ quan mình. Trường hợp có sự thay đổi, bổ sung tổ
chức, cá nhân giám định thì phải kịp thời đăng tải trên Trang thông tin điện tử
của cơ quan mình.
Chương III
1. Thông tư liên tịch này có hiệu lực thi hành kể từ ngày
01 tháng 02 năm 2018.
2. Đối với những vụ án, vụ việc về tham nhũng, kinh tế đã
được Tòa án nhân dân giải quyết và bản án, quyết định của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật trước ngày Thông tư liên tịch này có hiệu lực
thi hành thì không áp dụng quy định Thông tư liên tịch này để kháng nghị theo
thủ tục giám đốc thẩm.
Trong
quá trình thực hiện Thông tư liên tịch này, nếu có vướng mắc hoặc phát sinh
những vấn đề cần phải bổ sung, đề nghị kịp thời phản ánh về Viện kiểm sát nhân
dân tối cao để
tổng hợp, phối hợp với Tòa án
nhân dân tối cao, Bộ Công an và Bộ Tư pháp xem xét, giải quyết./.
|
KT. BỘ TRƯỞNG |
KT. VIỆN TRƯỞNG |
|
KT. CHÁNH ÁN |
KT. BỘ TRƯỞNG |
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét