Chương II
PHỐI HỢP TRONG VIỆC TIẾP NHẬN, GIẢI QUYẾT
NGUỒN TIN VỀ TỘI PHẠM, KHỞI TỐ, ĐIỀU TRA,
GIẢI QUYẾT KHIẾU NẠI, TỐ CÁO
Điều 4. Tổ chức Cơ quan Cảnh sát điều tra của Công an nhân dân
Cơ quan Cảnh sát điều tra của Công an nhân dân gồm:
1. Cơ quan Cảnh sát điều tra Bộ Công an.
2. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh, thành phố (sau đây gọi là cấp tỉnh).
Điều 5. Thẩm quyền tiếp nhận, giải quyết nguồn tin về tội phạm, khởi tố, điều tra vụ án hình sự của Cơ quan Cảnh sát điều tra của Công an nhân dân
1. Thẩm quyền tiếp nhận, giải quyết nguồn tin về tội phạm, khởi tố, điều tra vụ án hình sự của Cơ quan Cảnh sát điều tra Bộ Công an thực hiện theo quy định của pháp luật.
2. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an cấp tỉnh có thẩm quyền tiếp nhận, giải quyết nguồn tin về tội phạm, khởi tố, điều tra vụ án hình sự về các tội phạm quy định tại các chương từ Chương XIV đến Chương XXIV của Bộ luật Hình sự khi các tội phạm đó thuộc thẩm quyền xét xử của Tòa án nhân dân khu vực, Tòa án nhân dân cấp tỉnh, trừ các tội phạm thuộc thẩm quyền điều tra của Cơ quan điều tra Viện kiểm sát nhân dân tối cao và Cơ quan An ninh điều tra của Công an nhân dân.
3. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an cấp tỉnh chủ trì, phối hợp với Viện kiểm sát nhân dân khu vực hướng dẫn, kiểm tra việc thực hiện hoạt động kiểm tra, xác minh sơ bộ tố giác, tin báo về tội phạm của Công an cấp xã, Đồn Công an; hướng dẫn việc thực hiện thẩm quyền của Điều tra viên trung cấp, Điều tra viên cao cấp là Trưởng hoặc Phó Trưởng Công an cấp xã.
Điều 6. Ủy quyền, phân công của Thủ trưởng Cơ quan điều tra Công an cấp tỉnh cho Điều tra viên cao cấp, Điều tra viên trung cấp là Trưởng hoặc Phó Trưởng Công an cấp xã
1. Thủ trưởng Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an cấp tỉnh chỉ có thể ủy quyền, phân công cho Điều tra viên trung cấp, Điều tra viên cao cấp là Trưởng Công an cấp xã; trường hợp khi Điều tra viên trung cấp, Điều tra viên cao cấp là Trưởng Công an cấp xã vắng mặt hoặc đối với Công an cấp xã chưa có Điều tra viên trung cấp, Điều tra viên cao cấp là Trưởng Công an cấp xã thì có thể ủy quyền, phân công cho Điều tra viên trung cấp, Điều tra viên cao cấp là Phó Trưởng Công an cấp xã (sau đây gọi là Điều tra viên là Trưởng Công an cấp xã) thụ lý, giải quyết đối với nguồn tin về tội phạm, khởi tố, điều tra vụ án hình sự về tội phạm ít nghiêm trọng, nghiêm trọng xảy ra trên địa bàn cấp xã.
2. Thủ trưởng Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an cấp tỉnh có thể ủy quyền cho Điều tra viên là Trưởng Công an cấp xã được thực hiện toàn bộ hoặc một trong các hoạt động sau đây đối với nguồn tin về tội phạm ít nghiêm trọng, nghiêm trọng xảy ra trên địa bàn cấp xã:
a) Trưng cầu giám định chất ma túy đối với các vụ liên quan đến các hành vi phạm tội về ma túy; trưng cầu giám định, yêu cầu định giá tài sản trong các vụ tai nạn giao thông, cố ý gây thương tích, trộm cắp tài sản, hủy hoại hoặc cố ý làm hư hỏng tài sản;
b) Giữ người trong trường hợp khẩn cấp;
c) Bắt người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp;
d) Tạm giữ người;
đ) Khám nghiệm hiện trường;
e) Khám xét, khám xét trong trường hợp khẩn cấp.
3. Văn bản ủy quyền quy định tại khoản 2 Điều này phải được gửi ngay đến Viện kiểm sát nhân dân có thẩm quyền.
4. Thủ trưởng Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an cấp tỉnh hoặc Phó Thủ trưởng Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an cấp tỉnh được Thủ trưởng Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an cấp tỉnh ủy quyền (sau đây gọi là Thủ trưởng Cơ quan Cảnh sát điều tra hoặc Phó Thủ trưởng được ủy quyền) có thể phân công Điều tra viên là Trưởng Công an cấp xã thụ lý, giải quyết nguồn tin về tội phạm, khởi tố, điều tra vụ án hình sự về tội phạm ít nghiêm trọng, nghiêm trọng xảy ra trên địa bàn cấp xã.
5. Căn cứ tình hình thực tế, Thủ trưởng Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an cấp tỉnh quyết định việc ủy quyền quy định tại khoản 2 Điều này; Thủ trưởng Cơ quan Cảnh sát điều tra (hoặc Phó Thủ trưởng được ủy quyền) quyết định việc phân công quy định tại khoản 4 Điều này.
6. Đối với nguồn tin về tội phạm, vụ án hình sự về tội phạm ít nghiêm trọng, nghiêm trọng xảy ra trên địa bàn nhiều xã, phường, đặc khu thì Thủ trưởng Cơ quan Cảnh sát điều tra (hoặc Phó Thủ trưởng được ủy quyền) có thể phân công Điều tra viên là Trưởng Công an cấp xã của một trong các xã, phường, đặc khu xảy ra tội phạm giải quyết nguồn tin về tội phạm, khởi tố, điều tra vụ án hình sự. Trong trường hợp này, Điều tra viên là Trưởng Công an cấp xã thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn tại khoản 1a Điều 37 Bộ luật Tố tụng hình sự.
7. Khi thực hiện thẩm quyền quy định tại Điều này, Điều tra viên là Trưởng Công an cấp xã sử dụng con dấu của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an cấp tỉnh và ký “thừa ủy quyền” Thủ trưởng Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an cấp tỉnh.
Điều 7. Thẩm quyền thực hành quyền công tố, kiểm sát việc tiếp nhận, giải quyết nguồn tin về tội phạm, khởi tố, điều tra, truy tố vụ án hình sự; giải quyết và kiểm sát việc giải quyết khiếu nại, tố cáo trong tiếp nhận, giải quyết nguồn tin về tội phạm, khởi tố, điều tra vụ án hình sự
1. Thẩm quyền thực hành quyền công tố, kiểm sát việc tiếp nhận, giải quyết nguồn tin về tội phạm, khởi tố, điều tra vụ án hình sự; giải quyết và kiểm sát việc giải quyết khiếu nại, tố cáo trong tiếp nhận, giải quyết nguồn tin về tội phạm, khởi tố, điều tra vụ án hình sự của Viện kiểm sát nhân dân đối với Cơ quan Cảnh sát điều tra Bộ Công an thực hiện theo quy định của pháp luật.
2. Thẩm quyền thực hành quyền công tố, kiểm sát việc tiếp nhận, giải quyết nguồn tin về tội phạm, khởi tố, điều tra vụ án hình sự; giải quyết và kiểm sát việc giải quyết khiếu nại, tố cáo trong tiếp nhận, giải quyết nguồn tin về tội phạm, khởi tố, điều tra vụ án hình sự của Viện kiểm sát nhân dân đối với Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an cấp tỉnh thực hiện như sau:
a) Viện kiểm sát nhân dân khu vực có thẩm quyền thực hành quyền công tố, kiểm sát việc tiếp nhận, giải quyết nguồn tin về tội phạm, khởi tố, điều tra, truy tố đối với vụ việc, vụ án hình sự về các tội phạm ít nghiêm trọng, tội phạm nghiêm trọng, tội phạm rất nghiêm trọng do Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an cấp tỉnh thụ lý, giải quyết và thuộc thẩm quyền xét xử sơ thẩm của Tòa án nhân dân khu vực.
Trong quá trình thực hành quyền công tố, kiểm sát việc giải quyết vụ việc, vụ án mà phát hiện vụ việc, vụ án thuộc thẩm quyền của Viện kiểm sát nhân dân khu vực khác trong cùng một tỉnh, thành phố thì Viện kiểm sát nhân dân khu vực đang thụ lý ra quyết định chuyển vụ việc, vụ án. Trường hợp vụ việc, vụ án thuộc thẩm quyền của Viện kiểm sát nhân dân cấp tỉnh thì Viện kiểm sát nhân dân khu vực đang thụ lý báo cáo Viện kiểm sát nhân dân cấp tỉnh và ra quyết định chuyển vụ việc, vụ án cho Viện kiểm sát nhân dân cấp tỉnh giải quyết. Trường hợp vụ việc, vụ án thuộc thẩm quyền của Viện kiểm sát nhân dân khu vực khác ngoài tỉnh, thành phố hoặc thuộc thẩm quyền của Viện kiểm sát nhân dân cấp tỉnh khác thì Viện kiểm sát nhân dân khu vực đang thụ lý báo cáo Viện kiểm sát nhân dân cấp tỉnh để ra quyết định chuyển vụ việc, vụ án theo quy định tại khoản 2 Điều 169 Bộ luật Tố tụng hình sự.
Viện kiểm sát nhân dân khu vực có thẩm quyền thực hành quyền công tố, kiểm sát việc tiếp nhận, phân loại, xử lý nguồn tin về tội phạm của Công an cấp xã, Đồn Công an; việc thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn của Điều tra viên là Trưởng Công an cấp xã theo Điều 37 Bộ luật Tố tụng hình sự và hoạt động thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn của Điều tra viên, Cán bộ điều tra thuộc Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an cấp tỉnh bố trí tại Công an cấp xã.
Viện kiểm sát nhân dân khu vực có thẩm quyền là Viện kiểm sát nơi tội phạm xảy ra, trường hợp tội phạm xảy ra ở nhiều nơi khác nhau hoặc không xác định được địa điểm xảy ra tội phạm thì Viện kiểm sát nhân dân khu vực có thẩm quyền là Viện kiểm sát nơi phát hiện tội phạm, nơi bị can cư trú hoặc bị bắt;
b) Viện kiểm sát nhân dân cấp tỉnh có thẩm quyền thực hành quyền công tố, kiểm sát việc tiếp nhận, giải quyết nguồn tin về tội phạm, khởi tố, điều tra, truy tố đối với vụ việc, vụ án về tội phạm đặc biệt nghiêm trọng do Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an cấp tỉnh thụ lý, giải quyết.
Trường hợp vụ án do Viện kiểm sát nhân dân cấp tỉnh thực hành quyền công tố, kiểm sát việc khởi tố, điều tra nhưng thuộc thẩm quyền xét xử sơ thẩm của Toà án nhân dân khu vực thì chậm nhất 02 tháng trước khi kết thúc điều tra, Viện kiểm sát nhân dân cấp tỉnh thông báo cho Viện kiểm sát cùng cấp với Tòa án nhân dân khu vực có thẩm quyền xét xử sơ thẩm để cử Kiểm sát viên tham gia. Ngay sau khi ra quyết định truy tố, Viện kiểm sát nhân dân cấp tỉnh quyết định phân công cho Viện kiểm sát cùng cấp với Tòa án nhân dân khu vực có thẩm quyền xét xử sơ thẩm thực hành quyền công tố và kiểm sát xét xử. Sau khi nhận được hồ sơ vụ án kèm theo bản cáo trạng do Viện kiểm sát nhân dân cấp tỉnh chuyển đến, Viện kiểm sát nhân dân khu vực được phân công thực hành quyền công tố và kiểm sát xét xử theo quy định;
c) Viện kiểm sát nhân dân đang thực hành quyền công tố và kiểm sát việc tiếp nhận, giải quyết nguồn tin về tội phạm có quyền trực tiếp giải quyết nguồn tin về tội phạm trong các trường hợp quy định tại điểm c khoản 3 Điều 145 Bộ luật Tố tụng hình sự;
d) Viện kiểm sát nhân dân đang thực hành quyền công tố và kiểm sát việc khởi tố, điều tra, truy tố đối với vụ việc, vụ án có quyền trực tiếp tiến hành một số hoạt động điều tra trong các trường hợp quy định tại khoản 7 Điều 165 và khoản 3 Điều 236 Bộ luật Tố tụng hình sự;
đ) Viện kiểm sát nhân dân đang thực hành quyền công tố và kiểm sát việc tiếp nhận, giải quyết nguồn tin về tội phạm, khởi tố, điều tra vụ án hình sự đối với vụ việc, vụ án thì có thẩm quyền giải quyết và kiểm sát việc giải quyết khiếu nại, tố cáo đối với Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an cấp tỉnh trong hoạt động thụ lý, giải quyết nguồn tin về tội phạm, khởi tố, điều tra vụ án hình sự.
Điều 8. Rà soát, phân công tiếp nhận, giải quyết tiếp đối với vụ việc, vụ án tạm đình chỉ của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an cấp tỉnh
1. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an cấp tỉnh tổ chức rà soát toàn bộ các vụ việc, vụ án tạm đình chỉ, nếu thuộc trường hợp tại khoản 4 Điều 6 Thông tư liên tịch này thì có thể chuyển hồ sơ (kèm theo vật chứng và các tài liệu có liên quan) cho Điều tra viên là Trưởng Công an cấp xã tiếp nhận, quản lý và giải quyết tiếp theo quy định.
2. Thủ trưởng Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an cấp tỉnh căn cứ tình hình thực tế để thực hiện quy định tại khoản 1 Điều này. Việc chuyển hồ sơ vụ việc, vụ án tại khoản 1 Điều này phải được thông báo ngay cho Viện kiểm sát có thẩm quyền.
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét