Chương III
DẪN ĐỘ TỪ VIỆT NAM RA NƯỚC NGOÀI
Điều 26. Hồ sơ yêu cầu dẫn độ của nước ngoài
Hồ sơ yêu cầu dẫn độ của nước ngoài gửi đến Việt Nam phải thực hiện theo quy định tại các điều 8, 9, 10, 19, 20, 21 và 22 của Luật này.
Điều 27. Tiếp nhận, kiểm tra hồ sơ yêu cầu dẫn độ của nước ngoài và xác minh địa điểm của người bị yêu cầu dẫn độ
1. Bộ Công an vào sổ hồ sơ dẫn độ và kiểm tra tính hợp lệ của hồ sơ yêu cầu dẫn độ theo các điều kiện quy định tại Điều 26 của Luật này trong thời hạn 30 ngày kể từ ngày nhận được hồ sơ yêu cầu dẫn độ của nước ngoài. Cơ quan Công an có thẩm quyền tiến hành xác minh địa điểm của người bị yêu cầu dẫn độ đang có mặt tại Việt Nam.
2. Trường hợp hồ sơ yêu cầu dẫn độ của nước ngoài không hợp lệ, Bộ Công an trả hồ sơ cho nước ngoài và nêu rõ lý do. Trường hợp cần phải làm rõ hoặc bổ sung thông tin, tài liệu, Bộ Công an yêu cầu cơ quan có thẩm quyền của nước ngoài bổ sung trong thời hạn 60 ngày kể từ ngày có yêu cầu bổ sung. Sau thời hạn này mà không nhận được thông tin, tài liệu bổ sung thì Bộ Công an gửi trả hồ sơ cho nước ngoài và nêu rõ lý do.
3. Trường hợp hồ sơ yêu cầu dẫn độ hợp lệ thì Bộ Công an chuyển cho Tòa án nhân dân khu vực nơi người bị yêu cầu dẫn độ đang cư trú, đang bị tạm giữ, đang bị tạm giam, đang chấp hành án phạt tù hoặc đang ở trong cơ sở lưu trú trên địa bàn đó 01 bộ hồ sơ yêu cầu dẫn độ để xem xét, quyết định, đồng thời, chuyển 01 bộ hồ sơ yêu cầu dẫn độ cho Viện kiểm sát nhân dân khu vực có thẩm quyền.
4. Chính phủ quy định chi tiết Điều này.
Điều 28. Tòa án nhân dân nhận, thụ lý, xem xét hồ sơ yêu cầu dẫn độ của nước ngoài gửi đến Việt Nam
1. Khi nhận được hồ sơ yêu cầu dẫn độ, Tòa án nhân dân khu vực có thẩm quyền phải vào sổ giao nhận. Trường hợp hồ sơ yêu cầu không đủ tài liệu theo quy định tại các điều 19, 21 và 22 của Luật này thì trả lại hồ sơ yêu cầu, nêu rõ lý do bằng văn bản.
2. Trong thời hạn 07 ngày kể từ ngày nhận đủ hồ sơ yêu cầu dẫn độ, Tòa án nhân dân khu vực có thẩm quyền phải thụ lý và phân công Thẩm phán xem xét, quyết định.
Trong thời hạn 03 ngày làm việc kể từ ngày thụ lý hồ sơ yêu cầu dẫn độ, Tòa án nhân dân phải thông báo bằng văn bản cho Bộ Công an, Viện kiểm sát nhân dân cùng cấp.
3. Trong thời hạn 60 ngày kể từ ngày thụ lý hồ sơ yêu cầu dẫn độ, Tòa án nhân dân khu vực có thẩm quyền có thể yêu cầu cơ quan có thẩm quyền của nước ngoài làm rõ thông tin, bổ sung tài liệu trong hồ sơ yêu cầu dẫn độ qua Bộ Công an. Thời hạn bổ sung thông tin, tài liệu là 30 ngày kể từ ngày gửi yêu cầu.
4. Trong thời hạn 60 ngày quy định tại khoản 3 Điều này, Tòa án nhân dân khu vực có thẩm quyền phải ra một trong các quyết định sau đây:
a) Quyết định đình chỉ việc xem xét yêu cầu dẫn độ theo quy định tại khoản 5 Điều này và trả hồ sơ cho Bộ Công an;
b) Quyết định xem xét yêu cầu dẫn độ khi có đủ các điều kiện theo quy định của Luật này. Quyết định này phải được gửi cho người bị yêu cầu dẫn độ, luật sư hoặc người đại diện hợp pháp của người đó (nếu có).
Các quyết định tại khoản này phải được gửi cho Bộ Công an, Viện kiểm sát nhân dân cùng cấp trong thời hạn 03 ngày làm việc kể từ ngày ra quyết định.
5. Thẩm phán ra quyết định đình chỉ việc xem xét yêu cầu dẫn độ khi thuộc một trong các trường hợp sau đây:
a) Không thuộc thẩm quyền;
b) Cơ quan có thẩm quyền của nước ngoài rút yêu cầu dẫn độ;
c) Người bị yêu cầu dẫn độ đã rời khỏi Việt Nam;
d) Cơ quan có thẩm quyền của nước ngoài không bổ sung thông tin, tài liệu trong thời hạn quy định tại khoản 3 Điều này;
đ) Lý do khác mà việc xem xét yêu cầu dẫn độ không thể tiến hành được.
6. Khi có quyết định đình chỉ việc xem xét yêu cầu dẫn độ, cơ quan có thẩm quyền của nước ngoài phải lập hồ sơ yêu cầu dẫn độ mới nếu tiếp tục yêu cầu dẫn độ. Việc tiếp nhận, kiểm tra, thụ lý, xem xét hồ sơ yêu cầu dẫn độ được thực hiện lại theo quy định tại Điều này, Điều 26 và Điều 27 của Luật này.
Điều 29. Phiên họp xem xét yêu cầu dẫn độ
1. Trong thời hạn 30 ngày kể từ ngày ra quyết định xem xét yêu cầu dẫn độ, Tòa án nhân dân khu vực có thẩm quyền phải mở phiên họp xem xét yêu cầu dẫn độ. Tòa án nhân dân khu vực có thẩm quyền hoãn phiên họp không quá 15 ngày kể từ ngày ra quyết định hoãn khi thuộc một trong các trường hợp sau đây:
a) Thẩm phán, Kiểm sát viên vắng mặt vì lý do chính đáng;
b) Người bị yêu cầu dẫn độ vắng mặt lần thứ nhất vì lý do chính đáng.
Quyết định hoãn phiên họp tại khoản này phải được thông báo ngay cho Viện kiểm sát nhân dân cùng cấp và người bị yêu cầu dẫn độ, luật sư hoặc người đại diện hợp pháp của người đó (nếu có).
2. Phiên họp xem xét yêu cầu dẫn độ do 01 Thẩm phán tiến hành và có sự tham gia của 01 Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân cùng cấp.
3. Phiên họp xem xét yêu cầu dẫn độ được tiến hành theo trình tự sau đây:
a) Thẩm phán trình bày nội dung hồ sơ của nước yêu cầu dẫn độ và nêu ý kiến về cơ sở pháp lý của việc dẫn độ;
b) Kiểm sát viên phát biểu quan điểm của Viện kiểm sát nhân dân về việc dẫn độ;
c) Luật sư, người đại diện hợp pháp của người bị yêu cầu dẫn độ, người khác có liên quan trình bày ý kiến (nếu có);
d) Người bị yêu cầu dẫn độ trình bày ý kiến.
4. Thẩm phán ra một trong các quyết định sau đây:
a) Quyết định dẫn độ;
b) Quyết định từ chối dẫn độ và nêu rõ lý do.
5. Trong thời hạn 10 ngày kể từ ngày ra quyết định dẫn độ hoặc quyết định từ chối dẫn độ, Tòa án nhân dân khu vực có thẩm quyền gửi quyết định đó cho Viện kiểm sát nhân dân cùng cấp, Viện kiểm sát nhân dân cấp tỉnh, Bộ Công an, người bị yêu cầu dẫn độ, luật sư hoặc người đại diện hợp pháp của người đó (nếu có).
Điều 30. Thủ tục phúc thẩm, giám đốc thẩm, tái thẩm quyết định dẫn độ hoặc quyết định từ chối dẫn độ
1. Người bị yêu cầu dẫn độ có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được quyết định dẫn độ hoặc quyết định từ chối dẫn độ của Tòa án nhân dân khu vực có thẩm quyền. Viện kiểm sát nhân dân cùng cấp có quyền kháng nghị trong thời hạn 15 ngày, Viện kiểm sát nhân dân cấp tỉnh có quyền kháng nghị trong thời hạn 30 ngày kể từ ngày Tòa án nhân dân khu vực có thẩm quyền ra quyết định dẫn độ hoặc quyết định từ chối dẫn độ. Tòa án nhân dân khu vực có thẩm quyền phải gửi hồ sơ dẫn độ và kháng cáo, kháng nghị cho Tòa án nhân dân cấp tỉnh trong thời hạn 07 ngày làm việc kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Việc kháng cáo phải được Tòa án nhân dân khu vực có thẩm quyền thông báo bằng văn bản cho Viện kiểm sát nhân dân cùng cấp và những người có liên quan đến kháng cáo trong thời hạn 05 ngày kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo.
Viện kiểm sát nhân dân phải gửi quyết định kháng nghị cho Tòa án cấp sơ thẩm, người bị yêu cầu dẫn độ, luật sư hoặc người đại diện hợp pháp của người đó trong thời hạn 02 ngày kể từ ngày ra quyết định kháng nghị.
2. Trong thời hạn 20 ngày kể từ ngày nhận được hồ sơ dẫn độ và kháng cáo, kháng nghị, Tòa án nhân dân cấp tỉnh mở phiên họp xem xét quyết định dẫn độ hoặc quyết định từ chối dẫn độ của Tòa án cấp sơ thẩm bị kháng cáo, kháng nghị. Việc xem xét kháng cáo, kháng nghị phúc thẩm đối với quyết định dẫn độ hoặc quyết định từ chối dẫn độ được tiến hành tại phiên họp do 01 Thẩm phán chủ trì, có sự tham gia của 01 Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân cùng cấp và được thực hiện theo trình tự sau đây:
a) Thẩm phán trình bày tóm tắt nội dung hồ sơ yêu cầu dẫn độ, quyết định dẫn độ hoặc quyết định từ chối dẫn độ, nội dung kháng cáo, kháng nghị phúc thẩm;
b) Thẩm phán hỏi người bị yêu cầu dẫn độ có thay đổi, bổ sung, rút kháng cáo hay không; nếu có thì Thẩm phán yêu cầu Kiểm sát viên trình bày ý kiến về việc thay đổi, bổ sung, rút kháng cáo.
Thẩm phán hỏi Kiểm sát viên có thay đổi, bổ sung, rút kháng nghị hay không; nếu có thì Thẩm phán yêu cầu người bị yêu cầu dẫn độ, luật sư hoặc người đại diện hợp pháp của người đó trình bày ý kiến về việc thay đổi, bổ sung, rút kháng nghị;
c) Kiểm sát viên, người bị yêu cầu dẫn độ, luật sư hoặc người đại diện hợp pháp của người đó phát biểu ý kiến về nội dung kháng cáo, kháng nghị; Kiểm sát viên phát biểu quan điểm của Viện kiểm sát nhân dân về việc xem xét yêu cầu dẫn độ.
3. Thẩm phán ra một trong các quyết định sau đây:
a) Không chấp nhận kháng cáo, kháng nghị và giữ nguyên quyết định sơ thẩm;
b) Sửa quyết định sơ thẩm;
c) Hủy quyết định sơ thẩm và chuyển hồ sơ yêu cầu dẫn độ cho Tòa án cấp sơ thẩm có thẩm quyền để xem xét lại;
d) Hủy quyết định sơ thẩm và đình chỉ việc xem xét yêu cầu dẫn độ;
đ) Đình chỉ việc xem xét phúc thẩm.
4. Quyết định dẫn độ hoặc quyết định từ chối dẫn độ có hiệu lực pháp luật bao gồm:
a) Quyết định của Tòa án cấp sơ thẩm không bị kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị;
b) Quyết định của Tòa án cấp phúc thẩm có hiệu lực kể từ ngày ban hành.
Quyết định của Tòa án cấp phúc thẩm phải được gửi cho Tòa án cấp sơ thẩm, Viện kiểm sát cấp sơ thẩm, Viện kiểm sát nhân dân cùng cấp, Bộ Công an, người bị yêu cầu dẫn độ, luật sư hoặc người đại diện hợp pháp của người đó (nếu có).
5. Việc giám đốc thẩm, tái thẩm quyết định dẫn độ hoặc quyết định từ chối dẫn độ được thực hiện theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Không thực hiện thủ tục giám đốc thẩm, tái thẩm đối với trường hợp đã thi hành quyết định dẫn độ.
6. Chánh án Tòa án nhân dân tối cao chủ trì, phối hợp với Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Bộ trưởng Bộ Công an, Bộ trưởng Bộ Tư pháp, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng và Bộ trưởng Bộ Ngoại giao quy định chi tiết Điều này.
Điều 31. Xem xét yêu cầu dẫn độ của nhiều nước đối với một người
1. Trường hợp Bộ Công an nhận được hồ sơ yêu cầu dẫn độ của nhiều nước đối với cùng một người, Bộ Công an chủ trì, phối hợp với Tòa án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Bộ Ngoại giao, Bộ Tư pháp xem xét, quyết định đáp ứng yêu cầu dẫn độ cho một trong các nước yêu cầu dẫn độ và chuyển 01 bộ hồ sơ yêu cầu dẫn độ cho Tòa án nhân dân khu vực có thẩm quyền để xem xét, quyết định dẫn độ, đồng thời, chuyển 01 bộ hồ sơ yêu cầu dẫn độ cho Viện kiểm sát nhân dân cùng cấp.
2. Khi xem xét yêu cầu dẫn độ quy định tại khoản 1 Điều này, ngoài các quy định của pháp luật, còn phải xem xét các yếu tố liên quan sau đây:
a) Quốc tịch và nơi thường trú cuối cùng ở nước ngoài của người bị yêu cầu dẫn độ;
b) Tính hợp pháp và mức độ phù hợp của yêu cầu dẫn độ;
c) Thời gian và địa điểm thực hiện tội phạm;
d) Lợi ích riêng của các nước yêu cầu dẫn độ;
đ) Mức độ nghiêm trọng của tội phạm;
e) Quốc tịch của người bị hại;
g) Khả năng dẫn độ tiếp theo giữa các nước yêu cầu dẫn độ;
h) Ngày đưa ra yêu cầu dẫn độ;
i) Các yếu tố khác có liên quan.
3. Trường hợp yêu cầu dẫn độ của nhiều nước đối với một người mà yêu cầu dẫn độ sau được gửi đến khi Tòa án nhân dân khu vực có thẩm quyền đã thụ lý yêu cầu dẫn độ trước thì trên cơ sở ý kiến của Tòa án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Bộ Ngoại giao và Bộ Tư pháp, Bộ Công an có văn bản đề nghị Tòa án nhân dân khu vực có thẩm quyền đã thụ lý hồ sơ yêu cầu dẫn độ trước trả lại hồ sơ yêu cầu dẫn độ cho Bộ Công an để tiếp tục xem xét, quyết định.
Tòa án đã thụ lý hồ sơ yêu cầu dẫn độ trước ra quyết định trả lại hồ sơ yêu cầu dẫn độ cho Bộ Công an và xóa yêu cầu trong sổ thụ lý.
4. Bộ trưởng Bộ Công an quy định chi tiết khoản 2 Điều này.
Điều 32. Các biện pháp ngăn chặn đề dẫn độ
Để bảo đảm thực hiện yêu cầu dẫn độ, cơ quan có thẩm quyền của Việt Nam có thể áp dụng các biện pháp ngăn chặn theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự ngay sau khi Tòa án nhân dân ra quyết định xem xét yêu cầu dẫn độ. Việc giữ người trong trường hợp khẩn cấp trước khi có yêu cầu dẫn độ được thực hiện theo quy định tại Điều 33 của Luật này.
Điều 33. Giữ người trong trường hợp khẩn cấp trước khi có yêu cầu dẫn độ
1. Trường hợp nước ngoài yêu cầu Việt Nam giữ người trong trường hợp khẩn cấp trước khi có yêu cầu dẫn độ theo quy định tại điều ước quốc tế về dẫn độ mà Việt Nam và nước đó cùng là thành viên thì Bộ Công an kiểm tra tính hợp lệ của văn bản yêu cầu giữ người theo quy định tại điều ước quốc tế đó.
Trường hợp văn bản yêu cầu giữ người hợp lệ, Bộ Công an chuyển ngay cho cơ quan Công an có thẩm quyền quyết định giữ người và đưa vào cơ sở lưu trú theo quy định tại các khoản 4, 5, 6, 7 và 8 Điều này.
Thời hạn giữ người và nội dung văn bản yêu cầu giữ người trong trường hợp khẩn cấp trước khi có yêu cầu dẫn độ được thực hiện theo quy định tại điều ước quốc tế đó.
2. Trường hợp nước ngoài yêu cầu Việt Nam giữ người trong trường hợp khẩn cấp trước khi có yêu cầu dẫn độ mà Việt Nam và nước đó không cùng là thành viên của điều ước quốc tế về dẫn độ thì Bộ Công an kiểm tra tính hợp lệ của văn bản yêu cầu giữ người theo quy định tại khoản 3 Điều này.
Trường hợp văn bản yêu cầu giữ người hợp lệ, Bộ Công an chuyển ngay cho cơ quan Công an có thẩm quyền quyết định giữ người và đưa vào cơ sở lưu trú theo quy định tại các khoản 4, 5, 6, 7 và 8 Điều này.
Thời hạn giữ người trong trường hợp khẩn cấp là 45 ngày kể từ ngày đưa vào cơ sở lưu trú.
3. Văn bản yêu cầu giữ người trong trường hợp khẩn cấp trước khi có yêu cầu dẫn độ quy định tại khoản 2 Điều này gồm các nội dung sau:
a) Ngày, tháng, năm lập yêu cầu;
b) Tên, địa chỉ và thông tin liên lạc của cơ quan có thẩm quyền của nước ngoài lập yêu cầu;
c) Lý do và mục đích của yêu cầu;
d) Thông tin về nhân thân, nơi cư trú của người bị yêu cầu;
đ) Thông tin về tội danh bị nêu trong yêu cầu và khung hình phạt dự kiến áp dụng đối với người bị yêu cầu hoặc thời gian còn lại người bị yêu cầu phải thi hành án;
e) Tóm tắt nội dung vụ án là căn cứ đưa ra yêu cầu;
g) Thông tin về quyết định hoặc lệnh của cơ quan có thẩm quyền của nước ngoài đã ban hành đối với người bị yêu cầu;
h) Cam kết gửi yêu cầu dẫn độ chính thức trong thời hạn 45 ngày kể từ ngày lập văn bản yêu cầu giữ người trong trường hợp khẩn cấp trước khi có yêu cầu dẫn độ;
i) Cam kết bồi thường thiệt hại trong trường hợp có oan, sai đối với người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp trước khi có yêu cầu dẫn độ;
k) Cam kết các thông tin và tài liệu nêu trong yêu cầu giữ người trong trường hợp khẩn cấp là chính xác, đúng sự thật; được thu thập và ban hành đúng thẩm quyền; tuân thủ trình tự, thủ tục của pháp luật nước ngoài;
l) Cam kết người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp trước khi có yêu cầu dẫn độ và người có tên bị nêu trong các quyết định tố tụng là cùng một người;
m) Cam kết người bị yêu cầu phạm tội hình sự thông thường, không phải là tội phạm liên quan đến chính trị hoặc tội phạm liên quan đến quân sự theo quy định tại các điều ước quốc tế mà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên.
4. Người có thẩm quyền thuộc cơ quan Công an quyết định giữ người và đưa vào cơ sở lưu trú theo quy định tại khoản 1 và khoản 2 Điều này bao gồm:
a) Cục trưởng các cục nghiệp vụ có thẩm quyền thuộc Bộ Công an;
b) Giám đốc Công an tỉnh, thành phố;
c) Trưởng phòng nghiệp vụ có thẩm quyền thuộc Công an tỉnh, thành phố.
5. Người có thẩm quyền quy định tại khoản 4 Điều này có thể giao quyền cho cấp phó thực hiện thẩm quyền giữ người trong trường hợp khẩn cấp trước khi có yêu cầu dẫn độ và đưa vào cơ sở lưu trú khi vắng mặt. Quyết định giao quyền phải được thể hiện bằng văn bản, trong đó phải xác định rõ phạm vi, nội dung, thời hạn giao quyền, cấp phó được giao quyền phải chịu trách nhiệm trước cấp trưởng và trước pháp luật về việc thực hiện quyền được giao. Người được giao quyền không được giao quyền này cho người khác.
6. Quyết định giữ người và đưa vào cơ sở lưu trú theo quy định tại Điều này phải được lập thành văn bản, trong đó có một bản giao cho người bị giữ và phải ghi rõ các nội dung sau:
a) Giờ, ngày, tháng, năm ra quyết định;
b) Họ tên, cấp bậc, chức vụ, cơ quan, đơn vị của người ra quyết định;
c) Căn cứ ra quyết định giữ người, điều, khoản văn bản quy phạm pháp luật được áp dụng; lý do giữ người;
d) Quốc tịch, số hộ chiếu hoặc giấy tờ có giá trị thay thế hộ chiếu;
đ) Thời hạn giữ người; cơ sở lưu trú nơi giữ người;
e) Chữ ký, dấu cơ quan của người có thẩm quyền ra quyết định giữ người.
7. Cơ sở lưu trú quy định tại Điều này bao gồm:
a) Cơ sở lưu trú của Bộ Công an;
b) Cơ sở lưu trú do Bộ Công an chỉ định.
8. Quyền, nghĩa vụ, chế độ của người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp trước khi có yêu cầu dẫn độ và vấn đề khác có liên quan được thực hiện theo quy định của pháp luật.
9. Bộ trưởng Bộ Công an quy định chi tiết Điều này.
Điều 34. Dẫn độ đơn giản
1. Trường hợp người bị yêu cầu dẫn độ có đơn đồng ý với việc bị dẫn độ ra nước ngoài, trên cơ sở ý kiến của Bộ Công an, Tòa án nhân dân khu vực có thẩm quyền xem xét áp dụng hoặc không áp dụng thủ tục dẫn độ đơn giản.
2. Trình tự, thủ tục áp dụng thủ tục dẫn độ đơn giản được thực hiện như sau:
a) Tòa án nhân dân thụ lý hồ sơ yêu cầu dẫn độ theo quy định tại khoản 1 và khoản 2 Điều 28 của Luật này;
b) Trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được đơn đồng ý bị dẫn độ của người bị yêu cầu dẫn độ, Tòa án nhân dân xác minh người bị yêu cầu dẫn độ tự nguyện đồng ý việc bị dẫn độ và nhận thức đầy đủ về hậu quả pháp lý của việc bị dẫn độ;
c) Trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày hoàn thành việc xác minh sự đồng ý bị dẫn độ, Tòa án nhân dân mở phiên họp xem xét yêu cầu dẫn độ theo quy định tại Điều 29 của Luật này mà không phải ra quyết định xem xét yêu cầu dẫn độ theo quy định tại điểm b khoản 4 Điều 28 của Luật này.
Điều 35. Thì hành quyết định dẫn độ
1. Trong thời hạn 10 ngày kể từ ngày quyết định dẫn độ của Tòa án nhân dân có thẩm quyền có hiệu lực pháp luật, Chánh án Tòa án nhân dân khu vực có thẩm quyền đã ra quyết định sơ thẩm ra quyết định thi hành quyết định dẫn độ. Quyết định thi hành quyết định dẫn độ phải được gửi đến Bộ Công an, Viện kiểm sát nhân dân cùng cấp, cơ quan có thẩm quyền của nước yêu cầu dẫn độ, người bị dẫn độ và người đại diện hợp pháp của người đó (nếu có). Việc gửi quyết định thi hành quyết định dẫn độ cho nước yêu cầu dẫn độ được thực hiện thông qua Bộ Công an.
2. Sau khi nhận được quyết định thi hành quyết định dẫn độ, Bộ Công an tổ chức thi hành theo trình tự sau đây:
a) Chỉ đạo cơ quan Công an có thẩm quyền tiến hành bắt người bị dẫn độ theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự;
b) Thống nhất với nước yêu cầu dẫn độ về thời gian, địa điểm chuyển giao người bị dẫn độ;
c) Chỉ đạo việc chuyển giao người bị dẫn độ, tài liệu, đồ vật, tài sản theo quy định tại Điều 36 và Điều 37 của Luật này.
Điều 36. Chuyển giao người bị dẫn độ
1. Cơ quan Công an có thẩm quyền tổ chức việc áp giải người bị dẫn độ theo thời gian, địa điểm chuyển giao đã thỏa thuận giữa Việt Nam và nước ngoài. Việc áp giải người bị dẫn độ thực hiện theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự.
2. Thời hạn chuyển giao người bị dẫn độ là 30 ngày kể từ ngày quyết định thi hành quyết định dẫn độ có hiệu lực. Trường hợp bất khả kháng hoặc có lý do chính đáng thì thời gian và địa điểm chuyển giao người bị dẫn độ do Bộ Công an và cơ quan có thẩm quyền của nước ngoài trao đổi, thống nhất.
3. Trường hợp hết thời hạn quy định tại khoản 2 Điều này, nếu nước yêu cầu dẫn độ không tiếp nhận người bị dẫn độ mà không có lý do chính đáng thì Bộ Công an kiến nghị Chánh án Tòa án nhân dân đã ra quyết định thi hành quyết định dẫn độ hủy quyết định thi hành quyết định dẫn độ và quyết định dẫn độ, trả tự do cho người bị dẫn độ và thông báo cho nước yêu cầu dẫn độ. Các quyết định nêu trên được gửi cho Viện kiểm sát nhân dân cùng cấp trong thời hạn 03 ngày làm việc kể từ ngày ra quyết định.
4. Bộ trưởng Bộ Công an chủ trì, phối hợp với Chánh án Tòa án nhân dân tối cao, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Bộ trưởng Bộ Tư pháp, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng và Bộ trưởng Bộ Ngoại giao quy định chi tiết Điều này.
Điều 37. Chuyển giao tài liệu, đồ vật, tài sản
Trường hợp cần phải chuyển giao tài liệu, đồ vật, tài sản liên quan đến người bị dẫn độ cho nước yêu cầu dẫn độ thì Bộ Công an chuyển giao tài liệu, đồ vật, tài sản đó cho nước yêu cầu dẫn độ phù hợp với điều ước quốc tế mà Việt Nam và nước yêu cầu dẫn độ là thành viên trên cơ sở tôn trọng quyền của bên thứ ba tại thời điểm chuyển giao người bị dẫn độ hoặc vào thời điểm khác theo thỏa thuận với nước yêu cầu dẫn độ. Đối với những tài liệu, đồ vật, tài sản không thể chuyển giao mà buộc phải tiêu hủy thì Bộ Công an thông báo cho nước yêu cầu dẫn độ và đề nghị cơ quan bảo quản tài liệu, đồ vật, tài sản đó tiêu hủy theo quy định của pháp luật Việt Nam.
Điều 38. Hoãn thi hành quyết định dẫn độ và tiếp tục thi hành quyết định dẫn độ
1. Trường hợp người bị yêu cầu dẫn độ đã có quyết định thi hành quyết định dẫn độ mà bị truy cứu trách nhiệm hình sự hoặc đang chấp hành hình phạt trên lãnh thổ Việt Nam về tội không phải là tội bị yêu cầu dẫn độ thì Chánh án Tòa án nhân dân đã ra quyết định thi hành quyết định dẫn độ tự mình hoặc theo đề nghị của Viện kiểm sát nhân dân, cơ quan Công an có thẩm quyền đang truy cứu trách nhiệm hình sự hoặc cơ quan quản lý thi hành án hình sự đối với người bị yêu cầu dẫn độ ra quyết định hoãn thi hành quyết định dẫn độ người đó. Thời hạn hoãn thi hành quyết định dẫn độ chấm dứt khi kết thúc quá trình truy cứu trách nhiệm hình sự hoặc chấp hành xong toàn bộ hoặc một phần hình phạt đã tuyên.
Quyết định hoãn thi hành quyết định dẫn độ được gửi cho Bộ Công an, Viện kiểm sát nhân dân cùng cấp và các cơ quan quy định tại khoản 1 Điều này trong thời hạn 03 ngày làm việc kể từ ngày ra quyết định. Bộ Công an thông báo ngay bằng văn bản cho nước yêu cầu dẫn độ về việc hoãn thi hành quyết định dẫn độ.
2. Khi hết thời hạn hoãn thi hành quyết định dẫn độ quy định tại khoản 1 Điều này, Chánh án Tòa án nhân dân đã ra quyết định hoãn thi hành quyết định dẫn độ hủy quyết định hoãn và cho tiếp tục thi hành quyết định dẫn độ; đồng thời gửi quyết định kèm theo hồ sơ, tài liệu liên quan cho Bộ Công an để tiếp tục thi hành theo thỏa thuận với nước yêu cầu dẫn độ. Trình tự, thủ tục tiếp tục thi hành quyết định dẫn độ được thực hiện theo quy định tại các điều 35, 36 và 37 của Luật này.
3. Chánh án Tòa án nhân dân tối cao chủ trì, phối hợp với Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Bộ trưởng Bộ Công an, Bộ trưởng Bộ Tư pháp, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng và Bộ trưởng Bộ Ngoại giao quy định chi tiết Điều này.
Điều 39. Dẫn độ tạm thời
1. Trường hợp việc hoãn thi hành quyết định dẫn độ quy định tại khoản 1 Điều 38 của Luật này cản trở việc truy cứu trách nhiệm hình sự ở nước ngoài do hết thời hiệu hoặc gây khó khăn nghiêm trọng cho việc truy cứu trách nhiệm hình sự về tội bị yêu cầu dẫn độ thì theo đề nghị của nước yêu cầu dẫn độ thông qua Bộ Công an, trên cơ sở ý kiến của Viện kiểm sát nhân dân và cơ quan Công an có thẩm quyền đang truy cứu trách nhiệm hình sự hoặc cơ quan quản lý thi hành án hình sự đối với người bị yêu cầu dẫn độ, Chánh án Tòa án nhân dân đã ra quyết định hoãn dẫn độ có thể ra quyết định dẫn độ tạm thời người bị yêu cầu dẫn độ cho nước yêu cầu dẫn độ. Việc thi hành quyết định dẫn độ tạm thời được thực hiện theo trình tự, thủ tục quy định tại các điều 35, 36 và 37 của Luật này.
2. Người bị dẫn độ tạm thời phải được chuyển giao lại ngay cho Việt Nam sau khi quá trình truy cứu trách nhiệm hình sự tại nước yêu cầu dẫn độ kết thúc hoặc hết thời hạn yêu cầu dẫn độ tạm thời mà Việt Nam và nước yêu cầu dẫn độ đã thỏa thuận để tiếp tục truy cứu trách nhiệm hình sự hoặc thi hành án đối với người bị yêu cầu dẫn độ tại Việt Nam. Quyết định dẫn độ tạm thời hết hiệu lực khi người bị dẫn độ tạm thời được chuyển giao về Việt Nam.
3. Trường hợp nước yêu cầu dẫn độ không có yêu cầu dẫn độ mới, sau khi kết thúc quá trình truy cứu trách nhiệm hình sự hoặc thi hành án đối với người bị yêu cầu dẫn độ tại Việt Nam, Chánh án Tòa án nhân dân đã ra quyết định dẫn độ tạm thời cho tiếp tục thực hiện quyết định thi hành quyết định dẫn độ. Trường hợp nước yêu cầu dẫn độ có yêu cầu dẫn độ mới thì theo đề nghị của Bộ Công an, Chánh án Tòa án nhân dân đã ra quyết định dẫn độ tạm thời hủy quyết định dẫn độ, quyết định thi hành quyết định dẫn độ để xem xét, giải quyết yêu cầu dẫn độ mới theo quy định của Luật này nếu có lý do chính đáng.
Điều 40. Dẫn độ lại
Trường hợp người đã bị dẫn độ trốn tránh việc truy cứu trách nhiệm hình sự hoặc chấp hành án ở nước ngoài và quay trở lại Việt Nam thì nước yêu cầu dẫn độ có thể đưa ra yêu cầu dẫn độ lại người đó kèm theo hồ sơ quy định tại Điều 26 của Luật này. Trong trường hợp này, Tòa án nhân dân đã ra quyết định sơ thẩm ra quyết định dẫn độ lại đối với người đó mà không tiến hành thủ tục xem xét yêu cầu dẫn độ quy định tại Điều 29 của Luật này.
Việc thi hành quyết định dẫn độ lại được thực hiện theo quy định tại các điều 35, 36 và 37 của Luật này.
Điều 41. Từ chối dẫn độ
1. Tòa án nhân dân có thẩm quyền phải từ chối dẫn độ nếu thuộc một trong các trường hợp sau đây:
a) Không phù hợp với nguyên tắc quy định tại khoản 2 Điều 4 của Luật này;
b) Tội phạm bị yêu cầu dẫn độ không đáp ứng quy định tại Điều 7 của Luật này;
c) Người bị yêu cầu dẫn độ là công dân Việt Nam;
d) Hết thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự hoặc hết thời hiệu thi hành bản án đối với người bị yêu cầu dẫn độ theo quy định của pháp luật Việt Nam;
đ) Người bị yêu cầu dẫn độ đã bị Tòa án của Việt Nam kết tội bằng bản án đã có hiệu lực pháp luật hoặc được tuyên không có tội hoặc được miễn truy cứu trách nhiệm hình sự hoặc được miễn thi hành hình phạt về hành vi phạm tội; được nêu trong yêu cầu dẫn độ hoặc vụ án đã bị đình chỉ theo quy định của pháp luật Việt Nam;
e) Người bị yêu cầu dẫn độ có nguy cơ bị truy bức, tra tấn, đối xử hoặc trừng phạt tàn bạo, vô nhân đạo hoặc hạ nhục con người ở nước yêu cầu dẫn độ;
g) Yêu cầu dẫn độ được đưa ra vì lý do chủng tộc, tôn giáo, giới tính, quốc tịch, nguồn gốc dân tộc, thành phần xã hội hoặc quan điểm chính trị của người bị yêu cầu dẫn độ hoặc vì lý do này mà người đó có thể bị đối xử không công bằng trong quá trình truy cứu trách nhiệm hình sự hoặc thi hành bản án đối với người đó.
2. Tòa án nhân dân có thẩm quyền có thể từ chối dẫn độ nếu thuộc một trong các trường hợp sau đây:
a) Tội phạm bị nêu trong yêu cầu dẫn độ là tội phạm có liên quan đến chính trị hoặc liên quan đến quân sự theo quy định tại điều ước quốc tế mà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên;
b) Người bị yêu cầu dẫn độ đang bị truy cứu trách nhiệm hình sự ở Việt Nam về hành vi phạm tội được nêu trong yêu cầu dẫn độ.
3. Trường hợp có căn cứ chắc chắn người bị yêu cầu dẫn độ thuộc trường hợp bắt buộc từ chối dẫn độ quy định tại khoản 1 Điều này thì Bộ Công an thông báo cho nước yêu cầu dẫn độ. Bộ trưởng Bộ Công an quy định chi tiết khoản này.
Điều 42. Xử lý trường hợp Việt Nam từ chối dẫn độ công dân Việt Nam cho nước ngoài
1. Trường hợp Việt Nam từ chối dẫn độ công dân Việt Nam cho nước ngoài để truy cứu trách nhiệm hình sự, nếu nước ngoài có yêu cầu, việc xem xét trách nhiệm hình sự đối với người đó được thực hiện theo quy định của Bộ luật Hình sự, Bộ luật pháp luật về tương trợ tư pháp về hình sự.
2. Trường hợp Việt Nam từ chối dẫn độ công dân Việt Nam cho nước ngoài để thi hành án, nếu nước ngoài có yêu cầu, Tòa án nhân dân đã ra quyết định từ chối dẫn độ có thể xem xét yêu cầu của nước ngoài về công nhận và cho thi hành tại Việt Nam bản án hình sự của tòa án nước ngoài theo quy định của Bộ luật Hình sự, Bộ luật Tố tụng hình sự, Luật Thi hành án hình sự và pháp luật về tương trợ tư pháp về hình sự.
Điều 43. Xử lý trường hợp Việt Nam từ chối dẫn độ người nước ngoài cho nước ngoài
Trường hợp Việt Nam từ chối dẫn độ người nước ngoài cho nước ngoài, nếu nước ngoài có yêu cầu truy cứu trách nhiệm hình sự đối với người đó, Bộ Công an chủ trì, phối hợp với Tòa án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao xem xét, có thể áp dụng quy định tại khoản 1 Điều 42 của Luật này.
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét