Nội dung Văn Bản Quy Phạm Pháp Luật được biên tập lại từ 04 nguồn chính: https://vbpl.vn/; www.congbao.hochiminhcity.gov.vn; https://congbao.chinhphu.vn/ và https://www.ipvietnam.gov.vn /

218 DANH MỤC VĂN BẢN PHÁP LUẬT

Chương III QUY ĐỊNH VỀ YÊU CẦU GIÁM ĐỊNH TƯ PHÁP

 Chương III

QUY ĐỊNH VỀ YÊU CẦU GIÁM ĐỊNH TƯ PHÁP

 

Điều 12. Quyền yêu cầu giám định tư pháp

1. Người có quyền yêu cầu giám định

a) Nguyên đơn dân sự, bị đơn dân sự, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án hình sự;

b) Người đại diện của những người được quy định tại điểm a khoản 1 Điều này.

2. Phạm vi quyền yêu cầu giám định trong giải quyết vụ việc, vụ án hình sự

a) Quyền yêu cầu giám định chỉ phát sinh sau khi người có quyền yêu cầu giám định đã đề nghị cơ quan, người có thẩm quyền trưng cầu giám định thực hiện trưng cầu giám định nhưng bị từ chối bằng văn bản hoặc hết thời hạn 07 ngày kể từ ngày cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng nhận được văn bản đề nghị nhưng không ra quyết định trưng cầu giám định;

b) Nội dung yêu cầu giám định chỉ được giới hạn trong những vấn đề liên quan đến quyền và lợi ích hợp pháp của người có quyền yêu cầu giám định; không yêu cầu giám định những vấn đề liên quan đến việc xác định trách nhiệm hình sự của người bị buộc tội;

c) Người yêu cầu giám định chỉ lựa chọn tổ chức giám định tư pháp công lập, tổ chức giám định tư pháp theo vụ việc có chuyên môn phù hợp để yêu cầu giám định trong giải quyết vụ việc, vụ án hình sự.

Điều 13. Trình tự, thủ tục yêu cầu giám định tư pháp

1. Chuẩn bị hồ sơ yêu cầu giám định tư pháp

a) Người yêu cầu giám định phải lập văn bản yêu cầu giám định, chuẩn bị các tài liệu, giấy tờ có liên quan và bản sao giấy tờ chứng minh mình là người yêu cầu giám định tư pháp theo quy định tại Điều 12 Thông tư liên tịch này;

b) Văn bản yêu cầu giám định tư pháp được thực hiện theo quy định tại khoản 3 Điều 27 Luật Giám định tư pháp.

2. Gửi hồ sơ yêu cầu giám định tư pháp

a) Hồ sơ yêu cầu giám định tư pháp được gửi cho tổ chức, cá nhân được yêu cầu thực hiện giám định bằng đường bưu chính hoặc người yêu cầu giám định (hoặc đại diện của họ) trực tiếp giao cho tổ chức, cá nhân được yêu cầu thực hiện giám định;

b) Trường hợp hồ sơ yêu cầu giám định tư pháp gửi bằng đường bưu chính thì phải thực hiện theo hình thức gửi dịch vụ có số hiệu;

c) Trường hợp hồ sơ yêu cầu giám định tư pháp gửi trực tiếp thì người yêu cầu giám định hoặc đại diện của họ phải cùng đại diện tổ chức giám định tư pháp kiểm tra, xem xét khi giao nhận. Nếu đồng ý tiếp nhận thì đại diện tổ chức giám định tư pháp phải lập biên bản giao, nhận hồ sơ yêu cầu giám định, tài liệu có liên quan, mẫu so sánh (nếu có) và thu chi phí giám định tư pháp.

 

Chương IV

QUY ĐỊNH VỀ ĐÁNH GIÁ, SỬ DỤNG KẾT LUẬN GIÁM ĐỊNH TƯ PHÁP

 

Điều 14. Đánh giá kết luận giám định tư pháp

Việc đánh giá kết luận giám định tư pháp được thực hiện trên các phương diện sau đây:

1. Đánh giá tính hợp pháp

a) Thẩm quyền trưng cầu giám định, quyền yêu cầu giám định hoặc căn cứ chấp nhận yêu cầu giám định;

b) Tiêu chuẩn, điều kiện của tổ chức, người giám định tư pháp theo quy định của Luật Giám định tư pháp;

c) Trình tự, thủ tục trưng cầu, yêu cầu và thực hiện giám định; thời hạn thực hiện giám định;

d) Việc thu thập, bảo quản, niêm phong, giao, nhận và quản lý đối tượng giám định theo quy định của pháp luật.

2. Đánh giá tính chính xác, khách quan

a) Cơ sở khoa học, phương pháp khoa học, kỹ thuật, nghiệp vụ, quy trình giám định, quy chuẩn chuyên môn được áp dụng.

Đối với lĩnh vực giám định chưa có quy trình giám định, quy chuẩn chuyên môn thì đánh giá dựa trên phương pháp giám định tối ưu và có giải trình hợp lý;

b) Điều kiện tiến hành giám định và các yếu tố có thể ảnh hưởng đến kết quả giám định;

c) Sự phù hợp, thống nhất giữa kết quả phân tích, kiểm tra, thực nghiệm với nội dung nhận xét và kết luận giám định.

Trường hợp kết luận giám định thiếu căn cứ khoa học, không rõ ràng, mâu thuẫn hoặc không thể kiểm chứng, thì không được sử dụng làm căn cứ giải quyết vụ việc, vụ án hình sự.

3. Đánh giá tính liên quan, toàn diện

a) Kết luận giám định phải được xem xét, đánh giá trong mối liên hệ với toàn bộ chứng cứ, tài liệu khác đã được thu thập hợp pháp trong quá trình giải quyết vụ việc, vụ án hình sự, bao gồm lời khai, vật chứng, dữ liệu điện tử, biên bản tố tụng và các tài liệu khác có liên quan;

b) Không được tách rời kết luận giám định khỏi hệ thống chứng cứ; trường hợp kết luận giám định có mâu thuẫn với các chứng cứ khác thì phải làm rõ nguyên nhân mâu thuẫn theo quy định của pháp luật tố tụng hình sự.

Điều 15. Sử dụng kết luận giám định tư pháp

1. Kết luận giám định là một trong các căn cứ để cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng xem xét, ra các quyết định tố tụng theo quy định của pháp luật.

2. Cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng có trách nhiệm thông báo nội dung kết luận giám định cho bị can, bị cáo, bị hại, đương sự, những người có quyền yêu cầu giám định quy định tại Điều 12 Thông tư liên tịch này và người tham gia tố tụng khác theo quy định của pháp luật.

3. Trường hợp cần làm sáng tỏ nội dung kết luận giám định, cơ quan, người có thẩm quyền trưng cầu giám định, người yêu cầu giám định yêu cầu tổ chức, cá nhân đã thực hiện giám định giải thích kết luận giám định.

Trường hợp người tham gia tố tụng có ý kiến, yêu cầu có căn cứ đối với kết luận giám định, cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng có thể yêu cầu tổ chức, cá nhân đã thực hiện giám định giải thích kết luận giám định hoặc xem xét việc trưng cầu giám định bổ sung hoặc giám định lại theo quy định của pháp luật.

Kết luận giám định được trình bày hoặc công bố tại phiên tòa theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự.

Điều 16. Xử lý khi có mâu thuẫn trong kết luận giám định tư pháp

1. Mâu thuẫn giữa kết luận giám định và các chứng cứ khác

Trường hợp kết luận giám định có mâu thuẫn với các chứng cứ, tài liệu khác đã thu thập được trong quá trình giải quyết vụ việc, vụ án hình sự thì cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng không được loại trừ các chứng cứ khác để sử dụng kết luận giám định hoặc ngược lại.

Cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng phải thực hiện các hoạt động tố tụng cần thiết như đối chất, thực nghiệm điều tra, thu thập bổ sung chứng cứ hoặc trưng cầu giám định bổ sung, giám định lại để làm rõ nguyên nhân mâu thuẫn theo quy định của pháp luật.

2. Trường hợp các kết luận giám định khác nhau về cùng một nội dung, cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng xem xét, đánh giá và quyết định việc sử dụng kết luận giám định trên cơ sở các tiêu chí quy định tại khoản 4 Điều 35 Luật Giám định tư pháp và quy định của pháp luật khác có liên quan.

Trường hợp mâu thuẫn không thể được làm rõ, cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng quyết định trưng cầu giám định lại, giám định Hội đồng theo quy định của pháp luật.

Việc lựa chọn và sử dụng kết luận giám định trong trường hợp có nhiều kết luận giám định phải bảo đảm tuân thủ nguyên tắc đánh giá chứng cứ theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự.

Điều 17. Giá trị của kết luận giám định tư pháp trong trường hợp yêu cầu giám định tư pháp

1. Kết luận giám định của tổ chức, người giám định tư pháp ban hành trong trường hợp yêu cầu giám định theo quy định tại Thông tư liên tịch này được xác định là một nguồn chứng cứ, nếu việc yêu cầu giám định và thực hiện giám định tuân thủ đúng quy định của pháp luật.

2. Cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng có trách nhiệm xem xét, đánh giá và sử dụng kết luận giám định quy định tại khoản 1 Điều này theo các quy định tại Điều 14 và Điều 15 Thông tư liên tịch này.

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét