VỀ VỊ THẾ CỦA NGƯỜI
KHÔNG QUỐC TỊCH, 1954
(Được thông qua tại Hội
nghị các Đại sứ đặc mệnh toàn quyền tại Liên Hợp Quốc ngày 28/9/1954, tổ chức
theo Nghị quyết 526(XVII) ngày 26/5/1954 của Hội đồng Kinh tế - Xã hội. Có hiệu
lực từ ngày 6/6/1960 theo điều 39)
LỜI MỞ
ĐẦU
Các Bên
tham gia Công ước,
Xét rằng, Hiến chương Liên Hợp
Quốc và Tuyên ngôn toàn thế giới về quyền con người được Đại hội đồng Liên Hợp
Quốc thông qua ngày 10/12/1948 đã khẳng định nguyên tắc mọi người được hưởng
các quyền và tự do cơ bản mà không bị phân biệt đối xử,
Xét rằng Liên Hợp Quốc, trong
nhiều trường hợp, đã bày tỏ mối quan tâm sâu sắc về những người không quốc tịch
và đã nỗ lực để bảo đảm cho họ thực hiện ở mức nhiều nhất có thể các quyền và
tự do cơ bản nói trên,
Xét
rằng,
mới chỉ có những người không quốc tịch đồng thời là người tị nạn được Công ước
về Vị thế của Người tị nạn ngày 28/7/1951 bảo vệ, và rằng, có nhiều người không
quốc tịch không được Công ước trên bảo vệ,
Xét rằng,
cần thiết phải qui định và nâng cao vị thế của những người không quốc tịch bằng
một thoả thuận quốc tế,
Đã thoả
thuận như sau:
Điều
1: Định nghĩa thuật ngữ “người không quốc tịch”
1. Vì mục
đích của Công ước này, thuật ngữ “người không quốc tịch” có nghĩa là người
không được coi là công dân của bất kỳ quốc gia nào theo pháp luật hiện hành của
quốc gia đó.
2. Công ước
này không áp dụng:
(i) Đối với
những người hiện đang được các cơ quan hay tổ chức của Liên Hợp Quốc, ngoài Cao
uỷ Liên Hợp Quốc về người tị nạn, bảo vệ hoặc trợ giúp, chừng nào họ vẫn còn
nhận được sự bảo vệ hay trợ giúp đó;
(ii) Đối
với những người được các cơ quan có thẩm quyền của nước mà họ cư trú công nhận
có các quyền và nghĩa vụ gắn với việc có quốc tịch ở nước đó;
(iii) Đối
với những người mà có nhiều lý do nghiêm trọng liên quan đến họ cho thấy rằng:
(a) Họ đã
phạm tội chống hoà bình, tội ác chiến tranh hay tội ác chống nhân loại, như đã
được định nghĩa trong các văn kiện quốc tế được soạn thảo về các tội ác này;
(b) Họ đã
phạm một tội phi chính trị nghiêm trọng ở bên ngoài nước họ cư trú trước khi
được phép vào nước đó;
(c) Họ đã
phạm tội vì những hành vi đi ngược lại những mục tiêu và nguyên tắc của Liên
Hợp Quốc.
Mỗi người
không quốc tịch đều có những nghĩa vụ đối với đất nước nơi người đó cư trú,
những nghĩa vụ này đòi hỏi người đó phải tuân thủ các quy định pháp luật của
nước đó cũng như những biện pháp được áp dụng để duy trì trật tự công cộng.
Điều
3: Không phân biệt đối xử
Các quốc
gia thành viên phải áp dụng các quy định của Công ước này đối với mọi người
không quốc tịch, mà không có sự phân biệt về chủng tộc, tôn giáo hay nguồn gốc
quốc gia.
Các quốc
gia thành viên phải dành cho những người không quốc tịch trong phạm vi lãnh thổ
của mình sự đối xử ít nhất cũng thuận lợi như sự đối xử với công dân của nước
mình về tự do thực hành tôn giáo và các tự do khác liên quan đến việc giáo dục
tôn giáo của con cái họ.
Điều
5: Các quyền được bảo đảm ngoài Công ước này
Không một
quy định nào trong Công ước này sẽ được giải thích nhằm làm tổn hại đến bất kỳ
quyền và lợi ích nào được quốc gia thành viên dành cho những người không quốc
tịch ngoài các quyền được quy định trong Công ước này.
Điều
6: Thuật ngữ “ trong những hoàn cảnh như nhau”
Với mục
đích của công ước này, thuật ngữ “trong những hoàn cảnh như nhau” hàm ý rằng
bất kỳ những yêu cầu nào (kể cả những yêu cầu về điều kiện và thời gian tạm trú
hoặc thường trú) mà một cá nhân cụ thể sẽ phải đáp ứng để hưởng những quyền
liên quan nếu người đó không phải là người không quốc tịch phải được người đó
đáp ứng, ngoại trừ những yêu cầu mà xét về bản chất, một người không quốc tịch
không có khả năng thực hiện.
Điều
7: Miễn trừ nguyên tắc có đi có lại
1. Trừ khi
Công ước này chứa nhiều điều khoản ưu đãi hơn, một quốc gia thành viên phải
dành cho những người không quốc tịch sự đối xử giống như sự đối xử dành cho
những người nước ngoài khác nói chung.
2. Sau
khoảng thời gian cư trú 3 năm, tất cả những người không quốc tịch sẽ được miễn
áp dụng nguyên tắc pháp lý có đi có lại tại lãnh thổ của các quốc gia thành
viên.
3. Mỗi quốc
gia thành viên phải tiếp tục dành cho những người không quốc tịch những quyền
và lợi ích mà họ đã được hưởng khi không áp dụng nguyên tắc có đi có lại, tại
thời điểm Công ước này bắt đầu có hiệu lực với quốc gia đó.
4. Quốc gia
thành viên sẽ xem xét một cách thuận lợi khả năng dành cho những người không
quốc tịch, khi không áp dụng nguyên tắc có đi có lại, các quyền và lợi ích
ngoài những quyền và lợi ích mà họ được hưởng theo qui định tại khoản 2 và 3,
đồng thời mở rộng việc miễn áp dụng nguyên tắc có đi có lại đối với những người
không quốc tịch mà không đáp ứng những điều kiện được quy định tại khoản 2 và
3.
5. Các qui
định của khoản 2 và 3 áp dụng đối với cả các quyền và lợi ích được đề cập tại
các điều 13, 18, 19, 21, và 22 của Công ước này cũng như các quyền và lợi ích
mà Công ước này không quy định.
Điều
8: Miễn trừ những biện pháp ngoại lệ
Liên quan
đến những biện pháp ngoại lệ có thể được áp dụng chống lại người, tài sản và
lợi ích của những công dân hoặc những người trước đây là công dân của một quốc
gia khác, các quốc gia thành viên sẽ không áp dụng những biện pháp đó đối với
những người không quốc tịch nếu chỉ căn cứ vào việc người đó trước đó đã có
quốc tịch của quốc gia khác. Các quốc gia thành viên, mà theo quy định pháp
luật của mình, không được áp dụng nguyên tắc chung được nêu tại điều này, trong
các trường hợp thích hợp, sẽ dành những miễn trừ có lợi cho những người không
quốc tịch nói trên.
Điều
9: Những biện pháp tạm thời
Không một
quy định nào trong Công ước này cản trở một quốc gia thành viên, trong thời
gian chiến tranh hay những hoàn cảnh nghiêm trọng và ngoại lệ khác, áp dụng tạm
thời những biện pháp được xem là cần thiết đối với an ninh quốc gia trong
trường hợp của một người cụ thể nào đó, trong khi quốc gia thành viên xác định
rằng người đó trên thực tế là người không quốc tịch, và rằng sự tiếp tục những
biện pháp như vậy là cần thiết trong trường hợp của người đó vì lợi ích an ninh
quốc gia.
1. trường
hợp một người đã bị buộc rời khỏi đất nước trong Chiến tranh thế giới thứ hai
và đã chuyển đến lãnh thổ của một quốc gia thành viên và hiện đang cư trú ở đó,
thì khoảng thời gian tạm trú bắt buộc đó phải được xem xét là cư trú hợp pháp ở
lãnh thổ đó.
2. trường
hợp một người trong Chiến tranh thế giới lần thứ hai đã bị buộc rời khỏi lãnh
thổ của một quốc gia thành viên và trước ngày Công ước có hiệu lực, đã quay trở
lại quốc gia thành viên đó để tiếp tục cư trú, thì khoảng thời gian cư trú
trước và sau sự di chuyển bắt buộc đó sẽ được xem như một khoảng thời gian cư
trú liên tục, vì bất kỳ mục đích nào mà đòi hỏi sự cư trú liên tục.
Điều
11: Những thuỷ thủ không có quốc tịch
trường hợp
những người không quốc tịch thường xuyên làm việc với tư cách là thuỷ thủ trên
tàu mang cờ của một quốc gia thành viên, quốc gia đó phải xem xét với sự cảm
thông đối với cơ nghiệp của những người đó trên lãnh thổ của mình, và cấp giấy
tờ thông hành cho họ hay giấy phép nhập cảnh tạm thời vào lãnh thổ của mình,
đặc biệt với mục đích tạo điều kiện thuận lợi cho cơ nghiệp của họ ở một nước
khác.
1. Vị thế
cá nhân của một người không quốc tịch sẽ được điều chỉnh theo luật của nước
người đó thường trú hoặc, nếu người đó không có nơi thường trú, thì theo luật
của nước mà người đó đang sống.
2. Các
quyền mà một người không quốc tịch có được từ trước và phụ thuộc vào vị thế cá
nhân, đặc biệt là những quyền gắn liền với hôn nhân, sẽ được quốc gia thành
viên tôn trọng, với việc tuân thủ, nếu cần thiết, những thủ tục mà pháp luật
quốc gia đó yêu cầu, với điều kiện quyền nêu trên là quyền đã được pháp luật
của quốc gia, mà trước đó người này chưa trở thành người không quốc tịch đã
công nhận.
Điều
13: Động sản và bất động sản
Các quốc
gia thành viên sẽ dành cho người không quốc tịch sự đối xử càng thuận lợi càng
tốt và, trong bất kì trường hợp nào, cũng không kém thuận lợi hơn sự đối xử
được dành cho người nước ngoài nói chung trong những hoàn cảnh như nhau, đối
với việc có được động sản và bất động sản và những quyền khác gắn liền theo đó,
cũng như với những hợp đồng cho thuê và hợp đồng khác liên quan đến động sản và
bất động sản.
Điều
14: Những quyền về nghệ thuật và sở hữu công nghiệp
Liên quan
đến việc bảo vệ sở hữu công nghiệp, chẳng hạn như những phát minh, thiết kế hay
mẫu, nhãn hiệu hàng hóa, tên thương mại và những quyền về các tác phẩm văn học,
nghệ thuật và khoa học, một người không quốc tịch sẽ được dành cho, tại nước
nơi người đó thường trú, sự bảo hộ tương tự như công dân của nước đó. Tại lãnh
thổ của bất kì quốc gia thành viên nào, người đó sẽ được dành sự bảo hộ tương
tự như công dân của quốc gia nơi người đó thường trú.
Đối với
những tổ chức phi chính trị, phi lợi nhuận và các công đoàn, các quốc gia thành
viên sẽ dành cho những người không quốc tịch cư trú hợp pháp trên lãnh thổ của
mình sự đối xử càng thuận lợi càng tốt và trong bất kì trường hợp nào, cũng
không kém thuận lợi hơn sự đối xử dành cho những người nước ngoài nói chung
trong hoàn cảnh như nhau..
1. Người
không quốc tịch có quyền tự do tiếp cận các toà án ở lãnh thổ của mọi quốc gia
thành viên.
2. Người
không quốc tịch được hưởng trên lãnh thổ của quốc gia thành viên mà người đó
thường trú sự đối xử tương tự như một công dân trong những vấn đề gắn với việc
tiếp cận toà án, kể cả sự trợ giúp pháp lý và miễn tiền đặt cọc thi hành án
và/hoặc án phí.
3.Đối với
những vấn đề được đề cập tại khoản 2, một người không quốc tịch, khi ở những
nước khác không phải nước mà người đó thường trú thì sẽ được dành cho sự đối xử
như đối với công dân của nước người đó thường trú.
1.Các quốc
gia thành viên sẽ dành cho người không quốc tịch đang cư trú hợp pháp tại lãnh
thổ của mình sự đối xử càng thuận lợi càng tốt và, trong bất kỳ trường hợp nào,
cũng không kém thuận lợi hơn sự đối xử mà quốc gia thành viên dành cho những
người nước ngoài trong hoàn cảnh như nhau, liên quan đến quyền lao động được
trả lương.
2. Các quốc
gia thành viên phải xem xét với sự cảm thông việc nội luật hoá các quyền của
người không quốc tịch liên quan đến lao động được trả lương với các quyền của
công dân, và cụ thể là các quyền của những người không quốc tịch đã đến lãnh
thổ của quốc gia thành viên theo các chương trình tuyển dụng lao động hay theo
các kế hoạch nhập cư.
Các quốc
gia thành viên sẽ dành cho người không quốc tịch cư trú hợp pháp trên lãnh thổ
của mình sự đối xử càng thuận lợi càng tốt, và trong bất kỳ trường hợp nào,
cũng không kém hơn sự đối xử được dành cho những người nước ngoài nói chung
trong hoàn cảnh như nhau, liên quan đến quyền tham gia sản xuất nông nghiệp,
công nghiệp, thủ công nghiệp và thương mại cho bản thân mình và thành lập các
công ty thương mại và công nghiệp
Điều
19: Hành nghề tự do
Mỗi quốc
gia thành viên sẽ dành cho những người không quốc tịch đang cư trú hợp pháp tại
lãnh thổ của mình nhưng có bằng cấp được các cơ quan có thẩm quyền của quốc gia
thành viên đó thừa nhận và đang mong muốn hành nghề tự do, sự đối xử càng thuận
lợi càng tốt và, trong bất kỳ trường hợp nào, cũng không kém hơn sự đối xử được
dành cho những người nước ngoài nói chung trong những hoàn cảnh như nhau.
Nếu tồn tại
hệ thống phân phối áp dụng cho phần lớn cư dân và hệ thống này điều chỉnh sự
phân phối chung các sản phẩm khan hiếm, những người không quốc tịch sẽ được
quốc gia thành viên dành cho sự đối xử như đối với những công dân của mình.
Về nhà ở,
các quốc gia thành viên, trong chừng mực vấn đề này được điều chỉnh bởi luật
hay những qui định dưới luật hoặc dưới sự kiểm soát của các cơ quan công quyền,
sẽ dành cho những người không quốc tịch đang cư trú hợp pháp trên lãnh thổ của
mình sự đối xử càng thuận lợi càng tốt và, trong bất kỳ trường hợp nào, cũng
không kém hơn sự đối xử được dành cho những người nước ngoài nói chung trong
những hoàn cảnh như nhau.
1. Các quốc
gia thành viên sẽ dành cho người không quốc tịch sự đối xử tương tự như dành
cho công dân của mình liên quan đến vấn đề giáo dục tiểu học.
2. Các quốc
gia thành viên sẽ dành cho người không quốc tịch sự đối xử, càng thuận lợi càng
tốt, và trong bất kỳ trường hợp nào, cũng không kém hơn sự đối xử được dành cho
những người nước ngoài nói chung trong những hoàn cảnh như nhau, liên quan đến
lĩnh vực giáo dục ngoài giáo dục tiểu học và đặc biệt, đối với việc tiếp cận
nền học vấn, việc thừa nhận các chứng chỉ, chứng nhận, bằng cấp của các trường
nước ngoài, sự miễn giảm học phí và các khoản chi trả khác cũng như việc cấp
học bổng.
Các quốc
gia thành viên sẽ dành cho những người không quốc tịch đang cư trú hợp pháp ở
lãnh thổ của mình sự đối xử tương tự như được dành cho công dân của mình liên
quan đến vấn đề về trợ cấp và trợ giúp nhà nước.
Điều
24: Pháp luật lao động và an sinh xã hội
1.Các quốc
gia thành viên sẽ dành cho những người không quốc tịch đang cư trú hợp pháp
trên lãnh thổ của mình sự đối xử tương tự như được dành cho công dân của mình
liên quan đến những vấn đề sau:
(a)Tiền
lương kể cả những trợ cấp gia đình trong trường hợp những trợ cấp này là một
phần của tiền lương, thời gian làm việc, làm thêm giờ, ngày nghỉ được trả
lương, các hạn chế về làm việc tại gia, tuổi lao động tối thiểu, học nghề và
đào tạo nghề, lao động nữ và lao động thanh thiếu niên, sự thụ hưởng những lợi
ích từ thoả ước lao động tập thể trong chừng mực những vấn đề này được điều
chỉnh bởi luật hoặc những qui định dưới luật hay dưới sự kiểm soát của các cơ
quan hành chính.
(b) An sinh
xã hội (những qui định pháp lý về tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp, nghỉ sinh
con, đau ốm, tàn tật, tuổi già, chết, thất nghiệp, trách nhiệm gia đình và bất
kỳ những bất trắc nào khác được hệ thống an sinh xã hội bảo hiểm theo các qui
định pháp luật quốc gia) theo theo những hạn chế sau:
(i) Có thể
có những dàn xếp phù hợp để duy trì những quyền đã có được và những quyền đang
trong quá trình hình thành;
(ii) Luật
hoặc những qui định dưới luật của nước cư trú có thể qui định những dàn xếp đặc
biệt liên quan đến lợi ích hoặc một phần lợi ích có thể được quỹ công chi trả
toàn bộ, và liên quan đến những trợ cấp trả cho những người không đáp ứng những
điều kiện đóng góp theo qui định để được hưởng hưu trí bình thường.
2. Quyền
được bồi thường do một người không quốc tịch chết vì tai nạn lao động hay bệnh
nghề nghiệp sẽ bị không ảnh hưởng vì lý do người được hưởng lợi cư trú bên
ngoài lãnh thổ của quốc gia thành viên.
3. Quốc gia
thành viên sẽ dành cho những người không quốc tịch các lợi ích của những thoả
thuận được ký kết giữa họ hoặc có thể được ký kết giữa họ trong tương lai, liên
quan đến sự duy trì những quyền đã đạt được và những quyền đang trong quá trình
hình thành về an sinh xã hội, theo những điều kiện áp dụng cho công dân của
quốc gia ký kết thoả thuận liên quan.
4. Quốc gia
thành viên phải sự xem xét với sự cảm thông việc mở rộng cho những người không
quốc tịch, ở mức độ có thể, những lợi ích của những thoả thuận tương tự có thể
sẽ có hiệu lực, vào bất kỳ thời điểm nào, giữa các quốc gia thành viên và các
quốc gia không thành viên.
1. Khi một
người không quốc tịch thực hiện một quyền mà thông thường cần sự trợ giúp của
các cơ quan có thẩm quyền của nước ngoài mà người đó không thể có được, quốc gia
thành viên mà người đó đang cư trú sẽ thu xếp để giúp đỡ người đó bằng chính cơ
quan có thẩm quyền của mình.
2. Cơ quan
hay những cơ quan được đề cập tại khoản 1 sẽ cấp, hoặc yêu cầu cấp dưới sự giám
sát của các cơ quan đó, cho người không quốc tịch các giấy tờ hoặc chứng nhận
mà thông thường được cấp cho những người nước ngoài bởi hoặc thông qua các cơ
quan có thẩm quyền của nước họ.
3. Các giấy
tờ hay những chứng nhận được cấp như vậy sẽ thay thế những văn bản chính thức
được cấp cho những người nước ngoài bởi hoặc thông qua các cơ quan có thẩm
quyền của nước họ, và sẽ có giá trị nếu không có bằng chứng ngược lại.
4. Theo sự
đối xử ngoại lệ có thể được dành cho người nghèo, các khoản phí cũng có thể
phải trả cho các dịch vụ nêu trên nhưng những khoản phí như vậy sẽ ở mức vừa
phải và tương xứng với mức phí mà công dân nước quốc gia đó phải trả cho những
dịch vụ tương tự.
5. Những
quy định của điều này không làm ảnh hưởng đến các điều 27 và 28 .
Mỗi quốc
gia thành viên sẽ dành cho người không quốc tịch cư trú hợp pháp trên lãnh thổ
của mình quyền được lựa chọn nơi cư trú và quyền tự do đi lại trong lãnh thổ
của mình và chịu sự điều chỉnh của bất kì quy định nào áp dụng cho người nước
ngoài nói chung trong những hoàn cảnh như nhau .
Các quốc
gia thành viên sẽ cấp giấy chứng minh cho bất kì người không quốc tịch nào trên
lãnh thổ của mình mà không có giấy chứng minh có giá trị pháp lý.
Các quốc
gia thành viên sẽ cấp cho người không quốc tịch cư trú hợp pháp trên lãnh thổ
của mình những giấy tờ thông hành cần thiết cho mục đích đi lại ngoài lãnh thổ
của mình, trừ phi có những lí do cấp bách về an ninh quốc gia hay trật tự công
cộng đòi hỏi khác; và những quy định tại Phụ lục của Công ước này sẽ áp dụng
liên quan tới những giấy tờ đó. Các quốc gia thành viên có thể cấp giấy tờ
thông hành như vậy cho bất kì người không có quốc tịch nào khác trên lãnh thổ
của mình; các quốc gia thành viên, cụ thể, phải xem xét với sự cảm thông đối
với việc cấp giấy tờ thông hành như vậy cho người không quốc tịch trên lãnh thổ
của mình mà không thể có được một giấy thông hành của đất nước nơi họ cư trú
hợp pháp.
1. Các quốc
gia thành viên sẽ không ấn định đối với người không quốc tịch những khoản lệ
phí, phí hoặc thuế dưới bất kì hình thức nào, khác hoặc cao hơn những khoản lệ
phí, phí hoặc thuế đang thu hoặc có thể thu đối với những công dân của mình
trong những hoàn cảnh như nhau.
2. Không
một quy định nào thuộc khoản trên cản trở việc áp dụng đối với người không quốc
tịch những quy định pháp luật về các khoản phí liên quan để việc cấp giấy tờ
cho người nước ngoài, kể cả giấy chứng minh.
1. Một quốc
gia thành viên, phù hợp các quy định pháp luật của mình, cho phép người không
quốc tịch chuyển tài sản mà họ đã mang vào lãnh thổ của mình đến một nước khác
nơi họ đã được chấp nhận cho tái định cư.
2. Một quốc
gia thành viên phải xem xét với sự cảm thông đơn xin phép của người không quốc
tịch về việc chuyển tài sản của họ bất cứ nơi nào có thể mà cần thiết cho việc
tái định cư ở một nước mà họ đã được chấp nhận.
Điều
31: Trục xuất.
1. Các quốc
gia thành viên sẽ không trục xuất một người không quốc tịch cư trú hợp pháp
trên lãnh thổ của mình, ngoại trừ những lý do an ninh hoặc trật tự công cộng.
2. Việc
trục xuất một người không quốc tịch sẽ chỉ được thực hiện theo một quyết định
được đưa ra phù hợp với trình tự pháp luật hợp lệ. Trừ khi những lý do cấp bách
về an ninh quốc gia đòi hỏi khác, người không quốc tịch sẽ được phép trình
những bằng chứng để tự bào chữa, kháng cáo và có người đại diện trước cơ quan
có thẩm quyền hay trước một hoặc nhiều người được cơ quan có thẩm quyền chỉ
định.
3. Các quốc
gia thành viên sẽ cho phép một người không quốc tịch như vậy có một khoảng thời
gian thích hợp để tìm kiếm sự chấp nhận cho cư trú hợp pháp ở một nước khác.
Các quốc gia thành viên bảo lưu quyền áp dụng những biện pháp nội bộ được coi
là cần thiết trong khoảng thời gian đó.
Các quốc
gia thành viên sẽ tạo điều kiện thuận lợi hết mức có thể cho việc hoà nhập và
nhập tịch của người không quốc tịch. Các quốc gia thành viên cụ thể sẽ tiến
hành mọi lỗ lực để xúc tiến thủ tục nhập tịch và giảm hết mức có thể các khoản
phí và chi phí cho những thủ tục như vậy.
Điều
33: Thông tin về pháp luật quốc gia.
Các quốc
gia thành viên sẽ thông báo cho Tổng thư ký Liên Hợp Quốc những quy định pháp
luật mà mình có thể thông qua để bảo đảm thực hiện Công ước này.
Điều
34. Giải quyết tranh chấp.
Bất kỳ
tranh cấp nào giữa các quốc gia thành viên Công ước này liên quan đến việc giải
thích hoặc áp dụng Công ước, mà không thể được giải quyết bằng những biện pháp
khác sẽ được chuyển đến Toà án Công lý quốc tế theo yêu cầu của bất kỳ một bên
tranh chấp nào.
Điều
35. Ký, phê chuẩn và gia nhập.
1.Công ước
này sẽ để ngỏ cho các quốc gia ký tại Trụ sở chính của Liên Hợp Quốc cho đến
ngày 31/12/1955.
2.Công ước
sẽ để ngỏ cho các quốc gia sau đây ký:
(a) Bất kỳ
quốc gia thành viên nào của Liên Hợp Quốc;
(b) Bất kỳ
quốc gia nào được mời tham dự Hội nghị Liên Hợp Quốc về Vị thế của người không
quốc tịch;
(c) Bất kỳ
quốc gia nào nhận được lời mời ký hoặc gia nhập của Đại hội đồng Liên Hợp Quốc.
3. Công ước
phải được phê chuẩn và các văn kiện phê chuẩn phải được nộp lưu chiểu cho Tổng
thư ký Liên Hợp Quốc.
4. Công ước
để ngỏ cho việc gia nhập của các quốc gia được đề cập tại khoản 2 điều này.
Việc gia nhập sẽ có thực hiện bằng cách nộp lưu chiểu văn kiện gia nhập cho
Tổng thư ký Liên Hợp Quốc.
Điều
36. Điều khoản áp dụng theo lãnh thổ.
1.Bất kỳ
quốc gia nào, tại thời điểm ký, phê chuẩn hoặc gia nhập, phải tuyên bố rằng
Công ước này sẽ được áp dụng tại tất cả hoặc bất kỳ lãnh thổ nào mà quốc gia đó
có trách nhiệm về quan hệ quốc tế. Một tuyên bố như vậy sẽ có hiệu lực khi công
ước bắt đầu có hiệu lực đối với quốc gia liên quan.
2. Tại bất
kỳ thời điểm nào sau đó, bất kỳ sự mở rộng áp dụng nào như vậy sẽ được thực
hiện bằng cách gửi thông báo cho Tổng thư ký Liên Hợp Quốc và sẽ có hiệu lực từ
ngày thứ 90 sau ngày Tổng thư lý Liên Hợp Quốc nhận được thông báo đó, hoặc
tính từ ngày Công ước có hiệu lực đối với quốc gia liên quan nếu thời điểm nào
xảy ra muộn hơn.
3. Đối với
những lãnh thổ mà công ước này không được mở rộng áp dụng tại thời điểm ký hoặc
phê chuẩn, gia nhập, mỗi quốc gia liên quan phải xem xét khả năng tiến hành
những bước cần thiết để mở rộng việc áp dụng Công ước này ở những lãnh thổ đó,
với sự chấp thuận của chính phủ những lãnh thổ đó theo những thủ tục hiến định
nếu cần thiết.
Trong
trường hợp quốc gia liên bang hoặc không đơn nhất, những quy định sau đây sẽ
được áp dụng:
(a) Đối với
những quốc gia mà điều khoản của Công ước này nằm trong thẩm quyền lập pháp của
cơ quan lập pháp liên bang, thì nghĩa vụ của chính phủ liên bang, trong chừng
mực này, sẽ tương tự như những nghĩa vụ của các quốc gia thành viên không phải
là quốc gia liên bang.
(b) Đối với
những quốc gia mà việc áp dụng những điều khoản của công ước này nằm trong thẩm
quyền lập pháp của các bang, các tỉnh mà theo quy định của hệ thống hiến pháp
liên bang, không có nghĩa vụ thực hiện cam kết của liên bang thì chính phủ liên
bang sẽ gửi những điều khoản của Công ước này kèm theo những khuyến nghị tán
thành để lưu ý các cơ quan có thẩm quyền thích hợp của các bang, các trong thời
gian sớm nhất có thể.
(c) Một
quốc gia liên bang thành viên công ước này, theo đề nghị của bất kỳ quốc gia
thành viên nào khác thông qua Tổng thư ký Liên Hợp Quốc, sẽ phải thông báo về
tình hình về pháp luật và thực tiễn của liên bang và các bộ phận cấu thành của
liên bang liên quan đến bất kỳ quy định cụ thể nào của Công ước cho thấy mức độ
hiệu lực mà hành động lập pháp hoặc hành động khác đã trao cho quy định đó.
1.Tại thời
điểm ký, phê chuẩn hay gia nhập, bất kỳ quốc gia nào đều có thể thực hiện bảo
lưu những điều khoản của Công ước, trừ các điều 1, 3, 4, 16 (1) và các điều từ
33 đến 42.
2. Bất kỳ
quốc gia nào thực hiện bảo lưu phù hợp với khoản 1 của điều này có thể rút lại
bảo lưu tại bất cứ thời điểm nào bằng một thông báo gửi cho Tổng thư ký Liên
Hợp Quốc.
1.Công ước
này sẽ bắt đầu có hiệu lực kể từ ngày thứ 90 sau ngày văn kiện phê chuẩn hay
gia nhập thứ sáu được nộp lưu chiểu.
2. Đối với
mỗi quốc gia phê chuẩn hay gia nhập công ước này sau khi văn kiện phê chuẩn hay
gia nhập thứ sáu được lưu chiểu, Công ước sẽ bắt đầu có hiệu lực kể từ ngày thứ
90 sau ngày văn kiện phê chuẩn hay gia nhập của quốc gia đó được lưu chiểu.
1. Bất kỳ
quốc gia thành viên nào đều có thể rút khỏi Công ước này tại bất kỳ thời điểm
nào bằng một thông báo gửi cho Tổng thư ký Liên Hợp Quốc.
2.Việc rút
khỏi Công ước sẽ có hiệu lực đối với quốc gia thành viên liên quan sau một năm
kể từ ngày Tổng thư ký Liên Hợp Quốc nhận được thông báo rút khỏi Công ước.
3. Bất kỳ
các quốc gia nào đã tuyên bố hoặc thông báo theo quy định tại điều 36, đều có
thể, tại bất kỳ thời điểm nào sau đó, bằng thông báo gửi đến Tổng thư ký Liên
Hợp Quốc, tuyên bố chấm dứt mở rộng việc áp dụng Công ước đối với lãnh thổ đó
sau một năm kể từ ngày Tổng thư ký nhận được thông báo đó.
1. Bất kỳ
quốc gia nào đều có thể yêu cầu xem xét lại Công ước này tại bất kỳ thời điểm
nào bằng một thông báo gửi cho Tổng thư ký Liên Hợp Quốc.
2. Đại hội
đồng Liên Hợp Quốc sẽ khuyến nghị các bước cần thực hiện, nếu có, liên quan đến
yêu cầu này.
Điều
42. Những thông báo của Tổng thư ký Liên Hợp Quốc
Tổng thư ký
Liên Hợp Quốc sẽ thông báo đến mọi quốc gia thành viên Liên Hợp Quốc và những
quốc gia không là thành viên của Liên Hợp Quốc được đề cập tại điều 35 về:
(a) việc
ký, phê chuẩn, gia nhập theo điều 35.
(b) các
tuyên bố và thông báo theo điều 36.
(c) những
bảo lưu và rút bảo lưu theo điều 38
(d) ngày mà
công ước này sẽ bắt đầu có hiệu lực theo điều 39.
(e) những
tuyên bố rút khỏi Công ước và những thông báo theo điều 40.
(f) những
yêu cầu xem xét lại Công ước theo điều 41.
Văn bản này
đã được ký kết với sự chứng nhận của những người là đại diện toàn quyền của các
chính phủ ký tên dưới đây..
Để làm
bằng, những người ký dưới đây, đã được các chính phủ ủy quyền hợp lệ, đã ký
Công ước ước này.
Làm tại New
York, ngày 28/9/1954, bằng tiếng Anh, tiếng Pháp và tiếng Tây Ban Nha, các bản
có giá trị như nhau và sẽ được lưu chiểu tại Cơ quan lưu trữ của Liên Hợp Quốc
và những bản sao được chứng thực sẽ được chuyển đến tất cả các quốc gia thành
viên Liên Hợp Quốc và các quốc gia không là thành viên được đề cập đến tại điều
35.
Mục 1.
2.Giấy tờ
sẽ được làm ít nhất bằng hai ngôn ngữ, một trong đó phải bằng tiếng Anh hoặc
tiếng Pháp.
3. Các quốc
gia thành viên sẽ xem xét các đơn xin cấp giấy thông hành.
Mục 2.
Căn cứ vào
những quy định của nước cấp giấy thông hành, giấy thông hành của trẻ em có thể
được ghi vào giấy thông hành của bố mẹ, hoặc trong những trường hợp ngoại lệ,
vào giấy thông hành của những người đã thành niên khác.
Mục 3.
Chi phí cho
việc cấp giấy thông hành sẽ không được cao hơn mức phí thấp nhất để xin hộ
chiếu của người có quốc tịch .
Mục 4.
Trong những
trường hợp đặc biệt hay ngoại lệ, giấy thông hành được cấp sẽ có giá trị pháp
lý đối với một số lượng lớn nhất các nước có thể đến.
Mục 5.
Giấy thông
hành sẽ có giá trị pháp lý không ít hơn ba tháng và không vượt quá hai năm.
Mục 6.
1.Việc ra
hạn hoặc làm mới giấy thông hành là công việc của cơ quan đã cấp giấy thông
hành, một khi người mang giấy thông hành vẫn chưa cư trú hợp pháp tại một lãnh
thổ khác mà vẫn cư trú hợp pháp tại lãnh thổ của cơ quan được nói đến.Việc cấp
một giấy thông hành mới trong cùng điều kiện như nhau là công việc của cơ quan
đã cấp giấy thông hành trước đó.
2.Những cơ
quan ngoại giao hay lãnh sự có thể được uỷ quyền để ra hạn giấy thông hành do
chính phủ của những cơ quan đó cấp trong khoảng thời gian không quá 6 tháng.
3. Các quốc
gia thành viên phải có sự xem xét cảm thông trong việc làm mới hoặc gia hạn
giấy thông hành hay cấp giấy thông hành mới cho những người không quốc tịch
không còn cư trú hợp pháp tại lãnh thổ của họ nhưng lại không thể được cấp giấy
thông hành của đất nước mà họ cư trú hợp pháp.
Mục 7.
Các quốc
gia thành viên sẽ thừa nhận giá trị pháp lý của những giấy thông hành được cấp
phù hợp với quy định của điều 28 Công ước này.
Mục 8.
Các cơ quan
có thẩm quyền của nước mà người không quốc tịch mong muốn cư trú, nếu các cơ
quan này đã chuẩn bị để chấp nhận người đó và nếu có yêu cầu về chiếu khán, sẽ
đính kèm chiếu khán vào giấy thông hành mà người đó mang theo.
Mục 9.
1.Các quốc
gia thành viên sẽ đảm nhận việc cấp chiếu khán quá cảnh cho những người không
quốc tịch đã có chiếu khán của lãnh thổ sẽ đến trong chặng hành trình cuối
cùng.
2.Việc cấp
chiếu khán trên có thể bị từ chối về những lý do có thể chứng minh cho việc từ
chối chiếu khán đối với bất kỳ người nước ngoài nào.
Mục 10.
Các khoản
phí cho việc cấp chiếu khán xuất cảnh, nhập cảnh và quá cảnh không được cao hơn
mức thấp nhất của các khoản phí về chiếu khán cho những hộ chiếu.
Mục 11.
Khi một
người không quốc tịch đã được cư trú hợp pháp ở lãnh thổ của một quốc gia thành
viên khác thì trách nhiệm cấp giấy thông hành mới, theo quy định tại điều 28,
sẽ thuộc về các cơ quan có thẩm quyền của lãnh thổ mà người không quốc tịch nộp
đơn xin cấp.
Mục 12.
Cơ quan cấp
giấy thông hành mới giữ lại giấy thông hành cũ và sẽ gửi trả giấy thông hành cũ
đến nước đã cấp nếu trong giấy thông hành cũ có ghi rõ ràng giấy thông hành đó
cần được gửi trả lại; nếu không, cơ quan cấp giấy thông hành mới sẽ giữ và huỷ
giấy thông hành đó.
Mục 13.
1.Giấy
thông hành sẽ được cấp phù hợp với điều 28 của Công ước này, trừ phi giấy thông
hành đó bao gồm một tuyên bố ngược lại, cho phép người mang nó có quyền nhiều
lần trở lại lãnh thổ của quốc gia cấp giấy thông hành tại bất kỳ thời điểm nào
trong khoảng gian đó có giá trị. Trong bất kỳ trường hợp nào, khoảng thời gian
mà người mang giấy có thể trở lại nước cấp giấy thông hành không dưới ba tháng,
trừ phi nước mà người không quốc tịch có nguyện vọng đến không đòi hỏi giấy
thông hành phải phù hợp với quyền trở lại.
2. Phụ
thuộc vào những quy định của mục trên, một quốc gia thành viên có thể yêu cầu
người mang giấy thông hành tuân thủ những thủ tục có thể được yêu cầu về việc
xuất cảnh hay nhập cảnh vào lãnh thổ của mình
Mục 14.
Căn cứ vào
những quy định của khoản 13, các quy định của Phụ lục này không ảnh hưởng đến
luật và những qui định điều chỉnh các điều kiện về việc nhận vào, quá cảnh, cư
trú và sinh sống, rời khỏi lãnh thổ của các quốc gia thành viên.
Mục 15.
Không phải
việc cấp giấy thông hành hay sự nhập cảnh được tiến hành theo đó sẽ xác định
hay ảnh hưởng đến vị thế người không quốc tịch, đặc biệt về quốc tịch.
Muc 16.
Việc cấp
giấy thông hành không cho phép, dưới bất kỳ hình thức nào, người mang giấy được
hưởng sự bảo hộ của những cơ quan ngoại giao hay lãnh sự của nước cấp giấy,
đồng thời không làm phát sinh quyền bảo vệ của các cơ quan này.
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét