TÒAÁN NHÂN DÂN TỐI CAO
____________
Số: 315/TANDTC-PC
V/vThực hiện TTLTsửa đổi, bổ sung
một số điểmcủa TTLTsố 17
CỘNG HÒAXÃHỘI CHỦ NGHĨAVIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
______________
HàNội, ngày 11tháng12năm2015
Kính gửi:- Các đồng chí Chánh án Tòa án nhân dân và Tòa án quân sự các cấp;
- Thủ trưởng các đơn vị thuộc Tòa án nhân dân tối cao.
Ngày 14-11-2015, lãnh đạo liên ngành Bộ Công an, Viện kiểmsát nhân dân tối cao, Tòa án nhân dân tối
cao, Bộ Tư pháp đã ký ban hành Thông tư liên tịch số 08/2015/TTLT-BCA-VKSNDTC-TANDTC-BTP sửa
đổi, bổ sung một số điểmcủa Thông tư liên tịch số 17/2007/TTLT-BCA-VKSNDTC-TANDTC-BTP ngày
24-12-2007 hướng dẫn áp dụng một số quy định tại Chương XVIII “Các tội
phạmvềmatúy”của Bộ luật
hình sự năm1999 (sau đây gọi tắt là Thông tư liên tịch số 08). Để bảo đảmviệc áp dụng thống nhất
trong xét xử, đáp ứng yêu cầu đấu tranh phòng, chống tội phạmma túy; đồng thời, bảo đảmquyền con
người, quyền công dân theo đúng tinh thần Hiến pháp năm2013 và yêu cầu tại Nghị quyết số
96/2015/QH13 ngày 26-6-2015 của Quốc hội khóa XIII về tăng cường các biện pháp phòng, chống oan,
sai và bảo đảmbồi thường cho người bị thiệt hại trong hoạt động tố tụng hình sự, Tòa án nhân dân tối
cao yêu cầu các đồng chí Chánh án Tòa án nhân dân và Tòa án quân sự các cấp, thủ trưởng các đơn
vị thuộc Tòa án nhân dân tối cao tổ chức phổ biến, quán triệt các nội dung hướng dẫn của Thông tư liên
tịch số 08 trong cơ quan, đơn vị mình, trong đó cần lưu ý:
1. Theo hướng dẫn tại khoản 2 Điều 1 Thông tư liên tịch số 08 thì ngoài các trường hợp bắt buộc phải
trưng cầu giámđịnh hàmlượng để xác định trọng lượng chất ma túy tại các điểma (chất ma túy, tiền
chất dùng vào việc sản xuất chất ma túy ở thể rắn được hòa thành dung dịch); b (chất ma túy, tiền chất
dùng vào việc sản xuất chất ma túy ở thế lỏng đã được pha loãng); c (xái thuốc phiện) và điểmd (thuốc
gây nghiện, thuốc hướng thần), nếu có căn cứ và xét thấy cần thiết, Tòa án trực tiếp trưng cầu giám
định để đảmbảo việc xét xử đúng pháp luật.
Để xác định đúng trọng lượng chất ma túy1 làmcăn cứ truy cứu trách nhiệmhình sự đối với người thực
hiện hành vi phạmtội về ma túy theo quy định của Bộ luật hình sự hiện hành thì đối với vụ án có thu giữ
được chất nghi là chất ma túy hoặc tiền chất dùng vào việc sản xuất trái phép chất ma túy không thuộc
một trong các trường hợp hướng dẫn tại điểma, b, c và d nêu trên mà trong quá trình điều tra, truy tố,
Cơ quan điều tra, Viện kiểmsát đã giámđịnh để xác định loại ma túy, tiền chất nhưng không trưng cầu
giámđịnh hàmlượng chất ma túy, tiền chất hoặc có nghi ngờ về kết quả giámđịnh, thì Tòa án căn cứ
vào điểmc khoản 3 Điều 2 Luật tổ chức Tòa án nhân dân năm20142, Điều 159, khoản 5 Điều 215 của
Bộ luật tố tụng hình sự năm20033 và hướng dẫn tại khoản 2 Điều 1 Thông tư liên tịch số 08 quyết định
giámđịnh bổ sung hoặc giámđịnh lại để xác định hàmlượng chất ma túy, tiền chất làmcăn cứ xác định
đúng trọng lượng chất ma túy, tiền chất nếu thuộc một trong các trường
hợp sau đây:
a) Những vụ án ma túy mà người phạmtội bị truy cứu trách nhiệmhình sự theo khung hình phạt có mức
án từ 20 nămtù, tù chung thân hoặc tử hình;
b) Những vụ án mà trong giai đoạn xét xử, Tòa án xét thấy có đủ căn cứ để xác định người thực hiện
hành vi phạmtội đã pha trộn các chất không phải là chất ma túy, tiền chất vào chất ma túy, tiền chất.
2. Cũng theo hướng dẫn tại khoản 2 Điều 1 Thông tư liên tịch số 08 thì: “trườnghợpkhôngthugiữ được
”
vật chứnglàchất matúy, tiềnchất nhưngcócăncứ xác địnhđược trọnglượngchất matúy, tiềnchất
màngười phạmtội đãmuabán, vậnchuyển,
tàngtrữ
hoặc chiếmđoạt
thìngười
phạmtội bị truy cứu tráchnhiệmhìnhsự vềcác tội danhvàđiều khoản tươngứng. Do đó, khi thụ lý, giải quyết các vụ án không thu giữ được vật chứng là chất ma túy, tiền chất hoặc đối với trường hợp qua đấu tranh, khai thác người phạmtội đã khai nhận về hành vi phạmtội trước đó mà không có vật chứng (án truy xét) thì không đặt ra yêu cầu phải giámđịnh hàmlượng chất ma túy trong những trường hợp này (vì không có tang vật để giámđịnh) mà Tòa án căn cứ vào các chứng cứ có trong hồ sơ vụ án (như lời khai nhận tội của bị cáo, lời khai của các đồng phạmkhác, lời khai của người làmchứng và các chứng cứ khác), kết luận của Cơ quan điều tra, quan điểmbuộc tội của Viện kiểmsát và kết quả tranh tụng tại phiên tòa để xét xử, kết án các bị cáo theo các tội danh và điều khoản tương ứng.
3. Khi áp dụng Thông tư liên tịch số 08 cần lưu ý hướng dẫn tại Điều 2 Thông tư này, cụ thể là:
“1. Đối với người thực hiệnhànhvi phạmtội trước ngày Thôngtư liêntịchnày cóhiệulực thi hành, nếu các hướngdẫntrongThôngtư liêntịchnày làmgiảmnhẹtráchnhiệmhìnhsự sovới các
hướngdẫn trongThôngtư liêntịchsố17/2007/TTLTthìđược ápdụngkhi điều tra, truy tố, xét xử sơthẩm, xét xử phúc thẩm, xét
xử giámđốc
thẩmhoặc tái
thẩm.
2. Đối với các trườnghợpmàngười phạmtội đãbị kết ánđúngtheoThôngtư liêntịchsố17/2007/TTLT
vàbảnánđãcóhiệulực phápluật thìkhôngápdụnghướngdẫncủaThôngtư liêntịchnày đểkháng
nghị theotrìnhtự giámđốc thẩm, tái thẩm.”
Theo nội dung nêu trên thì nếu việc áp dụng Thông tư liên tịch số 08 làmtăng nặng trách nhiệmhình sự
so với hướng dẫn trong Thông tư liên tịch số 17 thì không được áp dụng khi điều tra, truy tố, xét xử sơ
thẩm, xét xử phúc thẩm, xét xử giámđốc thẩmhoặc tái thẩmđối với người thực hiện hành vi phạmtội
trước ngày Thông tư liên tịch số 08 có hiệu lực pháp luật (ngày 30-12-2015).
4. Ngày 27 -11 - 2015, Quốc hội khóa XIII, kỳ họp thứ 10 đã thông qua Bộ luật hình sự mới thay thế Bộ
luật hình sự hiện hành trong đó có nhiều sửa đổi, bổ sung về các tội phạmvề ma túy. Bộ luật hình sự
mới có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01-7-2016; tuy nhiên, cũng có những nội dung được thi hành kể từ
ngày Bộ luật này được công bố theo Nghị quyết về việc thi hành Bộ luật hình sự. Do đó, để việc xét xử
các vụ án về ma túy bảo đảmđúng người, đúng tội, đúng pháp luật, cùng với việc phổ biến, quán triệt![]()
Thông tư liên tịch số 08, các Tòa án nhân dân và Tòa án quân sự các cấp cần chuẩn bị tốt các điều kiện
để triển khai việc nghiên cứu, quán triệt những nội dung mới của Bộ luật hình sự, Nghị quyết về việc thi
hành Bộ luật hình sự đến các Thẩmphán, Hội thẩm, Thẩmtra viên, Thư ký Tòa án và các cán bộ, công
chức khác trong cơ quan, đơn vị mình.
Tòa án nhân dân tối cao yêu cầu các đồng chí Chánh án Tòa án nhân dân và Tòa án quân sự các cấp,
Thủ trưởng các đơn vị thuộc Tòa án nhân dân tối cao, ngay sau khi nhận được Công văn này cần triển
khai thực hiện nghiêmtúc để bảo đảmviệc xét xử được thực hiện theo đúng quy định của pháp luật,
không bỏ lọt tội phạm, người phạmtội nhưng đồng thời phải bảo đảmkhông để xảy ra oan, sai trong xét
xử.
(KèmtheoCôngvănnày làThôngtư liêntịchsố08/2015/TTLT-BCA-VKSNDTC-TANDTC-BTPngày
14-11-2015củaBộCôngan, Việnkiểmsát nhândântối cao, Tòaánnhândântối cao, BộTư pháp).
Nơi nhận:
- Như kính gửi;
- Đ/c Chánh án TANDTC (để b/c);
- Các đ/c Thẩmphán TANDTC;
- Lưu: VT(VP, Vụ PC&QLKH).
KT. CHÁNH ÁN
PHÓ CHÁNH ÁN
Nguyễn Sơn
1 Tại Chương XVIII của Bộ luật hình sự năm1999 (sửa đổi, bổ sung năm2009) quy định “Các tội phạm
về ma túy” thì cụmtừ “trọng Iượng” được dùng để chỉ lượng các chất ma túy ở thể rắn. Tuy nhiên, theo
quy định tại Chương XX của Bộ luật hình sự (sửa đổi) được Quốc hội khóa XIII, kỳ họp thứ 10 thông
qua ngày 27-11-2015 và có hiệu lực từ ngày 01-7-2016 thì cụmtừ “khối lượng”
được dùng thay cho
cụmtừ “trọng lượng” để chỉ lượng chất ma túy ở thể rắn; cụmtừ “thể tích” được dùng để chỉ lượng chất
ma túy ở thể lỏng.
2 Điểmc khoản 3 Điều 2 Luật tổ chức Tòa án nhân dân năm2014 quy định: “c) Khi xét
thấy
cầnthiết,
trảhồsơyêucầuViệnkiểmsát điều trabổsung; yêucầuViệnkiểmsát bổsungtài liệu, chứngcứ
hoặc Tòaánkiểmtra, xác minh, thuthập, bổsungchứngcứ theoquy địnhcủaBộluật tốtụnghìnhsự;”
3 Khoản 5 Điều 215 Bộ luật tố tụng hình sự quy định: “5. Khi xét thấy cần thiết, Hội đồng xét xử quyết
định giảmđịnh bổ sung hoặc giảmđịnh lại.”
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét