|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỐI CAO Số: 64/TANDTC-PC |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Hà Nội, ngày 03 tháng
4 năm 2019 |
|
Kính gửi: |
- Các Tòa án nhân dân và Tòa án quân sự; |
Ngày 09-01-2019, Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối
cao đã tổ chức buổi giải đáp trực tuyến toàn quốc về một số vướng mắc trong quá
trình giải quyết các vụ án hình sự, dân sự và hành chính. Trên cơ sở các ý kiến
phản ánh vướng mắc và giải đáp của Hội đồng Thẩm phán, Tòa án nhân dân tối cao
thông báo kết quả giải đáp vướng mắc như sau:
I. Về hình sự
1. Tình tiết “đã bồi thường được một phần nghĩa vụ dân
sự” quy định tại khoản 1 Điều 63 của Bộ luật Hình sự được hiểu như thế nào?
Theo quy định tại điểm c khoản 3 Điều 40
của Bộ luật Hình sự thì không thi hành án tử hình đối với người bị kết án
tử hình về tội tham ô tài sản, tội nhận hối lộ nếu sau khi bị kết án đã
nộp lại ít nhất ba phần tư tài sản tham ô, nhận hối lộ và hợp tác tích
cực với cơ quan chức năng trong việc phát hiện, điều tra, xử lý tội phạm hoặc
lập công lớn. Tuy nhiên, đối với trường hợp bị áp dụng hình phạt cải tạo không
giam giữ, tù có thời hạn hoặc tù chung thân là loại hình phạt nhẹ hơn so với
hình phạt tử hình, nên “đã bồi thường được một phần nghĩa vụ dân sự”
quy định tại khoản 1 Điều 63 của Bộ luật Hình sự được hiểu
là đã bồi thường được ít nhất một phần hai nghĩa vụ dân sự theo
bản án, quyết định của Tòa án. Trường hợp, người bị kết án bồi thường được ít
hơn một phần hai nghĩa vụ dân sự theo bản án, quyết định của Tòa án nhưng có
văn bản miễn giảm một phần nghĩa vụ dân sự hoặc có thỏa thuận khác của phía bị
hại (có xác nhận của cơ quan có thẩm quyền) thể hiện người bị kết án đã bồi
thường được một phần hai nghĩa vụ dân sự thì cũng được coi là “đã bồi thường
được một phần nghĩa vụ dân sự”.
2. Tình
tiết “chứa mại dâm 04 người trở lên” quy định tại điểm d khoản 2
Điều 327 và “đối với 02 người trở lên” quy định tại điểm đ
khoản 2 Điều 328 của Bộ luật Hình sự được hiếu như thế nào (người bán dâm
hay bao gồm cả người mua dâm)?
Theo Từ điển Tiếng Việt thì “mại” là “bán”, “mãi” là
“mua” và “chứa mại dâm” là “chứa bán dâm”. Như vậy, tình tiết định khung tăng
nặng “chứa mại dâm 04 người trở lên” quy định tại điểm d
khoản 2 Điều 327 và “đối với 02
người trở lên” quy định tại điểm đ khoản 2 Điều 328 của Bộ luật Hình sự được hiểu là đối
với người bán dâm. Cách hiểu này là phù hợp với các tình tiết định khung tăng
nặng khác quy định tại tại Điều 327 và Điều 328 của Bộ luật Hình
sự, đồng thời cũng phù hợp với thực tiễn xử lý đối với hành vi chứa mại dâm
mà có 01 người bán dâm với 03 người mua dâm trong cùng một khoảng thời gian thì
bị xử lý theo quy định tại khoản 1 của điều luật này nếu không có tình tiết
định khung tăng nặng.
3. Trường hợp một người thực hiện nhiều lần cùng loại
hành vi
xâm phạm sở hữu, nhưng mỗi lần trị giá tài sản bị xâm phạm dưới mức tối thiểu để truy cứu trách nhiệm hình sự theo quy định của Bộ luật Hình sự và không thuộc một trong các trường hợp khác để truy cứu
trách nhiệm hình sự, đồng thời trong các hành vi xâm phạm đó chưa có lần nào bị xử phạt hành
chính và chưa hết thời hiệu xử phạt hành chính, nếu tổng trị giá tài sản của các lần bị xâm phạm bằng hoặc trên mức tối thiểu để
truy cứu trách nhiệm hình sự theo quy định của Bộ luật
Hình sự thì có xử lý về hình sự hay không?
Bộ luật Hình sự năm 2015 đã có nhiều quy định kế thừa quy
định của Bộ luật Hình sự năm 1999 về việc lấy trị giá tài sản bị chiếm đoạt làm
căn cứ để xử lý trách nhiệm hình sự. Trước đây, nội dung này đã được hướng dẫn tại Thông tư
liên tịch số 02/2001/TTLT-TANDTC-VKSNDTC-BCA-BTP ngày 25-12-2001 hướng dẫn áp
dụng một số quy định tại Chương XIV của Bộ luật Hình sự năm
1999.
Hiện nay, chưa có Nghị quyết của Hội đồng thẩm phán Tòa
án nhân dân tối cao hướng dẫn quy định này của Bộ luật Hình sự năm 2015. Tuy
nhiên, vận dụng Thông tư liên tịch số 02 này thì trường hợp một người thực hiện
nhiều lần cùng loại hành vi xâm phạm sở hữu, nhưng mỗi lần trị giá tài sản bị
xâm phạm dưới mức tối thiểu để truy cứu trách nhiệm hình sự theo quy định của
Bộ luật Hình sự và không thuộc một trong các trường hợp khác để truy
cứu trách nhiệm hình sự, đồng thời trong các hành vi xâm phạm đó chưa có lần
nào bị xử phạt hành chính và chưa hết thời hiệu xử phạt hành chính, nếu tổng
trị giá tài sản của các lần bị xâm phạm bằng hoặc trên mức tối thiểu để truy
cứu trách nhiệm hình sự theo quy định của Bộ luật Hình sự, thì người thực hiện
nhiều lần cùng loại hành vi xâm phạm sở hữu phải bị truy cứu trách
nhiệm hình sự về tội phạm tương ứng theo tổng trị giá tài sản của các lần bị
xâm phạm, nếu các hành vi xâm phạm sở hữu được thực hiện một cách liên
tục, kế tiếp nhau về mặt thời
gian.
4. Trường hợp một người thực hiện nhiều lần cùng loại
hành vi phạm tội xâm phạm sở hữu, mà trị giá tài sản của các lần phạm tội đã
được cộng lại để xử lý trách nhiệm hình sự theo khung tăng nặng, thì họ có bị
áp dụng thêm tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự “phạm tội 02 lần trở lên”
hay không?
Trường hợp một người thực hiện nhiều lần cùng một loại
hành vi phạm tội xâm phạm sở hữu (ví dụ: nhiều lần phạm tội trộm cắp tài sản),
mà tổng trị giá tài sản của các lần phạm tội thỏa mãn dấu hiệu định khung tăng
nặng, nếu các lần phạm tội đều chưa bị truy cứu trách nhiệm hình sự và chưa hết
thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự, thì ngoài việc bị áp dụng khung hình
phạt tương ứng với trị giá tài sản chiếm đoạt, họ còn bị áp dụng tình tiết tăng
nặng trách nhiệm hình sự “phạm tội 02 lần trở lên” quy định tại điểm
g khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự.
Việc áp dụng khung hình phạt tăng nặng trong trường hợp
này là căn cứ vào trị giá tài sản chiếm đoạt, còn việc áp dụng tình tiết tăng
nặng trách nhiệm hình sự “phạm tội 02 lần trở lên” là căn cứ vào nhân thân và
thái độ chấp hành pháp luật của người phạm tội, nên hoàn toàn không trái với
quy định tại khoản 2 Điều 52 của Bộ luật Hình sự (các tình
tiết đã được Bộ luật Hình sự quy định là dấu hiệu định tội hoặc định khung hình
phạt thì không được coi là tình tiết tăng nặng). Hơn
nữa, việc áp dụng pháp luật như trên còn bảo đảm thực hiện đúng nguyên tắc xử
lý trách nhiệm hình sự (quy định tại Điều 3 của Bộ luật Hình sự),
bảo đảm sự phân hóa tội phạm, cá thể hóa trách nhiệm hình sự, đồng thời bảo đảm
sự công bằng trong việc xem xét cho hưởng án treo, tha tù trước thời hạn có
điều kiện cũng như các chế định nhân đạo khác đối với người phạm tội.
Ví dụ: Một người trộm cắp 02 lần mỗi lần 2.000.000 đồng.
Do thuộc trường hợp “phạm tội 02 lần trở lên” quy định tại điểm
g khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự nên theo quy định tại Điều
65 của Bộ luật Hình sự và hướng dẫn tại Nghị quyết số 02/2018/NQ-HĐTP thì
họ không được hưởng án treo. Tuy nhiên, giả sử hai lần trộm cắp đó có tổng trị
giá tài sản là 50.000.000 đồng, nếu Tòa án chỉ căn cứ vào trị giá tài sản để áp
dụng tình tiết định khung “chiếm đoạt tài sản trị giá từ 50.000.000 đồng đến
dưới 200.000.000 đồng”, mà không căn cứ vào nhân thân và thái độ chấp hành pháp
luật của người phạm tội để áp dụng tình tiết “phạm tội 02 lần trở lên” thì họ
vẫn có thể được hưởng án treo. Việc áp dụng như vậy sẽ không bảo đảm nguyên tắc
công bằng và phù hợp trong việc xử lý.
5. Khi xem xét, áp dụng tình tiết định khung “sử dụng
mạng internet, mạng máy tính, mạng viễn thông, phương tiện điện tử để phạm tội”
quy định tại điểm c khoản 2 Điều 321 và điểm c khoản 2 Điều 322 của Bộ
luật Hình sự ngoài việc chứng minh, làm rõ các bị cáo sử dụng trang mạng
đánh bạc trực tuyến không được phép hoạt động trên lãnh thổ nước Cộng hòa xã
hội Việt Nam để đánh bạc thì có phải chứng
minh các bị cáo nhận, trả tiền thắng, thua bạc qua tài khoản mạng hay không?
Khi xem xét, áp dụng tình tiết định khung tăng nặng quy
định tại điểm c khoản 2 Điều 321 và điểm c khoản 2 Điều 322 của
Bộ luật Hình sự thì chỉ cần chứng minh các bị cáo sử dụng trang mạng đánh
bạc trực tuyến không được phép hoạt động trên lãnh thổ nước Cộng hòa xã hội
Việt Nam để đánh bạc là đã đủ điều kiện để áp dụng tình tiết định khung tăng
nặng này. Việc chứng minh các bị cáo nhận, trả tiền thắng, thua bạc bằng phương
thức nào chỉ nhằm làm sáng tỏ các tình tiết khác của vụ án.
6. Trường hợp người vay sử dụng vốn vay không đúng mục
đích vay vốn, tức là dùng vốn
vay với mục đích ban đầu là đầu tư, kinh doanh, sản xuất nhưng sau đó tiêu xài,
xây nhà cửa, mua sắm đồ
dùng, phương tiện đi lại dẫn đến không trả được nợ thì có được coi là “sử dụng
tài sản vào mục đích bất hợp
pháp dẫn đến không có khả
năng trả lại tài sản” và có bị xử
lý trách nhiệm hình sự về tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản theo quy
định tại Điều 175 của Bộ luật Hình sự năm 2015 không?
Theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 175
của Bộ luật Hình sự năm 2015 thì: “Vay, mượn, thuê tài sản của người
khác hoặc nhận được tài sản của người khác bằng hình thức hợp đồng rồi dùng thủ
đoạn gian dối hoặc bỏ trốn để chiếm đoạt tài sản đó hoặc đến thời hạn trả lại tài sản
mặc dù cỏ điều kiện, khả năng nhưng cố tình không trả”. So với quy định tại điểm a khoản 1 Điều 140 của Bộ luật
Hình sự năm 1999, điểm a khoản 1 Điều 175 của Bộ luật Hình
sự năm 2015 đã
bổ sung thêm tình tiết “đến thời hạn
trả lại tài sản mặc dù có điều kiện, khả năng nhưng
cố tình không trả”. Như vậy, người vay sử dụng vốn vay
không đúng mục đích xin vay vốn nhưng không sử dụng tài sản đó vào mục đích bất
hợp pháp (buôn lậu, rửa tiền, sản xuất, buôn bán ma túy...) mà dùng vốn vay để
tiêu xài, xây nhà cửa, mua sắm đồ dùng, phương tiện đi lại...) dẫn đến khi đến
hạn họ không có điều kiện, khả năng trả nợ thì không coi là sử dụng tài sản vào
mục đích bất hợp pháp dẫn đến không có khả năng trả lại tài sản để xử lý trách
nhiệm hình sự. Tuy nhiên, trường hợp đến thời hạn trả lại tài sản mà họ có điều
kiện, khả năng nhưng cố tình không trả (có nhà, đất đai, tài sản nhưng chây ì, tẩu tán hoặc có hành vi chống đối
lại việc kê biên, thu hồi tài sản...) thì bị xử lí trách nhiệm hình sự theo quy
định tại Điều 175 của Bộ luật Hình sự năm 2015.
7. Người chấp hành án đã chấp hành xong hình phạt tù, đã
đủ thời gian được xem là đương nhiên được xóa án tích theo quy định tại Điều 70 của Bộ luật Hình sự nhưng chưa thi hành hình phạt bổ
sung, chưa nộp tiền án phí hình sự sơ thẩm và các quyết định khác của bản án do không nhận được thông báo và quyết
định thi hành án của Cơ quan thi hành án dân sự. Trường hợp này có được đương
nhiên xóa án tích không?
Điều 70 của Bộ luật Hình sự
quy định về các điều kiện đương nhiên được xóa án tích, trong đó có điều kiện:
người bị kết án nếu từ khi chấp hành xong hình phạt chính hoặc hết thời gian
thử thách của án treo, người đó đã chấp hành xong hình phạt bổ sung, các quyết
định khác của bản án. Như vậy, Bộ luật Hình sự không quy định trường hợp loại
trừ việc người bị kết án chưa chấp xong hành hình phạt bổ sung và các quyết
định khác của bản án với bất kỳ lý do gì. Hơn nữa, pháp luật thi hành án dân sự
quy định nhiều phương thức thi hành để người phải thi hành án có
quyền lựa chọn như: tự nguyện thi hành, thỏa thuận thi hành án hoặc nhờ thân
nhân nộp thay.
Do vậy, trường hợp người bị kết án (sau này là bị can, bị
cáo trong một vụ án mới) không nhận được thông báo và quyết định thi hành án
của Cơ quan thi hành án dân sự nên chưa thi hành hình phạt bổ sung, chưa nộp
tiền án phí hình sự sơ thẩm và các quyết định khác của bản án là chưa chấp hành
xong hình phạt bổ sung và các quyết định khác của bản án. Trong trường hợp này,
người bị kết án không đương nhiên được xóa án tích theo quy định tại Điều 70 của Bộ luật Hình sự.
8. Trường hợp người thực hiện hành vi phạm tội trước
không bị truy cứu trách nhiệm hình sự do chưa đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự thì “người tiêu thụ tài sản biết rõ là do người khác phạm tội mà có” có bị truy cứu trách
nhiệm hình sự về tội chứa chấp hoặc tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà
có hay không?
Theo quy định tại Điều 323 của Bộ luật
Hình sự về tội chứa chấp hoặc tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có
thì: “1. Người nào không hứa hẹn trước mà chứa chấp, tiêu thụ tài sản biết rõ là
do người khác phạm tội mà có, thì bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm
hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm”. Theo hướng dẫn tại Thông
tư liên tịch số 09/2011/TTLT-BCA-BQP-BTP-NHNNVN-VKSNDTC-TANDTC ngày 30-11-2011
của Bộ Công an, Bộ Quốc phòng, Bộ Tư pháp, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam, Viện
kiểm sát nhân dân tối cao và Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng quy định
của Bộ luật hình sự năm 1999 về tội chứa chấp hoặc tiêu thụ tài sản do người
khác phạm tội mà có thì: “1. “Tài sản do người
khác phạm tội mà có” là tài sản do người phạm tội có được trực tiếp từ việc
thực hiện hành vi phạm tội (ví dụ: tài sản chiếm đoạt được, tham ô, nhận hối lộ...) hoặc do người phạm tội có được từ việc mua
bán, đổi chác bằng tài sản có được trực tiếp từ việc họ thực hiện hành vi phạm
tội (ví dụ: xe máy có được từ việc dùng tiền tham ô để mua); 2. “Biết
rõ tài sản là do người khác phạm tội mà có ” là có cần cứ chứng minh biết được
tài sản có được trực tiếp từ người thực hiện hành vi phạm tội hoặc có được từ
việc mua bán, đổi chác bằng tài sản có được trực tiếp từ người thực hiện hành vi
phạm tội”.
Như vậy, theo quy định tại Điều 323 của
Bộ luật Hình sự và hướng dẫn nêu trên thì mặt chủ quan của tội phạm này chỉ
bắt buộc người có hành vi chứa chấp, tiêu thụ tài sản biết tài sản đó do người
khác thực hiện hành vi phạm tội mà có, mà không buộc người tiêu thụ, chứa chấp
phải biết rõ ai là người đã trực tiếp thực hiện hành vi phạm tội để có được tài
sản đó và họ đã bị xử lý hình sự hay chưa. Do vậy, trường hợp người thực hiện
hành vi phạm tội trước không bị truy cứu trách nhiệm hình sự do chưa đủ tuổi
chịu trách nhiệm hình sự nhưng có đủ chứng cứ chứng minh được ý thức chủ quan
của người có hành vi chứa chấp, tiêu thụ biết rõ các tài sản mà họ chứa chấp,
tiêu thụ là do người khác phạm tội mà có thì bị truy cứu trách nhiệm hình sự về
tội chứa chấp hoặc tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có.
9. Trường hợp xác định được ngày, giờ, phút sinh của
người bị buộc tội thì tính tuổi
chịu trách nhiệm hình sự của người bị buộc tội là theo ngày sinh hay theo ngày,
giờ, phút sinh?
Theo quy định tại Điều 417 của Bộ luật Tố
tụng hình sự thì tuổi của người bị buộc tội được xác định theo ngày sinh mà
không tính theo giờ, phút sinh. Mặt khác, theo nguyên tắc
có lợi cho người bị buộc tội nên mặc dù xác định được ngày, giờ, phút sinh của
người bị buộc tội nhưng việc tính tuổi chịu trách nhiệm hình sự của người bị
buộc tội là theo ngày sinh.
II. Về dân sự
1. Trường hợp giao dịch chuyển nhượng nhà đất bị vô hiệu
nhưng bên nhận chuyển
nhượng đã được cấp giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà, quyền sử dụng đất và đã
thế chấp nhà, quyền sử dụng đất đó cho Ngân hàng theo đúng quy định của pháp
luật. Vậy giao dịch thế chấp đó có bị
vô hiệu không?
Tại khoản 2 Điều 133 của Bộ luật Dân sự
quy định:
“...2. Trường hợp giao dịch dân sự vô hiệu nhưng tài sản đã được đăng ký tại cơ quan nhà nước có thẩm quyền, sau đó được chuyển giao bằng một giao dịch dân sự khác cho người thứ ba
ngay tình và người này căn cứ vào việc đăng ký đó mà xác lập, thực hiện giao
dịch thì giao dịch đó không bị vô hiệu.
Trường hợp tài sản phải đăng ký mà chưa được đăng ký tại
cơ quan nhà nước có thẩm quyền thì giao dịch dân sự với người thứ ba bị
vô hiệu, trừ trường hợp người thứ ba ngay tình nhận được tài sản này thông qua
bán đấu giá
tại tổ chức có thẩm
quyền hoặc giao dịch với người mà theo bản án, quyết định của cơ quan nhà nước
có thẩm quyền là chủ sở hữu tài sản nhưng sau đó chủ thể này không phải là chủ
sở hữu tài sản do bản án, quyết định bị hủy, sửa. …”
Theo Bản thuyết minh Dự án Bộ luật Dân sự năm 2015 của
Ban soạn thảo thì quy định tại khoản 2 Điều 133 của Bộ luật Dân
sự là nhằm: “...Bảo đảm công bằng, hợp lý đối với người thiện chí, ngay tình và bảo đảm sự ổn định trong các quan hệ dân sự (các Bộ luật dân
sự trên thế giới đều ghi nhận việc bảo vệ người thứ ba ngay tình trong giao dịch dân
sự)...”. Cho nên, cụm từ “chuyển giao bằng một giao dịch dân sự khác” tại khoản
2 Điều 133 của Bộ luật Dân sự phải được áp dụng theo nghĩa rộng. Có nghĩa
là: Không chỉ có những giao dịch nhằm chuyển giao quyền sở hữu như: Hợp đồng
mua bán, tặng cho, đổi, góp vốn nhà ở; chuyển nhượng, chuyển đổi, góp vốn bằng
quyền sử dụng đất... mà cả những giao dịch nhằm chuyển giao những quyền về sở
hữu đối với tài sản hoặc quyền về sử dụng đối với thửa đất.
Đồng thời, thế chấp tài sản là một biện pháp bảo đảm,
theo quy định tại Điều 317 của Bộ luật Dân sự thì nội hàm
của thế chấp tài sản là việc người thế chấp dùng tài sản thuộc sở hữu của mình
để bảo đảm thực hiện nghĩa vụ đối với bên nhận thế chấp mà không giao tài sản
đó cho bên nhận thế chấp. Tuy nhiên, tại khoản 6 Điều 320 của
Bộ luật Dân sự quy định nghĩa vụ của bên thế chấp tài sản là: “Giao tài sản thế chấp cho bên nhận thế chấp để xử lý khi thuộc một trong
các trường hợp xử lý tài sản bảo đảm quy định tại Điều 299 của Bộ luật này...”; khoản 7 Điều 323 của Bộ luật Dân sự quy định quyền của bên nhận thế chấp: “Xử lý tài sản thế chấp
khi thuộc trường hợp quy định tại Điều 299 của Bộ luật này”. Như vậy, mục
đích của thế chấp là người có nghĩa vụ dùng tài sản thuộc sở hữu của mình để bảo
đảm thực hiện nghĩa vụ đối với bên nhận thế chấp, trong trường hợp nghĩa vụ đó
không được bên thế chấp thực hiện hoặc thực hiện không đúng thì phải giao tài
sản đã thế
chấp cho bên nhận thế chấp xử lý nhằm bảo đảm quyền lợi của
bên nhận thế chấp. Vì vậy, phải xem thế chấp tài sản là một giao dịch
chuyển giao tài sản có điều kiện; để bảo đảm quyền lợi
cho bên nhận thế chấp ngay tình thì phải hiểu quy định “chuyển giao bằng một
giao dịch dân sự khác” tại khoản 2 Điều 133 của Bộ luật Dân
sự được áp dụng cả trong trường hợp giao dịch về thế chấp tài sản.
Cho nên, trường hợp giao dịch chuyển nhượng nhà đất bị vô
hiệu nhưng bên nhận chuyển nhượng đã được cấp giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà,
quyền sử dụng đất và đã thế chấp nhà, quyền
sử dụng đất đó cho Ngân hàng theo đúng quy định của pháp luật thì giao dịch thế
chấp đó không vô hiệu.
2. Trường hợp, trên cơ sở hợp đồng chuyển nhượng, chuyển
đổi, tặng cho quyền sử dụng đất, cơ quan nhà nước có thẩm quyền đã cấp giấy
chứng nhận quyền sử dụng đối với thửa đất đó cho người nhận chuyển nhượng, nhận chuyển đổi, nhận tặng cho quyền sử dụng đất. Sau đó, các bên
tranh chấp và Tòa án xét thấy hợp đồng nói trên bị vô hiệu hoặc chấp nhận yêu
cầu hủy bỏ, như vậy khi giải quyết Tòa án có phải áp dụng Điều
34 của Bộ luật Tố tụng dân sự đưa những cơ quan đã cấp giấy chứng nhận
quyền sử dụng đất đó tham gia tố tụng với tư cách là người có quyền lợi, nghĩa
vụ liên quan để xem xét hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đã cấp cho người
nhận chuyển nhượng, nhận chuyển đổi, nhận tặng cho quyền sử dụng đất không?
Nhiệm vụ của Bộ luật Tố tụng dân sự là giải quyết vụ việc
dân sự được nhanh chóng, chính xác, công minh và đúng pháp luật, bảo vệ lợi ích
của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của cơ quan, tổ chức, cá nhân... Trên
cơ sở đó, Điều 34 của Bộ luật Tố tụng dân sự quy định khi
giải quyết các vụ việc dân sự, mà trong vụ việc đó có quyết định cá biệt của cơ
quan, tổ chức, người có thẩm quyền trái pháp luật, xâm phạm quyền, lợi ích hợp
pháp của đương sự và nội dung của quyết định đó liên quan đến vụ việc Tòa án giải
quyết thì Tòa án phải hủy quyết định đó để khôi phục quyền, lợi ích hợp
pháp của đương sự.
“Quy định này tạo cơ sở cho Tòa án chủ động trong việc hủy quyết định cá
biệt trái pháp luật có ảnh hưởng tới quyền lợi hợp pháp của đương sự, nhằm giải quyết vụ việc dân sự một cách chính
xác, toàn diện ”. (Mục 3 Bộ luật Tố
tụng dân sự ngày 10-4-2015 của Tòa án nhân dân tối cao).
Tại mục 1 Phần I của Công văn số
02/GĐ-TANDTC ngày 19-9-2016 của Tòa án nhân dân tối cao về Giải đáp nghiệp
vụ đã hướng dẫn: “Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất là quyết định hành
chính...” cá biệt. Như vậy, theo quy định tại Điều 34 của
Bộ luật Tố tụng dân sự khi giải quyết tranh chấp về quyền sử dụng đất mà
trong đó có việc cơ quan nhà nước cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đối với
thửa đất đang tranh chấp không đúng, gây thiệt hại đến quyền lợi của đương sự
thì Tòa án phải đưa cơ quan cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất tham gia tố
tụng với tư cách
là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan và xem xét hủy
giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đó.
Tuy nhiên, tại điểm d khoản 2 của Điều
106 của Luật Đất đai quy định cơ quan cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất
không được thu hồi giấy chứng nhận quyền sử dụng đất trong trường hợp “...người
được cấp Giấy chứng nhận đó đã thực hiện chuyển quyền sử dụng đất, quyền sở hữu
tài sản gắn liền với đất theo quy định của pháp luật đất đai...”. Theo Điều 195 của Luật Đất đai thì trình tự, thủ tục
cấp giấy chứng nhận hoặc xác nhận nội dung biến động do chuyển quyền sử dụng
đất do Chính phủ quy định. Điều 79 của Nghị định số
43/2014/NĐ-CP ngày 15-5-2014 của Chính phủ quy định việc đăng ký biến động,
cấp lại giấy chứng nhận quyền sử dụng đất do chuyển quyền dựa trên cơ sở hồ sơ
hợp đồng, Văn phòng đăng ký đất đai có trách nhiệm kiểm tra hồ sơ, nếu đủ điều
kiện thực hiện các quyền theo quy định thì xác nhận nội dung biến động vào Giấy
chứng nhận đã cấp hoặc lập hồ sơ trình cơ quan có thẩm quyền cấp Giấy chứng
nhận quyền sử dụng đất.
Như vậy, theo quy định của Luật Đất đai và Nghị định số
43/2014/NĐ-CP ngày 15-5-2014 của Chính phủ thì việc cấp lại Giấy chứng nhận
quyền sử dụng đất hoặc xác nhận nội dung biến động trong trường hợp thực hiện
hợp đồng (các trường hợp quy định tại khoản 3 Điều 105 của Luật
Đất đai) là thủ tục hành chính trong giao dịch dân sự, không mang tính chất
của quyết định hành chính cá biệt; cơ quan, tổ chức có thẩm quyền sẽ thực hiện
việc đăng ký biến động, cấp lại giấy chứng nhận quyền sử dụng đất trên cơ sở
kết quả giao dịch có hiệu lực. Cho nên, khi giải quyết tranh chấp về hợp đồng
chuyển quyền sử dụng đất mà hợp đồng đó bị vô hiệu, nhưng người nhận chuyển
quyền đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất hoặc đã được xác nhận nội
dung biến động thì không đưa cơ quan có thẩm quyền trong việc cấp giấy tham
gia tố
tụng và không cần phải tuyên hủy giấy chứng nhận cấp cho
người nhận chuyển nhượng. Khi Tòa án tuyên hợp đồng
chuyển quyền sử dụng đất vô hiệu thì Văn phòng đăng ký đất đai, cơ quan Tài
nguyên và Môi trường căn cứ vào bản án, quyết định của Tòa án để giải
quyết điều chỉnh biến động hoặc cấp lại giấy chứng nhận quyền sử dụng đất phù
hợp với kết quả giải quyết của Tòa án.
3. Tại phiên tòa sơ thẩm, nếu nguyên đơn rút toàn bộ yêu
cầu khởi kiện thì nguyên đơn có phải chịu án phí không? Đến ngày mở phiên tòa sơ thẩm,
nguyên đơn mới nộp đơn xin rút yêu cầu khởi kiện thì thẩm quyền ra quyết định đình chỉ giải quyết vụ án của Thẩm phán hay Hội đồng xét xử?
a) Về việc chịu án phí
Khoản 3 Điều 218 của Bộ luật Tố tụng dân sự quy định: “Trường hợp Tòa án ra quyết định đình chỉ giải quyết vụ án
dân sự do người khởi kiện rút toàn bộ yêu cầu khởi kiện quy định tại điểm c khoản 1 Điều 217 của Bộ luật này thì tiền tạm ứng án phí mà đương sự đã nộp được trả lại cho họ.”
Khoản 3 Điều 18 của Nghị quyết số 326/2016/LHBTVQH14 ngày 30-12- 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn,
giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án cũng quy định: Trường
hợp Tòa án ra quyết định đình chỉ giải quyết vụ án dân sự do người khởi kiện
rút toàn bộ yêu cầu khởi kiện theo quy định tại điểm c khoản 1
Điều 217 của Bộ luật Tố tụng dân sự thì tiền tạm ứng án phí được trả lại
cho người đã nộp.
Điểm b khoản 1 Điều 299 của Bộ luật Tố tụng dân sự quy định: “Bị đơn đồng ý thì chấp nhận việc
rút đơn khởi kiện của nguyên đơn. Hội đồng xét xử
phúc thẩm ra quyết định hủy bản án sơ thẩm và đình chỉ giải quyết vụ án. Trong
trường hợp này, các đương sự vẫn phải chịu án phí sơ thẩm theo quyết định của
Tòa án cấp sơ thẩm và phải chịu một nửa án phí phúc thẩm theo quy định của pháp luật.”
Quy định tại khoản 3 Điều 218 của Bộ luật
Tố tụng dân sự và khoản 3 Điều 18 của Nghị quyết
326/2016/UBTVQH14 không chỉ rõ là áp dụng cho giai đoạn chuẩn bị xét xử hay
tại phiên tòa thì phải được hiểu bao gồm cả giai đoạn tại phiên tòa. Không thể
áp dụng tương tự quy định của giai đoạn xét xử phúc thẩm cho phiên tòa sơ thẩm
vì sẽ là việc đặt ra một quy định mới về trách nhiệm pháp lý nặng hơn của đương
sự. Do đó, trường hợp đình chỉ xét xử sơ thẩm do nguyên đơn rút toàn bộ yêu cầu
khởi kiện, dù là trước khi mở phiên tòa hay tại phiên tòa sơ thẩm thì nguyên
đơn vẫn được trả lại tiền tạm ứng án phí; các đương sự không phải chịu án phí
sơ thẩm.
b) Về thẩm quyền ra
Quyết định đình chỉ giải quyết vụ án
Điều 219 của Bộ luật Tố tụng dân sự quy định về Thẩm quyền ra Quyết định đình chỉ giải quyết vụ án dân sự là:
“1. Trước khi mở phiên tòa,
Thẩm phán được phân công giải quyết vụ án dân sự có thẩm quyền ra quyết định...
2. Tại phiên tòa, Hội đồng xét xử có thẩm quyền ra quyết
định...”
Vậy đến ngày mở phiên tòa đã được coi là “tại phiên
tòa” hay chưa? Mục 2 Chương XIV Bộ luật Tố tụng dân sự
quy định về thủ tục bắt đầu phiên tòa. Theo quy định tại Mục này thì phiên tòa
bắt đầu bằng thủ tục “Khai mạc phiên tòa” (Điều 239).
Do đó, đến ngày mở phiên tòa (được triệu tập) nhưng chưa khai mạc phiên tòa thì
chưa coi là “bắt đầu phiên tòa”, chưa coi là “tại phiên tòa”. Nếu
nguyên đơn nộp đơn xin rút yêu cầu khởi kiện trước khi khai mạc phiên tòa thì
Thẩm phán vẫn có thẩm quyền ra quyết định đình chỉ việc giải quyết vụ án chứ
không phải là Hội đồng xét xử.
4. Trường hợp con của người để lại di sản vi phạm các quy
định tại khoản 1 Điều 621 của Bộ luật Dân sự là những
trường hợp không được quyền hưởng di sản nhưng người con này lại chết trước
hoặc cùng người để lại di sản thì con
của người này có được hưởng thừa kế thế vị đối với di sản do ông bà để lại hay
không?
Điều 652 của Bộ luật Dân sự
quy định: “Trường hợp con của người để lại di sản chết trước hoặc cùng một
thời điểm với người để
lại di sản thì cháu được hưởng phần di sản mà cha hoặc mẹ
của cháu được hưởng nếu còn sống...”.
Theo quy định tại Điều 652 nêu trên
thì: Không phải cứ con chết trước người để lại di sản thì cháu được hưởng di
sản. Thừa kế thế vị là hưởng thay và đối tượng hưởng thay đã được quy định rõ
là “phần di sản của cha hoặc mẹ của cháu được hưởng nếu còn sống”. Trường hợp một người đã không được quyền hưởng di sản
theo quy định tại khoản 1 Điều 621 của Bộ luật Dân sự, như
bị kết án về hành vi ngược đãi nghiêm trọng người cha thì họ sẽ không được
hưởng di sản của người cha. Do vậy, nếu họ còn sống khi cha chết thì họ cũng
không được hưởng di sản thừa kế nên không có “phần được hưởng nếu còn sống”
để cho người khác hưởng thế vị.
5. Trường hợp cơ quan thi hành án dân sự bán đấu giá tài sản của người phải thi hành án để thi hành án, nếu người phải thi
hành án không đồng ý với kết quả bán đấu giá
thì có quyền khởi kiện “tranh chấp về kết quả bán đấu giá
tài sản” không?
Theo quy định tại khoản 13 Điều 26 của Bộ
luật Tố tụng dân sự thì Tòa án có thẩm quyền giải quyết tranh chấp về kết
quả bán đấu giá tài sản, thanh toán phí tổn đăng ký mua tài sản bán đấu giá
theo quy định của pháp luật thi hành án dân sự.
Theo quy định tại khoản 2 Điều 102 của
Luật Thi hành án dân sự thì chỉ có hai đối tượng, cụ thể là người mua được
tài sản bán đấu giá và chấp hành viên, mới có quyền khởi kiện yêu cầu Tòa án
giải quyết tranh chấp về kết quả bán đấu giá tài sản, nếu có căn cứ chứng minh
có vi phạm trong quá trình bán đấu giá.
Như vậy, Luật Thi hành án dân sự không quy định người
phải thi hành có quyền khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết tranh
chấp về kết quả bán đấu giá tài sản. Do vậy, người phải thi hành án nếu không
đồng ý với kết quả bán đấu giá tài sản thì họ không có quyền khởi kiện yêu cầu
Tòa án giải quyết loại tranh chấp này.
Vấn đề đặt ra là tại sao Luật lại quy định như vậy? Vấn
đề này có thể giải thích như sau:
Thứ nhất, theo quy định tại khoản 2 Điều
5 của Luật Đấu giá tài sản thì đấu giá tài sản là hình thức bán tài sản có
từ hai người trở lên tham gia đấu giá theo nguyên tắc, trình tự, thủ tục được
quy định tại Luật này, trừ trường hợp quy định tại Điều 49 của Luật này. Theo
quy định tại khoản 5 thì người có tài sản đấu giá là cá
nhân, tổ chức sở hữu tài sản, người được chủ sở hữu tài sản ủy quyền bán đấu
giá tài sản hoặc người có quyền đưa tài sản ra đấu giá theo thỏa thuận hoặc
theo quy định của pháp luật; theo quy định tại khoản 6 thì
người mua được tài sản đấu giá là người trúng đấu giá và ký kết hợp đồng mua
bán tài sản đấu giá hoặc được cơ quan có thẩm quyền phê duyệt kết quả đấu giá
tài sản; theo quy định tại khoản 8 thì người trúng đấu giá
là người trả giá cao nhất so với giá khởi điểm hoặc bằng giá khởi điểm nếu không có
người trả giá cao hơn theo phương thức trả giá lên;
hoặc là người chấp nhận mức giá khởi điểm hoặc mức giá đã giảm trong trường hợp
đấu giá theo phương thức đặt giá xuống. Thực chất, đây là một giao dịch dân sự
mà chủ thể
tham gia là người có tài sản hoặc có quyền đưa tài sản ra
đấu giá và người tham gia đấu giá và người trúng đấu giá theo quy định của pháp
luật. Chỉ giữa những người này mới phát sinh quyền, nghĩa vụ có khả năng tranh
chấp với nhau có liên quan đến kết quả đấu giá và chỉ người này mới có quyền
khiếu nại hoặc khởi kiện yêu cầu Tòa án hủy kết quả đấu giá nếu họ cho rằng có
vi phạm pháp luật trong quá trình đấu giá làm ảnh hưởng đến quyền và lợi ích
của họ. Xem xét trường hợp cơ quan thi hành án bán đấu giá tài sản thì Cơ quan
thi hành mà cụ thể là Chấp hành viên là bên có quyền đưa tài sản của người phải
thi hành án ra bán đấu, mà không phải là người phải thi hành án có tài sản bị
cơ quan thi hành án kê biên và đưa ra bán đấu giá để thi hành án, bên trúng đấu
giá tài sản là người tham gia đấu giá trả giá cao nhất theo phương thức trả giá
lên hoặc chấp nhận mức giá đã giảm theo phương thức đấu giá xuống. Vì vậy, chỉ
có Chấp hành viên và người trúng đấu giá đã ký hợp đồng mua tài sản đấu giá mới
có quyền và nghĩa vụ phát sinh từ giao dịch bán đấu giá và có thể trở thành các
bên tranh chấp với nhau về kết quả bán đấu giá tài sản. Người phải thi hành án
không phải là người đưa tài sản ra bán đấu giá, tức là không tham gia, không phải
là một bên trong giao dịch này nên không có quyền và nghĩa vụ phát sinh từ giao
dịch và do đó họ không có quyền khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết tranh chấp
về kết quả bán đấu giá tài sản. Chỉ trong trường hợp duy nhất là họ tham gia và
trúng đấu giá thì lúc này với tư cách là người mua được tài sản đấu giá thì họ
mới có quyền khởi kiện.
Thứ hai, nếu người phải thi hành án có căn cứ cho rằng cơ
quan thi hành án có hành vi, quyết định kê biên, định giá và bán đấu giá đối
với tài sản của họ để thi hành án trái pháp luật thì họ có quyền khiếu nại theo
quy định tại khoản 1 Điều 140 của Luật Thi hành án dân sự.
Việc giải quyết khiếu nại của họ được thực hiện theo nguyên tắc, trình tự, thủ
tục quy định tại Mục 1 Chương VI của Luật Thi hành án dân sự.
6. Theo khoản 4 Điều 217 của Bộ luật Tố
tụng dân sự thì khi quyết định đình
chỉ vụ án “Tòa án đồng thời phải giải quyết hậu quả của việc thi hành án, các vấn đề khác có liên quan (nếu có)”, trường hợp nguyên đơn được triệu tập hợp lệ lần thứ hai mà vẫn vắng mặt thì Tòa án có giải
quyết việc thi hành án trong quyết định đình chỉ hay không?
Theo quy định tại khoản 4 Điều 217 của Bộ
luật Tố tụng dân sự thì: “Đối với vụ án được xét xử lại theo thủ tục sơ thẩm sau khi có quyết định giám đốc thẩm,
tái thẩm mà Tòa án quyết định đình chỉ việc giải quyết vụ án thì Tòa án đồng thời
phải giải quyết hậu quả của việc thi hành án, các vấn đề khác có liên quan (nếu có); trường hợp nguyên đơn rút đơn khởi kiện hoặc đã được
triệu tập hợp lệ lần thứ hai mà vẫn vắng mặt thì việc đình chỉ giải quyết vụ án phải có sự đồng ý của bị đơn, người
có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan.”
Theo quy định nêu trên thì trong trường hợp vụ án đã có
quyết định giám đốc thẩm, tái thẩm hủy án để xét xử lại, quá trình giải quyết
lại sơ thẩm, nguyên đơn rút toàn bộ đơn khởi kiện hoặc đã được triệu tập hợp lệ
lần thứ hai mà vẫn vắng mặt nhưng họ không đề nghị xét xử vắng mặt hoặc vì sự
kiện bất khả kháng, trở ngại khách quan thì việc đình chỉ giải quyết vụ án phải
được sự đồng ý của bị đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan. Do vậy,
trường hợp nguyên đơn rút toàn bộ đơn khởi kiện hoặc đã được triệu tập hợp lệ
lần thứ hai mà vẫn vắng mặt nhưng họ không đề nghị xét xử vắng mặt hoặc vì sự
kiện bất khả kháng, trở ngại khách quan, Tòa án phải hỏi ý kiến của bị đơn,
người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan về việc có đồng ý đình chỉ giải quyết vụ
án hay không, có yêu cầu giải quyết hậu quả của việc thi hành án, các vấn đề
khác có liên quan không và tùy từng trường hợp xử lý như sau:
- Trường hợp bị đơn không đồng ý đình chỉ giải quyết vụ
án, yêu cầu giải quyết hậu quả của việc thi hành án, các vấn
đề khác có liên quan thì Tòa án ra quyết định đình chỉ yêu cầu của nguyên đơn,
xác định lại tư cách bị đơn trở thành nguyên đơn và nguyên đơn trở
thành bị đơn.
- Trường hợp bị đơn đồng ý đình chỉ giải
quyết vụ án nhưng người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không đồng ý đình chỉ
giải quyết vụ án, yêu cầu giải quyết hậu quả của việc thi hành án, các vấn
đề khác có liên quan, yêu cầu độc lập thì Tòa án ra quyết định đình chỉ yêu
cầu của nguyên đơn, đình chỉ yêu cầu phản tố của bị đơn (nếu có); người có
quyền, nghĩa vụ liên quan trở thành nguyên đơn, người nào bị người có quyền,
nghĩa vụ liên quan yêu cầu Tòa án giải quyết thì trở thành bị đơn. Tòa án tiếp
tục giải quyết vụ án theo thủ tục chung.
- Trường hợp bị đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên
quan đồng ý đình chỉ giải quyết vụ án, không yêu cầu giải quyết hậu quả của
việc thi hành án, các vấn đề khác có liên quan thì Tòa án đình chỉ giải quyết
vụ án và giải quyết vấn đề án phí, không giải quyết vấn đề hậu quả của việc thi
hành án.
- Trường hợp bị đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên
quan đã được Tòa án triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai để hỏi ý kiến về việc có
đồng ý đình chỉ giải quyết vụ án hay không, có yêu cầu giải quyết hậu quả của
việc thi hành án, các vấn đề khác có liên quan không nhưng vẫn vắng mặt nhưng
không vì sự kiện bất khả kháng, trở ngại khách quan thì coi như đồng ý đình chỉ
việc giải quyết vụ án.
III. Về tố tụng hành
chính
1. Trong vụ án hành chính, một thành viên hộ gia đình khởi kiện quyết định hành chính thu hồi đất của cơ quan nhà nước có thẩm quyền
đối với hộ gia đình thì Tòa án có phải đưa các thành viên khác của hộ gia đình
tham gia tố
tụng với tư cách người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan hay không?
Theo quy định tại khoản 10 Điều 3 của
Luật Tố tụng hành chính thì: “Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là cơ quan, tổ chức, cá nhân tuy không khởi kiện, không bị kiện, nhưng việc giải quyết vụ án hành chính có liên quan
đến quyền lợi, nghĩa vụ của họ nên họ tự mình hoặc đương sự khác đề nghị và được
Tòa án nhân dân chấp nhận hoặc được Tòa án đưa vào tham gia tố tụng với tư cách là người có quyền lợi, nghĩa vụ
liên quan”;
Theo quy định tại khoản 29 Điều 3 của
Luật Đất đai thì: “Hộ gia đình sử dụng đất là những người có quan hệ hôn nhân, huyết thống, nuôi dưỡng theo quy định của pháp luật về hôn nhân và gia đình, đang
sống chung và có quyền sử dụng đất chung tại thời điểm được Nhà nước giao đất,
cho thuê đất, công nhận quyền sử dụng đất; nhận chuyển quyền sử dụng đất”.
Do đó, khi xem xét tính hợp pháp của quyết
định hành chính liên quan đến quyền sử dụng đất của hộ gia đình thì Tòa án phải
đưa các thành viên còn lại của hộ gia đình tại thời điểm được Nhà nước giao
đất, cho thuê đất, công nhận quyền sử dụng đất hoặc nhận chuyển quyền sử dụng
đất tham gia tố tụng với tư cách người có quyền lợi nghĩa vụ liên
quan để bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp cho họ.
2. Để ban hành quyết định hành chính thì Chủ tịch Ủy ban
nhân dân cấp tỉnh đã căn cứ trên cơ sở ý kiến của Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp huyện, Ủy ban nhân dân cấp huyện
(tại một số công văn, báo cáo...).
Trường hợp quyết định hành chính của Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh bị khởi kiện thì Tòa án có phải đưa Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp huyện, Ủy ban
nhân dân cấp huyện tham gia tố tụng với tư cách người có quyền lợi, nghĩa vụ
liên quan hay không?
Theo quy định tại khoản 10 Điều 3 của
Luật Tố tụng hành chính thì: “Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là cơ quan, tổ chức, cá nhân tuy không khởi kiện,
không bị kiện, nhưng việc giải quyết vụ án hành chính có liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của họ nên họ tự mình hoặc đương sự khác
đề nghị và được Tòa án nhân dân chấp nhận hoặc được Tòa án đưa vào tham gia tố
tụng với tư cách là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên
quan”;
Theo quy định tại khoản 2 Điều 21 của
Luật Khiếu nại thì Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh có thẩm quyền giải
quyết khiếu nại lần hai đối với quyết định hành chính, hành vi hành chính của
Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp huyện; theo quy định tại điểm a
khoản 3 Điều 203 của Luật Đất đai thì Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh có
thẩm quyền giải quyết khiếu nại đối với quyết định giải quyết tranh chấp đất
đai của Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp huyện.
Theo quy định tại khoản 1 và khoản 2 Điều
193 của Luật Tố tụng hành chính thì:
“1. Hội đồng xét xử xem xét tính hợp pháp của quyết định hành chính... quyết định giải quyết khiếu nại có
liên quan.
2. Hội đồng xét xử có quyền quyết định:
...b) Chấp nhận một phần hoặc toàn bộ yêu cầu khởi kiện, tuyên hủy một phần hoặc toàn bộ quyết định hành chính trái pháp
luật và quyết định giải quyết khiếu nại có liên quan (nếu có)... ”
Theo các quy định nêu trên thì khi xem xét yêu cầu khởi
kiện mà Tòa án phải xem xét tính hợp pháp của quyết định hành
chính có liên quan do Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp huyện, Ủy ban nhân dân cấp
huyện ban hành, thì phải đưa Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp huyện, Ủy ban nhân
dân cấp huyện tham gia tố tụng với tư cách người có quyền
lợi, nghĩa vụ liên quan trong vụ án. Đối với trường hợp này, các
văn bản hành chính của Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp huyện, Ủy ban nhân dân cấp
huyện ban hành (công văn, báo cáo...) không phải là quyết định hành chính có
liên quan nên Tòa án không đưa Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp huyện, Ủy ban nhân
dân cấp huyện tham gia tố tụng với tư cách người có quyền lợi, nghĩa vụ liên
quan trong vụ án.
3. Tại phiên tòa sơ thẩm, nếu người bị kiện sửa đổi hoặc
hủy bỏ quyết định hành chính bị khiếu kiện nhưng người khởi kiện không rút đơn khởi kiện thì Tòa án xử bác đơn khởi kiện do đối tượng khởi kiện không còn có
đúng không?
Trong quá trình giải quyết vụ án hành chính, người bị
kiện có quyền sửa đổi hoặc hủy bỏ quyết định hành chính theo quy định tại khoản 4 Điều 57 của Luật Tố tụng hành chính.
Trường hợp tại phiên tòa sơ thẩm, người bị kiện cam kết
sửa đổi, bổ sung, thay thế, hủy bỏ quyết định bị khởi kiện và người khởi kiện
cam kết rút đơn
khởi kiện thì Tòa án căn cứ vào Điều 187
của Luật Tố tụng hành chính để tạm ngừng phiên tòa. Hết
thời hạn tạm ngừng phiên tòa mà người bị kiện ban hành quyết định hành chính mới, người
khởi kiện đồng ý rút đơn khởi kiện thì Hội đồng xét xử quyết định đình chỉ giải
quyết vụ án.
Trường hợp tại phiên tòa sơ thẩm, người bị kiện xuất
trình quyết định hành chính mới sửa đổi, bổ sung, thay thế, hủy bỏ quyết định
bị khởi kiện mà người khởi kiện đồng ý rút đơn khởi kiện thì Tòa án ra quyết
định đình chỉ giải quyết vụ án. Nếu người khởi kiện không
rút đơn khởi kiện thì Tòa án phải tiếp tục xem xét tính hợp
pháp của quyết định hành chính bị khởi kiện và quyết định hành chính mới. Trong
trường hợp này, Tòa án căn cứ vào khoản 2 Điều 193 của Luật Tố
tụng hành chính để tùy vào từng trường hợp cụ thể mà bác yêu cầu khởi kiện
nếu yêu cầu đó không có căn cứ pháp luật hoặc chấp nhận một phần hoặc toàn bộ
yêu cầu khởi kiện nếu quyết định hành chính bị khởi kiện, quyết định hành chính
mới trái pháp luật. Trường hợp quyết định hành chính mới có liên quan đến quyền
và nghĩa vụ của cơ quan, tổ chức, cá nhân khác thì phải tạm ngừng phiên tòa để
đưa cơ quan, tổ chức, cá nhân đó tham gia tố tụng với tư cách người có quyền
lợi, nghĩa vụ liên quan và giải quyết vụ án theo thủ tục chung.
4. Trong vụ án hành chính đã có quyết định giải quyết
khiếu nại của Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp huyện, nhưng người khởi kiện chỉ khởi kiện đối với quyết định hành chính của Chủ tịch
Ủy ban nhân dân cấp xã. Vậy xác định thẩm quyền giải quyết theo thủ tục sơ thẩm
là của Tòa án nhân dân cấp huyện hay Tòa án nhân dân cấp tỉnh?
Theo quy định của Điều 193 của Luật Tố
tụng hành chính thì khi giải quyết vụ án hành chính, Hội đồng xét xử có
thẩm quyền xem xét tính hợp pháp của quyết định hành chính và quyết định giải quyết khiếu nại có liên
quan.
Theo quy định tại khoản 4 Điều 32 của
Luật Tố tụng hành chính thì Tòa án cấp tỉnh giải quyết theo thủ tục sơ thẩm
những khiếu kiện quyết định hành chính, hành vi hành chính của Ủy ban nhân dân
cấp huyện, Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp huyện trên cùng phạm vi địa giới hành
chính với Tòa án.
Trong trường hợp này, Tòa án phải xem xét tính hợp pháp
của quyết định hành chính của Ủy ban nhân dân cấp xã và quyết định giải quyết
khiếu nại Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp huyện. Trong điều kiện hiện nay, các Tòa
án nhân dân cấp tỉnh đang bị áp lực lớn về công việc, để tránh
việc chuyên quá nhiều vụ án hành chính lên Tòa án nhân dân cấp tỉnh và phù hợp
với các quy định của pháp luật thì trong trường hợp này Tòa án nhân dân cấp
huyện vẫn thụ lý, xem xét giải quyết vụ án hành chính. Trường hợp có căn cứ xác
định quyết định giải quyết khiếu nại của Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp huyện
trái pháp luật và phải hủy quyết định hành chính này mới bảo đảm quyền và lợi
ích hợp pháp của đương sự thì Tòa án nhân dân cấp huyện đang thụ lý, giải quyết
vụ án đình chỉ việc xét xử và chuyển hồ sơ vụ án cho Tòa án nhân dân cấp tỉnh
có thẩm quyền giải quyết. Trường hợp có căn cứ xác định quyết định giải quyết
khiếu nại của Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp huyện đúng pháp luật, không xâm phạm
đến quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự và không phải hủy quyết định hành
chính này thì Tòa án nhân dân cấp huyện đang thụ lý, xem xét tiếp tục giải
quyết vụ án.
5. Việc chỉnh
lý bản đồ địa chính cấp xã có là đối tượng khởi kiện vụ án hành chính không? Nếu thuộc đối tượng khởi kiện thì xác định người bị kiện trong trường hợp này
là ai?
Theo quy định tại khoản 3 Điều 22 và
khoản 3 Điều 31 của Luật Đất đai thì việc khảo sát, đo đạc, lập bản đồ địa
chính thuộc nội dung quản lý nhà nước về đất đai do Bộ trưởng Bộ Tài nguyên và
Môi trường quy định.
Theo quy định tại khoản 6 Điều 22 Thông
tư số 25/2014/TT-BTNMT quy định về bản đồ địa chính ngày 19-05-2014 và điểm e khoản 5 Điều 2 của Thông tư liên tịch số
50/2014/TTLT-BTNMT-BNV ngày 28-8-2014 hướng dẫn về chức năng, nhiệm vụ,
quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Sở Tài nguyên và Môi trường thuộc Ủy ban nhân
dân cấp tỉnh và Phòng Tài nguyên và Môi trường thuộc Ủy ban nhân dân cấp huyện
thì Sở Tài nguyên và Môi trường có trách nhiệm trong việc lập, chỉnh lý và ký
duyệt nghiệm thu bản đồ địa chính.
Như vậy, căn cứ vào các quy định nêu trên thì bản đồ địa
chính cấp xã được xác định là quyết định hành chính, nếu việc chỉnh lý bản đồ
địa chính cấp xã thuộc trường hợp quy định tại khoản 2 Điều 3
của Luật Tố tụng hành chính thì là đối tượng khởi kiện vụ án hành chính.
Việc lập, chỉnh lý, ký duyệt bản đồ địa chính do Sở Tài
nguyên và Môi trường hoặc do cơ quan, tổ chức khác thực hiện thì người bị kiện
được xác định là cơ quan, tổ chức đã thực hiện việc lập, chỉnh lý, ký duyệt bản
đồ địa chính mà người khởi kiện cho rằng việc chỉnh lý đó xâm phạm đến quyền và
lợi ích hợp pháp của họ theo quy định tại khoản 9 Điều 3 của
Luật Tố tụng hành chính.
Trên
đây là kết quả giải đáp trực tuyến một số vướng mắc của Hội
đồng Thẩm phán, Tòa án nhân dân tối cao thông báo để các Tòa án nghiên cứu tham khảo trong quá trình giải quyết các vụ việc thuộc
thẩm quyền.
|
Nơi nhận: |
KT. CHÁNH ÁN |
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét