|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỐI
CAO Số: 89/TANDTC-PC |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ
NGHĨA VIỆT NAM Hà Nội, ngày 30 tháng
6 năm 2020 |
|
Kính gửi: |
-
Các Tòa án nhân dân và Tòa án quân sự; |
Ngày
18-5-2020, Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao đã tổ chức phiên họp trực
tuyến để giải đáp một số vướng mắc trong quá trình giải quyết các vụ án hình
sự, hành chính và dân sự. Trên cơ sở các ý kiến phản ánh vướng mắc và giải đáp
của Hội đồng Thẩm phán, Tòa án nhân dân tối cao thông báo kết quả giải đáp
vướng mắc như sau:
1. Đối tượng có hành vi đưa ma túy cho người khác sử dụng, nhưng
không phát hiện có người chỉ huy, phân công, điều hành đối tượng để đưa ma túy
cho người khác sử dụng. Vậy trường hợp này có xử lý đối tượng là người trực
tiếp đã cung cấp ma túy cho người khác về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất
ma túy” hay không?
Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy không đồng nhất với khái niệm
“phạm tội có tổ chức”. Theo quy định tại Điều 17 của Bộ luật Hình sự thì “Phạm
tội có tổ chức là hình thức đồng phạm có sự câu kết chặt chẽ giữa những người
cùng thực hiện tội phạm.” Người tổ chức là người chủ mưu, cầm đầu, chỉ huy
việc thực hiện tội phạm. Còn tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy được hiểu là
thực hiện một trong các hành vi bố trí, sắp xếp, điều hành con người, phương
tiện; cung cấp ma túy, điểm, phương tiện, dụng cụ… để thực hiện việc sử
dụng trái phép chất ma túy[1]. Trong tội tổ chức sử
dụng trái phép chất ma túy cũng có đồng phạm nhưng đồng phạm ở đây được hiểu là
thực hiện theo sự chỉ huy, phân công điều hành (không có sự câu kết chặt chẽ
giữa những người cùng thực hiện tội phạm, không bắt buộc phải có sự phân công,
chỉ đạo, điều hành chặt chẽ trong các đồng phạm).
Do đó, hành vi cung cấp ma túy cho người khác sử dụng là một trong
các hành vi “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”. Người có hành vi này bị xử
lý theo quy định tại Điều 255 của Bộ luật Hình sự.
2. Trường hợp rủ nhau sử dụng trái phép chất ma
túy thì có được xác định là rủ rê, dụ dỗ người khác sử dụng trái phép chất ma
túy để xử lý hình sự theo quy định tại Điều 258 của Bộ luật
Hình sự hay không?
Khoản 1
Điều 258 của Bộ luật Hình sự quy định: “Người nào rủ rê, dụ dỗ, xúi
giục hoặc bằng các thủ đoạn khác nhằm lôi kéo người khác sử dụng trái phép chất
ma túy, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm”.
Như vậy,
người có hành vi dụ dỗ, khêu gợi sự ham muốn của người khác để họ sử dụng trái
phép chất ma túy với mình thì thuộc trường hợp rủ rê, lôi kéo theo quy định tại
Điều 258 của Bộ luật Hình sự. Tuy nhiên, đối với trường hợp các con nghiện cùng
nhau góp tiền, cùng nhau sử dụng ma túy thì không xác định là rủ rê, lôi kéo
người khác sử dụng ma túy theo quy định tại Điều 258 của Bộ luật Hình sự.
Ví dụ:
- Nguyễn
Văn A (không nghiện ma túy) nhưng A đã dụ dỗ, khêu gợi sự ham muốn của Nguyễn
Văn B để B sử dụng trái phép chất ma túy với mình. Trường hợp này xác định là
rủ rê, lôi kéo người khác sử dụng ma túy theo quy định tại Điều 258 của Bộ luật
Hình sự.
- Nguyễn
Văn A (nghiện ma túy) đã dụ dỗ, khêu gợi sự ham muốn của Nguyễn Văn B (không
nghiện ma túy) để B sử dụng trái phép chất ma túy với mình. Trường hợp này xác
định là rủ rê, lôi kéo người khác sử dụng ma túy theo quy định tại Điều 258 của
Bộ luật Hình sự.
- Nguyễn
Văn A (nghiện ma túy) rủ Nguyễn Văn B (nghiện ma túy) cùng nhau góp tiền, cùng
nhau sử dụng trái phép chất ma túy, mặc dù A đã có hành vi dụ dỗ để B cùng sử
dụng trái phép chất ma túy, nhưng không xác định đây là rủ rê, lôi kéo người
khác sử dụng ma túy theo quy định tại Điều 258 của Bộ luật Hình sự.
3.
Tình tiết “đối với 02 người trở lên” quy định tại điểm c khoản 2 Điều 251 (tội
mua bán trái phép chất ma túy) của Bộ luật Hình sự được hiểu là trong 01 lần
phạm tội với 02 người trở lên hay bao gồm cả phạm tội từ 02 lần trở lên nhưng
mỗi lần là 01 người khác nhau?
Tình tiết “đối với 02 người trở lên” quy định tại điểm c khoản 2
Điều 251 Bộ luật Hình sự được hiểu là trong một lần phạm tội, người phạm tội đã
mua bán trái phép chất ma túy đối với từ 02 người trở lên. Nội dung này cũng
phù hợp với hướng dẫn tại tiểu mục 2.4 Phần I Thông tư liên tịch số
17/2007/TTLT-BCA-VKSNDTC-TANDTC-BTP ngày 24-12-2007 là “phạm tội đối với
nhiều người” quy định tại khoản 2 các điều 197, 198 và 200
của Bộ luật Hình sự năm 1999 được hiểu là trong một lần phạm tội,
người phạm tội đã thực hiện tội phạm đối với từ hai người trở lên”.
Ví dụ:
- Trong một lần phạm tội, Nguyễn Văn A vừa bán ma túy cho Nguyễn
Văn C, vừa bán ma túy cho Nguyễn Văn D. Trường hợp này, A bị áp dụng tình tiết
“đối với 02 người trở lên” quy định tại điểm c khoản 2 Điều 251 của Bộ luật
Hình sự.
- Ngày 12-8-2019, Nguyễn Văn A bán ma túy cho Nguyễn Văn C. Ngày
01-10-2019, A bán ma túy cho Nguyễn Văn D. Trường hợp này, A bị áp dụng tình
tiết “phạm tội 02 lần trở lên” quy định tại điểm b khoản 2 Điều 251 của Bộ luật
Hình sự.
- Ngày
12-4-2020, Nguyễn Văn A vừa bán ma túy cho Nguyễn Văn C, vừa bán ma túy cho
Nguyễn Văn D. Ngày 10-5-2020, A bán ma túy cho Nguyễn Thị H. Trường hợp này, A
bị áp dụng tình tiết “phạm tội 02 lần trở lên” và tình tiết “đối với 02 người
trở lên” quy định tại điểm b và c khoản 2 Điều 251 của Bộ luật Hình sự.
4. Trường hợp thu giữ được chất ma túy tổng hợp (dạng viên nén),
bên trong có chứa nhiều loại chất ma túy khác nhau và theo quy định của Bộ luật
Hình sự các chất ma túy này bị xử lý ở các điểm khác nhau (Ví dụ: chất thu giữ
được là ma túy tổng hợp có chứa MDMA, Methamphetamine và Methylphenidate, trong
đó MDMA, Methamphetamine được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249,
Methylphenidate là ma túy thể rắn được quy định tại điểm g khoản 1 Điều 249),
thì có phải giám định hàm lượng để phân tách khối lượng từng loại chất ma túy
làm căn cứ xử lý trách nhiệm hình sự hay không?
Điểm i khoản 1 Điều 2 Nghị quyết số 41/2017/QH14 ngày 20-6-2017 của
Quốc hội quy định: “Trường hợp chất thu giữ được nghi là chất ma túy ở thể
rắn đã được hòa thành dung dịch, chất ma túy ở thể lỏng đã được pha loãng, xái
thuốc phiện hoặc thuốc gây nghiện, thuốc hướng thần quy định tại các Điều 248,
249, 250, 251 và 252 của Bộ luật Hình sự năm 2015 thì phải xác định hàm lượng
chất ma túy làm cơ sở để xác định khối lượng hoặc thể tích chất ma túy thu giữ
được. Đối với các trường hợp khác thì thực hiện theo quy định của Bộ luật Tố
tụng hình sự số 101/2015/QH13.”.
Điều 206 của Bộ luật Tố tụng hình sự quy định: “Bắt buộc phải
trưng cầu giám định khi cần xác định:
…5. Chất ma tuý…”.
Như vậy, trong trường hợp chất thu giữ đã được xác định là ma túy
dạng MDMA, Methamphetamine và Methylphenidate thì không thuộc trường hợp phải
giám định hàm lượng.
5. Trong vụ án mua bán trái phép chất ma túy, các đối tượng đã trộn
ma túy ở thể rắn vào chất rắn khác, sau đó dập thành viên nén để bán. Qua giám
định xác định chất thu giữ là chất ma túy nhưng hàm lượng ma túy thấp. Trường
hợp này để xử lý hình sự thì căn cứ vào khối lượng chất thu giữ hay phải giám
định hàm lượng để xác định khối lượng ma túy trong chất thu giữ.
Về nguyên tắc việc giám định để xác định chất ma túy, khối lượng và
hàm lượng chất ma túy phải thực hiện theo đúng quy định tại Điều 206 của Bộ
luật Tố tụng hình sự và điểm i khoản 1 Điều 2 Nghị quyết số 41/2017/QH14 ngày
20-6-2017 của Quốc hội.
Đối với trường hợp có căn cứ xác định đối tượng đã trộn ma túy với
chất rắn khác để bán và qua giám định xác định chất thu giữ là chất ma túy
nhưng hàm lượng ma túy thấp thì cần căn cứ và kết luận giám định về hàm lượng
để xác định khối lượng chất ma túy làm cơ sở để xử lý hình sự.
Cũng cần lưu ý rằng, nếu theo kết luận giám định chất thu giữ ko
phải là ma túy, nhưng người thực hiện hành vi mua bán, trao đổi… ý thức rằng đó
là chất ma túy thì bị xử lý về tội mua bán trái phép chất ma túy theo quy định
tại khoản 1 Điều 251 của Bộ luật Hình sự, nếu ko có các tình tiết định khung
tăng nặng khác.
Trường hợp
một người biết là chất ma túy giả nhưng làm cho người khác tưởng là chất ma túy
thật nên mua bán, trao đổi… thì người đó không bị truy cứu trách nhiệm hình sự
về tội phạm về ma túy mà bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội lừa đảo chiếm
đoạt tài sản theo Điều 174 của Bộ luật Hình sự, nếu thỏa mãn các dấu hiệu
khác nữa trong cấu thành tội phạm của tội này.
6. Trường hợp thu được 02 chất ma túy trở lên, nhưng đều được quy
định trong một điểm của điều luật (ví dụ Heroine và MDMA) thì có cộng tổng các
chất ma túy và xử lý theo điểm đó hay xử lý theo điểm “có 02 chất ma túy trở
lên mà tổng khối lượng hoặc thể tích của các chất đó tương đương với khối lượng
hoặc thể tích chất ma túy quy định tại một trong các điểm từ….khoản này”?
Trường hợp này đã được quy định tại Điều 4 và hướng dẫn tại Mục 1
Phụ lục của Nghị định số 19/2018/NĐ-CP ngày 02-2-2018, cụ thể:
“Trường hợp các chất ma túy đó đều được quy định trong cùng một
điểm của khoản 2, 3, 4 Điều 248; hoặc trong cùng một điểm của khoản 1, 2, 3, 4
Điều 249; hoặc trong cùng một điểm của khoản 1, 2, 3, 4 Điều 250; hoặc trong
cùng một điểm của khoản 2, 3, 4 Điều 251; hoặc trong cùng một điểm của khoản 1,
2, 3, 4 Điều 252 của Bộ luật Hình sự năm 2015, thì cộng khối lượng hoặc thể
tích của các chất ma túy lại với nhau và đối chiếu với quy định về khối lượng
hoặc thể tích của nhóm chất ma túy đó trong các khoản của điều luật được áp
dụng để xác định tổng khối lượng hoặc thể tích của các chất ma túy thuộc trường
hợp quy định tại khoản nào của điều luật được áp dụng.”
Ví dụ: Một
người mua bán trái phép 03 gam Heroine, 03 gam Cocaine, 03 gam Methamphetamine,
20 gam Amphetamine và 20 gam MDMA. Tổng khối lượng các chất ma túy trong trường
hợp này được xác định như sau:
Căn cứ quy
định tại Điều 251 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (Tội mua bán trái phép chất ma
túy), thì Heroine, Cocaine, Methamphetamine, Amphetamine và MDMA là các chất ma
túy được quy định trong cùng một điểm tại các khoản của Điều 251 của Bộ luật
Hình sự năm 2015 (cụ thể gồm: điểm i khoản 2; điểm b khoản 3; điểm b khoản 4
Điều 251), vì vậy sẽ áp dụng quy định tại Điều 4 của Nghị định số 19 để tính
tổng khối lượng của Heroine, Cocaine, Methamphetamine, Amphetamine và MDMA như
sau:
- Cộng khối
lượng của từng chất lại với nhau để xác định tổng khối lượng của 05 chất ma túy
Heroine, Cocaine, Methamphetamine, Amphetamine, MDMA là: 03 gam + 03 gam + 03
gam + 20 gam + 20 gam = 49 gam.
- Đối chiếu
tổng khối lượng của 05 chất ma túy với quy định tại điểm i khoản 2; hoặc điểm b
khoản 3; hoặc điểm b khoản 4 Điều 251 của Bộ luật Hình sự năm 2015, thì trong
trường hợp này tổng khối lượng của 05 chất ma túy tương đương với khối lượng
Heroine, Cocaine, Methamphetamine, Amphetamine hoặc MDMA được quy định tại điểm
b khoản 3 Điều 251 của Bộ luật Hình sự năm 2015.
- Xác định
điểm, khoản, điều luật: Như vậy trong trường hợp này tổng khối lượng của 05
chất ma túy Heroine, Cocaine, Methamphetamine, Amphetamine và MDMA thuộc trường
hợp quy định tại điểm h khoản 3 Điều 251 của Bộ luật Hình sự năm 2015, cụ thể:
“h) Có 02 chất ma túy trở lên mà tổng khối lượng hoặc thể tích của các chất
đó tương đương với khối lượng hoặc thể tích chất ma túy quy định tại một trong
các điểm từ điểm a đến điểm g khoản này”.
Như vậy,
trường hợp thu được 02 chất ma túy trở lên mà đều được quy định trong một điểm
của điều luật thì áp dụng khoản tương ứng “có 02 chất ma túy trở lên mà tổng
khối lượng hoặc thể tích của các chất đó tương đương với khối lượng hoặc thể
tích chất ma túy quy định tại một trong các điểm…”.
7. Trường hợp đối tượng bị bắt quả tang bán ma túy. Qua điều tra
thu được một lượng ma túy khác mà đối tượng này cất giấu trong nhà, đối tượng
khai vừa để sử dụng vừa để bán thì xử lý đối tượng này về tội mua bán trái phép
chất ma túy hay tội tàng trữ trái phép chất ma túy?
Trường hợp này phải căn cứ vào hành vi và ý thức chủ quan của người
phạm tội để xem xét trách nhiệm hình sự. Nếu các hành vi đủ yếu tố cấu thành
của 02 tội thì xem xét xử lý cả về 02 tội theo quy định của Bộ luật Hình sự.
Trường hợp bắt được đối tượng mua bán trái phép chất ma túy, sau đó đối tượng
khai có tàng trữ trái phép chất ma túy ở nhà để sử dụng thì xem xét xử lý đối
tượng này về tội mua bán trái phép chất ma túy và tội tàng trữ trái phép chất
ma túy. Trường hợp bắt được đối tượng mua bán trái phép ma túy, sau đó đối
tượng tiếp tục khai còn tàng trữ ma túy trái phép chất ma túy ở nhà để mua bán
thì cộng tổng khối lượng ma túy để xử lý về tội mua bán trái phép chất ma túy
theo quy định của Bộ luật Hình sự.
8.
Đối với tội buôn lậu, do hàng hóa buôn lậu đã tiêu thụ hết không thể thu hồi
nên không định giá được. Trường hợp này, cơ quan tiến hành tố tụng đã sử dụng
kết luận của Cơ quan chuyên môn để kết luận giá trị hàng hóa làm căn cứ xem xét
trách nhiệm của bị cáo có đúng không?
Trường hợp
kết luận của cơ quan chuyên môn phù hợp với các chứng cứ, tài liệu khác thì có
giá trị làm căn cứ chứng minh tội phạm.
9. Khoản 1 Điều 264 (Tội giao cho người không đủ điều kiện điều khiển phương
tiện tham gia giao thông đường bộ) của Bộ luật Hình sự quy định:
“1. Người nào giao cho người mà biết rõ người đó không có
giấy phép lái xe hoặc đang trong tình trạng có sử dụng rượu, bia mà trong máu
hoặc hơi thở có nồng độ cồn vượt quá mức quy định, có sử dụng chất ma túy, chất
kích thích mạnh khác hoặc không đủ các điều kiện khác theo quy định của pháp
luật điều khiển phương tiện tham gia giao thông đường bộ gây thiệt hại cho
người khác thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tiền từ
10.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng hoặc phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm:
a) Làm chết người;
b) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 01 người mà tỷ lệ tổn thương cơ thể 61% trở lên;…”
Vậy người
khác trong quy định này được hiểu là người nào? Có bao gồm người được giao điều
khiển phương tiện giao thông hay không?
Người khác
ở trong trường hợp này được hiểu là bất kỳ người nào, trừ người giao phương
tiện giao thông.
10. Người có hành vi buôn bán pháo nổ đã bị kết án về tội buôn bán hàng
cấm theo quy định tại Điều 155 của Bộ luật Hình sự năm 1999 (bản án có hiệu lực
pháp luật trước ngày 01-7-2015) chưa chấp hành hình phạt tù có thời hạn, hiện
đang được hoãn thi hành án. Hiện nay Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung
năm 2017) đã quy định pháo nổ là hàng cấm thì người này có được xem xét miễn
toàn bộ hình phạt hay không?
Tại mục 1 của Công văn số 91/TANDTC-PC ngày 28-4-2017 hướng dẫn xử
lý hành vi tàng trữ, vận chuyển, buôn bán pháo nổ trong nội địa như sau.
“1. Đối với hành vi tàng trữ, vận chuyển, buôn bán pháo nổ trong
nội địa xảy ra trước 0 giờ 00 ngày 01-7-2015, nếu vụ án đang trong giai đoạn
xét xử thì Tòa án phải mở phiên tòa và căn cứ vào Điều 25
Bộ luật hình sự năm 1999 miễn trách nhiệm hình sự đối với người phạm
tội…
Trường hợp người bị kết án mà bản án đã có hiệu lực pháp luật nhưng
người bị kết án chưa chấp hành hình phạt hoặc đang được hoãn thi hành án thì
được miễn toàn bộ hình phạt; trường hợp người đang chấp hành hình phạt hoặc
đang được tạm đình chỉ thi hành án thì được miễn chấp hành phần hình phạt còn
lại. Khi miễn chấp hành hình phạt, Tòa án phải ghi rõ trong quyết định miễn
chấp hành hình phạt lý do của việc miễn chấp hành hình phạt là do có sự thay
đổi chính sách, pháp luật làm cho hành vi phạm tội không còn nguy hiểm cho xã
hội nữa; người được miễn chấp hành hình phạt không có quyền yêu cầu bồi thường
thiệt hại theo quy định của Luật trách nhiệm bồi thường của Nhà nước…”.
Theo hướng dẫn nêu thì mặc dù hiện nay Bộ luật Hình sự hiện hành đã
quy định pháo nổ là hàng cấm nhưng do hành vi buôn bán pháo nổ xảy ra trước
thời điểm Luật Đầu tư năm 2014 có hiệu lực thi hành (ngày 01-7-2015) nên người
bị kết án vẫn thuộc đối tượng được miễn toàn bộ hình phạt theo quy định của
pháp luật.
11. Người có hành vi phạm tội xảy ra
trước thời điểm 0 giờ 00 phút ngày 01-01-2018 (ngày Bộ luật Hình sự năm 2015 có hiệu lực thi hành) mà sau
thời điểm này mới bị phát hiện, đang bị điều tra, truy tố, xét xử thì khi xem xét cho hướng án
treo, Tòa án căn cứ vào hướng dẫn tại Nghị quyết số 01/2013/NQ-HĐTP hay Nghị
quyết số 02/2018/NQ-HĐTP?
Đối chiếu
các quy định Điều 60 của Bộ luật Hình sự năm 1999 và Điều 65 của Bộ luật Hình
sự năm 2015 thì phạm vi áp dụng án treo của 02 điều luật này là không thay đổi.
Do đó, đối với hành vi phạm tội xảy ra trước thời điểm 0 giờ 00 phút ngày
01-01-2018 mà sau thời điểm này mới bị phát hiện, đang bị điều tra, truy tố,
xét xử thì Tòa án căn cứ vào quy định tại Điều 65 của Bộ luật Hình sự năm 2015
và các văn bản hướng dẫn áp dụng quy định này (trong đó có Nghị quyết số
02/2018/NQ-HĐTP) để xem xét việc cho hưởng án treo.
Tuy nhiên,
đối với quy định về người được hưởng án
treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật Thi hành án hình sự 02 lần
trở lên
trong thời gian thử thách tại đoạn 2 khoản 1 và khoản 5 Điều 65 của Bộ luật
Hình sự năm 2015 là quy định mới không có lợi cho người phạm tội, nên quy định
này không được áp dụng đối với hành vi phạm tội xảy ra trước thời điểm Bộ luật
Hình sự năm 2015 có hiệu lực thi hành theo quy định tại khoản 3 Điều 7 của Bộ
luật Hình sự và điểm b khoản 1 Điều 2 Nghị quyết số 41 của Quốc hội. Do đó, khi
tuyên án Tòa án cũng không áp dụng hướng dẫn tại khoản 2 Điều 6 của Nghị quyết
số 02/2018//NQ-HĐTP để tuyên hậu quả của việc vi phạm nghĩa vụ trong thời gian
thử thách đối với hành vi phạm tội xảy ra trước 0 giờ 00 phút ngày 01-01-2018
nếu cho hưởng án treo.
12. Nghị quyết số
02/2018/NQ-HĐTP ngày 15-5-2018 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao
không quy định không cho hưởng án treo đối với trường hợp người phạm tội đang
bị khởi tố, điều tra, truy tố trong một vụ án khác hoặc người phạm tội họ còn
có hành vi phạm tội khác đã bị xét xử trong một vụ án khác. Như vậy, trường hợp
bị cáo có đủ điều kiện được hưởng án treo nhưng trong hồ sơ thể hiện bị cáo còn
có hành vi phạm tội khác đã bị xét xử hoặc đang bị khởi tố, điều tra, truy tố
trong vụ án khác thì có được hưởng án treo không?
Tại khoản 2
Điều 2 Nghị quyết số 02/2018/NQ-HĐTP đã hướng dẫn một trong
những điều kiện để cho người bị kết án phạt tù được hưởng án treo là
phải có nhân thân tốt. Trường hợp này, người phạm tội đang bị khởi tố, điều
tra, truy tố trong một vụ án khác hoặc người phạm tội còn có hành vi phạm tội
khác đã bị xét xử trong một vụ án khác là không bảo đảm điều kiện có nhân thân
tốt để cho hưởng án treo.
13.
Đối với vụ án đánh bạc, Tòa án căn cứ vào tổng số tiền thu được hay số tiền mỗi
bị cáo dùng đánh bạc để xem xét trách nhiệm hình sự và quyết định hình phạt đối
với mỗi bị cáo.
Trường hợp
này, tùy vào vụ việc cụ thể mà xác định trách nhiệm hình sự và mức hình phạt
của các bị cáo. Cụ thể: đối với trường hợp các bị cáo cùng đánh bạc với nhau
(như đánh phỏm, đánh chắn, đánh liêng, đánh sâm...) thì căn cứ vào tổng số tiền
thu trên chiếu bạc (tổng số tiền dùng vào việc đánh bạc) để xem xét trách nhiệm
hình sự; số tiền mỗi bị cáo dùng vào việc đánh bạc là một trong những căn cứ để
Tòa án xem xét, đánh giá tính chất và mức độ nguy hiểm của tội phạm khi quyết
định hình phạt đối với mỗi bị cáo; đối với trường hợp con bạc đánh với chủ bạc
(như lô đề, cá độ bóng đá, đua ngựa, xóc đĩa...) thì việc xác định khung hình
phạt và mức hình phạt phải căn cứ vào số tiền từng bị cáo dùng vào việc đánh
bạc. Theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự thì việc chứng minh số tiền các
bị cáo dùng vào việc đánh bạc là trách nhiệm của cơ quan tiến hành tố tụng.
14. Do có mâu thuẫn từ trước nên một nhóm đối tượng bàn bạc chuẩn
bị các loại hung khí như búa đinh, dao phay, kiếm, tuýt sắt dài nhằm mục đích
tấn công gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe người khác. Khi đang
trên đường đi gây án thì bị phát hiện và được ngăn chặn kịp thời. Trường hợp
này nhóm đối tượng trên có bị xử lý hình sự về tội cố ý gây thương tích không?
Khoản 6
Điều 134 của Bộ luật Hình sự quy định: “Người nào chuẩn bị vũ khí, vật liệu
nổ, hung khí nguy hiểm, a-xít nguy hiểm, hóa chất nguy hiểm hoặc thành lập hoặc
tham gia nhóm tội phạm nhằm gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của
người khác, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 02 năm hoặc phạt tù từ 03
tháng đến 02 năm”.
Quy định
này không bắt buộc người phạm tội phải hoàn thành hành vi khách quan là gây
thương tích hoặc tổn hại sức khỏe của người khác và cũng không bắt buộc phải có
hậu quả xảy ra. Người có hành vi chuẩn bị một trong các loại công cụ, phương
tiện phạm tội như: vũ khí, vật liệu nổ, hung khí nguy hiểm, a-xít nguy hiểm,
hóa chất nguy hiểm hoặc thành lập hoặc tham gia nhóm tội phạm nhằm gây thương
tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác, thì đã đủ dấu hiệu về mặt
hành vi khách quan để xử lý hình sự người phạm tội.
Do đó, đối
với trường hợp nêu trên thì các đối tượng mặc dù chưa thực hiện hành vi gây
thương tích, gây tổn hại cho sức khỏe của người khác nhưng đã có sự bàn bạc
thống nhất, câu kết chặt chẽ với nhau và đã hoàn thành việc chuẩn bị các loại
hung khí nguy hiểm nhằm mục đích tấn công gây thương tích hoặc gây tổn hại cho
sức khỏe của người khác. Do đó, các đối tượng này có đủ dấu hiệu về mặt hành vi
khách quan theo quy định tại khoản 6 Điều 134 của Bộ luật Hình sự.
15.
Tại Công văn số 170/TANDTC-PC ngày 01-8-2018 của Tòa án nhân dân tối cao
về thực hiện quy định của Bộ luật Hình sự và Nghị quyết số 01/2018/NQ-HĐTP
ngày 24-04-2018 về tha tù trước thời hạn có điều kiện có hướng dẫn: “…thời
điểm có hiệu lực pháp luật của Quyết định tha tù trước thời hạn có điều kiện là
sau 15 ngày kể từ ngày ký, ban hành và thời điểm bắt đầu tính thời gian thử
thách kể từ ngày Quyết định tha tù trước thời hạn có điều kiện có hiệu lực pháp
luật.”. Vậy xác định ngày đầu tiên trong thời hạn 15 ngày để xác định
thời điểm có hiệu lực pháp luật của Quyết định tha tù trước thời
hạn có điều kiện được tính như thế nào?
Quy định về
tính thời hạn của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 so với Bộ luật Tố tụng hình
sự năm 2003 cơ bản không thay đổi. Trước đây, Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân
dân tối cao đã có hướng dẫn xác định thời điểm bắt đầu và thời điểm kết thúc
thời hạn kháng cáo, kháng nghị tại tiểu mục 4.1 phần I Nghị quyết số
05/2005/NQ-HĐTP ngày 08-12-2005 hướng dẫn thi hành một số quy định trong
phần thứ tư “Xét xử phúc thẩm” của Bộ luật Tố tụng hình sự. Do đó, thời hạn
trong tha tù trước thời hạn có điều kiện theo quy định hiện hành cũng được xác
định định tượng tự. Cụ thể, ngày đầu tiên của thời hạn 15 ngày để xác định thời
điểm có hiệu lực của Quyết định tha tù trước thời hạn có điều kiện theo hướng
dẫn tại Công văn số 170 nêu trên là ngày tiếp theo của ngày ký ban hành Quyết
định tha tù trước thời hạn có điều kiện.
Ví dụ: ngày
01-4-2020, Chánh án Tòa án nhân dân tỉnh A ký, ban hành Quyết định tha tù trước
thời hạn có điều kiện thì ngày bắt đầu của thời hạn 15 ngày để xác định thời
điểm có hiệu lực của Quyết định tha tù trước thời hạn có điều kiện là 0 giờ
ngày 02-4-2020, thời điểm kết thúc của thời hạn này là 24 giờ ngày 16-4-2020 và
thời điểm có hiệu lực pháp luật của Quyết định tha tù trước thời hạn có điều
kiện là 0 giờ ngày 17-4-2020.
II. TỐ
TỤNG HÌNH SỰ
1. Trường hợp bị cáo bị truy tố về một hoặc một số tội
thuộc thẩm quyền xét xử của Toà án nhân dân cấp huyện nhưng khi thụ lý vụ án
xét thấy bị cáo đã bị áp dụng hình phạt tù chung thân hoặc tử hình thì thẩm
quyền giải quyết sơ thẩm vụ án hình sự được thực hiện như thế nào?
Về vấn đề này, trước đây đã được hướng dẫn tại Nghị quyết số
02/2010/NQ-HĐTP ngày 22-10-2010 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao,
tuy nhiên hiện nay Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 không có thay đổi, bổ sung
so với Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2003. Do đó, trường hợp bị cáo bị truy tố về
một hoặc một số tội thuộc thẩm quyền xét xử của Toà án nhân dân cấp huyện mà
khi thụ lý vụ án xét thấy bị cáo đã bị áp dụng hình phạt tù chung thân hoặc tử
hình tại một bản án khác và bản án đó đã có hiệu lực pháp luật thì Toà án nhân
dân cấp huyện phải báo cáo với Toà án nhân dân cấp tỉnh để Toà án nhân dân cấp
tỉnh thống nhất với Viện kiểm sát nhân dân cấp tỉnh rút hồ sơ vụ án lên để truy
tố, xét xử ở cấp tỉnh.
2. Căn cứ khoản 3 Điều 298 Bộ luật tố tụng hình
sự về giới hạn xét xử: Trường hợp xét thấy cần xét xử bị cáo về 01 tội danh
nặng hơn tội danh Viện kiểm sát truy tố thì Tòa án trả hồ sơ để Viện kiểm sát
truy tố lại và thông báo rõ lý do cho bị cáo hoặc người đại diện của bị cáo,
người bào chữa biết nếu Viện kiểm sát vẫn giữ nguyên tội danh đã truy tố thì
Tòa án có quyền xét xử tội danh nặng hơn. Tuy nhiên, đối với các tội phạm khác
nhau về khách thể thì có được áp dụng quy định trên không?
Ví
dụ: Trong vụ án hình sự có 02 bị cáo, bị cáo A bị Viện kiểm sát truy tố về tội:
“Che dấu tội phạm”, bị cáo B bị truy tố về tội: “Giết người”. Tòa án nhận thấy
bị cáo A có dấu hiệu phạm tội: “Giết người” với vai trò đồng phạm. Tòa án tiến
hành trả hồ sơ để viện kiểm sát truy tố lại nhưng Viện kiểm sát không thực
hiện. Vậy, Tòa án xét xử bị cáo A về tội gì?
Khoản 3
Điều 298 của Bộ luật Tố tụng hình sự quy định Tòa án có quyền xét xử bị cáo về
tội danh nặng hơn, quy định này được hiểu là bất kể tội danh gì mà Bộ luật Hình
sự quy định là tội phạm nếu hành vi phạm tội của bị cáo có đủ căn cứ kết tội
họ. Do đó, trường hợp này Tòa án có thể xét xử tội danh nặng hơn đối với các
tội phạm khác nhau về khách thể như nêu trên. Tuy nhiên, các Tòa án cần lưu ý
bảo đảm quyền bào chữa, thành phần Hội đồng xét xử và các quy định khác theo
đúng quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự.
3. Trong vụ án hình sự, có bị
can, bị cáo đang thi hành án hình phạt tù ở một vụ án trước hoặc có bị can, bị
cáo đang thi hành Quyết định
áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc, khi trích
xuất bị can, bị cáo để phục vụ việc xét xử Tòa án có phải ra Quyết định tạm
giam để làm căn cứ trích xuất được bị cáo đến phiên tòa không? (Thông tư liên tịch số
04/2013/TTLT-BCA-BQP-TANDTC-VKSNDTC ngày 30-5-2013 và Thông tư liên tịch số
01/2018/TTLT-BCA-BQP-TANDTC-VKSNDTC ngày 23-01-2018 không nêu rõ trường hợp
này).
- Đối với bị can, bị cáo đang
thi hành án hình phạt tù ở một vụ án trước thì không ra quyết định tạm giam mà
chỉ ra quyết định trích xuất để phục vụ công tác xét xử vụ án. Vì không có căn
cứ tạm giam theo quy định tại Điều 119 của Bộ luật Tố tụng hình sự. Hiện nay,
liên ngành trung ương đang soạn thảo Thông tư liên tịch thay thế Thông tư liên
tịch số 04 nêu trên, trong đó đã hướng dẫn trường hợp này khi phạm nhân được
trích xuất phục vụ điều tra, truy tố, xét xử thì chế độ quản lý giam giữ, chế
độ ăn, ở, sinh hoạt đối với phạm nhân được thực hiện theo quy định của Luật Thi
hành tạm giữ, tạm giam.
- Đối với bị can, bị cáo đang thi
hành Quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt
buộc thì Tòa án có thể yêu cầu Giám đốc cơ sở cai nghiện bắt buộc phải ra quyết
định tạm đình chỉ thi hành Quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa
vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với người đó theo quy định tại Điều 117 của
Luật xử lý vi phạm hành chính. Sau đó, tùy trường hợp căn cứ quy định của Bộ
luật Tố tụng hình sự để xem xét áp dụng biện pháp tạm giam hay biện pháp ngăn
chặn khác đối với bị can, bị cáo đó.
4. Viện kiểm sát rút một phần truy tố tại phiên tòa thì
bản án có phải xem xét, đánh giá tính có căn cứ của việc rút truy tố của Viện
kiểm sát hay không?
Về
vấn đề này, trước đây Thông tư liên ngành số 01/TTLN ngày 8-12-1988 của Toà án
nhân dân tối cao, Viện Kiểm sát nhân dân tối cao “Hướng dẫn thi hành một số quy
định trong Bộ luật tố tụng hình sự” và Công văn số 328/NCPL ngày 22-6-1993 của
Tòa án nhân dân tối cao đã hướng dẫn. Tuy nhiên, hiện nay Bộ luật Tố tụng hình
sự năm 2015 không có thay đổi, bổ sung so với Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2003.
Do đó, nếu tại phiên toà, sau khi xét hỏi, Kiểm sát viên chỉ rút
quyết định truy tố đối với một tội hoặc một số tội và giữ nguyên quyết định
truy tố đối với các tội khác hay Kiểm sát viên chỉ rút quyết định truy tố đối
với một hoặc một số các bị cáo và giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo
hoặc các bị cáo còn lại thì đây là các trường hợp Kiểm sát viên rút một phần
quyết định truy tố. Vì vậy trong trường hợp này, Hội đồng xét xử vẫn xét xử
toàn bộ vụ án và có thể chấp nhận hoặc không chấp nhận việc rút truy tố đó. Căn
cứ để chấp nhận hoặc không chấp nhận được ghi trong bản án.
5. Sau khi Tòa án tuyên án nhưng bản án chưa có hiệu lực
pháp luật, chưa có quyết định thi hành án thì người được hưởng án treo không có
mặt tại nơi cư trú hoặc vi phạm nội quy, quy chế tại nơi cư trú có được xác
định là vi phạm nghĩa vụ theo quy định tại Điều 87 của Luật Thi hành án hình sự
hay không?
Trường hợp này xác định là vi phạm nghĩa vụ quy định tại
Điều 87 của Luật Thi hành án hình sự. Vì thời gian thử thách của
người được hưởng án treo tính từ ngày tuyên án sơ thẩm và căn cứ vào khoản 5
Điều 65 của Bộ luật Hình sự để xử lý.
6. Người được Tòa án quyết định hoãn chấp hành án phạt tù
(đang nuôi con dưới 36 tháng tuổi hoặc mang thai), chưa hết thời gian hoãn
nhưng người bị kết án tự nguyện xin đi chấp hành án thì cơ quan có thẩm quyền
có chấp nhận không?
Trường hợp này, người đang được hoãn chấp hành án phạt tù
phải có đơn gửi Chánh
án Tòa án đã ra quyết định hoãn chấp hành án phạt tù để Chánh án ra quyết định
thi hành án trong đó có ghi rõ nội dung quyết định này thay thế quyết định hoãn
chấp hành án phạt tù.
III. TỐ TỤNG HÀNH CHÍNH
1.
Việc chứng thực của Ủy ban nhân dân cấp xã có thuộc đối tượng khởi kiện vụ án
hành chính không?
Theo quy định tại các khoản 2, 3, 4 Điều 2 và khoản 2 Điều 5 Nghị định số 23/2015/NĐ-CP ngày
16-02-2015 của Chính phủ về cấp bản sao
từ sổ gốc, chứng thực bản sao từ bản chính, chứng thực chữ ký và chứng thực hợp
đồng, giao dịch thì chứng thực là việc Uỷ ban nhân dân cấp xã xác nhận cho các
yêu cầu, giao dịch dân sự của người có yêu cầu chứng thực, qua đó người thực
hiện chứng thực phải chịu trách nhiệm về tính
chính xác của bản sao đúng với bản chính, về tính xác thực chữ ký của người
yêu cầu chứng thực trong giấy tờ, văn bản, về thời gian, địa điểm giao kết hợp
đồng, giao dịch; năng lực hành vi dân sự, ý chí tự nguyện, chữ ký hoặc dấu điểm
chỉ của các bên tham gia hợp đồng, giao dịch, về nội dung của hợp đồng, giao
dịch. Do đó, đây là hành vi hành chính thuộc đối
tượng khởi kiện vụ án hành chính nếu hành vi đó làm ảnh hưởng đến việc thực
hiện quyền, lợi ích hợp pháp của cơ quan, tổ chức, cá nhân theo quy định của
Luật Tố tụng hành chính.
2. Quyết định phê duyệt kết quả lựa chọn nhà thầu
của Chủ tịch Uỷ ban nhân dân cấp huyện có phải là
quyết định hành chính thuộc đối tượng khởi kiện không?
Theo quy định tại Điều 1 của Luật
Đấu thầu thì: Luật này quy định quản lý nhà nước về đấu thầu; trách nhiệm của
các bên có liên quan và các hoạt động đấu thầu, bao gồm: lựa chọn nhà thầu cung
cấp dịch vụ tư vấn, dịch vụ phi tư vấn, hàng hóa, xây lắp...; lựa chọn nhà thầu
thực hiện cung cấp dịch vụ tư vấn, dịch vụ phi tư vấn, hàng hóa trên lãnh thổ
Việt Nam ...; lựa chọn nhà đầu tư thực hiện dự án đầu tư theo hình thức đối tác
công tư (PPP), dự án đầu tư có sử dụng đất; lựa chọn nhà thầu trong lĩnh vực
dầu khí, trừ việc lựa chọn nhà thầu cung cấp dịch vụ dầu khí liên quan trực
tiếp đến hoạt động tìm kiếm thăm dò, phát triển mỏ và khai thác dầu khí theo
quy định của pháp luật về dầu khí.
Theo quy định từ Điều 100 đến Điều 103 Nghị định số 63/2014/NĐ-CP ngày 26-6-2014 quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật
Đấu thầu về lựa chọn nhà thầu thì Bộ
trưởng; Thủ trưởng cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, cơ quan khác ở
Trung ương; Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh; Chủ tịch Ủy ban nhân
dân cấp huyện, cấp xã và Thủ trưởng các cơ quan khác ở địa phương; Hội đồng quản trị, người đứng đầu doanh nghiệp; Hội
đồng quản trị của doanh nghiệp liên doanh, công ty cổ phần và đại diện hợp pháp
của các bên tham gia hợp đồng hợp tác kinh doanh có trách nhiệm phê duyệt kết quả lựa chọn nhà thầu.
Căn cứ các
quy định nêu trên thì Chủ tịch Ủy ban nhân
dân cấp huyện có
thẩm quyền phê duyệt kết quả lựa chọn nhà thầu các dự án thuộc phạm vi quy định
tại Điều 1 của Luật Đấu thầu nên quyết định phê duyệt kết quả lựa chọn nhà thầu
của Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp huyện là quyết định hành chính
thuộc đối tượng khởi kiện vụ án hành chính.
3. Trong giai đoạn chuẩn bị xét xử sơ thẩm, người khởi kiện được triệu tập hợp lệ lần thứ 2 đến Tòa
để lấy lời khai, nhưng vẫn vắng mặt mà không có lý do chính đáng và không có văn bản
đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt. Trong trường hợp này, Tòa án có được
đình chỉ giải quyết vụ án không?
Theo quy định tại khoản 1 Điều 143 của Luật Tố tụng hành
chính thì Tòa án cấp sơ thẩm quyết định
đình chỉ giải quyết vụ án trong trường hợp:
“…đ) Người khởi kiện đã được triệu tập hợp lệ lần thứ
hai mà vẫn vắng mặt trừ trường hợp họ đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt hoặc
trường hợp có sự kiện bất khả kháng, trở ngại khách quan.”
Theo quy định tại khoản 1 Điều 135 của Luật Tố tụng hành
chính thì tại phiên đối thoại vụ án hành chính nếu người khởi kiện, người bị
kiện, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đã được Tòa án triệu tập hợp lệ
lần thứ hai mà vẫn cố tình vắng mặt là thuộc trường hợp vụ án hành chính không
tiến hành đối thoại được.
Như vậy, theo các quy định này
thì trong giai đoạn chuẩn bị xét xử sơ thẩm vụ án hành chính mà người khởi kiện đã được triệu tập hợp lệ lần thứ hai
đến Tòa để lấy lời khai mà vẫn vắng mặt thì Tòa án cấp sơ thẩm
có quyền đình chỉ giải quyết vụ án, trừ trường hợp họ đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt hoặc
trường hợp có sự kiện bất khả kháng, trở ngại khách quan. Riêng đối với trường hợp
người khởi kiện được triệu tập hợp lệ lần thứ hai để tham gia phiên đối thoại
mà vẫn cố tình vắng mặt thì thuộc trường hợp vụ án không tiến hành đối thoại
được và Tòa án vẫn tiến hành các thủ tục để giải quyết vụ án theo quy định.
4. Khi đã hết thời hiệu khiếu nại thì người khiếu nại mới có
đơn khiếu nại quyết định hành chính đến cơ quan, người có thẩm quyền. Việc
khiếu nại quá thời hiệu là không có lý do chính đáng. Do việc khiếu nại gay
gắt, nhiều lần nên cơ quan, người có thẩm quyền đã ban hành văn bản (Quyết
định, Công văn, Thông báo,…) có nội dung cho rằng quyết định hành chính đã được
ban hành theo đúng quy định của pháp luật. Người khiếu nại không đồng ý nên đã
có đơn khởi kiện đối với văn bản này. Vậy có xác định văn bản hành chính trên
là quyết định hành chính thuộc đối tượng khởi kiện vụ án hành chính không? Nếu
xác định là đối tượng khởi kiện vụ án hành chính thì khi giải quyết vụ án có
phải xem xét tính hợp pháp của quyết định hành chính ban đầu hay không?
Theo quy
định tại khoản 6 Điều 11 của Luật Khiếu nại thì
khiếu nại thuộc một trong các trường hợp sau đây không được thụ lý giải quyết:
“Thời hiệu, thời hạn khiếu nại đã hết mà không có lý do chính đáng”.
Theo quy
định tại điểm b khoản 1 Điều 28 Thông tư số 07/2014/TT-TTCP ngày 31-10-2014 của
Thanh tra Chính phủ quy định quy trình xử lý đơn khiếu nại, đơn tố cáo, đơn
kiến nghị, phản ánh thì Đơn khiếu nại đã hết thời hạn, thời hiệu theo quy định
của pháp luật được xếp lưu đơn.
Theo các
quy định nêu trên thì khi khiếu nại đã hết thời hiệu khiếu nại, cơ quan có thẩm
quyền không được thụ lý mà xếp lưu đơn. Tuy nhiên, trường hợp cơ quan, người có thẩm quyền ban hành văn bản hành
chính trả lời cho người khiếu nại xác định quyết định hành chính đúng pháp
luật; văn bản này bị khởi kiện thì tùy từng trường hợp cụ thể mà Tòa án xem xét
văn bản đó có phải là đối tượng khởi kiện của vụ án hành chính hay không, cụ
thể:
+ Trường
hợp cơ quan, người có thẩm quyền ban hành
Quyết định để giải quyết khiếu nại thì đây là quyết định hành chính thuộc đối
tượng khởi kiện; khi giải quyết vụ án hành chính thì
Tòa án phải xem xét tính hợp pháp của cả quyết định hành chính ban đầu;
+
Trường hợp cơ quan, người có thẩm quyền ban hành văn bản bằng hình thức Công
văn, Thông báo,… có nội dung thể hiện diễn biến việc ra quyết định hành chính,
quá trình xác minh khiếu nại, từ đó căn cứ các quy định của pháp luật để ra kết
luận đối với việc khiếu nại thì xác định văn bản hành chính này là quyết định
giải quyết khiếu nại. Văn bản này có nội dung làm ảnh hưởng đến quyền và lợi
ích hợp pháp của đương sự nên được xác định là đối tượng khởi kiện vụ án hành
chính. Khi giải quyết vụ án thì Tòa án phải xem xét tính hợp pháp của quyết
định hành chính ban đầu;
+
Trường hợp cơ quan, người có thẩm quyền ban hành văn bản bằng hình thức Công
văn, Thông báo,… có nội dung cho rằng việc khiếu nại đã hết thời hiệu theo quy
định của pháp luật thì văn bản hành chính này không phải là quyết định giải
quyết khiếu nại và không thuộc đối tượng khởi kiện vụ án hành chính.
5. Theo quy định tại các khoản 2, 3 Điều 196 của Luật Tố tụng hành
chính thì:
“2. Trong thời hạn 07 ngày kể từ ngày tuyên án, Tòa án phải cấp,
gửi bản án cho các đương sự và Viện kiểm sát cùng cấp.
3. Trong
thời hạn 30 ngày kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị mà không có
kháng cáo, kháng nghị, Tòa án cấp, gửi bản án đã có hiệu lực pháp luật cho
đương sự, Viện kiểm sát cùng cấp, cơ quan thi hành án dân sự cùng cấp, cơ quan
cấp trên trực tiếp của người bị kiện”.
Theo quy
định này thì Tòa án 02 lần gửi bản án (01 bản án chưa có hiệu lực, 01 bản án có
hiệu lực pháp luật) cho Viện kiểm sát cùng cấp có đúng không?
Đây là các
quy định khác nhau nhằm bảo đảm cho Viện kiểm sát thực hiện chức năng kiểm sát
việc tuân theo pháp luật trong tố tụng hành chính. Do đó, các Tòa án phải thực
hiện theo đúng quy định này.
6. Trường
hợp đất đai của hộ gia đình nhưng đã được ông A (một thành viên trong hộ) lén
lút đăng ký kê khai cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Sau đó ông A chuyển
nhượng cho ông B; Ông B được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và tiếp tục
chuyển nhượng cho ông C. Ông C đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.
Sau đó, các thành viên hộ gia đình phát hiện hiện ra việc kê khai gian dối để
cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nên đã khởi kiện yêu cầu Tòa án tuyên hủy
giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đứng tên ông C. Trường hợp này, Tòa án chỉ
hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đứng tên ông C hay hủy cả giấy chứng nhận
đứng tên ông A, ông B.
Trường hợp
này, Tòa án phải xem xét đánh giá về tính hợp pháp của các quyết định hành
chính là giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đứng tên ông A, ông B, ông C. Nếu
việc chuyển nhượng đất giữa ông B với ông C là ngay tình và đúng theo quy định
của pháp luật về chuyển nhượng đất thì Tòa án bác yêu cầu khởi kiện hủy giấy
chứng nhận quyền sử dụng đất của ông C theo quy định tại điểm d khoản 2 Điều
106 của Luật Đất đai và khoản 2 Điều 133 của Bộ luật Dân sự.
7.
Quyết định hành chính hết thời hiệu khởi kiện, quyết định giải quyết khiếu nại
còn thời hiệu khởi kiện, tuy nhiên người khởi kiện chỉ khởi kiện quyết định
hành chính mà không khởi kiện quyết định giải quyết khiếu nại. Trường hợp này
Tòa án vẫn xem xét giải quyết hay đình chỉ vụ án do hết thời hiệu?
Theo quy định tại Điều 7 của Luật Khiếu nại và khoản 3 Điều của 116 Luật Tố tụng hành chính thì trường hợp này thời hiệu khởi kiện
được tính từ ngày nhận được hoặc biết được quyết định giải quyết khiếu nại, mà
không phải tính từ ngày nhận được hoặc biết được quyết định hành chính. Do đó,
Tòa án vẫn xem xét giải quyết mà không đình chỉ vụ án.
8. Văn bản của Văn phòng Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh thông báo ý
kiến kết luận của Lãnh đạo Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh chỉ đạo Uỷ ban nhân dân cấp
huyện thu hồi đất của hộ gia đình (vì cho rằng giao đất không đúng đối tượng)
bị khởi kiện. Tòa án có xác định văn bản này là quyết định hành chính bị khởi
kiện hay không?
Theo quy
định tại khoản 1 và khoản 2 của Điều 66
Luật Đất đai thì việc thu hồi đất của hộ gia đình thuộc thẩm quyền của Uỷ ban
nhân dân cấp huyện, mà không phải thẩm quyền của Ủy ban nhân dân cấp tỉnh.
Theo quy
định tại khoản 6 Điều 3 của Luật Tố
tụng hành chính thì: Quyết định hành chính, hành vi hành chính mang tính
nội bộ của cơ quan, tổ chức là những quyết định, hành vi chỉ đạo, điều
hành việc triển khai thực hiện nhiệm vụ, kế hoạch công tác; quản lý, tổ chức
cán bộ, kinh phí, tài sản được giao; kiểm tra, thanh tra việc thực hiện nhiệm
vụ, công vụ, chính sách, pháp luật đối với cán bộ, công chức, viên chức, người
lao động và các đơn vị thuộc thẩm quyền quản lý của cơ quan, tổ chức.
Theo các
quy định trên thì văn bản thông báo ý kiến của Lãnh đạo Uỷ ban nhân dân cấp
tỉnh là văn bản mang tính chất nội bộ của Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh về việc chỉ
đạo, điều hành của cơ quan, tổ chức, đồng thời văn bản này không làm ảnh hưởng
đến quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự nên căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều
30 của Luật Tố tụng hành chính thì quyết
định này không thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án.
1.
Trong vụ án xác nhận cha, mẹ cho con,
Tòa án đã ra
Quyết định trưng cầu giám định nhưng bị đơn không hợp tác dẫn đến không thực
hiện được việc giám định ADN. Vậy, trường hợp này thì Tòa án tạm đình chỉ giải
quyết vụ án hay tiếp tục giải quyết vụ án theo thủ tục chung?
Khoản 1 Điều 214 của Bộ
luật Tố tụng dân sự về tạm đình chỉ giải quyết vụ án dân sự
quy định:
“1. Tòa án ra quyết định tạm đình chỉ giải quyết vụ án
dân sự khi có một trong các căn cứ sau đây:
a) Đương sự là cá nhân đã chết, cơ quan, tổ chức đã hợp
nhất, sáp nhập, chia, tách, giải thể mà chưa có cơ quan, tổ chức, cá nhân kế
thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng của cơ quan, tổ chức, cá nhân đó;
b) Đương sự là cá nhân mất năng lực hành vi dân sự, người
chưa thành niên mà chưa xác định được người đại diện theo pháp luật;
c) Chấm dứt đại diện hợp pháp của đương sự mà chưa có
người thay thế;
d) Cần đợi kết quả giải quyết vụ án khác có liên quan
hoặc sự việc được pháp luật quy định là phải do cơ quan, tổ chức khác giải
quyết trước mới giải quyết được vụ án;
đ) Cần đợi kết quả thực hiện ủy thác tư pháp, ủy thác thu
thập chứng cứ hoặc đợi cơ quan, tổ chức cung cấp tài liệu, chứng cứ theo yêu
cầu của Tòa án mới giải quyết được vụ án;
e) Cần đợi kết quả xử lý văn bản quy phạm pháp luật có
liên quan đến việc giải quyết vụ án có dấu hiệu trái với Hiến pháp, luật, nghị
quyết của Quốc hội, pháp lệnh, nghị quyết của Ủy ban thường vụ Quốc hội, văn
bản quy phạm pháp luật của cơ quan nhà nước cấp trên mà Tòa án đã có văn bản
kiến nghị cơ quan nhà nước có thẩm quyền xem xét sửa đổi, bổ sung hoặc bãi bỏ;
g) Theo quy định tại Điều 41 của Luật Phá sản;...”
Việc thu thập mẫu vật để giám định ADN là một trong hoạt
động thu thập chứng cứ của Thẩm phán quy định tại điểm c khoản 2 Điều 97 và
khoản 2 Điều 102 của Bộ luật Tố tụng dân sự, không thuộc trường hợp quy định tại điểm đ khoản 1 Điều 214 của Bộ luật Tố tụng dân sự, vì vậy không phải là một
trong các căn cứ để tạm đình chỉ giải quyết vụ án.
Mặt khác, theo quy định tại khoản 5 Điều 94 của Bộ luật Tố tụng dân sự thì kết luận giám định chỉ là một trong các
nguồn chứng cứ. Điều 108 của Bộ luật Tố tụng dân sự quy định: “Việc đánh giá chứng cứ phải khách quan, toàn
diện, đầy đủ và chính xác. Tòa án phải đánh giá từng chứng cứ, sự liên quan
giữa các chứng cứ và khẳng định tính hợp pháp, tính liên quan, giá trị chứng
minh của từng chứng cứ”.
Do đó, nếu không thể thu thập được mẫu vật để giám định
ADN thì Tòa án phải căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ đã thu thập được để tiếp
tục giải quyết vụ án theo thủ tục chung mà không tạm đình chỉ giải quyết vụ án.
2. Hết thời hạn tạm ngừng phiên tòa, Hội đồng xét xử ra
quyết định tạm đình chỉ giải quyết vụ án theo quy định tại khoản 2 Điều 259 của
Bộ luật Tố
tụng dân sự. Vậy, khi lý do tạm đình chỉ giải quyết vụ án không còn thì Tòa án
ra thông báo mở lại phiên tòa hay ra quyết định tiếp tục giải quyết vụ án dân
sự?
Khoản 2 Điều 259 của Bộ luật Tố tụng dân sự quy định:“Việc tạm ngừng phiên tòa phải được ghi vào biên
bản phiên tòa. Thời hạn tạm ngừng phiên tòa là không quá 01 tháng, kể từ ngày
Hội đồng xét xử quyết định tạm ngừng phiên tòa. Hết thời hạn này, nếu lý do để
ngừng phiên tòa không còn thì Hội đồng xét xử tiếp tục tiến hành phiên tòa; nếu
lý do để ngừng phiên tòa chưa được khắc phục thì Hội đồng xét xử ra quyết định
tạm đình chỉ giải quyết vụ án dân sự...”.
Điều 216 của Bộ luật Tố tụng dân sự về quyết định tiếp tục giải quyết vụ án dân sự quy định:
“Trong thời hạn 03 ngày làm việc, kể từ ngày lý do tạm
đình chỉ giải quyết vụ án quy định tại Điều 214 của Bộ luật này không còn thì
Tòa án phải ra quyết định tiếp tục giải quyết vụ án dân sự và gửi quyết định đó
cho đương sự, cơ quan, tổ chức, cá nhân khởi kiện, Viện kiểm sát cùng cấp.
Quyết định tạm đình chỉ giải quyết vụ án dân sự hết hiệu
lực kể từ ngày ban hành quyết định tiếp tục giải quyết vụ án dân sự. Tòa án
tiếp tục giải quyết vụ án kể từ khi ban hành quyết định tiếp tục giải quyết vụ
án dân sự.”
Như vậy, trường hợp vụ án đã được đưa ra xét xử sau đó
mới tạm đình chỉ giải quyết vụ án theo quy định tại khoản 2 Điều 259 nêu trên,
nhưng sau đó lý do tạm đình chỉ không còn thì Tòa án phải căn cứ Điều 216 của
Bộ luật Tố tụng dân sự để ra quyết định tiếp
tục giải quyết vụ án dân sự theo mẫu số 44-DS ban hành theo Nghị quyết số
01/2017/NQ-HĐTP ngày 13-01-2017 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao
ban hành một số biểu mẫu trong tố tụng dân sự. Tuy nhiên, trong mẫu số 44-DS
không có nội dung về ngày mở phiên tòa. Vì vậy, kèm theo quyết định tiếp tục
giải quyết vụ án, Tòa án gửi thông báo ngày mở lại phiên tòa và phiên tòa sẽ
được tiến hành lại từ đầu.
3. Trong quá trình giải quyết vụ án, Thẩm phán có phải
giải thích cho đương sự quyền yêu cầu Tòa án áp dụng thời hiệu hay không?
(nhiều trường hợp do đương sự không hiểu biết và những người tiến hành tố tụng
không giải thích trước khi Tòa tuyên án sơ thẩm dẫn đến đương sự mất quyền yêu
cầu áp dụng thời hiệu).
Theo quy định tại Điều 48, Điều 210, Điều 239
của Bộ luật Tố tụng dân sự
thì Thẩm phán, chủ tọa phiên tòa có trách nhiệm phổ biến, giải thích về quyền
và nghĩa vụ cho đương sự đối với những trường hợp mà Bộ luật Tố tụng dân sự quy định, ví
dụ quyền và nghĩa vụ của đương sự quy định từ Điều 70 đến Điều 73; khoản 6 Điều
48 của Bộ luật Tố tụng dân sự…
Bộ luật Tố tụng dân sự không quy định trách nhiệm của
Thẩm phán về việc phổ biến và giải thích cho đương sự quyền yêu cầu áp dụng
thời hiệu. Mặt khác, khoản 2 Điều 184 của Bộ luật Tố tụng dân sự quy định: “Tòa án chỉ áp
dụng quy định về thời hiệu theo yêu cầu áp dụng thời hiệu của một bên hoặc các
bên với điều kiện yêu cầu này phải được đưa ra trước khi Tòa án cấp sơ thẩm ra
bản án, quyết định giải quyết vụ việc...”.
Để bảo đảm bình đẳng về quyền và nghĩa vụ
giữa các đương sự trong quá trình giải quyết vụ án, Thẩm phán không giải thích
cho đương sự quyền yêu cầu áp dụng thời hiệu.
4. Trường hợp đương sự vắng mặt
tại phiên tòa nhưng có người đại diện theo ủy quyền tham gia phiên tòa thì việc
tuyên quyền kháng cáo của đương sự trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án
hay kể từ ngày nhận được bản án?
Điều 86 của Bộ luật Tố tụng dân sự quy định:“1. Người đại diện
theo pháp luật trong tố tụng dân sự thực hiện quyền, nghĩa vụ tố tụng dân sự
của đương sự trong phạm vi mà mình đại diện.
2. Người đại diện theo ủy quyền trong tố tụng dân sự thực
hiện quyền, nghĩa vụ tố tụng dân sự của đương sự theo nội dung văn bản ủy
quyền”.
Theo quy định tại khoản 1 Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự về thời hạn
kháng cáo thì:
“1. Thời hạn kháng cáo đối với bản án của Tòa án cấp sơ
thẩm là 15 ngày, kể từ ngày tuyên án; đối với đương sự, đại diện cơ quan, tổ
chức hoặc cá nhân khởi kiện không có mặt tại phiên tòa hoặc không có mặt khi
tuyên án mà có lý do chính đáng thì thời hạn kháng cáo được tính từ ngày họ
nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
Đối với trường hợp đương sự, đại diện cơ quan, tổ chức
hoặc cá nhân khởi kiện đã tham gia phiên tòa nhưng vắng mặt khi Tòa án tuyên án
mà không có lý do chính đáng thì thời hạn kháng cáo được tính từ ngày tuyên
án.”
Theo những quy định nêu trên thì người đại diện của đương
sự được nhân danh đương sự thực hiện các quyền và nghĩa vụ theo ủy quyền, việc
đương sự vắng mặt tại phiên tòa nhưng có người đại diện theo ủy quyền tham gia
phiên tòa thì đây là trường hợp đương sự có mặt tại phiên
tòa và thời hạn kháng cáo đối với bản án của Tòa án
cấp sơ thẩm là 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.
5. Sau khi ly hôn, cha, mẹ sống tại nước ngoài. Nay, họ có đơn khởi kiện về việc thay đổi người trực
tiếp nuôi con sau khi ly hôn, con chung đang sinh sống tại Việt Nam thì có
thuộc thẩm quyền của Tòa án Việt Nam hay không?
Điểm đ khoản 1 Điều 469 của Bộ luật Tố tụng dân sự về
thẩm quyền chung của Tòa án Việt Nam trong giải quyết các vụ việc dân sự có yếu
tố nước ngoài quy định: “Tòa án Việt Nam có thẩm quyền giải quyết các vụ
việc dân sự có yếu tố nước ngoài trong những trường hợp sau đây:
…đ) Vụ việc về quan hệ dân sự mà việc xác lập, thay đổi,
chấm dứt quan hệ đó xảy ra ở Việt Nam, đối tượng của quan hệ đó là tài sản trên
lãnh thổ Việt Nam hoặc công việc được thực hiện trên lãnh thổ Việt Nam;…”.
Người con đang sinh sống tại Việt Nam, nếu phát sinh tranh chấp yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con sau ly hôn, tức là tranh chấp về quan hệ trực
tiếp nuôi con xẩy ra ở Việt Nam. Do vậy, cha, mẹ có đơn
khởi kiện tại Tòa án Việt Nam về việc thay đổi người trực tiếp nuôi người con đang sinh
sống tại Việt Nam thì Tòa án Việt Nam có thẩm quyền giải
quyết theo quy định tại điểm đ khoản 1 Điều 469 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Tuy nhiên, Tòa án cần căn cứ quy định tại Điều 472 của Bộ
luật Tố tụng dân sự để xem xét vụ án có thuộc trường hợp “Trả lại đơn khởi
kiện, đơn yêu cầu hoặc đình chỉ giải quyết vụ việc dân sự có yếu tố nước ngoài
trong trường hợp đã có thỏa thuận trọng tài, thỏa thuận lựa chọn Tòa án nước
ngoài hoặc đã có Tòa án nước ngoài, Trọng tài hoặc cơ quan khác có thẩm quyền
của nước ngoài giải quyết hoặc đương sự được hưởng quyền miễn trừ tư pháp”
hay không?
6. Bộ luật Tố tụng dân sự không quy định nguyên tắc xét
xử liên tục. Vậy, có được thay đổi thành viên Hội đồng xét xử trong quá trình
nghị án hoặc tạm ngừng phiên tòa vì lý do khách quan hay không?
Theo quy định tại khoản 3 Điều 197 của Bộ luật Tố tụng dân sự thì: “Trong
quá trình giải quyết vụ án, nếu Thẩm phán được phân công không thể tiếp tục
tiến hành được nhiệm vụ thì Chánh án Tòa án phân công Thẩm phán khác tiếp tục
nhiệm vụ; trường hợp đang xét xử mà không có Thẩm phán dự khuyết thì vụ án phải
được xét xử lại từ đầu và Tòa án phải thông báo cho đương sự, Viện kiểm sát
cùng cấp”.
Điều 226 của Bộ luật Tố tụng dân sự quy định: “1.
Trường hợp có Thẩm phán, Hội thẩm nhân dân không thể tiếp tục tham gia xét xử
vụ án nhưng có Thẩm phán, Hội thẩm nhân dân dự khuyết thì những người này được
tham gia xét xử tiếp vụ án nếu họ có mặt tại phiên tòa từ đầu.
Trường hợp Hội đồng xét xử có hai Thẩm phán mà Thẩm phán
chủ tọa phiên tòa không thể tiếp tục tham gia xét xử vụ án thì Thẩm phán là
thành viên Hội đồng xét xử làm chủ toạ phiên tòa và Thẩm phán dự khuyết được bổ
sung làm thành viên Hội đồng xét xử.
2. Trường hợp không có Thẩm phán hoặc Hội thẩm nhân dân
dự khuyết để thay thế thành viên Hội đồng xét xử hoặc phải thay đổi Thẩm phán
chủ tọa phiên tòa mà không có Thẩm phán để thay thế theo quy định tại khoản 1
Điều này thì vụ án phải được xét xử lại từ đầu.”
Như vậy, căn cứ các quy định nêu trên thì trong quá trình
nghị án hoặc tạm ngừng phiên tòa mà có thành viên Hội đồng xét xử không thể
tiếp tục tham gia xét xử thì có thể được thay đổi bằng thành viên dự khuyết và
tiếp tục việc xét xử, nếu không có thành viên dự khuyết thì vẫn được thay đổi
thành viên Hội đồng xét xử nhưng vụ án phải được xét xử lại từ đầu.
7. Tranh chấp liên quan đến ranh giới đất (Ví dụ: cấp
chồng lấn), một trong hai bên đã được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất lần
đầu. Tòa án nhân dân cấp huyện thụ lý, xem xét yêu cầu hủy Giấy chứng nhận
quyền sử dụng đất. Theo Công văn số 64/TANDTC-PC ngày 03-4-2019 của Tòa án nhân
dân tối cao về việc thông báo kết quả giải đáp trực tuyến một số vướng mắc về
hình sự, dân sự và tố tụng hành chính thì thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa
án nhân dân cấp tỉnh. Nếu vậy thì nhiều vụ việc thuộc thẩm quyền của Tòa án
nhân dân cấp huyện chuyển lên Tòa án nhân dân cấp tỉnh sẽ dẫn đến quá tải.
Đối với trường hợp nêu trên, Tòa án xác định diện tích,
ranh giới đất và đề nghị Ủy ban nhân dân điều chỉnh diện tích đất phù hợp với
thực tế sử dụng mà không cần hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, do vậy, Tòa
án nhân dân cấp huyện giải quyết thì có phù hợp với Công văn số 64/TANDTC-PC
hay không?
Tại mục 1 Phần I của Công văn
số 02/GĐ-TANDTC ngày 19-9-2016 của Tòa án nhân dân tối cao về giải
đáp nghiệp vụ đã hướng dẫn: Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất là quyết
định hành chính cá biệt.
Khoản 1 và khoản 2 Điều 34 của Bộ luật Tố tụng dân sự quy
định: “1. Khi giải quyết vụ việc dân sự, Tòa án có quyền hủy quyết định cá
biệt trái pháp luật của cơ quan, tổ chức, người có thẩm quyền xâm phạm quyền,
lợi ích hợp pháp của đương sự trong vụ việc dân sự mà Tòa án có nhiệm vụ giải
quyết.
2. Quyết định cá biệt quy định tại khoản 1 Điều này là
quyết định đã được ban hành về một vấn đề cụ thể và được áp dụng một lần đối
với một hoặc một số đối tượng cụ thể. Trường hợp vụ việc dân sự có liên quan
đến quyết định này thì phải được Tòa án xem xét trong cùng một vụ việc dân sự
đó”.
Như vậy, theo quy định tại Điều 34
của Bộ luật Tố tụng dân sự khi giải quyết tranh chấp về quyền sử dụng
đất mà trong đó có việc cơ quan nhà nước cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đối
với thửa đất đang tranh chấp không đúng, gây thiệt hại đến quyền lợi của đương
sự thì Tòa án phải xem xét giải quyết việc hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng
đất đó trong vụ án dân sự và đưa cơ quan cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất
tham gia tố tụng với tư cách là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan.
Khoản 4 Điều 34 của Bộ luật Tố tụng dân sự quy định về thẩm quyền
của Tòa án đối với quyết định cá biệt của cơ quan, tổ chức như sau: “Thẩm
quyền của cấp Tòa án giải quyết vụ việc dân sự trong trường hợp có xem xét việc
hủy quyết định cá biệt quy định tại khoản 1 Điều này được xác định theo quy
định tương ứng của Luật tố tụng hành chính về thẩm quyền của Tòa án nhân dân
cấp huyện, Tòa án nhân dân cấp tỉnh”.
Khoản 4 Điều 32 của Luật Tố tụng hành chính quy định: Tòa án
nhân dân cấp tỉnh giải quyết theo thủ tục sơ thẩm khiếu kiện quyết định hành
chính, hành vi hành chính của Ủy ban nhân dân cấp huyện, Chủ tịch Ủy ban nhân
dân cấp huyện trên cùng phạm vi địa giới hành chính với Tòa án.
Đối tượng hướng dẫn áp dụng theo Công văn số 64/TANDTC-PC là tranh chấp hợp đồng chuyển
quyền sử dụng đất, còn đối tượng tranh chấp trong trường hợp nêu trên là
tranh chấp quyền sử dụng đất. Đây là hai đối tượng tranh chấp khác nhau.
Hơn nữa, pháp luật chỉ quy định thẩm quyền của Tòa án là hủy quyết định cá biệt
hoặc bác yêu cầu khởi kiện của đương sự mà không quy định Tòa án có thẩm quyền
đề nghị cơ quan hành chính nhà nước điều chỉnh quyết định.
Do vậy, đối với tranh chấp liên quan đến ranh giới đất bị cấp Giấy chứng nhận quyền sử
dụng đất chồng lấn, nếu thấy cần thiết phải xem xét
việc hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thì thuộc thẩm quyền giải quyết của
Tòa án nhân dân cấp tỉnh.
8. Trong quá trình giải quyết vụ
án, nguyên đơn yêu cầu Tòa án áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời phong tỏa tài
sản của người có nghĩa vụ (bị đơn) để bảo đảm thi hành án. Tài sản bị yêu cầu
phong tỏa là nhà, đất đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở
hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất cho bị đơn. Bị đơn đã ký kết hợp
đồng chuyển nhượng nhà, đất này cho người thứ 3 và hợp đồng được công chứng
nhưng chưa được đăng ký vào sổ địa chính. Vậy, Tòa án có được ra quyết định áp
dụng biện pháp phong tỏa tài sản trong trường hợp này hay không?
Điều 126 của Bộ luật Tố tụng dân
sự quy định:“Phong tỏa tài sản của người có nghĩa vụ được áp dụng nếu trong
quá trình giải quyết vụ án có căn cứ cho thấy người có nghĩa vụ có tài sản và
việc áp dụng biện pháp này là cần thiết để bảo đảm cho việc giải quyết vụ án
hoặc việc thi hành án”.
Khoản 1 Điều 12 và khoản 1 Điều 122 của Luật
Nhà ở năm 2014 quy định
như sau:
Khoản 1
Điều 12: “Trường hợp mua bán nhà ở mà không thuộc diện quy định
tại khoản 3 Điều này và trường hợp thuê mua nhà ở thì thời điểm chuyển quyền sở
hữu nhà ở là kể từ thời điểm bên mua, bên thuê mua đã thanh toán đủ tiền mua,
tiền thuê mua và đã nhận bàn giao nhà ở, trừ trường hợp các bên có thỏa thuận
khác”.
Khoản 1
Điều 122: “Trường hợp mua bán, tặng cho, đổi, góp vốn, thế chấp nhà ở,
chuyển nhượng hợp đồng mua bán nhà ở thương mại thì phải thực hiện công chứng,
chứng thực hợp đồng, trừ trường hợp quy định tại khoản 2 Điều này. Đối với các
giao dịch quy định tại khoản này thì thời điểm có hiệu lực của hợp đồng là thời
điểm công chứng, chứng thực hợp đồng”.
Khoản 3
Điều 188 của Luật Đất đai năm 2013 quy định: “Việc chuyển đổi, chuyển nhượng,
cho thuê, cho thuê lại, thừa kế, tặng cho, thế chấp quyền sử dụng đất, góp vốn
bằng quyền sử dụng đất phải đăng ký tại cơ quan đăng ký đất đai và có hiệu lực
kể từ thời điểm đăng ký vào sổ địa chính”.
Như vậy,
theo các quy định trên, cần xác định rõ tài sản mà nguyên đơn yêu cầu áp dụng
biện pháp khẩn cấp tạm thời phong tỏa tài sản của người có nghĩa vụ là nhà hay
là quyền sử dụng đất.
Trường hợp
tài sản là nhà ở, theo quy định của pháp luật, thời điểm hợp đồng mua bán nhà
có hiệu lực là thời điểm hợp đồng đó được công chứng, chứng thực, còn việc
chuyển giao quyền sở hữu từ người bán sang người mua là thời điểm bên mua đã
thanh toán đủ tiền và nhận bàn giao nhà. Vì vậy, trường hợp nguyên đơn yêu cầu
áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời phong tỏa tài sản của người có nghĩa vụ là
nhà ở thuộc quyền sở hữu của bị đơn thì giải quyết như sau: Nếu bị đơn đã ký
hợp mua bán nhà ở với bên mua, hợp đồng đã được Công chứng mà bên mua đã trả đủ
tiền và nhận bàn giao nhà ở từ bên bán thì kể từ thời điểm này nhà ở đã không
còn thuộc quyền sở hữu hợp pháp của bị đơn, nên Tòa án không được áp dụng biện
pháp khẩn cấp tạm thời phong tỏa tài sản của người có nghĩa vụ; nếu hợp đồng
mua bán nhà ở giữa bị đơn với người mua đã được công chứng, nhưng người mua
chưa thanh toán đủ tiền mua hoặc chưa nhận nhà từ bên bán bàn giao thì tài sản
đó vẫn còn thuộc quyền sở hữu của bị đơn, nên Tòa án được áp dụng biện pháp khẩn
cấp tạm thời phong tỏa tài sản của người có nghĩa vụ theo quy định của Bộ luật
Tố tụng dân sự.
Trường hợp
tài sản là quyền sử dụng đất, theo quy định của pháp luật thì hợp đồng chuyển
nhượng quyền sử dụng đất có hiệu lực kể từ thời đăng
ký vào sổ địa chính.
Vì vậy, trường hợp nguyên đơn yêu cầu áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời phong
tỏa tài sản của người có nghĩa vụ là thửa đất thuộc quyền sử dụng của bị đơn
thì giải quyết như sau: Nếu bị đơn đã ký hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng
đất cho bên nhận chuyển nhượng, hợp đồng đã được công chứng và đã hoàn thành
thủ tục đăng ký vào sổ địa chính thì kể từ thời điểm này thửa đất không thuộc
quyền sử dụng của bị đơn, nên Tòa án không được áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm
thời phong tỏa tài sản của người có nghĩa vụ; nếu đã ký hợp đồng chuyển nhượng
quyền sử dụng đất cho bên nhận chuyển nhượng, hợp đồng đã được công chứng,
nhưng chưa đăng ký vào sổ địa chính thì thửa đất đó vẫn thuộc quyền sử dụng của
bị đơn, nên Tòa án được áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời phong tỏa tài sản
của người có nghĩa vụ theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.
9. Tòa án tống đạt trực tiếp văn bản tố tụng lần 1 nhưng
đương sự cố tình không nhận thì Tòa án có phải tiến hành niêm yết công khai
theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự không?
Khoản 1 Điều 179 của Bộ luật Tố tụng dân sự quy định:“Việc niêm yết công khai văn bản tố tụng được thực hiện
trong trường hợp không thể cấp, tống đạt, thông báo trực tiếp văn bản tố tụng
theo quy định tại Điều 177 và Điều 178 của Bộ luật này”.
Như vậy, theo quy định nêu trên thì Tòa án
chỉ niêm yết công khai văn bản tố tụng khi không thể cấp, tống đạt, thông báo
trực tiếp văn bản tố tụng, không phụ thuộc vào việc cấp, tống đạt, thông báo
lần thứ nhất hay những lần sau.
Khoản 4 Điều 177 của Bộ
luật Tố tụng dân sự quy định: “Trường hợp người
được cấp, tống đạt, thông báo từ chối nhận văn bản tố tụng thì người thực hiện
việc cấp, tống đạt, thông báo phải lập biên bản trong đó nêu rõ lý do của việc
từ chối, có xác nhận của đại diện tổ dân phố hoặc Công an xã, phường, thị trấn
về việc người đó từ chối nhận văn bản tố tụng. Biên bản phải được lưu trong hồ
sơ vụ án.” và khoản 2 Điều 178 của Bộ luật Tố tụng dân sự quy định: “Trường
hợp người được cấp, tống đạt, thông báo từ chối nhận văn bản tố tụng hoặc vắng
mặt thì thực hiện theo quy định tại khoản 4 và khoản 5 Điều 177 của Bộ luật
này.”
Như
vậy, trường hợp Tòa án đã tống đạt trực tiếp văn bản tố
tụng mà đương sự từ chối nhận văn bản tống đạt thì người tống đạt lập biên bản trong đó nêu rõ lý do của việc từ
chối, có xác nhận của đại diện tổ dân phố hoặc Công an xã, phường, thị trấn về
việc người đó từ chối nhận văn bản tố tụng theo quy định tại Điều 177, Điều 178 của Bộ luật Tố tụng dân sự thì việc
cấp, tống đạt, thông báo trực tiếp cho đương sự được coi là tống đạt hợp lệ,
Tòa án không phải niêm yết công khai.
10. Trong
vụ án chia tài sản chung, chia di sản thừa kế thì người được hưởng phần tài sản
là công sức gìn giữ tôn tạo quyền sử dụng đất có phải chịu án phí không?
Người có công sức gìn giữ tôn tạo đối với quyền sử dụng
đất là di sản thừa kế hoặc là tài sản chung có thể là người thừa kế (theo di
chúc, theo pháp luật, người được chia tài sản chung) hoặc người ngoài diện được
hưởng thừa kế, người ngoài diện được chia tài sản chung, họ có yêu cầu độc lập
đề nghị được hưởng công sức gìn giữ tôn tạo quyền sử dụng đất mà nguyên đơn, bị
đơn đang tranh chấp yêu cầu chia thừa kế, chia tài sản chung.
Khoản 7 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH ngày
30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản
lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án quy định:
“7. Đối với vụ án liên quan đến chia tài sản chung, di
sản thừa kế thì nghĩa vụ chịu án phí dân sự sơ thẩm được xác định như sau:
a) Khi các bên đương sự không xác định được phần tài sản
của mình hoặc mỗi người xác định phần tài sản của mình trong khối tài sản
chung, phần di sản của mình trong khối di sản thừa kế là khác nhau và có một
trong các bên yêu cầu Tòa án giải quyết chia tài sản chung, di sản thừa kế đó
thì mỗi bên đương sự phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo mức tương ứng với giá
trị phần tài sản mà họ được chia, được hưởng trong khối tài sản chung hoặc
trong khối di sản thừa kế. Đối với phần Tòa án bác đơn yêu cầu thì người yêu
cầu chia tài sản chung, di sản thừa kế không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm.
Trường hợp, Tòa án xác định tài sản chung, di sản thừa kế mà đương sự yêu cầu
chia không phải là tài sản của họ thì đương sự phải chịu án phí dân sự sơ thẩm
không có giá ngạch;
b) Trường hợp đương sự đề nghị chia tài sản chung, chia
di sản thừa kế mà cần xem xét việc thực hiện nghĩa vụ về tài sản với bên thứ ba
từ tài sản chung, di sản thừa kế đó thì:
Đương sự phải chịu án phí dân sự sơ thẩm đối với phần tài
sản họ được chia sau khi trừ đi giá trị tài sản thực hiện nghĩa vụ với bên thứ
ba; các đương sự phải chịu một phần án phí ngang nhau đối với phần tài sản thực
hiện nghĩa vụ với bên thứ ba theo quyết định của Tòa án.
Người thứ ba là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan
không có yêu cầu độc lập hoặc có yêu cầu nhưng yêu cầu đó được Tòa án chấp nhận
thì không phải chịu án phí đối với phần tài sản được nhận.
Người thứ ba có yêu cầu độc lập nhưng yêu cầu đó không
được Tòa án chấp nhận phải chịu án phí dân sự có giá ngạch đối với phần yêu cầu
không được chấp nhận.”
Căn cứ quy định nêu trên thì tùy từng trường hợp, việc
xác định nghĩa vụ chịu án phí của người được hưởng phần tài sản là công sức gìn
giữ tôn tạo quyền sử dụng đất được xác định như sau:
- Trường hợp người yêu cầu được hưởng công sức gìn giữ
tôn tạo quyền sử dụng đất là người thuộc diện thừa kế theo pháp luật, thừa kế theo di chúc, hoặc thuộc diện được chia tài sản chung
thì xác định án phí như sau:
+ Nếu yêu
cầu được chấp nhận, người đó được hưởng phần công sức gìn giữ tôn tạo quyền sử
dụng đất cùng với việc được chia di sản hoặc chia tài sản chung thì phải chịu
án phí dân sự sơ thẩm theo mức tương ứng với giá trị phần tài sản mà họ được
chia, được hưởng trong khối di sản thừa kế hoặc trong khối tài sản chung;
+ Nếu yêu cầu không được chấp nhận, Tòa án bác yêu cầu
hưởng phần công sức gìn giữ tôn tạo quyền sử dụng đất cùng với việc được chia
di sản hoặc chia tài sản chung thì không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm đối
với phần yêu cầu hưởng công sức.
- Trường hợp người yêu cầu được hưởng công sức gìn giữ
tôn tạo quyền sử dụng đất không phải là người thuộc diện thừa kế theo pháp
luật, thừa kế theo di chúc hoặc không thuộc diện được chia tài sản chung (gọi
là người thứ ba) thì xác định án
phí như sau:
+ Nếu yêu cầu của người thứ ba được chấp nhận, Tòa tuyên
cho người thứ ba được hưởng phần
công sức gìn giữ tôn tạo quyền sử dụng đất trong
vụ án chia thừa kế hoặc chia tài sản chung thì người thứ
ba không phải chịu án phí; những người được thừa kế theo pháp luật, theo di
chúc hoặc được chia tài sản chung phải chịu án phí sơ thẩm theo mức tương ứng
với giá trị phần tài sản mà người thứ ba được hưởng trong khối di sản thừa kế
hoặc trong khối tài sản chung.
+ Nếu yêu cầu của người thứ ba không
được chấp nhận thì người thứ ba phải chịu án phí dân sự
sơ thẩm đối với yêu cầu hưởng phần công sức gìn giữ tôn tạo quyền sử dụng đất trong vụ án chia thừa kế hoặc chia tài sản chung bị Tòa án bác.
11. Theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự và Nghị quyết số
326/2016/NQ-UBTVQH thì tranh chấp xác định cha, mẹ cho con là tranh chấp về hôn
nhân và gia đình, vậy khi giải quyết thì nguyên đơn hay bị đơn phải chịu án
phí?
Tranh chấp về xác định cha, mẹ cho con là thuộc trường
hợp tranh chấp quy định tại khoản 4 Điều 28 của Bộ luật Tố tụng dân sự cho nên đây là loại án hôn nhân và gia đình; tuy nhiên Điều
27 của Nghị quyết số 326/2016/NQ-UBTVQH không quy định cụ thể về án phí đối với
loại tranh chấp này cho nên phải áp dụng khoản 1 Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Tòa án căn cứ quy định
tại khoản 1, khoản 4 Điều 26 của Nghị quyết số 326/2016/NQ-UBTVQH: “Đương sự
phải chịu án phí sơ thẩm nếu yêu cầu của họ không được Tòa án chấp nhận, trừ
trường hợp được miễn hoặc không phải chịu án phí sơ thẩm...Nguyên đơn phải chịu
án phí dân sự sơ thẩm tương ứng với phần yêu cầu không được Tòa án chấp nhận.
Bị đơn phải chịu án phí dân sự sơ thẩm tương ứng với phần yêu cầu của nguyên đơn
đối với bị đơn được Tòa án chấp nhận.” để tính án phí, trừ trường hợp quy
định tại Điều 11, Điều 12, Điều 13 của Nghị quyết số 326/2016/NQ-UBTVQH.
Trường hợp xin xác định cha, mẹ cho con chưa thành niên,
con đã thành niên mất năng lực hành vi dân sự thì được miễn nộp tiền tạm ứng án
phí, án phí theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 12 của Nghị quyết số
326/2016/NQ-UBTVQH.
12. Người cao tuổi không có đơn, không có đề nghị miễn
tạm ứng án phí, tạm ứng lệ phí Tòa án (vì không hiểu biết, không được giải
thích). Tòa án vẫn buộc phải chịu án phí (không cho miễn) có được xác định là
vi phạm hay không?
Theo quy định tại điểm đ khoản 1 Điều 12 của Nghị quyết
số 326/2016/NQ-UBTVQH thì người cao tuổi được miễn nộp tiền tạm ứng án phí, án
phí, tạm ứng lệ phí Tòa án, lệ phí Tòa án.
Tuy nhiên, khoản 1 Điều 14 của Nghị quyết số
326/2016/NQ-UBTVQH quy định: “Người đề nghị được miễn, giảm tạm ứng án phí,
tạm ứng lệ phí Tòa án, án phí, lệ phí Tòa án thuộc trường hợp quy định tại Điều
12, Điều 13 của Nghị quyết này phải có đơn đề nghị nộp cho Tòa án có thẩm quyền
kèm theo các tài liệu, chứng cứ chứng minh thuộc trường hợp được miễn, giảm”.
Do đó, nếu đương sự không có đơn đề nghị thì việc Tòa án
quyết định đương sự phải chịu án phí là không vi phạm.
Trên đây là
kết quả giải đáp trực tuyến một số vướng mắc của Hội đồng Thẩm phán, Tòa án
nhân dân tối cao thông báo để các Tòa án nghiên cứu, tham khảo trong quá trình
giải quyết các vụ việc thuộc thẩm quyền.
|
Nơi nhận: |
KT. CHÁNH ÁN |
[1]
Tham khảo hướng dẫn tại tiểu mục 6.1 của Mục 6 Thông tư liên tịch số
17/2007/TTLT-BCA-VKSNDTC-TANDTC-BTP ngày 24-12-2007.
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét