Nội dung Văn Bản Quy Phạm Pháp Luật được biên tập lại từ 04 nguồn chính: https://vbpl.vn/; www.congbao.hochiminhcity.gov.vn; https://congbao.chinhphu.vn/ và https://www.ipvietnam.gov.vn /

218 DANH MỤC VĂN BẢN PHÁP LUẬT

Điều 10. Về thủ tục giải quyết vụ việc do Tòa án, Trọng tài, cơ quan thi hành án dân sự chuyển hồ sơ cho Tòa án đang giải quyết vụ việc phá sản theo quy định tại Điều 60 của Luật Phục hồi, phá sản

 Điều 10. Về thủ tục giải quyết vụ việc do Tòa án, Trọng tài, cơ quan thi hành án dân sự chuyển hồ sơ cho Tòa án đang giải quyết vụ việc phá sản theo quy định tại Điều 60 của Luật Phục hồi, phá sản

1. Trường hợp cơ quan thi hành án dân sự đã đình chỉ thi hành án và chuyển hồ sơ vụ việc cho Tòa án đang tiến hành thủ tục phá sản theo quy định tại điểm a khoản 2 Điều 59 của Luật Phục hồi, phá sản thì tùy từng trường hợp, Tòa án xử lý như sau:

a) Trường hợp bản án, quyết định của Tòa án, phán quyết của Trọng tài đã có hiệu lực pháp luật và không có quyết định kê biên tài sản của doanh nghiệp, hợp tác xã tính đến thời điểm thụ lý vụ việc phá sản thì người được thi hành án được xác định như một chủ nợ không có bảo đảm và được đưa vào danh sách chủ nợ không có bảo đảm;

b) Trường hợp bản án, quyết định của Tòa án, phán quyết của Trọng tài đã có hiệu lực pháp luật và có quyết định kê biên tài sản của doanh nghiệp, hợp tác xã tính đến thời điểm thụ lý vụ việc phá sản thì người được thi hành án được xác định như một chủ nợ có bảo đảm và được đưa vào danh sách chủ nợ có bảo đảm. Tài sản đã bị kê biên trở thành tài sản có bảo đảm.

2. Trường hợp đình chỉ giải quyết vụ việc theo quy định tại điểm a khoản 2 Điều 59 của Luật Phục hồi, phá sản thì sau khi nhận được hồ sơ vụ việc do Tòa án, Trọng tài ra quyết định đình chỉ việc giải quyết vụ việc chuyển đến, Tòa án đang tiến hành phá sản phải xem xét, giải quyết như sau:

a) Trong thời hạn 03 ngày làm việc, kể từ ngày nhận hồ sơ vụ việc do Tòa án, Trọng tài chuyển đến, tùy theo số lượng, tính chất phức tạp của tranh chấp, Chánh án Tòa án phân công một Thẩm phán hoặc nhiều Thẩm phán để giải quyết tranh chấp. Một Thẩm phán có thể giải quyết nhiều tranh chấp, nhiều Thẩm phán có thể giải quyết một tranh chấp;

b) Trong thời hạn 03 ngày làm việc kể từ ngày được phân công, Thẩm phán phải thông báo cho doanh nghiệp, hợp tác xã, các đương sự, cơ quan, tổ chức, cá nhân có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, Quản tài viên, doanh nghiệp quản lý, thanh lý tài sản, Viện kiểm sát về việc giải quyết tranh chấp;

c) Trong thời hạn 30 ngày kể từ ngày được phân công, Thẩm phán phải mở phiên họp xem xét giải quyết tranh chấp. Phiên họp giải quyết tranh chấp có Viện kiểm sát tham gia, Thư ký ghi biên bản phiên họp, đương sự, cơ quan, tổ chức, cá nhân có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, Quản tài viên, doanh nghiệp quản lý, thanh lý tài sản. Trường hợp tranh chấp phức tạp thì thời hạn là 60 ngày kể từ ngày được phân công. Trước thời điểm mở phiên họp, Tòa án phải chuyển hồ sơ tranh chấp cho Viện kiểm sát nghiên cứu trong thời hạn 03 ngày làm việc kể từ ngày nhận được hồ sơ.

Trong thời hạn này, Thẩm phán phải tiếp tục thực hiện các thủ tục tố tụng tương ứng theo quy định để đưa tranh chấp trong vụ việc phục hồi, phá sản ra giải quyết. Việc giải quyết tranh chấp theo quy định của pháp luật tố tụng tương ứng không được trái với quy định về thời hạn và các quy định khác của pháp luật về phục hồi, phá sản;

d) Kiểm sát viên được Viện trưởng Viện kiểm sát phân công có nhiệm vụ tham gia phiên họp; nếu Kiểm sát viên vắng mặt thì Thẩm phán vẫn tiến hành giải quyết tranh chấp, không hoãn phiên họp. Nguyên đơn không phải là doanh nghiệp, hợp tác xã rút toàn bộ yêu cầu khởi kiện hoặc đã được triệu tập hợp lệ lần thứ hai mà vẫn vắng mặt thì Tòa án đình chỉ giải quyết tranh chấp, trừ trường hợp họ đề nghị xét xử vắng mặt hoặc vì sự kiện bất khả kháng, trở ngại khách quan. Các đương sự khác vắng mặt lần thứ hai thì Thẩm phán vẫn tổ chức phiên họp.

Căn cứ để quyết định tạm ngừng, hoãn, tạm đình chỉ, đình chỉ được thực hiện theo quy định của pháp luật tố tụng. Trường hợp việc tạm ngừng, hoãn, tạm đình chỉ, đình chỉ trái với quy định của pháp luật về phục hồi, phá sản thì Tòa án áp dụng pháp luật về phục hồi, phá sản để tiếp tục giải quyết tranh chấp;

đ) Trình tự tiến hành phiên họp xem xét giải quyết tranh chấp:

đ1) Thư ký phiên họp báo cáo Thẩm phán về sự có mặt, vắng mặt của những người tham gia phiên họp;

đ2) Thẩm phán chủ tọa khai mạc phiên họp, kiểm tra về sự có mặt, vắng mặt của những người được triệu tập tham gia phiên họp và căn cước của họ, giải thích quyền và nghĩa vụ của người tham gia phiên họp;

đ3) Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự, đương sự hoặc người đại diện hợp pháp của họ trình bày về những vấn đề cụ thể yêu cầu Tòa án giải quyết, lý do, mục đích và căn cứ của việc yêu cầu Tòa án giải quyết tranh chấp;

đ4) Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan hoặc người đại diện hợp pháp của họ trình bày ý kiến về những vấn đề có liên quan đến quyền, nghĩa vụ của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trong việc giải quyết tranh chấp;

đ5) Người làm chứng trình bày ý kiến; người giám định trình bày kết luận giám định, giải thích những vấn đề còn chưa rõ hoặc có mâu thuẫn (nếu có);

đ6) Trường hợp có người được Tòa án triệu tập tham gia phiên họp vắng mặt thì Thẩm phán chủ tọa phiên họp cho công bố lời khai, tài liệu, chứng cứ do người đó cung cấp trước khi xem xét tài liệu, chứng cứ;

đ7) Thẩm phán xem xét tài liệu, chứng cứ;

đ8) Kiểm sát viên phát biểu ý kiến của Viện kiểm sát về việc giải quyết tranh chấp và gửi ngay văn bản phát biểu ý kiến cho Tòa án để lưu vào hồ sơ việc giải quyết tranh chấp sau khi phiên họp kết thúc;

đ9) Thẩm phán xem xét, ra quyết định giải quyết tranh chấp;

e) Quyết định giải quyết tranh chấp có hiệu lực thi hành ngay để xác định nghĩa vụ tài sản theo quy định tại khoản 3 Điều 60 của Luật Phục hồi, phá sản.

Ngay sau khi có quyết định giải quyết tranh chấp, Thẩm phán phải căn cứ vào quyết định để cập nhật vào danh sách chủ nợ, người mắc nợ. Trường hợp giải quyết đề nghị xem xét lại, kiến nghị thì Thẩm phán phải cập nhật lại vào danh sách chủ nợ, người mắc nợ.

3. Sau khi giải quyết tranh chấp, nghĩa vụ tài sản mà doanh nghiệp, hợp tác xã phải thực hiện hoặc nghĩa vụ tài sản mà đương sự khác phải thực hiện đối với doanh nghiệp, hợp tác xã được xác định như sau:

a) Trường hợp doanh nghiệp, hợp tác xã phải thực hiện nghĩa vụ về tài sản thì người được doanh nghiệp, hợp tác xã thực hiện nghĩa vụ về tài sản có quyền yêu cầu thanh toán trong khối tài sản của doanh nghiệp, hợp tác xã như một chủ nợ có bảo đảm hoặc chủ nợ không có bảo đảm theo kết quả giải quyết tranh chấp và tham gia thủ tục phá sản với tư cách là chủ nợ theo quy định của Luật Phục hồi, phá sản. Trường hợp tài sản bảo đảm không đủ để thanh toán nợ thì chủ nợ trở thành chủ nợ không có bảo đảm đối với phần nợ chưa được thanh toán;

b) Trường hợp bên đương sự phải thực hiện nghĩa vụ về tài sản đối với doanh nghiệp, hợp tác xã thì phải thanh toán cho doanh nghiệp, hợp tác xã giá trị tương ứng với nghĩa vụ tài sản đó và tham gia thủ tục phá sản với tư cách là người mắc nợ theo quy định của Luật Phục hồi, phá sản.

4. Sau khi Tòa án thụ lý đơn yêu cầu áp dụng thủ tục phá sản đến trước khi ra quyết định tuyên bố doanh nghiệp, hợp tác xã phá sản, các vụ việc khởi kiện, yêu cầu doanh nghiệp, hợp tác xã phải thực hiện nghĩa vụ tài sản hoặc doanh nghiệp, hợp tác xã khởi kiện, yêu cầu cơ quan, tổ chức, cá nhân khác chỉ được giải quyết tại Tòa án đã thụ lý đơn yêu cầu áp dụng thủ tục phá sản theo quy định tại khoản 2 và khoản 3 Điều 60 của Luật Phục hồi, phá sản và hướng dẫn tại khoản 2 và khoản 3 Điều này.

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét