Điều 12. Về áp dụng thủ tục phá sản rút gọn quy định tại Điều 70 của Luật Phục hồi, phá sản
1. Thủ tục phá sản rút gọn được Tòa án xem xét áp dụng trong quá trình giải quyết yêu cầu áp dụng thủ tục phá sản khi doanh nghiệp, hợp tác xã thuộc một trong các trường hợp sau đây:
a) Doanh nghiệp, hợp tác xã có từ 20 chủ nợ không có bảo đảm trở xuống và có tổng các khoản nợ gốc phải thanh toán từ 10 tỷ đồng trở xuống tại thời điểm Tòa án thụ lý đơn yêu cầu;
b) Doanh nghiệp nhỏ hoặc doanh nghiệp siêu nhỏ theo quy định của pháp luật về hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa tại thời điểm Tòa án thụ lý đơn yêu cầu.
Hợp tác xã nhỏ hoặc hợp tác xã siêu nhỏ theo quy định của pháp luật về hợp tác xã tại thời điểm Tòa án thụ lý đơn yêu cầu;
c) Doanh nghiệp, hợp tác xã không còn tài sản hoặc còn tài sản nhưng không thanh lý, thu hồi được hoặc còn tài sản nhưng không đủ để nộp lệ phí phá sản, tạm ứng chi phí phá sản, thanh toán chi phí phá sản;
Ví dụ 1: Doanh nghiệp A không có bất kỳ tài sản, quyền tài sản nào, không có người mắc nợ, còn tiền trong tài khoản nhưng chỉ để duy trì số dư tối thiểu trên tài khoản thanh toán theo quy định của tổ chức cung ứng dịch vụ thanh toán.
Ví dụ 2: Doanh nghiệp B có 03 người mắc nợ nhưng tất cả khoản nợ này có khả năng mất vốn theo quy định của pháp luật về tín dụng, ngoài ra không có bất kỳ tài sản, quyền tài sản nào khác.
d) Tổ chức tín dụng thuộc trường hợp bị tuyên bố phá sản theo quy định của pháp luật về các tổ chức tín dụng;
đ) Doanh nghiệp bảo hiểm, doanh nghiệp tái bảo hiểm đã bị Bộ Tài chính ban hành văn bản chấm dứt áp dụng biện pháp kiểm soát nhưng không khắc phục được tình trạng bị áp dụng biện pháp kiểm soát theo quy định của Luật Kinh doanh bảo hiểm;
e) Trường hợp khác theo quy định của pháp luật hoặc theo hướng dẫn của Tòa án nhân dân tối cao.
2. Sau khi ra quyết định áp dụng thủ tục phá sản rút gọn theo quy định tại điểm a khoản 4 Điều 34 của Luật Phục hồi, phá sản, Tòa án gửi quyết định cho cơ quan thi hành án dân sự đã ra quyết định tạm đình chỉ thi hành án, cơ quan, tổ chức có thẩm quyền khác đã tạm dừng việc xử lý tài sản đảm bảo của doanh nghiệp, hợp tác xã theo quy định tại khoản 1, 2 và 4 Điều 27 của Luật Phục hồi, phá sản.
3. Người có nghĩa vụ nộp đơn yêu cầu áp dụng thủ tục phá sản rút gọn đối với tổ chức tín dụng được thực hiện theo quy định của pháp luật về tổ chức tín dụng. Trường hợp tổ chức tín dụng ban hành nghị quyết về việc yêu cầu áp dụng thủ tục phá sản thì người có nghĩa vụ nộp đơn là Chủ tọa phiên họp Đại hội đồng cổ đông, Chủ tịch Hội đồng quản trị của công ty cổ phần, Chủ tịch Hội đồng thành viên của công ty trách nhiệm hữu hạn hai thành viên, Chủ tịch Hội đồng thành viên của công ty hợp danh hoặc người khác theo quy định của Điều lệ công ty hoặc người khác theo quyết định của Đại hội đồng cổ đông, Hội đồng quản trị của công ty cổ phần, Hội đồng thành viên của công ty trách nhiệm hữu hạn hai thành viên, Hội đồng thành viên của công ty hợp danh.
4. Áp dụng thủ tục phá sản rút gọn đối với tổ chức tín dụng
Tổ chức tín dụng thực hiện thủ tục phá sản theo trình tự, thủ tục quy định tại Điều 72 của Luật Phục hồi, phá sản.
Trường hợp Điều 72 của Luật Phục hồi, phá sản không có quy định thì áp dụng các quy định khác của Luật Phục hồi, phá sản và pháp luật về các tổ chức tín dụng để giải quyết mà không áp dụng quy định tại các điều 61, 62, 63 và 64 của Luật Phục hồi, phá sản.
5. Áp dụng thủ tục phá sản rút gọn đối với doanh nghiệp bảo hiểm, doanh nghiệp tái bảo hiểm
Doanh nghiệp bảo hiểm, doanh nghiệp tái bảo hiểm quy định tại điểm đ khoản 1 Điều này thực hiện thủ tục phá sản theo quy định của pháp luật về kinh doanh bảo hiểm.
Trường hợp pháp luật về kinh doanh bảo hiểm không có quy định thì áp dụng quy định tương ứng của Luật Phục hồi, phá sản để giải quyết mà không áp dụng quy định tại các điều 46, 61, 62, 63 và 64 của Luật Phục hồi, phá sản.
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét