Điều 19. Những trường hợp không tiến hành hòa giải, đối thoại tại Tòa án
1. Yêu cầu đòi bồi thường do gây thiệt hại đến tài sản của Nhà nước.
2. Vụ việc phát sinh từ giao dịch dân sự vi phạm điều cấm của luật hoặc trái đạo đức xã hội.
3. Người khởi kiện, người yêu cầu, người bị kiện, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đã được mời tham gia hòa giải, đối thoại hợp lệ lần thứ hai mà vẫn vắng mặt không vì sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan hoặc không thể tham gia hòa giải, đối thoại được vì có lý do chính đáng.
4. Một bên vợ hoặc chồng trong tranh chấp ly hôn là người mất năng lực hành vi dân sự.
5. Một trong các bên đề nghị không tiến hành hòa giải, đối thoại.
6. Một trong các bên yêu cầu áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự, Luật Tố tụng hành chính.
7. Trường hợp khác theo quy định của pháp luật.
=============================
Căn cứ vào dữ
liệu văn bản bạn vừa cung cấp, đây là Điều 19 Luật Hòa giải, đối thoại tại
Tòa án. Điều luật này liệt kê các trường hợp loại trừ, không cho phép hoặc
phải dừng việc hòa giải, đối thoại.
Để giúp bạn
dễ dàng liên kết với Điều 16 ở trên (về quy trình xử lý đơn), chúng ta
có thể chia 7 trường hợp này thành hai nhóm rõ rệt dựa trên thời điểm phát
hiện:
Nhóm 1: Bị
từ chối ngay từ khâu nhận đơn (Bộ lọc ban đầu của Tòa án)
Tại Khoản 3
Điều 16 có quy định: Nếu không thuộc các khoản 1, 2, 4, 6 và 7 Điều 19 thì
Tòa án mới gửi thông báo quyền lựa chọn hòa giải.
Như vậy,
ngay khi nhận đơn, nếu Thẩm phán phát hiện vụ việc rơi vào 5 trường hợp
sau, Tòa án sẽ bỏ qua bước hòa giải và chuyển thẳng đơn sang thủ tục tố
tụng thông thường:
- Khoản 1: Tranh chấp đòi bồi thường thiệt
hại đến tài sản của Nhà nước (vì tài sản công không thuộc quyền tự định đoạt,
thỏa thuận tự do của các bên).
- Khoản 2: Giao dịch dân sự vi phạm điều cấm
của luật hoặc trái đạo đức xã hội (ví dụ: tranh chấp hợp đồng mua bán chất
cấm, mang thai hộ thương mại...). Tòa án không thể công nhận các thỏa thuận
bất hợp pháp.
- Khoản 4: Tranh chấp ly hôn mà vợ hoặc chồng
bị mất năng lực hành vi dân sự (họ không còn khả năng nhận thức và tự quyết
định về quan hệ nhân thân, hôn nhân của mình).
- Khoản 6: Một trong các bên yêu cầu Tòa
án áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời (như phong tỏa tài khoản, kê biên
tài sản...). Khi tình thế đã khẩn cấp, cần sự can thiệp ngay của Tòa án để
bảo vệ chứng cứ hoặc tài sản, không thể chờ đợi hòa giải.
- Khoản 7: Các trường hợp khác theo quy định
của pháp luật.
Nhóm 2:
Buộc phải dừng trong quá trình thực hiện (Dừng giữa chừng)
Đây là các
trường hợp khi nhận đơn thì hoàn toàn hợp lệ, Tòa án đã triển khai mời các bên,
nhưng quá trình hòa giải bị đổ vỡ hoặc không thể tiến hành được do thái
độ hoặc lựa chọn của đương sự:
- Khoản 3 - Các bên bất hợp tác (Vắng
mặt): Các bên
(người khởi kiện, người yêu cầu, người bị kiện hoặc người có quyền lợi,
nghĩa vụ liên quan) đã được Tòa án/Hòa giải viên triệu tập hợp lệ đến lần
thứ hai nhưng vẫn vắng mặt mà không có lý do chính đáng (hoặc không do trở
ngại khách quan). Tòa án sẽ lập biên bản chấm dứt hòa giải để chuyển sang
xét xử.
- Khoản 5 - Các bên từ chối (Quyền
tự nguyện): Một
trong các bên chủ động đề nghị bằng văn bản hoặc hình thức khác là không
muốn hòa giải nữa. Nguyên tắc cốt lõi của hòa giải là tự nguyện, nên
khi một bên đã nói "Không", quy trình sẽ dừng lại ngay lập tức. (Sự
kiện này tương ứng với Nhánh 2 tại Bước 3 và Trường hợp 3 tại Bước 5 của
quy trình Điều 16 mà chúng ta vừa phân tích).
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét