Nội dung Văn Bản Quy Phạm Pháp Luật được biên tập lại từ 04 nguồn chính: https://vbpl.vn/; www.congbao.hochiminhcity.gov.vn; https://congbao.chinhphu.vn/ và https://www.ipvietnam.gov.vn /

218 DANH MỤC VĂN BẢN PHÁP LUẬT

Điều 2. Áp dụng pháp luật về lãi, lãi suất trong hợp đồng vay tài sản không phải là hợp đồng tín dụng【Nghị quyết 01/2019/NQ-HĐTP】

 Điều 2. Áp dụng pháp luật về lãi, lãi suất trong hợp đồng vay tài sản không phải là hợp đồng tín dụng

1. Hợp đồng vay tài sản không phải là hợp đồng tín dụng được xác lập trước ngày 01-01-2017 (ngày Bộ luật Dân sự năm 2015 bắt đầu có hiệu lực) thì việc áp dụng pháp luật về lãi, lãi suất xác định như sau:

a) Hợp đồng được thực hiện xong là hợp đồng mà các bên đã hoàn thành xong các quyền, nghĩa vụ theo thỏa thuận và các quyền, nghĩa vụ khác phát sinh từ hợp đồng mà pháp luật có quy định.

Hợp đồng được thực hiện xong trước ngày 01-01-2017 mà có tranh chấp thì áp dụng Bộ luật Dân sự năm 2005, Nghị quyết số 45/2005/QH11 ngày 14-6-2005 của Quốc hội về việc thi hành Bộ luật Dân sự và văn bản quy phạm pháp luật quy định chi tiết, hướng dẫn áp dụng Bộ luật Dân sự năm 2005 để giải quyết;

Ví dụ 1: Ngày 20-12-2015, ông A ký hợp đồng cho bà B vay 10.000.000.000 đồng, thời hạn vay 01 năm, lãi suất thỏa thuận là 18%/năm; hợp đồng có hiệu lực và bà B đã trả xong nợ gốc và lãi theo đúng thỏa thuận trong hợp đồng. Ngày 20-02-2018, bà B khởi kiện yêu cầu ông A trả lại tiền lãi do mức lãi suất vượt quá 150% mức lãi suất cơ bản theo Quyết định số 2868/QĐ-NHNN ngày 29-11-2010 của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (quy định mức lãi suất cơ bản là 9%/năm, tương ứng với mức 150% lãi suất cơ bản là 13,5%/năm). Trường hợp này, Tòa án phải áp dụng Điều 476 của Bộ luật Dân sự năm 2005 để xác định lãi suất, lãi suất vượt quá.

b) Hợp đồng chưa được thực hiện là hợp đồng mà các bên chưa phải thực hiện quyền, nghĩa vụ theo thỏa thuậncác quyền, nghĩa vụ khác phát sinh từ hợp đồng mà pháp luật có quy định.

Hợp đồng chưa được thực hiện mà lãi, lãi suất phù hợp với quy định của Bộ luật Dân sự năm 2015 thì áp dụng quy định của Bộ luật Dân sự năm 2015 và văn bản quy phạm pháp luật quy định chi tiết, hướng dẫn áp dụng Bộ luật Dân sự năm 2015 để giải quyết; trường hợp lãi, lãi suất không phù hợp với quy định của Bộ luật Dân sự năm 2015 thì áp dụng quy định của Bộ luật Dân sự năm 2005, Nghị quyết số 45/2005/QH11 ngày 14-6-2005 của Quốc hội về việc thi hành Bộ luật Dân sự và văn bản quy phạm pháp luật quy định chi tiết, hướng dẫn áp dụng Bộ luật Dân sự năm 2005 để giải quyết, trừ trường hợp các bên có thỏa thuận về việc sửa đổi, bổ sung về lãi, lãi suất phù hợp với Bộ luật Dân sự năm 2015 và để áp dụng quy định của Bộ luật Dân sự năm 2015.

c) Hợp đồng đang được thực hiện là hợp đồng mà các bên chưa thực hiện xong quyền, nghĩa vụ theo thỏa thuậncác quyền, nghĩa vụ khác phát sinh từ hợp đồng mà pháp luật có quy định.

Hợp đồng đang được thực hiện mà lãi, lãi suất không phù hợp với quy định của Bộ luật Dân sự năm 2015 thì áp dụng quy định của Bộ luật Dân sự năm 2005, Nghị quyết số 45/2005/QH11 ngày 14-6-2005 của Quốc hội về việc thi hành Bộ luật Dân sự và văn bản quy phạm pháp luật quy định chi tiết, hướng dẫn áp dụng Bộ luật Dân sự năm 2005 để giải quyết.

Hợp đồng đang được thực hiện mà lãi, lãi suất phù hợp với quy định của Bộ luật Dân sự năm 2015 thì việc áp dụng pháp luật để xác định lãi, lãi suất như sau:

Đối với khoảng thời gian trước ngày 01-01-2006 thì áp dụng quy định của Bộ luật Dân sự năm 1995, Nghị quyết ngày 28-10-1995 của Quốc hội về việc thi hành Bộ luật Dân sự và các văn bản quy phạm pháp luật hướng dẫn áp dụng Bộ luật Dân sự năm 1995.

Đối với khoảng thời gian từ ngày 01-01-2006 đến trước ngày 01-01-2017 thì áp dụng quy định của Bộ luật Dân sự năm 2005, Nghị quyết số 45/2005/QH11 ngày 14-6-2005 của Quốc hội về việc thi hành Bộ luật Dân sự và văn bản quy phạm pháp luật quy định chi tiết, hướng dẫn áp dụng Bộ luật Dân sự năm 2005.

Đối với khoảng thời gian từ ngày 01-01-2017 thì áp dụng quy định của Bộ luật Dân sự năm 2015 và văn bản quy phạm pháp luật quy định chi tiết, hướng dẫn áp dụng Bộ luật Dân sự năm 2015.

Ví dụ 2: Ngày 01-01-2003, ông A cho bà B vay 100.000.000 đồng (hợp đồng vay không kỳ hạn), lãi suất thỏa thuận là 18%/năm. Ngày 01-01-2018, ông A khởi kiện yêu cầu bà B trả gốc và lãi theo hợp đồng. Trường hợp này, từ ngày 01-01-2003 đến trước ngày 01-01-2006, Tòa án áp dụng Điều 473 của Bộ luật Dân sự năm 1995 và các văn bản quy phạm pháp luật hướng dẫn áp dụng Bộ luật Dân sự năm 1995 để xác định lãi, lãi suất; từ ngày 01-01-2006 đến trước ngày 01-01-2017, Tòa án áp dụng Điều 476 của Bộ luật Dân sự năm 2005 để xác định lãi, lãi suất; kể từ ngày 01-01-2017 đến thời điểm xét xử sơ thẩm, Tòa án áp dụng Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015 để giải quyết.

2. Hợp đồng vay tài sản không phải là hợp đồng tín dụng được xác lập kể từ ngày 01-01-2017 thì áp dụng quy định về lãi, lãi suất của Bộ luật Dân sự năm 2015 và văn bản quy phạm pháp luật quy định chi tiết, hướng dẫn áp dụng Bộ luật Dân sự năm 2015 để giải quyết.

3. Hợp đồng vay tài sản không phải là hợp đồng tín dụng có lãi, lãi suất phù hợp với quy định của Bộ luật Dân sự năm 2015 hướng dẫn tại khoản 1 Điều này khi thuộc một trong các trường hợp sau đây:

a) Mức lãi suất thỏa thuận không vượt quá mức lãi suất giới hạn quy định tại Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015.

Ví dụ 3: Ngày 20-01-2016, ông A ký hợp đồng cho bà B vay 100.000.000 đồng, lãi suất thỏa thuận là 18%/năm. Mức lãi suất 18%/năm không vượt quá mức lãi suất giới hạn quy định tại Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015 nên thỏa thuận này phù hợp quy định của Bộ luật Dân sự năm 2015.

b) Lãi, lãi suất theo thỏa thuận được Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định nhưng không được pháp luật trước ngày Bộ luật Dân sự năm 2015 có hiệu lực thi hành quy định.

Ví dụ 4: Ngày 20-01-2016, ông A ký hợp đồng cho bà B vay 100.000.000 đồng, lãi suất thỏa thuận là 18%/năm, lãi trên nợ lãi theo mức lãi suất là 0,1%/năm. Thỏa thuận lãi trên nợ lãi là nội dung không được Bộ luật Dân sự năm 1995, Bộ luật Dân sự năm 2005 và văn bản quy phạm pháp luật quy định chi tiết, hướng dẫn áp dụng Bộ luật Dân sự năm 1995, Bộ luật Dân sự năm 2005 quy định nhưng được Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định nên thỏa thuận lãi trên nợ lãi là phù hợp quy định của Bộ luật Dân sự năm 2015.

c) Lãi, lãi suất, được Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định nhưng pháp luật trước ngày Bộ luật Dân sự năm 2015 có hiệu lực thi hành quy định khác.

Ví dụ 5: Ngày 20-01-2016, ông A ký hợp đồng cho bà B vay 100.000.000 đồng không có lãi, thời hạn vay là 03 năm. Trường hợp các bên không có thỏa thuận về việc trả lãi đối với nợ gốc quá hạn thì việc tính lãi đối với nợ gốc quá hạn chưa trả từ ngày tiếp theo của ngày đến hạn trả nợ (ngày 21-01-2019) là phù hợp với quy định của Bộ luật Dân sự năm 2015.

_Xem toàn bộ văn bản>>>>Nghị quyết 01/2019/NQ-HĐTP

============================

Văn bản bạn vừa cung cấp chính là nội dung của Điều 2 Nghị quyết số 01/2019/NQ-HĐTP do Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao ban hành. Đây là một hướng dẫn pháp lý cực kỳ quan trọng trong ngành luật, giúp các Thẩm phán và Tòa án giải quyết các tranh chấp "nhức đầu" về lãi và lãi suất đối với các hợp đồng vay tiền/tài sản giữa cá nhân với cá nhân, hoặc cá nhân với doanh nghiệp (nhưng không phải vay ngân hàng/tổ chức tín dụng).

Để giúp bạn dễ hình dung và không bị rối giữa các mốc thời gian "chồng chéo" của 3 đời Bộ luật Dân sự (BLDS 1995, 2005 và 2015), mình đã hệ thống hóa lại toàn bộ quy định trên thành các bảng và sơ đồ rất trực quan dưới đây.

1. Trực quan hóa lộ trình áp dụng luật (Hợp đồng đang thực hiện)

Đối với các hợp đồng vay dài hạn (hoặc vay không kỳ hạn) kéo dài qua nhiều thời kỳ pháp luật khác nhau, Tòa án sẽ "cắt nhỏ" từng khoảng thời gian để áp dụng đúng luật của thời kỳ đó:

Giai đoạn 1: Áp dụng BLDS 1995

  • Trước ngày 01/01/2006
  • Áp dụng BLDS 1995 và các văn bản hướng dẫn liên quan để tính lãi suất tối đa và xử lý tranh chấp trong khoảng thời gian này.

Giai đoạn 2: Áp dụng BLDS 2005

  • Từ 01/01/2006 đến trước 01/01/2017
  • Áp dụng Điều 476 BLDS 2005. Lãi suất trần được khống chế ở mức không quá 150% lãi suất cơ bản do Ngân hàng Nhà nước công bố (ví dụ thời kỳ lãi suất cơ bản là 9%/năm thì trần lãi suất là 13,5%/năm).

Giai đoạn 3: Áp dụng BLDS 2015

  • Kể từ ngày 01/01/2017 trở đi
  • Áp dụng Điều 468 BLDS 2015. Trần lãi suất cố định rõ ràng là không quá 20%/năm, không còn phụ thuộc vào lãi suất cơ bản biến động của Ngân hàng Nhà nước nữa.

2. Bảng tổng hợp nguyên tắc áp dụng pháp luật theo trạng thái hợp đồng

Dưới đây là bảng phân loại cách xử lý của Tòa án tùy thuộc vào thời điểm ký kếttrạng thái thực hiện của hợp đồng vay:

Thời điểm xác lập

Trạng thái hợp đồng

Cách áp dụng pháp luật của Tòa án

Kể từ 01/01/2017

Mọi trạng thái

Áp dụng hoàn toàn BLDS 2015 và các văn bản hướng dẫn hiện hành.

Trước 01/01/2017

Đã thực hiện xong trước 01/01/2017

Áp dụng BLDS 2005 để giải quyết tranh chấp phát sinh (như Ví dụ 1 trong văn bản của bạn).

Trước 01/01/2017

Chưa thực hiện hoặc Đang thực hiện

Nếu lãi suất PHÙ HỢP BLDS 2015: "Tách nhóm" thời gian ra để áp dụng (giai đoạn nào áp dụng luật giai đoạn đó như Sơ đồ Timeline ở trên).



Nếu lãi suất KHÔNG PHÙ HỢP BLDS 2015: Áp dụng BLDS 2005 xuyên suốt (trừ khi các bên có thỏa thuận sửa đổi để chuyển sang áp dụng BLDS 2015).

3. Ba điểm mới có lợi từ BLDS 2015 được áp dụng chuyển tiếp (Khoản 3)

Nghị quyết này có một điểm rất nhân văn và thực tế: Nếu hợp đồng cũ (ký trước 2017) mà có những thỏa thuận "phù hợp với tinh thần mới" của BLDS 2015 thì Tòa án vẫn công nhận. Cụ thể có 3 trường hợp:

1.     Lãi suất không quá 20%/năm (Điểm a): Dù ở thời điểm 2016 lãi suất thỏa thuận (ví dụ 18%/năm) có thể đã vượt quá trần 150% lãi suất cơ bản của luật cũ, nhưng vì nó vẫn dưới mức 20%/năm của luật mới nên Tòa án vẫn công nhận thỏa thuận này là hợp pháp.

2.     Lãi trên nợ lãi (Điểm b): Luật cũ không quy định rõ hoặc cấm việc "lãi mẹ đẻ lãi con" đối với nợ vay dân sự. Nhưng BLDS 2015 đã cho phép thỏa thuận này, nên nếu các bên có chốt việc tính lãi trên nợ lãi thì Tòa án sẽ chấp nhận.

3.     Lãi quá hạn đối với hợp đồng vay không lãi (Điểm c): Lúc vay thì cho vay miễn phí (0% lãi), nhưng đến hạn không trả thì luật mới cho phép tính lãi chậm trả trên nợ gốc quá hạn. Thỏa thuận này hoàn toàn hợp pháp và được bảo vệ.

 


Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét