Nội dung Văn Bản Quy Phạm Pháp Luật được biên tập lại từ 04 nguồn chính: https://vbpl.vn/; www.congbao.hochiminhcity.gov.vn; https://congbao.chinhphu.vn/ và https://www.ipvietnam.gov.vn /

218 DANH MỤC VĂN BẢN PHÁP LUẬT

Điều 26. Ủy thác thi hành án

 Điều 26. Ủy thác thi hành án

1. Căn cứ bản án, quyết định được thi hành hoặc kết quả xác minh, Thủ trưởng cơ quan thi hành án dân sự ủy thác thi hành án cho cơ quan thi hành án dân sự nơi người phải thi hành án có tài sản, làm việc, cư trú hoặc có trụ sở theo quy định tại Điều 49 của Luật Thi hành án dân sự.

Trường hợp tài sản đang xử lý để thi hành án nhưng có tranh chấp và đã được Tòa án thụ lý giải quyết mà đương sự có tài sản ở địa phương khác thì ủy thác đến cơ quan thi hành án dân sự nơi có tài sản để thi hành án.

Trường hợp tài sản là tiền, tài sản số hoặc tài sản khác trong tài khoản thì cơ quan thi hành án dân sự xử lý tài sản đó để thi hành án mà không ủy thác thi hành án.

2. Trường hợp người phải thi hành án có nhiều tài sản ở nhiều tỉnh, thành phố thì cơ quan thi hành án dân sự thực hiện ủy thác theo thứ tự sau đây:

a) Theo thỏa thuận của đương sự;

b) Nơi có tài sản ước tính đủ để thi hành án;

c) Nơi có tổng giá trị tài sản ước tính lớn nhất.

3. Quyết định ủy thác thi hành án phải ghi rõ khoản phải thi hành, khoản đã thi hành xong, khoản đang thi hành, khoản ủy thác và các thông tin cần thiết cho việc thực hiện ủy thác.

Khi gửi quyết định ủy thác thi hành án, cơ quan thi hành án dân sự phải gửi kèm theo bản án, quyết định; biên bản kê biên, tạm giữ tài sản và các tài liệu khác có liên quan, nếu có.

4. Trường hợp người phải thi hành án không có tài sản hoặc không cư trú, làm việc hoặc không có trụ sở ở địa phương thì cơ quan thi hành án dân sự nhận ủy thác thực hiện theo quy định tại Điều 38 của Luật Thi hành án dân sự; trường hợp xác định người phải thi hành án có tài sản hoặc cư trú, làm việc hoặc có trụ sở ở địa phương khác thì ủy thác tiếp cho cơ quan thi hành án dân sự nơi có điều kiện thi hành.

5. Cơ quan thi hành án dân sự nhận ủy thác không được từ chối thực hiện quyết định ủy thác thi hành án, trừ trường hợp quyết định ủy thác có sự nhầm lẫn, sai sót về nội dung hoặc thẩm quyền của cơ quan thi hành án dân sự nhận ủy thác.

6. Trường hợp ủy thác thi hành nghĩa vụ liên đới mà người phải thi hành án cư trú hoặc có tài sản ở nhiều địa phương khác nhau thì cơ quan thi hành án dân sự nơi nhận ủy thác có quyền áp dụng các biện pháp bảo đảm thi hành án đối với tất cả những người, tài sản có liên quan đến việc thi hành án để tránh trường hợp tẩu tán, trốn tránh việc thi hành án.

7. Cơ quan thi hành án dân sự chỉ được ủy thác cho cơ quan thi hành án dân sự nơi người phải thi hành án cư trú hoặc có tài sản đối với các quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời sau đây khi người phải thi hành án cư trú hoặc có tài sản ở tỉnh, thành phố khác:

a) Cấm hoặc buộc đương sự thực hiện hành vi nhất định; giao người chưa thành niên cho cá nhân hoặc tổ chức trông nom, nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục; tạm đình chỉ quyết định sa thải người lao động;

b) Buộc thực hiện trước một phần nghĩa vụ cấp dưỡng; buộc thực hiện trước một phần nghĩa vụ bồi thường thiệt hại do tính mạng, sức khỏe bị xâm phạm; buộc người sử dụng lao động tạm ứng tiền lương, tiền công, tiền bồi thường, trợ cấp tai nạn lao động hoặc bệnh nghề nghiệp cho người lao động;

c) Kê biên tài sản đang tranh chấp;

d) Cho thu hoạch, cho bán hoa màu hoặc sản phẩm, hàng hóa khác.

8. Sau khi thực hiện ủy thác thi hành án, trường hợp cơ quan thi hành án dân sự đã ủy thác nhận được quyết định giám đốc thẩm, tái thẩm của Tòa án hoặc bản án, quyết định khác có liên quan đến việc thi hành án đã ủy thác thì trong thời hạn 03 ngày làm việc kể từ ngày nhận được bản án, quyết định đó, cơ quan thi hành án dân sự đã ủy thác phải gửi cho cơ quan thi hành án dân sự nhận ủy thác để xử lý theo quy định của pháp luật.

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét