Điều 32. Kết thúc thi hành án và xác nhận kết quả thi hành án
1. Việc thi hành án kết thúc theo quy định tại khoản 3 Điều 55 của Luật Thi hành án dân sự khi thuộc một trong các trường hợp sau đây:
a) Đã thực hiện việc thông báo, gửi quyết định thi hành án cho đương sự, cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan và cơ quan ra bản án, quyết định trong trường hợp thi hành bản án, quyết định chỉ có nội dung tuyên hủy bỏ lệnh hoặc quyết định áp dụng biện pháp ngăn chặn; biện pháp khẩn cấp tạm thời trước đó của cơ quan có thẩm quyền hoặc trường hợp thi hành quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời, trừ trường hợp phải thực hiện theo quy định tại khoản 2 Điều 62 của Luật Thi hành án dân sự;
b) Có căn cứ kết thúc việc thi hành án theo quy định của Luật Phục hồi, phá sản;
c) Thi hành nghĩa vụ về trả giấy tờ nhưng giấy tờ đó không thể thu hồi và cũng không thể cấp lại được hoặc đã được Chấp hành viên chuyển giao cho cơ quan ban hành giấy tờ theo quy định tại khoản 2 Điều 59 của Luật Thi hành án dân sự hoặc trường hợp trả tài sản là tiền Việt Nam, ngoại tệ bị hư hỏng không còn sử dụng được đã được cơ quan thi hành án dân sự giao cho Ngân hàng Nhà nước xử lý theo quy định tại khoản 3 Điều 59 của Luật Thi hành án dân sự;
d) Đã có thông báo của cơ quan thi hành án dân sự theo quy định tại khoản 2 Điều 22 Nghị định này;
đ) Trường hợp bản án, quyết định tuyên giao quyền thăm nom, chăm sóc người chưa thành niên, người mất năng lực hành vi dân sự, người không có khả năng lao động mà người đó chết, đã thành niên, có năng lực hành vi dân sự hoặc có khả năng lao động;
e) Cơ quan có thẩm quyền đã truy cứu trách nhiệm hình sự về tội không chấp hành án theo đề nghị của Chấp hành viên quy định tại Điều 91 và Điều 92 của Luật Thi hành án dân sự.
2. Định kỳ hằng tháng, cơ quan thi hành án dân sự trích xuất danh sách việc thi hành án kết thúc để thông báo cho Viện kiểm sát nhân dân có thẩm quyền.
3. Đương sự và thân nhân của họ có quyền yêu cầu cơ quan thi hành án dân sự xác nhận kết quả thi hành án theo các hình thức quy định tại khoản 1 Điều 9 Nghị định này.
Trong thời hạn 03 ngày làm việc kể từ ngày nhận được yêu cầu của đương sự hoặc thân nhân của họ, Thủ trưởng cơ quan thi hành án dân sự cấp giấy xác nhận về kết quả thực hiện quyền, nghĩa vụ thi hành án của đương sự theo quyết định thi hành án.
Nội dung của văn bản xác nhận phải thể hiện rõ khoản nghĩa vụ theo bản án, quyết định, nghĩa vụ phải thi hành theo quyết định thi hành án và kết quả thi hành án cho đến thời điểm xác nhận.
Kết quả thi hành án được xác nhận thể hiện việc đương sự đã thực hiện xong toàn bộ hoặc một phần quyền, nghĩa vụ của mình theo quyết định thi hành án hoặc thi hành xong nghĩa vụ thi hành án của từng định kỳ, thời hạn trong trường hợp việc thi hành án được tiến hành theo định kỳ, theo thời hạn.
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét