Điều 37. Quyền miễn trừ của đại biểu Quốc hội
- Không được bắt, giam, giữ, khởi tố đại biểu Quốc hội, khám xét nơi ở và nơi làm việc của đại biểu Quốc hội nếu không có sự đồng ý của Quốc hội hoặc trong thời gian Quốc hội không họp, không có sự đồng ý của Ủy ban thường vụ Quốc hội. Việc đề nghị bắt, giam, giữ, khởi tố, khám xét nơi ở và nơi làm việc của đại biểu Quốc hội thuộc thẩm quyền của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao.
- Trường hợp đại biểu Quốc hội bị tạm giữ vì phạm tội quả tang thì cơ quan tạm giữ phải lập tức báo cáo để Quốc hội hoặc Ủy ban thường vụ Quốc hội xem xét, quyết định.
- Đại biểu Quốc hội không thể bị cơ quan, tổ chức, đơn vị nơi đại biểu công tác bãi nhiệm, cách chức, buộc thôi việc, sa thải nếu không được Ủy ban thường vụ Quốc hội đồng ý.
【Văn bản hợp nhất 31/VBHN-VPQH năm 2023】
Nội dung
liên kết bạn gửi trích dẫn Điều 37. Quyền miễn trừ của đại biểu Quốc hội
thuộc Luật Tổ chức Quốc hội (theo Văn bản hợp nhất số 31/VBHN-VPQH năm 2023).
Quyền miễn
trừ là một trong những đặc quyền pháp lý tối cao được thiết lập nhằm bảo vệ Đại
biểu Quốc hội (ĐBQH) trước các áp lực hành chính hoặc tư pháp, bảo đảm họ có đầy
đủ sự độc lập, an toàn để thực hiện chức năng giám sát phản biện và phát biểu
chính kiến. Điều khoản này quy định các lằn ranh bảo vệ nghiêm ngặt:
1. Quyền
miễn trừ về mặt phát ngôn (Khoản 1)
- Quy định: ĐBQH không bị truy cứu trách
nhiệm pháp lý về ý kiến phát biểu và bỏ phiếu tại kỳ họp Quốc hội, phiên họp
của Ủy ban Thường vụ Quốc hội (UBTVQH), Hội đồng Dân tộc, các Ủy ban của
Quốc hội hoặc tại các cuộc họp của Đoàn đại biểu Quốc hội.
- Ý nghĩa: Quy định này loại bỏ hoàn toàn
nỗi sợ bị trừng phạt hay trả đũa pháp lý khi đại biểu đưa ra những phát
ngôn gai góc, chất vấn thẳng thắn hoặc biểu quyết không thuận theo số đông
tại nghị trường.
2. Quyền
miễn trừ về mặt tố tụng hình sự (Khoản 2)
Quy định này
khống chế quyền lực của các cơ quan điều tra, thực thi pháp luật đối với thân
thể và quyền tự do của đại biểu:
- Không có phê chuẩn của Quốc hội/UBTVQH: Không được bắt, giam, giữ, khởi
tố ĐBQH, khám xét nơi ở và nơi làm việc của ĐBQH nếu không có sự đồng ý của
Quốc hội; trong thời gian Quốc hội không họp thì phải có sự đồng ý của
UBTVQH.
- Thẩm quyền quyết định: Việc đề nghị bắt, giam, giữ, khởi
tố, khám xét thuộc thẩm quyền của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối
cao.
3. Trường
hợp bắt quả tang (Khoản 3)
- Quy định: Trường hợp ĐBQH bị tạm giữ vì phạm
tội quả tang thì cơ quan tạm giữ phải lập tức thả đại biểu ra ngay sau
khi xác định được tư cách ĐBQH, trừ trường hợp việc tạm giữ đó là bắt buộc
để ngăn chặn hành vi phạm tội tiếp diễn hoặc để bảo vệ tính mạng của người
khác.
- Nghĩa vụ báo cáo khẩn cấp: Cơ quan tạm giữ phải báo cáo
ngay bằng văn bản với Quốc hội hoặc UBTVQH để xem xét, quyết định.
Mối liên
hệ logic tối cao giữa Quyền miễn trừ và Cơ chế bãi nhiệm
Điều 37
chính là chiếc "áo giáp" bảo vệ đại biểu, nhưng pháp luật Việt Nam
thiết lập chiếc áo giáp này để bảo vệ công lý và nhân dân, chứ không phải
để biến đại biểu thành một "đặc quyền giai cấp" đứng trên pháp luật.
Vì vậy, nó có mối liên hệ đảo chiều cực kỳ nghiêm khắc với cơ chế bãi nhiệm:
- Tước bỏ áo giáp để thực hiện bãi
nhiệm / xử lý hình sự: Quyền miễn trừ tại Khoản 2 chỉ có hiệu lực khi đại biểu chưa bị tước
tư cách. Khi một ĐBQH vi phạm pháp luật nghiêm trọng (như nhận hối lộ, lợi
dụng chức vụ trục lợi, vi phạm tiêu chuẩn Điều 22), Viện trưởng Viện kiểm
sát nhân dân tối cao sẽ trình hồ sơ sang Quốc hội (hoặc UBTVQH).
- Bước 1: Quốc hội sẽ bỏ phiếu chấp
thuận bãi bỏ quyền miễn trừ, đồng thời tiến hành quy trình bãi nhiệm
tư cách ĐBQH vì không còn xứng đáng.
- Bước 2: Ngay sau khi Nghị quyết
bãi nhiệm có hiệu lực, cá nhân đó trở thành công dân bình thường và chiếc
áo giáp Điều 37 hoàn toàn biến mất, cơ quan tố tụng sẽ thực hiện lệnh bắt
giam, khởi tố theo luật hình sự.
- Sự lạm dụng quyền miễn trừ cấu
thành căn cứ bãi nhiệm: Nếu đại biểu hiểu sai về Điều 37, coi quyền miễn trừ là
công cụ để thách thức pháp luật, bao che cho hành vi phạm tội của bản thân
hoặc người thân, cố tình biến nơi ở/nơi làm việc thành nơi trú ẩn cho các
hành vi bất hợp pháp, họ đã tự chà đạp lên tư cách đạo đức tại Điều 22.
Hành vi lạm dụng đặc quyền này là chứng cứ rõ ràng nhất cho thấy đại biểu
đã phản bội sự tín nhiệm, kích hoạt Ủy ban Trung ương MTTQVN và Quốc hội
vào cuộc để thực hiện lệnh bãi nhiệm tức thời.
Kết luận
toàn bộ Chương II: Đại biểu Quốc hội (Từ Điều 22 đến Điều 37)
Đến đây, bạn
đã đi qua toàn bộ các điều khoản cốt lõi quy định vị trí pháp lý của người đại
biểu nhân dân. Hệ thống được thiết kế theo nguyên tắc: Trao quyền lực tối đa
để phục vụ, nhưng cũng dựng sẵn lưới bạt đào thải (Bãi nhiệm) để trừng phạt nếu
quay lưng với nhân dân.
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét