Hợp đồng vay tài sản không phải là hợp đồng tín dụng xác lập trước ngày 01-01-2017 thuộc trường hợp áp dụng Bộ luật Dân sự năm 2005 theo hướng dẫn tại Điều 2 Nghị quyết này thì tại thời điểm xét xử sơ thẩm, lãi, lãi suất trong hợp đồng được xác định như sau:
1. Hợp đồng vay không có lãi mà khi đến hạn bên vay không trả nợ hoặc trả không đầy đủ thì bên vay có nghĩa vụ trả lãi trên nợ gốc quá hạn theo lãi suất cơ bản do Ngân hàng Nhà nước công bố tại thời điểm trả nợ tương ứng với thời gian chậm trả, nếu các bên có thỏa thuận về việc trả lãi đối với nợ gốc quá hạn.
Tiền lãi trên nợ gốc quá hạn chưa trả = (nợ gốc quá hạn chưa trả) x (lãi suất cơ bản do Ngân hàng nhà nước công bố tại thời điểm trả nợ) x (thời gian chậm trả nợ gốc).
2. Hợp đồng vay có lãi mà khi đến hạn bên vay không trả hoặc trả không đầy đủ thì lãi, lãi suất được xác định như sau:
a) Lãi trên nợ gốc trong hạn chưa trả theo lãi suất thỏa thuận nhưng không vượt quá 150% lãi suất cơ bản do Ngân hàng Nhà nước công bố tại thời điểm xác lập hợp đồng tương ứng với thời gian vay chưa trả lãi. Trường hợp các bên không xác định rõ lãi suất thì áp dụng lãi suất cơ bản do Ngân hàng Nhà nước công bố tại thời điểm trả nợ.
Tiền lãi trên nợ gốc trong hạn chưa trả = (nợ gốc chưa trả) x (lãi suất theo thỏa thuận hoặc lãi suất cơ bản do Ngân hàng Nhà nước công bố tại thời điểm xác lập hợp đồng) x (thời gian vay chưa trả lãi trên nợ gốc);
b) Lãi trên nợ gốc quá hạn chưa trả theo lãi suất cơ bản do Ngân hàng Nhà nước công bố tại thời điểm trả nợ tương ứng với thời gian chậm trả.
Tiền lãi trên nợ gốc quá hạn chưa trả = (nợ gốc quá hạn chưa trả) x (lãi suất cơ bản do Ngân hàng Nhà nước công bố tại thời điểm trả nợ) x (thời gian chậm trả nợ gốc);
3. Khi xác định lãi, lãi suất theo hướng dẫn tại khoản 1 và khoản 2 Điều này, Tòa án không được tính lãi trên nợ lãi chưa trả.
Xem toàn bộ văn bản>>>>Nghị quyết 01/2019/NQ-HĐTP
=====================
Điều khoản
này hướng dẫn chi tiết cách Tòa án tính toán số tiền lãi đối với các hợp đồng
vay dân sự cũ thuộc trường hợp áp dụng Bộ luật Dân sự (BLDS) 2005 (thường
là do mức lãi suất cũ không phù hợp với quy định mới của BLDS 2015 như chúng ta
đã phân tích ở Điều 2).
Điểm mấu chốt
và cũng là "cạm bẫy" dễ gây nhầm lẫn nhất ở điều khoản này chính là mốc
thời gian lấy Lãi suất cơ bản (LSCB) của Ngân hàng Nhà nước. Luật phân tách
rất rõ khi nào lấy LSCB tại thời điểm ký hợp đồng (xác lập) và khi nào lấy
tại thời điểm xét xử (trả nợ).
Để bạn dễ so
sánh và áp dụng chính xác công thức toán - lý - luật này, mình đã hệ thống hóa
lại toàn bộ diện mạo của điều khoản qua bảng và các lưu ý cốt lõi dưới đây:
Bảng tổng
hợp công thức tính lãi theo quy định của BLDS 2005 (Điều 5 Nghị quyết 01)
|
Loại hợp
đồng |
Khoản
mục tính lãi |
Mức
lãi suất áp dụng |
Mốc thời
gian lấy lãi suất gốc |
Công
thức tính tiền lãi |
|
1. Vay
KHÔNG CÓ LÃI |
Trong hạn |
0% |
Không tính |
= 0 |
|
Quá hạn (chỉ tính nếu các bên có thỏa
thuận) |
100%
LSCB |
Tại thời
điểm trả nợ (xét xử sơ thẩm) |
= Nợ gốc
quá hạn \times LSCB_{(xét xử)} \times Thời gian quá hạn |
|
|
2. Vay
CÓ LÃI |
Trong hạn (chưa trả) |
Lãi suất
thỏa thuận (Tối
đa 150% LSCB) |
Tại thời
điểm xác lập hợp đồng |
= Nợ gốc
\times Lãi suất thỏa thuận \times Thời gian trong hạn
(Nếu
không rõ lãi suất thì thay bằng $LSCB_{(xét xử)}$) |
|
Quá hạn (trên nợ gốc) |
100%
LSCB |
Tại thời
điểm trả nợ (xét xử sơ thẩm) |
= Nợ gốc
quá hạn \times LSCB_{(xét xử)} \times Thời gian quá hạn |
3 Điểm cực
kỳ đặc thù của BLDS 2005 cần lưu ý khi làm nghiên cứu:
1.
Lãi suất quá hạn thấp hơn lãi suất trong hạn (Một nghịch lý cũ):
Theo điểm b
khoản 2, lãi trên nợ gốc quá hạn áp dụng theo BLDS 2005 chỉ bằng 100% LSCB
tại thời điểm xét xử.
Ví dụ thực
tế: Giai đoạn đó
LSCB ấn định là 9%/năm. Một hợp đồng thỏa thuận lãi trong hạn kịch trần là
13,5%/năm (150% LSCB). Khi người vay bùng nợ quá hạn, phần nợ gốc quá hạn đó lại
chỉ phải chịu lãi suất là 9%/năm. Điều này vô tình làm phát sinh nghịch lý: Càng
chây trì hoãn trả nợ thì lãi suất gánh chịu lại càng rẻ đi! (Nghịch lý này
đã được BLDS 2015 sửa đổi bằng cách cho phạt quá hạn lên tới 150% lãi trong hạn).
2.
Sự dịch chuyển mốc thời gian lấy LSCB:
o Khi kiểm tra xem hợp đồng có bị vượt
trần (cho vay nặng lãi) hay không àTòa án nhìn vào LSCB tại thời điểm ký hợp đồng.
o Khi tính toán số tiền phạt quá hạn
để tuyên án àTòa án phải tra cứu LSCB tại thời điểm
mở phiên tòa xét xử sơ thẩm (pháp luật gọi là thời điểm trả nợ).
3.
Cấm tuyệt đối việc "Lãi chồng lãi" (Khoản 3):
Khác với
tinh thần mở của BLDS 2015, đối với các hợp đồng áp dụng BLDS 2005, Tòa án nghiêm
cấm việc tính lãi chậm trả trên số tiền nợ lãi chưa trả (tức là không có mức
phạt 10%/năm trên nợ lãi). Mọi hành vi tự ý gộp lãi vào gốc để tính lãi tiếp đều
bị Tòa án gạt bỏ khi quyết toán dòng tiền.
Để phục vụ
cho báo cáo hoặc giải quyết tình huống, bạn có cần làm rõ mức Lãi suất cơ bản
(9%/năm) áp dụng xuyên suốt từ năm 2010 đến nay ảnh hưởng thế nào đến các vụ án
thực tế không?
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét