Điều 7. Về giao dịch bị coi là vô hiệu quy định tại Điều 49 của Luật Phục hồi, phá sản
1. Giao dịch của doanh nghiệp, hợp tác xã được thực hiện trong thời gian 06 tháng trước ngày Tòa án ra quyết định mở thủ tục phá sản bị coi là vô hiệu khi thuộc một trong các trường hợp quy định tại khoản 1 Điều 49 của Luật Phục hồi, phá sản, trừ trường hợp Luật Phục hồi, phá sản hoặc hướng dẫn tại khoản 2 Điều này có quy định khác.
a) Giao dịch liên quan đến chuyển nhượng tài sản không theo giá thị trường quy định tại điểm a khoản 1 Điều 49 của Luật Phục hồi, phá sản là giao dịch thấp hơn giá thị trường đối với trường hợp doanh nghiệp, hợp tác xã là bên chuyển nhượng hoặc cao hơn giá thị trường đối với trường hợp doanh nghiệp, hợp tác xã là bên nhận chuyển nhượng tại nơi có tài sản và tại thời điểm giao dịch.
b) Giao dịch khác nhằm mục đích tẩu tán tài sản của doanh nghiệp, hợp tác xã quy định tại điểm e khoản 1 Điều 49 của Luật Phục hồi, phá sản là giao dịch cố ý chuyển dịch, che giấu, tiêu hủy tài sản, không thừa nhận quyền sở hữu hoặc xác lập các giao dịch giả tạo nhằm trốn tránh thực hiện nghĩa vụ trả nợ của doanh nghiệp, hợp tác xã.
2. Giao dịch của doanh nghiệp, hợp tác xã quy định tại các điểm a, b, c, d và đ khoản 1 Điều 49 của Luật Phục hồi, phá sản được thực hiện trong thời gian 06 tháng trước ngày Tòa án ra quyết định mở thủ tục phá sản không bị coi là vô hiệu nếu thuộc một trong các trường hợp sau đây:
a) Khuyến mại theo quy định của pháp luật về thương mại, tặng thưởng cho người lao động theo quy định của pháp luật về lao động;
b) Hoạt động từ thiện của doanh nghiệp, hợp tác xã theo đúng quy định của pháp luật;
c) Giao dịch được Hội nghị chủ nợ công nhận là để bảo toàn, tối ưu giá trị tài sản của doanh nghiệp, hợp tác xã hoặc không có mục đích tẩu tán tài sản của doanh nghiệp, hợp tác xã.
3. Những người liên quan quy định tại khoản 2 Điều 49 của Luật Phục hồi, phá sản được xác định như sau:
a) Vợ, chồng, bố đẻ, mẹ đẻ, bố nuôi, mẹ nuôi, bố chồng, mẹ chồng, bố vợ, mẹ vợ, con đẻ, con nuôi, con rể, con dâu, anh ruột, chị ruột, em ruột, anh rể, em rể, chị dâu, em dâu, anh ruột của vợ, anh ruột của chồng, chị ruột của vợ, chị ruột của chồng, em ruột của vợ, em ruột của chồng, ông nội, bà nội, ông ngoại, bà ngoại, cụ nội, cụ ngoại, bác ruột, chú ruột, cậu ruột, cô ruột, dì ruột, cháu ruột của những người thuộc các trường hợp sau đây:
a1) Người quản lý công ty, người đại diện theo pháp luật, Kiểm soát viên, thành viên và cổ đông sở hữu phần vốn góp hay cổ phần chi phối của doanh nghiệp đối với doanh nghiệp;
a2) Chủ tịch Hội đồng quản trị, thành viên Hội đồng quản trị, Giám đốc, Tổng giám đốc, người đại diện theo pháp luật, Kiểm soát viên, thành viên Ban kiểm soát, thành viên của hợp tác xã đối với hợp tác xã;
b) Người có liên quan khác của doanh nghiệp theo quy định của Luật Doanh nghiệp đối với doanh nghiệp;
c) Doanh nghiệp do hợp tác xã thành lập; thành viên chính thức, thành viên liên kết góp vốn của hợp tác xã; người quản lý, người đại diện theo pháp luật, kiểm soát viên của hợp tác xã đối với hợp tác xã;
d) Cá nhân là người đại diện theo ủy quyền của hợp tác xã, tổ chức hướng dẫn tại điểm c khoản này đối với hợp tác xã;
đ) Doanh nghiệp trong đó hợp tác xã có sở hữu vốn góp, cổ phần đến mức chi phối việc ra quyết định của doanh nghiệp đó đối với hợp tác xã;
e) Người liên quan khác đối với doanh nghiệp, hợp tác xã trong trường hợp pháp luật có quy định.
4. Khi phát hiện giao dịch quy định tại khoản 1 và khoản 2 Điều 49 của Luật Phục hồi, phá sản và hướng dẫn tại các khoản 1, 2 và 3 Điều này, Quản tài viên, doanh nghiệp quản lý, thanh lý tài sản gửi văn bản đề nghị Tòa án xem xét tuyên bố giao dịch vô hiệu, kèm theo các tài liệu, chứng cứ để chứng minh.
Quản tài viên, doanh nghiệp quản lý, thanh lý tài sản phải thông báo bằng văn bản về việc đề nghị Tòa án xem xét tuyên bố giao dịch vô hiệu cho doanh nghiệp, hợp tác xã và các bên tham gia giao dịch.
5. Các bên tham gia giao dịch có quyền gửi ý kiến bằng văn bản cho Tòa án đối với đề nghị Tòa án xem xét tuyên bố giao dịch vô hiệu của Quản tài viên, doanh nghiệp quản lý, thanh lý tài sản trong thời hạn 03 ngày làm việc kể từ ngày nhận được thông báo của Quản tài viên, doanh nghiệp quản lý, thanh lý tài sản.
6. Trong thời hạn 10 ngày, kể từ ngày nhận được văn bản đề nghị của Quản tài viên, doanh nghiệp quản lý, thanh lý tài sản, Thẩm phán phải xem xét tuyên bố giao dịch vô hiệu theo quy định tại Điều 50 của Luật Phục hồi, phá sản và giải quyết hậu quả của giao dịch vô hiệu theo quy định của Bộ luật Dân sự.
Tòa án gửi quyết định tuyên bố giao dịch vô hiệu cho doanh nghiệp, hợp tác xã, các đương sự, cơ quan, tổ chức, cá nhân có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, Quản tài viên, doanh nghiệp quản lý, thanh lý tài sản, Viện kiểm sát nhân dân cùng cấp, cơ quan thi hành án.
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét