Điều 74. Thu tiền của người phải thi hành án
1. Trường hợp người phải thi hành án có thu nhập từ hoạt động kinh doanh thì Chấp hành viên ra quyết định thu tiền từ hoạt động kinh doanh của người đó để thi hành án.
Khi thu tiền, Chấp hành viên phải để lại số tiền tối thiểu cho hoạt động kinh doanh và sinh hoạt của người phải thi hành án và gia đình.
2. Trường hợp phát hiện người phải thi hành án đang giữ tiền thì Chấp hành viên ra quyết định thu tiền để thi hành án, trừ trường hợp có căn cứ xác định khoản tiền đó không phải của người phải thi hành án hoặc trường hợp khác theo quy định của pháp luật.
3. Trường hợp phát hiện người thứ ba đang giữ tiền của người phải thi hành án thì Chấp hành viên yêu cầu người đó giao nộp số tiền cho cơ quan thi hành án dân sự, trừ trường hợp khác theo quy định của pháp luật. Người thứ ba đang giữ tiền của người phải thi hành án có nghĩa vụ giao nộp tiền cho cơ quan thi hành án dân sự để thi hành án. Trường hợp họ không thực hiện thì Chấp hành viên ra quyết định thu số tiền đó để thi hành án.
Trường hợp người thứ ba đang giữ tiền của người phải thi hành án không thực hiện yêu cầu của Chấp hành viên mà giao số tiền đó cho người phải thi hành án hoặc người khác dẫn đến không thể thi hành cho người được thi hành án thì người thứ ba phải bồi thường thiệt hại theo quy định của pháp luật.
4. Trường hợp phát hiện tổ chức, cá nhân khác phải trả tiền cho người phải thi hành án theo bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật thì thực hiện như sau:
a) Chấp hành viên yêu cầu tổ chức, cá nhân đó giao nộp tiền để thi hành án. Nếu họ không thực hiện thì Chấp hành viên áp dụng biện pháp cưỡng chế cần thiết đối với tổ chức, cá nhân đó để thu tiền. Chi phí cưỡng chế trong trường hợp này do tổ chức, cá nhân bị cưỡng chế chịu;
b) Trường hợp bản án, quyết định đang do cơ quan thi hành án dân sự khác thi hành thì Chấp hành viên thông báo và đề nghị cơ quan thi hành án dân sự đó tổ chức thi hành án theo quy định của pháp luật.
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét