Điều 9. Khởi tố bị can, thay đổi hoặc bổ sung quyết định khởi tố bị can
1. Việc khởi tố bị can, thay đổi hoặc bổ sung quyết định khởi tố bị can được thực hiện theo quy định tại các điều 179, 180 và 433 của Bộ luật Tố tụng hình sự.
Sau khi khởi tố bị can, việc hỏi cung bị can, lấy lời khai người đại diện theo pháp luật của pháp nhân thương mại được thực hiện theo quy định tại Điều 183 và Điều 442 của Bộ luật Tố tụng hình sự.
2. Trong thời hạn 24 giờ, kể từ khi ra quyết định khởi tố bị can, quyết định thay đổi hoặc bổ sung quyết định khởi tố bị can, Cơ quan điều tra phải có văn bản đề nghị Viện kiểm sát có thẩm quyền phê chuẩn, nêu rõ lý lịch bị can, căn cứ khởi tố, tổng số tài liệu liên quan đến việc khởi tố bị can, việc thay đổi hoặc bổ sung quyết định khởi tố bị can để Viện kiểm sát có thẩm quyền xét phê chuẩn.
3. Trường hợp Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát có thẩm quyền thay đổi quyết định khởi tố bị can theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 180 của Bộ luật Tố tụng hình sự hoặc bổ sung quyết định khởi tố bị can, nếu quyết định khởi tố vụ án hình sự chưa khởi tố về tội đó thì trước khi ra quyết định thay đổi hoặc bổ sung quyết định khởi tố bị can phải ra quyết định thay đổi hoặc bổ sung quyết định khởi tố vụ án hình sự.
Ví dụ 1: Cơ quan điều tra quyết định khởi tố vụ án hình sự, khởi tố bị can đối với Nguyễn Văn A về tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản. Quá trình điều tra xác định hành vi của A cấu thành tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản, thì trước khi Cơ quan điều tra ra quyết định thay đổi quyết định khởi tố bị can đối với A từ tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản sang tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản, Cơ quan điều tra phải ra quyết định thay đổi quyết định khởi tố vụ án hình sự từ tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản sang tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản.
Ví dụ 2: Cơ quan điều tra quyết định khởi tố vụ án hình sự, khởi tố bị can đối với Nguyễn Văn B về tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản. Quá trình điều tra xác định B còn thực hiện hành vi lừa đảo chiếm đoạt tài sản, thì trước khi Cơ quan điều tra ra quyết định bổ sung quyết định khởi tố bị can đối với B về tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản, Cơ quan điều tra phải ra quyết định bổ sung quyết định khởi tố vụ án hình sự đối với tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản.
4. Không thay đổi quyết định khởi tố bị can khi quá trình điều tra làm rõ hành vi của bị can phạm vào khoản khác trong cùng tội danh, điều luật đã khởi tố đối với bị can.
5. Trường hợp Viện kiểm sát có thẩm quyền đã có văn bản yêu cầu Cơ quan điều tra ra quyết định khởi tố bị can, quyết định thay đổi hoặc bổ sung quyết định khởi tố bị can nhưng Cơ quan điều tra không thực hiện thì Viện kiểm sát ra quyết định khởi tố bị can, quyết định thay đổi hoặc bổ sung quyết định khởi tố bị can.
6. Việc ra quyết định khởi tố vụ án hình sự, khởi tố bị can hoặc bổ sung quyết định khởi tố vụ án hình sự, bổ sung quyết định khởi tố bị can trong trường hợp bị can có nhiều hành vi phạm tội nhưng cùng tội danh và trường hợp bị can phạm nhiều tội, được thực hiện như sau:
a) Nếu một người thực hiện nhiều hành vi phạm tội nhưng cùng một tội danh và bị phát hiện cùng một thời điểm, thì chỉ ra một quyết định khởi tố vụ án hình sự, một quyết định khởi tố bị can đối với tất cả các lần phạm tội đó. Nếu trong quá trình điều tra, truy tố phát hiện bị can còn thực hiện hành vi phạm tội có cùng tội danh mà chưa bị khởi tố thì ra quyết định bổ sung quyết định khởi tố vụ án hình sự về hành vi phạm tội đó.
Ví dụ 1: Ngày 01/4/2025, Cơ quan điều tra Công an tỉnh T làm rõ: Từ tháng 01/2025 đến tháng 3/2025, Nguyễn Văn A đã thực hiện 05 hành vi phạm tội trộm cắp tài sản tại địa bàn phường H, tỉnh T. Trong trường hợp này, Cơ quan điều tra Công an tỉnh T chỉ ra 01 quyết định khởi tố vụ án, về tội “Trộm cắp tài sản” xảy ra tại phường H và ra 01 quyết định khởi tố bị can về tội “Trộm cắp tài sản” đối với Nguyễn Văn A về 05 hành vi trộm cắp tài sản.
Ví dụ 2: Quá trình điều tra vụ án Nguyễn Văn A phạm tội trộm cắp tài sản nêu tại Ví dụ 1 trên, Cơ quan điều tra Công an tỉnh T làm rõ: Tháng 01/2025, Nguyễn Văn A còn thực hiện hành vi phạm tội trộm cắp tài sản tại phường M, tỉnh T. Trong trường hợp này, Cơ quan điều tra Công an tỉnh T phải ra quyết định bổ sung quyết định khởi tố vụ án về hành vi trộm cắp tài sản xảy tại phường M để tiến hành điều tra;
b) Nếu tại một thời điểm mà một người thực hiện nhiều hành vi phạm tội khác nhau và được phát hiện cùng thời điểm, thì chỉ ra một quyết định khởi tố vụ án hình sự, một quyết định khởi tố bị can đối với tất cả các hành vi phạm tội, trong đó ghi rõ từng tội danh và điều, khoản của Bộ luật Hình sự được áp dụng.
Ví dụ: Ngày 01/01/2025, Nguyễn Văn A thực hiện hành vi phạm tội giết người, cướp tài sản tại phường H, tỉnh T thì bị bắt trong trường hợp phạm tội quả tang. Trong trường hợp này, Cơ quan điều tra Công an tỉnh T chỉ ra 01 quyết định khởi tố vụ án, 01 quyết định khởi tố bị can đối với Nguyễn Văn A về 02 tội “Giết người” và “Cướp tài sản”, trong quyết định phải ghi rõ điểm, khoản áp dụng theo Điều 123, Điều 168 của Bộ luật Hình sự;
c) Nếu một người thực hiện nhiều hành vi phạm tội khác nhau mà hành vi phạm tội trước là để thực hiện hành vi phạm tội sau hoặc các hành vi phạm tội có liên quan đến nhau, thì chỉ ra một quyết định khởi tố vụ án hình sự, một quyết định khởi tố bị can đối với các hành vi phạm tội, trong đó ghi rõ từng tội danh và điều, khoản của Bộ luật Hình sự được áp dụng.
Ví dụ: Để thực hiện hành vi phạm tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản, Nguyễn Văn A đã thực hiện hành vi phạm tội làm giả tài liệu, con dấu của cơ quan, tổ chức để bị hại tin tưởng, chuyển tiền cho Nguyễn Văn A. Trong trường hợp này, Cơ quan điều tra chỉ ra 01 quyết định khởi tố vụ án, 01 quyết định khởi tố bị can đối với Nguyễn Văn A về 02 tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” và “Làm giả con dấu, tài liệu của cơ quan, tổ chức”, trong quyết định phải ghi rõ điểm, khoản áp dụng theo Điều 174, Điều 341 của Bộ luật Hình sự;
d) Nếu một người thực hiện nhiều hành vi phạm tội ở những thời điểm khác nhau và thuộc nhiều tội danh khác nhau nhưng bị phát hiện cùng một thời điểm, thì chỉ ra một quyết định khởi tố vụ án hình sự, một quyết định khởi tố bị can đối với các hành vi phạm tội, trong đó ghi rõ từng tội danh và điều, khoản của Bộ luật Hình sự được áp dụng.
Ví dụ: Ngày 01/4/2025, Cơ quan điều tra tỉnh T làm rõ: Tháng 01/2025, Nguyễn Văn A thực hiện hành vi phạm tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản và tháng 02/2025, Nguyễn Văn A thực hiện hành vi phạm tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản trên địa bàn tỉnh T. Trường hợp này, Cơ quan điều tra tỉnh T chỉ ra 01 quyết định khởi tố vụ án, 01 quyết định khởi tố bị can đối với Nguyễn Văn A về 02 tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” và “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản”, trong quyết định phải ghi rõ điểm, khoản áp dụng theo Điều 174, Điều 175 của Bộ luật Hình sự;
đ) Trường hợp khởi tố bị can về nhiều tội, trong đó có tội phạm thuộc thẩm quyền điều tra của Cơ quan điều tra cấp trên thì Cơ quan điều tra cấp dưới phải trao đổi, thống nhất với Viện kiểm sát có thẩm quyền để chuyển toàn bộ vụ án cho Cơ quan điều tra cấp trên tiến hành điều tra.
Ví dụ: Quá trình điều tra vụ án Nguyễn Văn A về tội “Cướp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 168 của Bộ luật Hình sự, Cơ quan điều tra hình sự khu vực, Quân khu T phát hiện Nguyễn Văn A còn thực hiện hành vi phạm tội “Giết người” theo quy định tại khoản 1 Điều 123 của Bộ luật Hình sự (thuộc thẩm quyền điều tra của Cơ quan điều tra hình sự Quân khu T). Trường hợp này, Cơ quan điều tra hình sự khu vực phải trao đổi, thống nhất với Viện kiểm sát quân sự khu vực có thẩm quyền để chuyển toàn bộ vụ án cho Cơ quan điều tra hình sự Quân khu T tiến hành điều tra;
e) Trường hợp khởi tố bị can về nhiều tội, trong đó có tội thuộc thẩm quyền điều tra của Cơ quan An ninh điều tra, có tội thuộc thẩm quyền điều tra của Cơ quan Cảnh sát điều tra mà nếu tách vụ án để điều tra theo thẩm quyền sẽ ảnh hưởng đến tính khách quan, toàn diện của vụ án, thì Cơ quan điều tra đang thụ lý vụ án phải trao đổi, thống nhất với Viện kiểm sát có thẩm quyền đánh giá, xác định tội phạm nào là tội phạm chính. Tội phạm chính thuộc thẩm quyền điều tra của Cơ quan điều tra nào thì Cơ quan điều tra đó tiến hành điều tra toàn bộ vụ án.
7. Sau khi nhận hồ sơ vụ án và bản kết luận điều tra của Cơ quan điều tra, nếu Viện kiểm sát có thẩm quyền phát hiện thấy có cá nhân, pháp nhân thương mại đã thực hiện hành vi phạm tội trong vụ án chưa bị khởi tố hoặc có căn cứ xác định hành vi phạm tội của bị can không phạm vào tội đã bị khởi tố hoặc còn hành vi phạm tội khác chưa bị khởi tố, thì Viện kiểm sát xem xét, quyết định việc khởi tố bị can theo quy định tại khoản 4 Điều 179 của Bộ luật Tố tụng hình sự hoặc trả hồ sơ cho Cơ quan điều tra để điều tra bổ sung, yêu cầu Cơ quan điều tra ra quyết định khởi tố bị can, quyết định thay đổi hoặc bổ sung quyết định khởi tố bị can và tiến hành các hoạt động điều tra theo thủ tục chung. Nếu đã yêu cầu mà Cơ quan điều tra không thực hiện thì Viện kiểm sát ra quyết định khởi tố bị can, quyết định thay đổi hoặc bổ sung quyết định khởi tố bị can và gửi cho Cơ quan điều tra để tiến hành điều tra.
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét