|
QUỐC HỘI Luật
số: 104/2025/QH15 |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ
NGHĨA VIỆT NAM |
LUẬT
TÌNH TRẠNG KHẨN CẤP
Căn cứ Hiến
pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam đã được sửa đổi, bổ sung một số điều
theo Nghị quyết số 203/2025/QH15;
Quốc hội
ban hành Luật Tình trạng khẩn cấp.
Chương I
QUY ĐỊNH CHUNG
Điều 1.
Phạm vi điều chỉnh
Luật này quy định về nguyên tắc, trình tự,
thủ tục, thẩm quyền ban bố, công bố, bãi bỏ tình trạng khẩn cấp; biện pháp được
áp dụng trong tình trạng khẩn cấp; tổ chức thi hành nghị quyết, lệnh về tình trạng
khẩn cấp; trách nhiệm của cơ quan, tổ chức, cá nhân trong tình trạng khẩn cấp.
Điều 2.
Tình trạng khẩn cấp
1. Tình trạng khẩn cấp là trạng thái xã
hội được cấp có thẩm quyền ban bố, công bố tình trạng khẩn cấp tại một hay nhiều
địa phương hoặc trên phạm vi cả nước khi có thảm họa hoặc nguy cơ xảy ra thảm họa
do đe dọa nghiêm trọng đến tính mạng, sức khỏe con người, tài sản của Nhà nước,
cơ quan, tổ chức và cá nhân hoặc có tình hình do đe dọa nghiêm trọng đến quốc
phòng, an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội.
2. Tình trạng khẩn cấp bao gồm:
a) Tình trạng khẩn cấp về thảm họa;
b) Tình trạng khẩn cấp về an ninh quốc
gia, trật tự, an toàn xã hội;
c) Tình trạng khẩn cấp về quốc phòng.
Điều 3.
Nguyên tắc hoạt động trong tình trạng khẩn cấp
1. Tuân thủ Hiến pháp, pháp luật Việt
Nam và điều ước quốc tế mà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành
viên.
2. Đặt dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản
Việt Nam, sự quản lý thống nhất của Nhà nước.
3. Bảo vệ lợi ích quốc gia, dân tộc,
tính mạng, sức khỏe của người dân; huy động sức mạnh khối đại đoàn kết toàn dân
tộc; phát huy vai trò, trách nhiệm của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, cơ quan, tổ
chức, doanh nghiệp và sự tham gia của Nhân dân trong phòng ngừa, ứng phó và khắc
phục hậu quả của tình trạng khẩn cấp.
4. Bảo đảm sự lãnh đạo, chỉ đạo thống nhất,
xuyên suốt từ Trung ương đến địa phương, có sự phân công, phân cấp, phân quyền,
phối hợp chặt chẽ giữa các cơ quan, tổ chức và lực lượng trong tình trạng khẩn
cấp; xác định trách nhiệm của người đứng đầu các cấp, các ngành trong chỉ đạo,
điều hành và tổ chức thực hiện.
5. Việc áp dụng, điều chỉnh, chấm dứt
các biện pháp trong tình trạng khẩn cấp phải bảo đảm kịp thời, công khai, minh
bạch; các biện pháp làm hạn chế quyền con người, quyền công dân phải thật sự cần
thiết, có căn cứ rõ ràng, tương xứng với tính chất, mức độ sự cố, thảm họa và
không phân biệt đối xử.
6. Việc quyết định các biện pháp nhằm ứng
phó, khắc phục hậu quả trong tình trạng khẩn cấp gây ra thiệt hại thì người ra
quyết định không phải chịu trách nhiệm khi quyết định đó dựa trên thông tin có
được tại thời điểm ra quyết định, đúng thẩm quyền và không có động cơ vụ lợi.
7. Hoạt động phòng ngừa, ứng phó, khắc
phục tình trạng khẩn cấp phải được chuẩn bị từ sớm, từ xa; chủ động xây dựng lực
lượng, trang bị phương tiện, thực hiện phương châm bốn tại chỗ kết hợp với hỗ
trợ của Trung ương, địa phương và cộng đồng quốc tế; chủ động cảnh báo, dự báo,
đánh giá nguy cơ xảy ra tình trạng khẩn cấp.
Điều 4.
Áp dụng Luật Tình trạng khẩn cấp và các luật khác có liên quan
1. Thẩm quyền, trình tự, thủ tục, biện
pháp áp dụng trong tình trạng khẩn cấp trên lãnh thổ Việt Nam được thực hiện
theo quy định của Luật này và quy định khác của pháp luật có liên quan.
2. Trường hợp luật khác ban hành trước
ngày Luật này có hiệu lực thi hành có quy định về tình trạng khẩn cấp mà Luật
này không quy định và không trái với nguyên tắc quy định tại Điều 3 của Luật
này thì thực hiện theo quy định của luật đó.
3. Trường hợp luật khác ban hành sau
ngày Luật này có hiệu lực thi hành cần quy định đặc thù về tình trạng khẩn cấp
thì phải xác định cụ thể nội dung thực hiện theo quy định của luật đó nhưng
không trái với nguyên tắc quy định tại Điều 3 của Luật này.
Điều 5.
Các hành vi bị nghiêm cấm trong tình trạng khẩn cấp
1. Chống đối, cản trở, không chấp hành
hoặc chấp hành không đầy đủ chỉ đạo, chỉ huy, điều hành, yêu cầu của cơ quan hoặc
người có thẩm quyền trong tình trạng khẩn cấp.
2. Lợi dụng tình trạng khẩn cấp để trục
lợi, xâm phạm lợi ích của Nhà nước, an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội,
quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân.
3. Lợi dụng, lạm dụng chức vụ, quyền hạn
hoặc thiếu trách nhiệm trong tình trạng khẩn cấp gây thiệt hại cho lợi ích của
Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân.
4. Trì hoãn, từ chối việc hoàn trả tài sản
được huy động, trưng dụng của tổ chức, cá nhân hoặc không bồi thường thiệt hại
do việc huy động, trưng dụng tài sản gây ra cho tổ chức, cá nhân theo quy định
của Luật này và pháp luật có liên quan.
5. Thông tin sai sự thật về tình trạng
khẩn cấp.
Điều 6.
Hoạt động tố tụng trong tình trạng khẩn cấp
1. Trường hợp áp dụng các biện pháp quy
định tại các điều 13, 14 và 15 của Luật này, căn cứ tình hình cụ thể, Chánh án
Tòa án các cấp được quyết định các nội dung sau đây:
a) Trì hoãn hoạt động xét xử;
b) Dị chuyển tạm thời địa điểm xét xử đến
nơi có đủ điều kiện xét xử;
c) Thực hiện hoạt động xét xử theo hình
thức phù hợp.
2. Trong tình trạng khẩn cấp, Thủ trưởng
Cơ quan điều tra, Viện trưởng Viện kiểm sát, Chánh án Tòa án các cấp được quyết
định tạm đình chỉ; quyết định thời hạn tiến hành các hoạt động tố tụng khác với
quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự nhưng phải phù hợp với nguyên tắc quy định
tại Điều 3 của Luật này.
3. Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối
cao chủ trì, phối hợp với Chánh án Tòa án nhân dân tối cao, Bộ trưởng Bộ Quốc
phòng, Bộ trưởng Bộ Công an, Bộ trưởng và Thủ trưởng cơ quan ngang Bộ có liên
quan quy định chi tiết, hướng dẫn thi hành khoản 2 Điều này.
Điều 7.
Thời hạn, thời hiệu xử lý vi phạm hành chính, giải quyết vụ việc dân sự và thi
hành án hành chính, dân sự trong tình trạng khẩn cấp
1. Khoảng thời gian áp dụng các biện
pháp quy định tại các điều 13, 14 và 15 của Luật này không tính vào thời hạn,
thời hiệu sau đây:
a) Xử lý, giải quyết vi phạm hành chính;
b) Khởi kiện, giải quyết vụ việc dân sự;
c) Yêu cầu thi hành án hành chính, dân sự;
d) Khiếu nại và giải quyết khiếu nại, tố
cáo về thi hành án dân sự.
2. Thời hạn, thời hiệu quy định tại khoản
1 Điều này được tính tiếp từ ngày kết thúc thời hạn áp dụng các biện pháp quy định
tại các điều 13, 14 và 15 của Luật này.
Điều 8. Hợp
tác quốc tế về tình trạng khẩn cấp
1. Nguyên tắc hợp tác quốc tế về tình trạng
khẩn cấp bao gồm:
a) Tôn trọng độc lập, chủ quyền, bình đẳng,
cùng có lợi;
b) Tuân thủ pháp luật của Việt Nam, điều
ước quốc tế mà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên;
c) Tranh thủ sự ủng hộ, giúp đỡ của cộng
đồng quốc tế trong phòng ngừa, ứng phó, khắc phục hậu quả của tình trạng khẩn cấp.
2. Nội dung hợp tác quốc tế về tình trạng
khẩn cấp bao gồm:
a) Trao đổi thông tin, dự báo, cảnh báo
tình trạng khẩn cấp về thảm họa;
b) Tìm kiếm, cứu nạn, hỗ trợ nhân đạo, cứu
trợ thảm họa;
c) Đào tạo, huấn luyện, diễn tập, nghiên
cứu, ứng dụng khoa học, chuyển giao công nghệ để phòng ngừa, ứng phó, khắc phục
hậu quả của tình trạng khẩn cấp.
3. Trường hợp đã ban bố tình trạng khẩn
cấp về thảm họa, Chủ tịch nước, Thủ tướng Chính phủ đề nghị các quốc gia, các tổ
chức quốc tế, cá nhân hỗ trợ nguồn lực để phòng ngừa, ứng phó và phối hợp triển
khai các biện pháp khắc phục hậu quả.
4. Thủ tướng Chính phủ quy định việc tiếp
nhận, điều phối nguồn lực cứu trợ, hỗ trợ từ nước ngoài và việc đưa lực lượng,
phương tiện của Việt Nam ra nước ngoài tham gia hoạt động ứng phó, khắc phục hậu
quả, hỗ trợ nhân đạo, cứu trợ thảm họa.
Chương II
BAN BỐ, CÔNG BỐ, BÃI BỎ
TÌNH TRẠNG KHẨN CẤP
Điều 9.
Thẩm quyền, trình tự ban bố, công bố, bãi bỏ tình trạng khẩn cấp
1. Ủy ban Thường vụ Quốc hội quyết định
ban bố, bãi bỏ tình trạng khẩn cấp. Căn cứ vào nghị quyết của Ủy ban Thường vụ
Quốc hội về ban bố, bãi bỏ tình trạng khẩn cấp, Chủ tịch nước ra lệnh công bố,
bãi bỏ tình trạng khẩn cấp.
2. Trong trường hợp Ủy ban Thường vụ Quốc
hội không thể họp được, Chủ tịch nước ra lệnh công bố, bãi bỏ tình trạng khẩn cấp.
3. Thủ tướng Chính phủ đề nghị Ủy ban
Thường vụ Quốc hội quyết định ban bố, bãi bỏ tình trạng khẩn cấp; trong trường
hợp Ủy ban Thường vụ Quốc hội không thể họp được thì đề nghị Chủ tịch nước ra lệnh
công bố, bãi bỏ tình trạng khẩn cấp.
4. Tình trạng khẩn cấp được bãi bỏ khi
không còn nguy cơ xảy ra thảm họa hoặc thảm họa đã được ngăn chặn, khắc phục;
tình hình quốc phòng, an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội đã ổn định.
Điều 10.
Nội dung nghị quyết của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, lệnh của Chủ tịch nước về
tình trạng khẩn cấp
1. Nội dung nghị quyết ban bố của Ủy ban
Thường vụ Quốc hội, lệnh công bố của Chủ tịch nước về tình trạng khẩn cấp bao gồm:
a) Căn cứ, lý do ban bố, công bố tình trạng
khẩn cấp;
b) Địa bàn được đặt trong tình trạng khẩn
cấp;
c) Thời điểm áp dụng tình trạng khẩn cấp;
d) Trách nhiệm tổ chức thi hành.
2. Nội dung nghị quyết của Ủy ban Thường
vụ Quốc hội, lệnh của Chủ tịch nước bãi bỏ tình trạng khẩn cấp bao gồm:
a) Căn cứ, lý do bãi bỏ tình trạng khẩn
cấp;
b) Địa bàn được bãi bỏ tình trạng khẩn cấp;
c) Thời điểm bãi bỏ tình trạng khẩn cấp;
d) Các biện pháp được tiếp tục áp dụng
sau khi bãi bỏ tình trạng khẩn cấp (nếu có);
đ) Trách nhiệm tổ chức thực hiện.
Điều 11.
Thông tin về tình trạng khẩn cấp
1. Nghị quyết của Ủy ban Thường vụ Quốc
hội ban bố, bãi bỏ tình trạng khẩn cấp, lệnh của Chủ tịch nước công bố, bãi bỏ
tình trạng khẩn cấp phải được thông báo ngay trên các phương tiện thông tin đại
chúng và niêm yết công khai tại trụ sở Ủy ban nhân dân các cấp trên địa bàn được
đặt trong tình trạng khẩn cấp.
2. Việc ban bố, công bố, bãi bỏ tình trạng
khẩn cấp được thông báo ngay cho các quốc gia thành viên Công ước quốc tế về
các Quyền Dân sự và Chính trị.
3. Người đứng đầu cơ quan, tổ chức và
chính quyền địa phương công bố thông tin kịp thời, thông suốt, chính xác về
tình trạng khẩn cấp đến người dân, cơ quan, tổ chức, doanh nghiệp; trong phạm
vi trách nhiệm, quyền hạn của mình, tiếp nhận thông tin từ người dân, cơ quan,
tổ chức, doanh nghiệp để thực hiện các biện pháp khắc phục hậu quả trong tình
trạng khẩn cấp và cứu trợ, hỗ trợ khẩn cấp; bảo đảm thông tin liên lạc phục vụ ứng
phó, khắc phục tình trạng khẩn cấp.
4. Sử dụng số điện thoại 112 để tiếp nhận,
xử lý thông tin tình trạng khẩn cấp về thảm họa trên phạm vi toàn quốc.
5. Trong tình trạng khẩn cấp, cơ quan, tổ
chức, cá nhân có thẩm quyền được áp dụng các biện pháp kiểm soát thông tin cần
thiết để ngăn chặn, xử lý thông tin sai sự thật, xuyên tạc, gây hoang mang
trong Nhân dân, bảo đảm an ninh, trật tự, an toàn xã hội. Việc kiểm soát thông
tin bao gồm các hoạt động sau đây:
a) Kiểm soát, kiểm duyệt việc đưa tin,
phát tin, đăng tải, chia sẻ thông tin về tình trạng khẩn cấp trên các phương tiện
thông tin đại chúng và không gian mạng; quản lý đặc biệt đối với việc sử dụng
các phương tiện thông tin liên lạc và dịch vụ viễn thông;
b) Thiết lập quy trình cho hoạt động tác
nghiệp của phóng viên trên địa bàn được đặt trong tình trạng khẩn cấp.
Chương III
BIỆN PHÁP ĐƯỢC ÁP DỤNG
TRONG TÌNH TRẠNG KHẨN CẤP
Điều 12.
Thẩm quyền áp dụng biện pháp trong tình trạng khẩn cấp
1. Người có thẩm quyền quyết định áp dụng
các biện pháp trong tình trạng khẩn cấp phải ưu tiên bảo vệ lợi ích quốc gia,
dân tộc, tính mạng, sức khỏe của người dân; được áp dụng một hoặc nhiều biện
pháp trong việc ứng phó, khắc phục tình trạng khẩn cấp.
2. Thủ tướng Chính phủ có thẩm quyền sau
đây:
a) Quyết định áp dụng biện pháp quy định
tại các điều 13, 14 và 15 của Luật này và thời hạn áp dụng;
b) Quyết định cơ quan, tổ chức hoặc người
có trách nhiệm thi hành biện pháp trong tình trạng khẩn cấp;
c) Trường hợp thật cần thiết vì lợi ích
quốc gia, dân tộc, tính mạng, sức khỏe của người dân, sau khi được sự đồng ý của
cấp có thẩm quyền, quyết định áp dụng các biện pháp mà pháp luật chưa quy định
để ứng phó, khắc phục tình trạng khẩn cấp hoặc áp dụng các biện pháp quy định tại
Luật này khi chưa ban bố, công bố tình trạng khẩn cấp;
d) Trường hợp cần thiết, Thủ tướng Chính
phủ ủy quyền cho Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh quyết định áp dụng biện pháp
quy định tại Điều 13 của Luật này.
3. Thủ tướng Chính phủ báo cáo việc áp dụng
các biện pháp quy định tại điểm c khoản 2 Điều này với cơ quan có thẩm quyền của
Đảng, Quốc hội, Ủy ban Thường vụ Quốc hội trong thời gian gần nhất.
4. Chủ tịch Ủy ban nhân dân các cấp,
trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình, quyết định áp dụng biện pháp phòng
thủ dân sự được áp dụng trong tình trạng khẩn cấp.
Điều 13.
Biện pháp được áp dụng trong tình trạng khẩn cấp khi có thảm họa
Trên địa bàn được đặt trong tình trạng
khẩn cấp khi xảy ra hoặc có nguy cơ xảy ra thảm họa về thiên tai, dịch bệnh, ô
nhiễm môi trường, sự cố bức xạ, hạt nhân hoặc sự cố khác có thể áp dụng một hoặc
một số biện pháp sau đây:
1. Các biện pháp phòng thủ dân sự được
áp dụng trong tình trạng khẩn cấp quy định tại Luật Phòng thủ dân sự;
2. Các biện pháp ứng phó sự cố về môi
trường, hóa chất, bức xạ, hạt nhân, năng lượng hoặc các sự cố khác theo quy định
của Luật này và quy định khác của pháp luật có liên quan;
3. Di dời, cưỡng chế di dời người dân
trong các khu vực nguy hiểm đến nơi an toàn;
4. Tổ chức lực lượng để bảo đảm an ninh
và trật tự, an toàn xã hội, tăng cường bảo vệ các cơ quan, tổ chức, cá nhân
trên địa bàn được đặt trong tình trạng khẩn cấp;
5. Yêu cầu các doanh nghiệp chuyển đổi sản
xuất, kinh doanh hàng hóa cần thiết để ứng phó thảm họa;
6. Áp dụng biện pháp bình ổn giá theo
quy định của pháp luật về giá; trường hợp hàng hóa, dịch vụ cần bình ổn giá
không nằm trong Danh mục hàng hóa, dịch vụ bình ổn giá nhưng cần bình ổn ngay
thì do Thủ tướng Chính phủ quyết định;
7. Kiểm tra, xử lý nghiêm các trường hợp
buôn lậu, gian lận thương mại, đầu cơ, gây khan hiếm giả, sản xuất hàng giả đối
với hàng hóa thiết yếu phục vụ phòng, chống dịch bệnh;
8. Sử dụng vũ lực, vũ khí, công cụ hỗ trợ
theo quy định của pháp luật để ngăn chặn, bắt giữ người và phương tiện vi phạm;
9. Tạm đình chỉ việc thực hiện chức
trách, nhiệm vụ đối với người đứng đầu cơ quan, tổ chức, chính quyền địa phương
không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nhiệm vụ, quyền hạn; đồng thời, chỉ định
người thực hiện chức trách, nhiệm vụ của người đứng đầu.
Điều 14.
Biện pháp được áp dụng trong tình trạng khẩn cấp về an ninh quốc gia, trật tự,
an toàn xã hội
Trên địa bàn được đặt trong tình trạng
khẩn cấp khi có tình hình đe dọa nghiêm trọng đến an ninh quốc gia, trật tự, an
toàn xã hội có thể áp dụng một hoặc một số biện pháp sau đây:
1. Các biện pháp phòng thủ dân sự được
áp dụng trong tình trạng khẩn cấp quy định tại Luật Phòng thủ dân sự;
2. Biện pháp bảo vệ an ninh quốc gia, bảo
đảm trật tự, an toàn xã hội, ứng phó, xử lý tình huống nguy hiểm về an ninh quốc
gia, trật tự, an toàn xã hội theo quy định của pháp luật;
3. Biện pháp áp dụng trong thời gian giới
nghiêm quy định tại Luật Quốc phòng;
4. Tăng cường bảo vệ các cơ quan trọng yếu,
cơ mật và cán bộ lãnh đạo chủ chốt, cấp cao của Đảng, Nhà nước ở Trung ương và
địa phương, khách mời của Đảng, Nhà nước; đài phát thanh, đài truyền hình, bưu
điện, đơn vị thông tin; cơ quan thông tấn, cơ quan ngoại giao, cơ quan lãnh sự
và cơ quan đại diện của tổ chức quốc tế đóng tại Việt Nam; công trình quốc
phòng và khu quân sự; công trình quan trọng liên quan đến an ninh quốc gia; Kho
bạc Nhà nước, cảng hàng không, bến cảng và các công trình quan trọng khác của
Nhà nước; biên giới quốc gia và các cửa khẩu biên giới; trại giam, trại tạm
giam và những cơ quan, địa điểm quan trọng khác;
5. Chỉ định cảng hàng không, sân bay hạ
cánh cho tàu bay, nơi cập bến, neo đậu cho tàu thuyền, nhà ga cho tàu hỏa, điểm
đỗ cho ô tô và các phương tiện giao thông khác; kiểm soát các chuyến bay quá cảnh
qua địa bàn được đặt trong tình trạng khẩn cấp;
6. Tổ chức Đội công tác tuyên truyền đặc
biệt, Đội tuần tra đặc biệt;
7. Đặt các trạm canh gác và kiểm tra giấy
tờ, vật phẩm, hành lý của người qua lại trạm canh gác và kiểm soát;
8. Sử dụng vũ lực, vũ khí, công cụ hỗ trợ
theo quy định của pháp luật để ngăn chặn, giữ người và phương tiện giao thông cố
tình vượt trái phép trạm canh gác và kiểm soát hoặc chống lại việc canh gác, kiểm
soát;
9. Tạm giữ hoặc phong tỏa tài sản của cá
nhân, tổ chức có liên quan có thể gây nguy hại cho an ninh quốc gia, trật tự,
an toàn xã hội;
10. Hạn chế hoặc cấm các giao dịch kinh
tế, thương mại với một số quốc gia hoặc tổ chức có liên quan đến tình trạng khẩn
cấp.
Điều 15.
Biện pháp được áp dụng trong tình trạng khẩn cấp về quốc phòng
Trên địa bàn được đặt trong tình trạng
khẩn cấp khi có nguy cơ trực tiếp bị xâm lược hoặc đã xảy ra hành vi xâm lược
hoặc bạo loạn có vũ trang nhưng chưa đến mức tuyên bố tình trạng chiến tranh có
thể áp dụng một hoặc một số biện pháp sau đây:
1. Các biện pháp phòng thủ dân sự được
áp dụng trong tình trạng khẩn cấp quy định tại Luật Phòng thủ dân sự;
2. Biện pháp áp dụng trong thời gian thiết
quân luật quy định tại Luật Quốc phòng;
3. Cấm xuất khẩu đối với các mặt hàng có
liên quan đến quốc phòng.
Điều 16.
Biện pháp khắc phục hậu quả trong tình trạng khẩn cấp
1. Cứu trợ, hỗ trợ lương thực, thực phẩm,
thuốc chữa bệnh, nhu yếu phẩm; bố trí nơi ăn ở tạm thời phục vụ việc di dời khẩn
cấp các hộ dân đang sinh sống ở địa bàn được đặt trong tình trạng khẩn cấp, bảo
đảm an toàn, ổn định tâm lý, cuộc sống của người dân.
2. Thống kê, đánh giá thiệt hại để xác định
nhu cầu cứu trợ, hỗ trợ và triển khai phương án khắc phục hậu quả.
3. Thực hiện cơ chế, chính sách hỗ trợ sản
xuất giúp người dân, doanh nghiệp, tổ chức khắc phục hậu quả trong tình trạng
khẩn cấp, phục hồi sản xuất, kinh doanh.
4. Bảo đảm an toàn và hoạt động của các
hệ thống giao thông công cộng, thông tin liên lạc, cấp nước, thoát nước, cung cấp
điện, y tế, phát thanh truyền hình.
5. Các biện pháp khắc phục ô nhiễm môi
trường, phòng, chống dịch bệnh.
6. Các biện pháp khác để khắc phục hậu
quả theo quy định của Luật Phòng thủ dân sự.
Điều 17.
Thống kê, đánh giá thiệt hại
1. Việc thống kê, đánh giá thiệt hại thực
hiện theo quy định của pháp luật về thống kê và quy định khác của pháp luật có
liên quan.
2. Nội dung thực hiện thống kê, đánh giá
thiệt hại bao gồm:
a) Điều tra, thu thập hồ sơ, tài liệu, số
liệu liên quan đến thống kê thiệt hại;
b) Kiểm tra, tổng hợp số liệu và lập các
biểu thống kê thiệt hại ở các cấp theo quy định;
c) Phân tích, đánh giá nguyên nhân, ước
tính thiệt hại, đề xuất các giải pháp hỗ trợ, khắc phục hậu quả;
d) Lập báo cáo thống kê, đánh giá thiệt
hại.
3. Bộ, ngành Trung ương, cơ quan ngang Bộ,
Ủy ban nhân dân các cấp hướng dẫn việc tổ chức thực hiện thống kê, đánh giá thiệt
hại thuộc ngành, lĩnh vực, địa bàn quản lý.
Điều 18.
Huy động, quyên góp và phân bổ nguồn lực cứu trợ, hỗ trợ
1. Việc huy động, quyên góp và phân bổ
nguồn lực cứu trợ, hỗ trợ được quy định như sau:
a) Tuân theo quy định của pháp luật, căn
cứ vào mức độ thiệt hại xảy ra và phối hợp với chính quyền địa phương nơi có đối
tượng được cứu trợ, hỗ trợ để bảo đảm kịp thời, công bằng, công khai, minh bạch,
tránh trùng lặp;
b) Việc cứu trợ, hỗ trợ cần tập trung
đáp ứng nhu cầu thiết yếu của người dân bị ảnh hưởng do thảm họa, đặc biệt là đối
tượng dễ bị tổn thương;
c) Trang thiết bị, tài sản được huy động
phải được hoàn trả ngay sau khi kết thúc nhiệm vụ; trường hợp bị thiệt hại thì
được bồi thường theo quy định của pháp luật.
2. Thẩm quyền huy động, quyên góp và
phân bổ nguồn lực cứu trợ, hỗ trợ được quy định như sau:
a) Thủ tướng Chính phủ, Bộ trưởng, Thủ
trưởng cơ quan ngang Bộ, trưởng ngành Trung ương, Chủ tịch Ủy ban nhân dân các
cấp huy động nguồn lực theo thẩm quyền để phục vụ công tác cứu trợ khẩn cấp và
thực hiện chính sách hỗ trợ theo quy định của pháp luật về ngân sách nhà nước,
pháp luật về dự trữ quốc gia;
b) Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, Hội Chữ thập
đỏ Việt Nam vận động quyên góp và phân bổ nguồn lực để cứu trợ khẩn cấp và thực
hiện chính sách hỗ trợ; phối hợp với Ủy ban nhân dân cùng cấp tiếp nhận và phân
bổ nguồn lực để cứu trợ khẩn cấp và thực hiện chính sách hỗ trợ;
c) Tổ chức, cá nhân được phép quyên góp
từ cộng đồng theo quy định của pháp luật có trách nhiệm phối hợp với chính quyền,
Mặt trận Tổ quốc Việt Nam ở địa phương, nơi được hỗ trợ để thực hiện cứu trợ khẩn
cấp và thực hiện chính sách hỗ trợ.
Điều 19.
Cứu trợ, hỗ trợ khẩn cấp
1. Đối tượng được cứu trợ, hỗ trợ khẩn cấp
bao gồm:
a) Cá nhân bị thương, hộ gia đình có người
bị chết, mất tích;
b) Hộ gia đình, cá nhân không có chỗ ở,
không có lương thực, thực phẩm, nước uống và hàng hóa thiết yếu; người có nguy
cơ bị ảnh hưởng tới tính mạng, sức khỏe, ưu tiên đối tượng dễ bị tổn thương;
c) Doanh nghiệp được yêu cầu chuyển đổi
sản xuất, kinh doanh hàng hóa cần thiết ứng phó thảm họa.
2. Ưu tiên cứu trợ, hỗ trợ khẩn cấp
lương thực, thực phẩm, nước uống, thuốc chữa bệnh và hàng hóa, dịch vụ thiết yếu
khác để ổn định đời sống, phòng, chống dịch bệnh, vệ sinh môi trường ở địa bàn
bị tác động của tình trạng khẩn cấp. Miễn phí giao thông đường bộ đối với
phương tiện làm nhiệm vụ, vận chuyển thuốc, dược liệu, hàng hóa, trang thiết bị
đến địa bàn xảy ra tình trạng khẩn cấp.
3. Nguồn lực cho cứu trợ, hỗ trợ khẩn cấp
từ hàng dự trữ quốc gia, dự phòng ngân sách nhà nước và đóng góp tự nguyện của
tổ chức, cá nhân, hỗ trợ từ quốc tế, quỹ phòng thủ dân sự và các quỹ tài chính
nhà nước ngoài ngân sách khác, nguồn tài chính khác theo quy định của pháp luật.
Điều 20.
Chính sách hỗ trợ
1. Nhà nước có chính sách hỗ trợ về tài
chính, thuế, phí, lệ phí, tín dụng, đầu tư, sản xuất, kinh doanh, lao động, việc
làm, xuất cảnh, nhập cảnh, an sinh xã hội nhằm nhanh chóng khôi phục sản xuất, ổn
định đời sống của người dân và hoạt động của cơ quan, tổ chức, doanh nghiệp.
2. Đối tượng được hỗ trợ bao gồm cơ
quan, tổ chức, hộ gia đình, cá nhân, doanh nghiệp bị ảnh hưởng trực tiếp bởi
tình trạng khẩn cấp.
3. Đối với chính sách thuộc thẩm quyền của
Quốc hội, Ủy ban Thường vụ Quốc hội thì Chính phủ báo cáo Ủy ban Thường vụ Quốc
hội xem xét, quyết định trước khi thực hiện; trong trường hợp cấp thiết, Chính
phủ quyết định áp dụng các chính sách và báo cáo Ủy ban Thường vụ Quốc hội
trong thời gian gần nhất.
Điều 21.
Nguồn lực ứng phó, cứu trợ, hỗ trợ trong tình trạng khẩn cấp
1. Nguồn lực ứng phó, cứu trợ, hỗ trợ
trong tình trạng khẩn cấp bao gồm:
a) Ngân sách nhà nước;
b) Quỹ phòng thủ dân sự và các quỹ tài
chính nhà nước ngoài ngân sách khác;
c) Hàng dự trữ quốc gia;
d) Đóng góp tự nguyện của tổ chức, cá
nhân trong và ngoài nước;
đ) Nguồn lực từ hỗ trợ quốc tế;
e) Nguồn tài chính khác theo quy định của
pháp luật.
2. Nhà nước bảo đảm ngân sách cho phòng
ngừa, ứng phó, khắc phục hậu quả trong tình trạng khẩn cấp theo quy định của
pháp luật về ngân sách nhà nước; ưu tiên bố trí ngân sách nhà nước cho khu vực
biên giới, hải đảo, khu vực trọng yếu, địa bàn trọng điểm.
3. Cơ quan có thẩm quyền quyết định việc
sử dụng quỹ phòng thủ dân sự và các quỹ tài chính nhà nước ngoài ngân sách khác
trong tình trạng khẩn cấp.
4. Nhà nước có kế hoạch dự trữ quốc gia
để bảo đảm ứng phó trong tình trạng khẩn cấp. Việc quản lý, sử dụng dự trữ quốc
gia để bảo đảm ứng phó trong tình trạng khẩn cấp thực hiện theo quy định của
pháp luật về dự trữ quốc gia.
Điều 22.
Đào tạo, huấn luyện, diễn tập về tình trạng khẩn cấp
1. Đào tạo, huấn luyện về tình trạng khẩn
cấp được quy định như sau:
a) Bộ trưởng Bộ Quốc phòng, Bộ trưởng Bộ
Công an ban hành nội dung, chương trình đào tạo, huấn luyện về tình trạng khẩn
cấp cho lực lượng vũ trang;
b) Bộ trưởng các Bộ có lực lượng chuyên
trách về phòng thủ dân sự xây dựng nội dung, chương trình đào tạo, huấn luyện về
tình trạng khẩn cấp cho lực lượng do Bộ mình quản lý;
c) Ủy ban nhân dân cấp tỉnh chỉ đạo công
tác huấn luyện về tình trạng khẩn cấp cho lực lượng tại địa phương.
2. Diễn tập về tình trạng khẩn cấp được
quy định như sau:
a) Bộ Quốc phòng chủ trì phối hợp với Bộ,
ngành, địa phương liên quan tổ chức diễn tập khu vực phòng thủ có nội dung về
tình trạng khẩn cấp về quốc phòng;
b) Bộ Công an chủ trì phối hợp với Bộ,
ngành, địa phương liên quan tổ chức diễn tập tình trạng khẩn cấp về an ninh quốc
gia, trật tự, an toàn xã hội;
c) Các Bộ trong phạm vi quản lý về
ngành, lĩnh vực, phối hợp với Bộ Quốc phòng, Bộ Công an và địa phương tổ chức
diễn tập phòng thủ dân sự có nội dung về tình trạng khẩn cấp về thảm họa;
d) Ủy ban nhân dân các cấp tổ chức diễn
tập tình trạng khẩn cấp về thảm họa.
Điều 23.
Chế độ, chính sách đối với tổ chức, cá nhân tham gia hoạt động trong tình trạng
khẩn cấp
1. Người được điều động, huy động làm
nhiệm vụ trong tình trạng khẩn cấp theo quyết định của cấp có thẩm quyền được
hưởng chính sách đặc thù và các chế độ, chính sách theo quy định của pháp luật.
2. Cơ quan, tổ chức, cá nhân tham gia,
phối hợp, cộng tác, hỗ trợ hoạt động trong tình trạng khẩn cấp có thành tích
thì được khen thưởng; bị thiệt hại về tài sản thì được đền bù; bị tổn hại về
danh dự, nhân phẩm thì được khôi phục; người bị chết, bị thương, tổn hại sức khỏe
thì bản thân hoặc gia đình được hưởng chế độ, chính sách theo quy định của pháp
luật.
3. Chính phủ quy định chi tiết Điều này.
Chương IV
TỔ CHỨC THI HÀNH NGHỊ
QUYẾT,
LỆNH VỀ TÌNH TRẠNG KHẨN CẤP
Điều 24.
Chỉ đạo, chỉ huy trong tình trạng khẩn cấp
1. Chính phủ chỉ đạo, tổ chức thi hành
nghị quyết của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, lệnh của Chủ tịch nước về tình trạng
khẩn cấp.
2. Ban Chỉ đạo Phòng thủ dân sự quốc
gia, Ban Chỉ huy Phòng thủ dân sự Bộ, ngành Trung ương, cơ quan ngang Bộ và Ban
Chỉ huy Phòng thủ dân sự địa phương các cấp chỉ đạo, chỉ huy hoạt động trong
tình trạng khẩn cấp về thảm họa.
3. Ban Chỉ huy Bảo vệ an ninh quốc gia
theo quy định của pháp luật về an ninh quốc gia chỉ huy, điều hành hoạt động
trong tình trạng khẩn cấp về an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội.
4. Ban Chỉ huy Tình trạng khẩn cấp về quốc
phòng theo quy định của pháp luật về quốc phòng chỉ huy, điều hành hoạt động
trong tình trạng khẩn cấp về quốc phòng.
Điều 25.
Điều động lực lượng vũ trang đến địa bàn được đặt trong tình trạng khẩn cấp
1. Trong trường hợp cần thiết, Thủ tướng
Chính phủ đề nghị Chủ tịch nước điều động lực lượng vũ trang đến địa bàn được đặt
trong tình trạng khẩn cấp về quốc phòng, tình trạng khẩn cấp về an ninh quốc
gia, trật tự, an toàn xã hội.
2. Bộ trưởng Bộ Quốc phòng, Bộ trưởng Bộ
Công an điều động lực lượng thuộc quyền đến địa bàn được đặt trong tình trạng
khẩn cấp về thảm họa để hỗ trợ các lực lượng tại chỗ ứng phó, khắc phục hậu quả
của thảm họa hoặc để ổn định, duy trì an ninh, trật tự, an toàn xã hội.
Điều 26.
Thẩm quyền, biện pháp xử lý người bị tạm giữ trong tình trạng khẩn cấp
1. Trong tình trạng khẩn cấp, ngoài người
có thẩm quyền tạm giữ người, xử lý vi phạm theo quy định của pháp luật, Đội trưởng
Đội tuần tra đặc biệt có thẩm quyền tạm giữ người vi phạm hành chính và thẩm
quyền xử phạt vi phạm hành chính như thẩm quyền của Đồn trưởng Đồn Biên phòng,
Trưởng Công an cấp xã theo quy định của pháp luật về xử lý vi phạm hành chính.
2. Trường hợp người bị tạm giữ có dấu hiệu
tội phạm, phải phối hợp ngay với cơ quan có thẩm quyền chuyển giao người bị tạm
giữ cùng toàn bộ hồ sơ, tang vật cho cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng
hình sự theo quy định của pháp luật.
3. Trong thời gian người bị tạm giữ chưa
được chuyển giao cho cơ quan có thẩm quyền để xử lý thì được tạm giữ lại cơ sở
tạm giữ theo quy định của pháp luật.
Điều 27.
Chỉ huy lực lượng trong tình trạng khẩn cấp
1. Người chỉ huy đơn vị Quân đội nhân
dân, Công an nhân dân điều động và chỉ huy lực lượng thuộc quyền chủ trì hoặc
phối hợp thực hiện hoạt động trong tình trạng khẩn cấp.
2. Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang Bộ,
Chủ tịch Ủy ban nhân dân các cấp chỉ huy các lực lượng trong tình trạng khẩn cấp.
Điều 28.
Lực lượng phòng ngừa, ứng phó, khắc phục tình trạng khẩn cấp
1. Lực lượng thực hiện nhiệm vụ phòng ngừa,
ứng phó, khắc phục tình trạng khẩn cấp bao gồm:
a) Lực lượng nòng cốt;
b) Lực lượng rộng rãi.
2. Lực lượng nòng cốt gồm lực lượng Quân
đội nhân dân, Công an nhân dân, Dân quân tự vệ, lực lượng tham gia bảo vệ an
ninh, trật tự ở cơ sở; lực lượng của các Bộ, ngành và địa phương.
Đội ứng phó khẩn cấp, Đội công tác tuyên
truyền đặc biệt, Đội tuần tra đặc biệt được thành lập từ lực lượng nòng cốt.
3. Lực lượng rộng rãi do toàn dân tham
gia.
4. Chính phủ quy định chi tiết Điều này.
Điều 29.
Trang thiết bị bảo đảm cho huấn luyện, diễn tập, ứng phó, khắc phục hậu quả
trong tình trạng khẩn cấp
1. Trang thiết bị cho lực lượng nòng cốt
bao gồm các loại phương tiện, thiết bị, vật tư bảo đảm cho hoạt động trong tình
trạng khẩn cấp và thiết bị, vật tư bảo đảm an toàn cho lực lượng trong tình trạng
khẩn cấp.
2. Bộ Quốc phòng chủ trì, phối hợp với Bộ,
ngành Trung ương, địa phương trình Thủ tướng Chính phủ ban hành danh mục trang
thiết bị bảo đảm cho huấn luyện, diễn tập, ứng phó, khắc phục hậu quả trong
tình trạng khẩn cấp.
3. Bộ, ngành Trung ương, địa phương bảo
đảm trang thiết bị cho huấn luyện, diễn tập, ứng phó, khắc phục hậu quả trong
tình trạng khẩn cấp theo danh mục quy định tại khoản 2 Điều này.
Điều 30.
Áp dụng pháp luật về sự kiện bất khả kháng
Việc áp dụng các biện pháp quy định tại
các điều 13, 14 và 15 của Luật này dẫn đến việc cơ quan, tổ chức, cá nhân không
thể thực hiện được các nghĩa vụ theo hợp đồng được xem xét, đánh giá để áp dụng
quy định pháp luật về sự kiện bất khả kháng, trừ trường hợp có thỏa thuận khác
hoặc pháp luật có quy định khác.
Điều 31.
Biện pháp áp dụng khi bãi bỏ tình trạng khẩn cấp
1. Khi tình trạng khẩn cấp được bãi bỏ
thì biện pháp áp dụng trong tình trạng khẩn cấp hết hiệu lực, trừ trường hợp luật,
nghị quyết hoặc lệnh bãi bỏ tình trạng khẩn cấp có quy định khác.
2. Hủy bỏ, thu hồi hoặc điều chỉnh các
quyết định không còn phù hợp; hoàn trả tài sản, khôi phục quyền và lợi ích hợp
pháp cho tổ chức, cá nhân bị ảnh hưởng.
3. Ủy ban nhân dân các cấp tại địa bàn
được đặt trong tình trạng khẩn cấp và các cơ quan nhà nước liên quan có trách
nhiệm áp dụng các biện pháp cần thiết để ổn định đời sống của người dân, phục hồi
sản xuất.
Chương V
TRÁCH NHIỆM CỦA CƠ
QUAN, TỔ CHỨC, CÁ NHÂN
Điều 32.
Trách nhiệm của Ủy ban Thường vụ Quốc hội
1. Kịp thời ban hành nghị quyết ban bổ,
bãi bỏ tình trạng khẩn cấp theo đề nghị của Thủ tướng Chính phủ.
2. Ban hành các chính sách hỗ trợ phát
triển sản xuất, kinh doanh nhằm bảo đảm hoạt động bình thường của cơ quan, tổ
chức, doanh nghiệp, người dân và báo cáo Quốc hội theo quy định của pháp luật.
3. Trường hợp cần thiết, sau khi được sự
đồng ý của cấp có thẩm quyền, quy định các biện pháp chưa được quy định tại Luật
này và các luật khác có liên quan để ứng phó trong tình trạng khẩn cấp và báo
cáo Quốc hội tại kỳ họp gần nhất.
Điều 33.
Trách nhiệm quản lý nhà nước về tình trạng khẩn cấp
1. Chính phủ thống nhất quản lý nhà nước
về tình trạng khẩn cấp trong phạm vi cả nước.
2. Bộ Quốc phòng là đầu mối chịu trách
nhiệm trước Chính phủ thực hiện quản lý nhà nước về tình trạng khẩn cấp.
3. Các Bộ chịu trách nhiệm trước Chính
phủ thực hiện quản lý nhà nước về tình trạng khẩn cấp thuộc phạm vi quản lý
ngành, lĩnh vực được giao.
4. Ủy ban nhân dân các cấp, trong phạm
vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình, thực hiện quản lý nhà nước về tình trạng khẩn
cấp về thảm họa tại địa phương.
5. Chính phủ quy định chi tiết Điều này.
Điều 34.
Trách nhiệm của cơ quan, tổ chức
Cơ quan, tổ chức theo chức năng, nhiệm vụ
của mình, có trách nhiệm sau đây:
1. Tuyên truyền, vận động người lao động,
thành viên trong cơ quan, tổ chức mình, người dân chấp hành quy định của pháp
luật về tình trạng khẩn cấp;
2. Chủ động xây dựng, bảo vệ công trình,
cơ sở vật chất thuộc phạm vi quản lý;
3. Chấp hành quyết định huy động nhân lực,
trang thiết bị, nhu yếu phẩm của người có thẩm quyền để phục vụ hoạt động trong
tình trạng khẩn cấp;
4. Báo cáo, thông tin chính xác, kịp thời
thiệt hại trong tình trạng khẩn cấp; chủ động khắc phục hậu quả, vệ sinh môi
trường, phòng, chống dịch bệnh trong phạm vi quản lý;
5. Doanh nghiệp phải chuyển đổi sản xuất,
kinh doanh phù hợp theo yêu cầu để cung cấp vật tư, nhu yếu phẩm, trang thiết bị
bảo đảm chất lượng.
Điều 35.
Trách nhiệm của cá nhân
1. Chủ động ứng phó, khắc phục hậu quả
nhằm bảo đảm an toàn cho bản thân và gia đình; trong điều kiện có thể, tham gia
hỗ trợ cộng đồng, giúp đỡ người bị thiệt hại trong tình trạng khẩn cấp tại địa
phương.
2. Thực hiện các biện pháp ứng phó theo
kế hoạch của địa phương; chấp hành hướng dẫn, yêu cầu của cơ quan, người có thẩm
quyền về sơ tán người, phương tiện ra khỏi khu vực nguy hiểm; chấp hành quyết định
huy động trang thiết bị, tài sản để phục vụ hoạt động ứng phó trong tình trạng
khẩn cấp của người có thẩm quyền.
3. Thông báo, cung cấp thông tin kịp thời
cho cơ quan có thẩm quyền về diễn biến, thiệt hại khi có điều kiện thực hiện.
Chương VI
ĐIỀU KHOẢN THI HÀNH
Điều 36.
Hiệu lực thi hành
1. Luật này có hiệu lực thi hành từ ngày
01 tháng 7 năm 2026.
2. Pháp lệnh Tình trạng khẩn cấp số
20/2000/PL-UBTVQH10 hết hiệu lực kể từ ngày Luật này có hiệu lực thi hành.
_________________
Luật này
được Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa XV, Kỳ họp thứ 10
thông qua ngày 03 tháng 12 năm 2025.
CHỦ TỊCH QUỐC HỘI
Trần Thanh Mẫn
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét