|
QUỐC HỘI |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT
NAM |
LUẬT
SỬA ĐỔI, BỔ SUNG MỘT SỐ ĐIỀU CỦA BỘ LUẬT HÌNH
SỰ
Căn cứ Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam
đã được sửa đổi, bổ sung một số điều theo Nghị quyết số 203/2025/QH15;
Quốc hội ban hành Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của
Bộ luật Hình sự số 100/2015/QH13 đã được sửa đổi, bổ sung một số điều theo Luật
số 12/2017/QH14 và Luật số 59/2024/QH15.
Điều 1. Sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Hình sự
1. Sửa đổi, bổ sung khoản
3 Điều 40 như sau:
“3. Không thi hành án tử hình đối với người bị kết án nếu
thuộc một trong các trường hợp sau đây:
a) Phụ nữ có thai hoặc phụ
nữ đang nuôi con dưới 36 tháng tuổi;
c) Người mắc bệnh ung thư
giai đoạn cuối.”.
2. Sửa đổi, bổ sung Điều
49 như sau:
“Điều 49. Bắt buộc chữa bệnh
1. Đối với người thực hiện
hành vi nguy hiểm cho xã hội trong khi mắc bệnh quy định tại Điều 21 của Bộ
luật này, Viện kiểm sát hoặc Tòa án căn cứ vào kết luận giám định pháp y, giám
định pháp y tâm thần có thể quyết định đưa họ vào một cơ sở khám bệnh, chữa
bệnh để bắt buộc chữa bệnh.
2. Đối với người phạm tội
trong khi có năng lực trách nhiệm hình sự nhưng trước khi bị kết án đã mắc bệnh
tới mức mất khả năng nhận thức hoặc khả năng điều khiển hành vi của mình, thì
căn cứ vào kết luận giám định pháp y, giám định pháp y tâm thần, Tòa án có thể
quyết định đưa họ vào một cơ sở khám bệnh, chữa bệnh để bắt buộc chữa bệnh. Sau
khi có kết luận khỏi bệnh hoặc có kết luận đủ khả năng nhận thức, đủ khả năng
điều khiển hành vi, người đó có thể phải chịu trách nhiệm hình sự.
3. Đối với người đang chấp
hành hình phạt tù mà bị bệnh tới mức mất khả năng nhận thức hoặc khả năng điều
khiển hành vi của mình, thì căn cứ vào kết luận giám định pháp y, giám định
pháp y tâm thần, Tòa án có thể quyết định đưa họ vào một cơ sở khám bệnh, chữa
bệnh để bắt buộc chữa bệnh. Sau khi có kết luận khỏi bệnh hoặc có kết luận đủ
khả năng nhận thức, đủ khả năng điều khiển hành vi, nếu không có lý do khác để
miễn chấp hành hình phạt, thì người đó phải tiếp tục chấp hành hình phạt.
Thời gian bắt buộc chữa bệnh được trừ vào thời hạn chấp
hành hình phạt tù.”.
3. Sửa đổi, bổ sung khoản
6 Điều 62 như sau:
“6. Người bị phạt cấm cư trú hoặc quản chế, nếu đã chấp
hành được một phần hai thời hạn hình phạt và cải tạo tốt, thì theo đề nghị của
cơ quan có thẩm quyền, Tòa án có thể quyết định miễn chấp hành phần hình phạt
còn lại.”.
4. Sửa đổi, bổ sung khoản
1 và khoản 6 Điều 63 như sau:
a) Sửa đổi, bổ sung khoản 1 như sau:
“1. Người bị kết án cải tạo không giam giữ, phạt tù có
thời hạn hoặc phạt tù chung thân, nếu đã chấp hành hình phạt được một thời gian
nhất định, có nhiều tiến bộ và đã bồi thường được một phần nghĩa vụ dân sự, thì
theo đề nghị của cơ quan thi hành án hình sự có thẩm quyền, Tòa án có thể quyết
định giảm thời hạn chấp hành hình phạt.
Người bị kết án tù chung thân về tội tham ô tài sản, tội
nhận hối lộ chỉ có thể được xét giảm thời hạn chấp hành hình phạt khi đã chủ
động nộp lại ít nhất ba phần tư tài sản tham ô, nhận hối lộ và đã hợp tác tích
cực với cơ quan chức năng trong việc phát hiện, điều tra, xử lý tội phạm hoặc
lập công lớn.
Thời gian đã chấp hành hình phạt để được xét giảm lần đầu
là một phần ba thời hạn đối với hình phạt cải tạo không giam giữ, hình phạt tù
có thời hạn, 12 năm đối với tù chung thân.”;
b) Sửa đổi, bổ sung khoản
6 như sau:
“6. Đối với người bị kết án tử hình được ân giảm hoặc
người bị kết án tử hình thuộc trường hợp quy định tại khoản 3 Điều 40 của Bộ
luật này thì thời gian đã chấp hành hình phạt để được xét giảm lần đầu là 25
năm và dù được giảm nhiều lần nhưng vẫn phải bảo đảm thời hạn thực tế chấp hành
hình phạt là 30 năm.”.
5. Sửa đổi, bổ sung khoản
1 Điều 109 như sau:
“1. Người tổ chức, người xúi giục, người hoạt động đắc
lực hoặc gây hậu quả nghiêm trọng, thì bị phạt tù từ 12 năm đến 20 năm hoặc tù
chung thân;”.
6. Sửa đổi, bổ sung khoản
1 Điều 110 như sau:
“1. Người nào có một trong các hành vi sau đây, thì bị
phạt tù từ 12 năm đến 20 năm hoặc tù chung thân:
a) Hoạt động tình báo, phá
hoại hoặc gây cơ sở để hoạt động tình báo, phá hoại chống nước Cộng hòa xã hội
chủ nghĩa Việt Nam;
b) Gây cơ sở để hoạt động
tình báo, phá hoại theo sự chỉ đạo của nước ngoài; hoạt động thám báo, chỉ
điểm, chứa chấp, dẫn đường hoặc thực hiện hành vi khác giúp người nước ngoài
hoạt động tình báo, phá hoại;
c) Cung cấp hoặc thu thập
nhằm cung cấp bí mật nhà nước cho nước ngoài; thu thập, cung cấp tin tức, tài
liệu khác nhằm mục đích để nước ngoài sử dụng chống nước Cộng hòa xã hội chủ
nghĩa Việt Nam.”.
7. Sửa đổi, bổ sung khoản
1 Điều 114 như sau:
“1. Người nào nhằm chống chính quyền nhân dân mà phá hoại
cơ sở vật chất - kỹ thuật của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong các
lĩnh vực chính trị, quốc phòng, an ninh, kinh tế, khoa học - kỹ thuật, văn hóa,
xã hội, thì bị phạt tù từ 12 năm đến 20 năm hoặc tù chung thân.”.
8. Sửa đổi, bổ sung các
khoản 1, 4 và 5 Điều 192 như sau:
a) Sửa đổi, bổ sung khoản 1 như sau:
“1. Người nào sản xuất, buôn bán hàng giả thuộc một trong
các trường hợp sau đây, nếu không thuộc trường hợp quy định tại các điều 193,
194 và 195 của Bộ luật này, thì bị phạt tiền từ 200.000.000 đồng đến
2.000.000.000 đồng hoặc phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:
a) Hàng giả tương đương
với số lượng của hàng thật hoặc hàng hóa có cùng tính năng kỹ thuật, công dụng
trị giá từ 30.000.000 đồng đến dưới 150.000.000 đồng hoặc dưới 30.000.000 đồng
nhưng đã bị xử phạt vi phạm hành chính về một trong các hành vi quy định tại
Điều này hoặc tại một trong các điều 188, 189, 190, 191, 193, 194, 195, 196 và
200 của Bộ luật này hoặc đã bị kết án về một trong các tội này, chưa được xóa
án tích mà còn vi phạm;
b) Gây thương tích hoặc
gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 31 % đến
60%;
c) Thu lợi bất chính từ
50.000.000 đồng đến dưới 100.000.000 đồng;
d) Gây thiệt hại về tài
sản từ 100.000.000 đồng đến dưới 500.000.000 đồng.”;
b) Sửa đổi, bổ sung khoản
4 và khoản 5 như sau:
“4. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 40.000.000
đồng đến 100.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công
việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản.
5. Pháp nhân thương mại
phạm tội quy định tại Điều này, thì bị phạt như sau:
a) Phạm tội thuộc trường
hợp quy định tại khoản 1 Điều này, thì bị phạt tiền từ 2.000.000.000 đồng đến
6.000.000.000 đồng;
b) Phạm tội thuộc một
trong các trường hợp quy định tại các điểm a, b, đ, e, g, h, i, k, l và m khoản
2 Điều này, thì bị phạt tiền từ 6.000.000.000 đồng đến 12.000.000.000 đồng;
c) Phạm tội thuộc trường
hợp quy định tại khoản 3 Điều này, thì bị phạt tiền từ 12.000.000.000 đồng đến
18.000.000.000 đồng hoặc đình chỉ hoạt động có thời hạn từ 06 tháng đến 03 năm;
d) Phạm tội thuộc trường
hợp quy định tại Điều 79 của Bộ luật này, thì bị đình chỉ hoạt động vĩnh viễn;
đ) Pháp nhân thương mại còn có thể bị phạt tiền từ
100.000.000 đồng đến 400.000.000 đồng, cấm kinh doanh, cấm hoạt động trong một
số lĩnh vực nhất định hoặc cấm huy động vốn từ 01 năm đến 03 năm.”.
9. Sửa đổi, bổ sung khoản
5 và khoản 6 Điều 193 như sau:
“5. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 40.000.000
đồng đến 200.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công
việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài
sản.
6. Pháp nhân thương mại
phạm tội quy định tại Điều này, thì bị phạt như sau:
a) Phạm tội thuộc trường
hợp quy định tại khoản 1 Điều này, thì bị phạt tiền từ 2.000.000.000 đồng đến
6.000.000.000 đồng;
b) Phạm tội thuộc một
trong các trường hợp quy định tại các điểm a, b, c, e, g, h, i và k khoản 2
Điều này, thì bị phạt tiền từ 6.000.000.000 đồng đến 12.000.000.000 đồng;
c) Phạm tội thuộc trường
hợp quy định tại khoản 3 Điều này, thì bị phạt tiền từ 12.000.000.000 đồng đến
18.000.000.000 đồng;
d) Phạm tội thuộc trường
hợp quy định tại khoản 4 Điều này, thì bị phạt tiền từ 18.000.000.000 đồng đến
36.000.000.000 đồng hoặc đình chỉ hoạt động có thời hạn từ 06 tháng đến 03 năm;
đ) Phạm tội thuộc trường hợp quy định tại Điều 79 của Bộ
luật này, thì bị đình chỉ hoạt động vĩnh viễn;
e) Pháp nhân thương mại
còn có thể bị phạt tiền từ 200.000.000 đồng đến 600.000.000 đồng, cấm kinh
doanh, cấm hoạt động trong một số lĩnh vực nhất định hoặc cấm huy động vốn từ
01 năm đến 03 năm.”.
10. Sửa đổi, bổ sung các
khoản 4, 5 và 6 Điều 194 như sau:
“4. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì
bị phạt tù 20 năm hoặc tù chung thân:
a) Thu lợi bất chính 2.000.000.000 đồng trở lên;
c) Gây thương tích hoặc
gây tổn hại cho sức khỏe của 02 người trở lên mà tổng tỷ lệ tổn thương cơ thể
của những người này 122% trở lên;
d) Gây thiệt hại về tài
sản 1.500.000.000 đồng trở lên.
5. Người phạm tội còn có
thể bị phạt tiền từ 40.000.000 đồng đến 200.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức
vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm hoặc tịch
thu một phần hoặc toàn bộ tài sản.
6. Pháp nhân thương mại
phạm tội quy định tại Điều này, thì bị phạt như sau:
a) Phạm tội thuộc trường
hợp quy định tại khoản 1 Điều này, thì bị phạt tiền từ 2.000.000.000 đồng đến
8.000.000.000 đồng;
b) Phạm tội thuộc một
trong các trường hợp quy định tại các điểm a, b, c, e, g, h, i và k khoản 2
Điều này, thì bị phạt tiền từ 8.000.000.000 đồng đến 18.000.000.000 đồng;
c) Phạm tội thuộc trường
hợp quy định tại khoản 3 Điều này, thì bị phạt tiền từ 18.000.000.000 đồng đến
30.000.000.000 đồng;
d) Phạm tội thuộc trường
hợp quy định tại khoản 4 Điều này, thì bị phạt tiền từ 30.000.000.000 đồng đến
40.000.000.000 đồng hoặc đình chỉ hoạt động có thời hạn từ 01 năm đến 03 năm;
đ) Phạm tội thuộc trường
hợp quy định tại Điều 79 của Bộ luật này, thì bị đình chỉ hoạt động vĩnh viễn;
e) Pháp nhân thương mại
còn có thể bị phạt tiền từ 200.000.000 đồng đến 600.000.000 đồng, cấm kinh
doanh, cấm hoạt động trong một số lĩnh vực nhất định hoặc cấm huy động vốn từ
01 năm đến 03 năm.”.
11. Sửa đổi, bổ sung các
khoản 1, 5 và 6 Điều 195 như sau:
a) Sửa đổi, bổ sung khoản 1 như sau:
“1. Người nào sản xuất, buôn bán hàng giả là thức ăn dùng
để chăn nuôi, phân bón, thuốc thú y, thuốc bảo vệ thực vật, giống cây trồng,
giống vật nuôi thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tiền từ
200.000.000 đồng đến 2.000.000.000 đồng hoặc phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:
a) Hàng giả tương đương
với số lượng của hàng thật hoặc hàng hóa có cùng tính năng kỹ thuật, công dụng
trị giá từ 30.000.000 đồng đến dưới 150.000.000 đồng hoặc dưới 30.000.000 đồng
nhưng đã bị xử phạt vi phạm hành chính về một trong các hành vi quy định tại
Điều này hoặc tại một trong các điều 188, 189, 190, 191, 192, 193, 194, 196 và
200 của Bộ luật này hoặc đã bị kết án về một trong các tội này, chưa được xóa
án tích mà còn vi phạm;
b) Gây thiệt hại về tài
sản từ 100.000.000 đồng đến dưới 500.000.000 đồng;
c) Thu lợi bất chính từ
50.000.000 đồng đến dưới 100.000.000 đồng.”;
b) Sửa đổi, bổ sung khoản
5 và khoản 6 như sau:
“5. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 40.000.000
đồng đến 200.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công
việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài
sản.
6. Pháp nhân thương mại phạm tội quy định tại Điều này,
thì bị phạt như sau:
a) Phạm tội thuộc trường
hợp quy định tại khoản 1 Điều này, thì bị phạt tiền từ 2.000.000.000 đồng đến
6.000.000.000 đồng;
b) Phạm tội thuộc một
trong các trường hợp quy định tại các điểm a, b, c, e, g, h và i khoản 2 Điều
này, thì bị phạt tiền từ 6.000.000.000 đồng đến 12.000.000.000 đồng;
c) Phạm tội thuộc trường
hợp quy định tại khoản 3 Điều này, thì bị phạt tiền từ 12.000.000.000 đồng đến
18.000.000.000 đồng;
d) Phạm tội thuộc trường
hợp quy định tại khoản 4 Điều này, thì bị phạt tiền từ 18.000.000.000 đồng đến
30.000.000.000 đồng hoặc đình chỉ hoạt động có thời hạn từ 06 tháng đến 03 năm;
đ) Phạm tội thuộc trường hợp quy định tại Điều 79 của Bộ
luật này, thì bị đình chỉ hoạt động vĩnh viễn;
e) Pháp nhân thương mại
còn có thể bị phạt tiền từ 200.000.000 đồng đến 600.000.000 đồng, cấm kinh
doanh, cấm hoạt động trong một số lĩnh vực nhất định hoặc cấm huy động vốn từ
01 năm đến 03 năm.”.
12. Sửa đổi, bổ sung các
điều 235, 236, 237, 238 và 239 như sau:
“Điều 235. Tội gây ô nhiễm môi trường
1. Người nào thực hiện một
trong các hành vi sau đây, thì bị phạt tiền từ 100.000.000 đồng đến
1.000.000.000 đồng hoặc phạt tù từ 02 năm đến 03 năm:
a) Chôn, lấp, đổ, thải ra môi trường trái pháp
luật từ 1.000 kilôgam đến dưới 3.000 kilôgam chất thải nguy hại có thành phần
nguy hại đặc biệt vượt ngưỡng chất thải nguy hại theo quy định của pháp luật
hoặc có chứa chất phải loại trừ theo Phụ lục A Công ước Stockholm về các chất ô
nhiễm hữu cơ khó phân hủy hoặc từ 3.000 kilôgam đến dưới 10.000 kilôgam chất
thải nguy hại khác;
b) Chôn, lấp, đổ, thải ra
môi trường trái pháp luật từ 500 kilôgam đến dưới 1.000 kilôgam chất thải nguy
hại có thành phần nguy hại đặc biệt vượt ngưỡng chất thải nguy hại theo quy
định của pháp luật hoặc có chứa chất phải loại trừ theo Phụ lục A Công ước
Stockholm về các chất ô nhiễm hữu cơ khó phân hủy hoặc từ 1.500 kilôgam đến
dưới 3.000 kilôgam chất thải nguy hại khác nhưng đã bị xử phạt vi phạm hành
chính về một trong các hành vi quy định tại Điều này hoặc đã bị kết án về tội
này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm;
c) Xả thải ra môi trường
từ 500 mét khối (m3) trên ngày đến dưới 5.000 mét khối (m3)
trên ngày nước thải có thông số môi trường nguy hại vượt quy chuẩn kỹ thuật
quốc gia về môi trường từ 03 lần đến dưới 05 lần hoặc từ 300 mét khối (m3)
trên ngày đến dưới 500 mét khối (m3) trên ngày nước thải có thông số
môi trường nguy hại vượt quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về môi trường 05 lần trở
lên;
d) Xả thải ra môi trường
500 mét khối (m3) trên ngày trở lên nước thải có thông số môi trường
nguy hại vượt quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về môi trường từ 02 lần đến dưới 03
lần hoặc từ 300 mét khối (m3) trên ngày đến dưới 500 mét khối (m3)
trên ngày nước thải có thông số môi trường nguy hại vượt quy chuẩn kỹ thuật
quốc gia về môi trường từ 03 lần đến dưới 05 lần hoặc từ 100 mét khối (m3)
trên ngày đến dưới 300 mét khối (m3) trên ngày nước thải có thông số
môi trường nguy hại vượt quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về môi trường 05 lần trở
lên nhưng đã bị xử phạt vi phạm hành chính về một trong các hành vi quy định
tại Điều này hoặc đã bị kết án về tội này, chưa được xóa án tích mà còn vi
phạm;
đ) Thải ra môi trường từ 150.000 mét khối (m3)
trên giờ đến dưới 300.000 mét khối (m3) trên giờ khí thải có thông
số môi trường nguy hại vượt quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về môi trường từ 03 lần
đến dưới 05 lần hoặc từ 100.000 mét khối (m3) trên giờ đến dưới
150.000 mét khối (m3) trên giờ khí thải có thông số môi trường nguy
hại vượt quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về môi trường 05 lần trở lên;
e) Thải ra môi trường
150.000 mét khối (m3) trên giờ trở lên khí thải có thông số môi
trường nguy hại vượt quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về môi trường từ 02 lần đến
dưới 03 lần hoặc từ 100.000 mét khối (m3) trên giờ đến dưới 150.000
mét khối (m3) trên giờ khí thải có thông số môi trường nguy hại vượt
quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về môi trường từ 03 lần đến dưới 05 lần hoặc từ
50.000 mét khối (m3) trên giờ đến dưới 100.000 mét khối (m3)
trên giờ khí thải có thông số môi trường nguy hại vượt quy chuẩn kỹ thuật quốc
gia về môi trường 05 lần trở lên nhưng đã bị xử phạt vi phạm hành chính về một
trong các hành vi quy định tại Điều này hoặc đã bị kết án về tội này, chưa được
xóa án tích mà còn vi phạm;
g) Chôn, lấp, đổ, thải ra
môi trường trái pháp luật chất thải rắn thông thường từ 100.000 kilôgam đến
dưới 200.000 kilôgam hoặc từ 70.000 kilôgam đến dưới 100.000 kilôgam nhưng đã
bị xử phạt vi phạm hành chính về một trong các hành vi quy định tại Điều này
hoặc đã bị kết án về tội này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm;
h) Xả thải ra môi trường
nước thải, chôn, lấp, đổ, thải ra môi trường chất thải rắn hoặc phát tán khí
thải có chứa chất phóng xạ vượt giá trị liều từ 50 milisivơ (mSv) trên năm đến
dưới 200 milisivơ (mSv) trên năm hoặc giá trị suất liều từ 0,0025 milisivơ
(mSv) trên giờ đến dưới 0,01 milisivơ (mSv) trên giờ.
2. Phạm tội thuộc một
trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tiền từ 1.000.000.000 đồng đến
2.000.000.000 đồng hoặc phạt tù từ 03 năm đến 05 năm:
a) Chôn, lấp, đổ, thải ra
môi trường trái pháp luật từ 3.000 kilôgam đến dưới 5.000 kilôgam chất thải
nguy hại có thành phần nguy hại đặc biệt vượt ngưỡng chất thải nguy hại theo
quy định của pháp luật hoặc có chứa chất phải loại trừ theo Phụ lục A Công ước
Stockholm về các chất ô nhiễm hữu cơ khó phân hủy hoặc từ 10.000 kilôgam đến
dưới 50.000 kilôgam chất thải nguy hại khác;
b) Xả thải ra môi trường
từ 5.000 mét khối (m3) trên ngày đến dưới 10.000 mét khối (m3)
trên ngày nước thải có thông số môi trường nguy hại vượt quy chuẩn kỹ thuật
quốc gia về môi trường từ 03 lần đến dưới 05 lần hoặc từ 500 mét khối (m3)
trên ngày đến dưới 5.000 mét khối (m3) trên ngày nước thải có thông
số môi trường nguy hại vượt quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về môi trường 05 lần
trở lên;
c) Thải ra môi trường từ
300.000 mét khối (m3) trên giờ đến dưới 500.000 mét khối (m3)
trên giờ khí thải có thông số môi trường nguy hại vượt quy chuẩn kỹ thuật quốc
gia về môi trường từ 03 lần đến dưới 05 lần hoặc từ 150.000 mét khối (m3)
trên giờ đến dưới 300.000 mét khối (m3) trên giờ khí thải có thông
số môi trường nguy hại vượt quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về môi trường 05 lần
trở lên;
d) Chôn, lấp, đổ, thải ra
môi trường trái pháp luật chất thải rắn thông thường từ 200.000 kilôgam đến
dưới 500.000 kilôgam;
đ) Xả thải ra môi trường nước thải, chôn, lấp, đổ, thải
ra môi trường chất thải rắn hoặc phát tán khí thải có chứa chất phóng xạ vượt
giá trị liều từ 200 milisivơ (mSv) trên năm đến dưới 400 milisivơ (mSv) trên
năm hoặc giá trị suất liều từ 0,01 milisivơ (mSv) trên giờ đến dưới 0,02
milisivơ (mSv) trên giờ;
3. Phạm tội thuộc một
trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tiền từ 2.000.000.000 đồng đến
6.000.000.000 đồng hoặc phạt tù từ 05 năm đến 07 năm:
a) Chôn, lấp, đổ, thải ra
môi trường trái pháp luật 5.000 kilôgam trở lên chất thải nguy hại có thành
phần nguy hại đặc biệt vượt ngưỡng chất thải nguy hại theo quy định của pháp
luật hoặc có chứa chất phải loại trừ theo Phụ lục A Công ước Stockholm về các
chất ô nhiễm hữu cơ khó phân hủy hoặc 50.000 kilôgam trở lên chất thải nguy hại
khác;
b) Xả thải ra môi trường
10.000 mét khối (m3) trên ngày trở lên nước thải có thông số môi
trường nguy hại vượt quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về môi trường từ 03 lần đến
dưới 05 lần hoặc 5.000 mét khối (m3) trên ngày trở lên nước thải có
thông số môi trường nguy hại vượt quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về môi trường 05
lần trở lên;
c) Thải ra môi trường
500.000 mét khối (m3) trên giờ trở lên khí thải có thông số môi
trường nguy hại vượt quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về môi trường từ 03 lần đến
dưới 05 lần hoặc 300.000 mét khối (m3) trên giờ trở lên khí thải có
thông số môi trường nguy hại vượt quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về môi trường 05
lần trở lên;
d) Chôn, lấp, đổ, thải ra
môi trường trái pháp luật chất thải rắn thông thường 500.000 kilôgam trở lên;
đ) Xả thải ra môi trường nước thải, chôn, lấp, đổ, thải
ra môi trường chất thải rắn hoặc phát tán khí thải có chứa chất phóng xạ vượt
giá trị liều 400 milisivơ (mSv) trên năm trở lên hoặc giá trị suất liều 0,02
milisivơ (mSv) trên giờ trở lên;
e) Gây hậu quả rất nghiêm
trọng hoặc đặc biệt nghiêm trọng.
4. Người phạm tội còn có
thể bị phạt tiền từ 60.000.000 đồng đến 400.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức
vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm.
5. Pháp nhân thương mại
phạm tội quy định tại Điều này, thì bị phạt như sau:
a) Phạm tội thuộc trường
hợp quy định tại khoản 1 Điều này, thì bị phạt tiền từ 6.000.000.000 đồng đến
14.000.000.000 đồng;
b) Phạm tội thuộc trường
hợp quy định tại khoản 2 Điều này, thì bị phạt tiền từ 14.000.000.000 đồng đến
24.000.000.000 đồng hoặc đình chỉ hoạt động có thời hạn từ 06 tháng đến 02 năm;
c) Phạm tội thuộc trường
hợp quy định tại khoản 3 Điều này, thì bị phạt tiền từ 24.000.000.000 đồng đến
40.000.000.000 đồng hoặc đình chỉ hoạt động có thời hạn từ 01 năm đến 03 năm;
d) Phạm tội thuộc trường
hợp quy định tại Điều 79 của Bộ luật này, thì bị đình chỉ hoạt động vĩnh viễn;
đ) Pháp nhân thương mại còn có thể bị phạt tiền từ
2.000.000.000 đồng đến 10.000.000.000 đồng, cấm kinh doanh, cấm hoạt động trong
một số lĩnh vực nhất định từ 01 năm đến 03 năm.
Điều 236. Tội vi phạm quy định về quản lý chất thải nguy
hại
1. Người nào có thẩm quyền
mà cho phép chôn, lấp, đổ, thải trái quy định của pháp luật chất thải nguy hại
có thành phần nguy hại đặc biệt vượt ngưỡng chất thải nguy hại theo quy định
của pháp luật hoặc có chứa chất phải loại trừ theo Phụ lục A Công ước Stockholm
về các chất ô nhiễm hữu cơ khó phân hủy từ 3.000 kilôgam đến dưới 5.000
kilôgam; chất thải có chứa chất phóng xạ, gây nhiễm xạ môi trường thuộc nguồn
phóng xạ loại có mức độ nguy hiểm dưới trung bình theo Quy chuẩn kỹ thuật quốc
gia về an toàn bức xạ - phân nhóm và phân loại nguồn phóng xạ vượt quy chuẩn
cho phép, thì bị phạt tiền từ 100.000.000 đồng đến 400.000.000 đồng, phạt cải
tạo không giam giữ đến 02 năm hoặc phạt tù từ 02 năm đến 03 năm.
2. Phạm tội thuộc một
trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tiền từ 400.000.000 đồng đến
2.000.000.000 đồng hoặc phạt tù từ 03 năm đến 05 năm:
a) Chất thải nguy hại có
thành phần nguy hại đặc biệt vượt ngưỡng chất thải nguy hại theo quy định của
pháp luật hoặc có chứa chất phải loại trừ theo Phụ lục A Công ước Stockholm về
các chất ô nhiễm hữu cơ khó phân hủy từ 5.000 kilôgam đến dưới 10.000 kilôgam;
chất thải có chứa chất phóng xạ, gây nhiễm xạ môi trường thuộc nguồn phóng xạ
loại có mức độ nguy hiểm trung bình theo Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về an toàn
bức xạ - phân nhóm và phân loại nguồn phóng xạ vượt quy chuẩn cho phép;
3. Phạm tội thuộc trường hợp chất thải nguy
hại có thành phần nguy hại đặc biệt vượt ngưỡng chất thải nguy hại theo quy
định của pháp luật hoặc có chứa chất phải loại trừ theo Phụ lục A Công ước
Stockholm về các chất ô nhiễm hữu cơ khó phân hủy 10.000 kilôgam trở lên; chất
thải có chứa chất phóng xạ, gây nhiễm xạ môi trường thuộc nguồn phóng xạ loại có
mức độ nguy hiểm trên trung bình theo Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về an toàn
bức xạ - phân nhóm và phân loại nguồn phóng xạ vượt quy chuẩn cho phép, thì bị
phạt tù từ 05 năm đến 10 năm.
4. Người phạm tội còn có
thể bị phạt tiền từ 20.000.000 đồng đến 300.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức
vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm.
Điều 237. Tội vi phạm quy định về phòng ngừa, ứng phó,
khắc phục sự cố môi trường
1. Người nào thực hiện một
trong các hành vi sau đây, thì bị phạt tiền từ 100.000.000 đồng đến
1.000.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06
tháng đến 03 năm:
a) Vi phạm quy định về
phòng ngừa sự cố môi trường để xảy ra sự cố môi trường;
b) Vi phạm quy định về ứng
phó, khắc phục sự cố môi trường làm môi trường bị ô nhiễm nghiêm trọng hoặc gây
thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ tổn thương cơ
thể 61% trở lên hoặc gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 02 người
trở lên mà tổng tỷ lệ tổn thương cơ thể của những người này từ 61% đến 121%
hoặc gây thiệt hại từ 1.000.000.000 đồng đến dưới 3.000.000.000 đồng.
2. Phạm tội thuộc một
trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tiền từ 1.000.000.000 đồng đến
4.000.000.000 đồng hoặc phạt tù từ 02 năm đến 07 năm:
b) Gây thương tích hoặc
gây tổn hại cho sức khỏe của 02 người trở lên mà tổng tỷ lệ tổn thương cơ thể
của những người này từ 122% đến 200%;
c) Gây thiệt hại từ
3.000.000.000 đồng đến dưới 7.000.000.000 đồng.
3. Phạm tội thuộc một
trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 05 năm đến 10 năm:
b) Gây thương tích hoặc
gây tổn hại cho sức khỏe của 03 người trở lên mà tổng tỷ lệ tổn thương cơ thể
của những người này 201% trở lên;
c) Gây thiệt hại
7.000.000.000 đồng trở lên.
4. Người phạm tội còn có
thể bị phạt tiền từ 20.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức
vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm.
5. Pháp nhân thương mại
phạm tội quy định tại Điều này, thì bị phạt như sau:
a) Phạm tội thuộc trường
hợp quy định tại khoản 1 Điều này, thì bị phạt tiền từ 2.000.000.000 đồng đến
6.000.000.000 đồng;
b) Phạm tội thuộc trường
hợp quy định tại khoản 2 Điều này, thì bị phạt tiền từ 6.000.000.000 đồng đến
10.000.000.000 đồng;
c) Phạm tội thuộc trường
hợp quy định tại khoản 3 Điều này, thì bị phạt tiền từ 10.000.000.000 đồng đến
20.000.000.000 đồng hoặc đình chỉ hoạt động có thời hạn từ 01 năm đến 03 năm;
d) Phạm tội thuộc trường
hợp quy định tại Điều 79 của Bộ luật này, thì bị đình chỉ hoạt động vĩnh viễn;
đ) Pháp nhân thương mại còn có thể bị phạt tiền từ
200.000.000 đồng đến 1.000.000.000 đồng, cấm kinh doanh, cấm hoạt động trong
một số lĩnh vực nhất định từ 01 năm đến 03 năm.
Điều 238. Tội vi phạm quy định về bảo vệ an toàn công
trình thủy lợi, đê điều và phòng, chống thiên tai; vi phạm quy định về bảo vệ
bờ, bãi sông
1. Người nào thực hiện một
trong các hành vi sau đây, gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của
người khác mà tỷ lệ tổn thương cơ thể 61% trở lên hoặc gây thương tích hoặc gây
tổn hại cho sức khỏe của 02 người trở lên mà tổng tỷ lệ tổn thương cơ thể của
những người này từ 61% đến 121% hoặc gây thiệt hại từ 100.000.000 đồng đến dưới
300.000.000 đồng, nếu không thuộc trường hợp quy định tại Điều 303 của Bộ luật
này, thì bị phạt tiền từ 100.000.000 đồng đến 600.000.000 đồng, phạt cải tạo
không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 03 tháng đến 02 năm:
a) Xây nhà, công trình
trái phép trong phạm vi bảo vệ công trình thủy lợi, đê điều, công trình phòng,
chống thiên tai;
b) Làm hư hỏng công trình
thủy lợi, đê điều, công trình phòng, chống thiên tai, công trình bảo vệ, khai
thác, sử dụng, quan trắc, giám sát tài nguyên nước, công trình phòng, chống và
khắc phục hậu quả tác hại do nước gây ra;
c) Khoan, đào thăm dò,
khảo sát, khai thác đất, đá, cát sỏi, khoáng sản, nước dưới đất trái phép;
d) Sử dụng chất nổ, gây
nổ, gây cháy trong phạm vi bảo vệ công trình thủy lợi, đê điều, công trình
phòng, chống thiên tai, công trình bảo vệ, khai thác, sử dụng, quan trắc, giám
sát tài nguyên nước, công trình phòng, chống và khắc phục hậu quả tác hại do
nước gây ra, trừ trường hợp có giấy phép hoặc trường hợp khẩn cấp do luật định;
đ) Vận hành hồ chứa nước không đúng quy trình vận hành hồ
chứa, quy trình vận hành liên hồ chứa; vận hành công trình phân lũ, làm chậm lũ
không đúng với quy trình, quy chuẩn kỹ thuật cho phép, trừ trường hợp đặc biệt
thực hiện theo quyết định của người có thẩm quyền.
2. Phạm tội thuộc một
trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tiền từ 600.000.000 đồng đến
4.000.000.000 đồng hoặc phạt tù từ 02 năm đến 07 năm:
d) Gây thương tích hoặc
gây tổn hại cho sức khỏe của 02 người trở lên mà tổng tỷ lệ tổn thương cơ thể
của những người này từ 122% đến 200%;
đ) Gây thiệt hại từ 300.000.000 đồng đến dưới
1.000.000.000 đồng;
3. Phạm tội thuộc một
trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 05 năm đến 10 năm:
b) Gây thương tích hoặc
gây tổn hại cho sức khỏe của 03 người trở lên mà tổng tỷ lệ tổn thương cơ thể
của những người này 201% trở lên;
c) Gây thiệt hại
1.000.000.000 đồng trở lên.
4. Người phạm tội còn có
thể bị phạt tiền từ 20.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, cấm hành nghề hoặc
làm công việc nhất định từ 02 năm đến 05 năm.
5. Pháp nhân thương mại
phạm tội quy định tại Điều này, thì bị phạt như sau:
a) Phạm tội thuộc trường
hợp quy định tại khoản 1 Điều này, thì bị phạt tiền từ 600.000.000 đồng đến
2.000.000.000 đồng;
b) Phạm tội thuộc trường
hợp quy định tại khoản 2 Điều này, thì bị phạt tiền từ 2.000.000.000 đồng đến
6.000.000.000 đồng;
c) Phạm tội thuộc trường
hợp quy định tại khoản 3 Điều này, thì bị phạt tiền từ 6.000.000.000 đồng đến
10.000.000.000 đồng hoặc đình chỉ hoạt động có thời hạn từ 01 năm đến 03 năm;
d) Phạm tội thuộc trường
hợp quy định tại Điều 79 của Bộ luật này, thì bị đình chỉ hoạt động vĩnh viễn;
đ) Pháp nhân thương mại còn có thể bị phạt tiền từ
200.000.000 đồng đến 1.000.000.000 đồng, cấm kinh doanh, cấm hoạt động trong
một số lĩnh vực nhất định từ 01 năm đến 03 năm.
Điều 239. Tội đưa chất thải vào lãnh thổ Việt Nam
1. Người nào đưa chất thải
vào lãnh thổ Việt Nam trái pháp luật thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì
bị phạt tiền từ 400.000.000 đồng đến 2.000.000.000 đồng, phạt cải tạo không
giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm:
a) Đưa từ 1.000 kilôgam
đến dưới 3.000 kilôgam chất thải nguy hại có thành phần nguy hại đặc biệt vượt ngưỡng
chất thải nguy hại theo quy định của pháp luật hoặc có chứa chất phải loại trừ
theo Phụ lục A Công ước Stockholm về các chất ô nhiễm hữu cơ khó phân hủy hoặc
từ 3.000 kilôgam đến dưới 10.000 kilôgam chất thải nguy hại khác;
b) Đưa từ 70.000 kilôgam
đến dưới 170.000 kilôgam chất thải khác.
2. Phạm tội thuộc một
trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tiền từ 2.000.000.000 đồng đến
4.000.000.000 đồng hoặc phạt tù từ 02 năm đến 07 năm:
b) Đưa từ 3.000 kilôgam
đến dưới 5.000 kilôgam chất thải nguy hại có thành phần nguy hại đặc biệt vượt
ngưỡng chất thải nguy hại theo quy định của pháp luật hoặc có chứa chất phải
loại trừ theo Phụ lục A Công ước Stockholm về các chất ô nhiễm hữu cơ khó phân
hủy hoặc từ 10.000 kilôgam đến dưới 50.000 kilôgam chất thải nguy hại khác;
c) Đưa từ 170.000 kilôgam
đến dưới 300.000 kilôgam chất thải khác.
3. Phạm tội thuộc một
trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tiền từ 4.000.000.000 đồng đến
10.000.000.000 đồng hoặc phạt tù từ 05 năm đến 10 năm:
a) Đưa 5.000 kilôgam trở
lên chất thải nguy hại có thành phần nguy hại đặc biệt vượt ngưỡng chất thải
nguy hại theo quy định của pháp luật hoặc có chứa chất phải loại trừ theo Phụ
lục A Công ước Stockholm về các chất ô nhiễm hữu cơ khó phân hủy hoặc 50.000
kilôgam trở lên chất thải nguy hại khác;
b) Đưa 300.000 kilôgam trở
lên chất thải khác.
4. Người phạm tội còn có
thể bị phạt tiền từ 100.000.000 đồng đến 400.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức
vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm.
5. Pháp nhân thương mại
phạm tội quy định tại Điều này, thì bị phạt như sau:
a) Phạm tội thuộc trường
hợp quy định tại khoản 1 Điều này, thì bị phạt tiền từ 2.000.000.000 đồng đến
6.000.000.000 đồng;
b) Phạm tội thuộc trường
hợp quy định tại khoản 2 Điều này, thì bị phạt tiền từ 6.000.000.000 đồng đến
10.000.000.000 đồng hoặc đình chỉ hoạt động có thời hạn từ 06 tháng đến 01 năm;
c) Phạm tội thuộc trường
hợp quy định tại khoản 3 Điều này, thì bị phạt liền từ 10.000.000.000 đồng đến
14.000.000.000 đồng hoặc đình chỉ hoạt động có thời hạn từ 01 năm đến 03 năm;
d) Phạm tội thuộc trường
hợp quy định tại Điều 79 của Bộ luật này, thì bị đình chỉ hoạt động vĩnh viễn;
đ) Pháp nhân thương mại còn có thể bị phạt tiền từ
200.000.000 đồng đến 1.000.000.000 đồng, cấm kinh doanh, cấm hoạt động trong
một số lĩnh vực nhất định từ 01 năm đến 03 năm.”.
13. Sửa đổi, bổ sung khoản
1 và khoản 4 Điều 240 như sau:
a) Sửa đổi, bổ sung khoản 1 như sau:
“1. Người nào thực hiện một trong các hành vi sau đây,
làm lây lan dịch bệnh truyền nhiễm nguy hiểm cho người, thì bị phạt tiền từ
100.000.000 đồng đến 400.000.000 đồng hoặc phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:
a) Đưa ra hoặc cho phép
đưa ra khỏi vùng có dịch bệnh động vật, thực vật, sản phẩm động vật, thực vật
hoặc vật phẩm khác có khả năng lây truyền dịch bệnh nguy hiểm cho người, trừ
trường hợp pháp luật có quy định khác;
b) Đưa vào hoặc cho phép
đưa vào lãnh thổ Việt Nam động vật, thực vật hoặc sản phẩm động vật, thực vật
bị nhiễm bệnh hoặc mang mầm bệnh nguy hiểm có khả năng lây truyền cho người;
c) Hành vi khác làm lây
lan dịch bệnh nguy hiểm cho người.”;
b) Sửa đổi, bổ sung khoản 4 như sau:
“4. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 40.000.000
đồng đến 200.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công
việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm.”.
14. Sửa đổi, bổ sung Điều
241 và Điều 242 như sau:
“Điều 241. Tội làm lây lan dịch bệnh nguy hiểm cho động
vật, thực vật
1. Người nào thực hiện một
trong các hành vi sau đây, làm lây lan dịch bệnh nguy hiểm cho động vật, thực
vật gây thiệt hại về tài sản từ 100.000.000 đồng đến dưới 500.000.000 đồng hoặc
đã bị xử phạt vi phạm hành chính về một trong những hành vi này mà còn vi phạm,
thì bị phạt tiền từ 100.000.000 đồng đến 400.000.000 đồng, phạt cải tạo không
giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 02 năm:
a) Đưa vào, mang ra hoặc
cho phép đưa vào, mang ra khỏi vùng có dịch động vật, thực vật, sản phẩm động
vật, thực vật hoặc vật phẩm khác bị nhiễm bệnh hoặc mang mầm bệnh, trừ trường
hợp pháp luật có quy định khác;
b) Đưa vào hoặc cho phép
đưa vào lãnh thổ Việt Nam động vật, thực vật, sản phẩm động vật, thực vật thuộc
diện kiểm dịch mà không thực hiện các quy định của pháp luật về kiểm dịch;
c) Hành vi khác làm lây
lan dịch bệnh nguy hiểm cho động vật, thực vật.
2. Phạm tội thuộc một
trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 05 năm:
a) Gây thiệt hại về tài
sản từ 500.000.000 đồng đến dưới 1.000.000.000 đồng;
b) Dẫn đến phải công bố
dịch thuộc thẩm quyền của Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh.
3. Phạm tội thuộc một
trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 03 năm đến 07 năm:
a) Gây thiệt hại về tài
sản 1.000.000.000 đồng trở lên;
b) Dẫn đến phải công bố
dịch thuộc thẩm quyền của Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và Môi trường.
4. Người phạm tội còn có
thể bị phạt tiền từ 40.000.000 đồng đến 200.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức
vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm.
Điều 242. Tội hủy hoại nguồn lợi thủy sản
1. Người nào vi phạm quy
định về bảo vệ nguồn lợi thủy sản thuộc một trong các trường hợp sau đây, gây
thiệt hại nguồn lợi thủy sản từ 100.000.000 đồng đến dưới 500.000.000 đồng hoặc
thủy sản thu được trị giá từ 50.000.000 đồng đến dưới 200.000.000 đồng hoặc đã
bị xử phạt vi phạm hành chính về một trong các hành vi quy định tại Điều này
hoặc đã bị kết án về tội này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm, thì bị phạt
tiền từ 100.000.000 đồng đến 600.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến
03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm:
a) Sử dụng chất độc, chất
nổ, hóa chất, dòng điện hoặc phương tiện, ngư cụ bị cấm để khai thác thủy sản
hoặc làm hủy hoại nguồn lợi thủy sản;
b) Khai thác thủy sản
trong khu vực cấm hoặc trong khu vực cấm có thời hạn;
c) Khai thác loài thủy sản
bị cấm khai thác, nếu không thuộc trường hợp quy định tại Điều 244 của Bộ luật
này;
d) Phá hoại nơi cư ngụ của
loài thủy sản thuộc Danh mục loài nguy cấp, quý, hiếm được ưu tiên bảo vệ;
đ) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của
người khác mà tỷ lệ tổn thương cơ thể 61 % trở lên;
e) Gây thương tích hoặc
gây tổn hại cho sức khỏe của 02 người trở lên mà tổng tỷ lệ tổn thương cơ thể
của những người này từ 61% đến 121%;
g) Vi phạm quy định khác của pháp luật về bảo vệ nguồn
lợi thủy sản.
2. Phạm tội thuộc một
trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tiền từ 600.000.000 đồng đến
2.000.000.000 đồng hoặc phạt tù từ 03 năm đến 05 năm:
a) Gây thiệt hại nguồn lợi
thủy sản từ 500.000.000 đồng đến dưới 1.500.000.000 đồng hoặc thủy sản thu được
trị giá từ 200.000.000 đồng đến dưới 500.000.000 đồng;
c) Gây thương tích hoặc
gây tổn hại cho sức khỏe của 02 người trở lên mà tổng tỷ lệ tổn thương cơ thể
của những người này từ 122% đến 200%.
3. Phạm tội thuộc một
trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 05 năm đến 10 năm:
a) Gây thiệt hại nguồn lợi
thủy sản 1.500.000.000 đồng trở lên hoặc thủy sản thu được trị giá 500.000.000
đồng trở lên;
c) Gây thương tích hoặc
gây tổn hại cho sức khỏe của 03 người trở lên mà tổng tỷ lệ tổn thương cơ thể
của những người này 201% trở lên.
4. Người phạm tội còn có
thể bị phạt tiền từ 40.000.000 đồng đến 200.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức
vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm.
5. Pháp nhân thương mại
phạm tội quy định tại Điều này, thì bị phạt như sau:
a) Phạm tội thuộc trường
hợp quy định tại khoản 1 Điều này, thì bị phạt tiền từ 600.000.000 đồng đến
2.000.000.000 đồng;
b) Phạm tội thuộc trường
hợp quy định tại khoản 2 Điều này, thì bị phạt tiền từ 2.000.000.000 đồng đến
6.000.000.000 đồng;
c) Phạm tội thuộc trường
hợp quy định tại khoản 3 Điều này, thì bị phạt tiền từ 6.000.000.000 đồng đến
10.000.000.000 đồng hoặc đình chỉ hoạt động có thời hạn từ 06 tháng đến 03 năm;
d) Pháp nhân thương mại
còn có thể bị phạt tiền từ 100.000.000 đồng đến 400.000.000 đồng, cấm kinh
doanh, cấm hoạt động trong một số lĩnh vực nhất định từ 01 năm đến 03 năm hoặc
cấm huy động vốn từ 01 năm đến 03 năm.”.
15. Sửa đổi, bổ sung các
khoản 1, 4 và 5 Điều 243 như sau:
a) Sửa đổi, bổ sung khoản 1 như sau:
“ 1. Người nào đốt, phá rừng trái phép hoặc có hành vi
khác hủy hoại rừng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tiền từ
100.000.000 đồng đến 1.000.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm
hoặc phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:
a) Cây trồng chưa thành
rừng hoặc rừng khoanh nuôi tái sinh thuộc rừng chưa có trữ lượng có diện tích
từ 30.000 mét vuông (m2) đến dưới 50.000 mét vuông (m2);
b) Rừng sản xuất có diện
tích từ 5.000 mét vuông (m2) đến dưới 10.000 mét vuông (m2);
c) Rừng phòng hộ có diện
tích từ 3.000 mét vuông (m2) đến dưới 7.000 mét vuông (m2);
d) Rừng đặc dụng có diện
tích từ 1.000 mét vuông (m2) đến dưới 3.000 mét vuông (m2);
đ) Gây thiệt hại về lâm sản trị giá từ 50.000.000 đồng
đến dưới 100.000.000 đồng trong trường hợp rừng bị thiệt hại không tính được
bằng diện tích;
e) Thực vật thuộc Danh mục
loài nguy cấp, quý, hiếm được ưu tiên bảo vệ hoặc Danh mục thực vật rừng, động
vật rừng nguy cấp, quý, hiếm Nhóm IA trị giá từ 20.000.000 đồng đến dưới
60.000.000 đồng; thực vật thuộc Danh mục thực vật rừng, động vật rừng nguy cấp,
quý, hiếm Nhóm IIA trị giá từ 40.000.000 đồng đến dưới 100.000.000 đồng;
g) Diện tích rừng hoặc trị giá lâm sản dưới mức quy định
tại một trong các điểm a, b, c, d, đ và e khoản này nhưng đã bị xử phạt vi phạm
hành chính về một trong các hành vi quy định tại Điều này hoặc đã bị kết án về
tội này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm.”.
b) Sửa đổi, bổ sung khoản
4 và khoản 5 như sau:
“4. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 40.000.000
đồng đến 200.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công
việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm.
5. Pháp nhân thương mại
phạm tội quy định tại Điều này, thì bị phạt như sau:
a) Phạm tội thuộc trường
hợp quy định tại khoản 1 Điều này, thì bị phạt tiền từ 1.000.000.000 đồng đến
4.000.000.000 đồng;
b) Phạm tội thuộc một
trong các trường hợp quy định tại các điểm a, c, d, đ, e, g, h và i khoản 2
Điều này, thì bị phạt tiền từ 4.000.000.000 đồng đến 10.000.000.000 đồng;
c) Phạm tội thuộc trường
hợp quy định tại khoản 3 Điều này, thì bị phạt tiền từ 10.000.000.000 đồng đến
14.000.000.000 đồng hoặc đình chỉ hoạt động có thời hạn từ 06 tháng đến 03 năm;
d) Phạm tội thuộc trường
hợp quy định tại Điều 79 của Bộ luật này, thì bị đình chỉ hoạt động vĩnh viễn;
đ) Pháp nhân thương mại còn có thể bị phạt tiền từ
100.000.000 đồng đến 400.000.000 đồng, cấm kinh doanh, cấm hoạt động trong một
số lĩnh vực nhất định hoặc cấm huy động vốn từ 01 năm đến 03 năm.”.
16. Sửa đổi, bổ sung các
khoản 1, 4 và 5 Điều 244 như sau:
a) Sửa đổi, bổ sung khoản 1 như sau:
“1. Người nào vi phạm quy định về bảo vệ động vật thuộc
Danh mục loài nguy cấp, quý, hiếm được ưu tiên bảo vệ hoặc Danh mục thực vật
rừng, động vật rừng nguy cấp, quý, hiếm Nhóm IB hoặc Phụ lục I Công ước về buôn
bán quốc tế các loài động vật, thực vật hoang dã nguy cấp thuộc một trong các
trường hợp sau đây, thì bị phạt tiền từ 1.000.000.000 đồng đến 4.000.000.000 đồng
hoặc phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:
a) Săn bắt, giết, nuôi,
nhốt, vận chuyển, buôn bán trái phép động vật thuộc Danh mục loài nguy cấp,
quý, hiếm được ưu tiên bảo vệ;
b) Tàng trữ, vận chuyển,
buôn bán trái phép cá thể, bộ phận cơ thể không thể tách rời sự sống hoặc sản
phẩm của động vật quy định tại điểm a khoản này;
c) Tàng trữ, vận chuyển,
buôn bán trái phép ngà voi có khối lượng từ 02 kilôgam đến dưới 20 kilôgam;
sừng tê giác có khối lượng từ 50 gam đến dưới 01 kilôgam;
d) Săn bắt, giết, nuôi,
nhốt, vận chuyển, buôn bán trái phép động vật thuộc Danh mục thực vật rừng,
động vật rừng nguy cấp, quý, hiếm Nhóm IB hoặc Phụ lục I Công ước về buôn bán
quốc tế các loài động vật, thực vật hoang dã nguy cấp mà không thuộc loài quy
định tại điểm a khoản này với số lượng từ 03 cá thể đến 07 cá thể lớp thú, từ
07 cá thể đến 10 cá thể lớp chim, bò sát hoặc từ 10 cá thể đến 15 cá thể động
vật lớp khác;
đ) Tàng trữ, vận chuyển, buôn bán trái phép cá thể, bộ
phận cơ thể không thể tách rời sự sống của từ 03 cá thể đến 07 cá thể lớp thú,
từ 07 cá thể đến 10 cá thể lớp chim, bò sát hoặc từ 10 cá thể đến 15 cá thể
động vật lớp khác quy định tại điểm d khoản này;
e) Săn bắt, giết, nuôi,
nhốt, vận chuyển, buôn bán trái phép động vật hoặc tàng trữ, vận chuyển, buôn
bán trái phép cá thể, bộ phận cơ thể không thể tách rời sự sống hoặc sản phẩm
của động vật có số lượng dưới mức quy định tại các điểm c, d và đ khoản này
nhưng đã bị xử phạt vi phạm hành chính về một trong các hành vi quy định tại
Điều này hoặc đã bị kết án về tội này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm.”;
b) Sửa đổi, bổ sung khoản
4 và khoản 5 như sau:
“4. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 100.000.000
đồng đến 400.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công
việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm.
5. Pháp nhân thương mại
phạm tội quy định tại Điều này, thì bị phạt như sau:
a) Phạm tội thuộc trường
hợp quy định tại khoản 1 Điều này, thì bị phạt tiền từ 2.000.000.000 đồng đến
10.000.000.000 đồng;
b) Phạm tội thuộc một
trong các trường hợp quy định tại các điểm a, b, c, d, d, g, h, i và k khoản 2
Điều này, thì bị phạt tiền từ 10.000.000.000 đồng đến 20.000.000.000 đồng;
c) Phạm tội thuộc trường
hợp quy định tại khoản 3 Điều này, thì bị phạt tiền từ 20.000.000.000 đồng đến
30.000.000.000 đồng hoặc đình chỉ hoạt động có thời hạn từ 06 tháng đến 03 năm;
d) Phạm tội thuộc trường
hợp quy định tại Điều 79 của Bộ luật này, thì bị đình chỉ hoạt động vĩnh viễn;
đ) Pháp nhân thương mại còn có thể bị phạt tiền từ
600.000.000 đồng đến 1.200.000.000 đồng, cấm kinh doanh, cấm hoạt động trong
một số lĩnh vực nhất định hoặc cấm huy động vốn từ 01 năm đến 03 năm.”.
17. Sửa đổi, bổ sung Điều
245 và Điều 246 như sau:
“Điều 245. Tội vi phạm quy định về quản lý khu bảo tồn
thiên nhiên
1. Người nào vi phạm quy
định về quản lý khu bảo tồn thiên nhiên thuộc một trong các trường hợp sau đây,
thì bị phạt tiền từ 100.000.000 đồng đến 600.000.000 đồng, phạt cải tạo không
giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm:
a) Gây thiệt hại về tài
sản từ 50.000.000 đồng đến dưới 200.000.000 đồng;
b) Gây thiệt hại đến cảnh
quan, hệ sinh thái tự nhiên trong phân khu bảo vệ nghiêm ngặt của khu bảo tồn
thiên nhiên có tổng diện tích từ 300 mét vuông (m2) đến dưới 500 mét
vuông (m2);
c) Đã bị xử phạt vi phạm
hành chính về một trong những hành vi này mà còn vi phạm hoặc đã bị kết án về
tội này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm.
2. Phạm tội thuộc một
trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 03 năm đến 07 năm:
a) Gây thiệt hại về tài
sản 200.000.000 đồng trở lên;
b) Gây thiệt hại đến cảnh
quan, hệ sinh thái tự nhiên trong phân khu bảo vệ nghiêm ngặt của khu bảo tồn
thiên nhiên có tổng diện tích 500 mét vuông (m2) trở lên;
d) Sử dụng công cụ, phương
tiện, biện pháp bị cấm;
đ) Tái phạm nguy hiểm.
3. Người phạm tội còn có
thể bị phạt tiền từ 20.000.000 đồng đến 200.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức
vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm.
4. Pháp nhân thương mại
phạm tội quy định tại Điều này, thì bị phạt như sau:
a) Phạm tội thuộc trường
hợp quy định tại khoản 1 Điều này, thì bị phạt tiền từ 600.000.000 đồng đến
2.000.000.000 đồng;
b) Phạm tội thuộc trường
hợp quy định tại khoản 2 Điều này, thì bị phạt tiền từ 2.000.000.000 đồng đến
6.000.000.000 đồng hoặc đình chỉ hoạt động có thời hạn từ 06 tháng đến 03 năm;
c) Phạm tội thuộc trường
hợp quy định tại Điều 79 của Bộ luật này, thì bị đình chỉ hoạt động vĩnh viễn;
d) Pháp nhân thương mại
còn có thể bị phạt tiền từ 100.000.000 đồng đến 1.000.000.000 đồng, cấm kinh
doanh, cấm hoạt động trong một số lĩnh vực nhất định hoặc cấm huy động vốn từ
01 năm đến 03 năm.
Điều 246. Tội nhập khẩu, phát tán các loài ngoại lai xâm
hại
1. Người nào thực hiện một
trong các hành vi sau đây, thì bị phạt tiền từ 200.000.000 đồng đến
2.000.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 01
năm đến 05 năm:
a) Nhập khẩu trái phép
loài động vật, thực vật ngoại lai xâm hại hoặc loài động vật, thực vật ngoại
lai có nguy cơ xâm hại trong trường hợp vật phạm pháp trị giá từ 250.000.000
đồng đến dưới 500.000.000 đồng hoặc trong trường hợp vật phạm pháp trị giá dưới
250.000.000 đồng nhưng đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi này mà còn
vi phạm;
b) Phát tán loài động vật,
thực vật ngoại lai xâm hại hoặc loài động vật, thực vật ngoại lai có nguy cơ
xâm hại, gây thiệt hại về tài sản từ 150.000.000 đồng đến dưới 500.000.000
đồng.
2. Phạm tội thuộc một
trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 03 năm đến 07 năm:
b) Nhập khẩu trái phép
loài động vật, thực vật ngoại lai xâm hại hoặc loài động vật, thực vật ngoại
lai có nguy cơ xâm hại trong trường hợp vật phạm pháp trị giá 500.000.000 đồng trở
lên;
c) Phát tán loài động vật,
thực vật ngoại lai xâm hại hoặc loài động vật, thực vật ngoại lai có nguy cơ
xâm hại, gây thiệt hại về tài sản 500.000.000 đồng trở lên;
3. Người phạm tội còn có
thể bị phạt tiền từ 100.000.000 đồng đến 1.000.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức
vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm.
4. Pháp nhân thương mại
phạm tội quy định tại Điều này, thì bị phạt như sau:
a) Phạm tội thuộc trường
hợp quy định tại khoản 1 Điều này, thì bị phạt tiền từ 2.000.000.000 đồng đến
6.000.000.000 đồng;
b) Phạm tội thuộc trường
hợp quy định tại khoản 2 Điều này, thì bị phạt tiền từ 6.000.000.000 đồng đến
10.000.000.000 đồng hoặc đình chỉ hoạt động có thời hạn từ 06 tháng đến 03 năm;
c) Pháp nhân thương mại
còn có thể bị phạt tiền từ 200.000.000 đồng đến 2.000.000.000 đồng, cấm kinh
doanh, cấm hoạt động trong một số lĩnh vực nhất định hoặc cấm huy động vốn từ
01 năm đến 03 năm.”.
18. Sửa đổi, bổ sung các
điều 248, 249, 250, 251 và 252 như sau:
“Điều 248. Tội sản xuất trái phép chất ma túy
1. Người nào sản xuất trái
phép chất ma túy dưới bất kỳ hình thức nào, thì bị phạt tù từ 03 năm đến 07
năm.
2. Phạm tội thuộc một
trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 07 năm đến 15 năm:
c) Lợi dụng chức vụ, quyền
hạn;
d) Lợi dụng danh nghĩa cơ
quan, tổ chức;
đ) Nhựa thuốc phiện, nhựa cần sa hoặc cao côca có khối
lượng từ 500 gam đến dưới 01 kilôgam;
e) Heroine, Cocaine,
Methamphetamine, Amphetamine, Ketamine, Fentanyl, MDMA hoặc XLR-11 có khối
lượng từ 05 gam đến dưới 30 gam;
g) Các chất ma túy khác ở
thể rắn có khối lượng từ 20 gam đến dưới 100 gam;
h) Các chất ma túy khác ở
thể lỏng có thể tích từ 100 mililít đến dưới 200 mililít;
k) Có 02
chất ma túy trở lên mà tổng khối lượng hoặc thể tích của các chất đó tương
đương với khối lượng hoặc thể tích chất ma túy quy định tại một trong các điểm
từ điểm đ đến điểm h khoản này.
3. Phạm tội thuộc một
trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 15 năm đến 20 năm:
a) Có tính chất chuyên nghiệp;
b) Nhựa thuốc phiện, nhựa
cần sa hoặc cao côca có khối lượng từ 01 kilôgam đến dưới 05 kilôgam;
c) Heroine, Cocaine,
Methamphetamine, Amphetamine, Ketamine, Fentanyl, MDMA hoặc XLR-11 có khối
lượng từ 30 gam đến dưới 100 gam;
d) Các chất ma túy khác ở
thể rắn có khối lượng từ 100 gam đến dưới 300 gam;
đ) Các chất ma túy khác ở thể lỏng có thể tích từ 200
mililít đến dưới 750 mililít;
e) Có 02 chất ma túy trở
lên mà tổng khối lượng hoặc thể tích của các chất đó tương đương với khối lượng
hoặc thể tích chất ma túy quy định tại một trong các điểm từ điểm b đến điểm đ
khoản này.
4. Phạm tội thuộc một
trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù 20 năm hoặc tù chung thân:
a) Nhựa thuốc phiện, nhựa
cần sa hoặc cao côca có khối lượng từ 05 kilôgam đến dưới 30 kilôgam;
b) Heroine, Cocaine,
Methamphetamine, Amphetamine, Ketamine, Fentanyl, MDMA hoặc XLR-11 có khối
lượng từ 100 gam đến dưới 03 kilôgam;
c) Các chất ma túy khác ở
thể rắn có khối lượng từ 300 gam đến dưới 09 kilôgam;
d) Các chất ma túy khác ở
thể lỏng có thể tích từ 750 mililít đến dưới 22 lít;
đ) Có 02 chất ma túy trở lên mà tổng khối lượng hoặc thể
tích của các chất đó tương đương với khối lượng hoặc thể tích chất ma túy quy
định tại một trong các điểm từ điểm a đến điểm d khoản này.
5. Phạm tội thuộc một
trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù chung thân hoặc tử hình:
a) Nhựa thuốc phiện, nhựa
cần sa hoặc cao côca có khối lượng 30 kilôgam trở lên;
b) Heroine, Cocaine,
Methamphetamine, Amphetamine, Ketamine, Fentanyl, MDMA hoặc XLR-11 có khối
lượng 03 kilôgam trở lên;
c) Các chất ma túy khác ở
thể rắn có khối lượng 09 kilôgam trở lên;
d) Các chất ma túy khác ở
thể lỏng có thể tích 22 lít trở lên;
đ) Có 02 chất ma túy trở lên mà tổng khối lượng hoặc thể
tích của các chất đó tương đương với khối lượng hoặc thể tích chất ma túy quy
định tại một trong các điểm từ điểm a đến điểm d khoản này.
6. Người phạm tội còn có
thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ,
cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm hoặc tịch thu
một phần hoặc toàn bộ tài sản.
Điều 249. Tội tàng trữ trái phép chất ma túy
1. Người nào tàng trữ trái
phép chất ma túy mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép
chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 03 năm
đến 05 năm:
a) Đã bị xử phạt vi phạm
hành chính về hành vi quy định tại Điều này hoặc đã bị kết án về tội này hoặc
một trong các tội quy định tại các điều 248, 250, 251,252 và 256a của Bộ luật
này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm;
b) Nhựa thuốc phiện, nhựa
cần sa hoặc cao côca có khối lượng từ 01 gam đến dưới 500 gam;
c) Heroine, Cocaine,
Methamphetamine, Amphetamine, Ketamine, Fentanyl, MDMA hoặc XLR-11 có khối
lượng từ 0,1 gam đến dưới 05 gam;
d) Lá cây côca; lá khát
(lá cây Catha edulis); lá, rễ, thân, cành, hoa, quả của cây cần sa hoặc bộ phận
của cây khác có chứa chất ma túy do Chính phủ quy định có khối lượng từ 01
kilôgam đến dưới 10 kilôgam;
đ) Quả thuốc phiện khô có khối lượng từ 05 kilôgam đến
dưới 50 kilôgam;
e) Quả thuốc phiện tươi có
khối lượng từ 01 kilôgam đến dưới 10 kilôgam;
g) Các chất ma túy khác ở
thể rắn có khối lượng từ 01 gam đến dưới 20 gam;
h) Các chất ma túy khác ở
thể lỏng có thể tích từ 10 mililít đến dưới 100 mililít;
i) Có 02 chất ma túy trở
lên mà tổng khối lượng hoặc thể tích của các chất đó tương đương với khối lượng
hoặc thể tích chất ma túy quy định tại một trong các điểm từ điểm b đến điểm h
khoản này.
2. Phạm tội thuộc một
trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 05 năm đến 10 năm:
c) Lợi dụng chức vụ, quyền
hạn;
d) Lợi dụng danh nghĩa cơ
quan, tổ chức;
đ) Sử dụng người dưới 16 tuổi vào việc phạm tội;
e) Nhựa thuốc phiện, nhựa
cần sa hoặc cao côca có khối lượng từ 500 gam đến dưới 01 kilôgam;
g) Heroine, Cocaine,
Methamphetamine, Amphetamine, Ketamine, Fentanyl, MDMA hoặc XLR-11 có khối
lượng từ 05 gam đến dưới 30 gam;
h) Lá cây côca; lá khát
(lá cây Catha edulis); lá, rễ, thân, cành, hoa, quả của cây cần sa hoặc bộ phận
của cây khác có chứa chất ma túy do Chính phủ quy định có khối lượng từ 10
kilôgam đến dưới 25 kilôgam;
i) Quả thuốc phiện khô có
khối lượng từ 50 kilôgam đến dưới 200 kilôgam;
k) Quả thuốc phiện tươi có khối lượng từ 10 kilôgam đến dưới 50 kilôgam;
l) Các chất ma túy khác ở
thể rắn có khối lượng từ 20 gam đến dưới 100 gam;
m) Các chất ma túy khác ở thể lỏng có thể tích từ 100 mililít đến dưới
250 mililít;
n) Có 02 chất ma túy trở lên mà tổng khối lượng hoặc thể tích của các
chất đó tương đương với khối lượng hoặc thể tích chất ma túy quy định tại một
trong các điểm từ điểm e đến điểm m khoản này;
o) Tái phạm nguy hiểm.
3. Phạm tội thuộc một
trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 10 năm đến 15 năm:
a) Nhựa thuốc phiện, nhựa
cần sa hoặc cao côca có khối lượng từ 01 kilôgam đến dưới 05 kilôgam;
b) Heroine, Cocaine,
Methamphetamine, Amphetamine, Ketamine, Fentanyl, MDMA hoặc XLR-11 có khối
lượng từ 30 gam đến dưới 100 gam;
c) Lá cây côca; lá khát
(lá cây Catha edulis); lá, rễ, thân, cành, hoa, quả của cây cần sa hoặc bộ phận
của cây khác có chứa chất ma túy do Chính phủ quy định có khối lượng từ 25
kilôgam đến dưới 75 kilôgam;
d) Quả thuốc phiện khô có
khối lượng từ 200 kilôgam đến dưới 600 kilôgam;
đ) Quả thuốc phiện tươi có khối lượng từ 50 kilôgam đến
dưới 150 kilôgam;
e) Các chất ma túy khác ở
thể rắn có khối lượng từ 100 gam đến dưới 300 gam;
g) Các chất ma túy khác ở
thể lỏng có thể tích từ 250 mililít đến dưới 750 mililít;
h) Có 02 chất ma túy trở
lên mà tổng khối lượng hoặc thể tích của các chất đó tương đương với khối lượng
hoặc thể tích chất ma túy quy định tại một trong các điểm từ điểm a đến điểm g
khoản này.
4. Phạm tội thuộc một
trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 15 năm đến 20 năm hoặc tù chung
thân:
a) Nhựa thuốc phiện, nhựa
cần sa hoặc cao côca có khối lượng 05 kilôgam trở lên;
b) Heroine, Cocaine,
Methamphetamine, Amphetamine, Ketamine, Fentanyl, MDMA hoặc XLR-11 có khối
lượng 100 gam trở lên;
c) Lá cây côca; lá khát
(lá cây Catha edulis); lá, rễ, thân, cành, hoa, quả của cây cần sa hoặc bộ phận
của cây khác có chứa chất ma túy do Chính phủ quy định có khối lượng 75 kilôgam
trở lên;
d) Quả thuốc phiện khô có
khối lượng 600 kilôgam trở lên;
đ) Quả thuốc phiện tươi có khối lượng 150 kilôgam trở lên;
e) Các chất ma túy khác ở
thể rắn có khối lượng 300 gam trở lên;
g) Các chất ma túy khác ở
thể lỏng có thể tích 750 mililít trở lên;
h) Có 02 chất ma túy trở
lên mà tổng khối lượng hoặc thể tích của các chất đó tương đương với khối lượng
hoặc thể tích chất ma túy quy định tại một trong các điểm từ điểm a đến điểm g
khoản này.
5. Người phạm tội còn có
thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ,
cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm hoặc tịch thu
một phần hoặc toàn bộ tài sản.
Điều 250. Tội vận chuyển trái phép chất ma túy
1. Người nào vận chuyển
trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích sản xuất, mua bán, tàng trữ trái
phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 03
năm đến 07 năm:
a) Đã bị xử phạt vi phạm
hành chính về hành vi quy định tại Điều này hoặc đã bị kết án về tội này hoặc
một trong các tội quy định tại các điều 248, 249, 251, 252 và 256a của Bộ luật
này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm;
b) Nhựa thuốc phiện, nhựa
cần sa hoặc cao côca có khối lượng từ 01 gam đến dưới 500 gam;
c) Heroine, Cocaine,
Methamphetamine, Amphetamine, Ketamine, Fentanyl, MDMA hoặc XLR-11 có khối
lượng từ 0,1 gam đến dưới 05 gam;
d) Lá cây côca; lá khát
(lá cây Catha edulis); lá, rễ, thân, cành, hoa, quả của cây cần sa hoặc bộ phận
của cây khác có chứa chất ma túy do Chính phủ quy định có khối lượng từ 01
kilôgam đến dưới 10 kilôgam;
đ) Quả thuốc phiện khô có khối lượng từ 05 kilôgam đến
dưới 50 kilôgam;
e) Quả thuốc phiện tươi có
khối lượng từ 01 kilôgam đến dưới 10 kilôgam;
g) Các chất ma túy khác ở
thể rắn có khối lượng từ 01 gam đến dưới 20 gam;
h) Các chất ma túy khác ở
thể lỏng có thể tích từ 10 mililít đến dưới 100 mililít;
i) Có 02 chất ma túy trở
lên mà tổng khối lượng hoặc thể tích của các chất đó tương đương với khối lượng
hoặc thể tích chất ma túy quy định tại một trong các điểm từ điểm b đến điểm h
khoản này.
2. Phạm tội thuộc một
trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 07 năm đến 15 năm:
c) Lợi dụng chức vụ, quyền
hạn;
d) Lợi dụng danh nghĩa cơ
quan, tổ chức;
đ) Sử dụng người dưới 16 tuổi vào việc phạm tội;
g) Nhựa thuốc phiện, nhựa
cần sa hoặc cao côca có khối lượng từ 500 gam đến dưới 01 kilôgam;
h) Heroine, Cocaine,
Methamphetamine, Amphetamine, Ketamine, Fentanyl, MDMA hoặc XLR-11 có khối
lượng từ 05 gam đến dưới 30 gam;
i) Lá cây côca; lá khát
(lá cây Catha edulis); lá, rễ, thân, cành, hoa, quả của cây cần sa hoặc bộ phận
của cây khác có chứa chất ma túy do Chính phủ quy định có khối lượng từ 10
kilôgam đến dưới 25 kilôgam;
k) Quả thuốc phiện khô có khối lượng từ 50 kilôgam đến dưới 200 kilôgam;
l) Quả thuốc phiện tươi có
khối lượng từ 10 kilôgam đến dưới 50 kilôgam;
m) Các chất ma túy khác ở thể rắn có khối lượng từ 20 gam đến dưới 100
gam;
n) Các chất ma túy khác ở thể lỏng có thể tích từ 100 mililít đến dưới
250 mililít;
o) Có 02 chất ma túy trở lên mà tổng khối lượng hoặc thể tích của các
chất đó tương đương với khối lượng hoặc thể tích chất ma túy quy định tại một
trong các điểm từ điểm g đến điểm n khoản này;
p) Tái phạm nguy hiểm.
3. Phạm tội thuộc một
trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 15 năm đến 20 năm:
a) Nhựa thuốc phiện, nhựa
cần sa hoặc cao côca có khối lượng từ 01 kilôgam đến dưới 05 kilôgam;
b) Heroine, Cocaine,
Methamphetamine, Amphetamine, Ketamine, Fentanyl, MDMA hoặc XLR-11 có khối
lượng từ 30 gam đến dưới 100 gam;
c) Lá cây côca; lá khát
(lá cây Catha edulis); lá, rễ, thân, cành, hoa, quả của cây cần sa hoặc bộ phận
của cây khác có chứa chất ma túy do Chính phủ quy định có khối lượng từ 25
kilôgam đến dưới 75 kilôgam;
d) Quả thuốc phiện khô có
khối lượng từ 200 kilôgam đến dưới 600 kilôgam;
đ) Quả thuốc phiện tươi có khối lượng từ 50 kilôgam đến
dưới 150 kilôgam;
e) Các chất ma túy khác ở
thể rắn có khối lượng từ 100 gam đến dưới 300 gam;
g) Các chất ma túy khác ở
thể lỏng có thể tích từ 250 mililít đến dưới 750 mililít;
h) Có 02 chất ma túy trở
lên mà tổng khối lượng hoặc thể tích của các chất đó tương đương với khối lượng
hoặc thể tích chất ma túy quy định tại một trong các điểm từ điểm a đến điểm g
khoản này.
4. Phạm tội thuộc một
trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù 20 năm hoặc tù chung thân:
a) Nhựa thuốc phiện, nhựa
cần sa hoặc cao côca có khối lượng 05 kilôgam trở lên;
b) Heroine, Cocaine,
Methamphetamine, Amphetamine, Ketamine, Fentanyl, MDMA hoặc XLR-11 có khối
lượng 100 gam trở lên;
c) Lá cây côca; lá khát
(lá cây Catha edulis); lá, rễ, thân, cành, hoa, quả của cây cần sa hoặc bộ phận
của cây khác có chứa chất ma túy do Chính phủ quy định có khối lượng 75 kilôgam
trở lên;
d) Quả thuốc phiện khô có
khối lượng 600 kilôgam trở lên;
đ) Quả thuốc phiện tươi có khối lượng 150 kilôgam trở
lên;
e) Các chất ma túy khác ở
thể rắn có khối lượng 300 gam trở lên;
g) Các chất ma túy khác ở
thể lỏng có thể tích 750 mililít trở lên;
h) Có 02 chất ma túy trở
lên mà tổng khối lượng hoặc thể tích của các chất đó tương đương với khối lượng
hoặc thể tích chất ma túy quy định tại một trong các điểm từ điểm a đến điểm g
khoản này.
5. Người phạm tội còn có
thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ,
cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm hoặc tịch thu
một phần hoặc toàn bộ tài sản.
Điều 251. Tội mua bán trái phép chất ma túy
1. Người nào mua bán trái
phép chất ma túy, thì bị phạt tù từ 03 năm đến 07 năm.
2. Phạm tội thuộc một
trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 07 năm đến 15 năm:
d) Lợi dụng chức vụ, quyền
hạn;
đ) Lợi dụng danh nghĩa cơ quan, tổ chức;
e) Sử dụng người dưới 16
tuổi vào việc phạm tội hoặc bán ma túy cho người dưới 16 tuổi;
h) Nhựa thuốc phiện, nhựa
cần sa hoặc cao côca có khối lượng từ 500 gam đến dưới 01 kilôgam;
i) Heroine, Cocaine,
Methamphetamine, Amphetamine, Ketamine, Fentanyl, MDMA hoặc XLR-11 có khối
lượng từ 05 gam đến dưới 30 gam;
k) Lá cây côca; lá khát (lá cây Catha edulis); lá, rễ, thân, cành, hoa, quả
của cây cần sa hoặc bộ phận của cây khác có chứa chất ma túy do Chính phủ quy
định có khối lượng từ 10 kilôgam đến dưới 25 kilôgam;
l) Quả thuốc phiện khô có
khối lượng từ 50 kilôgam đến dưới 200 kilôgam;
m) Quả thuốc phiện tươi có khối lượng từ 10 kilôgam đến dưới 50 kilôgam;
n) Các chất ma túy khác ở thể rắn có khối lượng từ 20 gam đến dưới 100
gam;
o) Các chất ma túy khác ở thể lỏng có thể tích từ 100 mililít đến dưới
250 mililít;
p) Có 02 chất ma túy trở lên mà tổng khối lượng hoặc thể tích của các chất
đó tương đương với khối lượng hoặc thể tích chất ma túy quy định tại một trong
các điểm từ điểm h đến điểm o khoản này;
q) Tái
phạm nguy hiểm.
3. Phạm tội thuộc một
trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 15 năm đến 20 năm:
a) Nhựa thuốc phiện, nhựa
cần sa hoặc cao côca có khối lượng từ 01 kilôgam đến dưới 05 kilôgam;
b) Heroine, Cocaine,
Methamphetamine, Amphetamine, Ketamine, Fentanyl, MDMA hoặc XLR-11 có khối
lượng từ 30 gam đến dưới 100 gam;
c) Lá cây côca; lá khát
(lá cây Catha edulis); lá, rễ, thân, cành, hoa, quả của cây cần sa hoặc bộ phận
của cây khác có chứa chất ma túy do Chính phủ quy định có khối lượng từ 25
kilôgam đến dưới 75 kilôgam;
d) Quả thuốc phiện khô có
khối lượng từ 200 kilôgam đến dưới 600 kilôgam;
đ) Quả thuốc phiện tươi có khối lượng từ 50 kilôgam đến
dưới 150 kilôgam;
e) Các chất ma túy khác ở
thể rắn có khối lượng từ 100 gam đến dưới 300 gam;
g) Các chất ma túy khác ở thể
lỏng có thể tích từ 250 mililít đến dưới 750 mililít;
h) Có 02 chất ma túy trở
lên mà tổng khối lượng hoặc thể tích của các chất đó tương đương với khối lượng
hoặc thể tích chất ma túy quy định tại một trong các điểm từ điểm a đến điểm g
khoản này.
4. Phạm tội thuộc một
trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù 20 năm hoặc tù chung thân:
a) Nhựa thuốc phiện, nhựa
cần sa hoặc cao côca có khối lượng từ 05 kilôgam đến dưới 30 kilôgam;
b) Heroine, Cocaine,
Methamphetamine, Amphetamine, Ketamine, Fentanyl, MDMA hoặc XLR-11 có khối
lượng từ 100 gam đến dưới 03 kilôgam;
c) Lá cây côca; lá khát
(lá cây Catha edulis); lá, rễ, thân, cành, hoa, quả của cây cần sa hoặc bộ phận
của cây khác có chứa chất ma túy do Chính phủ quy định có khối lượng từ 75
kilôgam đến dưới 150 kilôgam;
d) Quả thuốc phiện khô có
khối lượng từ 600 kilôgam đến dưới 1.200 kilôgam;
đ) Quả thuốc phiện tươi có khối lượng từ 150 kilôgam đến
dưới 300 kilôgam;
e) Các chất ma túy khác ở
thể rắn có khối lượng từ 300 gam đến dưới 09 kilôgam;
g) Các chất ma túy khác ở
thể lỏng có thể tích từ 750 mililít đến dưới 22 lít;
h) Có 02 chất ma túy trở
lên mà tổng khối lượng hoặc thể tích của các chất đó tương đương với khối lượng
hoặc thể tích chất ma túy quy định tại một trong các điểm từ điểm a đến điểm g
khoản này.
5. Phạm tội thuộc một
trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù chung thân hoặc tử hình:
a) Nhựa thuốc phiện, nhựa
cần sa hoặc cao côca có khối lượng 30 kilôgam trở lên;
b) Heroine, Cocaine,
Methamphetamine, Amphetamine, Ketamine, Fentanyl, MDMA hoặc XLR-11 có khối
lượng 03 kilôgam trở lên;
c) Lá cây côca; lá khát
(lá cây Catha edulis); lá, rễ, thân, cành, hoa, quả của cây cần sa hoặc bộ phận
của cây khác có chứa chất ma túy do Chính phủ quy định có khối lượng 150
kilôgam trở lên;
d) Quả thuốc phiện khô có
khối lượng 1.200 kilôgam trở lên;
đ) Quả thuốc phiện tươi có khối lượng 300 kilôgam trở lên;
e) Các chất ma túy khác ở
thể rắn có khối lượng 09 kilôgam trở lên;
g) Các chất ma túy khác ở
thể lỏng có thể tích 22 lít trở lên;
h) Có 02 chất ma túy trở
lên mà tổng khối lượng hoặc thể tích của các chất đó tương đương với khối lượng
hoặc thể tích chất ma túy quy định tại một trong các điểm từ điểm a đến điểm g
khoản này.
6. Người phạm tội còn có
thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ,
cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm hoặc tịch thu
một phần hoặc toàn bộ tài sản.
Điều 252. Tội chiếm đoạt chất ma túy
1. Người nào chiếm đoạt
chất ma túy dưới bất kỳ hình thức nào thuộc một trong các trường hợp sau đây,
thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:
a) Đã bị xử phạt vi phạm
hành chính về hành vi quy định tại Điều này hoặc đã bị kết án về tội này hoặc
một trong các tội quy định tại các điều 248, 249, 250, 251 và 256a của Bộ luật
này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm;
b) Nhựa thuốc phiện, nhựa
cần sa hoặc cao côca có khối lượng từ 01 gam đến dưới 500 gam;
c) Heroine, Cocaine,
Methamphetamine, Amphetamine, Ketamine, Fentanyl, MDMA hoặc XLR-11 có khối
lượng từ 0,1 gam đến dưới 05 gam;
d) Lá cây côca; lá khát
(lá cây Catha edulis); lá, rễ, thân, cành, hoa, quả của cây cần sa hoặc bộ phận
của cây khác có chứa chất ma túy do Chính phủ quy định có khối lượng từ 01
kilôgam đến dưới 10 kilôgam;
đ) Quả thuốc phiện khô có khối lượng từ 05 kilôgam đến
dưới 50 kilôgam;
e) Quả thuốc phiện tươi có
khối lượng từ 01 kilôgam đến dưới 10 kilôgam;
g) Các chất ma túy khác ở
thể rắn có khối lượng từ 01 gam đến dưới 20 gam;
h) Các chất ma túy khác ở
thể lỏng có thể tích từ 10 mililít đến dưới 100 mililít;
i) Có 02 chất ma túy trở
lên mà tổng khối lượng hoặc thể tích của các chất đó tương đương với khối lượng
hoặc thể tích chất ma túy quy định tại một trong các điểm từ điểm b đến điểm h
khoản này.
2. Phạm tội thuộc một
trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 05 năm đến 10 năm:
c) Lợi dụng chức vụ, quyền
hạn;
d) Lợi dụng danh nghĩa cơ
quan, tổ chức;
đ) Sử dụng người dưới 16 tuổi vào việc phạm tội;
e) Nhựa thuốc phiện, nhựa
cần sa hoặc cao côca có khối lượng từ 500 gam đến dưới 01 kilôgam;
g) Heroine, Cocaine,
Methamphetamine, Amphetamine, Ketamine, Fentanyl, MDMA hoặc XLR-11 có khối
lượng từ 05 gam đến dưới 30 gam;
h) Lá cây côca; lá khát
(lá cây Catha edulis); lá, rễ, thân, cành, hoa, quả của cây cần sa hoặc bộ phận
của cây khác có chứa chất ma túy do Chính phủ quy định có khối lượng từ 10 kilôgam
đến dưới 25 kilôgam;
i) Quả thuốc phiện khô có
khối lượng từ 50 kilôgam đến dưới 200 kilôgam;
k) Quả thuốc phiện tươi có khối lượng từ 10 kilôgam đến dưới 50 kilôgam;
l) Các chất ma túy khác ở
thể rắn có khối lượng từ 20 gam đến dưới 100 gam;
m) Các chất ma túy khác ở thể lỏng có thể tích từ 100 mililít đến dưới
250 mililít;
n) Có 02 chất ma túy trở lên mà tổng khối lượng hoặc thể tích của các
chất đó tương đương với khối lượng hoặc thể tích chất ma túy quy định tại một
trong các điểm từ điểm e đến điểm m khoản này;
o) Tái phạm nguy hiểm.
3. Phạm tội thuộc một
trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 10 năm đến 15 năm:
a) Nhựa thuốc phiện, nhựa cần sa hoặc cao côca có khối
lượng từ 01 kilôgam đến dưới 05 kilôgam;
b) Heroine, Cocaine,
Methamphetamine, Amphetamine, Ketamine, Fentanyl, MDMA hoặc XLR-11 có khối
lượng từ 30 gam đến dưới 100 gam;
c) Lá cây côca; lá khát
(lá cây Catha edulis); lá, rễ, thân, cành, hoa, quả của cây cần sa hoặc bộ phận
của cây khác có chứa chất ma túy do Chính phủ quy định có khối lượng từ 25
kilôgam đến dưới 75 kilôgam;
d) Quả thuốc phiện khô có
khối lượng từ 200 kilôgam đến dưới 600 kilôgam;
đ) Quả thuốc phiện tươi có khối lượng từ 50 kilôgam đến
dưới 150 kilôgam;
e) Các chất ma túy khác ở
thể rắn có khối lượng từ 100 gam đến dưới 300 gam;
g) Các chất ma túy khác ở
thể lỏng có thể tích từ 250 mililít đến dưới 750 mililít;
h) Có 02 chất ma túy trở
lên mà tổng khối lượng hoặc thể tích của các chất đó tương đương với khối lượng
hoặc thể tích chất ma túy quy định tại một trong các điểm từ điểm a đến điểm g
khoản này.
4. Phạm tội thuộc một
trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 15 năm đến 20 năm hoặc tù chung
thân:
a) Nhựa thuốc phiện, nhựa
cần sa hoặc cao côca có khối lượng 05 kilôgam trở lên;
b) Heroine, Cocaine,
Methamphetamine, Amphetamine, Ketamine, Fentanyl, MDMA hoặc XLR-11 có khối
lượng 100 gam trở lên;
c) Lá cây côca; lá khát
(lá cây Catha edulis); lá, rễ, thân, cành, hoa, quả của cây cần sa hoặc bộ phận
của cây khác có chứa chất ma túy do Chính phủ quy định có khối lượng 75 kilôgam
trở lên;
d) Quả thuốc phiện khô có
khối lượng 600 kilôgam trở lên;
đ) Quả thuốc phiện tươi có khối lượng 150 kilôgam trở
lên;
e) Các chất ma túy khác ở
thể rắn có khối lượng 300 gam trở lên;
g) Các chất ma túy khác ở
thể lỏng có thể tích 750 mililít trở lên;
h) Có 02 chất ma túy trở
lên mà tổng khối lượng hoặc thể tích của các chất đó tương đương với khối lượng
hoặc thể tích chất ma túy quy định tại một trong các điểm từ điểm a đến điểm g khoản
này.
5. Người phạm tội còn có
thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ,
cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm hoặc tịch thu
một phần hoặc toàn bộ tài sản.”.
19. Sửa đổi, bổ sung khoản
1 Điều 255 như sau:
“1. Người nào tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy dưới
bất kỳ hình thức nào, thì bị phạt tù từ 03 năm đến 07 năm.”.
20. Bổ sung Điều 256a vào
sau Điều 256 như sau:
“Điều 256a. Tội sử dụng trái phép chất ma túy
1. Người nào sử dụng trái
phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 02 năm
đến 03 năm:
a) Đang trong thời hạn cai
nghiện ma túy hoặc điều trị nghiện các chất ma túy bằng thuốc thay thế theo quy
định của Luật Phòng, chống ma túy;
b) Đang trong thời hạn quản
lý sau cai nghiện ma túy theo quy định của Luật Phòng, chống ma túy;
c) Đang trong thời hạn 02
năm kể từ ngày hết thời hạn quản lý sau cai nghiện ma túy và trong thời hạn
quản lý người sử dụng trái phép chất ma túy theo quy định của Luật Phòng, chống
ma túy;
d) Đang trong thời hạn 02 năm
kể từ khi tự ý chấm dứt cai nghiện ma túy tự nguyện hoặc điều trị nghiện các
chất ma túy bằng thuốc thay thế theo quy định của Luật Phòng, chống ma túy.
2. Tái phạm về tội này thì
bị phạt tù từ 03 năm đến 05 năm.”.
21. Sửa đổi, bổ sung các
khoản 1, 2 và 5 Điều 317 như sau:
a) Sửa đổi, bổ sung khoản
1 và khoản 2 như sau:
“1. Người nào thực hiện một trong các hành vi sau đây vi
phạm quy định về an toàn thực phẩm, thì bị phạt tiền từ 100.000.000 đồng đến
400.000.000 đồng hoặc phạt tù từ 02 năm đến 05 năm:
a) Sử dụng chất, hóa chất,
kháng sinh, thuốc thú y, thuốc bảo vệ thực vật, phụ gia thực phẩm hoặc chất hỗ
trợ chế biến thực phẩm mà biết là cấm sử dụng hoặc ngoài danh mục được phép sử
dụng trong sản xuất thực phẩm mà sản phẩm trị giá từ 10.000.000 đồng đến dưới
100.000.000 đồng hoặc đã bị xử phạt vi phạm hành chính về một trong các hành vi
quy định tại Điều này hoặc đã bị kết án về tội này, chưa được xóa án tích mà
còn vi phạm;
b) Sử dụng động vật chết
do bệnh, dịch bệnh hoặc động vật bị tiêu hủy theo quy định của pháp luật để chế
biến thực phẩm hoặc cung cấp, bán thực phẩm mà biết là có nguồn gốc từ động vật
chết do bệnh, dịch bệnh hoặc động vật bị tiêu hủy mà sản phẩm trị giá từ
10.000.000 đồng đến dưới 100.000.000 đồng hoặc đã bị xử phạt vi phạm hành chính
về một trong các hành vi quy định tại Điều này hoặc đã bị kết án về tội này,
chưa được xóa án tích mà còn vi phạm;
c) Sử dụng chất, hóa chất,
kháng sinh, thuốc thú y, thuốc bảo vệ thực vật, phụ gia thực phẩm hoặc chất hỗ
trợ chế biến thực phẩm mà biết là chưa được phép sử dụng hoặc chưa được phép
lưu hành tại Việt Nam trong sản xuất thực phẩm mà sản phẩm trị giá từ
100.000.000 đồng đến dưới 300.000.000 đồng hoặc sản phẩm trị giá từ 50.000.000
đồng đến dưới 100.000.000 đồng nhưng đã bị xử phạt vi phạm hành chính về một
trong các hành vi quy định tại Điều này hoặc đã bị kết án về tội này, chưa được
xóa án tích mà còn vi phạm;
d) Nhập khẩu, cung cấp
hoặc bán thực phẩm mà biết là có sử dụng chất, hóa chất, phụ gia thực phẩm hoặc
chất hỗ trợ chế biến thực phẩm cấm sử dụng hoặc ngoài danh mục được phép sử
dụng trị giá từ 10.000.000 đồng đến dưới 100.000.000 đồng hoặc thu lợi bất
chính từ 5.000.000 đồng đến dưới 20.000.000 đồng hoặc đã bị xử phạt vi phạm
hành chính về một trong các hành vi quy định tại Điều này hoặc đã bị kết án về
tội này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm;
đ) Nhập khẩu, cung cấp hoặc bán thực phẩm mà biết là có
sử dụng chất, hóa chất, phụ gia thực phẩm hoặc chất hỗ trợ chế biến thực phẩm
chưa được phép sử dụng hoặc chưa được phép lưu hành tại Việt Nam trị giá từ
100.000.000 đồng đến dưới 300.000.000 đồng hoặc thu lợi bất chính từ 50.000.000
đồng đến dưới 100.000.000 đồng; thực phẩm trị giá từ 50.000.000 đồng đến dưới
100.000.000 đồng hoặc thu lợi bất chính từ 20.000.000 đồng đến dưới 50.000.000
đồng nhưng đã bị xử phạt vi phạm hành chính về một trong các hành vi quy định
tại Điều này hoặc đã bị kết án về tội này, chưa được xóa án tích mà còn vi
phạm;
e) Thực hiện một trong các
hành vi quy định tại các điểm từ điểm a đến điểm đ khoản này hoặc chế biến,
cung cấp, bán thực phẩm mà biết là thực phẩm không bảo đảm quy chuẩn kỹ thuật,
quy định về an toàn thực phẩm gây ngộ độc ảnh hưởng nghiêm trọng đến sức khỏe
của từ 05 người đến 20 người hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ
lệ tổn thương cơ thể từ 31% đến 60%.
2. Phạm tội thuộc một
trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tiền từ 400.000.000 đồng đến
1.000.000.000 đồng hoặc phạt tù từ 03 năm đến 07 năm:
c) Gây ngộ độc ảnh hưởng
nghiêm trọng đến sức khỏe của từ 21 người đến 100 người;
d) Gây tổn hại cho sức
khỏe của người khác mà tỷ lệ tổn thương cơ thể 61% trở lên;
đ) Gây tổn hại cho sức khỏe của 02 người trở lên mà tổng tỷ
lệ tổn thương cơ thể của những người này từ 61 % đến 121 %;
e) Thực phẩm có sử dụng
chất, hóa chất, kháng sinh, thuốc thú y, thuốc bảo vệ thực vật, phụ gia thực
phẩm hoặc chất hỗ trợ chế biến thực phẩm cấm sử dụng hoặc ngoài danh mục được
phép sử dụng trị giá từ 100.000.000 đồng đến dưới 300.000.000 đồng hoặc thu lợi
bất chính từ 20.000.000 đồng đến dưới 100.000.000 đồng;
g) Thực phẩm có sử dụng nguyên liệu là động vật chết do
bệnh, dịch bệnh hoặc động vật bị tiêu hủy trị giá từ 100.000.000 đồng đến dưới
300.000.000 đồng;
h) Thực phẩm có sử dụng
chất, hóa chất, kháng sinh, thuốc thú y, thuốc bảo vệ thực vật, phụ gia thực
phẩm hoặc chất hỗ trợ chế biến thực phẩm chưa được phép sử dụng hoặc chưa được
phép lưu hành tại Việt Nam trị giá từ 300.000.000 đồng đến dưới 500.000.000
đồng hoặc thu lợi bất chính từ 100.000.000 đồng đến dưới 200.000.000 đồng;
b) Sửa đổi, bổ sung khoản 5 như sau:
“5. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 40.000.000
đồng đến 200.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công
việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm.”.
22. Sửa đổi, bổ sung khoản
4 và khoản 5 Điều 353 như sau:
“4. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì
bị phạt tù 20 năm hoặc tù chung thân:
a) Chiếm đoạt tài sản trị
giá 1.000.000.000 đồng trở lên;
b) Gây thiệt hại về tài
sản 5.000.000.000 đồng trở lên.
5. Người phạm tội còn bị
cấm đảm nhiệm chức vụ nhất định từ 01 năm đến 05 năm, có thể bị phạt tiền từ
60.000.000 đồng đến 200.000.000 đồng, tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản.”.
23. Sửa đổi, bổ sung khoản
4 và khoản 5 Điều 354 như sau:
“4. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì
bị phạt tù 20 năm hoặc tù chung thân:
a) Của hối lộ là tiền, tài
sản hoặc lợi ích vật chất khác trị giá 1.000.000.000 đồng trở lên;
b) Gây thiệt hại về tài
sản 5.000.000.000 đồng trở lên.
5. Người phạm tội còn bị cấm đảm nhiệm chức vụ nhất định
từ 01 năm đến 05 năm, có thể bị phạt tiền từ 60.000.000 đồng đến 200.000.000 đồng,
tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản.”.
24. Sửa đổi, bổ sung khoản
5 Điều 355 như sau:
“5. Người phạm tội còn bị cấm đảm nhiệm chức vụ nhất định
từ 01 năm đến 05 năm, có thể bị phạt tiền từ 60.000.000 đồng đến 200.000.000
đồng, tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản.”.
25. Sửa đổi, bổ sung khoản
4 Điều 356 như sau:
“4. Người phạm tội còn bị cấm đảm nhiệm chức vụ nhất định
từ 01 năm đến 05 năm, có thể bị phạt tiền từ 20.000.000 đồng đến 200.000.000
đồng.”.
26. Sửa đổi, bổ sung khoản
5 Điều 357 như sau:
“5. Người phạm tội còn bị cấm đảm nhiệm chức vụ nhất định
từ 01 năm đến 05 năm, có thể bị phạt tiền từ 20.000.000 đồng đến 200.000.000
đồng.”.
27. Sửa đổi, bổ sung khoản
5 Điều 358 như sau:
“5. Người phạm tội còn bị cấm đảm nhiệm chức vụ nhất định
từ 01 năm đến 05 năm, có thể bị phạt tiền từ 60.000.000 đồng đến 200.000.000
đồng.”.
28. Sửa đổi, bổ sung khoản
5 Điều 359 như sau:
“5. Người phạm tội còn bị cấm đảm nhiệm chức vụ hoặc làm
công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm, có thể bị phạt tiền từ 20.000.000
đồng đến 200.000.000 đồng.”.
29. Sửa đổi, bổ sung khoản
1 Điều 421 như sau:
“1. Người nào tuyên truyền, kích động chiến tranh xâm
lược hoặc chuẩn bị, tiến hành, tham gia chiến tranh xâm lược nhằm chống lại độc
lập, chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ của một quốc gia hoặc một vùng lãnh thổ độc
lập, có chủ quyền khác, thì bị phạt tù từ 12 năm đến 20 năm hoặc tù chung
thân.”.
Điều 2. Sửa đổi, bổ sung một số điều của các luật có liên
quan
1. Sửa đổi, bổ sung, thay
thế, bãi bỏ một số điều, khoản, điểm của Luật Thi hành án hình sự số
41/2019/QH14 đã được sửa đổi, bổ sung một số điều bởi Luật số 59/2024/QH15 như
sau:
a) Sửa đổi, bổ sung điểm b
khoản 2 Điều 68 như sau:
“b) Được sự đồng ý của Công an cấp xã trong trường hợp
thay đổi nơi cư trú trong phạm vi đơn vị hành chính cấp tỉnh, cơ quan thi hành
án hình sự Công an cấp tỉnh trong trường hợp thay đổi nơi cư trú ngoài phạm vi
đơn vị hành chính cấp tỉnh.”;
b) Sửa đổi, bổ sung điểm c
khoản 4 Điều 82 như sau:
“c) Chủ tịch Hội đồng thi hành án tử hình công bố quyết
định thi hành án, quyết định không kháng nghị của Chánh án Tòa án nhân dân tối
cao và quyết định không kháng nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối
cao, quyết định của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao không chấp nhận
kháng nghị của Chánh án Tòa án nhân dân tối cao hoặc kháng nghị của Viện trưởng
Viện kiểm sát nhân dân tối cao, văn bản thông báo của cơ quan có thẩm quyền về
việc không có quyết định ân giảm hình phạt tử hình.
Ngay sau khi Chủ tịch Hội đồng thi hành án công bố các quyết
định, Cảnh sát thi hành án hình sự và hỗ trợ tư pháp hoặc Vệ binh hỗ trợ tư
pháp có nhiệm vụ giao các quyết định trên cho người chấp hành án để người đó tự
đọc. Trường hợp người chấp hành án không biết chữ, không biết tiếng Việt hoặc
không tự mình đọc được thì Hội đồng thi hành án tử hình chỉ định người đọc hoặc
phiên dịch các quyết định trên cho người đó nghe. Quá trình công bố và đọc các
quyết định phải được chụp ảnh, ghi hình, ghi âm và lưu vào hồ sơ thi hành án tử
hình;”;
c) Sửa đổi, bổ sung khoản
1 Điều 115 như sau:
“1. Trường hợp có lý do chính đáng, người chấp hành án có
thể được cấp giấy phép đi khỏi nơi quản chế. Thẩm quyền cấp giấy phép như sau:
a) Trưởng Công an cấp xã
nơi quản chế cấp giấy phép đi lại trong phạm vi cấp tỉnh nơi quản chế;
b) Thủ trưởng cơ quan thi
hành án hình sự Công an cấp tỉnh cấp giấy phép đi ra ngoài phạm vi cấp tỉnh nơi
quản chế.”;
d) Thay thế cụm từ “Tòa án
nhân dân cấp tỉnh” bằng cụm từ “Tòa án nhân dân khu vực” tại khoản 3 Điều 36,
khoản 3 Điều 55 và khoản 1 Điều 136;
đ) Thay thế cụm từ “Tòa án nhân dân cấp huyện” bằng cụm
từ “Tòa án nhân dân khu vực” tại khoản 4 Điều 90, các khoản 1, 3 và 5 Điều 93,
khoản 1 Điều 102, khoản 4 Điều 103;
e) Thay thế cụm từ “Ủy ban
nhân dân cấp huyện” bằng cụm từ “Ủy ban nhân dân cấp tỉnh” tại điểm d khoản 1
Điều 192;
g) Bãi bỏ điểm d khoản 1
Điều 80, điểm c khoản 1 Điều 192 và Điều 205.
2. Sửa đổi, bổ sung một số
điều, khoản của Luật Đặc xá số 30/2018/QH14 như sau:
a) Sửa đổi, bổ sung khoản
2 Điều 9 như sau:
“2. Sau khi được công bố, Quyết định về đặc xá được niêm
yết tại trại giam, trại tạm giam.”;
b) Sửa đổi, bổ sung điểm a
khoản 1 Điều 11 như sau:
“a) Có nhiều tiến bộ, có ý thức cải tạo tốt và đủ số kỳ
được xếp loại chấp hành án phạt tù khá hoặc tốt do Chủ tịch nước quyết định
trong mỗi lần đặc xá;”;
c) Sửa đổi, bổ sung điểm a
khoản 3 Điều 11 như sau:
“a) Đã lập công lớn trong thời gian chấp hành án phạt tù,
có xác nhận của trại giam, trại tạm giam hoặc cơ quan có thẩm quyền khác;”;
d) Sửa đổi, bổ sung điểm g
khoản 3 Điều 11 như sau:
“g) Phụ nữ có thai hoặc có con dưới 36 tháng tuổi ở cùng
mẹ trong trại giam, trại tạm giam;”;
đ) Sửa đổi, bổ sung các khoản 1, 2, 3 và 4 Điều 15 như
sau:
“1. Ngay sau khi nhận được Quyết định về đặc xá, trại
giam, trại tạm giam phải niêm yết, phổ biến cho người đang chấp hành án phạt tù
biết.
Trong thời hạn 05 ngày kể từ ngày Quyết định về đặc xá
được niêm yết, phổ biến, người đang chấp hành án phạt tù có thời hạn, tù chung
thân nhưng đã được giảm xuống tù có thời hạn căn cứ vào quy định tại Điều 11 và
Điều 12 của Luật này làm đơn đề nghị đặc xá.
2. Trong thời hạn 10 ngày
kể từ ngày Quyết định về đặc xá được niêm yết, phổ biến, việc lập danh sách, hồ
sơ của người đủ điều kiện được đề nghị đặc xá thực hiện như sau:
a) Giám thị trại giam
thuộc Bộ Công an lập danh sách, hồ sơ của người đủ điều kiện được đề nghị đặc
xá gửi Tổ thẩm định liên ngành;
b) Giám thị trại tạm giam
thuộc Bộ Công an lập danh sách, hồ sơ của người đủ điều kiện được đề nghị đặc
xá, báo cáo Thủ trưởng cơ quan quản lý trực tiếp để gửi Tổ thẩm định liên
ngành;
c) Giám thị trại tạm giam
thuộc Công an cấp tỉnh lập danh sách, hồ sơ của người đủ điều kiện được đề nghị
đặc xá, báo cáo Thủ trưởng cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp tỉnh để gửi
Tổ thẩm định liên ngành;
d) Người bị kết án phạt tù
đang chấp hành án tại trại giam, trại tạm giam bị trích xuất để phục vụ điều
tra, truy tố, xét xử nhưng không bị truy cứu trách nhiệm hình sự về hành vi
phạm tội khác, nếu đủ điều kiện được đề nghị đặc xá thì Giám thị trại giam,
Giám thị trại tạm giam đang quản lý hồ sơ gốc của người đó lập hồ sơ đề nghị
đặc xá. Giám thị trại tạm giam nhận người bị trích xuất nhưng không quản lý hồ
sơ gốc có trách nhiệm phối hợp với cơ quan đang quản lý hồ sơ gốc của người đó
lập hồ sơ đề nghị đặc xá;
đ) Giám thị trại giam, Giám thị trại tạm giam thuộc Bộ Quốc
phòng hoặc Thủ trưởng cơ quan thi hành án hình sự cấp quân khu lập danh sách,
hồ sơ của người đủ điều kiện được đề nghị đặc xá, báo cáo Thủ trưởng cơ quan quản
lý thi hành án hình sự Bộ Quốc phòng để gửi Tổ thẩm định liên ngành.
3. Trong thời hạn 15 ngày
kể từ ngày Quyết định về đặc xá được công bố, thông báo trên phương tiện thông
tin đại chúng, Chánh án Tòa án đã ra quyết định tạm đình chỉ chấp hành án phạt
tù có trách nhiệm thông báo Quyết định về đặc xá cho người đang được tạm đình
chỉ chấp hành án phạt tù, lập danh sách, hồ sơ của người đủ điều kiện được đề
nghị đặc xá gửi Tổ thẩm định liên ngành.
Trường hợp người đang được tạm đình chỉ chấp hành án phạt
tù cư trú ở địa phương ngoài phạm vi địa giới hành chính của Tòa án đã ra quyết
định tạm đình chỉ thì Tòa án đã ra quyết định tạm đình chỉ thông báo cho Tòa án
nhân dân khu vực, Tòa án quân sự khu vực nơi người đang được tạm đình chỉ cư
trú lập danh sách, hồ sơ của người được đề nghị đặc xá, chuyển đến Tòa án đã ra
quyết định tạm đình chỉ để tổng hợp, gửi Tổ thẩm định liên ngành.
4. Giám thị trại giam,
Giám thị trại tạm giam, Chánh án Tòa án nhân dân cấp tỉnh và Chánh án Tòa án
quân sự cấp quân khu có trách nhiệm thông báo, niêm yết công khai danh sách
người được đề nghị đặc xá.”;
e) Sửa đổi, bổ sung Điều
18 như sau:
“Điều 18. Thực hiện Quyết định đặc xá
1. Văn phòng Chủ tịch nước
chủ trì, phối hợp với các cơ quan có liên quan tổ chức công bố Quyết định đặc
xá. Quyết định đặc xá được thông báo trên phương tiện thông tin đại chúng.
Quyết định đặc xá và danh sách người được đặc xá được
niêm yết tại trại giam, trại tạm giam nơi người được đặc xá đang chấp hành án
và thông báo bằng văn bản đến Ủy ban nhân dân cấp xã, đơn vị quân đội nơi người
đó về cư trú, làm việc; trường hợp người được đặc xá là người đang được tạm
đình chỉ chấp hành án phạt tù thì thông báo bằng văn bản đến Ủy ban nhân dân cấp
xã nơi người đó cư trú hoặc đơn vị quân đội được giao quản lý người đó.
2. Giám thị trại giam,
Giám thị trại tạm giam, Thủ trưởng cơ quan thi hành án hình sự cấp quân khu,
Chánh án Tòa án nhân dân cấp tỉnh, Chánh án Tòa án quân sự cấp quân khu tổ chức
công bố và thực hiện Quyết định đặc xá đối với người được đặc xá.
3. Giám thị trại giam,
Giám thị trại tạm giam thuộc Bộ Công an, Bộ Quốc phòng; Giám thị trại giam
thuộc quân khu cấp chứng nhận đặc xá cho người đang chấp hành án phạt tù tại
trại giam, trại tạm giam được đặc xá.
Thủ trưởng cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp tỉnh
cấp chứng nhận đặc xá cho người đang chấp hành án phạt tù tại trại tạm giam
Công an cấp tỉnh được đặc xá.
Thủ trưởng cơ quan thi hành án hình sự cấp quân khu cấp
chứng nhận đặc xá cho người đang chấp hành án phạt tù tại trại tạm giam cấp
quân khu được đặc xá.
Chánh án Tòa án nhân dân cấp tỉnh, Chánh án Tòa án quân
sự cấp quân khu cấp chứng nhận đặc xá cho người đang được tạm đình chỉ chấp
hành án phạt tù được đặc xá.
4. Người đã cấp chứng nhận
đặc xá có trách nhiệm gửi bản sao chứng nhận đó đến Tòa án đã ra quyết định thi
hành án, cơ quan chịu trách nhiệm thi hành các hình phạt bổ sung, cơ quan thi
hành án dân sự đã ra quyết định chưa có điều kiện thi hành án, Công an cấp xã, Ủy
ban nhân dân cấp xã, tổ chức, đơn vị quân đội nơi người được đặc xá về cư trú,
làm việc, cơ quan nhận người bị trích xuất.
Trường hợp không xác định được nơi người được đặc xá về
cư trú thì cơ quan đã cấp chứng nhận đặc xá có trách nhiệm liên hệ với Công an
cấp xã hoặc tổ chức, đơn vị quân đội để tiếp nhận người được đặc xá và gửi bản
sao chứng nhận đến Ủy ban nhân dân cấp xã nơi người đó sẽ về cư trú hoặc cơ
quan, tổ chức, đơn vị quân đội nơi người đó về làm việc.”;
g) Sửa đổi, bổ sung khoản
1 Điều 27 như sau:
“1. Chủ trì phối hợp với Tòa án nhân dân tối cao, Viện
kiểm sát nhân dân tối cao, Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, Bộ Tư
pháp và các cơ quan có liên quan kiểm tra hoạt động đặc xá tại các trại giam,
trại tạm giam, cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp tỉnh.”;
h) Sửa đổi, bổ sung khoản
2 Điều 29 như sau:
“2. Hướng dẫn, kiểm tra, đôn đốc Tòa án nhân dân cấp
tỉnh, Tòa án nhân dân khu vực, Tòa án quân sự cấp quân khu, Tòa án quân sự khu
vực lập danh sách, hồ sơ đề nghị đặc xá, tổ chức thực hiện Quyết định về đặc
xá, Quyết định đặc xá theo quy định của Luật này.”;
i) Sửa đổi, bổ sung khoản
1 Điều 31 như sau:
“1. Chỉ đạo cơ quan thi hành án dân sự phối hợp với trại
giam, trại tạm giam, cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp tỉnh, cơ quan thi
hành án hình sự cấp quân khu, Tòa án nhân dân cấp tỉnh, Tòa án nhân dân khu
vực, Tòa án quân sự cấp quân khu, Tòa án quân sự khu vực, Viện kiểm sát nhân
dân cấp tỉnh, Viện kiểm sát nhân dân khu vực, Viện kiểm sát quân sự cấp quân
khu, Viện kiểm sát quân sự khu vực trong việc:
a) Cung cấp thông tin,
giấy tờ có liên quan đến nghĩa vụ thi hành phần dân sự trong bản án, quyết định
hình sự của người đủ điều kiện được đề nghị đặc xá;
b) Nhận, chuyển giao giấy
tờ, tiền, tài sản mà người phải thi hành hình phạt tiền, tịch thu tài sản, bồi
thường thiệt hại và các nghĩa vụ dân sự khác đã nộp.”.
3. Sửa đổi, bổ sung, thay
thế, bãi bỏ một số điều, khoản, điểm của Luật Phòng, chống mua bán người số
53/2024/QH15 như sau:
a) Sửa đổi, bổ sung Điều
27 và Điều 28 như sau:
“Điều 27. Tiếp nhận, xác minh người đến trình báo
1. Người nào có căn cứ cho
rằng mình là nạn nhân hoặc người đại diện hợp pháp có căn cứ cho rằng người
được họ đại diện là nạn nhân thì đến Ủy ban nhân dân cấp xã, cơ quan Công an,
Bộ đội Biên phòng, Cảnh sát biển hoặc cơ quan, tổ chức nơi gần nhất trình báo
về việc bị mua bán. Cơ quan Công an, Bộ đội Biên phòng, Cảnh
sát biển, cơ quan, tổ chức tiếp nhận trình báo có trách nhiệm đưa ngay
người đó đến Ủy ban nhân dân cấp xã nơi cơ quan, tổ chức có trụ sở. Ủy ban nhân
dân cấp xã có trách nhiệm thông báo ngay với cơ quan chuyên môn về y tế cấp
tỉnh. Trong trường hợp cần thiết, Ủy ban nhân dân cấp xã đã tiếp nhận thực hiện
việc hỗ trợ theo quy định tại Chương V của Luật này.
2. Khi nhận được thông báo
của Ủy ban nhân dân cấp xã, cơ quan chuyên môn về y tế cấp tỉnh thực hiện ngay
việc tiếp nhận, hỗ trợ và chậm nhất là 03 ngày phải chủ trì, phối hợp với Công an
tỉnh, thành phố (sau đây gọi chung là Công an cấp tỉnh) xác minh thông tin ban
đầu.
Sau khi xác minh thông tin ban đầu, nếu chưa có giấy tờ,
tài liệu quy định tại khoản 1 Điều 33 của Luật này thì cơ quan chuyên môn về y
tế cấp tỉnh đề nghị Công an cấp tỉnh tiến hành xác minh nạn nhân.
3. Trong thời hạn 20 ngày
kể từ ngày nhận được đề nghị của cơ quan chuyên môn về y tế cấp tỉnh, Công an cấp
tỉnh có trách nhiệm xác minh nạn nhân và trả lời bằng văn bản cho cơ quan đã đề
nghị.
Đối với vụ việc phức tạp thì thời hạn xác minh nạn nhân
không quá 02 tháng; trường hợp chưa thể xác định được nạn nhân trong thời hạn
02 tháng thì thời hạn xác minh có thể kéo dài thêm, nhưng tổng thời hạn xác
minh không quá 04 tháng.
4. Ngay sau khi có kết quả
xác minh hoặc hết thời hạn theo quy định tại khoản 3 Điều này thì Công an cấp
tỉnh phải cấp một trong các giấy tờ quy định tại điểm a khoản 1 Điều 33 của
Luật này.
5. Sau khi tiếp nhận, cơ
quan chuyên môn về y tế cấp tỉnh thực hiện việc hỗ trợ cho nạn nhân, người đang
trong quá trình xác định là nạn nhân theo quy định tại Chương V của Luật này. Trường
hợp họ có nguyện vọng trở về nơi cư trú thì được hỗ trợ chi phí đi lại; nếu cần
được chăm sóc về sức khỏe, tâm lý hoặc chưa xác định được nơi cư trú mà có
nguyện vọng được lưu trú thì cơ quan chuyên môn về y tế cấp tỉnh chuyển giao
cho cơ sở trợ giúp xã hội hoặc cơ sở hỗ trợ nạn nhân.
Đối với nạn nhân, người đang trong quá trình xác định là
nạn nhân là trẻ em thì cơ quan chuyên môn về y tế cấp tỉnh có trách nhiệm thông
báo cho người thân thích đến nhận hoặc bố trí người đưa về nơi người thân thích
cư trú, trường hợp không có nơi nương tựa hoặc có căn cứ cho rằng họ có thể gặp
nguy hiểm khi đưa về nơi người thân thích cư trú thì chuyển giao cho cơ sở trợ
giúp xã hội hoặc cơ sở hỗ trợ nạn nhân.
6. Chính phủ quy định chi
tiết Điều này.
Điều 28. Tiếp nhận, xác minh nạn nhân được giải cứu
1. Cơ quan, đơn vị, người
có thẩm quyền trong Công an nhân dân, Quân đội nhân dân đã giải cứu nạn nhân
tiến hành sơ cứu, cấp cứu nếu họ bị thương tích, tổn hại sức khỏe, hỗ trợ nhu
cầu thiết yếu, hỗ trợ phiên dịch và đưa ngay người đó đến cơ quan chuyên môn về
y tế cấp tỉnh gần nơi họ được giải cứu.
Cơ quan giải cứu có trách nhiệm xác minh, cấp giấy xác
nhận theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 33 của Luật này cho người được giải
cứu; trường hợp chưa có đủ căn cứ xác định nạn nhân thì sau khi tiếp nhận, cơ
quan chuyên môn về y tế cấp tỉnh đề nghị Công an cấp tỉnh tiến hành xác minh
nạn nhân; thời hạn xác minh và cấp giấy xác nhận được thực hiện theo quy định
tại khoản 3 và khoản 4 Điều 27 của Luật này.
2. Sau khi tiếp nhận, cơ
quan chuyên môn về y tế cấp tỉnh thực hiện việc hỗ trợ đối với người được giải
cứu theo quy định tại khoản 5 Điều 27 và Chương V của Luật này.
3. Chính phủ quy định chi
tiết Điều này.”;
b) Sửa đổi, bổ sung Điều
30 và Điều 31 như sau:
“Điều 30. Tiếp nhận, xác minh nạn nhân từ nước ngoài trở
về
1. Việc tiếp nhận, xác
minh, hỗ trợ nạn nhân từ nước ngoài trở về qua cơ quan đại diện Việt Nam ở nước
ngoài được thực hiện như sau:
a) Cơ quan đại diện Việt
Nam ở nước ngoài tiếp nhận, xử lý thông tin, tài liệu về nạn nhân và phối hợp
với cơ quan có thẩm quyền của Bộ Công an trong việc xác minh nhân thân của nạn
nhân, cấp giấy tờ cần thiết, làm thủ tục đưa về nước;
b) Cơ quan có thẩm quyền
của Bộ Công an, Bộ Quốc phòng thực hiện việc tiếp nhận; tiến hành xác minh và
cấp một trong các giấy tờ, tài liệu xác nhận nạn nhân theo đề nghị của cơ quan
đại diện Việt Nam ở nước ngoài quy định tại khoản 3 Điều 29 của Luật này; thực
hiện hỗ trợ nhu cầu thiết yếu, hỗ trợ phiên dịch, hỗ trợ y tế trong trường hợp
cần thiết và đưa ngay người đó đến cơ quan chuyên môn về y tế cấp tỉnh nơi tiếp
nhận để thực hiện việc hỗ trợ theo quy định tại Chương V của Luật này.
Trường hợp họ có nguyện vọng trở về nơi cư trú thì được
hỗ trợ chi phí đi lại; nếu cần được chăm sóc về sức khỏe, tâm lý hoặc chưa xác
định được nơi cư trú mà có nguyện vọng được lưu trú thì chuyển giao họ cho cơ
sở trợ giúp xã hội hoặc cơ sở hỗ trợ nạn nhân.
Đối với nạn nhân là trẻ em thì cơ quan chuyên môn về y tế
cấp tỉnh có trách nhiệm thông báo cho người thân thích đến nhận hoặc bố trí
người đưa về nơi người thân thích cư trú, trường hợp không có nơi nương tựa
hoặc có căn cứ cho rằng họ có thể gặp nguy hiểm khi đưa về nơi người thân thích
cư trú thì làm thủ tục chuyển giao cho cơ sở trợ giúp xã hội hoặc cơ sở hỗ trợ
nạn nhân.
2. Việc tiếp nhận người
trở về Việt Nam theo thỏa thuận quốc tế song phương có liên quan về phòng,
chống mua bán người được thực hiện theo thỏa thuận đó.
Cơ quan đã tiếp nhận có trách nhiệm xác minh theo thời
hạn quy định tại khoản 3 Điều 27 và cấp một trong các giấy tờ, tài liệu theo
quy định tại khoản 1 Điều 33 của Luật này; thực hiện hỗ trợ nhu cầu thiết yếu,
hỗ trợ y tế, hỗ trợ phiên dịch trong trường hợp cần thiết và đưa ngay người đó
đến cơ quan chuyên môn về y tế cấp tỉnh nơi tiếp nhận để thực hiện việc hỗ trợ
theo quy định tại Chương V của Luật này.
3. Chính phủ quy định chi
tiết Điều này.
Điều 31. Tiếp nhận, xác minh, giải cứu và trao trả người
nước ngoài bị mua bán tại Việt Nam
1. Khi nhận được thông
tin, tài liệu về người nước ngoài bị mua bán tại Việt Nam do cơ quan có thẩm
quyền của nước ngoài, tổ chức quốc tế, cơ quan, tổ chức trong nước trao đổi
hoặc do người biết việc đến trình báo, cơ quan, tổ chức đã tiếp nhận thông tin,
tài liệu có trách nhiệm báo ngay cho Công an cấp tỉnh nơi người nước ngoài đang
có mặt để xác minh, giải cứu.
Trường hợp thông qua hoạt động nghiệp vụ mà phát hiện
người nước ngoài có dấu hiệu bị mua bán tại Việt Nam hoặc người nước ngoài đến
trình báo họ là nạn nhân bị mua bán thì cơ quan, đơn vị, người có thẩm quyền
trong Công an nhân dân, Quân đội nhân dân tiến hành giải cứu, xác minh.
Khi có đủ căn cứ xác định người được giải cứu, người tự
trình báo là nạn nhân thì cơ quan đã giải cứu, tiếp nhận trình báo cấp giấy xác
nhận quy định tại khoản 1 Điều 33 của Luật này trước khi chuyển giao.
2. Sau khi tiếp nhận hoặc
giải cứu người nước ngoài, cơ quan có thẩm quyền quy định tại khoản 1 Điều này
tiến hành sơ cứu, cấp cứu nếu họ bị thương tích, tổn hại sức khỏe; thực hiện
việc hỗ trợ nhu cầu thiết yếu, hỗ trợ phiên dịch và đưa người đó đến cơ quan
chuyên môn về y tế cấp tỉnh nơi cơ quan tiếp nhận có trụ sở hoặc nơi họ được
giải cứu.
3. Sau khi tiếp nhận người
nước ngoài bị mua bán tại Việt Nam, cơ quan chuyên môn về y tế cấp tỉnh tiến
hành hỗ trợ theo quy định tại Chương V của Luật này và thông báo cho cơ quan
chuyên môn về ngoại vụ cấp tỉnh, Phòng Quản lý xuất nhập cảnh Công an cấp tỉnh
thực hiện các công việc để trao trả về nước mà họ là công dân hoặc nước họ
thường trú.
4. Khi nhận được công hàm
của cơ quan đại diện nước ngoài tại Việt Nam mà nạn nhân là công dân hoặc là
người đang thường trú tại nước đó trả lời đồng ý nhận trở về, kèm theo giấy tờ
có giá trị xuất cảnh, nhập cảnh đã được cấp cho nạn nhân, cơ quan có thẩm quyền
của Bộ Ngoại giao có trách nhiệm thống nhất với phía nước ngoài về các vấn đề
để đưa nạn nhân về nước, sau đó thông báo bằng văn bản và chuyển giấy tờ xuất
cảnh, nhập cảnh của nạn nhân cho cơ quan có thẩm quyền của Bộ Công an.
5. Cơ quan có thẩm quyền
của Bộ Công an có trách nhiệm thực hiện cấp thị thực, chứng nhận tạm trú cho
nạn nhân, thông báo kế hoạch đưa nạn nhân về nước cho Phòng Quản lý xuất nhập
cảnh Công an cấp tỉnh, cơ quan chuyên môn về y tế cấp tỉnh nơi đang lưu giữ nạn
nhân, Công an cửa khẩu sân bay quốc tế hoặc Bộ đội Biên phòng cửa khẩu nơi nạn
nhân sẽ xuất cảnh, cơ quan đại diện nước ngoài tại Việt Nam mà nạn nhân là công
dân hoặc thường trú, các tổ chức quốc tế có liên quan để phối hợp đưa nạn nhân
về nước.
6. Cơ quan chuyên môn về y
tế cấp tỉnh nơi lưu giữ nạn nhân chỉ đạo cơ sở trợ giúp xã hội hoặc cơ sở hỗ
trợ nạn nhân đưa nạn nhân tới cửa khẩu và phối hợp với các cơ quan liên quan
thực hiện việc đưa nạn nhân về nước.
7. Chính phủ quy định chi
tiết Điều này.”;
c) Sửa đổi, bổ sung điểm a
khoản 2 Điều 33 như sau:
“a) Công an cấp tỉnh quy định tại khoản 4 Điều 27 và
khoản 1 Điều 28 của Luật này;”;
d) Sửa đổi, bổ sung khoản
4 Điều 46 như sau:
“4. Cơ quan chuyên môn về y tế cấp tỉnh thực hiện hỗ trợ
chi phí đi lại, hỗ trợ phiên dịch, hỗ trợ y tế, hỗ trợ tâm lý, hỗ trợ học văn
hóa, học nghề, tư vấn, tạo điều kiện để có việc làm, trợ cấp khó khăn ban đầu,
hỗ trợ vay vốn.”;
đ) Sửa đổi, bổ sung Điều 53 như sau:
“Điều 53. Trách nhiệm của Bộ Y tế
1. Ban hành theo thẩm
quyền hoặc trình cơ quan có thẩm quyền ban hành văn bản quy phạm pháp luật về
chính sách hỗ trợ nạn nhân, người đang trong quá trình xác định là nạn nhân.
2. Hướng dẫn, quản lý,
kiểm tra công tác hỗ trợ nạn nhân, người đang trong quá trình xác định là nạn
nhân.
3. Hướng dẫn về điều trị y
tế, hỗ trợ tâm lý.
4. Thực hiện công tác tiếp
nhận thông tin, tin báo, tố giác về mua bán người tới tổng đài điện thoại quốc
gia về phòng, chống mua bán người.
5. Chủ trì phối hợp với Bộ
Công an hướng dẫn cơ sở khám bệnh, chữa bệnh phát hiện, báo cáo, cung cấp thông
tin trường hợp có dấu hiệu mua bán người, mua bán bộ phận cơ thể người, thỏa
thuận mua bán người từ khi còn đang là bào thai.
6. Thực hiện hợp tác quốc
tế trong phòng, chống mua bán người theo thẩm quyền.”;
e) Thay thế cụm từ “xã,
phường, thị trấn” bằng cụm từ “xã, phường, đặc khu” tại khoản 1 Điều 22;
g) Bỏ cụm từ “, thanh tra”
tại khoản 2 Điều 55;
4. Sửa đổi, bổ sung, thay
thế, bãi bỏ một số điều, khoản, điểm của Luật Công an nhân dân số 37/2018/QH14 đã
được sửa đổi, bổ sung một số điều theo Luật số 21/2023/QH15, Luật số
30/2023/QH15, Luật số 38/2024/QH15 và Luật số 52/2024/QH15 như sau:
a) Sửa đổi, bổ sung các
khoản 5, 6 và 7 Điều 16 như sau:
“5. Thực hiện quản lý về bảo vệ an ninh quốc gia, bảo vệ
bí mật nhà nước; chủ trì thực hiện quản lý về nhập cảnh, xuất cảnh, quá cảnh,
cư trú của người nước ngoài tại Việt Nam; quản lý xuất cảnh, nhập cảnh của công
dân Việt Nam theo quy định của pháp luật; kiểm soát nhập cảnh, xuất cảnh, quá cảnh
tại các cửa khẩu theo quy định của pháp luật; chủ trì quản lý và thực hiện bảo
đảm an ninh hàng không; thực hiện nhiệm vụ bảo vệ an ninh quốc gia, bảo đảm
trật tự, an toàn xã hội ở khu vực biên giới, cửa khẩu theo quy định của pháp
luật; phối hợp với Quân đội nhân dân, các ngành hữu quan và chính quyền địa
phương trong hoạt động quản lý, bảo vệ biên giới quốc gia, cửa khẩu, hải đảo,
vùng biển, vùng trời theo quy định của pháp luật, điều ước quốc tế mà nước Cộng
hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên và thỏa thuận quốc tế có liên quan.
6. Thực hiện quản lý về an
toàn thông tin mạng, an ninh mạng, bảo vệ an ninh mạng và phòng, chống tội phạm
mạng theo quy định của pháp luật.
7. Thực hiện quản lý về
công tác điều tra và phòng, chống tội phạm. Chủ trì thực hiện nhiệm vụ phòng,
chống khủng bố, bạo loạn và giải quyết các tình huống phức tạp về an ninh quốc
gia, trật tự, an toàn xã hội theo quy định của pháp luật. Chủ động phòng ngừa,
phát hiện, ngăn chặn, đấu tranh chống tội phạm và vi phạm pháp luật về trật tự,
an toàn xã hội, bảo vệ môi trường, tài nguyên và an toàn thực phẩm có liên quan
đến môi trường; tiếp nhận, giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị
khởi tố; khởi tố, điều tra tội phạm theo quy định của pháp luật; thực hiện công
tác thống kê hình sự; phát hiện nguyên nhân, điều kiện phát sinh tội phạm, vi
phạm pháp luật về trật tự, an toàn xã hội, về bảo vệ môi trường và kiến nghị
biện pháp khắc phục; thực hiện công tác cai nghiện ma túy và quản lý sau cai
nghiện ma túy; giáo dục đối tượng vi phạm pháp luật tại cộng đồng theo quy định
của pháp luật.”;
b) Sửa đổi, bổ sung khoản
10 Điều 16 như sau:
“10. Thực hiện quản lý về cư trú, cơ sở dữ liệu quốc gia
về dân cư, cơ sở dữ liệu căn cước, cơ sở dữ liệu lý lịch tư pháp, con dấu, trật
tự, an toàn giao thông, trật tự công cộng, vũ khí, vật liệu nổ, tiền chất thuốc
nổ, công cụ hỗ trợ, phòng cháy, chữa cháy và cứu nạn, cứu hộ theo quy định của
pháp luật; cấp, quản lý thẻ căn cước và giấy tờ tùy thân khác; thực hiện quản
lý về lý lịch tư pháp và thực hiện dịch vụ công cấp Phiếu lý lịch tư pháp; đăng
ký, cấp, quản lý biển số phương tiện giao thông cơ giới đường bộ; thực hiện
quản lý về sát hạch, cấp giấy phép lái xe; thực hiện công tác phòng cháy, chữa
cháy, cứu nạn, cứu hộ và thực hiện quản lý về an ninh, trật tự đối với các
ngành, nghề đầu tư kinh doanh có điều kiện theo quy định của pháp luật.”;
c) Sửa đổi, bổ sung khoản
1 Điều 17 như sau:
“1. Hệ thống tổ chức của Công an nhân dân bao gồm:
c) Công an xã, phường, đặc
khu;
d) Công an tại đơn vị hành
chính - kinh tế đặc biệt.”;
d) Sửa đổi, bổ sung khoản
2 Điều 18 như sau:
“2. Bộ trưởng Bộ Công an quy định chức năng, nhiệm vụ,
quyền hạn, tổ chức bộ máy của đơn vị trực thuộc Bộ, Công an tỉnh, thành phố,
Công an xã, phường, đặc khu và các đơn vị còn lại trong Công an nhân dân.”;
đ) Sửa đổi, bổ sung điểm d và điểm đ khoản 1 Điều 24 như
sau:
“d) Trưởng phòng; Trung đoàn trưởng;
đ) Đội trưởng; Trưởng Công an xã, phường, đặc khu; Tiểu
đoàn trưởng;”;
e) Bổ sung khoản 3a vào
sau khoản 3 Điều 33 như sau:
“3a. Nhà
nước bố trí đất từ quỹ đất dành để phát triển nhà ở xã hội theo quy định của
pháp luật về nhà ở và thu hồi đất theo quy định của pháp luật về đất đai để bàn
giao cho Bộ Công an làm cơ quan chủ quản, quyết định, chấp thuận chủ trương đầu
tư, lựa chọn nhà đầu tư để triển khai thực hiện dự án đầu tư, xây dựng nhà ở xã
hội theo quy định của pháp luật về nhà ở và quy định khác của pháp luật có liên
quan phù hợp với nhu cầu của Bộ Công an.”;
g) Sửa đổi, bổ sung khoản
6 Điều 38 như sau:
“6. Sĩ quan nghiệp vụ và sĩ quan chuyên môn kỹ thuật được
hưởng chính sách về đất ở, phụ cấp nhà ở, được bảo đảm nhà ở công vụ; sĩ quan,
hạ sĩ quan, chiến sĩ Công an nhân dân được hưởng chính sách nhà ở xã hội theo
quy định của pháp luật.”;
h) Thay thế cụm từ “Công
an tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương” bằng cụm từ “Công an tỉnh, thành phố”
tại điểm c khoản 1 Điều 24;
i) Thay thế cụm từ “Ủy ban
Quốc phòng và An ninh” thành cụm từ “Ủy ban Quốc phòng, An ninh và Đối ngoại”
tại điểm b khoản 1 Điều 25;
k) Bãi bỏ khoản 2 Điều 17.
Điều 3. Hiệu lực thi hành
Luật này có hiệu lực thi hành từ ngày 01 tháng 7 năm
2025.
Điều 4. Điều khoản chuyển tiếp
1. Kể từ ngày 01 tháng 7
năm 2025, Luật này được áp dụng như sau:
a) Các quy định tại Điều 1 của Luật này được áp dụng để
khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử và thi hành án đối với người thực hiện hành
vi phạm tội từ 0 giờ 00 phút ngày 01 tháng 7 năm 2025;
b) Quy định có lợi cho
người phạm tội tại các điều 40, 63, 109, 110, 114, 194, 248, 250, 251, 353, 354
và 421 của Bộ luật Hình sự số 100/2015/QH13 đã được sửa đổi, bổ sung một số
điều theo Luật số 12/2017/QH14 và Luật số 59/2024/QH15 (sau đây gọi là Bộ luật
Hình sự) được sửa đổi, bổ sung tại các khoản 1, 4, 5, 6, 7, 10, 18, 22, 23 và
29 Điều 1 của Luật này và các quy định khác có lợi cho người phạm tội thì được
áp dụng đối với cả những hành vi phạm tội xảy ra trước 0 giờ 00 phút ngày 01
tháng 7 năm 2025 mà sau thời điểm đó mới bị phát hiện hoặc đang bị điều tra,
truy tố, xét xử;
c) Quy định không có lợi
cho người phạm tội tại các điều 63, 192, 193, 194, 195, 235, 236, 237, 238,
239, 240, 241, 242, 243, 244, 245, 246, 248, 249, 250, 251, 252, 255, 317, 353,
354, 355, 356, 357, 358 và 359 của Bộ luật Hình sự được sửa đổi, bổ sung tại
các khoản 4, 8, 9, 10, 11, 12, 13, 14, 15, 16, 17, 18, 19, 21, 22, 23, 24, 25,
26, 27 và 28 Điều 1 của Luật này và các quy định khác không có lợi cho người
phạm tội thì không áp dụng đối với những hành vi xảy ra trước 0 giờ 00 phút
ngày 01 tháng 7 năm 2025 mà sau thời điểm đó mới phát hiện hoặc đang bị điều
tra, truy tố, xét xử hoặc đối với người đang được xét giảm thời hạn chấp hành
hình phạt, xóa án tích; trong trường hợp này, áp dụng quy định tương ứng của
các văn bản quy phạm pháp luật về hình sự có hiệu lực trước 0 giờ 00 phút ngày
01 tháng 7 năm 2025 để giải quyết, trừ trường hợp quy định tại khoản 4 Điều
này;
d) Đối với những hành vi
phạm tội đã có bản án, quyết định của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật trước 0
giờ 00 phút ngày 01 tháng 7 năm 2025 thì không căn cứ vào những quy định của
Luật này có nội dung khác so với các điều luật đã được áp dụng khi tuyên án để
kháng nghị giám đốc thẩm; trường hợp kháng nghị dựa vào căn cứ khác hoặc đã
kháng nghị trước ngày 01 tháng 7 năm 2025 thì việc xét xử giám đốc thẩm được áp
dụng quy định tại điểm b và điểm c khoản này.
2. Hình phạt tử hình đã
tuyên trước ngày 01 tháng 7 năm 2025 đối với người phạm tội về các tội quy định
tại các điều 109, 110, 114, 194, 250, 353, 354 và 421 của Bộ luật Hình sự hoặc
thuộc trường hợp quy định tại điểm c khoản 3 Điều 40 của Bộ luật Hình sự được
sửa đổi, bổ sung tại khoản 1 Điều 1 của Luật này mà chưa thi hành án thì không
thi hành và Chánh án Tòa án nhân dân tối cao quyết định chuyển hình phạt tử
hình thành tù chung thân.
3. Hình phạt tử hình đã
tuyên trước ngày 01 tháng 7 năm 2025 đối với người phạm tội về các tội quy định
tại Điều 248 hoặc Điều 251 của Bộ luật Hình sự mà chưa thi hành án thì không
thi hành và Chánh án Tòa án nhân dân tối cao quyết định chuyển hình phạt tử
hình thành tù chung thân đối với các trường hợp sau:
a) Khối lượng, thể tích chất ma túy được xác định trong
bản án để quyết định hình phạt bằng hoặc thấp hơn khối lượng, thể tích chất ma
túy thấp nhất quy định tại khoản 5 Điều 248 hoặc khoản 5 Điều 251 của Bộ luật
Hình sự được sửa đổi, bổ sung tại khoản 18 Điều 1 của Luật này;
b) Khối lượng, thể tích chất ma túy được xác định trong
bản án để quyết định hình phạt lớn hơn khối lượng, thể tích chất ma túy thấp
nhất quy định tại khoản 5 Điều 248 hoặc khoản 5 Điều 251 của Bộ luật Hình sự
được sửa đổi, bổ sung tại khoản 18 Điều 1 của Luật này mà người phạm tội không
phải là người chủ mưu, cầm đầu, chỉ huy hoặc không có 02 tình tiết tăng nặng
trở lên.
4. Người phạm tội về các
tội quy định tại Điều 353 và Điều 354 của Bộ luật Hình sự mà theo quy định tại
khoản 2 Điều này được chuyển thành tù chung thân thì vẫn áp dụng quy định tại điểm
a khoản 4 Điều 1 của Luật này khi xét giảm mức hình phạt đã tuyên.
5. Hình phạt tù chung thân
đã tuyên trước ngày 01 tháng 7 năm 2025 khi xét giảm mức hình phạt đã tuyên đối
với người phạm tội về các tội quy định tại Điều 353 và Điều 354 của Bộ luật
Hình sự thì không áp dụng quy định tại điểm a khoản 4 Điều 1 của Luật này khi
xét giảm mức hình phạt đã tuyên.
6. Trách nhiệm triển khai,
thi hành Luật này được quy định như sau:
a) Giao Tòa án nhân dân
tối cao chủ trì, phối hợp với Bộ Công an, Bộ Quốc phòng, Viện kiểm sát nhân dân
tối cao và các cơ quan có liên quan tổ chức việc rà soát người bị kết án tử
hình thuộc diện được chuyển tử hình phạt tử hình thành tù chung thân để thực
hiện theo quy định tại khoản 2 và khoản 3 Điều này;
b) Chính phủ, Tòa án nhân
dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, trong phạm vi chức năng, nhiệm vụ,
quyền hạn của mình, phối hợp tổ chức rà soát các văn bản có liên quan để kịp
thời hủy bỏ, sửa đổi, bổ sung hoặc ban hành mới hoặc đề nghị Quốc hội, Ủy ban
Thường vụ Quốc hội hủy bỏ, sửa đổi, bổ sung hoặc ban hành mới văn bản quy phạm
pháp luật cho phù hợp với quy định của Luật này.
_____________________________________________________________
Luật này được Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa
Việt Nam khóa XV, Kỳ họp thứ 9 thông qua ngày 25 tháng 6 năm 2025.
|
|
CHỦ TỊCH QUỐC HỘI |
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét