|
QUỐC HỘI |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ
NGHĨA VIỆT NAM |
LUẬT
NĂNG LƯỢNG NGUYÊN TỬ
Căn cứ Hiến pháp nước Cộng
hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam đã được sửa đổi, bổ sung một số điều theo
Nghị quyết số 203/2025/QH15;
Quốc hội ban hành Luật
Năng lượng nguyên tử.
Chương I
NHỮNG QUY ĐỊNH CHUNG
Điều 1. Phạm vi điều chỉnh
Luật
này quy định về phát triển, ứng dụng năng lượng nguyên tử; an toàn bức xạ, bảo
vệ bức xạ, an toàn hạt nhân và an ninh hạt nhân; nhà máy điện hạt nhân, lò phản
ứng hạt nhân nghiên cứu; ứng phó sự cố bức xạ, sự cố hạt nhân, bồi thường thiệt
hại bức xạ, thiệt hại hạt nhân; thanh sát hạt nhân và quản lý nhà nước trong
lĩnh vực năng lượng nguyên tử.
Điều 2. Đối tượng áp dụng
Luật
này áp dụng đối với tổ chức, cá nhân trong nước, người Việt Nam định cư ở nước
ngoài, tổ chức, cá nhân nước ngoài, tổ chức quốc tế tiến hành hoạt động trong
lĩnh vực năng lượng nguyên tử tại Việt Nam.
Điều 3. Áp dụng Luật
Năng lượng nguyên tử
1.
Trường hợp luật, nghị quyết của Quốc hội ban hành trước ngày Luật này có hiệu lực
thi hành có quy định cụ thể về năng lượng nguyên tử mà không trái với nguyên tắc
bảo đảm an toàn bức xạ, an toàn hạt nhân và an ninh hạt nhân quy định tại Điều
6 của Luật này thì áp dụng quy định của luật, nghị quyết đó.
2.
Trường hợp luật, nghị quyết của Quốc hội ban hành sau ngày Luật này có hiệu lực
thi hành có quy định về năng lượng nguyên tử thì phải xác định cụ thể nội dung
thực hiện theo quy định của Luật này, nội dung thực hiện theo quy định của luật,
nghị quyết đó và phải tuân thủ quy định tại Điều 6 của Luật này.
Điều 4. Giải thích từ
ngữ
Trong
Luật này, các từ ngữ dưới đây được hiểu như sau:
1.
An toàn bức xạ là việc thực hiện biện
pháp bảo đảm an toàn nguồn bức xạ, chống lại tác hại của bức xạ, ngăn ngừa sự cố
hoặc giảm thiểu hậu quả của chiếu xạ đối với con người, môi trường.
2.
An toàn hạt nhân là việc thực hiện biện
pháp bảo đảm tuân thủ điều kiện vận hành, ngăn ngừa sự cố hoặc giảm thiểu hậu
quả sự cố do thiết bị hạt nhân, vật liệu hạt nhân gây ra cho con người, môi trường.
3.
An ninh hạt nhân là việc phòng ngừa,
phát hiện, ứng phó với hành vi
trộm
cắp, phá hoại, xâm nhập trái phép, vận chuyển và chuyển giao bất hợp pháp hoặc
hành vi gây nguy hại khác liên quan đến nguồn phóng xạ, vật liệu hạt nhân và
thiết bị hạt nhân hoặc cơ sở quản lý, sử dụng, vận hành chúng.
4.
An ninh nguồn phóng xạ là việc thực
hiện biện pháp phòng ngừa, phát hiện, ứng phó với hành vi trộm cắp, phá hoại,
tiếp cận, vận chuyển và chuyển giao bất hợp pháp hoặc hành vi gây nguy hại khác
liên quan đến nguồn phóng xạ.
5.
Bảo vệ bức xạ là việc bảo vệ con người
khỏi tác hại của bức xạ ion hóa và biện pháp để đạt được điều này.
6.
Bức xạ ion hóa (sau đây gọi là bức xạ)
là chùm hạt hoặc sóng điện từ có khả năng ion hóa vật chất.
7.
Chiếu xạ là sự tác động của bức xạ
vào con người, môi trường, động vật, thực vật hoặc đối tượng vật chất khác.
8.
Chất phóng xạ là chất phát ra bức xạ
do quá trình phân rã phóng xạ của hạt nhân nguyên tử và có nồng độ hoạt độ
phóng xạ, tổng hoạt độ phóng xạ lớn hơn mức thanh lý theo quy định của pháp luật.
9.
Chất thải phóng xạ là chất thải chứa
chất phóng xạ hoặc vật thể bị nhiễm bẩn phóng xạ phải thải bỏ.
10.
Chu trình nhiên liệu hạt nhân là các
hoạt động liên quan đến việc tạo ra năng lượng hạt nhân, bao gồm: khai thác, chế
biến quặng urani hoặc thori; làm giàu urani; chế tạo nhiên liệu hạt nhân; sử dụng
nhiên liệu trong lò phản ứng hạt nhân; tái chế nhiên liệu hạt nhân đã qua sử dụng
đến hoạt động xử lý, lưu giữ, chôn cất chất thải phóng xạ, nhiên liệu hạt nhân
đã qua sử dụng sinh ra từ việc tạo ra năng lượng hạt nhân và hoạt động nghiên cứu,
phát triển có liên quan.
11.
Cơ quan an toàn bức xạ và hạt nhân quốc
gia là cơ quan chuyên môn giúp cơ quan ở trung ương làm đầu mối thực hiện
quản lý nhà nước trong lĩnh vực năng lượng nguyên tử quản lý và thực thi nhiệm
vụ quản lý nhà nước về an toàn bức xạ, an toàn hạt nhân và an ninh hạt nhân,
thanh sát hạt nhân và chức năng, nhiệm vụ khác theo quy định của Luật này và
quy định khác của pháp luật có liên quan.
12.
Hoạt độ phóng xạ là đại lượng biểu thị
số lượng hạt nhân phân rã phóng xạ trong một đơn vị thời gian.
13.
Hoạt động trong lĩnh vực năng lượng
nguyên tử là hoạt động đào tạo, nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ
trong lĩnh vực năng lượng nguyên tử; thiết kế, xây dựng, vận hành thử, vận hành
và chấm dứt hoạt động cơ sở hạt nhân, cơ sở bức xạ; thăm dò, khai thác, chế biến,
đóng cửa mỏ khoáng sản có tính phóng xạ; sản xuất, lưu giữ, sử dụng, vận chuyển,
chuyển giao, chuyển nhượng, xuất khẩu, nhập khẩu nguồn phóng xạ, thiết bị bức xạ,
nhiên liệu hạt nhân, vật liệu hạt nhân nguồn, vật liệu hạt nhân và thiết bị hạt
nhân; quản lý chất thải phóng xạ, nguồn phóng xạ đã qua sử dụng, nhiên liệu hạt
nhân đã qua sử dụng và dịch vụ hỗ trợ ứng dụng năng lượng nguyên tử.
14.
Kiểm xạ là việc đo liều, suất liều
chiếu xạ hoặc nồng độ hoạt độ phóng xạ, tổng hoạt độ phóng xạ, mức nhiễm bẩn
phóng xạ ở một khu vực và môi trường xung quanh để đánh giá hoặc kiểm soát mức
độ chiếu xạ và luận giải kết quả đo.
15.
Liều chiếu xạ là một đại lượng đo
năng lượng bức xạ được truyền vào và hấp thụ bởi một vật thể hoặc mô sống.
16.
Lò phản ứng hạt nhân là hệ thống được
thiết kế, chế tạo để tạo ra phản ứng phân hạch dây chuyền tự duy trì, có kiểm
soát.
17.
Lò phản ứng hạt nhân nghiên cứu là lò
phản ứng hạt nhân để tạo ra nơtron, bức xạ khác sử dụng cho mục đích nghiên cứu,
phát triển, ứng dụng bức xạ, giáo dục và đào tạo.
18.
Mức miễn trừ khai báo, cấp phép là
giá trị nồng độ hoạt độ phóng xạ, tổng hoạt độ phóng xạ, suất liều hoặc năng lượng
bức xạ được cơ quan có thẩm quyền quy định mà từ mức đó trở xuống thì nguồn bức
xạ không bắt buộc phải khai báo, cấp phép.
19.
Mức thanh lý là giá trị nồng độ hoạt
độ phóng xạ hoặc tổng hoạt độ phóng xạ của các nhân phóng xạ trong chất phóng xạ
mà từ giá trị đó trở xuống sẽ được coi là không gây nguy hại bức xạ cho con người,
môi trường và không còn được quản lý như chất phóng xạ.
20.
Năng lượng hạt nhân là năng lượng được
giải phóng trong quá trình biến đổi hạt nhân, bao gồm năng lượng phân hạch,
năng lượng nhiệt hạch, năng lượng do phân rã chất phóng xạ.
21.
Năng lượng nguyên tử là năng lượng hạt
nhân, năng lượng bức xạ điện từ và năng lượng các hạt được gia tốc có khả năng
ion hóa vật chất.
22.
Người phụ trách an toàn bức xạ là người
được người đứng đầu tổ chức, cá nhân tiến hành công việc bức xạ giao trách nhiệm
quản lý công tác bảo đảm an toàn bức xạ tại cơ sở, thực hiện đầy đủ quy định của
pháp luật về an toàn bức xạ.
23.
Nhân viên bức xạ là cá nhân làm công
việc trực tiếp với thiết bị bức xạ, thiết bị hạt nhân hoặc vật liệu phóng xạ hoặc
trong môi trường làm việc có khả năng bị chiếu xạ với mức liều hiệu dụng hằng
năm lớn hơn 1 miliSivơ không bao gồm phông nền phóng xạ tự nhiên.
24.
Nhà máy điện hạt nhân là nhà máy điện
sử dụng một hoặc nhiều lò phản ứng hạt nhân để chuyển đổi năng lượng hạt nhân
thành năng lượng điện.
25.
Nhiên liệu hạt nhân là vật liệu hạt
nhân được chế tạo làm nhiên liệu cho lò phản ứng hạt nhân.
26.
Nhiên liệu hạt nhân đã qua sử dụng là
nhiên liệu đã được chiếu xạ và được di dời vĩnh viễn khỏi vùng hoạt lò phản ứng.
27.
Nguồn bức xạ là nguồn phóng xạ hoặc
thiết bị bức xạ.
28.
Nguồn phóng xạ là chất phóng xạ được
chế tạo để sử dụng, không bao gồm vật liệu hạt nhân.
29.
Tổ máy điện hạt nhân là tổ hợp bao gồm
một lò phản ứng hạt nhân để tạo ra năng lượng phân hạch, tua bin, máy phát điện
và các thiết bị phụ trợ khác nhằm chuyển năng lượng phân hạch thành nhiệt năng,
điện năng.
30.
Thanh sát hạt nhân là việc kiểm soát
sử dụng vật liệu hạt nhân, vật liệu hạt nhân nguồn, vật liệu và thiết bị sử dụng
trong chu trình nhiên liệu hạt nhân và hoạt động khác có liên quan nhằm ngăn chặn
phổ biến vũ khí hạt nhân, vận chuyển và sử dụng bất hợp pháp vật liệu hạt nhân,
vật liệu hạt nhân nguồn, vật liệu và thiết bị trong chu trình nhiên liệu hạt
nhân.
31.
Thiết bị bức xạ là thiết bị phát ra bức
xạ hoặc có khả năng phát ra bức xạ, được sử dụng cho mục đích nhất định.
32.
Thiết bị hạt nhân là lò phản ứng hạt
nhân, thiết bị chuyển hóa, làm giàu urani, thiết bị chế tạo nhiên liệu hạt nhân
hoặc thiết bị xử lý nhiên liệu hạt nhân đã qua sử dụng.
33.
Văn hóa an toàn là hệ thống chuẩn mực,
quy tắc và hành vi được hình thành và phát triển của tổ chức, cá nhân nhằm bảo
đảm an toàn bức xạ và an toàn hạt nhân luôn được đặt lên hàng đầu.
34.
Văn hóa an ninh là hệ thống chuẩn mực,
quy tắc và hành vi được hình thành và phát triển của tổ chức, cá nhân nhằm bảo
vệ vật liệu phóng xạ, thiết bị hạt nhân, cơ sở hạt nhân và thông tin liên quan
khỏi các mối đe dọa về an ninh.
35.
Vật liệu hạt nhân là plutoni, trừ loại
có hàm lượng đồng vị plutoni-238 trên 80%; urani-233; urani giàu đồng vị 235 hoặc
233; urani chứa hỗn hợp các đồng vị có tỷ lệ như urani tự nhiên nhưng không phải
loại urani ở dạng quặng hoặc bã quặng; bất kỳ vật liệu nào chứa một hay nhiều
loại kể trên.
36.
Vật liệu hạt nhân nguồn là một trong
các vật liệu sau đây: urani, thori dưới dạng quặng hoặc đuôi quặng; urani chứa
thành phần đồng vị urani-235 ít hơn urani tự nhiên; quặng chứa thori, urani bằng
hoặc lớn hơn 0,05% tính theo trọng lượng; hợp chất của thori và urani khác chưa
đủ hàm lượng để được xác định là vật liệu hạt nhân.
37.
Vật liệu phóng xạ là chất phóng xạ, vật
liệu hạt nhân, vật liệu hạt nhân nguồn, chất thải phóng xạ.
38.
Vật thể bị nhiễm bẩn phóng xạ là vật
thể có chất phóng xạ bám trên bề mặt hoặc trong thành phần của nó một cách
không mong muốn có nồng độ hoạt độ phóng xạ hoặc tổng hoạt độ phóng xạ lớn hơn
mức thanh lý theo quy định của pháp luật.
Điều 5. Chính sách của
Nhà nước trong lĩnh vực năng lượng nguyên tử
1.
Chính sách của Nhà nước trong lĩnh vực năng lượng nguyên tử bao gồm:
a)
Đẩy mạnh phát triển, ứng dụng năng lượng nguyên tử vì mục đích hòa bình, phục vụ
phát triển kinh tế - xã hội, bảo vệ môi trường, nâng cao chất lượng đời sống
Nhân dân; góp phần bảo đảm an ninh năng lượng, phát triển bền vững đất nước
trên cơ sở khai thác tối ưu mọi nguồn lực trong nước và ngoài nước;
b)
Ưu tiên đầu tư, đa dạng hóa nguồn vốn cho phát triển, ứng dụng năng lượng
nguyên tử;
c)
Bảo đảm ngân sách nhà nước cho nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ
trong lĩnh vực năng lượng nguyên tử; xây dựng và vận hành mạng lưới quan trắc
và cảnh báo phóng xạ môi trường quốc gia; đầu tư xây dựng địa điểm lưu giữ, xử
lý, chôn cất chất thải phóng xạ, nguồn phóng xạ đã qua sử dụng và nhiên liệu hạt
nhân đã qua sử dụng cấp quốc gia;
d)
Nâng cao năng lực và hiệu quả bảo đảm an toàn bức xạ, an toàn hạt nhân và an
ninh hạt nhân trong phát triển, ứng dụng năng lượng nguyên tử; quản lý chất thải
phóng xạ; chuẩn bị sẵn sàng ứng phó sự cố bức xạ, sự cố hạt nhân;
đ)
Có cơ chế ưu đãi về đào tạo, bồi dưỡng, thu hút, sử dụng, trọng dụng nguồn nhân
lực; đầu tư cơ sở vật chất - kỹ thuật, trang thiết bị và phòng thí nghiệm cho
cơ sở nghiên cứu, đào tạo trong lĩnh vực năng lượng nguyên tử;
e)
Ưu tiên chuyển giao và áp dụng công nghệ tiên tiến, công nghệ cao, công nghệ
thân thiện môi trường trong lĩnh vực năng lượng nguyên tử; tăng cường năng lực
chế tạo và nội địa hóa trang thiết bị trong lĩnh vực năng lượng nguyên tử; từng
bước nâng cao tỷ lệ nội địa hóa trong xây dựng và chế tạo thiết bị, tiến tới
làm chủ công nghệ điện hạt nhân;
g)
Bảo đảm, tăng cường năng lực, nguồn nhân lực, tài chính, cơ sở vật chất - kỹ
thuật cho cơ quan an toàn bức xạ và hạt nhân quốc gia và hệ thống cơ quan quản
lý nhà nước về an toàn bức xạ, an toàn hạt nhân và an ninh hạt nhân;
h)
Đầu tư, phát triển đồng bộ cơ sở hạ tầng, văn hóa, giáo dục, y tế, phúc lợi xã
hội tại địa phương có cơ sở hạt nhân;
i)
Tăng cường hội nhập, hợp tác quốc tế và thực hiện cam kết quốc tế trong lĩnh vực
năng lượng nguyên tử mà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên.
Tạo điều kiện cho tổ chức, cá nhân trong nước, người Việt Nam định cư ở nước
ngoài, tổ chức, cá nhân nước ngoài, tổ chức quốc tế hợp tác trong lĩnh vực năng
lượng nguyên tử phục vụ phát triển kinh tế - xã hội;
k)
Đẩy mạnh thông tin, tuyên truyền, nâng cao nhận thức, tạo sự đồng thuận trong
xã hội về phát triển, ứng dụng năng lượng nguyên tử và thúc đẩy văn hóa an
toàn, văn hóa an ninh.
2.
Chính phủ quy định chi tiết Điều này.
Điều 6. Nguyên tắc bảo
đảm an toàn bức xạ, an toàn hạt nhân và an ninh hạt nhân
1.
Tổ chức, cá nhân tiến hành công việc bức xạ, xây dựng cơ sở bức xạ, xây dựng cơ
sở hạt nhân chịu trách nhiệm chính về bảo đảm an toàn bức xạ, an toàn hạt nhân
và an ninh hạt nhân; xây dựng, duy trì và thúc đẩy văn hóa an toàn, văn hóa an
ninh.
2.
Bảo đảm để lợi ích do công việc bức xạ mang lại phải lớn hơn những rủi ro, thiệt
hại có thể gây ra cho con người, tài sản, xã hội và môi trường; bảo vệ thế hệ
hiện tại và tương lai.
3.
Bảo đảm liều chiếu xạ đối với công chúng và nhân viên bức xạ không vượt quá giới
hạn cho phép theo quy định của pháp luật về năng lượng nguyên tử; bảo vệ bức xạ
phải được tối ưu hóa để bảo đảm mức độ an toàn cao nhất có thể đạt được một
cách hợp lý.
4.
Chuẩn bị sẵn sàng nguồn lực và kế hoạch ứng phó sự cố bức xạ, sự cố hạt nhân;
áp dụng biện pháp giảm thiểu tác hại của bức xạ khi xảy ra sự cố bức xạ, sự cố
hạt nhân; bảo đảm trách nhiệm giải trình của cơ quan quản lý nhà nước trong xử
lý sự cố bức xạ, sự cố hạt nhân.
5.
Bảo đảm quyền tiếp cận của người dân, cộng đồng dân cư với thông tin về an toàn
bức xạ, an toàn hạt nhân và an ninh hạt nhân; chuẩn bị và ứng phó sự cố bức xạ,
sự cố hạt nhân theo quy định của pháp luật.
Điều 7. Chuyển đổi số
trong lĩnh vực năng lượng nguyên tử
1.
Nhà nước thúc đẩy chuyển đổi số toàn diện về an toàn bức xạ, an toàn hạt nhân
và an ninh hạt nhân, phát triển, ứng dụng năng lượng nguyên tử, bảo đảm tính
công khai, minh bạch, liên thông, đồng bộ và kịp thời trong việc thu thập, xử
lý, khai thác và chia sẻ thông tin, dữ liệu nhằm nâng cao hiệu lực, hiệu quả hoạt
động trong lĩnh vực năng lượng nguyên tử.
2.
Nền tảng số về an toàn bức xạ, an toàn hạt nhân và an ninh hạt nhân, phát triển,
ứng dụng năng lượng nguyên tử là hệ thống tích hợp thống nhất, phục vụ cập nhật,
lưu trữ, quản lý, trao đổi và chia sẻ dữ liệu về tổ chức, nhân lực, cơ sở vật
chất kỹ thuật và các hoạt động trong lĩnh vực năng lượng nguyên tử. Nền tảng số
về an toàn bức xạ, an toàn hạt nhân và an ninh hạt nhân, phát triển, ứng dụng
năng lượng nguyên tử được thiết kế bảo đảm khả năng tích hợp, liên thông và
chia sẻ dữ liệu với các hệ thống thông tin quốc gia, hệ thống thông tin chuyên
ngành có liên quan theo quy định của pháp luật.
3.
Việc khai báo, cấp giấy phép, giấy đăng ký, chứng chỉ; kiểm soát xuất khẩu, nhập
khẩu thiết bị hạt nhân và vật liệu phóng xạ; quản lý vật liệu phóng xạ, thiết bị
bức xạ; báo cáo và trao đổi dữ liệu quan trắc phóng xạ môi trường, báo cáo
chuyên ngành khác trong lĩnh vực năng lượng nguyên tử phải được thực hiện, quản
lý và lưu trữ trên Nền tảng số về an toàn bức xạ, an toàn hạt nhân và an ninh hạt
nhân, phát triển, ứng dụng năng lượng nguyên tử, trừ nội dung thuộc danh mục bí
mật nhà nước.
4.
Việc truy cập, khai thác và sử dụng dữ liệu trên Nền tảng số về an toàn bức xạ,
an toàn hạt nhân và an ninh hạt nhân, phát triển, ứng dụng năng lượng nguyên tử
phải bảo đảm đúng thẩm quyền, đúng mục đích, tuân thủ quy định về bảo vệ bí mật
nhà nước, pháp luật về bảo vệ dữ liệu cá nhân, pháp luật về bảo đảm an toàn
thông tin và pháp luật về an ninh mạng.
5.
Tổ chức, cá nhân tham gia hoạt động trong lĩnh vực năng lượng nguyên tử có
trách nhiệm cung cấp, cập nhật kịp thời, đầy đủ, chính xác thông tin, dữ liệu
trên Nền tảng số về an toàn bức xạ, an toàn hạt nhân và an ninh hạt nhân, phát
triển, ứng dụng năng lượng nguyên tử theo quy định của pháp luật.
6.
Nhà nước bảo đảm nguồn lực để đầu tư, xây dựng, vận hành, duy trì và phát triển
Nền tảng số về an toàn bức xạ, an toàn hạt nhân và an ninh hạt nhân, phát triển,
ứng dụng năng lượng nguyên tử.
7.
Chính phủ quy định chi tiết việc tổ chức, vận hành Nền tảng số về an toàn bức xạ,
an toàn hạt nhân và an ninh hạt nhân, phát triển, ứng dụng năng lượng nguyên tử.
Điều 8. Quản lý nhà nước
về năng lượng nguyên tử
1.
Chính phủ thống nhất quản lý nhà nước trong lĩnh vực năng lượng nguyên tử; phân
công một cơ quan ở trung ương làm đầu mối thực hiện quản lý nhà nước trong lĩnh
vực năng lượng nguyên tử (sau đây gọi chung là cơ quan quản lý nhà nước ở trung
ương về năng lượng nguyên tử).
2.
Bộ, cơ quan ngang Bộ trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình thực hiện quản
lý nhà nước trong lĩnh vực năng lượng nguyên tử.
3.
Ủy ban nhân dân cấp tỉnh trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình thực hiện
quản lý nhà nước trong lĩnh vực năng lượng nguyên tử trên địa bàn.
4.
Chính phủ quy định chi tiết về cơ quan an toàn bức xạ và hạt nhân quốc gia tại
khoản 11 Điều 4 của Luật này, bảo đảm nguyên tắc tách bạch giữa chức năng quản
lý nhà nước về an toàn bức xạ, an toàn hạt nhân và an ninh hạt nhân với việc
phát triển, ứng dụng năng lượng nguyên tử.
Điều 9. Các hành vi bị
nghiêm cấm
1.
Lợi dụng, lạm dụng hoạt động trong lĩnh vực năng lượng nguyên tử để xâm phạm độc
lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ, can thiệp vào công việc nội bộ,
đe dọa an ninh và lợi ích quốc gia; xâm phạm quyền và lợi ích hợp pháp của tổ
chức, cá nhân, gây tổn hại cho sức khỏe, tính mạng con người, môi trường.
2.
Nghiên cứu, phát triển, chế tạo, mua bán, vận chuyển, chuyển giao, tàng trữ, sử
dụng hoặc đe dọa sử dụng vũ khí hạt nhân, vũ khí bức xạ.
3.
Tiến hành công việc bức xạ, thực hiện hoạt động dịch vụ hỗ trợ ứng dụng năng lượng
nguyên tử mà chưa được cơ quan có thẩm quyền cho phép.
4.
Sản xuất, mua bán, xuất khẩu, nhập khẩu sản phẩm, hàng hóa tiêu dùng có hoạt độ
phóng xạ cao hơn mức cho phép theo quy định của pháp luật.
5.
Nhập khẩu chất thải phóng xạ.
6.
Vi phạm quy định về bảo đảm an toàn bức xạ, an toàn hạt nhân và an ninh hạt
nhân, thanh sát hạt nhân.
7.
Xâm phạm công trình, thiết bị, phương tiện phục vụ hoạt động bảo đảm an toàn bức
xạ, an toàn hạt nhân và an ninh hạt nhân trong lĩnh vực năng lượng nguyên tử.
8.
Chiếm đoạt, phá hoại, chuyển giao bất hợp pháp vật liệu phóng xạ, thiết bị hạt
nhân.
9.
Che giấu thông tin, trì hoãn cung cấp thông tin hoặc đưa thông tin không có căn
cứ, không đúng sự thật về sự cố bức xạ, sự cố hạt nhân làm tổn hại lợi ích của
Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân.
10.
Cung cấp thông tin giả hoặc sai lệch; làm giả hoặc làm sai lệch hồ sơ, tài liệu
liên quan đến hoạt động trong lĩnh vực năng lượng nguyên tử nhằm trục lợi hoặc
gây cản trở công tác quản lý nhà nước.
Chương II
PHÁT TRIỂN, ỨNG DỤNG
NĂNG LƯỢNG NGUYÊN TỬ
Điều 10. Chiến lược
phát triển, ứng dụng năng lượng nguyên tử vì mục đích hòa bình và Quy hoạch
phát triển, ứng dụng năng lượng nguyên tử
1.
Chiến lược phát triển, ứng dụng năng lượng nguyên tử vì mục đích hòa bình được
quy định như sau:
a)
Chiến lược phát triển, ứng dụng năng lượng nguyên tử vì mục đích hòa bình được
lập trên cơ sở chiến lược phát triển kinh tế - xã hội;
b)
Nội dung chính của Chiến lược phát triển, ứng dụng năng lượng nguyên tử vì mục
đích hòa bình bao gồm: quan điểm, mục tiêu, nhiệm vụ, giải pháp và nguồn lực thực
hiện;
c)
Cơ quan quản lý nhà nước ở trung ương về năng lượng nguyên tử chịu trách nhiệm
tổ chức lập, trình Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Chiến lược phát triển, ứng dụng
năng lượng nguyên tử vì mục đích hòa bình.
2.
Quy hoạch phát triển, ứng dụng năng lượng nguyên tử được quy định như sau:
a)
Quy hoạch phát triển, ứng dụng năng lượng nguyên tử là quy hoạch có tính chất kỹ
thuật, chuyên ngành, được lập trên cơ sở chiến lược phát triển kinh tế - xã hội,
Chiến lược phát triển, ứng dụng năng lượng nguyên tử vì mục đích hòa bình, quy
hoạch ngành quốc gia có liên quan, đề ra định hướng cơ bản, dài hạn và xác định
mục tiêu tổng quát, mục tiêu cụ thể phát triển, ứng dụng năng lượng nguyên tử
vì mục đích hòa bình;
b)
Cơ quan quản lý nhà nước ở trung ương về năng lượng nguyên tử chịu trách nhiệm
tổ chức lập, thẩm định, trình Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Quy hoạch phát triển,
ứng dụng năng lượng nguyên tử; công bố, tổ chức thực hiện, đánh giá, điều chỉnh
quy hoạch theo quy định của Luật này;
c)
Quy hoạch phát triển, ứng dụng năng lượng nguyên tử được điều chỉnh khi có sự
điều chỉnh mục tiêu chiến lược, kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội, chiến lược
phát triển ngành, lĩnh vực và quy hoạch có liên quan theo quy định của pháp luật
về quy hoạch làm thay đổi nội dung của quy hoạch;
d)
Quy hoạch phát triển, ứng dụng năng lượng nguyên tử được điều chỉnh theo trình
tự, thủ tục rút gọn khi có một trong các căn cứ sau đây: việc thực hiện nghị
quyết của Quốc hội, Ủy ban Thường vụ Quốc hội hoặc Chính phủ về bảo đảm quốc
phòng, an ninh, sắp xếp đơn vị hành chính, dự án quan trọng quốc gia làm thay đổi
một hoặc một số nội dung quy hoạch; quy hoạch có mâu thuẫn với quy hoạch cao
hơn; quy hoạch có mâu thuẫn với quy hoạch cùng cấp; việc thực hiện dự án khẩn cấp,
nhiệm vụ cấp bách làm thay đổi một hoặc một số nội dung quy hoạch theo quy định
của Chính phủ.
3.
Chính phủ quy định chi tiết Điều này.
Điều 11. Phát triển nguồn
nhân lực trong lĩnh vực năng lượng nguyên tử
1.
Nhà nước có chương trình đào tạo, bồi dưỡng, phát triển nguồn nhân lực trong
lĩnh vực năng lượng nguyên tử và khuyến khích tổ chức, cá nhân trong nước, người
Việt Nam định cư ở nước ngoài, tổ chức, cá nhân nước ngoài, tổ chức quốc tế
tham gia thực hiện.
2.
Nhà nước có chính sách ưu đãi, thu hút, trọng dụng nhân lực trình độ cao,
chuyên gia ở trong nước và nước ngoài làm việc trong lĩnh vực năng lượng nguyên
tử; ưu tiên tuyển dụng sinh viên tốt nghiệp các chuyên ngành trong lĩnh vực
năng lượng nguyên tử đạt loại giỏi trở lên vào làm việc trong cơ quan quản lý
nhà nước, cơ sở đào tạo, nghiên cứu, phát triển, ứng dụng năng lượng nguyên tử
của Nhà nước.
3.
Nhà nước có chính sách ưu đãi, hỗ trợ người được cử đi đào tạo, bồi dưỡng trong
lĩnh vực năng lượng nguyên tử bao gồm cả điện hạt nhân; mở rộng vai trò và
trách nhiệm của cơ sở đào tạo, nghiên cứu trong lĩnh vực năng lượng nguyên tử.
4.
Người làm việc trong lĩnh vực năng lượng nguyên tử hưởng lương từ ngân sách nhà
nước được hưởng phụ cấp ưu đãi nghề nghiệp, người hoạt động công vụ tiếp xúc với
phóng xạ được hưởng chế độ phụ cấp độc hại, nguy hiểm theo quy định của pháp luật.
5.
Chính phủ quy định chi tiết các khoản 1, 2 và 3 Điều này.
Điều 12. Xây dựng tiềm
lực khoa học và công nghệ phát triển, ứng dụng năng lượng nguyên tử
1.
Nhà nước ưu tiên đầu tư phát triển tiềm lực khoa học và công nghệ hạt nhân,
phát triển công nghệ chiến lược, tăng cường cơ sở vật chất cho nghiên cứu, ứng
dụng khoa học và công nghệ trong lĩnh vực năng lượng nguyên tử; có chương trình
khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo quốc gia về phát triển, ứng dụng năng
lượng nguyên tử.
2.
Nhà nước đầu tư có trọng điểm và khuyến khích tổ chức, cá nhân trong nước, người
Việt Nam định cư ở nước ngoài, tổ chức, cá nhân nước ngoài, tổ chức quốc tế đầu
tư vào hoạt động trong lĩnh vực năng lượng nguyên tử phục vụ phát triển kinh tế
- xã hội, hoạt động phục vụ phát triển điện hạt nhân.
3.
Nhà nước có chính sách hỗ trợ, ưu đãi để tăng cường tiềm lực khoa học và công
nghệ để phát triển, ứng dụng năng lượng nguyên tử đối với các tổ chức, cá nhân
hoạt động trong lĩnh vực năng lượng nguyên tử.
4.
Chính phủ quy định chi tiết Điều này.
Điều 13. Xã hội hóa các
hoạt động trong lĩnh vực năng lượng nguyên tử
1.
Nhà nước thực hiện đa dạng hóa loại hình tổ chức khoa học và công nghệ, cơ sở
đào tạo trong lĩnh vực năng lượng nguyên tử; tổ chức tiến hành công việc bức xạ;
tổ chức thực hiện hoạt động dịch vụ hỗ trợ ứng dụng năng lượng nguyên tử.
2.
Doanh nghiệp, tổ chức, đơn vị sự nghiệp được phép thành lập Quỹ phát triển khoa
học và công nghệ cho các hoạt động nghiên cứu, ứng dụng năng lượng nguyên tử
theo quy định của pháp luật về khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo.
3.
Tổ chức, cá nhân tham gia thành lập, đầu tư cho tổ chức khoa học và công nghệ,
cơ sở đào tạo trong lĩnh vực năng lượng nguyên tử, tổ chức tiến hành công việc
bức xạ, tổ chức thực hiện hoạt động dịch vụ hỗ trợ ứng dụng năng lượng nguyên tử
được hưởng chính sách ưu đãi theo quy định của pháp luật.
4.
Hình thức thu hút nguồn lực xã hội cho các hoạt động trong lĩnh vực năng lượng
nguyên tử bao gồm:
a)
Đầu tư thành lập tổ chức khoa học và công nghệ, cơ sở đào tạo trong lĩnh vực
năng lượng nguyên tử, tổ chức tiến hành công việc bức xạ, tổ chức thực hiện hoạt
động dịch vụ hỗ trợ ứng dụng năng lượng nguyên tử;
b)
Đầu tư theo phương thức đối tác công tư trong lĩnh vực năng lượng nguyên tử;
c)
Vay vốn để đầu tư công trình hạ tầng, thiết bị bức xạ, thiết bị hạt nhân;
d)
Đầu tư hợp tác với các tổ chức nghiên cứu năng lượng nguyên tử quốc tế thành lập
các phòng thí nghiệm chung;
đ)
Thuê, cho thuê tài sản và sử dụng tài sản vào mục đích kinh doanh, liên doanh,
liên kết;
e)
Mua trả chậm, trả dần, thuê, mượn một số thiết bị bức xạ;
g)
Tài trợ, viện trợ từ tổ chức, cá nhân trong nước và nước ngoài;
h)
Xã hội hóa dịch vụ sự nghiệp công trong lĩnh vực năng lượng nguyên tử;
i)
Hình thức khác theo quy định của pháp luật.
5.
Chính phủ quy định chi tiết Điều này.
Chương III
AN TOÀN BỨC XẠ, BẢO VỆ
BỨC XẠ,
AN TOÀN HẠT NHÂN VÀ AN NINH HẠT NHÂN
Mục 1
QUY ĐỊNH CHUNG
Điều 14. Công việc bức
xạ
Công
việc bức xạ bao gồm:
1.
Vận hành thử tổ máy điện hạt nhân, lò phản ứng hạt nhân nghiên cứu; vận hành
nhà máy điện hạt nhân, lò phản ứng hạt nhân nghiên cứu;
2.
Vận hành thiết bị chiếu xạ;
3.
Sử dụng thiết bị bức xạ; sử dụng, lưu giữ nguồn phóng xạ;
4.
Sản xuất, chế biến chất phóng xạ, làm giàu urani, chế tạo nhiên liệu hạt nhân;
5.
Thăm dò, khai thác, chế biến khoáng sản có tính phóng xạ;
6.
Xử lý, lưu giữ, chôn cất chất thải phóng xạ, nguồn phóng xạ đã qua sử dụng và
nhiên liệu hạt nhân đã qua sử dụng;
7.
Thay đổi quy mô, phạm vi hoạt động, chấm dứt hoạt động của cơ sở bức xạ, cơ sở
hạt nhân;
8.
Nhập khẩu, xuất khẩu chất phóng xạ, vật liệu hạt nhân nguồn, vật liệu hạt nhân
và thiết bị hạt nhân;
9.
Đóng gói, vận chuyển vật liệu phóng xạ; vận chuyển vật liệu phóng xạ quá cảnh
lãnh thổ Việt Nam;
10.
Công việc bức xạ khác theo quy định của Chính phủ.
Điều 15. Hoạt động dịch
vụ hỗ trợ ứng dụng năng lượng nguyên tử
Hoạt
động dịch vụ hỗ trợ ứng dụng năng lượng nguyên tử bao gồm:
1.
Đào tạo an toàn bức xạ; đào tạo, bồi dưỡng chuyên môn, nghiệp vụ đối với cá
nhân thực hiện hoạt động dịch vụ hỗ trợ ứng dụng năng lượng nguyên tử;
2.
Lắp đặt nguồn phóng xạ, lắp đặt, bảo dưỡng, sửa chữa thiết bị bức xạ, thiết bị
hạt nhân;
3.
Đo liều chiếu xạ cá nhân; đánh giá hoạt độ phóng xạ;
4.
Kiểm định thiết bị bức xạ, thiết bị hạt nhân; hiệu chuẩn thiết bị ghi đo bức xạ;
5.
Tẩy xạ, kiểm xạ;
6.
Thử nghiệm thiết bị bức xạ;
7.
Hoạt động dịch vụ hỗ trợ ứng dụng năng lượng nguyên tử khác theo quy định của
Chính phủ.
Điều 16. Cơ sở bức xạ
Cơ
sở bức xạ bao gồm:
1.
Cơ sở vận hành máy gia tốc;
2.
Cơ sở vận hành thiết bị chiếu xạ sử dụng nguồn phóng xạ;
3.
Cơ sở sản xuất, chế biến chất phóng xạ;
4.
Cơ sở xử lý, lưu giữ, chôn cất chất thải phóng xạ, nguồn phóng xạ đã qua sử dụng
và nhiên liệu hạt nhân đã qua sử dụng quy định tại khoản 1 Điều 38 của Luật
này;
5.
Cơ sở bức xạ khác theo quy định của Chính phủ.
Điều 17. Báo cáo đánh
giá an toàn, báo cáo phân tích an toàn và báo cáo thực trạng an toàn tiến hành
công việc bức xạ
1.
Báo cáo đánh giá an toàn được quy định như sau:
a)
Tổ chức, cá nhân phải lập báo cáo đánh giá an toàn đối với công việc bức xạ khi
đề nghị cấp giấy phép tiến hành công việc bức xạ, trừ hoạt động quy định tại
khoản 1 và khoản 7 Điều 14 của Luật này;
b)
Báo cáo đánh giá an toàn đối với công việc bức xạ phải phù hợp với từng công việc
bức xạ.
2.
Báo cáo phân tích an toàn được quy định như sau:
a)
Cơ sở bức xạ phải lập báo cáo phân tích an toàn trình cơ quan an toàn bức xạ và
hạt nhân quốc gia phê duyệt trước khi xây dựng cơ sở bức xạ, trừ cơ sở vận hành
thiết bị chiếu xạ có cơ cấu tự che chắn theo thiết kế của nhà sản xuất và cơ sở
vận hành máy gia tốc di động để soi chiếu kiểm tra hàng hóa;
b)
Cơ sở bức xạ phải lập báo cáo phân tích an toàn khi đề nghị cấp giấy phép tiến
hành công việc bức xạ đối với việc thay đổi quy mô và phạm vi hoạt động, chấm dứt
hoạt động.
3.
Tổ chức, cá nhân tiến hành công việc bức xạ phải lập báo cáo thực trạng an toàn
tiến hành công việc bức xạ định kỳ hàng năm hoặc khi có yêu cầu của cơ quan an
toàn bức xạ và hạt nhân quốc gia hoặc cơ quan chuyên môn giúp Ủy ban nhân dân cấp
tỉnh quản lý nhà nước trong lĩnh vực năng lượng nguyên tử theo quy định của
pháp luật.
4.
Chính phủ quy định chi tiết Điều này.
Điều 18. Kiểm soát chiếu
xạ do công việc bức xạ gây ra
1.
Kiểm soát chiếu xạ do công việc bức xạ gây ra bao gồm:
a)
Kiểm soát chiếu xạ nghề nghiệp là kiểm soát liều chiếu xạ đối với nhân viên bức
xạ khi tiến hành công việc bức xạ;
b)
Kiểm soát chiếu xạ y tế là kiểm soát liều chiếu xạ đối với: người bệnh trong chẩn
đoán và điều trị; người hỗ trợ và chăm sóc người bệnh; người tình nguyện tham
gia vào chương trình nghiên cứu y sinh học;
c)
Kiểm soát chiếu xạ công chúng là kiểm soát liều chiếu xạ do công việc bức xạ
gây ra đối với người không thuộc đối tượng quy định tại điểm a và điểm b khoản
này,
2.
Việc kiểm soát chiếu xạ quy định tại khoản 1 Điều này phải tuân thủ nguyên tắc
quy định tại khoản 2 và khoản 3 Điều 6 của Luật này.
3.
Chính phủ quy định chi tiết Điều này.
Điều 19. Yêu cầu về an
ninh nguồn phóng xạ, vật liệu hạt nhân
1.
Yêu cầu đối với tổ chức, cá nhân có nguồn phóng xạ bao gồm:
a)
Xây dựng, duy trì và thúc đẩy văn hóa an ninh;
b)
Xây dựng và thực hiện biện pháp bảo đảm an ninh nguồn phóng xạ phù hợp với mức
độ nguy hiểm của nguồn phóng xạ và dựa trên việc đánh giá mối đe dọa nhằm ngăn
chặn hành vi trộm cắp, phá hoại, tiếp cận, vận chuyển và chuyển giao bất hợp
pháp hoặc hành vi gây nguy hại khác liên quan đến nguồn phóng xạ; bảo đảm tính
tương hỗ, nâng cao hiệu quả của biện pháp bảo đảm an toàn bức xạ;
c)
Duy trì việc bảo đảm an ninh nguồn phóng xạ cho đến khi nguồn phóng xạ được
thanh lý;
d)
Kiểm đếm nguồn phóng xạ định kỳ;
đ)
Có biện pháp ứng phó trong trường hợp mất an ninh nguồn phóng xạ;
e)
Thực hiện quy định về bảo mật thông tin liên quan đến hệ thống bảo đảm an ninh,
bao gồm cả an ninh mạng theo quy định của pháp luật.
2.
Yêu cầu đối với tổ chức, cá nhân có vật liệu hạt nhân bao gồm:
a)
Xây dựng, duy trì và thúc đẩy văn hóa an ninh;
b)
Xây dựng và thực hiện biện pháp bảo vệ thực thể đối với vật liệu hạt nhân dựa
trên việc đánh giá các mối đe dọa, bản chất của vật liệu hạt nhân và hậu quả có
thể xảy ra do hành vi trộm cắp, phá hoại, tiếp cận, vận chuyển và chuyển giao bất
hợp pháp hoặc hành vi gây nguy hại khác liên quan đến vật liệu hạt nhân;
c)
Áp dụng nguyên tắc bảo vệ theo chiều sâu khi thiết kế, xây dựng biện pháp bảo vệ
thực thể đối với vật liệu hạt nhân;
d)
Xây dựng và thực hiện chính sách, chương trình bảo đảm chất lượng đối với hệ thống
bảo vệ thực thể;
đ)
Có biện pháp ứng phó trong trường hợp mất an ninh vật liệu hạt nhân;
e)
Thực hiện quy định về bảo mật thông tin liên quan đến hệ thống bảo vệ thực thể,
bao gồm cả an ninh mạng theo quy định của pháp luật.
3.
Tổ chức, cá nhân có nguồn phóng xạ, vật liệu hạt nhân bị thất lạc, bị chiếm đoạt,
bị phá hoại, bị bỏ rơi, bị chuyển giao bất hợp pháp có trách nhiệm sau đây:
a)
Báo cáo ngay cho một trong các cơ quan sau: cơ quan an toàn bức xạ và hạt nhân
quốc gia, cơ quan quản lý nhà nước về phòng, chống phổ biến vũ khí hủy diệt
hàng loạt, cơ quan chuyên môn giúp Ủy ban nhân dân cấp tỉnh quản lý nhà nước
trong lĩnh vực năng lượng nguyên tử, cơ quan công an, Ủy ban nhân dân nơi gần
nhất;
b)
Phối hợp với cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan tổ chức tìm kiếm, thu hồi
và xử lý sự cố bức xạ, sự cố hạt nhân đối với nguồn phóng xạ, vật liệu hạt
nhân.
4.
Tổ chức, cá nhân phát hiện nguồn phóng xạ, vật liệu hạt nhân bị thất lạc, bị
chiếm đoạt, bị phá hoại, bị bỏ rơi, bị chuyển giao bất hợp pháp, chưa được khai
báo phải báo ngay cho một trong các cơ quan sau: cơ quan an toàn bức xạ và hạt
nhân quốc gia, cơ quan quản lý nhà nước về phòng, chống phổ biến vũ khí hủy diệt
hàng loạt, cơ quan chuyên môn giúp Ủy ban nhân dân cấp tỉnh quản lý nhà nước
trong lĩnh vực năng lượng nguyên tử, cơ quan công an, Ủy ban nhân dân nơi gần
nhất.
5.
Chính phủ quy định chi tiết Điều này.
Điều 20. Kiểm xạ khu vực
làm việc
1.
Tổ chức, cá nhân tiến hành công việc bức xạ phải tổ chức thực hiện định kỳ và
có hệ thống việc kiểm xạ khu vực làm việc, đo đạc các thông số cần thiết làm cơ
sở cho việc đánh giá an toàn bức xạ.
2.
Máy móc, thiết bị sử dụng cho việc kiểm xạ, đo đạc phải đáp ứng quy chuẩn kỹ
thuật quốc gia, phải được bảo dưỡng, hiệu chuẩn định kỳ.
3.
Tổ chức, cá nhân tiến hành công việc bức xạ phải lập, cập nhật và bảo quản hồ
sơ kiểm xạ.
4.
Chính phủ quy định chi tiết Điều này.
Điều 21. Chấm dứt hoạt
động cơ sở bức xạ
1.
Khi chấm dứt hoạt động, cơ sở bức xạ phải thực hiện đúng kế hoạch tháo dỡ, tẩy
xạ, xử lý nguồn bức xạ, chất thải phóng xạ đã được phê duyệt trong hồ sơ đề nghị
cấp giấy phép chấm dứt hoạt động cơ sở bức xạ.
2.
Cơ sở bức xạ phải chịu mọi chi phí tháo dỡ, tẩy xạ, xử lý nguồn bức xạ và chi
phí lưu giữ, xử lý chất thải phóng xạ khi chấm dứt hoạt động.
3.
Việc tháo dỡ, tẩy xạ, xử lý nguồn bức xạ, chất thải phóng xạ được thực hiện
theo quy định của Thủ trưởng cơ quan quản lý nhà nước ở trung ương về năng lượng
nguyên tử.
4.
Cơ quan cấp giấy phép chấm dứt hoạt động cơ sở bức xạ quy định tại khoản 1 Điều
này tổ chức kiểm tra việc tháo dỡ, tẩy xạ, xử lý nguồn bức xạ, chất thải phóng
xạ và công nhận cơ sở bức xạ đã hết trách nhiệm bảo đảm an toàn bức xạ.
Điều 22. Hạn chế tác hại
của chiếu xạ hiện hữu đối với con người
1.
Chiếu xạ hiện hữu đối với con người bao gồm:
a)
Chiếu xạ trực tiếp hoặc gián tiếp bởi chất phóng xạ tồn dư phát sinh từ các hoạt
động trong quá khứ chưa được kiểm soát hoặc phát sinh từ sự cố bức xạ, sự cố hạt
nhân đã được công bố kết thúc;
b)
Chiếu xạ tự nhiên bởi bức xạ từ vũ trụ và vật thể tự nhiên xung quanh.
2.
Chính phủ phân công Bộ, cơ quan ngang Bộ xác định địa điểm có mức chiếu xạ hiện
hữu có khả năng gây hại cho con người cần có sự can thiệp của cơ quan có thẩm
quyền; tổ chức khảo sát, đánh giá khả năng gây hại; thông báo cho Ủy ban nhân
dân cấp tỉnh phối hợp lập kế hoạch và triển khai thực hiện biện pháp cần thiết
nhằm giảm đến mức thấp nhất tác hại đối với con người.
Điều 23. Quan trắc
phóng xạ môi trường
1.
Quan trắc phóng xạ môi trường là việc theo dõi liên tục, định kỳ, đột xuất, có
hệ thống về diễn biến phóng xạ trong các thành phần môi trường tại khu vực quan
trắc. Quan trắc phóng xạ môi trường giúp phát hiện kịp thời mọi diễn biến bất
thường về bức xạ tác động đến môi trường, hỗ trợ việc chủ động ứng phó sự cố bức
xạ, sự cố hạt nhân; cung cấp cơ sở dữ liệu về phóng xạ phục vụ công tác quản lý
nhà nước về năng lượng nguyên tử; thực hiện đầy đủ cam kết quốc tế trong lĩnh vực
năng lượng nguyên tử mà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên.
2.
Tổ chức tiến hành công việc bức xạ có nguy cơ làm phát tán chất phóng xạ phải
tiến hành quan trắc phóng xạ môi trường, báo cáo cơ quan an toàn bức xạ và hạt
nhân quốc gia kết quả quan trắc phóng xạ môi trường định kỳ và báo cáo ngay khi
phát hiện kết quả quan trắc phóng xạ môi trường bất thường.
3.
Dữ liệu quan trắc phóng xạ môi trường phải được quản lý và chia sẻ trên Nền tảng
số quốc gia về an toàn bức xạ, an toàn hạt nhân và an ninh hạt nhân, phát triển,
ứng dụng năng lượng nguyên tử.
4.
Việc phát triển mạng lưới quan trắc và cảnh báo phóng xạ môi trường quốc gia thực
hiện theo Quy hoạch phát triển, ứng dụng năng lượng nguyên tử.
5.
Chính phủ quy định chi tiết Điều này.
Điều 24. Yêu cầu về bảo
đảm an toàn bức xạ trong y tế
1.
Tổ chức, cá nhân sử dụng thiết bị bức xạ, nguồn phóng xạ, thuốc phóng xạ trong
y tế phải áp dụng các nguyên tắc trong kiểm soát chiếu xạ quy định tại khoản 2
và khoản 3 Điều 6 của Luật này. Không áp dụng nguyên tắc giới hạn liều đối với
công chúng và nhân viên bức xạ trong chiếu xạ y tế đối với người bệnh.
2.
Tổ chức, cá nhân sử dụng thiết bị bức xạ, nguồn phóng xạ, thuốc phóng xạ trong
y tế phải thực hiện, tuân thủ các quy định bảo đảm an toàn bức xạ đối với nhân
viên bức xạ, người bệnh, người hỗ trợ và chăm sóc người bệnh và công chúng; xây
dựng và thực hiện chương trình bảo đảm chất lượng trong chẩn đoán và điều trị;
thiết lập mức liều tham chiếu chẩn đoán, kiểm soát chiếu xạ cho người bệnh;
khai báo, điều tra sự cố y khoa liên quan đến bức xạ; thiết lập hồ sơ quản lý
liều chiếu đối với người bệnh; xây dựng và ban hành quy trình chuyên môn kỹ thuật
trong chẩn đoán và điều trị.
3.
Thiết bị bức xạ sử dụng trong y tế phải được chế tạo, kiểm định đáp ứng quy định
của pháp luật về năng lượng nguyên tử, pháp luật về tiêu chuẩn và quy chuẩn kỹ
thuật và quy định khác của pháp luật có liên quan.
4.
Nhân viên bức xạ làm việc trực tiếp với thiết bị bức xạ, nguồn phóng xạ, thuốc
phóng xạ tại cơ sở y tế phải được đào tạo chuyên môn, nghiệp vụ và có chứng chỉ
nhân viên bức xạ phù hợp.
5.
Chính phủ quy định chi tiết các khoản 2, 3 và 4 Điều này.
Điều 25. Trách nhiệm của
tổ chức, cá nhân trong việc bảo đảm an toàn bức xạ, bảo vệ bức xạ, bảo đảm an
ninh nguồn phóng xạ, vật liệu hạt nhân
1.
Trách nhiệm của người đứng đầu tổ chức, cá nhân được cấp giấy phép tiến hành
công việc bức xạ bao gồm:
a)
Chịu trách nhiệm chính trong công tác bảo đảm an toàn bức xạ, bảo vệ bức xạ, bảo
đảm an ninh nguồn phóng xạ, vật liệu hạt nhân và thực hiện quy định của Luật
này đối với việc tiến hành công việc bức xạ;
b)
Bố trí người phụ trách an toàn bức xạ; quy định trách nhiệm và quyền hạn của
người phụ trách an toàn bức xạ bằng văn bản;
c)
Thực hiện đầy đủ điều kiện trong giấy phép tiến hành công việc bức xạ;
d)
Xây dựng và tổ chức thực hiện nội quy hoặc chỉ dẫn về an toàn bức xạ, bảo vệ bức
xạ, an ninh nguồn phóng xạ, vật liệu hạt nhân;
đ)
Bảo đảm điều kiện làm việc an toàn, tổ chức huấn luyện nghiệp vụ, đào tạo an
toàn bức xạ, tổ chức khám sức khỏe định kỳ, khám bệnh nghề nghiệp và theo dõi
liều chiếu xạ đối với nhân viên bức xạ;
e)
Chấp hành việc thanh tra, kiểm tra của cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền về
an toàn bức xạ, an ninh nguồn phóng xạ, vật liệu hạt nhân; cung cấp đầy đủ
thông tin cần thiết khi được yêu cầu;
g)
Tổ chức kiểm xạ, kiểm soát chất thải phóng xạ, bảo đảm không vượt quá giới hạn
liều theo quy định của pháp luật về năng lượng nguyên tử;
h)
Xây dựng kế hoạch, chuẩn bị và tổ chức hoạt động ứng phó sự cố bức xạ, sự cố hạt
nhân cấp cơ sở;
i)
Báo cáo Ủy ban nhân dân cấp tỉnh và cơ quan an toàn bức xạ và hạt nhân quốc gia
khi xảy ra sự cố bức xạ, sự cố hạt nhân.
2.
Trách nhiệm của người phụ trách an toàn bức xạ bao gồm:
a)
Giúp người đứng đầu tổ chức, cá nhân được cấp giấy phép tiến hành công việc bức
xạ thực hiện quy định tại các điểm c, d, đ, e, g và h khoản 1 Điều này;
b)
Giúp người đứng đầu tổ chức, cá nhân được cấp giấy phép tiến hành công việc bức
xạ xây dựng và tổ chức thực hiện biện pháp kỹ thuật cần thiết để tuân thủ các
điều kiện về an toàn bức xạ;
c)
Quản lý hoạt động liên quan đến lưu giữ, sử dụng nguồn phóng xạ, thiết bị bức xạ,
vật liệu hạt nhân, thiết bị hạt nhân bảo đảm an toàn bức xạ, bảo vệ bức xạ, an
ninh nguồn phóng xạ, vật liệu hạt nhân, thiết bị hạt nhân trong phạm vi trách
nhiệm của mình;
d)
Báo cáo người đứng đầu tổ chức, cá nhân được cấp giấy phép tiến hành công việc
bức xạ khi phát hiện có dấu hiệu bất thường về an toàn bức xạ, an toàn hạt
nhân, an ninh hạt nhân hoặc khi có sự cố bức xạ, sự cố hạt nhân;
đ)
Lập và lưu giữ hồ sơ liên quan đến an toàn bức xạ và an toàn hạt nhân.
3.
Trách nhiệm của nhân viên bức xạ bao gồm:
a)
Thực hiện quy định của pháp luật, tuân thủ quy chuẩn kỹ thuật quốc gia tương ứng
và các hướng dẫn về an toàn phù hợp với công việc bức xạ đang tiến hành;
b)
Sử dụng thiết bị theo dõi liều chiếu xạ và phương tiện bảo vệ khi tiến hành
công việc bức xạ, khám sức khỏe định kỳ, khám bệnh nghề nghiệp theo chỉ dẫn của
người phụ trách an toàn bức xạ; từ chối làm việc khi điều kiện bảo đảm an toàn
không đầy đủ, trừ trường hợp tham gia khắc phục sự cố bức xạ, sự cố hạt nhân;
c)
Báo cáo ngay cho người phụ trách an toàn bức xạ khi có hiện tượng bất thường về
an toàn bức xạ, an ninh nguồn phóng xạ, vật liệu hạt nhân trong quá trình tiến
hành công việc bức xạ;
d)
Thực hiện biện pháp khắc phục sự cố bức xạ, sự cố hạt nhân theo kế hoạch ứng
phó sự cố bức xạ, sự cố hạt nhân hoặc theo chỉ dẫn của người được chỉ định bởi
người đứng đầu tổ chức, cá nhân được cấp giấy phép.
4.
Chính phủ quy định trách nhiệm của Bộ, cơ quan ngang Bộ hướng dẫn về an toàn bức
xạ, bảo vệ bức xạ, an ninh các nguồn phóng xạ, vật liệu hạt nhân.
Mục 2
THĂM DÒ, KHAI THÁC, CHẾ
BIẾN, ĐÓNG CỬA MỎ KHOÁNG SẢN
CÓ TÍNH PHÓNG XẠ
Điều 26. Yêu cầu đối với
hoạt động thăm dò, khai thác, chế biến, đóng cửa mỏ khoáng sản có tính phóng xạ
1.
Khoáng sản có tính phóng xạ bao gồm:
a)
Khoáng sản phóng xạ theo quy định của pháp luật về địa chất và khoáng sản;
b)
Khoáng sản khác không thuộc quy định tại điểm a khoản này mà sản phẩm phụ hoặc
chất thải phát sinh trong quá trình thăm dò, khai thác, chế biến, đóng cửa mỏ
khoáng sản có chứa các nhân phóng xạ nằm trong chuỗi phân rã phóng xạ tự nhiên
của urani và thori với tổng hoạt độ phóng xạ hoặc nồng độ hoạt độ phóng xạ đòi
hỏi phải áp dụng các biện pháp bảo vệ bức xạ theo quy định của pháp luật về
năng lượng nguyên tử.
2.
Tổ chức, cá nhân thăm dò, khai thác, chế biến, đóng cửa mỏ khoáng sản có tính
phóng xạ quy định tại khoản 1 Điều này có trách nhiệm sau đây:
a)
Lập báo cáo đánh giá an toàn quy định tại khoản 1 Điều 17 của Luật này, trình
cơ quan an toàn bức xạ và hạt nhân quốc gia thẩm định;
b)
Cung cấp thông tin liên quan đến công tác bảo đảm an toàn bức xạ khi có yêu cầu
của cơ quan an toàn bức xạ và hạt nhân quốc gia.
3.
Việc sử dụng kết quả thẩm định báo cáo đánh giá an toàn quy định tại khoản 2 Điều
này được quy định như sau:
a)
Đối với hoạt động thăm dò khoáng sản phóng xạ, kết quả thẩm định báo cáo đánh
giá an toàn là cơ sở để cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền cấp giấy phép
thăm dò khoáng sản;
b)
Đối với hoạt động khai thác khoáng sản có tính phóng xạ, kết quả thẩm định báo
cáo đánh giá an toàn là cơ sở để cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền cấp giấy
phép khai thác khoáng sản;
c)
Đối với hoạt động chế biến khoáng sản có tính phóng xạ, kết quả thẩm định báo
cáo đánh giá an toàn là cơ sở để quyết định dự án đầu tư theo quy định của pháp
luật về đầu tư và quy định khác của pháp luật có liên quan. Trường hợp hoạt động
chế biến khoáng sản gắn với dự án đầu tư khai thác khoáng sản, việc thẩm định
báo cáo đánh giá an toàn được thực hiện đồng thời với hoạt động thẩm định quy định
tại điểm b khoản này;
d)
Đối với hoạt động đóng cửa mỏ khoáng sản có tính phóng xạ, kết quả thẩm định
báo cáo đánh giá an toàn là cơ sở để cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền ban
hành quyết định đóng cửa mỏ khoáng sản.
4.
Tổ chức, cá nhân thăm dò, khai thác, chế biến, đóng cửa mỏ khoáng sản có tính
phóng xạ phải tuân thủ quy định của Luật này, pháp luật về địa chất và khoáng sản,
pháp luật về đầu tư và quy định khác của pháp luật có liên quan.
5.
Chính phủ quy định chi tiết Điều này; quy định trường hợp phải lập báo cáo đánh
giá an toàn bổ sung.
Điều 27. Trách nhiệm bảo
vệ môi trường của tổ chức, cá nhân thăm dò, khai thác, chế biến, đóng cửa mỏ
khoáng sản có tính phóng xạ
1.
Tổ chức, cá nhân thăm dò, khai thác, chế biến, đóng cửa mỏ khoáng sản có tính
phóng xạ có trách nhiệm sau đây:
a)
Thực hiện biện pháp bảo vệ, cải tạo, phục hồi môi trường theo quy định của pháp
luật về địa chất và khoáng sản, pháp luật về bảo vệ môi trường; quan trắc phóng
xạ môi trường và bảo đảm an toàn bức xạ theo quy định của pháp luật về năng lượng
nguyên tử;
b)
Báo cáo cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền về khoáng sản, đầu tư, bảo vệ
môi trường và cơ quan an toàn bức xạ và hạt nhân quốc gia về kết quả thực hiện
các biện pháp quy định tại điểm a khoản này.
2.
Chính phủ quy định chi tiết Điều này.
Mục 3
VẬN CHUYỂN, VẬN CHUYỂN
QUÁ CẢNH, NHẬP KHẨU
VÀ XUẤT KHẨU VẬT LIỆU PHÓNG XẠ, THIẾT BỊ HẠT NHÂN
Điều 28. Kế hoạch bảo đảm
an toàn, an ninh và kế hoạch ứng phó sự cố trong vận chuyển vật liệu phóng xạ
1.
Tổ chức, cá nhân khi vận chuyển vật liệu phóng xạ phải lập và thực hiện kế hoạch
bảo đảm an toàn, an ninh và kế hoạch ứng phó sự cố trong vận chuyển vật liệu
phóng xạ.
2.
Kế hoạch ứng phó sự cố trong vận chuyển vật liệu phóng xạ phải được cơ quan an
toàn bức xạ và hạt nhân quốc gia thẩm định.
3.
Chính phủ quy định chi tiết Điều này.
Điều 29. Hoạt động quá
cảnh của tàu biển, phương tiện khác có động cơ chạy bằng năng lượng nguyên tử;
vận chuyển, vận chuyển quá cảnh lãnh thổ Việt Nam vật liệu phóng xạ, thiết bị hạt
nhân
1.
Hoạt động quá cảnh của tàu biển, phương tiện khác có động cơ chạy bằng năng lượng
nguyên tử trên lãnh thổ Việt Nam, vận chuyển thiết bị hạt nhân, vật liệu phóng
xạ quá cảnh lãnh thổ Việt Nam, trừ nguồn phóng xạ có mức độ nguy hiểm trung
bình và dưới trung bình, phải được Thủ tướng Chính phủ cho phép và phải chịu sự
giám sát của cơ quan có thẩm quyền.
2.
Tổ chức, cá nhân vận tải không được từ chối vận chuyển vật liệu phóng xạ, thiết
bị hạt nhân đã đủ điều kiện vận chuyển và được cấp phép vận chuyển theo quy định
của pháp luật.
3.
Chính phủ quy định chi tiết khoản 1 Điều này; quy định việc vận chuyển nguồn
phóng xạ có mức độ nguy hiểm trung bình và dưới trung bình.
Điều 30. Kiểm soát nhập
khẩu, xuất khẩu vật liệu phóng xạ, thiết bị hạt nhân
1.
Việc nhập khẩu, xuất khẩu vật liệu
phóng xạ, thiết bị hạt nhân chỉ được phép thực hiện khi được cơ quan nhà nước
có thẩm quyền cấp giấy phép.
2.
Cơ quan hải quan phải ưu tiên làm thủ tục hải quan theo quy định của pháp luật
về hải quan đối với vật liệu phóng xạ, thiết bị hạt nhân đáp ứng đầy đủ quy định
tại khoản 1 Điều này; nếu vi phạm thì tùy theo tính chất, mức độ vi phạm và hậu
quả xảy ra mà bị xử lý theo quy định của pháp luật.
3.
Tổ chức, cá nhân nhập khẩu vật liệu phóng xạ, thiết bị hạt nhân vi phạm quy định
tại khoản 1 Điều này thì tùy theo tính chất, mức độ vi phạm và hậu quả xảy ra
mà bị cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền buộc phải khắc phục trước khi
thông quan hoặc tái xuất hoặc tịch thu.
4.
Tổ chức, cá nhân xuất khẩu vật liệu phóng xạ, thiết bị hạt nhân vi phạm quy định
tại khoản 1 Điều này thì tùy theo tính chất, mức độ vi phạm và hậu quả xảy ra
mà bị cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền buộc phải khắc phục trước khi
thông quan.
5.
Chính phủ quy định chi tiết khoản 1 và khoản 2 Điều này; quy định cơ chế phối hợp
giữa cơ quan hải quan, cơ quan an toàn bức xạ và hạt nhân quốc gia, cơ quan
liên quan trong việc kiểm soát nhập khẩu, xuất khẩu vật liệu phóng xạ, thiết bị
hạt nhân.
Điều 31. Kiểm soát nhập
khẩu hàng hóa tiêu dùng đã chiếu xạ
1.
Hàng hóa tiêu dùng đã chiếu xạ không có trong danh mục được phép nhập khẩu hoặc
có trong danh mục được phép nhập khẩu nhưng đã chiếu xạ quá mức quy định thì
không được phép nhập khẩu.
2.
Hàng hóa tiêu dùng đã chiếu xạ hoặc chứa chất phóng xạ được phép nhập khẩu phải
ghi rõ trên nhãn.
3.
Chính phủ quy định chi tiết Điều này.
Điều 32. Kiểm soát hàng
hóa nhập khẩu có dấu hiệu chứa chất phóng xạ hoặc nhiễm phóng xạ
1.
Cơ quan an toàn bức xạ và hạt nhân quốc gia phối hợp với cơ quan hải quan triển
khai các biện pháp cần thiết để kiểm tra hàng hóa nhập khẩu khi phát hiện có dấu
hiệu chứa chất phóng xạ hoặc nhiễm phóng xạ hoặc trong trường hợp có cảnh báo sớm
hàng hóa có dấu hiệu chứa chất phóng xạ hoặc nhiễm phóng xạ.
2.
Khi phát hiện hàng hóa nhập khẩu chứa chất phóng xạ hoặc nhiễm phóng xạ, cơ
quan hải quan dừng làm thủ tục hải quan, thông báo cho chủ hàng, chủ phương tiện
vận tải hoặc người thực hiện dịch vụ quá cảnh trung chuyển hàng hóa để xử lý bằng
các biện pháp sau đây:
a)
Áp dụng ngay các biện pháp bảo đảm an toàn cần thiết nhằm hạn chế đến mức thấp
nhất tác hại đối với con người, môi trường;
b)
Áp dụng tái xuất ngay; trong trường hợp không xác định được chủ hàng, chủ
phương tiện vận tải hoặc người thực hiện dịch vụ quá cảnh trung chuyển hàng hóa
để tái xuất thì áp dụng kế hoạch ứng phó sự cố đối với nguồn phóng xạ nằm ngoài
kiểm soát.
3.
Cơ quan hải quan phối hợp với cơ quan an toàn bức xạ và hạt nhân quốc gia kiểm
soát việc thực hiện biện pháp quản lý nhà nước về an toàn bức xạ quy định tại
khoản 2 Điều này.
4.
Chủ hàng, chủ phương tiện vận tải hoặc người thực hiện dịch vụ quá cảnh trung
chuyển hàng hóa có trách nhiệm khắc phục mọi hậu quả do hàng hóa nhập khẩu chứa
chất phóng xạ hoặc nhiễm phóng xạ gây ra tại cửa khẩu.
5.
Thủ trưởng cơ quan quản lý nhà nước ở trung ương về năng lượng nguyên tử quy định
danh mục hàng hóa phải kiểm xạ.
6.
Chính phủ quy định chi tiết các khoản 1, 2, 3 và 4 Điều này.
Mục 4
AN TOÀN VÀ AN NINH CƠ SỞ
HẠT NHÂN
Điều 33. Yêu cầu về an
toàn và an ninh cơ sở hạt nhân
1.
Cơ sở hạt nhân bao gồm:
a)
Nhà máy điện hạt nhân;
b)
Cơ sở vận hành lò phản ứng hạt nhân nghiên cứu;
c)
Cơ sở chuyển hóa, làm giàu urani, chế tạo, tái chế nhiên liệu hạt nhân;
d)
Cơ sở lưu giữ, xử lý, chôn cất nhiên liệu hạt nhân đã qua sử dụng.
2.
Cơ sở hạt nhân phải bảo đảm yêu cầu sau đây;
a)
Kiểm soát liều chiếu xạ đối với nhân viên bức xạ, công chúng; kiểm soát lượng
phát thải phóng xạ ra môi trường không vượt quá giới hạn quy định;
b)
Ngăn ngừa sự cố bức xạ, sự cố hạt nhân; giảm thiểu hậu quả đối với con người,
môi trường và xã hội trong trường hợp xảy ra sự cố;
c)
Bảo đảm an toàn bức xạ, an toàn hạt nhân và an ninh hạt nhân trong việc xây dựng,
vận hành thử, vận hành và chấm dứt hoạt động thiết bị hạt nhân, cơ sở hạt nhân;
trong sử dụng, lưu giữ và vận chuyển nhiên liệu hạt nhân, vật liệu hạt nhân và
chất thải phóng xạ;
d)
Phòng ngừa, phát hiện, ngăn chặn, đối phó với nguy cơ thất lạc, hành vi trộm cắp,
chiếm đoạt, phá hoại, chuyển giao hoặc sử dụng bất hợp pháp vật liệu hạt nhân,
thiết bị hạt nhân, nhiên liệu hạt nhân; hành vi tiếp cận bất hợp pháp hoặc phá
hoại cơ sở hạt nhân;
đ)
Việc lựa chọn địa điểm, thiết kế, chế tạo, xây dựng, vận hành thử, vận hành và
chấm dứt hoạt động cơ sở hạt nhân phải tuân thủ quy chuẩn kỹ thuật quốc gia,
trong trường hợp chưa có quy chuẩn kỹ thuật quốc gia thì có thể áp dụng tiêu
chuẩn quốc gia, tiêu chuẩn nước ngoài, quy định kỹ thuật của nước ngoài, tiêu
chuẩn quốc tế do đối tác thực hiện đề xuất áp dụng cho dự án nhưng phải bảo đảm
phù hợp với điều kiện Việt Nam và phù hợp với các tiêu chuẩn, hướng dẫn về an
toàn bức xạ, an toàn hạt nhân và an ninh hạt nhân của Cơ quan Năng lượng nguyên
tử quốc tế.
3.
Chủ đầu tư dự án đầu tư xây dựng cơ sở hạt nhân, tổ chức vận hành cơ sở hạt
nhân phải lập báo cáo phân tích an toàn của cơ sở hạt nhân bao gồm: thông tin
chi tiết liên quan đến an toàn, mức độ phức tạp của cơ sở hạt nhân và các rủi
ro bức xạ hạt nhân liên quan nhằm đánh giá và chứng minh sự tuân thủ các yêu cầu
về an toàn bức xạ, an toàn hạt nhân và an ninh hạt nhân, bảo đảm việc cập nhật,
tính nhất quán và liên tục trong các giai đoạn phê duyệt địa điểm, thiết kế,
xây dựng, vận hành thử, vận hành. Báo cáo phân tích an toàn của cơ sở hạt nhân
được lưu giữ cho đến khi cơ sở hạt nhân chấm dứt hoạt động hoàn toàn.
4.
Chính phủ quy định chi tiết nội dung sau đây:
a)
Trách nhiệm của Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan có liên quan về an toàn bức xạ,
an toàn hạt nhân và an ninh hạt nhân đối với cơ sở hạt nhân;
b)
Yêu cầu an toàn bức xạ đối với thiết kế, xây dựng, vận hành thử, vận hành và chấm
dứt hoạt động cơ sở hạt nhân;
c)
Yêu cầu an toàn hạt nhân đối với địa điểm, thiết kế, xây dựng, vận hành thử, vận
hành và chấm dứt hoạt động cơ sở hạt nhân;
d)
Yêu cầu về an ninh hạt nhân đối với vật liệu hạt nhân, nhiên liệu hạt nhân, thiết
bị hạt nhân và cơ sở hạt nhân.
Điều 34. Trách nhiệm của
người đứng đầu cơ sở hạt nhân
1.
Trách nhiệm chung bao gồm:
a)
Chịu trách nhiệm cao nhất về bảo đảm an toàn bức xạ, an toàn hạt nhân và an
ninh hạt nhân và bảo vệ môi trường trong toàn bộ vòng đời cơ sở hạt nhân;
b)
Bảo đảm tuân thủ đầy đủ quy định của Luật này, quy định khác của pháp luật có
liên quan;
c)
Xây dựng biện pháp quản lý, phân công rõ trách nhiệm và quyền hạn cho các bộ phận,
cá nhân liên quan đến an toàn bức xạ, an toàn hạt nhân và an ninh hạt nhân; thiết
lập hệ thống giám sát và đánh giá việc thực hiện;
d)
Tuân thủ quy định tại các điểm c, d, đ, e, g, h và i khoản 1 Điều 25 của Luật
này.
2.
Trách nhiệm bảo đảm an toàn bức xạ và an toàn hạt nhân bao gồm:
a)
Bảo đảm nguồn lực cần thiết cho công tác bảo đảm an toàn bức xạ và an toàn hạt
nhân;
b)
Xây dựng và tổ chức thực hiện: báo cáo phân tích an toàn, hệ thống quản lý chất
lượng;
c)
Tổ chức quan trắc phóng xạ môi trường theo quy định tại khoản 2 Điều 23 của Luật
này và quan trắc các thông số khác theo quy định của pháp luật có liên quan;
d)
Lập và gửi báo cáo thực trạng an toàn hằng năm, báo cáo tổng thể 10 năm hoặc
báo cáo theo yêu cầu tới cơ quan an toàn bức xạ và an toàn hạt nhân quốc gia;
đ)
Thiết lập, duy trì và thúc đẩy văn hóa an toàn.
3.
Trách nhiệm bảo đảm an ninh hạt nhân bao gồm:
a)
Bảo đảm nguồn lực cần thiết cho công tác bảo đảm an ninh hạt nhân;
b)
Xây dựng, tổ chức thực hiện kế hoạch bảo đảm an ninh cơ sở hạt nhân;
c)
Thiết lập, duy trì và thúc đẩy văn hóa an ninh;
d)
Thực hiện ngay biện pháp cần thiết để tìm kiếm, thu hồi nhiên liệu hạt nhân, vật
liệu hạt nhân bị thất lạc, chiếm đoạt, chuyển giao hoặc sử dụng trái phép; đồng
thời báo cáo cho Ủy ban nhân dân, cơ quan công an nơi gần nhất và cơ quan an
toàn bức xạ và hạt nhân quốc gia; chịu trách nhiệm toàn bộ chi phí liên quan;
đ)
Triển khai hệ thống bảo đảm an ninh và bảo vệ thực thể nhằm phát hiện, ngăn chặn
và ứng phó kịp thời với hành vi chiếm đoạt, chuyển giao, sử dụng trái phép
nhiên liệu hạt nhân, vật liệu hạt nhân; hành vi khủng bố, phá hoại đối với thiết
bị hạt nhân. Khi phát hiện dấu hiệu vi phạm, phải báo cáo ngay cơ quan an toàn
bức xạ và hạt nhân quốc gia và cơ quan có thẩm quyền để xử lý theo quy định của
pháp luật.
4.
Chính phủ quy định chi tiết Điều này.
Điều 35. Thông tin,
tuyên truyền
1.
Cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền ở trung ương, Ủy ban nhân dân cấp tỉnh
nơi có cơ sở hạt nhân và cơ sở hạt nhân tổ chức thực hiện các quy định sau đây:
a)
Tuyên truyền, cung cấp thông tin nhằm nâng cao hiểu biết của Nhân dân về cơ sở
hạt nhân;
b)
Tuyên truyền, phổ biến kiến thức về an toàn, an ninh và ứng phó sự cố cho Nhân
dân địa phương nơi có cơ sở hạt nhân;
c)
Cung cấp thường xuyên thông tin về tình trạng an toàn, an ninh của cơ sở hạt
nhân cho Nhân dân địa phương;
d)
Thiết lập cơ chế tiếp nhận, xử lý ý kiến phản ánh và giám sát của người dân, cộng
đồng dân cư về an toàn, an ninh, đặc biệt trên nền tảng số về an toàn bức xạ,
an toàn hạt nhân và an ninh hạt nhân, phát triển, ứng dụng năng lượng nguyên tử.
2.
Chính phủ quy định chi tiết Điều này.
Mục 5
CHẤT THẢI PHÓNG XẠ, NGUỒN
PHÓNG XẠ ĐÃ QUA SỬ DỤNG VÀ
NHIÊN LIỆU HẠT NHÂN ĐÃ QUA SỬ DỤNG
Điều 36. Yêu cầu chung
về quản lý chất thải phóng xạ, nguồn phóng xạ đã qua sử dụng và nhiên liệu hạt
nhân đã qua sử dụng
1.
Quản lý chất thải phóng xạ, nguồn phóng xạ đã qua sử dụng bao gồm các hoạt động:
thu gom, phân loại, xử lý, lưu giữ, chôn cất chất thải phóng xạ, nguồn phóng xạ
đã qua sử dụng.
2.
Quản lý nhiên liệu hạt nhân đã qua sử dụng bao gồm các hoạt động: xử lý, lưu giữ,
chôn cất nhiên liệu hạt nhân đã qua sử dụng.
3.
Hoạt động quản lý chất thải phóng xạ, nguồn phóng xạ đã qua sử dụng và nhiên liệu
hạt nhân đã qua sử dụng phải tuân thủ các nguyên tắc sau đây:
a)
Bảo vệ con người và môi trường khỏi các nguy hại phóng xạ, các nguy hại khác và
không tạo gánh nặng cho thế hệ tương lai;
b)
Giảm thiểu phát sinh chất thải phóng xạ ở mức thấp nhất có thể;
c)
Tính đến các nguy hại về sinh học, hóa học và các nguy hại khác có thể đi kèm với
việc quản lý chất thải phóng xạ, nguồn phóng xạ đã qua sử dụng và nhiên liệu hạt
nhân đã qua sử dụng;
d)
Có biện pháp kiểm soát tới hạn và tản nhiệt dư sinh ra trong quá trình quản lý
chất thải phóng xạ và nhiên liệu hạt nhân đã qua sử dụng;
đ)
Việc thực hiện biện pháp bảo đảm an toàn, an ninh đối với quản lý chất thải
phóng xạ, nguồn phóng xạ đã qua sử dụng và nhiên liệu hạt nhân đã qua sử dụng
phải tuân thủ quy chuẩn kỹ thuật quốc gia, trong trường hợp chưa có quy chuẩn kỹ
thuật quốc gia thì có thể áp dụng tiêu chuẩn quốc gia, tiêu chuẩn nước ngoài,
quy định kỹ thuật của nước ngoài, tiêu chuẩn quốc tế phù hợp với điều kiện Việt
Nam, phù hợp với các tiêu chuẩn, hướng dẫn về an toàn bức xạ, an toàn hạt nhân
và an ninh hạt nhân của Cơ quan Năng lượng nguyên tử quốc tế và quy định tại điều
ước quốc tế liên quan mà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên;
e)
Bảo đảm nguồn lực tài chính về quản lý chất thải phóng xạ, nguồn phóng xạ đã
qua sử dụng và nhiên liệu hạt nhân đã qua sử dụng.
4.
Địa điểm lưu giữ, xử lý, chôn cất chất thải phóng xạ, nguồn phóng xạ đã qua sử
dụng và nhiên liệu hạt nhân đã qua sử dụng cấp quốc gia được xác định trong quy
hoạch bảo vệ môi trường quốc gia, quy hoạch vùng, quy hoạch tỉnh, quy hoạch
phát triển, ứng dụng năng lượng nguyên tử và quy hoạch khác có liên quan.
5.
Địa điểm lưu giữ, xử lý, chôn cất tập trung chất thải phóng xạ cấp tỉnh được
xác định trong quy hoạch bảo vệ môi trường quốc gia, quy hoạch vùng, quy hoạch
tỉnh, quy hoạch phát triển, ứng dụng năng lượng nguyên tử và quy hoạch khác có
liên quan.
6.
Cơ quan quản lý nhà nước ở trung ương về năng lượng nguyên tử tổ chức xây dựng
nội dung quy hoạch về địa điểm lưu giữ, xử lý, chôn cất chất thải phóng xạ, nguồn
phóng xạ đã qua sử dụng và nhiên liệu hạt nhân đã qua sử dụng cấp quốc gia để
tích hợp vào quy hoạch bảo vệ môi trường quốc gia.
7.
Chính phủ quy định chi tiết các khoản 4, 5 và 6 Điều này.
Điều 37. Trách nhiệm của
tổ chức, cá nhân làm phát sinh chất thải phóng xạ, nguồn phóng xạ đã qua sử dụng
hoặc nhiên liệu hạt nhân đã qua sử dụng
1.
Tổ chức, cá nhân làm phát sinh chất thải phóng xạ, nguồn phóng xạ đã qua sử dụng
hoặc nhiên liệu hạt nhân đã qua sử dụng có trách nhiệm sau đây:
a)
Khai báo, đề nghị cấp giấy phép tiến hành công việc bức xạ theo quy định của Luật
này;
b)
Thực hiện quy định về chuyển giao trong trường hợp bắt buộc hoặc tự nguyện chuyển
giao chất thải phóng xạ, nguồn phóng xạ đã qua sử dụng hoặc nhiên liệu hạt nhân
đã qua sử dụng;
c)
Bảo đảm chi phí cho hoạt động quy định tại khoản 1 và khoản 2 Điều 36 của Luật
này.
2.
Chính phủ quy định chi tiết điểm b và điểm c khoản 1 Điều này.
Điều 38. Tổ chức xử lý,
lưu giữ, chôn cất chất thải phóng xạ, nguồn phóng xạ đã qua sử dụng và nhiên liệu
hạt nhân đã qua sử dụng
1.
Tổ chức xử lý, lưu giữ, chôn cất chất thải phóng xạ, nguồn phóng xạ đã qua sử dụng
và nhiên liệu hạt nhân đã qua sử dụng là doanh nghiệp, tổ chức khác được thành
lập theo quy định của pháp luật.
2.
Tổ chức quy định tại khoản 1 Điều này có trách nhiệm sau đây:
a)
Đề nghị cơ quan an toàn bức xạ và hạt nhân quốc gia cấp giấy phép tiến hành
công việc bức xạ đối với hoạt động xử lý, lưu giữ, chôn cất chất thải phóng xạ,
nguồn phóng xạ đã qua sử dụng hoặc nhiên liệu hạt nhân đã qua sử dụng;
b)
Có phương án bảo đảm tài chính cho hoạt động và chấm dứt hoạt động của tổ chức;
c)
Quản lý an toàn bức xạ, an toàn hạt nhân và an ninh hạt nhân đối với chất thải
phóng xạ, nguồn phóng xạ đã qua sử dụng hoặc nhiên liệu hạt nhân đã qua sử dụng
trong toàn bộ vòng đời hoạt động của tổ chức.
3.
Chính phủ quy định chi tiết khoản 1, khoản 2 Điều này và các nội dung sau đây:
a)
Thu gom, phân loại, xử lý, lưu giữ, chôn cất chất thải phóng xạ, nguồn phóng xạ
đã qua sử dụng và nhiên liệu hạt nhân đã qua sử dụng;
b)
Yêu cầu lựa chọn địa điểm xử lý, lưu giữ, chôn cất chất thải phóng xạ, nguồn
phóng xạ đã qua sử dụng và nhiên liệu hạt nhân đã qua sử dụng;
c)
Việc bảo đảm tài chính cho hoạt động và chấm dứt hoạt động của tổ chức xử lý,
lưu giữ, chôn cất chất thải phóng xạ, nguồn phóng xạ đã qua sử dụng và nhiên liệu
hạt nhân đã qua sử dụng quy định tại điểm c khoản 1 Điều 37 của Luật này;
d)
Trách nhiệm Bộ, cơ quan ngang Bộ, địa phương có liên quan trong bảo đảm an
ninh, an toàn cho việc xử lý, lưu giữ, chôn cất chất thải phóng xạ, nguồn phóng
xạ đã qua sử dụng và nhiên liệu hạt nhân đã qua sử dụng.
Điều 39. Xuất khẩu chất
thải phóng xạ, nhiên liệu hạt nhân đã qua sử dụng, xuất khẩu và nhập khẩu nguồn
phóng xạ đã qua sử dụng
1.
Việc xuất khẩu chất thải phóng xạ, nguồn phóng xạ đã qua sử dụng và nhiên liệu
hạt nhân đã qua sử dụng phải được cơ quan an toàn bức xạ và hạt nhân quốc gia cấp
phép khi đáp ứng các yêu cầu sau đây:
a)
Quốc gia nhập khẩu đã được thông báo về việc chuyển giao chất thải phóng xạ,
nguồn phóng xạ đã qua sử dụng và nhiên liệu hạt nhân đã qua sử dụng và đã đồng
ý tiếp nhận;
b)
Việc vận chuyển chất thải phóng xạ, nguồn phóng xạ đã qua sử dụng và nhiên liệu
hạt nhân đã qua sử dụng tuân thủ các cam kết quốc tế tại tất cả các quốc gia mà
các vật liệu đó quá cảnh;
c)
Quốc gia nhập khẩu có hạ tầng kỹ thuật và pháp luật cần thiết để quản lý an
toàn, an ninh chất thải phóng xạ, nguồn phóng xạ đã qua sử dụng và nhiên liệu hạt
nhân đã qua sử dụng phù hợp với tiêu chuẩn quốc tế và các hướng dẫn của Cơ quan
Năng lượng nguyên tử quốc tế.
2.
Nguồn phóng xạ đã qua sử dụng được phép nhập khẩu nếu có nguồn gốc sản xuất tại
Việt Nam hoặc đáp ứng quy định sau đây:
a)
Còn hoạt độ phóng xạ phù hợp để dự kiến tiếp tục sử dụng cho mục đích dân sự tại
Việt Nam;
b)
Có tài liệu chứng minh nguồn gốc xuất xứ, đặc điểm kỹ thuật;
c)
Có mục đích sử dụng rõ ràng và đáp ứng quy định về bảo đảm an toàn bức xạ, an
ninh nguồn phóng xạ.
3.
Chính phủ quy định chi tiết Điều này.
Điều 40. Quản lý vật thể
bị nhiễm bẩn phóng xạ và thanh lý vật thể bị nhiễm bẩn phóng xạ, nguồn phóng xạ
đã qua sử dụng
1.
Thanh lý vật thể bị nhiễm bẩn phóng xạ và nguồn phóng xạ đã qua sử dụng là thủ
tục đưa vật thể bị nhiễm bẩn phóng xạ và nguồn phóng xạ đã qua sử dụng ra khỏi
đối tượng quản lý của cơ quan an toàn bức xạ và hạt nhân quốc gia.
2.
Tổ chức, cá nhân có vật thể bị nhiễm bẩn phóng xạ có trách nhiệm sau đây:
a)
Quản lý vật thể bị nhiễm bẩn phóng xạ theo quy định tại các điều 36, 37 và 38 của
Luật này hoặc chuyển giao cho cơ sở đã được cấp phép tiến hành công việc bức xạ
đối với hoạt động xử lý, lưu giữ, chôn cất chất thải phóng xạ, nguồn phóng xạ
đã qua sử dụng hoặc nhiên liệu hạt nhân đã qua sử dụng;
b)
Đề nghị cơ quan an toàn bức xạ và hạt nhân quốc gia cho phép thanh lý vật thể bị
nhiễm bẩn phóng xạ có giá trị nồng độ hoạt độ phóng xạ hoặc tổng hoạt độ phóng
xạ nhỏ hơn hoặc bằng mức thanh lý.
3.
Tổ chức, cá nhân có nguồn phóng xạ đã qua sử dụng đề nghị cơ quan an toàn bức xạ
và hạt nhân quốc gia cho phép thanh lý nguồn phóng xạ đã qua sử dụng có tổng hoạt
độ phóng xạ nhỏ hơn hoặc bằng mức thanh lý.
4.
Chính phủ quy định chi tiết khoản 2 và khoản 3 Điều này.
Chương IV
NHÀ MÁY ĐIỆN HẠT NHÂN,
LÒ PHẢN ỨNG HẠT NHÂN NGHIÊN CỨU
Mục 1
NHÀ MÁY ĐIỆN HẠT NHÂN
Điều 41. Yêu cầu chung
1.
Việc lựa chọn, phê duyệt địa điểm, thiết kế, xây dựng, vận hành thử, vận hành,
chấm dứt hoạt động và bảo đảm an toàn, an ninh nhà máy điện hạt nhân phải tuân
thủ quy định của Luật này và quy định khác của pháp luật có liên quan.
2.
Cơ quan an toàn bức xạ và hạt nhân quốc gia có trách nhiệm sau đây:
a)
Tham mưu, giúp cơ quan quản lý nhà nước ở trung ương về năng lượng nguyên tử
trong việc chủ trì thẩm định an toàn bức xạ, an toàn hạt nhân và an ninh hạt
nhân, cấp giấy phép xây dựng nhà máy điện hạt nhân, cấp giấy phép vận hành thử
tổ máy điện hạt nhân, vận hành và chấm dứt hoạt động nhà máy điện hạt nhân;
b)
Thanh tra, kiểm tra, giám sát, phối hợp thanh sát hạt nhân đối với các hoạt động
liên quan đến nhà máy điện hạt nhân theo quy định của Luật này và quy định khác
của pháp luật có liên quan.
Điều 42. Chủ trương đầu
tư dự án đầu tư xây dựng nhà máy điện hạt nhân
1.
Việc quyết định chủ trương đầu tư dự án đầu tư xây dựng nhà máy điện hạt nhân
thực hiện theo quy định của pháp luật về đầu tư công, Luật này và quy định khác
của pháp luật có liên quan; việc chấp thuận chủ trương đầu tư dự án đầu tư xây
dựng nhà máy điện hạt nhân thực hiện theo quy định của pháp luật về đầu tư, Luật
này và quy định khác của pháp luật có liên quan.
2.
Báo cáo nghiên cứu tiền khả thi dự án đầu tư xây dựng nhà máy điện hạt nhân được
lập theo quy định của pháp luật về xây dựng, đồng thời phải bao gồm nội dung về
khảo sát và đánh giá sơ bộ tính phù hợp của địa điểm xây dựng nhà máy điện hạt
nhân, đánh giá sơ bộ về tác động phóng xạ theo quy định của pháp luật về năng
lượng nguyên tử, thiết kế sơ bộ theo quy định tại điểm a khoản 3 Điều 44 của Luật
này và nội dung đặc thù khác có liên quan.
3.
Chính phủ quy định chi tiết Điều này.
Điều 43. Địa điểm xây dựng
nhà máy điện hạt nhân
1.
Chủ đầu tư có trách nhiệm khảo sát, đánh giá chi tiết địa điểm xây dựng nhà máy
điện hạt nhân. Việc khảo sát, đánh giá phải xem xét đầy đủ các yếu tố sau đây:
a)
Các yếu tố tự nhiên và nhân tạo có khả năng tác động từ bên ngoài tới an toàn của
nhà máy điện hạt nhân;
b)
Các đặc điểm của địa điểm và môi trường liên quan tới phát tán phóng xạ từ nhà
máy điện hạt nhân có thể gây hại cho con người và môi trường;
c)
Mật độ, phân bố dân cư và các đặc điểm của khu vực liên quan tới khả năng thực
hiện các biện pháp ứng phó sự cố bức xạ, sự cố hạt nhân;
d)
Đặc điểm về quốc phòng, an ninh, trật tự, an toàn của địa điểm, bao gồm nguy cơ
xâm nhập trái phép, phá hoại, tấn công khủng bố và các yếu tố ảnh hưởng đến việc
bảo đảm an ninh, an toàn trong quá trình xây dựng, vận hành thử, vận hành và chấm
dứt hoạt động nhà máy điện hạt nhân.
2.
Chủ đầu tư phải lập hồ sơ đề nghị phê duyệt địa điểm xây dựng nhà máy điện hạt
nhân.
3.
Địa điểm xây dựng nhà máy điện hạt nhân được phê duyệt khi đáp ứng các yêu cầu
cơ bản sau đây:
a)
Phù hợp với quy hoạch cấp quốc gia, quy hoạch vùng, quy hoạch tỉnh và quy hoạch
có tính chất kỹ thuật, chuyên ngành liên quan;
b)
Bảo đảm an toàn cho dân cư trên địa bàn và bảo vệ môi trường;
c)
Bảo đảm an toàn cho hoạt động của nhà máy điện hạt nhân có tính tới các yếu tố
địa chất, khí tượng, thủy văn, thiên tai, giao thông và các yếu tố khác;
d)
Bảo đảm quốc phòng, an ninh nhà máy điện hạt nhân, phù hợp với yêu cầu bảo đảm
an ninh quốc gia và trật tự, an toàn xã hội;
đ)
Bảo đảm khả năng thực hiện kế hoạch ứng phó sự cố bức xạ, sự cố hạt nhân giảm
thiểu hậu quả khi xảy ra sự cố bức xạ, sự cố hạt nhân.
4.
Thủ tướng Chính phủ xem xét, phê duyệt địa điểm xây dựng nhà máy điện hạt nhân.
Việc phê duyệt địa điểm được thực hiện trước hoặc đồng thời với việc quyết định
đầu tư xây dựng nhà máy điện hạt nhân.
5.
Chính phủ quy định chi tiết Điều này.
Điều 44. Thiết kế xây dựng
nhà máy điện hạt nhân
1.
Chủ đầu tư có trách nhiệm tổ chức lập thiết kế xây dựng nhà máy điện hạt nhân
theo từng giai đoạn phù hợp với tiến độ và yêu cầu kỹ thuật của dự án; bảo đảm
thiết kế xây dựng đáp ứng các yêu cầu về an toàn bức xạ, an toàn hạt nhân và an
ninh hạt nhân theo quy định của pháp luật về năng lượng nguyên tử. Thiết kế xây
dựng phải được thực hiện bởi tổ chức, cá nhân có đủ điều kiện năng lực theo quy
định của pháp luật về xây dựng, pháp luật về năng lượng nguyên tử, quy định
khác của pháp luật có liên quan và được kiểm soát thông qua hệ thống quản lý chất
lượng.
2.
Thiết kế xây dựng nhà máy điện hạt nhân phải đáp ứng các nguyên tắc cơ bản sau
đây:
a)
Tuân thủ nguyên tắc bảo vệ theo chiều sâu, nguyên tắc bảo đảm an toàn bức xạ,
an toàn hạt nhân và an ninh hạt nhân;
b)
Sử dụng các công nghệ tiên tiến, được kiểm chứng;
c)
Bảo đảm vận hành ổn định, tin cậy trong các giới hạn và điều kiện vận hành
trong toàn bộ vòng đời của nhà máy; có tính tới yếu tố con người và tương tác
giữa người và máy.
3.
Thiết kế xây dựng nhà máy điện hạt nhân phải tuân thủ quy định của pháp luật về
xây dựng, pháp luật về năng lượng nguyên tử và phải bảo đảm các yêu cầu theo từng
giai đoạn như sau:
a)
Thiết kế sơ bộ thuộc báo cáo nghiên cứu tiền khả thi đầu tư xây dựng phải bảo đảm
đủ thông tin cần thiết để đánh giá sơ bộ cho lựa chọn địa điểm xây dựng;
b)
Thiết kế cơ sở thuộc báo cáo nghiên cứu khả thi đầu tư xây dựng phải bảo đảm đủ
thông tin cần thiết để đánh giá sự phù hợp của công nghệ được lựa chọn và tính
khả thi của các giải pháp thiết kế về an toàn bức xạ, an toàn hạt nhân và an
ninh hạt nhân;
c)
Thiết kế triển khai sau thiết kế cơ sở tại các giai đoạn thực hiện dự án phải
phù hợp với các đặc điểm của địa điểm, dựa trên các tiêu chí thiết kế bảo đảm
công trình được xây dựng phù hợp với yêu cầu an toàn, bảo đảm việc vận hành an
toàn của nhà máy điện hạt nhân, bảo đảm đủ nội dung thông tin để lập báo cáo
phân tích an toàn theo quy định của pháp luật về năng lượng nguyên tử;
d)
Yêu cầu khác về thiết kế theo thông lệ quốc tế.
4.
Việc thẩm định, phê duyệt thiết kế xây dựng thực hiện theo quy định của pháp luật
về xây dựng, pháp luật về năng lượng nguyên tử và quy định khác của pháp luật
có liên quan.
5.
Cơ quan an toàn bức xạ và hạt nhân quốc gia thẩm định các nội dung của thiết kế
có liên quan đến an toàn bức xạ, an toàn hạt nhân và an ninh hạt nhân quy định
tại khoản 3 Điều này làm căn cứ để thực hiện thẩm định, phê duyệt quy định tại
khoản 4 Điều này.
6.
Chính phủ quy định chi tiết Điều này.
Điều 45. Quyết định đầu
tư dự án đầu tư xây dựng nhà máy điện hạt nhân
1.
Trách nhiệm của chủ đầu tư dự án đầu tư xây dựng nhà máy điện hạt nhân bao gồm:
a)
Thực hiện đánh giá tác động môi trường theo quy định của pháp luật về bảo vệ
môi trường, trong đó phải bao gồm cả nội dung đánh giá tác động môi trường về
phóng xạ và bức xạ;
b)
Lập báo cáo nghiên cứu khả thi đầu tư xây dựng nhà máy điện hạt nhân theo quy định
của pháp luật về xây dựng, quy định khác của pháp luật có liên quan, trong đó
phải bao gồm cả nội dung: phương án bảo đảm cung cấp nhiên liệu hạt nhân; an
toàn bức xạ, an toàn hạt nhân và an ninh hạt nhân; xử lý, quản lý nhiên liệu hạt
nhân đã qua sử dụng, chất thải phóng xạ; biện pháp bảo vệ môi trường; phương án
đào tạo nguồn nhân lực và nội dung đặc thù khác theo quy định của pháp luật về
năng lượng nguyên tử.
2.
Trình tự, thủ tục, thẩm quyền thẩm định, phê duyệt kết quả thẩm định báo cáo
đánh giá tác động môi trường được thực hiện theo quy định của pháp luật về bảo
vệ môi trường.
3.
Đối với dự án đầu tư xây dựng nhà máy điện hạt nhân sử dụng vốn đầu tư công,
trình tự, thủ tục thẩm định, quyết định đầu tư xây dựng thực hiện theo quy định
của pháp luật về đầu tư công và quy định khác của pháp luật có liên quan.
4.
Việc quyết định đầu tư xây dựng nhà máy điện hạt nhân không sử dụng vốn đầu tư
công thực hiện theo quy định của pháp luật về xây dựng và quy định khác của
pháp luật có liên quan.
5.
Chính phủ quy định chi tiết Điều này.
Điều 46. Xây dựng nhà
máy điện hạt nhân
1.
Chủ đầu tư phải lập hồ sơ đề nghị cấp giấy phép xây dựng nhà máy điện hạt nhân,
trong đó bao gồm báo cáo phân tích an toàn giai đoạn xây dựng và các tài liệu
khác theo quy định của pháp luật về năng lượng nguyên tử, pháp luật về xây dựng,
nộp cơ quan quản lý nhà nước ở trung ương về năng lượng nguyên tử để thẩm định,
cấp giấy phép xây dựng nhà máy điện hạt nhân.
2.
Việc thi công các hạng mục liên quan đến an toàn bức xạ, an toàn hạt nhân và an
ninh hạt nhân của nhà máy điện hạt nhân chỉ được thực hiện sau khi chủ đầu tư
được cấp giấy phép xây dựng nhà máy điện hạt nhân. Cơ quan quản lý nhà nước ở
trung ương về năng lượng nguyên tử cấp giấy phép xây dựng nhà máy điện hạt nhân
khi chủ đầu tư đáp ứng các điều kiện sau đây:
a)
Báo cáo phân tích an toàn giai đoạn xây dựng đáp ứng yêu cầu theo quy định của
pháp luật về năng lượng nguyên tử;
b)
Thiết kế của nhà máy điện hạt nhân phù hợp với đặc điểm của địa điểm xây dựng,
bảo đảm không gây ảnh hưởng bất lợi đến địa điểm; đáp ứng các quy định tại khoản
2 và điểm c khoản 3 Điều 44 của Luật này;
c)
Hệ thống quản lý chất lượng đáp ứng yêu cầu theo quy định của pháp luật về xây
dựng và pháp luật về năng lượng nguyên tử;
d)
Chủ đầu tư có đủ năng lực để tổ chức thực hiện xây dựng nhà máy điện hạt nhân;
đ)
Kế hoạch xây dựng đáp ứng yêu cầu theo quy định của pháp luật về xây dựng, pháp
luật về năng lượng nguyên tử;
e)
Kế hoạch bảo đảm an ninh đáp ứng yêu cầu theo quy định của pháp luật về năng lượng
nguyên tử và quy định khác của pháp luật có liên quan;
g)
Kế hoạch chấm dứt hoạt động đáp ứng yêu cầu theo quy định của pháp luật về năng
lượng nguyên tử;
h)
Điều kiện khác theo quy định của pháp luật có liên quan.
3.
Chủ đầu tư phải tổ chức kiểm tra, giám sát chất lượng việc chế tạo cấu trúc, hệ
thống và bộ phận quan trọng về an toàn của nhà máy điện hạt nhân, giám sát nhà
thầu chính, nhà thầu phụ, nhà cung cấp.
4.
Trong quá trình thi công xây dựng, việc điều chỉnh thiết kế (nếu có) được thực
hiện theo quy định của pháp luật về xây dựng; trường hợp điều chỉnh thiết kế
làm ảnh hưởng đến giải pháp bảo đảm an toàn bức xạ, an toàn hạt nhân và an ninh
hạt nhân so với nội dung đã được thẩm định, chủ đầu tư phải báo cáo cơ quan quản
lý nhà nước ở trung ương về năng lượng nguyên tử để xem xét, chấp thuận trước
khi tiếp tục thi công các hạng mục liên quan.
5.
Việc thi công xây dựng, quản lý chất lượng, nghiệm thu, kiểm tra công tác nghiệm
thu hoàn thành của chủ đầu tư, bàn giao, bảo hành, bảo trì, công trình xây dựng
tổ máy điện hạt nhân, nhà máy điện hạt nhân tuân thủ quy định của pháp luật về
xây dựng, pháp luật về phòng cháy, chữa cháy và cứu nạn, cứu hộ và quy định
khác của pháp luật có liên quan.
6.
Chính phủ quy định chi tiết Điều này.
Điều 47. Vận hành thử tổ
máy điện hạt nhân
1.
Vận hành thử tổ máy điện hạt nhân bao gồm 02 giai đoạn chính sau đây:
a)
Thử nghiệm không có nhiên liệu hạt nhân là giai đoạn thực hiện các hoạt động thử
nghiệm, kiểm tra riêng lẻ và tích hợp các cấu trúc, hệ thống và bộ phận nhằm
xác minh tính toàn vẹn cơ học, khả năng vận hành và chức năng thiết kế của
chúng trong điều kiện không có nhiên liệu hạt nhân;
b)
Vận hành thử có nhiên liệu hạt nhân là giai đoạn thực hiện các hoạt động nạp
nhiên liệu hạt nhân vào lò phản ứng và tiến hành các thử nghiệm khởi động, kiểm
tra các hệ thống và thiết bị trong điều kiện có mặt nhiên liệu hạt nhân nhằm
xác minh khả năng vận hành an toàn của nhà máy theo từng mức công suất.
2.
Chủ đầu tư phải lập chương trình vận hành thử nộp cơ quan quản lý nhà nước ở
trung ương về năng lượng nguyên tử để xem xét thẩm định, phê duyệt trước khi tiến
hành thử nghiệm không có nhiên liệu hạt nhân.
3.
Chủ đầu tư phải được cấp giấy phép vận hành thử trước khi nạp nhiên liệu vào lò
phản ứng.
4.
Các yêu cầu để được cấp giấy phép vận hành thử bao gồm:
a)
Báo cáo phân tích an toàn giai đoạn vận hành thử, chương trình vận hành thử, giới
hạn và điều kiện vận hành, kết quả thử nghiệm không có nhiên liệu hạt nhân đáp ứng
yêu cầu an toàn;
b)
Các hạng mục kỹ thuật phải được hoàn thành và đáp ứng yêu cầu an toàn trước khi
vận hành thử;
c)
Hệ thống quản lý an toàn và hệ thống quản lý chất lượng đáp ứng các yêu cầu
theo quy định của pháp luật về năng lượng nguyên tử;
d)
Chủ đầu tư có đủ năng lực bảo đảm tổ chức việc vận hành thử an toàn; có nhân sự
vận hành được đào tạo, cấp chứng chỉ phù hợp; có chương trình đào tạo, huấn luyện
và sử dụng thiết bị mô phỏng theo quy định của pháp luật;
đ)
Hướng dẫn vận hành, kế hoạch ứng phó sự cố bức xạ, sự cố hạt nhân cấp cơ sở, kế
hoạch bảo đảm an ninh đáp ứng các yêu cầu theo quy định của pháp luật về năng
lượng nguyên tử;
e)
Giấy phép môi trường theo quy định của pháp luật về bảo vệ môi trường;
g)
Tuân thủ quy định khác của pháp luật có liên quan.
5.
Việc vận hành thử phải tuân thủ chương trình vận hành thử đã được phê duyệt,
trong trường hợp có sự thay đổi phải được cơ quan quản lý nhà nước ở trung ương
về năng lượng nguyên tử chấp thuận.
6.
Cơ quan an toàn bức xạ và hạt nhân quốc gia thực hiện giám sát toàn bộ quá
trình vận hành thử để bảo đảm các hoạt động được thực hiện phù hợp với chương
trình vận hành thử đã được phê duyệt và tuân thủ các yêu cầu an toàn bức xạ, an
toàn hạt nhân và an ninh hạt nhân.
7.
Sau khi hoàn thành việc vận hành thử, chủ đầu tư phải lập báo cáo kết quả vận
hành thử, giải trình rõ các thay đổi về chỉ tiêu kỹ thuật, điều kiện và giới hạn
vận hành so với thiết kế khi xây dựng.
8.
Chính phủ quy định chi tiết Điều này; quy định trình tự, thủ tục thẩm định, cấp
giấy phép vận hành thử tổ máy điện hạt nhân; quy định trách nhiệm của các bên
liên quan trong quá trình vận hành thử tổ máy điện hạt nhân.
Điều 48. Vận hành nhà
máy điện hạt nhân
1.
Tổ chức vận hành phải lập hồ sơ đề nghị cấp giấy phép vận hành, nộp cơ quan quản
lý nhà nước ở trung ương về năng lượng nguyên tử để thẩm định, cấp giấy phép.
2.
Tổ chức vận hành được cấp giấy phép vận hành khi đáp ứng đủ các điều kiện sau
đây:
a)
Có nhà máy điện hạt nhân được xây dựng phù hợp với thông số thiết kế; tình trạng
thực tế của nhà máy đáp ứng yêu cầu vận hành an toàn;
b)
Có đủ nguồn lực bảo đảm việc vận hành an toàn;
c)
Báo cáo phân tích an toàn giai đoạn vận hành, quy trình và hướng dẫn vận hành,
giới hạn và điều kiện vận hành đáp ứng yêu cầu an toàn;
d)
Có hệ thống quản lý chất lượng trong giai đoạn vận hành đáp ứng yêu cầu của
pháp luật về năng lượng nguyên tử;
đ)
Có kế hoạch chấm dứt hoạt động đáp ứng yêu cầu của pháp luật về năng lượng
nguyên tử;
e)
Có biện pháp bảo đảm tài chính để thực hiện các nghĩa vụ pháp lý trong suốt quá
trình vận hành và chấm dứt hoạt động;
g)
Điều kiện khác theo quy định của pháp luật có liên quan.
3.
Tổ chức vận hành phải lập hồ sơ đề nghị cấp giấy phép hoạt động điện lực theo
quy định của pháp luật về điện lực sau khi có giấy phép vận hành theo quy định
của Luật này.
4.
Tổ chức vận hành phải bảo đảm vận hành an toàn, ổn định theo giới hạn và điều
kiện được phê duyệt; duy trì hệ thống quản lý chất lượng, quan trắc phóng
xạ môi trường; thực hiện đầy đủ các chương trình bảo trì, thử nghiệm, quan
trắc, kiểm tra và kiểm soát chất lượng, bảo đảm năng lực ứng phó sự cố bức xạ,
sự cố hạt nhân; thường xuyên đánh giá rủi ro bức xạ và áp dụng biện pháp kiểm
soát phù hợp theo mức độ quan trọng về an toàn.
5.
Chính phủ quy định chi tiết Điều này.
Điều 49. Chấm dứt hoạt
động nhà máy điện hạt nhân
1.
Tổ chức vận hành nhà máy điện hạt nhân có trách nhiệm lập hồ sơ đề nghị cấp
giấy phép chấm dứt hoạt động, nộp cơ quan quản lý nhà nước ở trung ương về năng
lượng nguyên tử thẩm định, cấp giấy phép.
2.
Chấm dứt hoạt động nhà máy điện hạt nhân là việc thực hiện các biện pháp kỹ thuật
và hành chính nhằm công nhận tổ chức vận hành hết trách nhiệm bảo đảm an
toàn bức xạ, an toàn hạt nhân và an ninh hạt nhân. Việc chấm dứt hoạt động bao
gồm tẩy xạ, tháo dỡ, quản lý chất thải phóng xạ phát sinh trong quá trình này
và các hoạt động có liên quan.
3.
Kế hoạch chấm dứt hoạt động phải được xem xét từ giai đoạn thiết kế và được
rà soát, cập nhật định kỳ hoặc khi có sự thay đổi so với các giai đoạn trước
đó. Kế hoạch chấm dứt hoạt động phải được phê duyệt bởi cơ quan quản lý
nhà nước ở trung ương về năng lượng nguyên tử, mọi thay đổi so với kế hoạch đã
được phê duyệt phải được cơ quan này chấp thuận.
4.
Chủ sở hữu, tổ chức vận hành nhà máy điện hạt nhân phải chịu mọi chi phí
và có trách nhiệm bảo đảm đầy đủ nguồn tài chính cho việc chấm dứt hoạt động
nhà máy điện hạt nhân.
5.
Nhà máy điện hạt nhân chỉ được công nhận đã chấm dứt hoạt động và hết trách nhiệm
bảo đảm an toàn bức xạ, an toàn hạt nhân và an ninh hạt nhân khi hoàn thành kế
hoạch chấm dứt hoạt động đã được phê duyệt.
6.
Chính phủ quy định chi tiết Điều này.
Điều 50. Thẩm định các
nội dung liên quan đến nhà máy điện hạt nhân
1.
Cơ quan nhà nước có thẩm quyền tổ chức thẩm định hồ sơ đề nghị phê duyệt địa
điểm, công nghệ, an toàn bức xạ, an toàn hạt nhân và an ninh hạt nhân đối với
nhà máy điện hạt nhân có quyền thuê tư vấn hỗ trợ kỹ thuật để thực hiện một phần
hoặc toàn bộ công việc phục vụ công tác thẩm định.
2.
Chi phí thuê tư vấn hỗ trợ kỹ thuật được tính vào tổng mức đầu tư của dự án đầu
tư xây dựng nhà máy điện hạt nhân.
3.
Chính phủ quy định nội dung sau đây:
a)
Cơ quan chủ trì tổ chức thẩm định nội dung liên quan đến nhà máy điện hạt nhân;
b)
Nội dung, trách nhiệm, phương thức phối hợp thẩm định của Bộ, cơ quan ngang Bộ
và cơ quan khác có liên quan.
Điều 51. Giám sát an
toàn và bảo đảm an ninh
1.
Cơ quan an toàn bức xạ và hạt nhân quốc gia tổ chức thực hiện giám sát việc bảo
đảm an toàn bức xạ, an toàn hạt nhân và an ninh hạt nhân tại các giai đoạn khảo
sát, đánh giá địa điểm, thiết kế, chế tạo, xây dựng nhà máy điện hạt nhân, vận
hành thử tổ máy điện hạt nhân, vận hành và chấm dứt hoạt động nhà máy điện hạt
nhân.
2.
Trong quá trình giám sát, nếu phát hiện dấu hiệu gây mất an toàn bức xạ, an
toàn hạt nhân và an ninh hạt nhân, cơ quan an toàn bức xạ và hạt nhân quốc gia
có quyền sau đây:
a)
Yêu cầu tổ chức, cá nhân liên quan khắc phục và báo cáo kết quả thực hiện;
b)
Tiến hành thanh tra, kiểm tra đột xuất theo quy định tại khoản 4 Điều 59 và Điều
60 của Luật này. Trường hợp phát hiện hành vi vi phạm, xử lý hoặc kiến nghị cơ
quan có thẩm quyền xử lý theo quy định tại Điều 61 của Luật này;
c)
Tạm dừng một phần hoặc toàn bộ hoạt động có nguy cơ gây mất an toàn, an ninh
nghiêm trọng để ngăn ngừa sự cố bức xạ, sự cố hạt nhân.
3.
Cơ quan công an, cơ quan quốc phòng tổ chức lực lượng chuyên trách, thực hiện
biện pháp bảo vệ an ninh nhà máy điện hạt nhân theo quy định của pháp luật về bảo
vệ công trình quan trọng liên quan đến an ninh quốc gia, pháp luật về năng lượng
nguyên tử và quy định khác của pháp luật có liên quan.
4.
Chủ đầu tư, tổ chức vận hành có trách nhiệm sau đây:
a)
Thực hiện các biện pháp bảo vệ an ninh trong quá trình khảo sát, đánh giá địa
điểm, thiết kế, xây dựng nhà máy điện hạt nhân, vận hành thử tổ máy điện hạt
nhân, vận hành và chấm dứt hoạt động nhà máy điện hạt nhân;
b)
Bảo đảm nguồn lực, tài chính và cơ sở hạ tầng phục vụ công tác bảo vệ an ninh;
c)
Phối hợp chặt chẽ với cơ quan công an, cơ quan quốc phòng và cơ quan có thẩm
quyền trong công tác bảo đảm an ninh nhà máy điện hạt nhân.
5.
Chính phủ quy định chi tiết Điều này; quy định kinh phí bảo đảm hoạt động bảo vệ
công trình nhà máy điện hạt nhân.
Mục 2
LÒ PHẢN ỨNG HẠT NHÂN
NGHIÊN CỨU
Điều 52. Yêu cầu chung
1.
Cơ quan an toàn bức xạ và hạt nhân quốc gia có trách nhiệm sau đây:
a)
Tham mưu, giúp cơ quan quản lý nhà nước ở trung ương về năng lượng nguyên tử chủ
trì thẩm định an toàn bức xạ, an toàn hạt nhân và an ninh hạt nhân, phê duyệt địa
điểm, cấp phép xây dựng lò phản ứng hạt nhân nghiên cứu, vận hành thử, vận hành
và chấm dứt hoạt động lò phản ứng hạt nhân nghiên cứu;
b)
Thanh tra, kiểm tra, giám sát, phối hợp thanh sát hạt nhân đối với các hoạt động
liên quan đến lò phản ứng hạt nhân nghiên cứu theo quy định của Luật này và quy
định khác của pháp luật có liên quan.
2.
Việc lựa chọn, phê duyệt địa điểm, thiết kế, xây dựng, vận hành thử, vận hành,
chấm dứt hoạt động và bảo đảm an toàn bức xạ, an toàn hạt nhân và an ninh hạt
nhân lò phản ứng hạt nhân nghiên cứu phải tuân thủ quy định của Luật này và quy
định khác của pháp luật có liên quan.
3.
Việc thẩm định các nội dung liên quan đến lò phản ứng hạt nhân nghiên cứu được
thực hiện theo quy định tại Điều 50 của Luật này.
4.
Hoạt động giám sát an toàn tại các giai đoạn khảo sát, đánh giá địa điểm, thiết
kế, chế tạo, xây dựng, vận hành thử, vận hành và chấm dứt hoạt động lò phản ứng
hạt nhân nghiên cứu tuân thủ quy định tại khoản 1 và khoản 2 Điều 51 của Luật
này.
5.
Chính phủ quy định chi tiết Điều này; quy định các biện pháp và trách nhiệm của
các bên liên quan trong việc bảo đảm an ninh lò phản ứng hạt nhân nghiên cứu.
Điều 53. Chủ trương đầu
tư, địa điểm, thiết kế, quyết định dự án đầu tư và xây dựng lò phản ứng hạt
nhân nghiên cứu
1.
Việc quyết định chủ trương đầu tư xây dựng lò phản ứng hạt nhân nghiên cứu thực
hiện theo quy định tại Điều 42 của Luật này.
2.
Việc khảo sát, đánh giá, phê duyệt địa điểm xây dựng lò phản ứng hạt nhân
nghiên cứu phải tuân thủ quy định tại các khoản 1, 2, 3 và 5 Điều 43 của Luật
này.
3.
Cơ quan quản lý nhà nước ở trung ương về năng lượng nguyên tử xem xét, phê duyệt
địa điểm xây dựng lò phản ứng hạt nhân nghiên cứu. Việc phê duyệt địa điểm được
thực hiện trước hoặc đồng thời với việc quyết định đầu tư dự án xây dựng lò phản
ứng hạt nhân nghiên cứu.
4.
Thiết kế xây dựng lò phản ứng hạt nhân nghiên cứu phải tuân thủ quy định tại Điều
44 của Luật này, trừ điểm b khoản 2 Điều 44 của Luật này.
5.
Việc quyết định đầu tư dự án đầu tư xây dựng lò phản ứng hạt nhân nghiên cứu thực
hiện theo quy định tại các khoản 1, 2,3 và 4 Điều 45 của Luật này.
6.
Việc xây dựng lò phản ứng hạt nhân nghiên cứu được quy định như sau:
a)
Chủ đầu tư phải lập hồ sơ đề nghị cấp giấy phép xây dựng lò phản ứng hạt nhân
nghiên cứu theo quy định tại khoản 1 Điều 46 của Luật này, nộp cơ quan quản lý
nhà nước ở trung ương về năng lượng nguyên tử để thẩm định, cấp giấy phép xây dựng
lò phản ứng hạt nhân nghiên cứu;
b)
Trước khi tiến hành thi công xây dựng các hạng mục liên quan tới an toàn bức xạ,
an toàn hạt nhân và an ninh hạt nhân, chủ đầu tư phải đáp ứng đủ các điều kiện
quy định tại khoản 2 Điều 46 của Luật này;
c)
Trong quá trình thi công xây dựng, việc điều chỉnh thiết kế lò phản ứng hạt
nhân nghiên cứu tuân thủ quy định tại khoản 4 Điều 46 của Luật này;
d)
Việc thi công xây dựng, quản lý chất lượng, nghiệm thu, kiểm tra công tác nghiệm
thu hoàn thành của chủ đầu tư, bảo hành, bảo trì, bàn giao công trình xây dựng
lò phản ứng hạt nhân nghiên cứu tuân thủ quy định của pháp luật về xây dựng,
pháp luật về phòng cháy, chữa cháy và cứu nạn, cứu hộ và quy định khác của pháp
luật có liên quan.
7.
Chính phủ quy định chi tiết Điều này.
Điều 54. Vận hành thử,
vận hành và chấm dứt hoạt động lò phản ứng hạt nhân nghiên cứu
1.
Việc vận hành thử lò phản ứng hạt nhân nghiên cứu phải tuân thủ quy định tại
các khoản 1,2, 3, 5, 6 và 7 Điều 47 của Luật này, các điểm a, b, c, đ, e và g
khoản 4 Điều 47 của Luật này và yêu cầu chủ đầu tư có đủ năng lực bảo đảm vận
hành thử an toàn; nhân sự vận hành được đào tạo, cấp chứng chỉ phù hợp; có
chương trình đào tạo, huấn luyện theo quy định của pháp luật.
2.
Việc vận hành lò phản ứng hạt nhân nghiên cứu phải tuân thủ quy định tại các
khoản 1, 2 và 4 Điều 48 của Luật này.
3.
Trường hợp dừng lò dài hạn, tổ chức vận hành phải xây dựng chương trình bảo trì
kỹ thuật bao gồm các biện pháp kỹ thuật và hành chính nhằm bảo đảm an toàn hạt
nhân và an ninh hạt nhân trong suốt thời gian dừng lò dài hạn.
4.
Việc chấm dứt hoạt động đối với lò phản ứng hạt nhân nghiên cứu được thực hiện
theo quy định tại các khoản 1,2, 3, 4 và 5 Điều 49 của Luật này.
5.
Chính phủ quy định chi tiết Điều này.
Chương V
THÔNG BÁO, KHAI BÁO, CẤP
PHÉP, THANH TRA, KIỂM TRA
VÀ XỬ LÝ VI PHẠM
Mục 1
THÔNG BÁO, KHAI BÁO, CẤP
PHÉP
Điều 55. Thông báo và
khai báo
1.
Tổ chức, cá nhân có kế hoạch tiến hành công việc bức xạ thông báo cho cơ quan
quản lý nhà nước về an toàn bức xạ và hạt nhân.
2.
Tổ chức, cá nhân phải khai báo với cơ quan có thẩm quyền cấp giấy phép tiến
hành công việc bức xạ trong thời hạn 10 ngày làm việc kể từ ngày có chất phóng
xạ hoặc chất thải phóng xạ với nồng độ hoạt độ phóng xạ, tổng hoạt độ phóng xạ
trên mức miễn trừ khai báo, cấp phép; thiết bị bức xạ có suất liều, năng lượng
cực đại trên mức miễn trừ khai báo, cấp phép; vật liệu hạt nhân nguồn, vật liệu
hạt nhân, thiết bị hạt nhân.
3.
Tổ chức, cá nhân có kế hoạch chuyển giao, chuyển nhượng nguồn phóng xạ phải
khai báo với cơ quan an toàn bức xạ và hạt nhân quốc gia trong thời hạn 30 ngày
kể từ ngày có kế hoạch chuyển giao, chuyển nhượng nguồn phóng xạ.
4.
Chính phủ quy định trình tự, thủ tục khai báo, mức miễn trừ khai báo, cấp phép
và hình thức thông báo.
Điều 56. Cấp giấy phép
tiến hành công việc bức xạ và giấy đăng ký hoạt động dịch vụ hỗ trợ ứng dụng
năng lượng nguyên tử
1.
Tổ chức, cá nhân tiến hành công việc bức xạ quy định tại Điều 14 của Luật này
phải có giấy phép tiến hành công việc bức xạ, trừ trường hợp được miễn giấy
phép theo quy định của Chính phủ.
2.
Tổ chức, cá nhân thực hiện hoạt động dịch vụ hỗ trợ ứng dụng năng lượng nguyên
tử quy định tại Điều 15 của Luật này phải có giấy đăng ký hoạt động dịch vụ hỗ
trợ ứng dụng năng lượng nguyên tử.
3.
Tổ chức, cá nhân nộp hồ sơ đề nghị cấp giấy phép tiến hành công việc bức xạ, giấy
đăng ký hoạt động dịch vụ hỗ trợ ứng dụng năng lượng nguyên tử phải nộp phí
theo quy định của pháp luật về phí và lệ phí.
4.
Chính phủ quy định về điều kiện, trình tự, thủ tục cấp, thẩm quyền cấp và thời
hạn giấy phép tiến hành công việc bức xạ, giấy đăng ký hoạt động dịch vụ hỗ trợ
ứng dụng năng lượng nguyên tử.
Điều 57. Chứng chỉ
1.
Cá nhân thực hiện dịch vụ hoạt động hỗ trợ ứng dụng năng lượng nguyên tử quy định
tại Điều 15 của Luật này phải có chứng chỉ hành nghề dịch vụ hỗ trợ ứng dụng
năng lượng nguyên tử.
2.
Tổ chức, cá nhân nộp hồ sơ đề nghị cấp chứng chỉ nhân viên bức xạ, chứng chỉ
hành nghề dịch vụ hỗ trợ ứng dụng năng lượng nguyên tử phải nộp lệ phí theo quy
định của pháp luật về phí và lệ phí.
3.
Chính phủ quy định về vị trí công việc phải có chứng chỉ nhân viên bức xạ, điều
kiện, trình tự, thủ tục, thẩm quyền cấp và thời hạn của chứng chỉ nhân viên bức
xạ, chứng chỉ hành nghề dịch vụ hỗ trợ ứng dụng năng lượng nguyên tử.
Điều 58. Sửa đổi, bổ
sung, gia hạn và thu hồi giấy phép tiến hành công việc bức xạ, giấy đăng ký hoạt
động dịch vụ hỗ trợ ứng dụng năng lượng nguyên tử
1.
Tổ chức, cá nhân có nhu cầu sửa đổi, bổ sung, gia hạn giấy phép tiến hành công
việc bức xạ, giấy đăng ký hoạt động dịch vụ hỗ trợ ứng dụng năng lượng nguyên tử
phải gửi hồ sơ tới cơ quan nhà nước có thẩm quyền.
2.
Tổ chức, cá nhân bị thu hồi giấy phép tiến hành công việc bức xạ, giấy đăng ký
hoạt động dịch vụ hỗ trợ ứng dụng năng lượng nguyên tử trong các trường hợp sau
đây:
a)
Không bảo đảm điều kiện về an toàn bức xạ, an toàn hạt nhân và an ninh hạt nhân
theo quy định của pháp luật, bị xử phạt vi phạm hành chính mà không khắc phục
được trong thời hạn do cơ quan nhà nước có thẩm quyền quy định;
b)
Không bảo đảm điều kiện về nhân lực, trang thiết bị thực hiện hoạt động dịch vụ
hỗ trợ ứng dụng năng lượng nguyên tử mà không khắc phục được trong thời hạn do
cơ quan nhà nước có thẩm quyền quy định;
c)
Không thực hiện đúng nội dung, phạm vi hoạt động dịch vụ hỗ trợ ứng dụng năng
lượng nguyên tử được ghi trong giấy đăng ký hoạt động dịch vụ hỗ trợ ứng dụng
năng lượng nguyên tử;
d)
Giả mạo giấy tờ trong hồ sơ đề nghị cấp giấy phép tiến hành công việc bức xạ,
giấy đăng ký hoạt động dịch vụ hỗ trợ ứng dụng năng lượng nguyên tử;
đ)
Sửa chữa, tẩy xóa làm sai lệch nội dung giấy phép tiến hành công việc bức xạ,
giấy đăng ký hoạt động dịch vụ hỗ trợ ứng dụng năng lượng nguyên tử;
e)
Giấy phép tiến hành công việc bức xạ, giấy đăng ký hoạt động dịch vụ hỗ trợ ứng
dụng năng lượng nguyên tử được cấp không đúng thẩm quyền hoặc sai do lỗi của cơ
quan cấp giấy phép, giấy đăng ký;
g)
Chấm dứt hoạt động tiến hành công việc bức xạ, hoạt động dịch vụ hỗ trợ ứng dụng
năng lượng nguyên tử hoặc bị tòa án ra quyết định tuyên bố phá sản hoặc bị thu
hồi giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp theo quy định của pháp luật về doanh
nghiệp.
3.
Tổ chức, cá nhân bị thu hồi giấy phép tiến hành công việc bức xạ, giấy đăng ký
hoạt động dịch vụ hỗ trợ ứng dụng năng lượng nguyên tử được xem xét cấp lại giấy
phép tiến hành công việc bức xạ, giấy đăng ký hoạt động dịch vụ hỗ trợ ứng dụng
năng lượng nguyên tử nếu đủ điều kiện theo quy định của pháp luật.
4.
Tổ chức, cá nhân nộp hồ sơ đề nghị sửa đổi, bổ sung, gia hạn giấy phép tiến
hành công việc bức xạ, giấy đăng ký hoạt động dịch vụ hỗ trợ ứng dụng năng lượng
nguyên tử phải nộp phí, lệ phí theo quy định của pháp luật về phí và lệ phí.
5.
Chính phủ quy định trường hợp sửa đổi, bổ sung giấy phép tiến hành công việc bức
xạ, giấy đăng ký hoạt động dịch vụ hỗ trợ ứng dụng năng lượng nguyên tử; thẩm
quyền, trình tự, thủ tục sửa đổi, bổ sung, gia hạn, thu hồi giấy phép tiến hành
công việc bức xạ, giấy đăng ký hoạt động dịch vụ hỗ trợ ứng dụng năng lượng nguyên
tử.
Mục 2
THANH TRA, KIỂM TRA VÀ
XỬ LÝ VI PHẠM
Điều 59. Thanh tra về
an toàn bức xạ và hạt nhân
1.
Phạm vi, nguyên tắc hoạt động thanh tra về an toàn bức xạ và hạt nhân được quy
định như sau:
a)
Thanh tra về an toàn bức xạ và hạt nhân là việc xem xét, đánh giá, kết luận, kiến
nghị xử lý của cơ quan thanh tra có thẩm quyền đối với việc chấp hành quy định
của pháp luật về năng lượng nguyên tử; việc thực hiện điều ước quốc tế mà nước
Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên; việc tuân thủ quy tắc, tiêu
chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật trong lĩnh vực năng lượng nguyên tử của tổ chức, cá
nhân hoạt động trong lĩnh vực năng lượng nguyên tử;
b)
Hoạt động thanh tra về an toàn bức xạ và hạt nhân phải tuân thủ quy định của
pháp luật về thanh tra, pháp luật về năng lượng nguyên tử, đồng thời phải bảo đảm
yêu cầu sau: do thanh tra viên, người có kiến thức về an toàn bức xạ và hạt
nhân tiến hành; có trang thiết bị chuyên dụng phù hợp với nội dung thanh tra; tần
suất thanh tra tương ứng quy mô, loại hình công việc bức xạ, mức độ rủi ro của
công việc bức xạ gây ra; không trùng lặp về nội dung, thời gian, đối tượng với
hoạt động thanh sát hạt nhân.
2.
Yêu cầu về thanh tra đối với nhà máy điện hạt nhân bao gồm:
a)
Bảo đảm an toàn cao nhất cho con người, môi trường và cấu trúc, hệ thống, bộ phận
liên quan đến an toàn, an ninh nhà máy điện hạt nhân;
b)
Tuân thủ nguyên tắc, yêu cầu của Cơ quan Năng lượng nguyên tử quốc tế và quy định
của pháp luật Việt Nam về an toàn bức xạ, an toàn hạt nhân, an ninh hạt nhân và
thanh sát hạt nhân;
c)
Không làm gián đoạn vận hành của nhà máy điện hạt nhân, trừ trường hợp phát hiện
có nguy cơ ảnh hưởng đến an toàn hạt nhân.
3.
Nội dung thanh tra đối với nhà máy điện hạt nhân bao gồm:
a)
Việc tuân thủ quy định, tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật, quy trình về an toàn bức
xạ, an toàn hạt nhân và an ninh hạt nhân trong thiết kế, xây dựng, vận hành, bảo
trì, tháo dỡ tổ máy điện hạt nhân, nhà máy điện hạt nhân; việc tuân thủ giới hạn
vận hành, điều kiện của giấy phép;
b)
Việc nhập khẩu, xuất khẩu, vận chuyển, sử dụng và lưu giữ nhiên liệu hạt nhân;
c)
Tình trạng an toàn bức xạ trong nhà máy điện hạt nhân và khu vực xung quanh;
d)
Tính nguyên vẹn của nhà lò, các cấu trúc, hệ thống và bộ phận liên quan đến an
toàn của lò phản ứng; tình trạng hoạt động của trang thiết bị bảo đảm vận hành
an toàn lò phản ứng;
đ)
Thực hiện kế hoạch ứng phó sự cố bức xạ, sự cố hạt nhân, bao gồm việc tổ chức
diễn tập và khả năng ứng phó khẩn cấp; hệ thống và công tác phòng cháy, chữa
cháy;
e)
Công tác bảo đảm an ninh hạt nhân, phòng, chống khủng bố hạt nhân; việc thực hiện
quy định về thanh sát hạt nhân;
g)
Việc quan trắc phóng xạ môi trường; hồ sơ môi trường, hệ sinh thái, nước, không
khí chịu tác động do phát thải phóng xạ, phát thải nhiệt từ nhà máy điện hạt
nhân;
h)
Việc quản lý chất thải phóng xạ, nhiên liệu hạt nhân đã qua sử dụng;
i)
Nội dung khác theo quy định của Luật này.
4.
Việc thanh tra về an toàn bức xạ và hạt nhân phải tuân thủ chế độ thanh tra
theo quy định của pháp luật về thanh tra và phải tiến hành đột xuất trong các
trường hợp sau đây:
a)
Phát hiện bất thường về an toàn bức xạ, an toàn hạt nhân và an ninh hạt nhân; kết
quả giám sát, quan trắc phóng xạ môi trường, kiểm tra kỹ thuật có dấu hiệu bất
thường, vượt ngưỡng cho phép hoặc không phù hợp với điều kiện bảo đảm an toàn
đã được phê duyệt;
b)
Phát hiện có nguy cơ xảy ra sự cố bức xạ, sự cố hạt nhân; có dấu hiệu mất an
ninh hạt nhân hoặc sử dụng trái phép vật liệu hạt nhân;
c)
Theo kinh nghiệm vận hành từ nhà máy điện hạt nhân có công nghệ hoặc điều kiện
vận hành tương tự trên thế giới, theo khuyến cáo của Cơ quan Năng lượng nguyên
tử quốc tế mà phải tiến hành thanh tra nhằm kịp thời ngăn ngừa sự cố tương tự xảy
ra tại Việt Nam.
5.
Chính phủ quy định chi tiết Điều này.
Điều 60. Kiểm tra về an
toàn bức xạ và hạt nhân
1.
Thủ trưởng cơ quan quản lý nhà nước trong lĩnh vực năng lượng nguyên tử có
trách nhiệm tổ chức kiểm tra việc chấp hành chính sách, pháp luật về năng lượng
nguyên tử của cơ quan, tổ chức, cá nhân thuộc phạm vi quản lý.
2.
Hoạt động kiểm tra về an toàn bức xạ và hạt nhân phải bảo đảm tuân thủ trình tự,
thủ tục tiến hành kiểm tra; do người có kiến thức về an toàn bức xạ và hạt nhân
tiến hành; có trang thiết bị chuyên dụng phù hợp với nội dung kiểm tra; bảo đảm
nguyên tắc dân chủ, công khai, khách quan, kịp thời, chính xác; không làm cản
trở hoạt động bình thường của đối tượng kiểm tra và cơ quan, tổ chức, cá nhân
khác có liên quan; không trùng lặp về nội dung, thời gian, đối tượng với hoạt động
thanh tra, hoạt động thanh sát hạt nhân.
3.
Yêu cầu, nội dung kiểm tra về an toàn bức xạ và hạt nhân đối với nhà máy điện hạt
nhân thực hiện theo khoản 2 và khoản 3 Điều 59 của Luật này.
4.
Chính phủ quy định chi tiết Điều này.
Điều 61. Xử lý vi phạm
trong lĩnh vực năng lượng nguyên tử
1.
Tổ chức, cá nhân có hành vi vi phạm trong lĩnh vực năng lượng nguyên tử thì tùy
theo tính chất, mức độ, hậu quả của hành vi vi phạm mà bị xử lý theo quy định của
pháp luật.
2.
Cơ quan có thẩm quyền thanh tra, kiểm tra có quyền yêu cầu khắc phục ngay tình
trạng hoặc hoạt động có nguy cơ gây mất an toàn bức xạ, an toàn hạt nhân và an
ninh hạt nhân; kiến nghị tạm dừng hoạt động một phần hoặc toàn bộ nhà máy điện
hạt nhân; thu hồi, kiến nghị thu hồi giấy phép tiến hành công việc bức xạ, giấy
đăng ký hoạt động dịch vụ hỗ trợ ứng dụng năng lượng nguyên tử theo quy định tại
Điều 58 của Luật này.
3.
Chính phủ quy định chi tiết Điều này.
Chương VI
THANH SÁT HẠT NHÂN
Điều 62. Yêu cầu chung
1.
Hoạt động thanh sát hạt nhân trên lãnh thổ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt
Nam do Cơ quan Năng lượng nguyên tử quốc tế phối hợp với cơ quan đầu mối quốc
gia về hoạt động thanh sát hạt nhân quy định tại khoản 2 Điều này thực hiện nhằm
xác minh việc tuân thủ điều ước quốc tế về không phổ biến vũ khí hạt nhân và
thanh sát hạt nhân mà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên.
2.
Cơ quan an toàn bức xạ và hạt nhân quốc gia là cơ quan đầu mối quốc gia về hoạt
động thanh sát hạt nhân theo điều ước quốc tế về không phổ biến vũ khí hạt nhân
và thanh sát hạt nhân mà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên,
có trách nhiệm sau đây:
a)
Bảo đảm cung cấp thông tin cho Cơ quan Năng lượng nguyên tử quốc tế và thực hiện
các nghĩa vụ khác theo yêu cầu của điều ước quốc tế về không phổ biến vũ khí hạt
nhân và thanh sát hạt nhân mà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành
viên;
b)
Xác minh thông tin đã khai báo của tổ chức, cá nhân chịu thanh sát hạt nhân và
kiểm tra việc tuân thủ quy định của pháp luật Việt Nam về không phổ biến vũ khí
hạt nhân và thanh sát hạt nhân, điều ước quốc tế liên quan mà nước Cộng hòa xã
hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên;
c)
Xây dựng và quản lý hệ thống quốc gia về kế toán và kiểm soát vật liệu hạt
nhân, bao gồm cả dữ liệu về thanh sát hạt nhân;
d)
Tiếp nhận đề cử, làm thủ tục đề nghị cơ quan có thẩm quyền chấp thuận, cấp thị
thực cho thanh sát viên quốc tế.
3.
Tổ chức, cá nhân chịu thanh sát hạt nhân bao gồm:
a)
Tổ chức, cá nhân quản lý cơ sở hạt nhân, lưu giữ và sử dụng vật liệu hạt nhân,
vật liệu hạt nhân nguồn, vật liệu phi hạt nhân, thiết bị được đặc biệt thiết kế
và chế tạo để sử dụng trong chu trình nhiên liệu hạt nhân;
b)
Tổ chức, cá nhân thực hiện xuất khẩu, nhập khẩu vật liệu hạt nhân, vật liệu hạt
nhân nguồn, vật liệu phi hạt nhân, thiết bị được đặc biệt thiết kế và chế tạo để
sử dụng trong chu trình nhiên liệu hạt nhân;
c)
Tổ chức, cá nhân tiến hành và có kế hoạch tiến hành hoạt động nghiên cứu, triển
khai liên quan đến chu trình nhiên liệu hạt nhân, trong đó có hoạt động không sử
dụng vật liệu hạt nhân.
4.
Hoạt động thanh sát hạt nhân phải bảo đảm tuân thủ quy định của pháp luật Việt
Nam và điều ước quốc tế mà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành
viên và được tiến hành thường xuyên, liên tục, chặt chẽ, không gây cản trở đến
hoạt động bình thường của tổ chức, cá nhân.
5.
Chính phủ quy định trách nhiệm của Bộ, cơ quan ngang Bộ và cơ quan khác có liên
quan trong hoạt động thanh sát hạt nhân và cơ chế phối hợp giữa các cơ quan
này.
Điều 63. Trách nhiệm của
tổ chức, cá nhân chịu thanh sát hạt nhân
1.
Tổ chức, cá nhân chịu thanh sát hạt nhân có trách nhiệm tuân thủ quy định của
pháp luật có liên quan về thanh sát hạt nhân, bảo vệ thực thể và các biện pháp
bảo đảm an ninh vật liệu hạt nhân, vật liệu hạt nhân nguồn và cơ sở hạt nhân,
yêu cầu khác theo quy định của Chính phủ.
2.
Tổ chức, cá nhân chịu thanh sát hạt nhân phải bảo đảm cho thanh sát viên quốc tế
và đại diện của cơ quan an toàn bức xạ và hạt nhân quốc gia tiến hành đầy đủ hoạt
động thanh sát hạt nhân và thực hiện các biện pháp kỹ thuật cần thiết để xác
minh hoạt động có liên quan đến chu trình nhiên liệu hạt nhân theo quy định của
pháp luật và điều ước quốc tế mà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là
thành viên.
Điều 64. Thanh sát viên
quốc tế
1.
Thanh sát viên quốc tế do Cơ quan Năng lượng nguyên tử quốc tế đề cử để thực hiện
hoạt động thanh sát quốc tế tại Việt Nam và được cơ quan nhà nước có thẩm quyền
của Việt Nam xem xét, chấp thuận. Thanh sát viên quốc tế đã được chấp thuận sẽ
được ưu tiên cấp thị thực theo quy định của pháp luật về nhập cảnh, xuất cảnh,
quá cảnh, cư trú của người nước ngoài tại Việt Nam.
2.
Thanh sát viên quốc tế được phép tới các địa điểm và cơ sở theo quy định của điều
ước quốc tế về không phổ biến vũ khí hạt nhân và thanh sát hạt nhân mà nước Cộng
hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên để thực hiện thanh sát hạt nhân.
3.
Trong thời gian thực hiện thanh sát tại Việt Nam, thanh sát viên quốc tế phải
tuân thủ pháp luật và được hưởng quyền ưu đãi, miễn trừ theo quy định của pháp
luật Việt Nam và điều ước quốc tế liên quan mà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa
Việt Nam là thành viên.
Chương VII
ỨNG PHÓ SỰ CỐ BỨC XẠ, SỰ
CỐ HẠT NHÂN VÀ
BỒI THƯỜNG THIỆT HẠI BỨC XẠ, THIỆT HẠI HẠT NHÂN
Mục 1
ỨNG PHÓ SỰ CỐ BỨC XẠ, SỰ
CỐ HẠT NHÂN
Điều 65. Yêu cầu chung
1.
Sự cố bức xạ là tình trạng mất an toàn bức xạ và mất an ninh nguồn phóng xạ. Việc
xác định mức sự cố bức xạ và thông báo trên phương tiện thông tin đại chúng khi
xảy ra sự cố bức xạ thực hiện theo quy định của Chính phủ.
2.
Sự cố hạt nhân là tình trạng mất an toàn hạt nhân và mất an ninh vật liệu hạt
nhân, thiết bị hạt nhân. Việc xác định mức sự cố hạt nhân và thông báo trên
phương tiện thông tin đại chúng khi xảy ra sự cố hạt nhân thực hiện theo quy định
của Chính phủ.
Điều 66. Kế hoạch ứng
phó sự cố bức xạ, sự cố hạt nhân
1.
Kế hoạch ứng phó sự cố bức xạ, sự cố hạt nhân gồm có kế hoạch ứng phó sự cố bức
xạ, sự cố hạt nhân cấp cơ sở, kế hoạch ứng phó sự cố bức xạ, sự cố hạt nhân cấp
tỉnh và kế hoạch ứng phó sự cố bức xạ, sự cố hạt nhân cấp quốc gia và được quy
định như sau:
a)
Kế hoạch ứng phó sự cố bức xạ, sự cố hạt nhân cấp cơ sở áp dụng khi sự cố bức xạ,
sự cố hạt nhân xảy ra đối với công việc bức xạ của cơ sở;
b)
Kế hoạch ứng phó sự cố bức xạ, sự cố hạt nhân cấp tỉnh áp dụng khi sự cố bức xạ,
sự cố hạt nhân xảy ra đối với địa phương hoặc trong trường hợp sự cố vượt quá
khả năng ứng phó của cơ sở, vượt quá phạm vi cơ sở;
c)
Kế hoạch ứng phó sự cố bức xạ, sự cố hạt nhân cấp quốc gia được áp dụng khi sự
cố bức xạ, sự cố hạt nhân xảy ra ở cấp độ quốc gia hoặc trong trường hợp sự cố
vượt quá khả năng ứng phó của cấp tỉnh, vượt quá phạm vi cấp tỉnh.
2.
Kế hoạch ứng phó sự cố bức xạ, sự cố hạt nhân các cấp bao gồm các nội dung
chính sau: tổ chức bộ máy, dự kiến các tình huống sự cố có thể xảy ra, các
phương án ứng phó, phương án huy động nguồn lực ứng phó, tổ chức diễn tập ứng
phó sự cố.
3.
Chính phủ quy định chi tiết việc xây dựng và phê duyệt kế hoạch ứng phó sự cố bức
xạ, sự cố hạt nhân các cấp, yêu cầu đối với công tác chuẩn bị và ứng phó sự cố
bức xạ, sự cố hạt nhân và trách nhiệm của tổ chức, cá nhân có liên quan khi xảy
ra sự cố bức xạ, sự cố hạt nhân.
Điều 67. Tình trạng khẩn
cấp về bức xạ và hạt nhân
1.
Tình trạng khẩn cấp về bức xạ và hạt nhân là tình huống đặc biệt nghiêm trọng
gây ra từ các tình huống sau đây:
a)
Sự cố bức xạ, sự cố hạt nhân gây ra rò rỉ phóng xạ, phát tán phóng xạ mạnh, ảnh
hưởng rất nghiêm trọng đối với con người và môi trường bên ngoài cơ sở bức xạ,
cơ sở hạt nhân ở diện rộng, phạm vi ảnh hưởng từ một đơn vị hành chính cấp tỉnh
trở lên hoặc ra ngoài biên giới quốc gia;
b)
Sự cố bức xạ, sự cố hạt nhân xảy ra ở nước ngoài, phát tán phóng xạ mạnh, ảnh
hưởng rất nghiêm trọng đối với con người và môi trường tại một hoặc nhiều địa
phương của Việt Nam.
2.
Việc ban bố tình trạng khẩn cấp về bức xạ và hạt nhân thực hiện theo quy định của
pháp luật về tình trạng khẩn cấp.
3.
Chính phủ quy định các biện pháp đặc thù trong tình trạng khẩn cấp về bức xạ và
hạt nhân ngoài các biện pháp được áp dụng theo quy định của pháp luật về tình
trạng khẩn cấp.
Mục 2
BỒI THƯỜNG THIỆT HẠI BỨC
XẠ, THIỆT HẠI HẠT NHÂN
Điều 68. Bồi thường thiệt
hại bức xạ
1,
Thiệt hại bức xạ là tổn thất đối với con người, tài sản, môi trường do sự cố
liên quan đến mất an toàn bức xạ gây ra, bao gồm cả chi phí cho việc khắc phục
hậu quả.
2.
Trách nhiệm bồi thường, mức bồi thường, thời hiệu khởi kiện đòi bồi thường thiệt
hại bức xạ được thực hiện theo quy định của pháp luật về dân sự.
Điều 69. Bồi thường thiệt
hại hạt nhân
1.
Thiệt hại hạt nhân là tổn thất đối với con người, tài sản, môi trường, bao gồm
cả thiệt hại kinh tế do chi phí phát sinh cho việc khắc phục hậu quả do sự cố hạt
nhân xảy ra trên phạm vi lãnh thổ đất liền, các đảo, các quần đảo, vùng biển,
lòng đất, vùng trời của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam.
2.
Chủ đầu tư hoặc tổ chức vận hành cơ sở hạt nhân chịu trách nhiệm sau đây:
a)
Chỉ có chủ đầu tư trong giai đoạn vận hành thử hoặc chỉ có tổ chức vận hành phải
chịu trách nhiệm về thiệt hại hạt nhân xảy ra ở bất kỳ nơi nào, khi có bằng chứng
cho thấy thiệt hại đó là do sự cố hạt nhân tại cơ sở hạt nhân của chủ đầu tư hoặc
tổ chức vận hành đó gây ra;
b)
Trách nhiệm đối với thiệt hại hạt nhân do vật liệu hạt nhân bị trộm cắp, bị mất,
bị thải bỏ hoặc bị bỏ rơi thuộc về tổ chức vận hành cuối cùng được phép sở hữu
vật liệu đó;
c)
Trách nhiệm đối với thiệt hại hạt nhân được áp dụng ở bất kỳ nơi nào bị thiệt hại.
3.
Trong quá trình vận chuyển vật liệu hạt nhân, tổ chức gửi vật liệu hạt nhân phải
chịu trách nhiệm về thiệt hại hạt nhân cho đến khi tổ chức nhận đã tiếp nhận vật
liệu hạt nhân, trừ khi hai bên có thỏa thuận bằng văn bản để chuyển trách nhiệm
sang giai đoạn khác của quá trình vận chuyển hoặc chuyển trách nhiệm sang tổ chức
vận tải theo yêu cầu của tổ chức này. Trong trường hợp chuyển trách nhiệm sang
tổ chức vận tải, tổ chức vận tải có trách nhiệm như tổ chức vận hành quy định tại
khoản 2 Điều này.
4.
Tổ chức vận hành cơ sở hạt nhân phải bồi thường thiệt hại hạt nhân gây ra cả
khi không có lỗi, trừ trường hợp sự cố xảy ra do chiến tranh, khủng bố. Tổ chức
vận hành cơ sở hạt nhân được miễn trừ toàn bộ hoặc một phần nghĩa vụ bồi thường
nếu chứng minh được rằng thiệt hại là do người bị thiệt hại cố ý hoặc bất cẩn
gây ra thiệt hại.
5.
Mức bồi thường thiệt hại mà chủ đầu tư hoặc tổ chức vận hành cơ sở hạt nhân phải
chịu trách nhiệm, tổng mức bồi thường thiệt hại cho một sự cố hạt nhân thực hiện
theo quy định của pháp luật và điều ước quốc tế về trách nhiệm dân sự đối với
thiệt hại hạt nhân mà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên.
6.
Việc bồi thường thiệt hại hạt nhân được thực hiện theo nguyên tắc sau đây:
a)
Tính chất, hình thức, phạm vi và việc phân bổ khoản bồi thường được xác định
theo quy định của pháp luật về năng lượng nguyên tử;
b)
Trường hợp yêu cầu bồi thường vượt quá hoặc có khả năng vượt quá tổng mức bồi
thường thiệt hại cho một sự cố hạt nhân, ưu tiên bồi thường đối với thiệt hại
tính mạng hoặc thương tích cá nhân và sau khi tất cả các yêu cầu bồi thường này
được đáp ứng thì các yêu cầu bồi thường khác sẽ được giải quyết.
7.
Thời hiệu khởi kiện đòi bồi thường thiệt hại hạt nhân là 30 năm đối với thiệt hại
tính mạng, sức khỏe, 10 năm đối với các thiệt hại khác, kể từ thời điểm xảy ra
sự cố hạt nhân.
8.
Thẩm quyền giải quyết yêu cầu bồi thường thiệt hại hạt nhân thực hiện theo quy
định của pháp luật về tố tụng dân sự, quy định khác của pháp luật có liên quan.
9.
Chính phủ quy định chi tiết khoản 5 và khoản 6 Điều này.
Điều 70. Bảo đảm tài
chính
1.
Chủ đầu tư hoặc tổ chức vận hành cơ sở hạt nhân phải mua và duy trì bảo hiểm hoặc
có hình thức bảo đảm tài chính khác để thực hiện đầy đủ trách nhiệm bồi thường
thiệt hại hạt nhân theo mức bồi thường thiệt hại hạt nhân mà chủ đầu tư hoặc tổ
chức vận hành chịu trách nhiệm cho một sự cố hạt nhân quy định tại khoản 5 Điều
69 của Luật này.
2.
Khi đề nghị cấp giấy phép vận hành cơ sở hạt nhân, chủ đầu tư hoặc tổ chức vận
hành cơ sở hạt nhân phải cung cấp thông tin, tài liệu chứng minh để cơ quan an
toàn bức xạ và hạt nhân quốc gia phê duyệt các điều kiện bảo đảm tài chính quy
định tại khoản 1 Điều này.
3.
Chủ sở hữu cơ sở hạt nhân phải tạo điều kiện thuận lợi để tổ chức vận hành cơ sở
hạt nhân bảo đảm tài chính cho việc bồi thường thiệt hại hạt nhân trong trường
hợp chủ sở hữu cơ sở hạt nhân không đồng thời là tổ chức vận hành cơ sở hạt
nhân.
4.
Trường hợp thiệt hại thực tế vượt quá mức bồi thường thiệt hại mà chủ đầu tư hoặc
tổ chức vận hành cơ sở hạt nhân phải chịu trách nhiệm, Nhà nước sẽ bảo đảm chi
trả phần vượt quá, nhưng không lớn hơn tổng mức bồi thường thiệt hại cho một sự
cố hạt nhân.
5.
Chính phủ quy định chi tiết Điều này.
Chương VIII
ĐIỀU KHOẢN THI HÀNH
Điều 71. Sửa đổi, bổ
sung, bãi bỏ một số điều, khoản của các luật liên quan
1.
Sửa đổi, bổ sung số thứ tự 17, Mục III, Phụ lục số 01 về Danh mục phí, lệ phí
ban hành kèm theo Luật Phí và lệ phí số 97/2015/QH13 đã được sửa đổi, bổ sung một
số điều theo Luật số 09/2017/QH14, Luật số 23/2018/QH14, Luật số 72/2020/QH14,
Luật số 16/2023/QH15, Luật số 20/2023/QH15, Luật số 24/2023/QH15, Luật số
33/2024/QH15, Luật số 35/2024/QH15, Luật số 47/2024/QH15, Luật số 60/2024/QH15,
Luật số 74/2025/QH15 và Luật số 89/2025/QH15 như sau:
|
17 |
Lệ phí cấp chứng chỉ
nhân viên bức xạ |
Bộ
Tài chính |
2.
Bãi bỏ danh mục số thứ tự 25 tại Phụ lục II về Danh mục các quy hoạch có tính
chất kỹ thuật, chuyên ngành ban hành kèm theo Luật Quy hoạch số 21/2017/QH14 đã
được sửa đổi, bổ sung một số điều theo Luật số 15/2023/QH15, Luật số
16/2023/QH15, Luật số 28/2023/QH15, Luật số 31/2024/QH15, Luật số 35/2024/QH15,
Luật số 38/2024/QH15, Luật số 43/2024/QH15 và Luật số 57/2024/QH15.
3.
Sửa đổi, bổ sung điểm a khoản 10 Điều 5 của Luật Điện lực số 61/2024/QH15 như
sau:
“a)
Phát triển điện hạt nhân được xác định là một cấu phần chiến lược trong phát
triển điện lực quốc gia để bảo đảm mục tiêu an ninh cung cấp điện;”.
Điều 72. Hiệu lực thi
hành
1.
Luật này có hiệu lực thi hành từ ngày 01 tháng 01 năm 2026.
2.
Luật Năng lượng nguyên tử số 18/2008/QH12 đã được sửa đổi, bổ sung một số điều
theo Luật số 35/2018/QH14 hết hiệu lực kể từ ngày Luật này có hiệu lực thi
hành, trừ trường hợp quy định tại các khoản 2, 3 và 4 Điều 73 của Luật này.
Điều 73. Quy định chuyển
tiếp
1.
Cơ chế, chính sách đặc biệt để đầu tư, xây dựng dự án điện hạt nhân, dự án lò
phản ứng hạt nhân nghiên cứu được ban hành trước ngày Luật này có hiệu lực thi
hành được tiếp tục thực hiện cho đến khi có văn bản sửa đổi, bổ sung hoặc thay
thế bằng văn bản quy phạm pháp luật khác hoặc bị bãi bỏ bằng văn bản của cơ
quan, người có thẩm quyền.
2.
Tổ chức, cá nhân đã được cấp giấy phép tiến hành công việc bức xạ, giấy đăng ký
hoạt động dịch vụ hỗ trợ ứng dụng năng lượng nguyên tử trước ngày Luật này có
hiệu lực thi hành được tiếp tục thực hiện đến hết thời hạn ghi trong giấy phép,
giấy đăng ký. Trường hợp được miễn giấy phép tiến hành công việc bức xạ trước
ngày Luật này có hiệu lực thi hành thì tiếp tục được miễn giấy phép tiến hành
công việc bức xạ.
3.
Trường hợp tổ chức, cá nhân đã nộp hồ sơ đề nghị cấp, sửa đổi, bổ sung, gia hạn
giấy phép tiến hành công việc bức xạ, giấy đăng ký hoạt động dịch vụ hỗ trợ ứng
dụng năng lượng nguyên tử, chứng chỉ hành nghề dịch vụ hỗ trợ ứng dụng năng lượng
nguyên tử, chứng chỉ nhân viên bức xạ mà đến ngày Luật này có hiệu lực thi hành
chưa được cấp giấy phép, giấy đăng ký, chứng chỉ thì việc cấp giấy phép, giấy
đăng ký, chứng chỉ tiếp tục áp dụng theo quy định của pháp luật về năng lượng
nguyên tử trước ngày Luật này có hiệu lực thi hành.
4.
Dự án điện hạt nhân đã được quyết định chủ trương đầu tư trước ngày Luật này có
hiệu lực thi hành được thực hiện theo quy hoạch phát triển điện lực quốc gia
trong trường hợp quy hoạch khác cùng cấp, quy hoạch vùng, quy hoạch tỉnh hoặc
quy hoạch có tính chất kỹ thuật, chuyên ngành chưa cập nhật, điều chỉnh, bổ
sung.
5.
Trong thời hạn 02 năm kể từ ngày Luật này có hiệu lực thi hành, trường hợp các
luật, nghị quyết của Quốc hội, pháp lệnh, nghị quyết của Ủy ban Thường vụ Quốc
hội có liên quan đến các quy định của Luật này chưa được sửa đổi, bổ sung thì
giao Chính phủ ban hành văn bản quy phạm pháp luật để kịp thời điều chỉnh, giải
quyết các khó khăn, vướng mắc trong lĩnh vực năng lượng nguyên tử quy định tại
các điều, khoản, điểm liên quan, bảo đảm thống nhất trong việc áp dụng pháp luật.
Chính phủ có trách nhiệm định kỳ báo cáo Ủy ban Thường vụ Quốc hội; trường hợp
nội dung điều chỉnh liên quan đến luật, nghị quyết của Quốc hội thì báo cáo Quốc
hội tại kỳ họp gần nhất.
__________________________________________________________________
Luật này đã được Quốc hội
nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam Khóa XV, kỳ họp thứ 9 thông qua ngày 27
tháng 6 năm 2025.
|
|
CHỦ TỊCH QUỐC HỘI |
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét