Mục 2
CHẾ ĐỘ ĂN, MẶC, Ở, SINH HOẠT, CHĂM SÓC Y TẾ
ĐỐI VỚI PHẠM NHÂN
Điều 45. Chế độ ăn, ở đối với phạm nhân
1. Phạm nhân được bảo đảm tiêu chuẩn định lượng về lương thực, thực phẩm, nguyên liệu, nhiên liệu phục vụ sinh hoạt để bảo đảm sức khỏe. Đối với phạm nhân lao động nặng nhọc, độc hại theo quy định của pháp luật thì định lượng ăn được tăng thêm nhưng không quá 02 lần tiêu chuẩn ăn ngày thường. Ngày lễ, tết theo quy định của pháp luật, phạm nhân được ăn thêm nhưng mức ăn không quá 05 lần tiêu chuẩn ăn ngày thường.
Căn cứ yêu cầu bảo đảm sức khỏe của phạm nhân trong quá trình giam giữ, lao động, học tập tại nơi chấp hành án, Chính phủ quy định cụ thể định mức ăn phù hợp với điều kiện kinh tế, ngân sách và biến động giá cả thị trường. Giám thị trại giam, Giám thị trại tạm giam có thể quyết định hoán đổi định lượng ăn cho phù hợp với thực tế để phạm nhân có thể ăn hết tiêu chuẩn.
2. Ngoài tiêu chuẩn ăn quy định tại khoản 1 Điều này, phạm nhân được sử dụng tiền của mình để mua đồ ăn thêm tại căng tin do cơ sở giam giữ phạm nhân tổ chức nhưng không quá 05 lần định lượng trong 01 tháng cho mỗi phạm nhân.
3. Phạm nhân được bảo đảm ăn, uống hợp vệ sinh. Giám thị trại giam, Giám thị trại tạm giam có trách nhiệm tổ chức bếp ăn cho phạm nhân bảo đảm vệ sinh an toàn thực phẩm, đúng định lượng.
Bếp ăn cho phạm nhân được cấp các dụng cụ cần thiết cho việc nấu ăn, đun nước uống và chia đồ ăn cho phạm nhân theo khẩu phần tiêu chuẩn.
4. Phạm nhân được ở theo buồng giam tập thể, trừ phạm nhân đang bị giam riêng theo quy định tại các điểm c, d, đ, e khoản 2 và khoản 3 Điều 26 của Luật này. Chỗ nằm tối thiểu của mỗi phạm nhân là 02 m2. Đối với phạm nhân có con dưới 36 tháng tuổi ở cùng thì được bố trí chỗ nằm tối thiểu là 03 m2.
5. Chính phủ quy định chi tiết Điều này.
Điều 46. Chế độ mặc và tư trang của phạm nhân
1. Phạm nhân được cấp quần áo theo mẫu thống nhất, khăn mặt, chăn, chiếu, màn, dép, mũ hoặc nón, xà phòng, kem và bàn chải đánh răng; phạm nhân nữ được cấp thêm đồ dùng cần thiết cho vệ sinh của phụ nữ. Phạm nhân tham gia lao động được cấp thêm quần áo để lao động và căn cứ vào điều kiện công việc cụ thể được cấp dụng cụ bảo hộ lao động cần thiết.
2. Chính phủ quy định chi tiết Điều này.
Điều 47. Chế độ hoạt động thể dục, thể thao, sinh hoạt văn hóa, văn nghệ và sử dụng kinh sách, bày tỏ niềm tin tín ngưỡng, tôn giáo của phạm nhân
1. Phạm nhân được hoạt động thể dục, thể thao, sinh hoạt văn hóa, văn nghệ, đọc sách, báo, nghe đài, xem truyền hình phù hợp với điều kiện của nơi chấp hành án.
Mỗi phân trại của trại giam có thư viện, khu vui chơi, sân thể thao, được trang bị một hệ thống truyền thanh nội bộ, mỗi buồng giam tập thể được trang bị 01 ti vi.
2. Thời gian hoạt động thể dục, thể thao, sinh hoạt văn hóa, văn nghệ, đọc sách, báo, nghe đài, xem truyền hình của phạm nhân được thực hiện theo nội quy cơ sở giam giữ phạm nhân.
3. Phạm nhân theo tôn giáo được sử dụng kinh sách xuất bản dưới hình thức sách in, phát hành hợp pháp và được bày tỏ niềm tin tín ngưỡng, tôn giáo theo quy định của pháp luật về tín ngưỡng, tôn giáo.
4. Chính phủ quy định chi tiết Điều này.
Điều 48. Chế độ đối với phạm nhân nữ có thai, nuôi con dưới 36 tháng tuổi
1. Phạm nhân nữ có thai nếu không được tạm đình chỉ chấp hành án phạt tù thì được bố trí nơi giam hợp lý, được khám thai định kỳ hoặc đột xuất, được chăm sóc y tế trong trường hợp cần thiết, được giảm thời gian lao động, được hưởng chế độ ăn, uống bảo đảm sức khỏe.
2. Phạm nhân nữ có thai được nghỉ lao động trước và sau khi sinh con theo quy định của pháp luật về lao động. Trong thời gian nghỉ sinh con, phạm nhân được bảo đảm tiêu chuẩn, định lượng ăn theo chỉ dẫn của y sĩ hoặc bác sĩ, được cấp phát thực phẩm, đồ dùng cần thiết cho việc chăm sóc trẻ sơ sinh. Phạm nhân nữ nuôi con dưới 36 tháng tuổi được bố trí thời gian phù hợp để chăm sóc, nuôi dưỡng con.
3. Trẻ em dưới 36 tháng tuổi, trẻ em từ 36 tháng tuổi trở lên trong thời gian chờ đưa vào cơ sở trợ giúp xã hội là con của phạm nhân ở cùng mẹ trong trại giam, trại tạm giam được hưởng chế độ ăn, mặc, ở, cấp phát nhu yếu phẩm và được chăm sóc y tế, khám chữa bệnh để bảo đảm thực hiện quyền của trẻ em theo quy định của Luật Trẻ em.
4. Trại giam, trại tạm giam có trách nhiệm làm thủ tục đề nghị đăng ký khai sinh cho con của phạm nhân, Ủy ban nhân dân cấp xã nơi phạm nhân chấp hành án có trách nhiệm đăng ký và cấp giấy khai sinh.
5. Phạm nhân nữ có con từ 36 tháng tuổi trở lên phải gửi con về cho người thân thích nuôi dưỡng. Trường hợp con của phạm nhân không có người thân thích nhận nuôi dưỡng thì trại giam, trại tạm giam thuộc Bộ Công an, Bộ Quốc phòng, cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp tỉnh, cơ quan thi hành án hình sự cấp quân khu phải đề nghị Sở Y tế nơi có cơ sở giam giữ phạm nhân chỉ định cơ sở trợ giúp xã hội tiếp nhận, nuôi dưỡng. Trong thời hạn 05 ngày làm việc kể từ ngày nhận được đề nghị, Sở Y tế phải chỉ định cơ sở trợ giúp xã hội có trách nhiệm tiếp nhận, nuôi dưỡng. Người chấp hành xong án phạt tù được nhận lại con đang được cơ sở trợ giúp xã hội nuôi dưỡng.
6. Trại giam phải tổ chức nhà trẻ ngoài khu giam giữ để chăm sóc, nuôi dưỡng trẻ em là con của phạm nhân dưới 36 tháng tuổi và con của phạm nhân từ 36 tháng tuổi trở lên trong thời gian chờ làm thủ tục đưa vào cơ sở trợ giúp xã hội.
7. Chính phủ quy định chi tiết Điều này.
Điều 49. Chế độ gặp, nhận quà của phạm nhân
1. Phạm nhân được gặp người thân thích 01 lần trong 01 tháng, mỗi lần gặp không quá 01 giờ. Căn cứ kết quả xếp loại chấp hành án, yêu cầu giáo dục cải tạo, thành tích lao động, học tập của phạm nhân. Giám thị trại giam, Giám thị trại tạm giam quyết định kéo dài thời gian gặp người thân thích nhưng không quá 03 giờ hoặc được gặp vợ, chồng ở phòng riêng không quá 24 giờ. Phạm nhân được khen thưởng hoặc lập công thì được gặp người thân thích thêm 01 lần trong 01 tháng.
Phạm nhân vi phạm nội quy cơ sở giam giữ phạm nhân thì 02 tháng được gặp người thân thích 01 lần, mỗi lần không quá 01 giờ.
Thời gian gặp người thân thích của phạm nhân được thực hiện theo giờ làm việc của cơ sở giam giữ phạm nhân trong tất cả các ngày, kể cả ngày nghỉ, lễ, tết.
2. Trường hợp đại diện cơ quan, tổ chức hoặc cá nhân khác có đề nghị được gặp phạm nhân thì Giám thị trại giam, Giám thị trại tạm giam xem xét, quyết định.
3. Người thân thích, đại diện cơ quan, tổ chức hoặc cá nhân khác quy định tại khoản 1 và khoản 2 Điều này được gặp trực tiếp phạm nhân; trường hợp do tình trạng khẩn cấp, lý do bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan hoặc không thể bố trí gặp trực tiếp thì có thể gặp bằng hình thức trực tuyến.
Giám thị trại giam, Giám thị trại tạm giam quyết định hình thức gặp người thân thích, đại diện cơ quan, tổ chức hoặc cá nhân khác.
4. Khi gặp người thân thích, đại diện cơ quan, tổ chức hoặc cá nhân khác, phạm nhân được nhận thư, liên, đồ vật, trừ đồ vật thuộc danh mục đồ vật cấm. Đối với tiền, phạm nhân phải gửi trại giam, trại tạm giam quản lý.
Phạm nhân được nhận quà là tiền và đồ vật qua đường bưu chính, ngân hàng không quá 02 lần trong 01 tháng.
Giám thị trại giam, Giám thị trại tạm giam tổ chức tiếp nhận, kiểm tra định mức quà là đồ vật, loại bỏ các vật thuộc danh mục đồ vật cấm và giao đầy đủ cho phạm nhân; kiểm tra, phòng ngừa, ngăn chặn các hành vi chiếm đoạt quà, đồ dùng cá nhân của phạm nhân.
5. Người thân thích của phạm nhân đến gặp phạm nhân phải mang theo sổ thăm gặp hoặc hình thức xác nhận khác. Trại giam, trại tạm giam phải phổ biến cho người thân thích của phạm nhân về quy định gặp phạm nhân; người thân thích của phạm nhân phải chấp hành các quy định này.
Đối với phạm nhân là người nước ngoài, trường hợp người thân thích là người nước ngoài thì phải có đơn xin gặp gửi cơ quan quản lý thi hành án hình sự, đơn phải viết bằng tiếng Việt hoặc được dịch ra tiếng Việt và có xác nhận của cơ quan đại diện ngoại giao hoặc lãnh sự của nước mà người đó có quốc tịch hoặc cơ quan đại diện của tổ chức quốc tế tại Việt Nam nơi người đó làm việc; trường hợp người thân thích là người Việt Nam thì đơn xin gặp phải có xác nhận của Công an cấp xã nơi người đó cư trú. Trong thời hạn 10 ngày kể từ ngày nhận được đơn, cơ quan quản lý thi hành án hình sự có trách nhiệm trả lời người có đơn; trường hợp đặc biệt có thể kéo dài nhưng thời hạn trả lời không quá 20 ngày.
Người thân thích của phạm nhân đăng ký gặp tại trại giam, trại tạm giam hoặc thăm gặp trực tuyến.
6. Trại giam, trại tạm giam bố trí nơi phạm nhân gặp người thân thích, đại diện cơ quan, tổ chức hoặc cá nhân khác.
7. Bộ trưởng Bộ Công an, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng quy định chi tiết Điều này.
Điều 50. Thủ tục thăm gặp, tiếp xúc lãnh sự
1. Cơ quan đại diện ngoại giao, lãnh sự nước ngoài có yêu cầu thăm gặp, tiếp xúc lãnh sự đối với phạm nhân có quốc tịch nước mình đang chấp hành án phạt tù tại Việt Nam phải gửi văn bản đề nghị đến Bộ Ngoại giao. Nội dung văn bản đề nghị bao gồm:
a) Tên cơ quan đại diện ngoại giao, lãnh sự gửi văn bản;
b) Họ tên, quốc tịch phạm nhân cần thăm gặp, tiếp xúc lãnh sự;
c) Trại giam nơi phạm nhân đang chấp hành án;
d) Họ tên, chức vụ của những người đến thăm gặp, tiếp xúc lãnh sự;
đ) Họ tên người phiên dịch.
2. Trong thời hạn 03 ngày làm việc kể từ ngày nhận được văn bản đề nghị, Bộ Ngoại giao có trách nhiệm thông báo cho Cơ quan quản lý thi hành án hình sự Bộ Công an hoặc Cơ quan quản lý thi hành án hình sự Bộ Quốc phòng. Trong thời hạn 05 ngày làm việc kể từ ngày nhận được thông báo, cơ quan quản lý thi hành án hình sự có thẩm quyền phải trả lời bằng văn bản cho Bộ Ngoại giao để thông báo cho cơ quan đại diện ngoại giao hoặc lãnh sự đã đề nghị liên hệ với cơ quan quản lý thi hành án hình sự có thẩm quyền cấp giấy giới thiệu thăm gặp, tiếp xúc lãnh sự.
3. Thời gian thăm gặp, tiếp xúc lãnh sự được thực hiện trong giờ làm việc, ngày làm việc. Căn cứ kết quả xếp loại chấp hành án, yêu cầu giáo dục cải tạo, thành tích lao động, học tập của phạm nhân, Giám thị trại giam quyết định số lần thăm gặp, tiếp xúc lãnh sự trong tháng và thời gian mỗi lần thăm gặp, tiếp xúc lãnh sự.
Trường hợp do tình trạng khẩn cấp, lý do bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan hoặc không thể thu xếp gặp trực tiếp thì phạm nhân có thể được thăm gặp, tiếp xúc lãnh sự bằng hình thức trực tuyến.
4. Chính phủ quy định chi tiết Điều này.
Điều 51. Chế độ liên lạc của phạm nhân
1. Phạm nhân được gửi mỗi tháng 02 lá thư. Giám thị trại giam, Giám thị trại tạm giam phải kiểm tra, kiểm duyệt thư mà phạm nhân gửi và nhận.
2. Phạm nhân được liên lạc điện thoại hoặc kết nối hình ảnh, âm thanh bằng phương tiện điện tử với người thân thích ở trong nước mỗi tháng 01 lần, mỗi lần không quá 10 phút, trừ trường hợp cấp bách. Giám thị trại giam, Giám thị trại tạm giam xem xét, quyết định việc cho phạm nhân liên lạc và tổ chức kiểm soát việc liên lạc.
3. Chi phí cho việc liên lạc của phạm nhân quy định tại khoản 1 và khoản 2 Điều này do phạm nhân chi trả.
4. Bộ trưởng Bộ Công an, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng quy định chi tiết Điều này.
Điều 52. Chế độ chăm sóc y tế đối với phạm nhân
1. Phạm nhân được bảo đảm chăm sóc y tế, chế độ phòng, chống dịch bệnh. Trại giam, trại tạm giam phối hợp với cơ sở khám bệnh, chữa bệnh cấp cơ bản trở lên nơi trại giam, trại tạm giam đóng hoặc cơ sở khám bệnh, chữa bệnh trong Công an nhân dân, Quân đội nhân dân tổ chức khám sức khỏe định kỳ cho phạm nhân.
2. Phạm nhân bị bệnh, bị thương tích thì được khám bệnh, chữa bệnh và điều trị tại bệnh xá của trại giam, trại tạm giam hoặc tại cơ sở khám bệnh, chữa bệnh của Nhà nước nơi gần nhất. Trường hợp phạm nhân bị bệnh nặng hoặc thương tích vượt quá khả năng điều trị của cơ sở khám bệnh, chữa bệnh đó thì trại giam, trại tạm giam phối hợp với cơ sở khám bệnh, chữa bệnh đang điều trị phạm nhân giới thiệu, chuyển phạm nhân đến cơ sở khám bệnh, chữa bệnh khác phù hợp tình trạng bệnh để điều trị; trại giam, trại tạm giam phải thông báo cho gia đình hoặc đại diện của người đó biết để phối hợp chăm sóc, điều trị. Chế độ ăn, cấp phát thuốc, bồi dưỡng cho phạm nhân do cơ sở khám bệnh, chữa bệnh chỉ định.
Trại giam, cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp tỉnh, cơ quan thi hành án hình sự cấp quân khu phối hợp với cơ sở khám bệnh, chữa bệnh nhà nước, cơ sở khám bệnh, chữa bệnh trong Công an nhân dân, Quân đội nhân dân xây dựng hoặc bố trí một số buồng riêng trong cơ sở khám bệnh, chữa bệnh để điều trị cho phạm nhân. Việc quản lý, giám sát phạm nhân trong thời gian điều trị tại cơ sở khám bệnh, chữa bệnh do trại giam, trại tạm giam chịu trách nhiệm.
3. Đối với phạm nhân có dấu hiệu mắc bệnh tâm thần, bệnh khác làm mất khả năng nhận thức hoặc khả năng điều khiển hành vi, trại giam, trại tạm giam thuộc Bộ Công an, Bộ Quốc phòng, cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp tỉnh, cơ quan thi hành án hình sự cấp quân khu đề nghị Tòa án nhân dân khu vực, Tòa án quân sự cấp quân khu nơi phạm nhân đang chấp hành án phạt tù trưng cầu giám định pháp y, pháp y tâm thần. Khi có kết luận giám định là người đó mắc bệnh tâm thần, bệnh khác làm mất khả năng nhận thức hoặc khả năng điều khiển hành vi thì Chánh án Tòa án nhân dân khu vực, Chánh án Tòa án quân sự cấp quân khu nơi phạm nhân chấp hành án ra quyết định tạm đình chỉ chấp hành án phạt tù và quyết định áp dụng biện pháp tư pháp bắt buộc chữa bệnh đối với người đó.
Việc quản lý, tổ chức điều trị bệnh cho người bị áp dụng biện pháp tư pháp bắt buộc chữa bệnh được thực hiện theo quy định tại Chương IX của Luật này.
4. Phạm nhân nghiện ma túy được trại giam phối hợp với các đơn vị chức năng liên quan tổ chức cai nghiện.
5. Kinh phí phòng, chống dịch bệnh, khám bệnh, chữa bệnh, tổ chức cai nghiện ma túy và kinh phí xây dựng, bố trí các buồng chữa bệnh dành cho phạm nhân tại các cơ sở khám bệnh, chữa bệnh do Nhà nước cấp. Đối với trường hợp phạm nhân có thẻ bảo hiểm y tế thì tiếp tục được hưởng quyền lợi về bảo hiểm y tế theo quy định, nếu vượt quá định mức chi trả của bảo hiểm y tế thì Nhà nước chi trả phần vượt quá.
6. Phạm nhân được nhận và sử dụng các loại thuốc phòng bệnh, chữa bệnh theo chỉ định của bác sĩ, y sĩ tại cơ sở giam giữ phạm nhân hoặc tại cơ sở khám bệnh, chữa bệnh nơi đã được khám và điều trị bệnh khi được sự đồng ý của Giám thị trại giam, Giám thị trại tạm giam.
7. Chính phủ quy định chi tiết Điều này.
Điều 53. Giải quyết trường hợp phạm nhân có nguyện vọng hiến mô, bộ phận cơ thể người
1. Phạm nhân được hiến mô, bộ phận cơ thể khi bảo đảm đủ các điều kiện sau:
a) Tự nguyện hiến mô, bộ phận cơ thể;
b) Hiến mô, bộ phận cơ thể cho người thân thích của phạm nhân;
c) Đủ điều kiện sức khỏe để hiến mô, bộ phận cơ thể và bảo đảm sức khỏe để tiếp tục chấp hành án sau khi hiến mô, bộ phận cơ thể;
d) Tự chịu các chi phí hiến mô, bộ phận cơ thể và chăm sóc sức khỏe bản thân sau khi hiến mô, bộ phận cơ thể;
đ) Là người bị kết án về tội phạm ít nghiêm trọng hoặc tội phạm nghiêm trọng thuộc trường hợp phạm tội lần đầu và thời gian chấp hành án còn lại dưới 03 năm.
2. Chính phủ quy định chi tiết trình tự, thủ tục giải quyết trường hợp phạm nhân có nguyện vọng hiến mô, bộ phận cơ thể.
Điều 54. Thủ tục giải quyết trường hợp phạm nhân, con của phạm nhân ở cùng mẹ chết
1. Khi phạm nhân, con của phạm nhân ở cùng mẹ chết tại trại giam, trại tạm giam, cơ sở khám bệnh, chữa bệnh của Nhà nước thì cơ quan, tổ chức đó có trách nhiệm báo ngay cho cơ quan điều tra và Viện kiểm sát nhân dân khu vực, cơ quan điều tra và Viện kiểm sát quân sự khu vực nơi có phạm nhân, con của phạm nhân ở cùng mẹ chết để xác định nguyên nhân. Trại giam, trại tạm giam có trách nhiệm làm thủ tục đăng ký khai tử tại Ủy ban nhân dân cấp xã nơi trại giam, trại tạm giam đóng và thông báo cho gia đình hoặc đại diện của người chết trước khi làm thủ tục mai táng. Trường hợp phạm nhân, con của phạm nhân ở cùng mẹ chết ở cơ sở khám bệnh, chữa bệnh thì cơ sở khám bệnh, chữa bệnh đó gửi giấy báo tử cho trại giam, trại tạm giam.
Trường hợp phạm nhân, con của phạm nhân ở cùng mẹ là người nước ngoài chết, Giám thị trại giam, Giám thị trại tạm giam phải báo ngay cho cơ quan điều tra và Viện kiểm sát nhân dân cấp tỉnh, cơ quan điều tra và Viện kiểm sát quân sự cấp quân khu nơi có phạm nhân, con của phạm nhân ở cùng mẹ trong trại giam, trại tạm giam chết để xác định nguyên nhân; đồng thời báo cáo cơ quan quản lý thi hành án hình sự Bộ Công an hoặc cơ quan quản lý thi hành án hình sự Bộ Quốc phòng, Bộ Ngoại giao để thông báo cho cơ quan đại diện ngoại giao hoặc lãnh sự của nước mà người đó có quốc tịch. Sau khi được cơ quan có thẩm quyền cho phép, trại giam, trại tạm giam có trách nhiệm tổ chức mai táng.
Đối với trường hợp không xác định được quốc tịch của người chết thì giải quyết như đối với phạm nhân, con của phạm nhân ở cùng mẹ trong cơ sở giam giữ là người Việt Nam chết.
2. Khi cơ quan có thẩm quyền cho phép làm các thủ tục mai táng người chết thì trại giam, trại tạm giam có trách nhiệm thông báo về việc mai táng cho gia đình hoặc người đại diện của người chết. Trường hợp gia đình của người chết có đơn đề nghị thì bàn giao tử thi đó cho họ, trừ trường hợp có căn cứ cho rằng việc đó ảnh hưởng đến an ninh trật tự và vệ sinh môi trường. Sau thời hạn 48 giờ kể từ khi thông báo mà họ không nhận thì trại giam, trại tạm giam tổ chức mai táng theo quy định của pháp luật và thông báo cho Tòa án đã ra quyết định thi hành án. Trong thời hạn 03 ngày làm việc kể từ ngày nhận được thông báo, Tòa án đã ra quyết định thi hành án phải ra quyết định đình chỉ việc chấp hành án phạt tù và gửi cho gia đình của người chết, trại giam, trại tạm giam nơi phạm nhân chết, Viện kiểm sát có thẩm quyền.
Ủy ban nhân dân cấp xã nơi trại giam, trại tạm giam đóng có phạm nhân, con của phạm nhân ở cùng mẹ chết có trách nhiệm phối hợp với trại giam, trại tạm giam trong việc mai táng và quản lý mộ của phạm nhân, con của phạm nhân ở cùng mẹ. Kinh phí cho việc mai táng được Nhà nước cấp.
Trường hợp phạm nhân, con của phạm nhân ở cùng mẹ là người nước ngoài chết, trong thời hạn 48 giờ kể từ khi thông báo về phạm nhân, con của phạm nhân ở cùng mẹ chết, nếu cơ quan đại diện ngoại giao hoặc lãnh sự của nước mà người đó có quốc tịch không đề nghị nhận tử thi thì trại giam, trại tạm giam tổ chức mai táng.
3. Trường hợp gia đình hoặc đại diện của người chết có đơn đề nghị được nhận tử thi, tro cốt hoặc hài cốt của người chết và tự chịu chi phí thì trại giam, trại tạm giam có thể xem xét, giải quyết, trừ trường hợp có căn cứ cho rằng việc đó ảnh hưởng đến an ninh, trật tự và vệ sinh môi trường. Việc nhận hài cốt chỉ
được giải quyết sau thời hạn 03 năm kể từ ngày mai táng. Trường hợp phạm nhân, con của phạm nhân ở cùng mẹ là người nước ngoài thì việc nhận tử thi hoặc hài cốt phải được cơ quan quản lý thi hành án hình sự xem xét, quyết định.
4. Chính phủ quy định chi tiết Điều này.
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét