Mục 3
ÁP DỤNG BIỆN PHÁP BẢO ĐẢM,
BIỆN PHÁP CƯỠNG CHẾ THI HÀNH ÁN
Điều 42. Áp dụng biện pháp bảo đảm, cưỡng chế thi hành án
1. Chấp hành viên căn cứ vào nội dung bản án, quyết định; quyết định thi hành án; quyết định xử lý tài sản ủy thác; nghĩa vụ thi hành án; điều kiện của người phải thi hành án, người khác thuộc trường hợp quy định tại khoản 2 Điều 4 và khoản 8 Điều 25 của Luật Thi hành án dân sự; yêu cầu bằng văn bản của đương sự và tình hình thực tế để lựa chọn áp dụng biện pháp bảo đảm, biện pháp cưỡng chế thi hành án thích hợp.
2. Ngoài những trường hợp không tổ chức cưỡng chế thi hành án do Luật Thi hành án dân sự quy định, cơ quan thi hành án dân sự không tổ chức cưỡng chế thi hành án có huy động lực lượng trong thời gian 15 ngày trước và sau tết Nguyên đán; các ngày truyền thống đối với các đối tượng chính sách, nếu họ là người phải thi hành án; các trường hợp đặc biệt khác ảnh hưởng nghiêm trọng đến an ninh, chính trị, trật tự an toàn xã hội, phong tục, tập quán tại địa phương.
3. Trường hợp cần thiết, Thủ trưởng cơ quan thi hành án dân sự báo cáo Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh, Thủ trưởng cơ quan thi hành án cấp quân khu báo cáo Tư lệnh quân khu và tương đương trước khi tổ chức cưỡng chế thi hành các vụ án lớn, phức tạp, có ảnh hưởng đến an ninh, chính trị, trật tự an toàn xã hội tại địa bàn theo quy định tại khoản 4 và khoản 5 Điều 10 của Luật Thi hành án dân sự.
4. Khi thực hiện kiểm tra hiện trạng, đo vẽ, thẩm định giá, xác định giá, bán tài sản, giao tài sản hoặc các trường hợp cần thiết khác, Chấp hành viên được áp dụng quy định tại điểm đ khoản 2 Điều 80 của Luật Thi hành án dân sự và Điều 53 Nghị định này.
5. Chấp hành viên không áp dụng biện pháp bảo đảm, biện pháp cưỡng chế đối với tài sản đang bị thu giữ, xử lý theo quy định của Luật Các tổ chức tín dụng hoặc đang bị cơ quan có thẩm quyền áp dụng biện pháp cưỡng chế theo quy định của pháp luật và thực hiện như sau:
a) Trường hợp tài sản để thi hành án đang bị thu giữ, xử lý theo quy định của Luật Các tổ chức tín dụng thì cơ quan thi hành án dân sự có văn bản thông báo cho tổ chức tín dụng về nghĩa vụ của người phải thi hành án. Tổ chức tín dụng đang thu giữ, xử lý tài sản có trách nhiệm thông báo kết quả xử lý tài sản cho cơ quan thi hành án dân sự, chuyển số tiền còn lại (nếu có) cho cơ quan thi hành án dân sự trong thời hạn 24 giờ kể từ khi xử lý tài sản;
b) Trường hợp tài sản đang bị cơ quan có thẩm quyền áp dụng biện pháp cưỡng chế thì cơ quan thi hành án dân sự phải có văn bản thông báo cho cơ quan đã ra quyết định áp dụng biện pháp cưỡng chế biết về nghĩa vụ của người phải thi hành án để phối hợp xử lý.
6. Trường hợp hộ kinh doanh, hộ gia đình, tổ hợp tác là người phải thi hành án thì cơ quan thi hành án dân sự có quyền áp dụng biện pháp bảo đảm, biện pháp cưỡng chế đối với tài sản của các thành viên trong hộ kinh doanh, hộ gia đình, tổ hợp tác trong trường hợp tài sản chung không đủ để thi hành án, trừ trường hợp hợp đồng hợp tác hoặc pháp luật có liên quan quy định khác.
Trường hợp doanh nghiệp, đơn vị phụ thuộc của doanh nghiệp, liên hiệp hợp tác xã và hợp tác xã là người phải thi hành án thì cơ quan thi hành án dân sự có quyền áp dụng biện pháp bảo đảm, biện pháp cưỡng chế đối với tài sản của doanh nghiệp, đơn vị phụ thuộc của doanh nghiệp, liên hiệp hợp tác xã, hợp tác xã đó. Trường hợp doanh nghiệp tư nhân, công ty hợp danh là người phải thi hành án thì cơ quan thi hành án dân sự có quyền áp dụng biện pháp bảo đảm, biện pháp cưỡng chế đối với tài sản của chủ doanh nghiệp tư nhân, thành viên hợp danh công ty hợp danh.
Trường hợp cộng đồng dân cư là người phải thi hành án thì cơ quan thi hành án dân sự có quyền áp dụng biện pháp bảo đảm, biện pháp cưỡng chế đối với tài sản chung của cộng đồng dân cư.
7. Quyết định áp dụng biện pháp bảo đảm, biện pháp cưỡng chế thi hành án; quyết định hủy bỏ, chấm dứt áp dụng biện pháp bảo đảm, biện pháp cưỡng chế thi hành án phải được gửi cho Viện kiểm sát nhân dân có thẩm quyền và các cơ quan, tổ chức, cá nhân sau đây:
a) Cơ quan, tổ chức, cá nhân có trách nhiệm thực hiện quyết định áp dụng biện pháp bảo đảm, biện pháp cưỡng chế thi hành án;
b) Đối với quyết định áp dụng biện pháp cưỡng chế thì gửi cho Ủy ban nhân dân cấp xã nơi tổ chức cưỡng chế thi hành án, trừ quyết định khấu trừ tiền trong tài khoản và quyết định trừ vào thu nhập;
c) Cơ quan có thẩm quyền đăng ký tài sản, cơ quan đăng ký biện pháp bảo đảm (nếu có) và cơ quan, tổ chức, cá nhân khác có liên quan.
8. Trường hợp người được thi hành án là người yêu cầu thi hành án và đang quản lý, bảo quản, lưu giữ, nắm giữ giấy tờ về quyền sở hữu tài sản, quyền sử dụng đất của người phải thi hành án thì trước khi áp dụng biện pháp cưỡng chế, Chấp hành viên yêu cầu người đó giao nộp giấy tờ cho cơ quan thi hành án dân sự. Sau khi đã yêu cầu ít nhất 02 lần mà người đó không thực hiện thì Chấp hành viên không xử lý tài sản và thực hiện theo quy định tại khoản 2 Điều 22 Nghị định này.
Trường hợp người được thi hành án đó giao nộp giấy tờ về quyền sở hữu tài sản, quyền sử dụng đất của người phải thi hành án thì cơ quan thi hành án dân sự thực hiện theo quy định tại Điều 34 của Luật Thi hành án dân sự và Điều 11 Nghị định này.
9. Trường hợp tài sản không thể phân chia được hoặc việc phân chia làm giảm đáng kể giá trị của tài sản quy định tại điểm a khoản 3 Điều 72 của Luật Thi hành án dân sự là trường hợp tài sản duy nhất của người phải thi hành án lớn hơn hoặc lớn hơn nhiều lần so với nghĩa vụ thi hành án và các chi phí thi hành án mà tài sản đó không thể phân chia được hoặc việc phân chia làm giảm đáng kể giá trị của tài sản.
10. Chấp hành viên không áp dụng biện pháp bảo đảm, biện pháp cưỡng chế đối với tài sản của người phải thi hành án là đối tượng được bảo đảm tài chính từ ngân sách nhà nước để thi hành án quy định tại khoản 1 Điều 88 Nghị định này.
Điều 43. Phong tỏa tài khoản, tài sản ở nơi gửi giữ
1. Cơ quan, tổ chức, cá nhân đang quản lý tài khoản, tài sản đang gửi giữ quy định tại Điều 67 của Luật Thi hành án dân sự bao gồm Kho bạc Nhà nước, tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài, thành viên lưu ký, doanh nghiệp công nghệ số và cơ quan, tổ chức, cá nhân khác đang quản lý tài khoản, tiền gửi và tài sản số, tài sản khác trong tài khoản của người phải thi hành án.
Quyết định phong tỏa tài khoản phải xác định rõ số tiền phải thi hành án và các chi phí thi hành án tính đến thời điểm có quyết định phong tỏa.
2. Sau khi nhận được quyết định phong tỏa tài khoản, cơ quan, tổ chức, cá nhân đang quản lý tài khoản phải thực hiện phong tỏa theo quy định sau đây:
a) Trường hợp tại thời điểm phong tỏa mà số tiền, giá trị tài sản trong tài khoản bằng hoặc lớn hơn nghĩa vụ phải thi hành án và chi phí thi hành án thì phong tỏa số tiền, phần tài sản tương ứng với nghĩa vụ thi hành án và chi phí thi hành án ngay sau khi nhận được quyết định phong tỏa tài khoản;
b) Trường hợp tại thời điểm phong tỏa mà số tiền, giá trị tài sản trong tài khoản nhỏ hơn nghĩa vụ phải thi hành án và chi phí thi hành án hoặc không xác định được giá trị tài sản trong tài khoản thì phong tỏa toàn bộ số tiền, tài sản trong tài khoản ngay sau khi nhận được quyết định phong tỏa tài khoản; trường hợp phát sinh tiền, tài sản trong tài khoản thì phong tỏa tiếp số tiền, tài sản theo quy định tại khoản này;
c) Trong thời hạn 24 giờ kể từ khi thực hiện việc phong tỏa thì cơ quan, tổ chức, cá nhân đang quản lý tài khoản phải thông báo cho cơ quan thi hành án dân sự về kết quả thực hiện;
d) Không thực hiện phong tỏa đối với các tài khoản quy định tại khoản 5 Điều 49 Nghị định này.
3. Trường hợp Chấp hành viên, công chức làm công tác thi hành án giao trực tiếp văn bản mà người đại diện theo pháp luật hoặc người có trách nhiệm nhận văn bản của cơ quan, tổ chức, cá nhân đang quản lý tài khoản, tài sản không nhận hoặc không có người nhận văn bản thì Chấp hành viên, công chức làm công tác thi hành án lập biên bản, có chữ ký của người chứng kiến và tiến hành niêm yết quyết định phong tỏa tài khoản, tài sản tại trụ sở cơ quan, tổ chức đó.
Người đại diện theo pháp luật hoặc người có trách nhiệm nhận văn bản của cơ quan, tổ chức không nhận quyết định phải chịu trách nhiệm theo quy định của pháp luật và phải bồi thường nếu có thiệt hại xảy ra.
4. Chấp hành viên có trách nhiệm sử dụng đúng mục đích các thông tin về tài khoản, tài sản của người phải thi hành án bị áp dụng biện pháp bảo đảm.
Điều 44. Tạm giữ tài sản, giấy tờ
1. Khi tạm giữ tài sản, giấy tờ phải lập biên bản có chữ ký của Chấp hành viên và người đang quản lý, sử dụng tài sản, giấy tờ. Biên bản tạm giữ tài sản, giấy tờ phải được giao cho người quản lý, sử dụng tài sản, giấy tờ.
2. Biên bản tạm giữ tài sản, giấy tờ phải ghi rõ tên người bị tạm giữ tài sản, giấy tờ; loại tài sản, giấy tờ bị tạm giữ; số lượng, khối lượng, kích thước và các đặc điểm khác của tài sản, giấy tờ bị tạm giữ.
Tài sản tạm giữ là tiền mặt thì phải ghi rõ số lượng tờ, mệnh giá các loại tiền, nếu là ngoại tệ thì phải ghi là tiền nước nào và trong trường hợp cần thiết còn phải ghi cả số sê ri trên tiền.
Tài sản tạm giữ là kim khí quý, đá quý phải niêm phong trước mặt người bị tạm giữ tài sản hoặc thân nhân của họ. Trên niêm phong phải ghi rõ loại tài sản, số lượng, khối lượng và các đặc điểm khác của tài sản đã niêm phong, có chữ ký của Chấp hành viên, người bị tạm giữ hoặc thân nhân của họ. Việc niêm phong phải ghi vào biên bản tạm giữ tài sản.
Tài sản, giấy tờ tạm giữ được bảo quản theo quy định tại Điều 40 của Luật Thi hành án dân sự.
3. Khi trả lại tài sản, giấy tờ tạm giữ, Chấp hành viên yêu cầu người đến nhận xuất trình các giấy tờ chứng minh là người bị tạm giữ tài sản, giấy tờ hoặc có giấy ủy quyền hợp lệ.
Chấp hành viên yêu cầu người đến nhận kiểm tra về số lượng, khối lượng, kích thước và các đặc điểm khác của tài sản, giấy tờ bị tạm giữ dưới sự chứng kiến của người được giao bảo quản. Việc trả lại tài sản, giấy tờ phải lập thành biên bản.
Trường hợp trả lại tài sản, giấy tờ tạm giữ mà đương sự không nhận thì cơ quan thi hành án dân sự xử lý theo quy định tại Điều 59 của Luật Thi hành án dân sự.
4. Trường hợp người bị tạm giữ tài sản, giấy tờ hoặc người đang quản lý, sử dụng tài sản, giấy tờ hoặc thân nhân của họ không ký vào biên bản thì phải có chữ ký của người chứng kiến.
Điều 45. Tạm hoãn xuất cảnh
1. Trường hợp khác quy định tại điểm d khoản 1 Điều 70 của Luật Thi hành án dân sự bao gồm:
a) Có căn cứ không bị tạm hoãn xuất cảnh theo quy định của pháp luật về xuất nhập cảnh;
b) Là người nước ngoài phạm tội ít nghiêm trọng đang bị bệnh hiểm nghèo hoặc không có tài sản, thu nhập tại Việt Nam, có đơn cam kết thực hiện nghĩa vụ sau khi về nước.
Đơn cam kết phải có xác nhận của cơ quan đại diện ngoại giao tại Việt Nam của nước mà người đó có quốc tịch về việc đôn đốc người đó thực hiện nghĩa vụ thi hành khoản thu, nộp ngân sách nhà nước theo quy định của pháp luật Việt Nam;
c) Có văn bản của cơ quan công an hoặc cơ quan đại diện ngoại giao đề nghị cho xuất cảnh trong trường hợp cá nhân là người phạm tội nghiêm trọng, rất nghiêm trọng, đặc biệt nghiêm trọng đang bị bệnh hiểm nghèo hoặc không có tài sản, thu nhập tại Việt Nam nhưng không được người được thi hành án cho xuất cảnh hoặc không xác định được địa chỉ của người được thi hành án hoặc người được thi hành án là người nước ngoài đã về nước và các trường hợp đặc biệt khác.
2. Cơ quan, tổ chức đang có nghĩa vụ thi hành bản án, quyết định thì việc tạm hoãn xuất cảnh được áp dụng đối với người đại diện theo pháp luật của cơ quan, tổ chức đó, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác. Trường hợp nhận được thông báo về việc thay đổi người đại diện theo pháp luật của cơ quan, tổ chức hoặc có quyết định đình chỉ thi hành án hoặc khi căn cứ tạm hoãn xuất cảnh không còn hoặc thuộc các trường hợp quy định tại khoản 1 Điều 70 của Luật Thi hành án dân sự và khoản 1 Điều này thì cơ quan thi hành án dân sự gửi văn bản đến cơ quan quản lý xuất nhập cảnh để điều chỉnh thông tin.
Điều 46. Xây dựng kế hoạch cưỡng chế
1. Trước khi ban hành kế hoạch cưỡng chế thi hành án, cơ quan thi hành án dân sự có văn bản gửi cơ quan công an cấp xã nơi tổ chức cưỡng chế để thống nhất các nội dung, yêu cầu của việc cưỡng chế.
2. Văn bản trao đổi bao gồm các nội dung chính sau đây:
a) Họ tên và địa chỉ của người bị cưỡng chế;
b) Điều kiện, kết quả thi hành án của người bị cưỡng chế;
c) Dự kiến thời gian, địa điểm tiến hành cưỡng chế, biện pháp cưỡng chế cần áp dụng;
d) Tóm tắt nội dung vụ việc cần cưỡng chế; tính chất phức tạp của vụ việc (đặc điểm địa bàn, tình hình an ninh, trật tự tại địa phương, diễn biến tâm lý, thái độ, khả năng chống đối của người bị cưỡng chế và gia đình người bị cưỡng chế và các nội dung khác có liên quan);
đ) Yêu cầu cụ thể của cơ quan thi hành án dân sự về các nội dung cần phối hợp; dự kiến số lượng người cần tham gia bảo vệ cưỡng chế; các trang thiết bị, công cụ, phương tiện cần thiết để phục vụ cho việc bảo vệ cưỡng chế và dự trù kinh phí chi cho việc bảo vệ cưỡng chế.
3. Trong thời hạn 03 ngày làm việc kể từ ngày nhận được văn bản trao đổi, thủ trưởng cơ quan công an cấp xã phải trả lời về các nội dung đề nghị phối hợp bảo vệ cưỡng chế của cơ quan thi hành án dân sự.
Trường hợp vụ việc có tính chất phức tạp, ảnh hưởng nghiêm trọng đến an ninh, trật tự an toàn xã hội tại địa phương hoặc liên quan đến nhiều địa bàn cấp xã thì trong thời hạn 03 ngày làm việc kể từ ngày nhận được văn bản của cơ quan thi hành án dân sự, Thủ trưởng cơ quan công an cấp xã báo cáo cơ quan công an cấp tỉnh để chỉ đạo. Trong thời hạn 05 ngày làm việc kể từ ngày nhận được báo cáo của công an cấp xã, công an cấp tỉnh phải có văn bản trả lời và cho ý kiến về nội dung đề nghị phối hợp bảo vệ cưỡng chế. Công an cấp tỉnh chỉ đạo việc bảo vệ cưỡng chế của công an cấp xã.
4. Trường hợp cơ quan công an có ý kiến khác về nội dung, yêu cầu của việc cưỡng chế thì Thủ trưởng cơ quan thi hành án dân sự báo cáo Trưởng Ban Chỉ đạo thi hành án dân sự cấp tỉnh; Thủ trưởng cơ quan thi hành án cấp quân khu báo cáo Tư lệnh quân khu và tương đương xem xét quyết định và chỉ đạo việc cưỡng chế thi hành án theo quy định của pháp luật.
5. Trong thời hạn 03 ngày làm việc kể từ ngày thống nhất ý kiến với cơ quan công an hoặc có ý kiến chỉ đạo của Trưởng Ban Chỉ đạo thi hành án dân sự cấp tỉnh hoặc của Tư lệnh quân khu và tương đương thì Chấp hành viên phải dự thảo xong kế hoạch cưỡng chế trình Thủ trưởng cơ quan thi hành án dân sự xem xét, phê duyệt.
6. Trong thời hạn 03 ngày làm việc kể từ ngày nhận được kế hoạch cưỡng chế của cơ quan thi hành án dân sự, công an cấp xã phải xây dựng kế hoạch và lập phương án bảo vệ cưỡng chế. Việc xây dựng kế hoạch và lập phương án bảo vệ cưỡng chế thực hiện theo quy định của Bộ trưởng Bộ Công an.
Kế hoạch và phương án bảo vệ cưỡng chế đã được phê duyệt phải gửi cho cơ quan thi hành án dân sự trước khi tiến hành cưỡng chế 05 ngày làm việc; đồng thời gửi cho cơ quan, tổ chức khác có liên quan để kịp thời triển khai, thực hiện các nhiệm vụ được phân công.
Điều 47. Phối hợp thực hiện cưỡng chế
1. Lực lượng công an có trách nhiệm bảo đảm trật tự, an toàn, ngăn chặn, xử lý các hành vi chống đối, cản trở trong quá trình thi hành quyết định cưỡng chế.
2. Trường hợp cần có sự phối hợp của nhiều lực lượng hoặc cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan trên địa bàn thì Thủ trưởng cơ quan thi hành án dân sự tỉnh, thành phố đề nghị Trưởng Ban Chỉ đạo thi hành án dân sự cấp tỉnh chỉ đạo các cơ quan, tổ chức, cá nhân phối hợp tham gia cưỡng chế thi hành án.
3. Trước thời điểm cưỡng chế ít nhất 01 ngày làm việc, cơ quan thi hành án dân sự phải tổ chức cuộc họp với cơ quan công an và cơ quan, tổ chức có liên quan để triển khai kế hoạch cưỡng chế, kế hoạch và phương án bảo vệ cưỡng chế.
4. Tại buổi cưỡng chế, việc phối hợp được thực hiện như sau:
a) Lực lượng công an được phân công bảo vệ cưỡng chế thi hành án phải có mặt từ khi bắt đầu đến khi kết thúc vụ việc cưỡng chế để duy trì trật tự và bảo đảm an toàn trong suốt quá trình diễn ra cưỡng chế.
Các lực lượng chức năng thuộc cơ quan công an và các lực lượng khác được giao nhiệm vụ phối hợp bảo vệ cưỡng chế phải tuân thủ mệnh lệnh và điều hành trực tiếp của người chỉ huy lực lượng công an tham gia bảo vệ cưỡng chế;
b) Lực lượng tham gia bảo vệ cưỡng chế trong phạm vi chức năng, nhiệm vụ của mình có trách nhiệm thực hiện các yêu cầu của Chấp hành viên chủ trì, điều hành việc cưỡng chế.
5. Cơ quan thi hành án dân sự, công an cấp tỉnh có trách nhiệm chỉ đạo, kiểm tra, giám sát cơ quan, đơn vị cấp dưới thuộc quyền thực hiện việc phối hợp bảo vệ cưỡng chế thi hành án dân sự.
6. Cơ quan thi hành án cấp quân khu đề nghị Ủy ban nhân dân cấp xã nơi tổ chức cưỡng chế cử đại diện tham gia cưỡng chế, đồng thời phối hợp với lực lượng công an xã để tham gia bảo vệ cưỡng chế.
Điều 48. Phối hợp giải quyết các tình huống phát sinh trong quá trình bảo vệ cưỡng chế
1. Trong quá trình diễn ra cưỡng chế, chỉ huy lực lượng công an bảo vệ cưỡng chế và các lực lượng tham gia cưỡng chế phải thông báo kịp thời cho Chấp hành viên chủ trì, điều hành buổi cưỡng chế biết những diễn biến phức tạp về an ninh, trật tự an toàn xã hội để có biện pháp xử lý.
2. Khi có tình huống xảy ra thuộc phạm vi chức năng, nhiệm vụ của cơ quan nào thì cơ quan đó chủ trì xử lý, các cơ quan khác trong phạm vi chức năng, nhiệm vụ của mình có trách nhiệm phối hợp.
3. Trường hợp có căn cứ cho rằng vụ việc có khả năng diễn biến phức tạp, gây ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự an toàn xã hội mà lực lượng tiến hành cưỡng chế chưa có biện pháp khắc phục, giải quyết thì cơ quan công an có thể đề nghị người chủ trì thực hiện việc cưỡng chế xem xét, quyết định tạm dừng việc cưỡng chế thi hành án.
Điều 49. Khấu trừ tiền trong tài khoản
1. Quyết định khấu trừ tiền trong tài khoản phải ghi rõ các nội dung sau:
a) Ngày, tháng, năm ban hành quyết định;
b) Căn cứ ban hành quyết định;
c) Tên tài khoản, số tài khoản của người phải thi hành án;
d) Tên, địa chỉ Kho bạc Nhà nước, tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài hoặc cơ quan, tổ chức, cá nhân khác đang quản lý tài khoản;
đ) Số tiền phải khấu trừ;
e) Tên tài khoản, số tài khoản của cơ quan thi hành án dân sự nhận khoản tiền bị khấu trừ;
g) Thời hạn thực hiện việc khấu trừ.
2. Trường hợp đối tượng bị cưỡng chế có tài khoản tại nhiều Kho bạc Nhà nước, tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài hoặc cơ quan, tổ chức, cá nhân khác đang quản lý tài khoản khác nhau thì Chấp hành viên căn cứ số dư tài khoản để quyết định áp dụng biện pháp cưỡng chế khấu trừ tiền trong tài khoản đối với một hoặc nhiều tài khoản để đảm bảo thu đủ tiền phải thi hành án và chi phí thi hành án.
3. Ngay sau khi nhận được quyết định khấu trừ tiền trong tài khoản, Kho bạc Nhà nước, tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài, cơ quan, tổ chức, cá nhân khác đang quản lý tài khoản có trách nhiệm thực hiện quyết định khấu trừ tiền trong tài khoản.
4. Đối với tài khoản của người phải thi hành án mở tại Kho bạc Nhà nước thì chỉ thực hiện khấu trừ đối với: kinh phí thực hiện các khoản thu, chi dịch vụ, liên doanh, liên kết của các đơn vị sự nghiệp; các quỹ tài chính nhà nước ngoài ngân sách; các khoản tiền gửi khác của cơ quan, đơn vị, tổ chức và tiền gửi của cá nhân mở tài khoản tại Kho bạc Nhà nước theo quy định của pháp luật.
5. Không khấu trừ đối với các tài khoản: Quỹ ngân sách nhà nước các cấp; kinh phí ngân sách nhà nước (bao gồm cả kinh phí trên tài khoản tiền gửi dự toán, đầu tư; tiền gửi thu phí, lệ phí theo quy định tại Luật Phí, lệ phí) giao cho các đơn vị sử dụng ngân sách, các chủ đầu tư, ban quản lý dự án; các khoản tạm thu, tạm giữ giao cho các cơ quan nhà nước có thẩm quyền.
Điều 50. Thu tiền của người phải thi hành án
1. Khi thu tiền từ hoạt động kinh doanh của người phải thi hành án quy định tại khoản 1 Điều 74 của Luật Thi hành án dân sự, Chấp hành viên thu tiền theo định kỳ hằng tháng, quý hoặc năm tùy theo tính chất ngành nghề kinh doanh của người phải thi hành án.
Chấp hành viên căn cứ vào kết quả kinh doanh trên cơ sở sổ sách, giấy tờ và tình hình kinh doanh thực tế để xác định mức tiền thu từ hoạt động kinh doanh của người phải thi hành án.
Chấp hành viên căn cứ vào đề nghị của người phải thi hành án; tài liệu do người phải thi hành án cung cấp; tính chất ngành, nghề kinh doanh; quy mô kinh doanh của người phải thi hành án để xác định hoặc điều chỉnh mức tiền tối thiểu để lại cho hoạt động kinh doanh.
Người phải thi hành án có trách nhiệm cung cấp các tài liệu chứng minh để xác định mức tiền thu từ hoạt động kinh doanh và mức tiền tối thiểu để lại cho hoạt động kinh doanh theo yêu cầu của Chấp hành viên. Trường hợp cần thiết, Chấp hành viên có thể đề nghị cơ quan chuyên môn có liên quan phối hợp để xác định mức tiền thu từ hoạt động kinh doanh và mức tiền tối thiểu để lại cho hoạt động kinh doanh.
Mức tiền tối thiểu để lại cho sinh hoạt của người phải thi hành án và gia đình bằng 01 lần mức lương tối thiểu tháng theo vùng nơi người phải thi hành án đang thực tế sinh sống, trừ trường hợp đương sự có thỏa thuận khác.
2. Khi có căn cứ xác định cơ quan, tổ chức, cá nhân đang giữ, quản lý tiền của người phải thi hành án thì Chấp hành viên lập biên bản hoặc có văn bản ấn định thời hạn, yêu cầu cơ quan, tổ chức, cá nhân đang giữ tiền giao nộp cho cơ quan thi hành án dân sự để thi hành án.
Hết thời hạn đã được ấn định mà cơ quan, tổ chức, cá nhân đang giữ, quản lý tiền của người phải thi hành án không thực hiện yêu cầu thì Chấp hành viên ra quyết định thu số tiền đó để thi hành án.
Điều 51. Trừ vào thu nhập của người phải thi hành án
1. Chấp hành viên căn cứ vào thu nhập thực tế của người phải thi hành án để xác định số tiền trừ hằng tháng nhưng phải để lại cho người phải thi hành án số tiền bằng 01 lần mức lương tối thiểu tháng theo vùng nơi người phải thi hành án đang thực tế sinh sống, trừ trường hợp đương sự có thỏa thuận khác; trường hợp người phải thi hành án đang nuôi dưỡng người khác thì số tiền để lại cho mỗi người được nuôi dưỡng bằng 01 lần mức lương tối thiểu tháng theo vùng. Chấp hành viên căn cứ danh sách người phụ thuộc của người phải thi hành án đã được cơ quan thuế xác nhận để xác định người mà người phải thi hành án đang nuôi dưỡng.
Trường hợp thu nhập của người phải thi hành án nhỏ hơn số tiền phải để lại theo quy định tại khoản này thì không thực hiện việc trừ vào thu nhập.
2. Quyết định trừ vào thu nhập của người phải thi hành phải ghi rõ các nội dung sau:
a) Ngày, tháng, năm ban hành quyết định;
b) Căn cứ ban hành quyết định;
c) Họ tên người phải thi hành án;
d) Số tiền phải thi hành án; số tiền phải trừ vào thu nhập;
đ) Tên tài khoản, số tài khoản của cơ quan thi hành án dân sự nhận tiền bị khấu trừ;
e) Thời hạn thực hiện việc khấu trừ.
3. Chấp hành viên gửi quyết định trừ vào thu nhập của người phải thi hành án cho cơ quan, tổ chức, người sử dụng lao động, Bảo hiểm xã hội, tổ chức hỗ trợ chi trả được cơ quan bảo hiểm xã hội ủy quyền nơi đang quản lý tiền lương, tiền công, tiền lương hưu, tiền trợ cấp mất sức lao động và các thu nhập hợp pháp khác của người phải thi hành án, kèm theo các tài liệu sau đây:
a) Quyết định trừ vào thu nhập của người phải thi hành án;
b) Bản sao bản án, quyết định;
c) Quyết định thi hành án.
4. Trong thời hạn 03 ngày làm việc kể từ ngày bắt đầu kỳ chi trả tiền lương, tiền công, tiền lương hưu, tiền trợ cấp mất sức lao động và thu nhập hợp pháp khác gần nhất, cơ quan bảo hiểm xã hội, tổ chức hỗ trợ chi trả được cơ quan bảo hiểm xã hội ủy quyền, cơ quan, đơn vị, tổ chức, người sử dụng lao động đang quản lý thu nhập phải thực hiện khấu trừ và chuyển số tiền đã khấu trừ vào tài khoản của cơ quan thi hành án dân sự theo nội dung ghi trong quyết định cưỡng chế, đồng thời thông báo cho người phải thi hành án. Trường hợp nhận được quyết định trừ vào thu nhập sau khi đã chi trả xong các khoản tiền cho người lao động thì cơ quan bảo hiểm xã hội, tổ chức hỗ trợ chi trả được cơ quan bảo hiểm xã hội ủy quyền, cơ quan, đơn vị, tổ chức, người sử dụng lao động đang quản lý thu nhập thực hiện khấu trừ và chuyển số tiền đã khấu trừ vào tài khoản của cơ quan thi hành án dân sự trong kỳ lĩnh tiền lương, tiền công, tiền lương hưu, tiền trợ cấp mất sức lao động và thu nhập hợp pháp tiếp theo; thời hạn 03 ngày làm việc được tính kể từ thời điểm bắt đầu kỳ chi trả tiếp theo.
Trường hợp chưa khấu trừ đủ số tiền theo quyết định cưỡng chế mà cá nhân bị áp dụng biện pháp cưỡng chế đã chết, đã nghỉ việc, chấm dứt hợp đồng có hưởng lương hoặc thu nhập thì Bảo hiểm xã hội, tổ chức hỗ trợ chi trả được cơ quan bảo hiểm xã hội ủy quyền, cơ quan, đơn vị, tổ chức, người sử dụng lao động phải thông báo ngay cho cơ quan thi hành án dân sự.
Trường hợp Bảo hiểm xã hội, tổ chức hỗ trợ chi trả được cơ quan bảo hiểm xã hội ủy quyền, cơ quan, đơn vị, tổ chức, người sử dụng lao động không thực hiện, thực hiện không kịp thời dẫn đến không thể thi hành án được thì phải bồi thường thiệt hại theo quy định của pháp luật.
Điều 52. Cưỡng chế khai thác tài sản
1. Chấp hành viên phải ra quyết định cưỡng chế khai thác tài sản. Quyết định ghi rõ hình thức khai thác; số tiền, thời hạn, thời điểm, phương thức nộp tiền cho cơ quan thi hành án dân sự để thi hành án.
Quyết định cưỡng chế khai thác tài sản phải được gửi ngay cho cơ quan có thẩm quyền quản lý, đăng ký đối với tài sản đó và Ủy ban nhân dân cấp xã nơi có tài sản.
2. Việc thực hiện giao dịch, chuyển giao quyền sở hữu, sử dụng đối với tài sản đang khai thác phải được sự đồng ý của Chấp hành viên. Người khai thác tài sản không nộp số tiền thu được từ việc khai thác tài sản theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 77 của Luật Thi hành án dân sự thì Chấp hành viên quyết định giao tổ chức, cá nhân khác khai thác hoặc kê biên, xử lý tài sản đó để thi hành án.
Điều 53. Cưỡng chế mở khóa, mở gói
Việc cưỡng chế mở khóa, mở gói theo quy định tại các Điều 37, 80 của Luật Thi hành án dân sự được thực hiện như sau:
1. Chấp hành viên yêu cầu người phải thi hành án, người đang quản lý, sử dụng tài sản, đồ vật mở khóa, mở gói; nếu họ không mở hoặc cố tình vắng mặt thì Chấp hành viên tự mình hoặc có thể thuê cá nhân, tổ chức khác mở khóa, phá khóa hoặc mở gói, trong trường hợp này phải có người chứng kiến. Người phải thi hành án, người đang quản lý, sử dụng tài sản, đồ vật phải chịu thiệt hại do việc mở khóa, mở gói.
2. Trường hợp cần thiết, sau khi mở khóa, mở gói, Chấp hành viên niêm phong tài sản, đồ vật và giao bảo quản theo quy định tại Điều 40 của Luật Thi hành án dân sự.
3. Việc mở khóa, mở gói, niêm phong phải lập thành biên bản, có chữ ký của đại diện Viện kiểm sát nhân dân (nếu có), những người tham gia và người chứng kiến.
Điều 54. Kê biên tài sản để thi hành án
1. Trường hợp tài sản đã bị áp dụng biện pháp ngăn chặn, biện pháp khẩn cấp tạm thời, biện pháp bảo đảm thi hành án, biện pháp cưỡng chế thi hành án mà phát sinh các giao dịch liên quan đến tài sản đó thì tài sản đó bị kê biên, xử lý để thi hành án. Chấp hành viên có văn bản yêu cầu Tòa án tuyên bố giao dịch vô hiệu hoặc yêu cầu cơ quan có thẩm quyền hủy giấy tờ liên quan đến giao dịch đối với tài sản đó.
2. Trường hợp có giao dịch về tài sản mà không còn tài sản khác hoặc có tài sản khác nhưng không đủ để bảo đảm nghĩa vụ thi hành án và chi phí thi hành án thì xử lý như sau:
a) Trường hợp có giao dịch về tài sản nhưng chưa hoàn thành việc chuyển quyền sở hữu, sử dụng thì Chấp hành viên tiến hành kê biên, xử lý tài sản theo quy định. Khi kê biên tài sản, nếu có tranh chấp thì Chấp hành viên thực hiện theo quy định tại khoản 3 Điều 39 của Luật Thi hành án dân sự, trường hợp cần tuyên bố giao dịch vô hiệu hoặc yêu cầu cơ quan có thẩm quyền hủy giấy tờ liên quan đến giao dịch thì thực hiện theo quy định tại khoản 4 Điều 39 của Luật Thi hành án dân sự;
b) Trường hợp có giao dịch về tài sản kể từ thời điểm bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật nhưng đã hoàn thành việc chuyển quyền sở hữu, sử dụng thì Chấp hành viên không kê biên tài sản mà thực hiện theo quy định tại khoản 4 Điều 39 của Luật Thi hành án dân sự và có văn bản thông báo cho cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan để phối hợp tạm ngừng giao dịch, tạm dừng việc đăng ký, chuyển quyền sở hữu, quyền sử dụng, thay đổi hiện trạng tài sản.
Việc xử lý tài sản được thực hiện theo quyết định của Tòa án hoặc cơ quan có thẩm quyền;
c) Trường hợp có các giao dịch khác liên quan đến tài sản mà không chuyển giao quyền sở hữu tài sản, quyền sử dụng cho người khác thì Chấp hành viên tiến hành kê biên, xử lý tài sản để thi hành án. Quyền và lợi ích hợp pháp của người tham gia giao dịch được thực hiện theo quy định của pháp luật về dân sự và các quy định của pháp luật có liên quan.
3. Cơ quan thi hành án dân sự chỉ kê biên, xử lý đối với tài sản chung là quyền sử dụng đất, nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất khi các tài sản khác không đủ để thi hành án hoặc khi có đề nghị của người phải thi hành án quy định tại khoản 4 Điều này.
4. Trường hợp thi hành nghĩa vụ trả tiền mà người phải thi hành án giao tài sản cho cơ quan thi hành án dân sự xử lý hoặc đề nghị kê biên tài sản cụ thể trong số nhiều tài sản mà không gây trở ngại cho việc thi hành án và tài sản đó đủ để thi hành án, các chi phí liên quan thì Chấp hành viên ra quyết định và thực hiện kê biên tài sản theo quy định của Luật Thi hành án dân sự và Nghị định này. Người phải thi hành án bị hạn chế quyền thực hiện giao dịch đối với các tài sản khác cho đến khi thực hiện xong nghĩa vụ thi hành án.
5. Trường hợp tài sản kê biên đang cho thuê thì Chấp hành viên thực hiện theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 80 của Luật Thi hành án dân sự.
6. Chấp hành viên ra quyết định kê biên bổ sung theo quy định tại khoản 3 Điều 80 của Luật Thi hành án dân sự trong trường hợp phát hiện thêm tài sản khác của người phải thi hành án gắn liền với tài sản đã kê biên.
Trường hợp phát hiện tài sản khác không gắn liền với tài sản đã kê biên thì Chấp hành viên ra quyết định kê biên mới đối với tài sản đó và xử lý theo quy định của pháp luật.
Trường hợp quyết định kê biên có sai sót mà không làm thay đổi nội dung của quyết định kê biên thì Chấp hành viên ra quyết định sửa đổi, bổ sung quyết định kê biên.
Điều 55. Kê biên tài sản đang cầm cố, thế chấp
1. Khi kê biên tài sản đang cầm cố, thế chấp, Chấp hành viên phải thông báo ngay cho người nhận cầm cố, nhận thế chấp; khi xử lý tài sản kê biên, người nhận cầm cố, nhận thế chấp được ưu tiên thanh toán theo quy định tại khoản 3 và khoản 4 Điều 54 của Luật Thi hành án dân sự.
2. Trường hợp tài sản đang được sử dụng làm tài sản bảo đảm cho khoản nợ xấu tại tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài, tổ chức mua bán, xử lý nợ thì cơ quan thi hành án dân sự chỉ kê biên, xử lý khi đáp ứng đủ các điều kiện sau đây:
a) Giá trị tài sản bảo đảm ước tính lớn hơn nghĩa vụ được bảo đảm và chi phí thi hành án;
b) Thuộc trường hợp được kê biên theo quy định của Luật Các tổ chức tín dụng.
3. Đối với tài sản đã được cầm cố, thế chấp hợp pháp mà kết quả xác minh tại thời điểm thi hành án cho thấy tài sản có giá trị bằng hoặc nhỏ hơn nghĩa vụ phải thanh toán theo hợp đồng cầm cố, thế chấp hoặc thuộc trường hợp không được kê biên theo quy định của Luật Các tổ chức tín dụng thì Chấp hành viên phải thông báo bằng văn bản cho người nhận cầm cố, thế chấp biết nghĩa vụ của người phải thi hành án và yêu cầu khi thanh toán hết nghĩa vụ theo hợp đồng hoặc khi xử lý tài sản cầm cố, thế chấp phải thông báo ngay cho cơ quan thi hành án dân sự.
Cơ quan thi hành án dân sự kê biên tài sản sau khi đã được giải chấp hoặc thu phần tiền còn lại sau khi xử lý tài sản để thanh toán hợp đồng đã ký, nếu có.
Trường hợp người nhận cầm cố, thế chấp không thông báo hoặc chậm thông báo mà gây thiệt hại cho người được thi hành án thì phải bồi thường theo quy định của pháp luật.
4. Trường hợp kê biên, xử lý tài sản đang cầm cố, thế chấp mà giá trị tài sản sau khi giảm giá bằng hoặc thấp hơn nghĩa vụ được bảo đảm và chi phí thi hành án thì người có thẩm quyền ra quyết định về thi hành án có trách nhiệm ra ngay quyết định thu hồi quyết định kê biên, xử lý tài sản theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 52 của Luật Thi hành án dân sự; đồng thời, thông báo bằng văn bản cho người nhận cầm cố, nhận thế chấp biết nghĩa vụ của người phải thi hành án và yêu cầu khi thanh toán hết nghĩa vụ theo hợp đồng hoặc khi xử lý tài sản cầm cố, thế chấp phải thông báo cho cơ quan thi hành án dân sự.
5. Trường hợp cơ quan thi hành án dân sự kê biên, xử lý tài sản đang cầm cố, thế chấp thì người nhận cầm cố, nhận thế chấp phải cung cấp thông tin, giao nộp hoặc cung cấp giấy tờ về quyền sở hữu tài sản, quyền sử dụng đất; những tài liệu có liên quan đến việc thi hành án mà họ đang quản lý, lưu giữ và phối hợp với cơ quan thi hành án dân sự trong quá trình kê biên, xử lý tài sản cầm cố, thế chấp.
Điều 56. Kê biên quyền sử dụng đất
1. Trường hợp tài sản chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất mà thuộc trường hợp được cấp giấy chứng nhận theo quy định của pháp luật về đất đai hoặc thuộc diện phải thu hồi đất nhưng chưa có quyết định thu hồi hoặc trường hợp khác được chuyển quyền sử dụng đất theo quy định của pháp luật về đất đai thì trước khi ra quyết định kê biên, Chấp hành viên đề nghị cơ quan chức năng có ý kiến về quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất; điều kiện để được cấp giấy chứng nhận và điều kiện nhận chuyển nhượng quyền sở hữu, quyền sử dụng tài sản. Trường hợp có thay đổi về quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất, điều kiện để được cấp giấy chứng nhận hoặc điều kiện nhận chuyển nhượng quyền sở hữu, quyền sử dụng tài sản thì cơ quan chức năng thông báo cho Chấp hành viên, cơ quan thi hành án dân sự.
Trường hợp quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất đang được sử dụng hợp pháp nhưng đến thời điểm cơ quan thi hành án dân sự kê biên, xử lý thuộc khu vực vi phạm hành lang giao thông, chỉ giới đê điều, lưới điện và vẫn được cơ quan có thẩm quyền cho phép tiếp tục tồn tại, sử dụng thì Chấp hành viên thống nhất với cơ quan quản lý đất đai có thẩm quyền để thực hiện kê biên, xử lý tài sản đó theo quy định.
2. Trường hợp tài sản là quyền sử dụng đất mà diện tích đất trên thực tế chênh lệch so với giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nhưng không thay đổi vị trí thì Chấp hành viên phối hợp với cơ quan có thẩm quyền để xác định rõ tình trạng pháp lý, hiện trạng, diện tích thực tế của tài sản và xử lý như sau:
a) Trường hợp chênh lệch diện tích giữa số liệu đo đạc thực tế với số liệu ghi trên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất mà phần diện tích chênh lệch không có tranh chấp, thuộc diện được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất theo quy định của pháp luật về đất đai thì kê biên, xử lý theo số liệu đo đạc thực tế, trừ trường hợp quy định tại điểm c và điểm d khoản này;
b) Trường hợp chênh lệch diện tích giữa số liệu đo đạc thực tế với số liệu ghi trên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất mà phần diện tích chênh lệch có tranh chấp thì thực hiện theo quy định tại khoản 3 Điều 39 của Luật Thi hành án dân sự;
c) Trường hợp diện tích đo đạc thực tế nhỏ hơn diện tích ghi trên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất mà phần diện tích chênh lệch do bị người khác lấn chiếm thì Chấp hành viên yêu cầu người lấn chiếm trả lại đất hoặc thỏa thuận với người có đất bị lấn chiếm và người được thi hành án về phương án giải quyết. Cơ quan thi hành án dân sự xử lý theo nội dung thỏa thuận của đương sự.
Trường hợp các bên không thỏa thuận được thì cơ quan thi hành án dân sự kê biên, xử lý theo giấy chứng nhận; trường hợp có tranh chấp thì thực hiện theo quy định tại khoản 3 Điều 39 của Luật Thi hành án dân sự;
d) Trường hợp diện tích đo đạc thực tế lớn hơn diện tích ghi trên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất mà phần diện tích đất chênh lệch đủ điều kiện để tách thửa và cấp giấy chứng nhận theo quy định của pháp luật về đất đai thì kê biên, xử lý theo giấy chứng nhận nếu diện tích theo giấy chứng nhận đã đủ để thực hiện nghĩa vụ thi hành án và chi phí thi hành án.
3. Trường hợp tài sản là quyền sử dụng đất mà hiện trạng không đúng vị trí theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thì cơ quan thi hành án dân sự đề nghị cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan điều chỉnh vị trí quyền sử dụng đất hoặc kiến nghị cơ quan có thẩm quyền xem xét lại bản án, quyết định theo quy định của pháp luật.
4. Việc kê biên quyền sử dụng đất phải lập thành biên bản, ghi rõ vị trí, diện tích, ranh giới thửa đất được kê biên, có chữ ký của những người tham gia kê biên.
Điều 57. Phong tỏa, kê biên, xử lý chứng khoán, cổ phần, phần vốn góp, giấy tờ có giá
1. Trường hợp chứng khoán đang niêm yết hoặc đang đăng ký giao dịch tại các sở giao dịch chứng khoán thì thực hiện như sau:
a) Chấp hành viên ra quyết định phong tỏa chứng khoán gửi Tổng công ty Lưu ký và Bù trừ chứng khoán Việt Nam và cơ quan, tổ chức, cá nhân khác theo quy định tại Điều 67 của Luật Thi hành án dân sự. Trong thời hạn 01 ngày làm việc kể từ ngày nhận được quyết định của Chấp hành viên, Tổng công ty Lưu ký và Bù trừ chứng khoán Việt Nam thực hiện phong tỏa chứng khoán theo quy định của pháp luật về chứng khoán; gửi thông báo cho cơ quan thi hành án dân sự và thành viên lưu ký.
Quyết định phong tỏa chứng khoán gồm những nội dung sau: nội dung yêu cầu phong tỏa chứng khoán; họ, tên, số định danh cá nhân hoặc số chứng minh nhân dân hoặc căn cước hoặc hộ chiếu đối với cá nhân; tên, mã số doanh nghiệp hoặc giấy tờ pháp lý tương đương đối với pháp nhân; mã số giao dịch chứng khoán; số tiền phải thi hành án và các chi phí thi hành án tính đến thời điểm có quyết định phong tỏa; mã chứng khoán, số lượng chứng khoán đề nghị phong tỏa và số tài khoản chứng khoán (nếu có);
b) Chấp hành viên ra quyết định kê biên, xử lý chứng khoán theo quy định tại khoản 4 Điều 71 của Luật Thi hành án dân sự.
Trong thời hạn 05 ngày làm việc kể từ ngày được thông báo hợp lệ quyết định kê biên, xử lý chứng khoán, đương sự được thỏa thuận về việc bán chứng khoán theo quy định của pháp luật về chứng khoán và thông báo bằng văn bản cho cơ quan thi hành án dân sự về việc thỏa thuận đó.
Hết thời hạn trên, cơ quan thi hành án dân sự ban hành văn bản yêu cầu Tổng công ty Lưu ký và Bù trừ chứng khoán Việt Nam chuyển quyền sở hữu chứng khoán đã kê biên sang cơ quan thi hành án dân sự. Cơ quan thi hành án dân sự có quyền và nghĩa vụ theo quy định của pháp luật đối với số chứng khoán đã nhận. Trong thời hạn 05 ngày làm việc kể từ ngày nhận được văn bản yêu cầu của cơ quan thi hành án dân sự, Tổng công ty Lưu ký và Bù trừ chứng khoán Việt Nam phải thực hiện việc chuyển quyền sở hữu chứng khoán. Trong thời hạn 02 ngày làm việc kể từ ngày hoàn tất việc chuyển quyền sở hữu chứng khoán, Chấp hành viên thực hiện việc bán theo thỏa thuận của đương sự. Trường hợp đương sự không thỏa thuận hoặc không thỏa thuận được thì Chấp hành viên thực hiện bán chứng khoán theo phương thức khớp lệnh với mức giá tham chiếu theo quy định của pháp luật về chứng khoán.
Trường hợp chủ động ra quyết định thi hành án thì ngay sau khi ban hành quyết định kê biên, cơ quan thi hành án dân sự ban hành văn bản yêu cầu Tổng công ty Lưu ký và Bù trừ chứng khoán Việt Nam chuyển quyền sở hữu chứng khoán đã kê biên sang cơ quan thi hành án dân sự và thực hiện việc bán chứng khoán theo phương thức khớp lệnh với mức giá tham chiếu theo quy định của pháp luật về chứng khoán.
2. Trường hợp xử lý chứng khoán chưa niêm yết, chưa đăng ký giao dịch và đã đăng ký tập trung tại Tổng công ty Lưu ký và Bù trừ chứng khoán Việt Nam hoặc đang niêm yết, đăng ký giao dịch nhưng không bán được theo quy định tại khoản 1 Điều này thì Chấp hành viên ra quyết định phong tỏa theo quy định tại Điều 67 của Luật Thi hành án dân sự; ra quyết định kê biên, xử lý tài sản theo quy định tại khoản 4 Điều 71 của Luật Thi hành án dân sự. Trình tự, thủ tục thẩm định giá, xác định giá, bán chứng khoán được thực hiện theo quy định tại Điều 82, Điều 83 và quy định khác của Luật Thi hành án dân sự, Luật Chứng khoán và pháp luật khác có liên quan. Sau khi bán, xử lý chứng khoán, cơ quan thi hành án dân sự gửi văn bản yêu cầu Tổng công ty Lưu ký và Bù trừ chứng khoán Việt Nam thực hiện chuyển quyền sở hữu chứng khoán cho người mua, người được nhận để trừ vào tiền thi hành án theo quy định của pháp luật.
3. Trường hợp chứng khoán, cổ phần, phần vốn góp không thuộc quy định tại khoản 1, khoản 2 Điều này hoặc giấy tờ có giá thì Chấp hành viên kê biên, xử lý theo quy định tại Điều 71, Điều 75, Điều 82, Điều 83 và quy định khác của Luật Thi hành án dân sự, pháp luật về đấu giá tài sản, pháp luật về doanh nghiệp và pháp luật khác có liên quan. Khi ra quyết định kê biên, Chấp hành viên đồng thời ban hành văn bản thông báo về việc kê biên tài sản đó cho doanh nghiệp nơi người phải thi hành án góp vốn và các cơ quan, tổ chức có liên quan để ngăn chặn việc chuyển quyền sở hữu, thay đổi hiện trạng tài sản cho đến khi có quyết định của cơ quan thi hành án dân sự.
4. Sau khi nhận được quyết định áp dụng biện pháp bảo đảm, biện pháp cưỡng chế của Chấp hành viên mà chứng khoán thuộc trường hợp bị hạn chế chuyển nhượng theo quy định của pháp luật, đang bị phong tỏa bởi quyết định của cơ quan có thẩm quyền khác, bị phong tỏa tại Tổng công ty Lưu ký và Bù trừ chứng khoán Việt Nam làm nghĩa vụ bảo đảm theo yêu cầu của nhà đầu tư, đang đăng ký biện pháp bảo đảm hoặc các trường hợp chứng khoán chưa được chuyển quyền sở hữu khác theo quy định của pháp luật thì cơ quan, tổ chức, cá nhân đang quản lý tài sản có văn bản thông báo cho cơ quan thi hành án dân sự biết để quyết định xử lý theo quy định của pháp luật.
Điều 58. Kê biên, xử lý tài sản hình thành trong tương lai
1. Trường hợp tài sản chưa hình thành hoặc đã hình thành nhưng chưa được cấp giấy chứng nhận mà thuộc đối tượng phải đăng ký quyền sở hữu, sử dụng theo quy định của pháp luật thì Chấp hành viên kê biên, xử lý tài sản hình thành trong tương lai đó theo quy định của pháp luật về thi hành án dân sự và pháp luật chuyên ngành.
2. Trường hợp tài sản đã hình thành và người phải thi hành án đã xác lập quyền sở hữu, sử dụng đối với tài sản thì Chấp hành viên kê biên, xử lý theo quy định chung về kê biên, xử lý đối với tài sản hiện có.
3. Người mua được tài sản, người nhận tài sản để trừ vào tiền thi hành án có quyền, nghĩa vụ của người có tài sản đối với tài sản chưa hình thành hoặc đã hình thành nhưng chưa được cấp giấy chứng nhận hoặc tài sản đã hình thành và người phải thi hành án đã xác lập quyền sở hữu, sử dụng quy định tại khoản 1 và khoản 2 Điều này.
Điều 59. Kê biên, xử lý tài sản là quyền khai thác tài nguyên thiên nhiên
Trước khi ra quyết định kê biên, xử lý tài sản là quyền khai thác tài nguyên thiên nhiên, Chấp hành viên đề nghị cơ quan có thẩm quyền cấp phép quyền khai thác tài nguyên thiên nhiên cho ý kiến về việc xử lý quyền khai thác tài nguyên thiên nhiên và điều kiện để người mua được cấp phép quyền khai thác tài nguyên thiên nhiên đó để xử lý theo quy định; trường hợp tài nguyên thiên nhiên gắn liền với đất thì còn phải có ý kiến của cơ quan có thẩm quyền quản lý đất đai.
Trình tự, thủ tục kê biên, xử lý thực hiện theo quy định của pháp luật về thi hành án dân sự và pháp luật khác có liên quan.
Điều 60. Thẩm định giá, xác định giá tài sản kê biên
1. Trường hợp nhận được văn bản thỏa thuận của đương sự về giá tài sản trước khi ký hợp đồng dịch vụ với doanh nghiệp thẩm định giá theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 82 của Luật Thi hành án dân sự thì Chấp hành viên thực hiện thủ tục bán tài sản theo giá do đương sự thỏa thuận.
2. Doanh nghiệp thẩm định giá được Chấp hành viên lựa chọn để ký hợp đồng dịch vụ theo quy định tại khoản 1 Điều 82 của Luật Thi hành án dân sự phải có tên trong danh sách doanh nghiệp thẩm định giá đủ điều kiện kinh doanh dịch vụ thẩm định giá do cơ quan có thẩm quyền công khai, có uy tín, năng lực phù hợp với tài sản được thẩm định giá và tại thời điểm ký hợp đồng không thuộc trường hợp bị đình chỉ kinh doanh dịch vụ thẩm định giá và không thuộc trường hợp bị thu hồi giấy chứng nhận đủ điều kiện kinh doanh dịch vụ thẩm định giá theo quy định của pháp luật về giá.
Doanh nghiệp thẩm định giá phải chịu trách nhiệm về tính chính xác, hợp pháp của các thông tin, tài liệu cung cấp cho cơ quan thi hành án dân sự.
3. Trường hợp không lựa chọn được doanh nghiệp thẩm định giá quy định tại điểm b khoản 1 Điều 82 của Luật Thi hành án dân sự thì Thủ trưởng cơ quan thi hành án dân sự ra quyết định thành lập Hội đồng xác định giá tài sản.
Hội đồng xác định giá tài sản có từ ba thành viên trở lên, do Chấp hành viên là Chủ tịch Hội đồng, thành viên là đại diện cơ quan chuyên môn liên quan đến tài sản và đại diện cơ quan, tổ chức khác có liên quan. Giá tài sản do Hội đồng quyết định.
Hội đồng xác định giá làm việc theo nguyên tắc tập trung, thảo luận tập thể và quyết định theo đa số. Quyết định của Hội đồng xác định giá phải được quá nửa tổng số thành viên biểu quyết tán thành; trường hợp kết quả biểu quyết bằng nhau thì Chủ tịch Hội đồng có quyền quyết định cuối cùng. Việc xác định giá phải được lập thành biên bản, ghi rõ ý kiến và có chữ ký của từng thành viên Hội đồng.
Viện kiểm sát nhân dân có thẩm quyền kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong việc xác định giá của Hội đồng.
4. Tài sản là hàng hóa, vật phẩm dễ bị hư hỏng quy định tại điểm b khoản 1 Điều 82 của Luật Thi hành án dân sự bao gồm:
a) Thuốc chữa bệnh, thuốc thú y, thuốc bảo vệ thực vật mà hạn sử dụng còn dưới 60 ngày theo hạn ghi trên bao bì, nhãn hàng;
b) Thực phẩm tươi sống, thực phẩm đã qua chế biến và các loại hàng hóa khác mà hạn sử dụng còn dưới 30 ngày theo hạn ghi trên bao bì, nhãn hàng;
c) Hàng hóa có tính chất thời vụ (hàng tiêu dùng theo mùa, phục vụ lễ, tết) nếu không xử lý ngay sẽ bị hư hỏng, không bán được hoặc hết thời hạn sử dụng;
d) Hàng hóa, vật phẩm dễ bị hư hỏng khác theo quy định của pháp luật.
5. Khi xác định tài sản có giá trị nhỏ theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 82 của Luật Thi hành án dân sự, Chấp hành viên căn cứ vào giá tài sản giống hệt hoặc tương tự có giá mua bán trên thị trường tại thời điểm xác định giá không quá 05 lần mức lương tối thiểu tháng theo vùng nơi cơ quan thi hành án dân sự có trụ sở.
6. Trong thời hạn 03 ngày làm việc kể từ ngày nhận được kết quả thẩm định giá hoặc có kết quả xác định giá, Chấp hành viên thông báo cho đương sự, chủ sở hữu chung, người được quyền ưu tiên mua tài sản về kết quả thẩm định giá, xác định giá và mức nộp tạm ứng chi phí thẩm định giá lại, xác định giá lại nếu đương sự yêu cầu theo quy định tại điểm c khoản 2 Điều 82 của Luật Thi hành án dân sự. Cơ quan thi hành án dân sự căn cứ chi phí thẩm định giá, xác định giá tài sản lần đầu để xác định mức nộp tạm ứng chi phí thẩm định giá lại, xác định giá lại.
Khi kết thúc việc thẩm định giá lại, xác định giá lại, người yêu cầu phải nộp tiếp hoặc được nhận lại phần chênh lệch so với chi phí tạm ứng đã nộp (nếu có).
7. Việc thẩm định giá, xác định giá quyền sở hữu trí tuệ để thi hành án thực hiện theo quy định của pháp luật về giá, pháp luật về sở hữu trí tuệ và pháp luật khác có liên quan.
Cơ quan, tổ chức, cá nhân có yêu cầu thẩm định giá, xác định giá quyền sở hữu trí tuệ phải thanh toán chi phí cho việc thẩm định giá, xác định giá theo quy định tại Điều 53 của Luật Thi hành án dân sự.
Điều 61. Thẩm định giá, xác định giá, bán tài sản là vàng, tài sản số hoặc tài sản đặc thù khác
1. Việc xác định loại vàng, giám định và kiểm định vàng được thực hiện theo quy định của pháp luật về tiêu chuẩn, chất lượng và đo lường trong kinh doanh vàng.
Trường hợp chưa xác định rõ loại, tuổi vàng, hàm lượng hoặc khối lượng thì Chấp hành viên yêu cầu tổ chức có chức năng thực hiện việc giám định, kiểm định làm căn cứ thẩm định giá, xác định giá và bán. Chi phí giám định, kiểm định được tính vào chi phí thi hành án do người phải thi hành án chịu.
2. Trường hợp tài sản là vàng miếng, vàng nhẫn tròn trơn thì trong thời hạn 10 ngày kể từ ngày thực hiện xong việc kê biên, Chấp hành viên bán vàng cho doanh nghiệp, tổ chức tín dụng được phép kinh doanh vàng theo giá mua vào niêm yết công khai của doanh nghiệp, tổ chức tín dụng tại thời điểm giao dịch.
Việc bán vàng phải lập thành biên bản; có chữ ký của Chấp hành viên, đại diện cơ sở mua vàng; kèm theo hóa đơn, chứng từ theo quy định của pháp luật. Chấp hành viên ghi nhận, lưu trong hồ sơ thi hành án thông tin niêm yết giá (bản in/bản chụp tại thời điểm bán) và kết quả kiểm định (nếu có).
Viện kiểm sát nhân dân có thẩm quyền kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong việc bán tài sản là vàng.
3. Trường hợp tài sản là vàng trang sức, mỹ nghệ, vàng nguyên liệu và các loại vàng khác thì Chấp hành viên thực hiện thủ tục về thẩm định giá, xác định giá theo quy định tại các điểm a, b khoản 1 Điều 82 và bán theo quy định tại các điểm a, b khoản 2 Điều 83 của Luật Thi hành án dân sự. Việc đấu giá tài sản là vàng trang sức, mỹ nghệ, vàng nguyên liệu và các loại vàng khác được thực hiện theo thủ tục rút gọn theo pháp luật về đấu giá tài sản.
Đối tượng được đăng ký mua vàng nguyên liệu là doanh nghiệp, tổ chức tín dụng theo quy định của pháp luật về kinh doanh vàng.
4. Trường hợp pháp luật chuyên ngành có quy định thì việc định giá, thẩm định giá, xác định giá, bán tài sản là tài sản số, tài sản đặc thù khác thực hiện theo quy định của pháp luật chuyên ngành.
Điều 62. Việc thi hành án khi có thay đổi giá tài sản tại thời điểm thi hành án
1. Việc thẩm định giá theo quy định tại khoản 5 Điều 82 của Luật Thi hành án dân sự được thực hiện khi tại thời điểm thi hành án, giá tài sản thay đổi tăng hoặc giảm từ 20% trở lên so với giá trị tài sản khi bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật.
2. Người có đơn yêu cầu thẩm định giá tài sản có trách nhiệm cung cấp tài liệu chứng minh có thay đổi giá tài sản, kèm theo đơn yêu cầu thẩm định giá tài sản. Tài liệu chứng minh có thể là khung giá do cơ quan nhà nước có thẩm quyền quy định được áp dụng tại địa phương hoặc giá thị trường phổ biến của tài sản giống hệt hoặc tương tự với tài sản cần thẩm định giá tại địa phương hoặc giá chuyển nhượng thực tế ở địa phương của tài sản cùng loại.
Trong thời hạn 05 ngày làm việc kể từ ngày nhận được đơn yêu cầu thẩm định giá tài sản của đương sự và tài liệu chứng minh có thay đổi giá tài sản, Chấp hành viên phải tiến hành thủ tục thẩm định giá theo quy định tại Điều 82 của Luật Thi hành án dân sự. Chi phí thẩm định giá do người yêu cầu thẩm định giá chịu.
3. Trong thời hạn 05 ngày làm việc kể từ ngày có kết quả thẩm định giá, Chấp hành viên thông báo bằng văn bản yêu cầu người được nhận tài sản nộp số tiền tương ứng với tỷ lệ giá trị tài sản mà đương sự được nhận theo bản án, quyết định so với giá tài sản đã thẩm định quy định tại khoản 2 Điều này để thanh toán cho người được nhận tiền thi hành án.
Trong thời hạn 30 ngày kể từ ngày nhận được văn bản yêu cầu nộp tiền thi hành án, nếu người được nhận tài sản không tự nguyện nộp tiền thi hành án thì Chấp hành viên áp dụng biện pháp cưỡng chế đối với tài sản đó để thi hành án. Số tiền thu được thanh toán theo tỷ lệ tương ứng so với số tiền, tài sản mà các đương sự được nhận theo bản án, quyết định nhưng không tính lãi chậm thi hành án.
4. Chi phí kê biên, xử lý tài sản quy định tại khoản 3 Điều này do đương sự chịu tương ứng với tỷ lệ số tiền, tài sản mà họ thực nhận theo quy định của pháp luật về chi phí thi hành án.
5. Người đang quản lý tài sản không tự nguyện giao tài sản cho người mua được tài sản đấu giá thì bị cưỡng chế thi hành án và phải chịu chi phí thi hành án theo quy định.
Điều 63. Bán tài sản cho chủ sở hữu chung hoặc người được quyền ưu tiên mua
1. Trong thời hạn 05 ngày làm việc kể từ ngày nhận được kết quả thẩm định giá, thẩm định giá lại hoặc có kết quả xác định giá, xác định giá lại thì Chấp hành viên thông báo cho chủ sở hữu chung, người được quyền ưu tiên mua tài sản về quyền ưu tiên mua tài sản thi hành án theo quy định tại khoản 1 Điều 83 của Luật Thi hành án dân sự. Chủ sở hữu chung, người được quyền ưu tiên có quyền ưu tiên mua tài sản theo giá khởi điểm quy định tại khoản 4 Điều 82 của Luật Thi hành án dân sự hoặc giá khởi điểm của lần đấu giá tiếp theo quy định tại khoản 3 Điều 83 của Luật Thi hành án dân sự. Trường hợp có nhiều chủ sở hữu chung, người được quyền ưu tiên đề nghị mua tài sản thì Chấp hành viên thông báo cho họ thỏa thuận người được quyền mua. Nếu không thỏa thuận được thì Chấp hành viên tổ chức bốc thăm để chọn ra người được mua tài sản. Việc bốc thăm được lập thành biên bản, có chữ ký của những người tham gia và người chứng kiến (nếu có).
2. Trường hợp chủ sở hữu chung, người được quyền ưu tiên mua tài sản, người được thi hành án đồng ý nhận tài sản để trừ vào tiền thi hành án thì Chấp hành viên ra quyết định giao tài sản theo quy định tại khoản 2 Điều 86 của Luật Thi hành án dân sự.
Điều 64. Bán tài sản không qua thủ tục đấu giá
1. Chấp hành viên bán tài sản không qua thủ tục đấu giá đối với động sản có giá trị nhỏ hoặc tài sản là hàng hóa, vật phẩm dễ bị hư hỏng quy định tại khoản 4 và khoản 5 Điều 60 Nghị định này.
2. Trước thời điểm bán ít nhất 01 ngày làm việc, Chấp hành viên thông báo trên Trang thông tin điện tử của cơ quan thi hành án dân sự hoặc niêm yết công khai tại cơ quan thi hành án dân sự; đồng thời, thông báo cho Viện kiểm sát nhân dân có thẩm quyền. Nội dung thông báo gồm: thông tin về tài sản; giá tài sản; địa điểm, thời gian bán tài sản.
Trường hợp có nhiều người tham gia mua tài sản thì Chấp hành viên tổ chức bốc thăm để lựa chọn người mua được tài sản. Việc bán tài sản phải được lập thành biên bản, có chữ ký của Chấp hành viên, người mua được tài sản, người tham gia mua khác (nếu có).
3. Viện kiểm sát nhân dân có thẩm quyền kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong việc Chấp hành viên bán tài sản.
Điều 65. Bán đấu giá tài sản thi hành án
1. Người mua được tài sản đấu giá phải nộp tiền vào tài khoản của cơ quan thi hành án dân sự trong thời hạn không quá 30 ngày kể từ ngày đấu giá thành; trường hợp đương sự và người mua trúng đấu giá tài sản thỏa thuận về việc gia hạn thì thời hạn nộp tiền có thể kéo dài nhưng không quá 60 ngày kể từ ngày đấu giá thành. Thời điểm người mua được tài sản đấu giá hoàn thành việc nộp tiền trực tiếp tại cơ quan thi hành án dân sự hoặc hoàn thành thủ tục nộp tiền qua tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài hoặc phương tiện thanh toán khác theo quy định của pháp luật là thời điểm nộp tiền hợp lệ.
Trường hợp người mua được tài sản đấu giá không nộp hoặc nộp không đủ tiền mua tài sản trong thời hạn nêu trên thì cơ quan thi hành án dân sự căn cứ quy định của pháp luật hủy bỏ giao kết hợp đồng mua bán tài sản đấu giá, hủy bỏ hợp đồng mua bán tài sản đấu giá hoặc yêu cầu Tòa án hủy bỏ theo quy định của pháp luật.
2. Trong thời hạn 10 ngày kể từ ngày người mua được tài sản đấu giá nộp đủ tiền mua tài sản mà cơ quan thi hành án dân sự chưa giao được tài sản cho người mua thì cơ quan thi hành án dân sự làm thủ tục đứng tên gửi số tiền đó vào ngân hàng thương mại theo quy định tại khoản 7 Điều 30 Nghị định này.
3. Tổ chức hành nghề đấu giá tài sản có trách nhiệm phối hợp với cơ quan thi hành án dân sự trong việc giao tài sản cho người mua được tài sản đấu giá. Tổ chức, cá nhân cản trở, can thiệp trái pháp luật dẫn đến việc chậm giao tài sản bán đấu giá thành mà gây thiệt hại thì phải bồi thường.
4. Trường hợp có căn cứ người tham gia đấu giá không được nhận lại tiền đặt trước quy định tại khoản 6 Điều 39 của Luật Đấu giá tài sản thì sau khi trừ chi phí đấu giá tài sản, tiền đặt trước được nộp vào ngân sách nhà nước và thực hiện theo quy định tại Điều 79 Nghị định này.
5. Kể từ thời điểm người mua trúng đấu giá chấp nhận giao kết hợp đồng mua bán tài sản đấu giá mà họ không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ nộp tiền mua tài sản quy định tại khoản 1 Điều này thì tiền đặt trước, tiền lãi (nếu có) thuộc về cơ quan thi hành án dân sự và được sử dụng để thanh toán khoản bảo đảm tài chính để thi hành án, các khoản chi quy định tại Điều 79 Nghị định này.
Trường hợp người mua được tài sản đấu giá không thực hiện đầy đủ hoặc không đúng hạn nghĩa vụ thanh toán theo hợp đồng thì tiền thanh toán mua tài sản đấu giá (trừ khoản tiền đặt trước, đặt cọc và tiền lãi của khoản tiền đó) được xử lý theo thỏa thuận trong hợp đồng mua bán tài sản đấu giá và quy định của pháp luật về hợp đồng mua bán tài sản.
6. Trong thời hạn 02 ngày làm việc kể từ ngày nhận được thông báo về việc tài sản đấu giá không thành, Chấp hành viên thông báo cho đương sự. Từ sau lần giảm giá thứ hai trở đi mà tài sản đấu giá không thành thì trong thông báo phải có nội dung về việc người được thi hành án có quyền nhận tài sản để trừ vào tiền thi hành án trước khi Chấp hành viên ra quyết định giảm giá lần tiếp theo/
Trường hợp người được thi hành án đồng ý nhận tài sản để trừ vào tiền thi hành án thì Chấp hành viên thông báo cho người phải thi hành án biết trong thời hạn 03 ngày làm việc kể từ ngày nhận được đề nghị của người được thi hành án. Trong thời hạn 05 ngày làm việc kể từ ngày nhận được thông báo, nếu người phải thi hành án không nộp đủ số tiền thi hành án và chi phí thi hành án để lấy lại tài sản thì Chấp hành viên thông báo cho người được thi hành án. Trong thời hạn 05 ngày làm việc kể từ ngày nhận được thông báo, người được thi hành án phải nộp tiền theo quy định tại Điều 66 Nghị định này.
7. Chấp hành viên có quyền yêu cầu tổ chức hành nghề đấu giá tài sản, Hội đồng đấu giá tài sản dừng việc tổ chức đấu giá tài sản; Đấu giá viên dừng phiên đấu giá theo quy định tại điểm c khoản 2 Điều 84 của Luật Thi hành án dân sự trong các trường hợp sau đây:
a) Trường hợp kê biên, xử lý tài sản của người phải thi hành án đang cầm cố, thế chấp theo quy định tại điểm d khoản 3 Điều 78 của Luật Thi hành án dân sự sau khi giảm giá mà giá trị tài sản bằng hoặc thấp hơn chi phí thi hành án và các nghĩa vụ được bảo đảm;
b) Trường hợp bán tài sản theo quy định tại khoản 3 Điều 83 của Luật Thi hành án dân sự mà giá trị tài sản đã giảm bằng hoặc thấp hơn chi phí thi hành án;
c) Nhận được thông báo dừng xử lý tài sản ủy thác của cơ quan thi hành án dân sự đã ủy thác xử lý tài sản;
d) Có căn cứ khác xác định tài sản đấu giá không đủ điều kiện đưa ra đấu giá.
8. Chấp hành viên có quyền yêu cầu tổ chức hành nghề đấu giá tài sản, Hội đồng đấu giá tài sản dừng việc tổ chức đấu giá tài sản; Đấu giá viên dừng phiên đấu giá theo quy định tại điểm d khoản 2 Điều 84 của Luật Thi hành án dân sự trong các trường hợp sau đây:
a) Chủ sở hữu chung hoặc người được quyền ưu tiên thực hiện việc mua tài sản theo quy định tại khoản 1 Điều 83 của Luật Thi hành án dân sự;
b) Trường hợp đang bán tài sản theo quy định tại Điều 59, khoản 2 Điều 81, điểm a khoản 3 Điều 90 của Luật Thi hành án dân sự mà người có tài sản đến nhận lại tài sản. Người có tài sản phải thanh toán toàn bộ các chi phí phát sinh liên quan đến việc xử lý tài sản (nếu có);
c) Người phải thi hành án đã nộp đủ tiền để nhận lại tài sản;
d) Người được thi hành án được nhận tài sản đã kê biên để trừ vào tiền được thi hành án theo quy định của Luật Thi hành án dân sự và Nghị định này.
9. Sau khi yêu cầu tạm dừng việc tổ chức đấu giá mà căn cứ tạm dừng không còn thì Chấp hành viên tiếp tục tổ chức thi hành án và xử lý tài sản theo quy định của pháp luật.
10. Việc lựa chọn tổ chức hành nghề đấu giá tài sản thực hiện theo quy định của pháp luật về đấu giá tài sản.
11. Tổ chức hành nghề đấu giá tài sản, đấu giá viên có trách nhiệm thông báo cho cơ quan thi hành án dân sự, đương sự, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan về việc đấu giá tài sản thi hành án.
Điều 66. Nhận tài sản để trừ vào tiền thi hành án
1. Trường hợp người được thi hành án nhận tài sản của người phải thi hành án mà giá trị tài sản tại thời điểm nhận lớn hơn tổng số tiền phải thi hành án, chi phí thi hành án, khoản tiền trích lại quy định tại khoản 2 Điều 89 của Luật Thi hành án dân sự và các khoản phí, lệ phí trước bạ, thuế thu nhập cá nhân, thuế thu nhập doanh nghiệp liên quan trực tiếp đến việc chuyển nhượng tài sản thì người nhận tài sản phải nộp số tiền tương ứng với giá trị tài sản sau khi đã trừ số tiền mà người đó được thi hành án.
2. Trường hợp người được thi hành án nhận tài sản của người phải thi hành án mà giá trị tài sản tại thời điểm nhận bằng hoặc nhỏ hơn tổng số tiền phải thi hành án, chi phí thi hành án, khoản tiền trích lại theo quy định tại khoản 2 Điều 89 của Luật Thi hành án dân sự và các khoản phí, lệ phí trước bạ, thuế thu nhập cá nhân, thuế thu nhập doanh nghiệp liên quan trực tiếp đến việc chuyển nhượng tài sản thì người nhận tài sản phải nộp số tiền tương ứng với giá trị tài sản sau khi đã trừ số tiền tương ứng theo tỷ lệ mà họ được nhận.
Trường hợp giá trị tài sản đã giảm bằng hoặc thấp hơn chi phí thi hành án thì người nhận tài sản không phải nộp các khoản tiền nêu trên.
Điều 67. Giao tài sản để thi hành án
1. Thời hạn giao tài sản để thi hành án thực hiện như sau:
a) Giao cho người nhận tài sản trong thời hạn 05 ngày làm việc kể từ ngày nhận được thỏa thuận của các đương sự đối với trường hợp quy định tại khoản 1 Điều 86 của Luật Thi hành án dân sự;
b) Giao cho người mua được tài sản trong thời hạn 03 ngày làm việc kể từ ngày Chấp hành viên bán tài sản theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 83 của Luật Thi hành án dân sự;
c) Trong thời hạn 60 ngày kể từ ngày người mua được tài sản nộp đủ tiền hoặc kể từ ngày người được thi hành án nộp đủ tiền để nhận tài sản trừ vào tiền thi hành án theo quy định tại khoản 6 Điều 65 Nghị định này, cơ quan thi hành án dân sự tổ chức việc giao tài sản cho người mua được tài sản, người nhận tài sản, trừ trường hợp xảy ra tình trạng khẩn cấp, sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan.
2. Tài sản đã được giao trên thực tế cho người được nhận tài sản và người đó đã ký nhận vào biên bản giao, nhận tài sản nhưng sau đó bị chiếm lại thì cơ quan thi hành án dân sự không có trách nhiệm giao lại tài sản cho người được nhận tài sản.
Người đã nhận tài sản có quyền đề nghị Ủy ban nhân dân cấp xã nơi có tài sản yêu cầu người chiếm lại tài sản trả lại tài sản cho họ. Nếu người chiếm lại tài sản không trả lại thì người đã nhận tài sản có quyền đề nghị cơ quan có thẩm quyền xử lý vi phạm hành chính hoặc truy cứu trách nhiệm hình sự theo quy định của pháp luật.
3. Mức tiền trích lại để người phải thi hành án thuê nhà trong thời hạn 01 năm theo quy định tại khoản 2 Điều 89 của Luật Thi hành án dân sự là 12 lần mức lương tối thiểu tháng theo vùng nơi người phải thi hành án đang cư trú.
4. Trường hợp đến hạn theo hợp đồng mua bán tài sản đấu giá mà không giao được tài sản cho người mua được tài sản đấu giá thì người này có quyền yêu cầu hủy bỏ hợp đồng theo quy định của pháp luật.
Điều 68. Kê biên, xử lý hoặc cưỡng chế chuyển giao tài sản là quyền sử dụng đất mà trên đất có mồ mả hoặc không có lối đi
1. Trước khi kê biên, xử lý, giao tài sản là quyền sử dụng đất mà trên đất có mồ mả, cơ quan thi hành án dân sự yêu cầu người phải thi hành án, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan di dời mồ mả ra khỏi diện tích đất. Trường hợp cần thiết, cơ quan thi hành án dân sự đề nghị Ủy ban nhân dân có thẩm quyền bố trí quỹ đất trong các nghĩa trang theo quy hoạch để di dời mồ mả hoặc có chính sách hỗ trợ để khuyến khích hình thức hỏa táng, lưu giữ tro cốt tại các cơ sở lưu giữ tro cốt. Người phải thi hành án, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan phải chịu các chi phí bao gồm: chi phí đào, bốc, di dời, xây dựng mới và các chi phí hợp lý khác để di dời mồ mả.
Trường hợp người phải thi hành án, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không di dời mồ mả thì Chấp hành viên kê biên, xử lý, giao đất theo quy định của pháp luật, bao gồm cả phần đất có mồ mả.
2. Trường hợp tài sản thi hành án là quyền sử dụng đất, tài sản gắn liền với đất không có lối đi thì Chấp hành viên cho đương sự, người sử dụng đất liền kề thỏa thuận về việc mở lối đi. Trường hợp các bên không thỏa thuận được thì Chấp hành viên kê biên, xử lý theo quy định của pháp luật và hướng dẫn người mua tài sản, người nhận tài sản khởi kiện yêu cầu mở lối đi theo quy định của pháp luật về dân sự.
Điều 69. Đăng ký, chuyển quyền sở hữu, sử dụng tài sản
1. Cơ quan nhà nước có thẩm quyền có trách nhiệm làm thủ tục đăng ký, chuyển quyền sở hữu, quyền sử dụng tài sản cho người mua tài sản thi hành án; người nhận tài sản để trừ vào tiền thi hành án; thu hồi, sửa đổi, hủy các giấy tờ chứng nhận quyền sở hữu, quyền sử dụng, giấy tờ đăng ký giao dịch bảo đảm đã cấp cho người phải thi hành án; thực hiện việc cấp mới các giấy tờ theo quy định của pháp luật.
Trong thời hạn 10 ngày kể từ ngày giao tài sản cho người mua, người nhận tài sản để trừ vào tiền thi hành án hoặc giao tài sản theo thỏa thuận của đương sự thì cơ quan thi hành án dân sự có trách nhiệm cung cấp hồ sơ để đăng ký, chuyển quyền sở hữu, quyền sử dụng tài sản. Hồ sơ đăng ký, chuyển quyền sở hữu, sử dụng gồm có:
a) Văn bản đề nghị của cơ quan thi hành án dân sự;
b) Bản sao bản án, quyết định;
c) Bản sao quyết định thi hành án;
d) Quyết định kê biên tài sản (nếu có);
đ) Văn bản thông báo kết quả đấu giá thành hoặc quyết định giao tài sản hoặc biên bản giao nhận tài sản hoặc văn bản thỏa thuận về thi hành án hoặc biên bản về việc người phải thi hành án tự nguyện giao tài sản để thi hành án;
e) Giấy chứng nhận quyền sở hữu, sử dụng tài sản và giấy tờ khác có liên quan (nếu có).
2. Trường hợp cơ quan thi hành án dân sự không thu hồi được giấy tờ hoặc giấy tờ bị mất có liên quan đến tài sản quy định tại khoản 3 Điều 87 của Luật Thi hành án dân sự thì có văn bản nêu rõ lý do, gửi cơ quan có thẩm quyền cấp giấy tờ có liên quan đến tài sản để thực hiện việc hủy giấy tờ cũ, cấp giấy tờ mới theo quy định.
3. Trường hợp tài sản là quyền sử dụng đất, nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất đã được cấp giấy chứng nhận theo quy định của pháp luật mà không thu hồi được giấy chứng nhận hoặc đã bị mất thì cơ quan thi hành án dân sự gửi văn bản kiến nghị thu hồi giấy chứng nhận đến Ủy ban nhân dân có thẩm quyền đối với giấy chứng nhận được cấp lần đầu hoặc tổ chức đăng ký đất đai hoặc chi nhánh của tổ chức đăng ký đất đai đối với giấy chứng nhận đã cấp khi thực hiện thủ tục đăng ký biến động đất đai, tài sản gắn liền với đất.
Trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được văn bản của cơ quan thi hành án dân sự, cơ quan có thẩm quyền nêu tại khoản này quyết định thu hồi, hủy giấy chứng nhận đã cấp. Việc cấp, cấp lại giấy chứng nhận thực hiện theo quy định của pháp luật về đất đai.
Điều 70. Cưỡng chế giao, trả giấy tờ
1. Trường hợp người phải thi hành án không giao, trả giấy tờ cho người được thi hành án theo nội dung bản án, quyết định thì Chấp hành viên cưỡng chế buộc người phải thi hành án giao, trả giấy tờ đó.
Trường hợp xác định người thứ ba đang giữ giấy tờ phải giao, trả thì Chấp hành viên yêu cầu người đó giao, trả giấy tờ đang giữ, nếu người thứ ba không tự nguyện giao, trả thì Chấp hành viên cưỡng chế buộc người đó giao, trả giấy tờ để thi hành án.
2. Trường hợp đã thu được giấy tờ thì Chấp hành viên thông báo bằng văn bản cho người được nhận giấy tờ biết về việc nhận giấy tờ trong thời hạn 10 ngày kể từ ngày được thông báo hợp lệ. Sau hai lần thông báo mà họ không đến nhận thì Chấp hành viên làm thủ tục chuyển cho cơ quan đã cấp giấy tờ đó để xử lý theo quy định của pháp luật và thông báo cho đương sự biết.
Trường hợp người được trả giấy tờ đang ở nước ngoài thì Chấp hành viên thông báo bằng văn bản cho người được nhận giấy tờ biết về việc nhận giấy tờ trong thời hạn 30 ngày kể từ ngày được thông báo hợp lệ. Sau hai lần thông báo mà đương sự hoặc người được ủy quyền không đến nhận thì cơ quan thi hành án dân sự làm thủ tục gửi cho người đó theo một trong các hình thức quy định tại các điểm b, c, d và đ khoản 4 Điều 35 của Luật Thi hành án dân sự; trường hợp không xác định được địa chỉ người nhận thì gửi cho cơ quan, tổ chức đã ban hành giấy tờ hoặc cơ quan đại diện của quốc gia có cơ quan, tổ chức đã ban hành giấy tờ.
Điều 71. Cưỡng chế chuyển giao quyền sử dụng đất
1. Trường hợp cơ quan thi hành án dân sự thực hiện theo quy định tại điểm b khoản 3 Điều 90 của Luật Thi hành án dân sự mà quá thời hạn không nhận được văn bản trả lời của Tòa án hoặc nhận được văn bản trả lời của Tòa án về việc không có căn cứ kháng nghị bản án, quyết định theo thủ tục giám đốc thẩm, tái thẩm thì cơ quan thi hành án dân sự xử lý tài sản trên đất theo quy định tại điểm a khoản 3 Điều 90 của Luật Thi hành án dân sự.
2. Trường hợp có tài sản của người phải thi hành án gắn liền với quyền sử dụng đất được chuyển giao thì cơ quan thi hành án dân sự thực hiện theo quy định tại khoản 2 và khoản 3 Điều 90 của Luật Thi hành án dân sự.
Điều 72. Cưỡng chế chuyển quyền sở hữu chứng khoán, quyền sở hữu trí tuệ
1. Trường hợp bản án, quyết định tuyên chuyển quyền sở hữu chứng khoán mà người phải thi hành án không tự nguyện thi hành trong thời hạn quy định tại khoản 1 Điều 36 của Luật Thi hành án dân sự thì Chấp hành viên ra quyết định cưỡng chế buộc chuyển quyền sở hữu chứng khoán.
2. Trong thời hạn 03 ngày làm việc kể từ ngày ra quyết định cưỡng chế, cơ quan thi hành án dân sự gửi quyết định cho Tổng công ty Lưu ký và Bù trừ chứng khoán Việt Nam, cơ quan, tổ chức khác có thẩm quyền thực hiện việc chuyển quyền sở hữu chứng khoán. Trong thời hạn 05 ngày làm việc kể từ ngày nhận được quyết định cưỡng chế buộc chuyển quyền sở hữu chứng khoán thì Tổng công ty Lưu ký và Bù trừ chứng khoán Việt Nam, cơ quan, tổ chức khác có thẩm quyền phải thực hiện việc chuyển quyền sở hữu chứng khoán cho người được thi hành án theo quy định của pháp luật về chứng khoán.
Trong thời hạn 03 ngày làm việc kể từ ngày thực hiện việc chuyển quyền sở hữu chứng khoán cho người được thi hành án, Tổng công ty Lưu ký và Bù trừ chứng khoán Việt Nam, cơ quan, tổ chức khác có thẩm quyền phải thông báo cho cơ quan thi hành án dân sự về kết quả thực hiện.
3. Trường hợp Chấp hành viên quyết định chuyển giao quyền sở hữu trí tuệ cho cơ quan, tổ chức, cá nhân khác khai thác, sử dụng theo quy định của Luật Sở hữu trí tuệ thì việc chuyển giao quyền nói trên phải phù hợp với các quy định về chuyển giao quyền sở hữu trí tuệ.
Điều 73. Trả lại tài sản sau khi chấm dứt áp dụng biện pháp bảo đảm, biện pháp cưỡng chế thi hành án và giải tỏa kê biên tài sản
1. Trường hợp cơ quan thi hành án dân sự đang tạm giữ hoặc bảo quản tài sản, giấy tờ thì sau khi ra quyết định chấm dứt áp dụng biện pháp bảo đảm, biện pháp cưỡng chế và giải tỏa kê biên tài sản, Chấp hành viên phải trả lại tài sản, giấy tờ cho người phải thi hành án hoặc chủ sở hữu tài sản, giấy tờ.
2. Thủ tục trả lại tiền, tài sản, giấy tờ thực hiện theo quy định tại Điều 59 của Luật Thi hành án dân sự và Điều 41 Nghị định này.
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét