|
HỘI
ĐỒNG THẨM PHÁN TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỐI CAO ****** |
CỘNG
HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc ********
|
|
Số:
02-HĐTP-TANDTC/QĐ |
Hà Nội,
ngày 05 tháng 01 năm 1986 |
CỦA HỘI ĐỒNG THẨM PHÁN TÒA ÁN NHÂN DÂN TỐI CAO HƯỚNG DẪN ÁP DỤNG
MỘT SỐ QUY ĐỊNH CỦA BỘ LUẬT HÌNH SỰ
Bắt đầu từ
ngày 1-1-1986, Bộ luật hình sự được thi hành trong cả nước. Phần chung của Bộ
luật hình sự rất quan trọng vì đó là những chính sách, quan điểm cơ bản về hình
sự của Đảng và Nhà nước ta. Vì vậy, căn cứ vào Điều 24 Luật
tổ chức Tòa án nhân dân, Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao họp
trong ba ngày 3, 4 và 5 tháng 1 năm 1986 với sự tham gia của đồng chí Trần Tê -
Phó Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao và đồng chí Phùng Văn Tửu - Thứ
trưởng Bộ Tư pháp, hướng dẫn Tòa án các cấp quán triệt áp dụng thống nhất một số
quy định sau đây trong phần chung của Bộ luật hình sự.
I- HIỆU LỰC CỦA BỘ LUẬT HÌNH SỰ VỀ THỜI GIAN (ĐIỀU 7 BLHS)
1) Đây là
một trong những vấn đề rất quan trọng mà các Tòa án cần nắm vững để áp dụng
nghiêm chỉnh Bộ luật hình sự vì khoản 1 của Điều 7 đã quy định nguyên tắc chung
trong áp dụng luật hình sự là: “Điều luật áp dụng đối với một hình sự có hiệu lực
thi hành từ ngày 1-1-1986 cho nên mọi hành vi phạm tội được thực hiện từ ngày
1-1-1986 trở về sau đều phải xử lý theo những quy định của Bộ luật hình sự.
Những
hành vi nào mà Bộ luật hình sự không quy định là tội phạm thì không được đưa ra
truy tố, xét xử. Việc trừng trị một số tội phạm trước đây tuy không có luật nào
quy định nhưng đã truy tố, xét xử theo đường lối chính sách hoặc áp dụng nguyên
tắc tương tự, nay không được áp dụng nữa.
+ Đối với
những tội mà Bộ luật hình sự mới quy định thì cần thấy rằng trước đây, vì ta mới
chỉ có một số luật và pháp lệnh quy định việc trừng trị một số tội, cho nên
ngoài việc áp dụng những luật và pháp lệnh đó, căn cứ vào ý thức pháp chế xã hội
chủ nghĩa, các cơ quan Công an, Viện kiểm sát và Tòa án còn truy cứu trách nhiệm
hình sự cả đối với một số hành vi phạm tội theo đường lối, chính sách của Đảng
và Nhà nước như: tội tổ chức, cưỡng ép người trốn đi nước ngoài không có mục
đích phản cách mạng; tội cưỡng dâm; tội giao cấu với người chưa thành niên dưới
16 tuổi; tội vi phạm chế độ một vợ một chồng; tội dụ dỗ hoặc chức chấp người
chưa thành niên phạm pháp; tội bắt trộm, mua bán hoặc đánh tráo trẻ em v.v… Việc
xử lý về hình sự những hành vi nói trên mặc dầu chưa có pháp luật quy định
trong một điều cụ thể, nhưng đã được Nhà nước và xã hội thừa nhận, cho nên
không coi là tội mới. Những hành vi nói trên, nếu xảy ra trước ngày 1-1-1986 mà
nay mới đưa ra truy tố, xét xử, thì áp dụng những điều luật tương ứng được quy
định trong Bộ luật hình sự. Vì vậy, chỉ coi là tội mới những hành vi mà trước
đây Nhà nước ta chưa coi là tội phạm, chưa đưa ra xét xử bao giờ mà nay Bộ luật
hình sự mới quy định là tội phạm. Thí dụ: tội vi phạm các quy định về hàng
không (Điều 90); tội vi phạm các quy định về hàng hải (Điều 91); tội báo cáo sai trong quản lý kinh tế (Điều
176); tội lưu hành sản phẩm kém phẩm chất (Điều 177)
v.v… Đối với những hành vi nói trên, nếu xảy ra trước ngày 1-1-1986 thì không
được đưa ra truy tố, xét xử.
+ Đối với
những tội phạm mà Bộ luật hình sự quy định “một hình phạt nặng hơn” thì không
áp dụng quy định mới về hình phạt của Bộ luật hình sự mà vẫn áp dụng luật cũ đối
với những tội được thực hiện trước ngày 1-1-1986.
Căn cứ để
so sánh một hình phạt mới nặng hơn một hình phạt cũ là lấy mức hình phạt tối đa
của khung hình phạt cao nhất của cùng một tội trong Bộ luật hình sự và trong luật
cũ. Nếu mức tối đa của hình phạt mới quy định cao hơn mức tối đa của cùng tội
trong luật cũ thì đó là hình phạt mới nặng hơn; ngược lại là nhẹ hơn. Thí dụ: Điều 82 Bộ luật hình sự quy định hình phạt cao nhất đối với
tội tuyên truyền chống chế độ xã hội chủ nghĩa là 20 năm tù, nhưng Điều 15 Pháp lệnh ngày 30-10-1967 quy định hình phạt cao nhất
đối với tội này chỉ là 12 năm tù. Do đó, nếu tội này xảy ra trước ngày 1-1-1986
thì vẫn áp dụng Điều 15 Pháp lệnh ngày 30-10-1967.
3) Khoản
3 của Điều 7 còn quy định: “Điều luật xóa bỏ một tội phạm hoặc quy định một
hình phạt nhẹ hơn được áp dụng đối với hành vi phạm tội đã thực hiện trước khi
điều luật đó được ban hành”.
Do đó, những
hành vi trước đây bị coi là tội phạm, nay Bộ luật hình sự không quy định là tội
phạm, là “những tội phạm được Bộ luật hình sự xóa bỏ”. Thí dụ: tội thông gian
gây hậu quả nghiêm trọng; tội dâm ô; tội phá thai trái phép v.v… Nếu những hành
vi này đã thực hiện trước ngày 1-1-1986 thì không được đưa ra truy tố, xét xử nữa.
Những điều
của Bộ luật hình sự quy định tội phạm cũ có “hình phạt nhẹ hơn” hình phạt trong
luật cũ thì được áp dụng đối với cả những tội thực hiện trước ngày 1-1-1986.
Thí dụ: Pháp lệnh ngày 30-6-1982 quy định hình phạt nặng nhất đối với tội đầu
cơ có thể đến tử hình, nhưng Điều 165 Bộ luật hình sự quy
định hình phạt cao nhất là chung thân, do đó, Điều
165 được áp dụng đối với tội đầu cơ được thực hiện trước ngày 1-1-1986
mà nay mới đưa ra xét xử.
Nếu một tội
có nội dung và hình phạt quy định trong luật mới và luật cũ giống nhau thì định
tội và áp dụng hình phạt theo luật mới để xét xử.
Đối với
những vụ án sơ thẩm trước ngày 1-1-1986 mà sau ngày này mới xử phúc thẩm phải
căn cứ vào khoản 2 hoặc khoản 3 của Điều 7 Bộ luật hình sự và
điều luật trong luật cũ hoặc luật mới quy định tội phạm đó để xét xử.
Đối với
những bản án đã có hiệu lực pháp lâụt trước ngày 1-1-1986, nói chung, không
kháng nghị và xét xử lại theo trình tự giám đốc thẩm để sửa lại nặng hơn hoặc
nhẹ hơn theo Bộ luật hình sự. Tuy nhiên, nếu đối chiếu với luật cũ mà thấy bản
án đã có hiệu lực pháp luật có sai lầm nghiêm trọng thì vẫn phải giám đốc thẩm
và khi giám đốc thẩm thì xử theo tinh thần của Bộ luật hình sự về những trường
hợp có thể xử nhẹ hơn.
Căn cứ
vào điều 7 Bộ luật hình sự, Tòa án nhân dân tối cao đã
liệt kê những trường hợp còn được áp dụng luật cũ hoặc áp dụng ngay Bộ luật
hình sự đối với những hành vi xảy ra trước ngày 1-1-1986. Bản phụ lục của nghị
quyết này cần được áp dụng trong công tác xét xử của Tòa án nhân dân các cấp.
II- PHÒNG VỆ CHÍNH ĐÁNG (ĐIỀU 12 BLHS)
Điều 13 của
Bộ luật hình sự đã quy định:
1) Phòng
vệ chính đáng là hành vi của người vì bảo vệ lợi ích của Nhà nước, của tập thể,
bảo vệ lợi ích chính đáng của mình hoặc của người khác, mà chống trả lại một
cách tương xứng người có hành vi xâm phạm các lợi ích nói trên. Phòng vệ chính
đáng không phải là tội phạm.
2) Nếu
hành vi chống trả rõ ràng là quá đáng, tức là vượt quá giới hạn phòng vệ chính
đáng, thì người có hành vi đó phải chịu trách nhiệm hình sự.
Việc xem
xét những trường hợp phòng vệ chính đáng thường khó khăn, cho nên, Tòa án nhân
dân tối cao đã tổng kết thực tiễn xét xử và có Chỉ thị số 07 ngày 22-12-1983 về
việc xét xử các hành vi xâm phạm tính mạng hoặc sức khỏe của người khác do vượt
quá giới hạn phòng vệ chính đáng hoặc trong khi thi hành công vụ. Nội dung Chỉ
thị nói trên phù hợp với Điều 13 của Bộ luật hình sự.
Hành vi xâm phạm tính mạng hoặc sức khỏe của người khác được coi là phòng vệ
chính đáng khi có đủ các điều kiện sau đây:
a) Hành
vi xâm hại những lợi ích cần phải bảo vệ là hành vi phạm tội hoặc rõ ràng là có
tính chất nguy hiểm cho xã hội.
b) Hành
vi nguy hiểm cho xã hội đang gây thiệt hại hoặc đe dọa gây thiệt hại thực sự và
ngay tức khắc cho những lợi ích cần phải bảo vệ.
c) Phòng
vệ chính đáng không chỉ gạt bỏ sự đe dọa, đẩy lùi sự tấn công, mà còn có thể
tích cực chống lại sự xâm hại, gây thiệt hại cho chính người xâm hại.
d) Hành
vi phòng vệ phải tương xứng với hành vi xâm hại, tức là không có sự chênh lệch
quá đáng giữa hành vi phòng vệ với tính chất và mức độ nguy hiểm của hành vi
xâm hại.
Tương xứng
không có nghĩa là thiệt hại do người phòng vệ gây ra cho người xâm hại phải
ngang bằng hoặc nhỏ hơn thiệt hại do người xâm hại đe dọa gây ra hoặc đã gây ra
cho người phòng vệ.
Để xem
xét hành vi chống trả có tương xứng hay không, có rõ ràng là quá đáng hay
không, thì phải xem xét toàn diện những tình tiết có liên quan đến hành vi xâm
hại và hành vi phòng vệ như: khách thể cần bảo vệ (thí dụ: bảo vệ địa điểm thuộc
bí mật quốc gia, bảo vệ tính mạng); mức độ thiệt hại do hành vi xâm hại có thể
gây ra hoặc đã gây ra và do hành vi phòng vệ gây ra; vũ khí, phương tiện,
phương pháp mà hai bên đã sử dụng; nhân thân của người xâm hại (nam, nữ; tuổi;
người xâm hại là côn đồ, lưu manh…); cường độ của sự tấn công và của sự phòng vệ;
hoàn cảnh và nơi xảy ra sự việc (nơi vắng người, nơi đông người, đêm khuya)
v.v… Đồng thời cũng cần phải chú ý đến yếu tố tâm lý của người phải phòng vệ có
khi không thể có điều kiện để bình tĩnh lựa chọn được chính xác phương pháp,
phương tiện chống trả thích hợp, nhất là trong trường hợp họ bị tấn công bất ngờ.
Sau khi
đã xem xét một cách đầy đủ, khách quan tất cả các mặt nói trên mà nhận thấy rõ
ràng là trong hoàn cảnh sự việc xảy ra, người phòng vệ đã sử dụng những phương
tiện, phương pháp rõ ràng quá đáng và gây thiệt hại rõ ràng quá mức (như: gây
thương tích nặng, làm chết người) đối với người có hành vi xâm hại thì coi hành
vi chống trả là không tương xứng và là vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng.
Ngược lại, nếu hành vi chống trả là tương xứng thì đó là phòng vệ chính đáng.
III- CHUẨN BỊ PHẠM TỘI VÀ PHẠM TỘI
CHƯA ĐẠT (ĐIỀU 15 BLHS)
Xác định
hai giai đoạn này của tội phạm có ý nghĩa rất quan trọng trong việc quy trách
nhiệm hình sự và quyết định hình phạt.
Chỉ đối với
những tội phạm thực hiện do cố ý thì mới có giai đoạn chuẩn bị phạm tội, vì khi
cố ý phạm tội thì người phạm tội mới thường tiến hành một số hoạt động như: bàn
bạc với người khác, tìm kiếm, sửa soạn phương tiện phạm tội hoặc tạo những điều
kiện cần thiết khác cho việc thực hiện tội phạm. Khoản 1
Điều 15 Bộ luật hình sự quy định: Chỉ chuẩn bị phạm một tội nghiêm trọng
thì người chuẩn bị phạm tội mới phải chịu trách nhiệm hình sự, tức là chỉ đối với
những tội phạm gây nguy hiểm lớn cho xã hội mà mức cao nhất của khung hình phạt
đối với tội ấy là trên 5 năm tù, thì người chuẩn bị phạm tội mới phải chịu
trách nhiệm hình sự.
Khi hành
vi của người phạm tội đã chuyển sang giai đoạn thực hiện thì hành vi đó đã thực
sự nguy hiểm cho xã hội. Vì vậy, khoản 2 điều 14 Bộ luật
hình sự quy định trừng trị cả trường hợp phạm tội chưa đạt, không phân
biệt tội nghiêm trọng hay ít nghiêm trọng. Phạm tội chưa đạt là những hành vi
đã tiến hành tội phạm, nhưng không thực hiện được đến cùng vì những nguyên nhân
ngoài ý muốn của người phạm tội.
Trong thực
tế đấu tranh chống tội phạm, phạm tội chưa đạt có hai dạng: phạm tội chưa đạt
chưa hoàn thành vì không có điều kiện thực hiện đầy đủ hành vi phạm tội, thí dụ:
A đã trèo tường vào nhà B để trộm tài sản, nhưng thấy động nên phải rút lui; và
phạm tội chưa đạt đã hoàn thành vì đã thực hiện đến cùng tội phạm nhưng không đạt
được mục đích, thí dụ: kẻ giết người đã bắn vào người bị hại, nhưng bắn không
trúng, hoặc y đã cho người khác uống thuốc độc, nhưng do liều lượng quá nhẹ nên
người bị hại không chết.
Thông thường
thì trường hợp thứ hai nguy hiểm hơn trường hợp thứ nhất, cho nên phải xử phạt
nặng hơn.
Bản án xử
những trường hợp phạm tội chưa đạt phải định tội danh là phạm tội chưa đạt về tội
gì (thí dụ: giết người chưa đạt) và phải viện dẫn điều luật quy định về tội đó
(như: Điều 101 về tội giết người…) và khoản 2 Điều 15 về phạm tội chưa đạt.
IV- TỰ Ý NỬA CHỪNG CHẤM DỨT VIỆC
PHẠM TỘI (ĐIỀU 15 Bộ luật hình sự)
Tự ý nửa
chừng chấm dứt việc phạm tội là tự mình không thực hiện tội phạm đến cùng tuy
không có gì ngăn cản. Người tự ý nửa chừng chấm dứt việc phạm tội được miễn
trách nhiệm hình sự về tội định phạm. Thí dụ: B đã chuẩn bị dao găm, bao tải để
giết người và cướp của ở nhà ông A, B đến nhà ông A nhưng B nghỉ lại và thấy rằng
ông A đã là người tốt đối với mình nên B quay về, không giết người, cướp của ở
nhà ông A nữa.
Điều kiện
cơ bản để được coi là tự ý nửa chừng chấm dứt việc phạm tội là người phạm tội tự
mình không thực hiện tội phạm nữa mặc dù không có gì ngăn cản. Do đó, nếu do điều
kiện khách quan mà người phạm tội không thực hiện tội phạm nữa thì không được
coi là tự ý nửa chừng chấm dứt việc phạm tội. Thí dụ: trong trường hợp trên, nếu
B quay về vì không cậy được cửa, vì có tiếng động trong nhà làm cho y sợ hãi,
hoặc vì nhà ông A vẫn còn thức v.v… thì việc B quay về không được coi là tự ý nửa
chừng chấm dứt việc phạm tội và B vẫn phải chịu trách nhiệm hình sự theo Điều 15 Bộ luật hình sự về phạm tội chưa đạt.
Trong thực
tế, việc tự ý nửa chừng chấm dứt việc phạm tội có thể do nhiều nguyên nhân như:
hối hận, lo sợ, sợ bị trừng trị, không muốn thực hiện tội phạm đối với người
quen biết v.v… Dó đó, chúng ta không nên đòi hỏi người có hành vi nguy hiểm phải
tỉnh ngộ, hối hận mà chỉ cần họ đã thực hiện sự tự nguyện và dứt khoát không thực
hiện tội phạm nữa thì được coi là đã tự ý nửa chừng chấm dứt việc phạm tội.
Trong trường
hợp người phạm tội là người tổ chức tội phạm thì mặc dầu họ đã tự ý nửa chừng
chấm dứt việc phạm tội nhưng vẫn để mặc cho đồng bọn thực hiện tội phạm, thì
người đó không được coi là tự ý nửa chừng chấm dứt việc phạm tội. Thí dụ: người
đã đề xuất ra việc trộm cắp, đã vạch ra kế họach đi ăn trộm, đã vẽ sơ đồ cho đồng
bọn, mặc dầu người đó đã tự ý không tham gia trộm nữa mà cứ để mặc đồng bọn thực
hiện trộm cắp. Trong trường hợp này, người tự ý không tham gia trộm nữa không
được coi là tự ý nửa chừng chấm dứt việc phạm tội.
Trong trường
hợp tự ý nửa chừng chấm dứt việc phạm tội, nhưng hành vi thực tế đã thực hiện
có đủ yếu tố cấu thành một tội phạm khác thì người tự ý nửa chừng chấm dứt việc
phạm tội vẫn phải chịu trách nhiệm hình sự đối với các hành vi đã thực hiện.
Thí dụ: một người đã mua lựu đạn để giết người, mặc dù họ tự ý chấm dứt việc giết
người, vẫn phải chịu trách nhiệm về hành vi mua bán trái phép vũ khí quân dụng
(Điều 95 Bộ luật hình sự). Trường hợp định tham ô nhưng mới
giả mạo được giấy tờ mà tự ý chấm dứt việc phạm tội tham ô, thì phải chịu trách
nhiệm hình sự về tội giả mạo trong công tác (Điều 224 Bộ luật
hình sự)… Cần lưu ý là đối với truờng hợp phạm tội chưa đạt đã hoàn thành
thì không có tự ý chấm dứt nửa chừng việc phạm tội. Thí dụ: A định giết B, A đã
chĩa súng vào B và bóp cò súng, nhưng đạn không nổ, sau đó, y tự ý thôi không
thực hiện hành vi nào để giết B nữa. Trong trường hợp này thì A vẫn phạm tội giết
người chưa đạt chứ không được coi là tự ý chấm dứt nửa chừng việc phạm tội.
V- CẢI TẠO KHÔNG GIAM GIỮ (ĐIỀU 24 BLHS) VÀ CẢI TẠO Ở ĐƠN VỊ KỶ LUẬT CỦA QUÂN ĐỘI (ĐIỀU 70 BLHS) (*)
1) Cải tạo
không giam giữ là hình phạt được áp dụng đối với người phạm tội ít nghiêm trọng
(Điều 24 Bộ luật hình sự).
Bộ luật
hình sự đã quy định rõ những tội phạm nào được áp dụng hình phạt cải tạo không
giam giữ. Đồng thời theo khoản 3 Điều 38 của Bộ luật hình
sự thì cũng có thể áp dụng hình phạt này đối với những trường hợp phạm
tội ít nghiêm trọng mà Bộ luật hình sự quy định phạt giam nhưng có nhiều tình
tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự nên được chuyển sang loại hình phạt nhẹ hơn.
Hình phạt cải tạo không giam giữ không áp dụng đối với những tội phạm nghiêm trọng,
kể cả trường hợp có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự.
2) Hình
phạt cải tạo không giam giữ nhẹ hơn hình phạt tù giam, do đó, chỉ áp dụng hình
phạt cải tạo không giam giữ trong những trường hợp sau đây:
- Có nhiều
tình tiết giảm nhẹ hình phạt.
- Bị cáo
không phải là người tái phạm về tội cố ý. Nếu bị cáo là người tái phạm về tội cố
ý thì không áp dụng hình phạt cải tạo không giam giữ.
- Bị cáo
phải là người có căn cước, lý lịch rõ ràng, có nơi thường trú (vì trong hình phạt
cải tạo không giam giữ, Điều 24 Bộ luật hình sự quy
định là: “Tòa án giao người bị phạt cải tạo không giam giữ cho cơ quan Nhà nước
hoặc tổ chức xã hội nơi người đó làm việc hoặc thường trú để giám sát, giáo dục”).
Do đó, nếu bị cáo không có căn cước, lý lịch rõ ràng, không có nơi thường trú
thì không áp dụng hình phạt cải tạo không giam giữ.
3) Cải tạo
không giam giữ là hình phạt chính, cho nên Tòa án còn có thể quyết định thêm
hình phạt bổ sung mà luật có quy định đối với tội đó. Thí dụ: đối với tội sử dụng
trái phép tài sản xã hội chủ nghĩa quy định trong khoản 1
Điều 137 thì Tòa án có thể quyết định thêm hình phạt bổ sung là cấm đảm
nhiệm một số chức vụ quản lý tài sản xã hội chủ nghĩa trong thời hạn từ 2 năm đến
5 năm.
4) Khi phạt
cải tạo không giam giữ, thì trong bản án, Tòa án phải quyết định là giao người
bị án cho cơ quan Nhà nước, tổ chức xã hội nào giám sát, giáo dục và mức độ khấu
trừ phần thu nhập của họ để sung quỹ Nhà nước (từ 5% đến 20%). Tuy nhiên, việc
khấu trừ thu nhập không phải là việc bắt buộc nên phải xem xét điều kiện về
kinh tế của bị cáo để xem có nên khấu trừ thu nhập của họ không. Trong trường hợp
người bị phạt cải tạo không giam giữ là người chưa thành niên thì Tòa án không
được khấu trừ phần thu nhập của họ.
5) Nếu
người bị kết án đã bị tạm giam thì thời hạn tạm giam được trừ vào thời hạn chấp
hành hình phạt cải tạo không giam giữ, cứ một ngày tạm giam bằng ba ngày cải tạo
không giam giữ.
6) Hình
phạt cải tạo ở đơn vị kỷ luật của quân đội (Điều 24 và Điều 70
Bộ luật hình sự) thực chất cũng là hình phạt cải tạo không giam giữ nhưng
được áp dụng đối với quân nhân phạm tội.
Đối với
người phạm tội là quân nhân tại ngũ, trong trường hợp điều luật quy định hình
phạt cải tạo không giam giữ, thì áp dụng hình phạt cải tạo ở đơn vị kỷ luật của
quân đội quy định ở Điều 70 Bộ luật hình sự. Người
bị kết án cũng phải thực hiện một số nghĩa vụ về cải tạo không giam giữ và có
thể bị khấu trừ một phần thu nhập từ 5% đến 20% để sung quỹ Nhà nước. Đối với
người thường dân phạm tội gây thiệt hại cho quân đội, bị Tòa án quân sự xét xử
thì áp dụng hình phạt cải tạo không giam giữ quy định ở điều
24.
VI- TỔNG HỢP HÌNH PHẠT (các Điều
41, 42, và 43 BLHS)
Cần chú ý
Bộ luật hình sự đã quy định cách tổng hợp hình phạt khác nhau khi quyết định
hình phạt trong trường hợp phạm nhiều tội (Điều 41) và tổng
hợp hình phạt của nhiều bản án (Điều 42).
A- Quyết định hình phạt trong trường hợp phạm nhiều tội (Điều 41).
1. Khi
xét xử cùng một lần người phạm nhiều tội, cần chú ý là Tòa án phải quyết định
hình phạt đối với từng tội, sau đó quyết định hình phạt chung cho các tội.
Khi định
tội danh và quyết định hình phạt, phải ghi rõ tên tội, điều luật, khoản nào, điểm
nào của điều luật đã được áp dụng vì điều này sẽ có ảnh hưởng quan trọng về sau
đối với việc xác định tái phạm, tái phạm nguy hiểm, thời hiệu thi hành án, thủ
tục xóa án v.v…
2. Việc
quyết định hình phạt chung trong trường hợp phạm nhiều tội (*)có thể
thực hiện bằng hai cách: thu hút hình phạt nhẹ vào hình phạt nặng nhất; hoặc cộng
toàn bộ hình phạt đã tuyên về từng tội, hay là cộng vào hình phạt nặng nhất một
phần các hình phạt đã tuyên. Hai cách đó đều có thể thực hiện nhưng cần chú ý
là Bộ luật hình sự đã quy định rõ mức cao nhất của hình phạt chung không được
vượt quá mức cao nhất của “khung hình phạt” mà luật quy định đối với tội nặng
nhất đã phạm và trong phạm vi loại hình phạt đã tuyên. Thí dụ: Bị cáo phạm 3 tội:
cướp tài sản xã hội chủ nghĩa, bị phạt 10 năm tù theo khoản
1 Điều 129; trộm tài sản riêng của công dân bị phạt 6 năm tù theo khoản 2 Điều 155; và hiếp dâm, bị phạt 3 năm tù theo khoản 1 Điều 112. Nếu cộng toàn bộ hình phạt thì bị cáo bị phạt
19 năm tù. Tuy nhiên, trong trường hợp này, hình phạt cao nhất theo khoản 1 Điều 129 về tội cướp tài sản xã hội chủ nghĩa là
tội nặng nhất là 15 năm tù, nên Tòa án chỉ có thể quyết định phạt hình chung
cao nhất là 15 năm tù.
B- Tổng hợp
hình phạt của nhiều bản án (Điều 42 BLHS)
1. Trong
trường hợp một người đang phải chấp hành một bản án mà lại xét xử về một tội đã
phạm trước khi có bản án này (*)(như tội phạm sau lại được xử trước,
còn tội phạm trước lại được xử sau) thì Tòa án quyết định hình phạt đối với tội
đang bị xét xử, sau đó quyết định hình phạt chung, và hình phạt chung không được
vượt mức cao nhất của khung hình phạt mà luật quy định đối với tội nặng nhất đã
phạm và trong phạm vi loại hình phạt đã tuyên như đã nói trong điểm 2 nói trên.
Thời gian
đã chấp hành hình phạt của bản án trước được trừ vào thời gian chấp hành hình
phạt chung.
2. Trong
trường hợp một người đang chấp hành một bản án mà lại phạm tội mới, Tòa án quyết
định hình phạt đối với tội mới, sau đó “cộng” với phần hình phạt chưa chấp hành
của bản án trước rồi quyết định hình phạt chung. Hình phạt chung không được vượt
quá mức cao nhất mà luật quy định cho “loại hình phạt” đã tuyên chứ không bị hạn
chế ở mức cao nhất của khung hình phạt đối với tội nặng nhất. Thí dụ: một kẻ phạm
tội đã bị phạt 10 năm tù về tội cướp tài sản xã hội chủ nghĩa, theo khoản 1 Điều 129 nhưng mới chấp hành hình phạt được 3 năm
thì y phạm tội mới, do đó, hình phạt chưa chấp hành còn lại là 7 năm tù. Y phạm
2 tội mới là: tội trộm tài sản của công dân, bị phạt theo khoản
2 Điều 155 là 7 năm tù và tội hiếp dâm, bị phạt theo khoản 2 Điều 112 là 6 năm tù. Như vậy là trong trường hợp
này, hình phạt chung cao nhất đối với bị cáo không bị hạn chế ở mức cao nhất của
khung hình phạt luật định đối với tội nặng nhất (ở đây là khoản
1 Điều 129 về tội cướp, mức hình phạt cao nhất là 15 năm tù) mà có thể
là 7 + 7 + 6 = 20 năm tù (vì đây là mức cao nhất của loại hình phạt tù giam có
thời hạn).
Khi quyết
định hình phạt trong trường hợp phạm nhiều tội hoặc tổng hợp hình phạt của nhiều
bản án, chỉ được tổng hợp hình phạt trong phạm vi loại hình phạt đã tuyên. Thí
dụ: không được tổng hợp nhiều hình phạt tù có thời hạn thành tù chung thân.
+ Trong
trường hợp hình phạt khác loại thì tổng hợp theo Điều 43 Bộ
luật hình sự, cụ thể là:
a) Đối với
hình phạt chính, nếu hình phạt cao nhất đã tuyên là tử hỉnh, tù chung thân hoặc
tù 20 năm thì lấy hình phạt cao nhất là hình phạt chung.
Nếu các
hình phạt đã tuyên gồm: cải tạo không giam giữ hoặc cải tạo ở đơn vị kỹ luật của
quân đội và tù có thời hạn thì chuyển hình phạt cải tạo không giam giữ hoặc cải
tạo ở đơn vị kỷ luật của quân đội thành hình phạt tù để quyết định hình phạt
chung. Cứ một ngày cải tạo không giam giữ hoặc cải tạo ở đơn vị kỷ luật của
quân đội thành một ngày tù.
Chú ý:
khi tổng hợp hình phạt (án tù cũng như cải tạo không giam giữ) phải trừ thời
gian người có án đã thực sự chấp hành, chỉ tính thời gian còn lại.
b) Đối với
hình phạt bổ sung, Tòa án quyết định một hình phạt chung trong giới hạn luật
quy định về mỗi loại hình phạt ấy. Thí dụ: đối với cả hai tội đều có hình phạt
là quản chế thì Tòa án không phải quyết định hình phạt quản chế riêng cho mỗi tội
mà tuyên một thời hạn quản chế chung cho cả hai tội, tức là 1 đến 5 năm quản chế.
c) Phạt
tiền thì cộng các khoản phạt tiền của các tội hoặc của các bản án.
3. Đối với
người chưa thành niên phạm tội, có tội phạm trước khi đủ 18 tuổi, có tội phạm
sau khi đủ 18 tuổi thì tổng hợp hình phạt theo quy định của điều
64 và điều 65 Bộ luật hình sự.
4. Án
treo là án phạt tù nhưng được miễn chấp hành hình phạt tù nếu người bị kết án
không phạm tội mới trong thời gian thử thách. Vì vậy, nếu họ phạm tội mới trong
thời gian thử thách mà đáng phải phạt tù thì không được hưởng án treo một lần nữa.
Tuy
nhiên, có thể tổng hợp hai bản án treo nếu tội xảy ra sau lại được xử trước và
được hưởng án treo, rồi sau đó mới phát hiện ra tội phạm trước và tội này cũng
được hưởng án treo. Trong trường hợp này, sau khi quyết định hình phạt tù cho
hưởng án treo và thời gian thử thách cho tội xử sau, Tòa án quyết định chung
hình phạt tù cho hưởng án treo và thời gian thử thách cho cả hai bản án. Tổng số
thời gian thử thách không được quá 5 năm.
5. Chỉ tổng
hợp hình phạt của bản án đang xử với hình phạt của bản án khác đã có hiệu lực
pháp luật. Do đó, các cấp sơ thẩm, phúc thẩm cần chú ý những trường hợp sau
đây:
- Nếu bị
cáo bị đưa ra xét xử trong hai vụ án khác nhau thì cấp sơ thẩm cần đợi hết hạn
kháng cáo, kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm đối với vụ án trước rồi mới xử vụ
án sau. Nếu bản án trước không bị kháng cáo, kháng nghị thì khi xử vụ án sau,
Tòa án sơ thẩm quyết định hình phạt chung của 2 bản án.
- Nếu bản
án trước đã bị kháng cáo, kháng nghị thì khi xử vụ án sau cấp sơ thẩm chỉ quyết
định hình phạt đối với tội được xử sau mà không quyết định hình phạt chung của
2 bản án. Việc quyết định hình phạt chung của 2 bản án sẽ do cấp phúc thẩm giải
quyết bằng cách tổng hợp hình phạt của bản án trước với hình phạt của bản án
sau (bị kháng cáo, kháng nghị hoặc không bị kháng cáo, kháng nghị).
- Nếu bản
án truớc đã được phúc thẩm rồi mà cấp sơ thẩm mới xử vụ án sau thì cấp sơ thẩm
quyết định ngay hình phạt chung của 2 bản án.
6. Nếu
Tòa án cấp huyện xét xử mà hình phạt chung cao hơn mức hình phạt do Tòa án đó
có quyền quyết định thì Tòa án cấp huyện không được xét xử và vụ án phải do Tòa
án cấp tỉnh xét xử (*)
VII- ÁN TREO (ĐIỀU 44 BLHS) (**)
1-
Theo Điều 44 Bộ luật hình sự thì án treo là một
biện pháp miễn chấp hành hình phạt tù có điều kiện. Tức là căn cứ vào nhân thân
của người bị kết án và những tình tiết giảm nhẹ, Tòa án sẽ miễn cho người bị kết
án không phải chấp hành hình phạt tù nếu trong thời gian thử thách người đó
không phạm tội mới. Vì vậy, khi quyết định hình phạt, Tòa án phải quyết định thời
gian phạt tù đúng với tính chất và mức độ phạm tội của bị cáo rồi mới cho hưởng
án treo chứ không được nâng cao thời hạn tù án treo vì cho đó là hình phạt nhẹ,
và phải tuyên rành rọt là bị cáo bị phạt mấy năm tù nhưng cho hưởng án treo, chứ
không được tuyên là mấy năm tù án treo.
Án treo
chỉ là biện pháp miễn chấp hành hình phạt tù có điều kiện cho nên không phải là
một hình phạt nhẹ hơn hình phạt tù. Vì vậy, sự giải thích trước đây của Tòa án
nhân dân tối cao coi án treo là hình phạt nhẹ hơn (trong bản hướng dẫn về thủ tục
xét xử về hình sự kèm theo Thông tư số 19/TATC ngày 02-10-1974 và trong Lời tổng
kết hội nghị tổng kết công tác ngành Tòa án nhân dân năm 1976) không còn phù hợp
với Bộ luật hình sự.
2- Trong
công tác xét xử, các Tòa án cũng cần phải phân biệt những trường hợp phạt cải tạo
không giam giữ với những trường hợp phạt tù mà cho hưởng án treo, vì phạt tù mà
cho hưởng án treo được áp dụng đối với những trường hợp phạm tội “nặng hơn” những
trường hợp được xử phạt bằng cải tạo không giam giữ. Hậu quả pháp lý của hai loại
hình phạt cũng khác nhau: người được hưởng án treo mà phạm tội mới trong thời
gian thử thách và bị phạt tù thì phải chấp hành hình phạt của tội mới tổng hợp
với hình phạt của tội cũ. Trái lại, người bị phạt cải tạo không giam giữ đã chấp
hành xong hình phạt mà phạm tội mới thì chỉ phải chịu hình phạt về tội mới. Cải
tạo không giam giữ chỉ được áp dụng đối với những tội ít nghiêm trọng, nhưng án
treo được áp dụng cả đối với trường hợp phạm tội nghiêm trọng mà hình phạt
không quá 5 năm tù.
3- Những
điều kiện được hưởng án treo đã được Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn trong
Thông tư số 2308/NCPL ngày 1-12-1961 (tập hệ thống hóa luật lệ về hình sự, tập
1, trang 119) nhưng trong điểm a mục c của phần II có nói là người được hưởng
án treo phải chấp hành hình phạt cũ nếu trong thời gian thử thách mà họ phạm tội
mới “cùng tính chất với tội cũ, thì nay không phù hợp với Bộ luật hình sự
vì Điều 44 chỉ quy định đơn giản là: nếu trong thời
gian thử thách, người bị án treo phạm tội mới và bị xử phạt tù thì Tòa án quyết
định buộc phải chấp hành hình phạt của bản án mới. Như vậy là tội phạm cũ và tội
phạm mới không nhất thiết phải cùng tính chất.
4- Thời
gian thử thách là từ 1 đến 5 năm, tính từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật (bản
án sơ thẩm không bị kháng cáo, kháng nghị, hoặc bản án phúc thẩm cho hưởng án
treo). Thời gian thử thách không được ít hơn mức án tù đã tuyên, mà ít nhất phải
bằng hoặc nhiều hơn (thông thường phải dài hơn) mức án tù đã tuyên. Tuy nhiên,
nếu người bị kết án đã bị tạm giam lâu trước khi bản án có hiệu lực pháp luật
thì khi quyết định thời gian thử thách, Tòa án cần chú ý giảm cho họ thời gian
thử thách. Thí dụ: người phạm tội đã bị tạm giam hai năm và sau đó, bị phạt 3
năm tù nhưng được hưởng án treo thì thời gian thử thách có thể chỉ là một năm.
Trong trường hợp đặc biệt có thể miễn cho họ thời gian thử thách nếu Tòa án chỉ
phạt tù dưới mức thời gian mà họ đã bị tạm giam (*)
5- Về
nguyên tắc, cấp phúc thẩm không được làm xấu tình trạng của bị cáo nếu không có
kháng cáo hoặc kháng nghị của Viện kiểm sát hoặc của người bị hại yêu cầu tăng
nặng hình phạt. Vì vậy, trong trường hợp bị cáo được cấp sơ thẩm cho hưởng án
treo thì cần xác định những trường hợp làm xấu tình trạng của bị cáo và những
trường hợp xử phạt có lợi cho họ như sau:
- Làm xấu
tình trạng của bị cáo là: tăng hình phạt tù đã cho hưởng án treo; tăng thời
gian thử thách; chuyển án treo thành án tù, dù là thời hạn tù được giảm nhiều
so với thời hạn tù đựơc hưởng án treo; chuyển án tù giam thành án treo nhưng với
thời hạn tù cho hưởng án treo dài hơn thời hạn tù giam (thí dụ: đổi 3 năm tù
giam thành 5 năm tù cho hưởng án treo).
- Xử phạt
có lợi cho bị cáo là: giảm hình phạt tù cho hưởng án treo; giảm thời gian thử
thách.
VIII- MIỄN TRÁCH NHIỆM HÌNH SỰ (Khoản 2 Điều 48 BLHS)
1-
Theo Điều 48 Bộ luật hình sự thì người được miễn
trách nhiệm hình sự là người đã phạm một tội quy định trong Bộ luật hình sự
nhưng được miễn trách nhiệm hình sự. Miễn trách nhiệm hình sự khác với trường hợp
không có trách nhiệm hình sự, tức là những trường hợp hành vi của bị cáo không
có sai trái hoặc chỉ đáng xử lý về hành chính (thí dụ: xử lý về vi cảnh, xử lý
về hành chính đối với việc đầu cơ mà giá trị hàng hóa phạm pháp từ 2.000 đồng
tiền mới trở xuống v.v…). Theo Thông tư số 12-LĐ/TT ngày 28-5-1977 thì người được
miễn trách nhiệm hình sự, nếu đã bị giam có thể không được trả lại đủ 100% tiền
lương mà vẫn chỉ được hưởng 50% tiền lương và phụ cấp trong thời gian bị tạm
giam. Trái lại, nếu họ được xác định là không có trách nhiệm hình sự thì được
truy lĩnh 100% tiền lương và phụ cấp.
Vì miễn
trách nhiệm hình với không có trách nhiệm hình sự khác nhau như vậy cho nên mỗi
trường hợp cần phải được xác định thận trọng, chính xác. Nếu không có đủ căn cứ
để kết luận hành vi của bị cáo bị truy tố cấu thành một tội phạm cụ thể thì phải
tuyên bố bị cáo không phạm tội, không được tuyên miễn trách nhiệm hình sự một
các tùy tiện.
2-
Theo Điều 48 Bộ luật hình sự thì có thể được miễn
trách nhiệm hình sự trong những truờng hợp sau đây:
- Do sự
chuyển biến của tình hình (chính trị, kinh tế, xã hội) nên tội phạm không còn
nguy hiểm đáng kể cho xã hội nữa.
- Truớc
khi tội phạm bị phát giác, người phạm tội đã tự thú (*), khai rõ sự
việc, góp phần có hiệu quả vào việc phát hiện và điều tra tội phạm, cố gắng hạn
chế đến mức thấp nhất hậu quả của tội phạm.
Người được
miễn trách nhiệm hình sự thì đương nhiên không bị coi là người can án.
3- Trong
giai đoạn điều tra, truy tố thì Viện kiểm sát nhân dân có quyền miễn trách nhiệm
hình sự. Trong giai đoạn xét xử thì việc miễn trách nhiệm hình sự do Tòa án quyết
định.
Khi miễn
trách nhiệm hình sự thì trong phần nhận định của bản án phải nói rõ là bị cáo
đã phạm tội gì nhưng được miễn trách nhiệm hình sự và phải nói rõ lý do. Trong
phần quyết định của bản án thì chỉ cần nói là miễn trách nhiệm hình sự. Khi đã
miễn trách nhiệm hình sự thì Tòa án không được quyết định bất cứ loại hình phạt
nào, nhưng vẫn có thể quyết định việc bồi thường cho người bị hại và giải quyết
các tang vật.
IX- MỘT SỐ QUY ĐỊNH ĐỐI VỚI NGƯỜI
CHƯA THÀNH NIÊN PHẠM TỘI
Bộ luật
hình sự dành một chương riêng quy định về chính sách và đường lối xử lý đối với
người chưa thành niên phạm tội vì lứa tuổi này còn bồng bột, chưa đủ khả năng để
cân nhắc hành vi của mình, còn thiếu kinh nghiệm xã hội và dễ bị ảnh hưởng bởi
tác động môi trường xấu bên ngòai.
A- Tuổi
chịu trách nhiệm hình sự (Điều 58 BLHS)
Theo quy
định của Bộ luật hình sự thì người chưa thành niên đủ 14 tuổi trở lên phạm tội
thì mới phải chịu trách nhiệm hình sự. Người chưa đủ 14 tuổi mà có hành vi nguy
hiểm cho xã hội thì không có trách nhiệm hình sự, do đó, không được truy tố,
xét xử họ về hành vi đó.
Đối với
người chưa thành niên đủ 14 tuổi trở lên thì luật cũng có sự phân biệt:
- Người đủ 14 tuổi trở lên nhưng chưa đủ 16 tuổi thì chỉ phải chịu trách nhiệm hình sự về những tội nghiêm trọng do cố ý. Do đó, hành vi nguy hiểm do vô ý thì người chưa thành niên từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi không phải chịu trách nhiệm hình sự.
- Người đủ 16 tuổi trở lên phạm tội thì phải chịu trách nhiệm về mọi tội phạm.
Cách tính
tuổi do luật quy định là “đủ 14 tuổi”, hoặc “đủ 16 tuổi”, tức là tính theo tuổi
tròn. Thí dụ: sinh ngày 1-1-1975 thì 1-1-1989 mới đủ 14 tuổi. Trong trường hợp
không có điều kiện xác định được chính xác ngày sinh thì tính ngày sinh theo
ngày cuối cùng của tháng sinh và nếu cũng không có điều kiện xác định chính xác
tháng sinh thì xác định ngày sinh là 31-12-năm sinh.
B- Xử lý
đối với người chưa thành niên phạm tội
1. Điều 59 của Bộ luật hình sự quy định: Đối với người chưa
thành niên phạm tội, Viện kiểm sát và Tòa án áp dụng chủ yếu những biện pháp
giáo dục, phòng ngừa. Theo Điều 60 thì những biện
pháp tư pháp không có tính chất hình phạt, gồm có:
- Buộc phải
chịu thử thách từ 1 năm đến 2 năm, áp dụng đối với người chưa thành niên từ đủ
16 tuổi đến dưới 18 tuổi phạm tội ít nghiêm trọng, được giao cho chính quyền cơ
sở và tổ chức xã hội giám sát giáo dục.
- Đưa vào
trường giáo dưỡng từ 1 năm đến 3 năm, áp dụng đối với người chưa thành niên từ
đủ 14 tuổi đến dưới 18 tuổi phạm tội nghiêm trọng, cần đưa vào tổ chức giáo dục
có kỷ luật chặt chẽ.
2. Chỉ xử
phạt về hình sự đối với người chưa thành niên phạm tội “trong những trường hợp
cần thiết, căn cứ vào tính chất nghiêm trọng của hành vi phạm tội, vào những đặc
điểm về nhân thân và yêu cầu của việc phòng ngừa” (Điều 59).
Thí dụ: cướp của, giết người, hoặc đã đưa vào trường giáo dưỡng mà trốn ra, tiếp
tục phạm pháp nhiều lần…
Không phạt
chung thân hoặc tử hình người chưa thành niên phạm tội. Người chưa thành niên
phạm tội chỉ bị phạt cảnh cáo, cải tạo không giam giữ, tù có thời hạn nhưng được
xử nhẹ hơn người đã thành niên. Mức xử nhẹ là bao nhiêu phải căn cứ vào tính chất
và mức độ nguy hiểm của tội phạm, nhân thân của người phạm tội và căn cứ
vào Điều 64 Bộ luật hình sự để vận dụng mức phạt
tù có thời hạn. Nếu điều kiện quy định hình phạt cao nhất là chung thân hoặc tử
hình, thì mức hình phạt cao nhất áp dụng đối với người chưa thành niên từ đủ 16
tuổi trở lên khi phạm tội là 20 năm tù, và đối với người từ đủ 14 tuổi trở lên
nhưng chưa đủ 16 tuổi khi phạm tội là 15 năm tù. Nếu điều luật quy định hình phạt
cao nhất là 20 năm tù thì mức hình phạt cao nhất đối với người chưa thành niên
phạm tội là không quá 12 năm tù.
Qua thực
tế xét xử, nếu không có những tình tiết tăng nặng đáng chú ý thì thông thường mức
hình phạt có thể là một nửa (1/2) mức hình phạt đối với người thành niên phạm tội
như nhau. Không phạt tiền và các hình phạt bổ sung đối với người chưa thành
niên phạm tội.
3. Việc bồi
thường thiệt hại do người chưa thành niên gây ra vẫn được thực hiện theo những
hướng dẫn trước đây của Tòa án nhân dân tối cao về vấn đề này.
(*)Xem bản “quy chế về chế độ cải tạo
không giam giữ và cải tạo ở đơn vị kỷ luật của quân đội” ban hành kèm theo Nghị
quyết số 95/HĐBT ngày 25-7-1989 của Hội đồng Bộ trưởng.
(*)Xem: Nghị quyết số 02/HĐTP ngày
16-11-1988 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn bổ sung Nghị
quyết số 02/HĐTP ngày 5-1-1986.
(*)Xem Thông tư liên ngành số 01/TTLN 90
ngày 1-2-1990 của Tòa án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Bộ Nội
vụ, Bộ Tư pháp hướng dẫn thi hành một số quy định của Luật sửa đổi, bổ sung một
số điều của BLHS.
(*)Điểm này nay áp dụng theo Thông tư
liên ngành số 02/TTLN 90 ngày 15-2-1990 của Tòa án nhân dân tối cao, Viện kiểm
sát nhân dân tối cao, Bộ Tư pháp và Bộ Nội vụ.
(**)Phần nay đã được thay thế bằng phần
II Nghị quyết số 02/HĐTP ngày 16-11-1988 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân
tối cao hướng dẫn bổ sung Nghị quyết số 02/HĐTP ngày 5-1-1986
- Xem phần
III Nghị quyết số 1-89/HĐTP ngày 19-4-1989 của Hội đồng thẩm phán TANDTC hướng
dẫn bổ sung việc áp dụng một số quy định của Bộ luật hình sự.
(*)Hội đồng Nhà nước đã có giải thích
trong mọi trường hợp cho hưởng án treo phải ấn định thời gian thử thách.
(*)Xem Thông tư liên ngành số 05/TTLN
ngày 2-6-1990 của TANDTC VKSNDTC - BNV - BTP hướng dẫn thi hành chính sách đối
với người phạm tội ra tự thú.
|
Phạm
Hưng (Đã ký) |
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét