Nội dung Văn Bản Quy Phạm Pháp Luật được biên tập lại từ 04 nguồn chính: https://vbpl.vn/; www.congbao.hochiminhcity.gov.vn; https://congbao.chinhphu.vn/ và https://www.ipvietnam.gov.vn /

218 DANH MỤC VĂN BẢN PHÁP LUẬT

PHỤ LỤC B CÁC CHẤT CẦN HẠN CHẾ

 

PHỤ LỤC B

CÁC CHẤT CẦN HẠN CHẾ

Phần I


Hóa chất

Hoạt động

Mục đích được cho phép hoặc miễn trừ riêng biệt

DDT

(1,1,1-trichloro-2,2-

(4-chlorophenyl) eth

CAS No: 50-29-3

Sản xuất

Mục đích được cho phép:

Các chất diệt trừ sinh vật truyền bệnh theo Phần II của Phụ lục này

Miễn trừ riêng biệt:

Chất trung gian để sản xuất dicofol

Chất trung gian

Sử dụng

Mục đích được cho phép:

Diệt trừ sinh vật truyền bệnh theo Phần II của Phụ lục này

Miễn trừ riêng biệt:

Sản xuất hợp chất trung gian dicofol

 

Ghi chú:

(i) Trừ phi có các quy định khác trong Công ước này, lượng hóa chất phát sinh dưới dạng các chất ỗ nhiễm lượng vết không chủ định trong các sản phẩm và hàng hóa sẽ không được xem xét đưa vào Phụ lục này;

(ii) Ghi chú ngay sau đây sẽ không được coi là một mục đích được cho phép hay một mục miễn trừ riêng biệt trong sản xuất và sử dụng như đã nêu khoản 2 của Điều 3. Lượng hóa chất tìm thấy trong thành phần của các hàng hóa được sản xuất hoặc đã sử dụng trước hoặc vào ngày một nghĩa vụ tương ứng với hóa chất đó có hiệu lực, thì sẽ không bị xem xét như liệt kê ở Phụ lục này, miễn là một Bên đã thông báo cho Ban Thư ký rằng loại hàng hóa đặc biệt đó vẫn đang được Bên đó sử dụng. Ban Thư ký phải công khai các thông báo đó

(iii) Ghi chú ngay sau đây sẽ không được coi là một mục miễn trừ riêng biệt trong sản xuất và sử dụng như đã nêu ở khoản 2 của Điều 3. Với điều kiện rằng không có một khối lượng đáng kể của một chất trung gian hạn-chế-địa-điểm trong-hệ-thống-khép-kín3 có thể gây nhiễm cho con người và môi trường trong quá trình sản xuất và sử dụng nó, một Bên có quyền gửi thông báo tới Ban Thư ký để xin phép sử dụng và sản xuất những khối lượng của một hóa chất được liệt kê trong Phụ lục này làm chất trung gian hạn-chế-địa-điểm trong-hệ-thống-khép-kín để sử dụng trong phản ứng hóa học tạo các hóa chất khác mà không biểu hiện tính chất ô nhiễm hữu cơ khó phân hủy như theo các tiêu chí ở khoản 1 của Phụ lục D. Thông báo này phải gồm các thông tin về toàn bộ quá trình sản xuất và sử dụng hóa chất đó, hoặc ước tính hợp lý cho các thông tin này và những thông tin liên quan đến bản chất của các quá trình hạn-chế-địa-điểm trong-hệ-thống-khép-kín, bao gồm lượng ô nhiễm không thể chuyển hóa và ô nhiễm lượng vết không chủ ý bất kỳ của một chất bắt đầu trở thành chất ô nhiễm hữu cơ khó phân hủy trong thành phẩm. Thủ tục này sẽ được áp dụng trừ trường hợp có quy định khác trong Phụ lục. Ban Thư ký sẽ cung cấp thông báo đó cho Hội nghị các Bên và cho cộng đồng. Việc sản xuất và sử dụng như vậy sẽ không được coi là một miễn trừ riêng biệt cho sản xuất và sử dụng. Việc sản xuất và sử dụng như vậy sẽ phải chấm dứt sau một giai đoạn là 10 năm, trừ phi một Bên có liên quan trình một thông báo mới cho Ban Thư ký, và khi đó thời gian sẽ gia hạn thêm 10 năm nếu Hội nghị các Bên không có quyết định khác sau khi thẩm ddịnh việc sản xuất và sử dụng. Thủ tục thông báo có thể được lặp lại;

(iv) Tất cả các mục miễn trừ riêng biệt trong Phụ lục này có thể được tiến hành bởi các Bên đã đăng ký các miễn trừ đó theo quy định của Điều 4.

Phần II

DDT (1,1,1-TRICHLORO-2,2-BIS(4-CHLOROPHENYL) ETHANE)

1. Việc sản xuất và sử dụng DDT sẽ được loại trừ, ngoại trừ trường hợp các Bên đã thông báo cho Ban Thư ký về ý định sản xuất và/hoặc sử dụng DDT của mình. Do đó, một sổ Đăng ký chất DDT được lập và phổ biến cho cộng đồng. Ban Thư ký sẽ duy trì sổ Đăng ký DDT.

2. Khi tại địa phương không sẵn có các chất thay thế an toàn, hiệu quả với giá thành hợp lý, mỗi Bên sản xuất và/hoặc sử dụng DDT phải hạn chế sự sản xuất và/hoặc sử dụng để diệt trừ sinh vật truyền bệnh theo các kiến nghị và hướng dẫn của Tổ chức Y tế Thế giới WHO về việc sử dụng DDT.

3. Trong trường hợp một Bên chưa được đưa vào sổ Đăng ký DDT, nhưng xác định cần phải có DDT để diệt trừ sinh vật truyền bệnh, thì Bên đó sẽ thông báo cho Ban thư ký càng sớm càng tốt để được bổ sung tên trong sổ Đăng ký DDT. Đồng thời, Bên đó sẽ thông báo cho Tổ chức Y tế Thế giới.

4. Mỗi Bên có sử dụng DDT phải cung cấp thông tin cho Ban Thư ký và Tổ chức Y tế Thế giới 3 năm một lần về số lượng đã sử dụng, các điều kiện sử dụng và sự hợp lý của chiến lược kiểm soát dịch bệnh của Bên đó theo mẫu biểu do Hội nghị các Bên quyết định với sự tư vấn của Tổ chức Y tế Thế giới.

5. Với mục đích giảm thiểu và loại trừ hoàn toàn việc sử dụng DDT, Hội nghị các Bên sẽ khuyến khích:

(a) Mỗi Bên có sử dụng DDT hãy xây dựng và thực hiện một kế hoạch hành động như một phần trong kế hoạch thực hiện được quy định cụ thể tại Điều 7. Kế hoạch hành động đó sẽ bao gồm:

(i) Xây dựng khung pháp lý và các cơ chế khác để đảm bảo việc hạn chế sử dụng DDT trong diệt trừ sinh vật truyền bệnh;

(ii) áp dụng các sản phẩm, phương pháp và chiến lược thay thế thích hợp, kể cả các chiến lược quản lý lâu dài nhằm đảm bảo hiệu lực liên tục của những thay thế đó;

(iii) Các biện pháp tăng cường công tác y tế và giảm thiểu tỷ lệ mắc bệnh.

(b) Theo khả năng của mình, các Bên đẩy mạnh nghiên cứu và phát triển hóa chất thay thế an toàn và các sản phẩm, phương pháp và chiến lược không dùng hóa chất cho những Bên sử dụng DDT, phù hợp với các điều kiện của các nước đó và vì mục đích giảm bớt gánh năng bệnh tật về kinh tế và con người. Các yếu tố được chú trọng khi xem xét các giải pháp thay thế hoặc giải pháp thay thế kết hợp bao gồm rủi ro sức khỏe con người và các vấn đề môi trường của những giải pháp đó. Các chất thay thế khả thi cho DDT chỉ được gây rủi ro không đáng kể đến sức khỏe con người và môi trường, phải phù hợp với việc kiểm soát bệnh tật trong các điều kiện của các Bên liên quan, và phải được hỗ trợ bằng các số liệu quan trắc.

6. Bắt đầu từ cuộc họp lần thứ nhất và sau đó cứ ít nhất 3 năm một lần, Hội nghị các Bên, với sự tư vấn của Tổ chức Y tế Thế giới, sẽ đánh giá nhu cầu tiếp tục sử dụng DDT để diệt trừ sinh vật truyền bệnh trên cơ sở các thông tin hiện có về khoa học, kỹ thuật, môi trường và kinh tế, gồm có:

(a) Việc sản xuất và sử dụng DDT cũng như các điều kiện được đề ra ở khoản 2;

(b) Khả năng sẵn có, sự phù hợp và việc thực hiện các thay thế cho DDT; và

(c) Tiến độ nâng cao năng lực của các nước để chuyển đổi an toàn sang các thay thế đó;.

7. Một Bên được phép rút tên của mình khỏi sổ Đăng ký DDT vào bất kỳ thời gian nào sau khi đã gửi thông báo bằng văn bản cho Ban Thư ký. Việc rút tên khỏi sổ Đăng ký sẽ có hiệu lực kể từ ngày được quy định cụ thể trong thông báo.

 

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét