|
Hóa chất |
Hoạt động |
Mục đích được cho phép hoặc miễn trừ
riêng biệt |
|
DDT (1,1,1-trichloro-2,2- (4-chlorophenyl) eth CAS No: 50-29-3 |
Sản xuất |
Mục đích được cho phép: Các chất diệt trừ sinh vật truyền bệnh theo
Phần II của Phụ lục này Miễn trừ riêng biệt: Chất trung gian để sản xuất dicofol Chất trung gian |
|
Sử dụng |
Mục đích được cho phép: Diệt trừ sinh vật truyền bệnh theo Phần II
của Phụ lục này Miễn trừ riêng biệt: Sản xuất hợp chất trung gian dicofol |
Ghi chú:
(i) Trừ phi có các quy định khác trong Công ước
này, lượng hóa chất phát sinh dưới dạng các chất ỗ nhiễm lượng vết không chủ
định trong các sản phẩm và hàng hóa sẽ không được xem xét đưa vào Phụ lục này;
(ii) Ghi chú ngay sau đây sẽ không được coi là
một mục đích được cho phép hay một mục miễn trừ riêng biệt trong sản xuất và sử
dụng như đã nêu khoản 2 của Điều 3. Lượng hóa chất tìm thấy trong thành phần
của các hàng hóa được sản xuất hoặc đã sử dụng trước hoặc vào ngày một nghĩa vụ
tương ứng với hóa chất đó có hiệu lực, thì sẽ không bị xem xét như liệt kê ở
Phụ lục này, miễn là một Bên đã thông báo cho Ban Thư ký rằng loại hàng hóa đặc
biệt đó vẫn đang được Bên đó sử dụng. Ban Thư ký phải công khai các thông báo
đó
(iii) Ghi chú ngay sau đây sẽ không được coi là
một mục miễn trừ riêng biệt trong sản xuất và sử dụng như đã nêu ở khoản 2 của
Điều 3. Với điều kiện rằng không có một khối lượng đáng kể của một chất trung
gian hạn-chế-địa-điểm trong-hệ-thống-khép-kín3 có thể gây nhiễm cho con người
và môi trường trong quá trình sản xuất và sử dụng nó, một Bên có quyền gửi
thông báo tới Ban Thư ký để xin phép sử dụng và sản xuất những khối lượng của
một hóa chất được liệt kê trong Phụ lục này làm chất trung gian hạn-chế-địa-điểm
trong-hệ-thống-khép-kín để sử dụng trong phản ứng hóa học tạo các hóa chất khác
mà không biểu hiện tính chất ô nhiễm hữu cơ khó phân hủy như theo các tiêu chí
ở khoản 1 của Phụ lục D. Thông báo này phải gồm các thông tin về toàn bộ quá
trình sản xuất và sử dụng hóa chất đó, hoặc ước tính hợp lý cho các thông tin
này và những thông tin liên quan đến bản chất của các quá trình
hạn-chế-địa-điểm trong-hệ-thống-khép-kín, bao gồm lượng ô nhiễm không thể
chuyển hóa và ô nhiễm lượng vết không chủ ý bất kỳ của một chất bắt đầu trở
thành chất ô nhiễm hữu cơ khó phân hủy trong thành phẩm. Thủ tục này sẽ được áp
dụng trừ trường hợp có quy định khác trong Phụ lục. Ban Thư ký sẽ cung cấp
thông báo đó cho Hội nghị các Bên và cho cộng đồng. Việc sản xuất và sử dụng như
vậy sẽ không được coi là một miễn trừ riêng biệt cho sản xuất và sử dụng. Việc
sản xuất và sử dụng như vậy sẽ phải chấm dứt sau một giai đoạn là 10 năm, trừ
phi một Bên có liên quan trình một thông báo mới cho Ban Thư ký, và khi đó thời
gian sẽ gia hạn thêm 10 năm nếu Hội nghị các Bên không có quyết định khác sau
khi thẩm ddịnh việc sản xuất và sử dụng. Thủ tục thông báo có thể được lặp lại;
(iv) Tất cả các mục miễn trừ riêng biệt trong
Phụ lục này có thể được tiến hành bởi các Bên đã đăng ký các miễn trừ đó theo
quy định của Điều 4.
DDT
(1,1,1-TRICHLORO-2,2-BIS(4-CHLOROPHENYL) ETHANE)
1. Việc sản xuất và sử dụng DDT sẽ được loại
trừ, ngoại trừ trường hợp các Bên đã thông báo cho Ban Thư ký về ý định sản
xuất và/hoặc sử dụng DDT của mình. Do đó, một sổ Đăng ký chất DDT được lập và
phổ biến cho cộng đồng. Ban Thư ký sẽ duy trì sổ Đăng ký DDT.
2. Khi tại địa phương không sẵn có các chất
thay thế an toàn, hiệu quả với giá thành hợp lý, mỗi Bên sản xuất và/hoặc sử
dụng DDT phải hạn chế sự sản xuất và/hoặc sử dụng để diệt trừ sinh vật truyền
bệnh theo các kiến nghị và hướng dẫn của Tổ chức Y tế Thế giới WHO về việc sử
dụng DDT.
3. Trong trường hợp một Bên chưa được đưa vào
sổ Đăng ký DDT, nhưng xác định cần phải có DDT để diệt trừ sinh vật truyền
bệnh, thì Bên đó sẽ thông báo cho Ban thư ký càng sớm càng tốt để được bổ sung
tên trong sổ Đăng ký DDT. Đồng thời, Bên đó sẽ thông báo cho Tổ chức Y tế Thế
giới.
4. Mỗi Bên có sử dụng DDT phải cung cấp thông
tin cho Ban Thư ký và Tổ chức Y tế Thế giới 3 năm một lần về số lượng đã sử
dụng, các điều kiện sử dụng và sự hợp lý của chiến lược kiểm soát dịch bệnh của
Bên đó theo mẫu biểu do Hội nghị các Bên quyết định với sự tư vấn của Tổ chức Y
tế Thế giới.
5. Với mục đích giảm thiểu và loại trừ hoàn
toàn việc sử dụng DDT, Hội nghị các Bên sẽ khuyến khích:
(a) Mỗi Bên có sử dụng DDT hãy xây dựng và thực
hiện một kế hoạch hành động như một phần trong kế hoạch thực hiện được quy định
cụ thể tại Điều 7. Kế hoạch hành động đó sẽ bao gồm:
(i) Xây dựng khung pháp lý và các cơ chế khác
để đảm bảo việc hạn chế sử dụng DDT trong diệt trừ sinh vật truyền bệnh;
(ii) áp dụng các sản phẩm, phương pháp và chiến
lược thay thế thích hợp, kể cả các chiến lược quản lý lâu dài nhằm đảm bảo hiệu
lực liên tục của những thay thế đó;
(iii) Các biện pháp tăng cường công tác y tế và
giảm thiểu tỷ lệ mắc bệnh.
(b) Theo khả năng của mình, các Bên đẩy mạnh
nghiên cứu và phát triển hóa chất thay thế an toàn và các sản phẩm, phương pháp
và chiến lược không dùng hóa chất cho những Bên sử dụng DDT, phù hợp với các
điều kiện của các nước đó và vì mục đích giảm bớt gánh năng bệnh tật về kinh tế
và con người. Các yếu tố được chú trọng khi xem xét các giải pháp thay thế hoặc
giải pháp thay thế kết hợp bao gồm rủi ro sức khỏe con người và các vấn đề môi
trường của những giải pháp đó. Các chất thay thế khả thi cho DDT chỉ được gây
rủi ro không đáng kể đến sức khỏe con người và môi trường, phải phù hợp với
việc kiểm soát bệnh tật trong các điều kiện của các Bên liên quan, và phải được
hỗ trợ bằng các số liệu quan trắc.
6. Bắt đầu từ cuộc họp lần thứ nhất và sau đó
cứ ít nhất 3 năm một lần, Hội nghị các Bên, với sự tư vấn của Tổ chức Y tế Thế
giới, sẽ đánh giá nhu cầu tiếp tục sử dụng DDT để diệt trừ sinh vật truyền bệnh
trên cơ sở các thông tin hiện có về khoa học, kỹ thuật, môi trường và kinh tế,
gồm có:
(a) Việc sản xuất và sử dụng DDT cũng như các
điều kiện được đề ra ở khoản 2;
(b) Khả năng sẵn có, sự phù hợp và việc thực
hiện các thay thế cho DDT; và
(c) Tiến độ nâng cao năng lực của các nước để
chuyển đổi an toàn sang các thay thế đó;.
7. Một Bên được phép rút tên của mình khỏi sổ
Đăng ký DDT vào bất kỳ thời gian nào sau khi đã gửi thông báo bằng văn bản cho
Ban Thư ký. Việc rút tên khỏi sổ Đăng ký sẽ có hiệu lực kể từ ngày được quy
định cụ thể trong thông báo.
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét