|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỐI
CAO Số: 120/QĐ-TANDTC |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Hà Nội, ngày 19 tháng 6 năm 2017 |
BAN HÀNH QUY ĐỊNH XỬ LÝ TRÁCH NHIỆM NGƯỜI GIỮ CHỨC DANH TƯ
PHÁP TRONG TÒA ÁN NHÂN DÂN
------------------------
CHÁNH ÁN TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỐI CAO
Căn cứ Luật tổ chức Tòa án nhân dân năm 2014;
Căn cứ Luật Cán bộ, công chức năm 2008;
Căn cứ Bộ luật lao động năm 2012;
Xét đề nghị của Trưởng ban Ban Thanh tra Tòa án nhân dân tối cao.
QUYẾT ĐỊNH:
Điều 1. Ban
hành kèm theo Quyết định này Quy định xử lý trách nhiệm người giữ chức danh tư
pháp trong Tòa án nhân dân.
Điều 2. Quyết
định này có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01 tháng 07 năm 2017.
Điều 3. Thủ trưởng các đơn vị thuộc Tòa án nhân dân tối cao,
Chánh án Tòa án nhân dân cấp cao, Chánh án Tòa án nhân dân cấp tỉnh, Chánh án
Tòa án nhân cấp huyện, Thẩm phán, Thẩm tra viên, Thư ký trong Tòa án nhân dân
chịu thi hành Quyết định này./.
|
Nơi nhận: |
CHÁNH ÁN |
XỬ LÝ TRÁCH NHIỆM NGƯỜI
GIỮ CHỨC DANH TƯ PHÁP TRONG TÒA ÁN NHÂN DÂN
(Ban hành kèm theo Quyết định số 120/QĐ-TANDTC ngày 19/6/2017 của Chánh án Tòa án nhân dân tối cao)
Điều 1. Phạm vi điều chỉnh và đối
tượng áp dụng
1. Quy định này điều chỉnh việc áp dụng nguyên tắc, hình
thức, hậu quả, thẩm quyền, trình tự, thủ tục, thời hạn xử lý trách nhiệm người
giữ chức danh tư pháp trong Tòa án nhân dân có hành vi vi phạm do thiếu trách
nhiệm hoặc vi phạm trong khi thực hiện nhiệm vụ được giao nhưng chưa đến mức phải
xử lý kỷ luật.
2. Quy định này không điều chỉnh việc xử lý trách nhiệm
Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao và người giữ chức
danh tư pháp trong các Tòa án quân sự.
Trong Quy định này, các từ ngữ sau đây được hiểu
như sau:
1. Người giữ chức danh tư pháp trong
Tòa án nhân dân bao gồm: Chánh án, Phó Chánh án, Thẩm
phán, Thẩm tra viên và Thư ký Tòa án (sau đây gọi là người giữ chức danh
tư pháp).
2. Người đứng đầu là người giữ chức
vụ quản lý cao nhất tại cơ quan, đơn vị trong các Tòa án nhân dân bao gồm: Vụ
trưởng các Vụ Giám đốc, kiểm tra thuộc Tòa án nhân dân tối cao; Chánh án Tòa án
nhân dân cấp cao; Chánh án Tòa án nhân dân cấp tỉnh và Chánh án Tòa án nhân dân
cấp huyện.
3. Bản án, quyết định do Tòa án có thẩm quyền hủy, sửa
do lỗi chủ quan của Thẩm phán là những bản án, quyết định bị hủy, sửa nhưng không thuộc một trong
các trường hợp sau đây:
a) Do phát sinh tình tiết mới của vụ, việc mà quá trình
giải quyết, xét xử Thẩm phán không thể biết;
b) Người tham gia tố tụng thay đổi yêu cầu theo quy định
của pháp luật và sự thay đổi đó là căn cứ hủy, sửa bản án, quyết
định của Tòa án;
c) Sau khi xét xử sơ thẩm xuất hiện tình
tiết mới làm tăng nặng hoặc giảm nhẹ trách nhiệm hình sự nên dẫn đến hủy,
sửa bản án, quyết định hoặc do chuyển biến tình hình, thay đổi
pháp luật dẫn đến hủy, sửa bản án, quyết định của Tòa án.
4. Bản án, quyết định bị sửa nghiêm trọng do lỗi chủ quan
của Thẩm phán là bản án, quyết định bị Tòa án cấp trên sửa trong những trường
hợp sau đây:
a) Bản án, quyết định bị sửa về tội danh, thay đổi
khung hình phạt;
b) Bản án, quyết định bị sửa một phần hoặc
toàn bộ quyết định của Tòa án về yêu cầu của đương sự. Ví dụ: Bản án sơ thẩm
xử chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn, Bản án phúc thẩm xử bác yêu cầu của
nguyên đơn.
5. Thiếu trách nhiệm là việc người giữ chức
danh tư pháp trong Tòa án nhân dân thực hiện chức trách, nhiệm vụ được giao
không đầy đủ; không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nguyên tắc, chế độ, thủ
tục, quy trình, quy phạm, tiêu chuẩn, điều kiện hoặc thời hạn theo quy định của
pháp luật, quy chế, quy định của Toà án nhân dân về công việc cụ thể đó.
6. Kiểm điểm trước cơ quan, đơn vị là hình thức xử lý
trách nhiệm người giữ
chức danh tư pháp có hành vi vi phạm do thiếu trách nhiệm
hoặc vi phạm trong khi thực hiện nhiệm vụ được giao. Người bị xử lý trách nhiệm
phải tự kiểm điểm, đánh giá, nhận xét về hành vi vi phạm trước cơ quan, đơn vị; tập thể cơ
quan, đơn vị đánh giá, góp ý, nhận xét hoặc phê bình để người
bị kiểm điểm
rút ra những bài học kinh nghiệm và giải pháp khắc phục.
7. Tạm dừng thực hiện nhiệm vụ được giao là hình thức xử
lý trách nhiệm người giữ
chức danh tư pháp có hành vi vi phạm do thiếu
trách nhiệm hoặc vi phạm trong khi thực hiện nhiệm vụ được giao làm ảnh hưởng
đến quyền, lợi ích hợp pháp của cơ quan, tổ chức, cá nhân hoặc làm ảnh hưởng
đến uy tín của người giữ chức danh tư pháp và cơ quan, đơn vị nơi người giữ chức
danh tư pháp công tác.
8. Bố trí làm công việc khác là hình thức xử lý trách
nhiệm người giữ chức danh tư pháp có hành vi vi phạm nghiêm trọng trong khi
thực hiện nhiệm vụ được giao, gây thiệt hại cho cơ quan, tổ
chức, cá nhân mà Tòa án phải bồi thường thiệt hại theo Luật trách nhiệm bồi
thường của Nhà nước hoặc làm giảm uy tín của người giữ chức
danh tư pháp và cơ quan, đơn vị nơi người giữ chức danh tư pháp công tác.
9. Chưa xem xét đề nghị bổ nhiệm lại Thẩm
phán là hình thức xử lý trách nhiệm Thẩm phán khi kết thúc nhiệm
kỳ có hành vi vi phạm nghiêm trọng trong khi thực hiện nhiệm vụ được giao. Thẩm
phán bị tạm dừng đề nghị bổ nhiệm lại phải tự kiểm
điểm, trau dồi nghiệp vụ và phải hoàn thành một khóa bồi dưỡng
do Tòa án nhân dân tối cao tổ chức.
10. Không xem xét đề nghị bổ nhiệm lại Thẩm
phán là hình thức xử lý trách nhiệm Thẩm phán khi kết thúc nhiệm
kỳ có hành vi vi phạm nghiêm trọng hoặc hành vi gây thiệt hại cho cơ quan, tổ
chức, cá nhân dẫn đến việc Tòa án phải bồi thường theo Luật trách
nhiệm bồi thường của Nhà nước hoặc làm ảnh hưởng xấu đến uy tín của Tòa án,
niềm tin của nhân dân vào Tòa án.
11. Năm công tác của Tòa án nhân
dân bắt đầu từ ngày 01/10 của năm trước đến hết ngày 30/9 của năm sau. Thẩm
phán có hành vi vi phạm trước đây nhưng tại năm công tác hoặc nhiệm kỳ hiện tại
mới được xác định và hành vi vi phạm đó chưa bị xử lý bằng một hình thức trách
nhiệm thì hành vi vi phạm đó được tính là hành vi xảy ra tại năm công tác hoặc
nhiệm kỳ hiện tại của Thẩm phán.
12. Tổng số vụ, việc được giao giải quyết, xét xử trong
một năm công tác hoặc trong một nhiệm kỳ của Thẩm phán là tổng số
vụ án hình sự, hành chính;
vụ, việc dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thương
mại, lao động thuộc thẩm quyền của Tòa án theo quy định của pháp
luật mà Thẩm phán trực tiếp tham gia giải quyết, xét xử với tư cách chủ tọa hoặc thành
viên Hội đồng xét xử trong một năm công tác hoặc trong một nhiệm kỳ. Việc xác
định số vụ, việc đã
giải quyết, xét xử của Thẩm phán là thành viên
Hội đồng xét xử được tính theo phương thức sau: Đối với Thẩm phán chủ tọa phiên
tòa, mỗi vụ, việc đã
giải quyết, xét xử được tính là 01 vụ, việc; đối với Thẩm
phán khác được tính là 1/2 vụ, việc.
13. Rõ ràng sai trong việc đánh giá chứng cứ là việc Thẩm
phán đánh giá chứng cứ không đúng theo quy định của pháp luật mà khi xem xét nhận thấy ngay việc
đánh giá chứng cứ như vậy là không đúng.
Điều 3. Nguyên tắc xử lý trách nhiệm
1. Kịp thời, khách quan, công bằng,
nghiêm minh đúng quy định.
2. Người có nhiều hành vi vi phạm thì bị xử lý trách nhiệm
về từng hành vi vi phạm và phải bị xử lý bằng hình thức trách nhiệm nặng hơn một mức so với hình thức xử lý trách nhiệm áp dụng đối với hành vi vi phạm
nặng nhất.
3. Không áp dụng hình thức xử lý trách nhiệm thay cho
hình thức kỷ luật và các hình thức xử lý khác.
4. Nghiêm cấm mọi hành vi xâm phạm thân thể, danh dự,
nhân phẩm, tài sản và các lợi ích hợp pháp khác
của người giữ chức danh tư pháp trong quá trình xử lý trách nhiệm.
5. Những người bị xử lý trách nhiệm không đúng quy định
sẽ được kịp thời khôi phục lại nhiệm vụ, quyền hạn và được xem như chưa bị xử
lý trách nhiệm.
6. Chỉ xử lý trách nhiệm người giữ chức danh tư pháp có
hành vi vi phạm liên quan đến hoạt động tư pháp của Tòa án.
7. Việc xử lý trách nhiệm người giữ chức danh tư pháp
được thực hiện khi xác định có hành vi vi phạm.
Điều 4. Hình thức, hậu quả của việc xử
lý trách nhiệm
1. Người giữ chức danh tư pháp trong Tòa án nhân dân có
hành vi vi phạm nhưng chưa đến mức phải xử lý kỷ luật thì có thể bị xử lý trách
nhiệm bằng các hình thức sau đây:
a) Kiểm điểm trước cơ quan, đơn vị;
b) Tạm dừng thực hiện nhiệm vụ được giao;
c) Bố trí làm công việc khác;
d) Chưa xem xét đề nghị bổ nhiệm lại Thẩm
phán;
đ) Không xem xét đề nghị bổ nhiệm lại Thẩm
phán.
2. Hậu quả của việc xử lý trách nhiệm
a) Người bị xử lý trách nhiệm quy định tại điểm a khoản 1
Điều này không được xem xét, đề nghị người có thẩm quyền khen tặng danh hiệu
thi đua từ “Lao động tiên tiến” trở lên khi kết thúc năm công tác;
b) Người bị xử lý trách nhiệm bằng một trong các hình
thức quy định tại các điểm
b, c, d, đ khoản 1 Điều này, ngoài việc chịu hậu quả quy
định tại điểm a khoản 2 Điều này, tùy vào tính chất, mức độ vi phạm phải chịu
các hậu quả khác như: Không được xem xét quy hoạch chức vụ lãnh đạo, quản lý;
không được xem xét cử đi đào tạo nâng cao trình độ chuyên môn, lý luận chính
trị hoặc các hình thức đào tạo khác ở trong nước và nước ngoài; không được xem
xét đề nghị bổ nhiệm chức vụ lãnh đạo, quản lý; không được tham gia kỳ thi tuyển
chọn, nâng ngạch Thẩm phán, kỳ thi chuyển ngạch, nâng ngạch đối với Thẩm tra
viên, Thư ký Tòa án trong thời gian bị xử lý trách nhiệm.
Đối với người bị xử lý trách nhiệm bằng hình thức tạm
dừng thực hiện nhiệm vụ được giao hoặc bố trí làm công việc khác thì thời hạn
chịu hậu quả
được quy định tại điểm b, khoản 2 Điều này là 12 tháng kể từ
ngày quyết định tạm dừng thực hiện nhiệm vụ được giao hoặc quyết định bố trí
làm công việc khác có hiệu lực;
c) Người bị xử lý trách nhiệm bằng hình thức chưa xem xét
đề nghị bổ nhiệm lại Thẩm phán có thời hạn từ 12 tháng trở lên thì ngoài việc
chịu hậu quả của việc xử lý trách nhiệm theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều
này, còn phải hoàn thành một khóa bồi dưỡng
do Tòa án nhân dân tối cao tổ chức. Sau khi hết thời hạn tạm dừng phải có bản
tự kiểm điểm đánh giá kết quả rèn luyện, học tập; ý kiến nhận xét bằng văn bản
của thủ trưởng cơ quan, đơn vị quản lý. Căn cứ kết quả kiểm điểm của Thẩm phán,
Ban Thanh tra phối hợp Vụ Tổ chức - Cán bộ thẩm tra hồ sơ, tham mưu, đề xuất
Chánh án Tòa án nhân dân tối cao trình Hội đồng tuyển chọn, giám
sát Thẩm phán quốc gia xem xét, quyết định;
d) Thẩm phán đang trong thời gian chấp hành quyết định xử
lý trách nhiệm bằng hình thức chưa xem xét đề nghị bổ nhiệm lại, nếu có hành vi
vi phạm trong khi thực hiện nhiệm vụ mới thì tùy theo tính chất, mức độ của
hành vi vi phạm, có thể không được xem xét đề nghị bổ nhiệm lại Thẩm phán;
đ) Thẩm phán bị xử lý trách nhiệm bằng hình thức chưa xem
xét đề nghị bổ
nhiệm lại thì thủ trưởng cơ quan trực tiếp quản
lý giao làm công việc khác trong thời gian chưa xem xét đề nghị bổ nhiệm lại;
e) Thẩm phán bị xử lý trách nhiệm bằng hình thức bố trí
làm công việc khác quy định tại khoản 6 Điều 11 Quy định này, khi kết thúc
nhiệm kỳ vẫn có thể được xem xét đề nghị bổ nhiệm lại Thẩm phán;
g) Thẩm phán bị xử lý trách nhiệm bằng
hình thức không xem xét đề nghị bổ nhiệm lại thì thủ trưởng cơ quan trực tiếp
quản lý giao làm công việc khác;
h) Thẩm phán có hành vi vi phạm quy định tại khoản 1,
khoản 2 và khoản 3 Điều 11 Quy định này, ngoài việc bị dừng thực hiện nhiệm vụ
xét xử để bố trí làm công việc khác còn có thể bị xử lý theo quy định của Luật Cán bộ
công chức, Luật tổ chức Tòa án nhân dân và các văn bản pháp luật có liên quan.
Điều 5. Thẩm quyền xử lý trách nhiệm
1. Trường hợp Thẩm phán giữ chức vụ lãnh
đạo, quản lý là Chánh án, thì Chánh án Tòa án cấp trên trực tiếp quản lý có
thẩm quyền xử lý và quyết định hình thức xử lý trách nhiệm. Chánh án Tòa án
nhân dân cấp tỉnh do Chánh án Tòa án nhân dân tối cao xử lý và quyết định hình
thức xử lý trách nhiệm.
2. Đối với Phó Chánh án, Thẩm phán, Thẩm tra viên, Thư ký
Tòa án thì người đứng đầu cơ quan, đơn vị trực tiếp quản lý hoặc được phân cấp quản lý tiến hành xử
lý trách nhiệm và quyết định hình thức xử lý trách nhiệm.
3. Thẩm phán có hành vi vi phạm bị xử lý trách nhiệm bằng
hình thức chưa xem xét đề nghị bổ nhiệm lại hoặc không xem xét đề nghị bổ nhiệm
lại do Chánh án Tòa án nhân dân tối cao xem xét, quyết định.
4. Đối với người giữ chức danh tư pháp được biệt phái thì
Chánh án Tòa án nhân dân nơi người được biệt phái đến phối hợp với Chánh án Tòa
án nhân dân nơi cử người biệt phái xử lý trách nhiệm người có hành vi vi phạm.
Nếu người giữ
chức danh tư pháp trong thời gian biệt phái có hành vi vi
phạm thì tùy trường hợp cụ thể, xử lý như sau:
a) Nếu bị xử lý bằng hình thức kiểm điểm
thì Tòa án nơi người giữ chức danh tư pháp được biệt phái đến tổ chức kiểm
điểm;
b) Nếu bị xử lý bằng hình thức tạm dừng
thực hiện nhiệm vụ hoặc bố trí làm công việc khác thì Tòa án nơi người giữ chức
danh tư pháp được biệt phái đến lập hồ sơ gửi Tòa án nơi cử
người giữ chức danh tư pháp đi biệt phái xem xét, quyết định. Trường hợp này
việc biệt phái cũng đồng thời chấm dứt;
c) Trường hợp người giữ chức danh tư pháp là Thẩm phán
trung cấp, lãnh đạo Tòa chuyên trách, lãnh đạo cấp phòng của Tòa án nhân dân
cấp tỉnh được biệt phái đến Tòa án nhân dân cấp huyện nếu có hành vi vi phạm,
thì Chánh án Tòa án nhân dân cấp huyện nơi người giữ chức danh tư pháp được
biệt phái đến công tác lập hồ sơ gửi Chánh án Tòa án cấp tỉnh để xử lý.
5. Đối với người giữ chức danh tư pháp đã chuyển công
tác, sau đó mới xác định có hành vi vi phạm tại cơ quan, đơn vị đã công tác thì
người đứng đầu cơ quan quản lý người giữ chức danh tư pháp, nơi xảy ra vi phạm
có thẩm quyền xử lý trách nhiệm, quyết định hình thức xử lý trách
nhiệm và gửi hồ sơ, quyết định xử lý trách nhiệm về cơ quan đang quản lý người
giữ chức danh tư pháp.
6. Người giữ chức danh tư pháp có hành vi vi phạm trong
khi thực hiện nhiệm vụ được giao; trong việc chấp hành quy tắc ứng xử, tác
phong, đạo đức, lối sống được phát hiện qua công tác thanh tra, kiểm tra, giám
sát hoặc qua đơn thư khiếu nại, tố cáo, kiến nghị của công dân hoặc phản ánh
của các phương tiện thông tin đại chúng thì Ban Thanh tra Tòa án nhân dân tối
cao; Phòng Tổ chức cán bộ, Thanh tra và Thi đua khen thưởng tại Tòa án nhân dân
cấp cao, Tòa án nhân dân cấp tỉnh đề xuất Chánh án Tòa án nhân dân tối cao,
Chánh án Tòa án nhân dân cấp cao, Chánh án Tòa án nhân dân cấp tỉnh
xem xét, xử lý trách nhiệm.
7. Người đứng đầu cơ quan, đơn vị có thẩm quyền quản lý
hoặc được phân cấp quản lý người giữ chức danh tư pháp, tổ chức cuộc họp để xử lý trách nhiệm và quyết định hình thức xử lý trách nhiệm. Thành
phần, trình tự, thủ tục xử lý trách nhiệm thực hiện theo Quy định này.
Điều 6. Xác định lỗi, tính chất, mức
độ hậu quả hành vi vi phạm của người giữ chức danh tư pháp
1. Việc xác định lỗi, tính chất, mức độ hậu
quả của hành vi vi phạm do người có thẩm quyền xử lý trách nhiệm xem xét, quyết
định trên cơ sở quy định tại Quy định này và các quy định của pháp luật có liên
quan, yêu cầu nhiệm vụ chính trị của Toà án nhân dân, tình hình chính trị tại
địa phương, thiệt hại xảy ra trên thực tế, mức độ ảnh hưởng xấu đến uy tín của
cơ quan, đơn vị và của người giữ chức danh tư pháp.
2. Việc xác định lỗi, tính chất, mức độ hậu
quả đối với bản án, quyết định bị hủy, sửa căn cứ vào nhận xét, đánh giá của
bản án, quyết định của Tòa án có thẩm quyền đã hủy, sửa bản án, quyết định đó
và thiệt hại xảy ra trên thực tế.
1. Người có thẩm quyền quy định tại Điều 5 Quy định này
chịu trách nhiệm tổ chức cuộc họp để người có hành vi vi phạm
tự kiểm điểm và nhận hình thức trách nhiệm. Việc tổ chức cuộc họp kiểm điểm được
tiến hành như sau:
a) Trường hợp cơ quan quản lý người giữ chức danh tư pháp
có đơn vị trực thuộc thì đơn vị trực thuộc tổ chức cuộc họp kiểm điểm với thành
phần dự họp bao gồm đại diện lãnh đạo chính quyền, cấp ủy, công đoàn, lãnh đạo
cấp phòng và tương đương. Biên bản cuộc họp kiểm điểm ở đơn vị trực thuộc được
gửi đến người đứng đầu cơ quan quản lý người giữ chức danh tư pháp;
b) Trường hợp đơn vị sử dụng người giữ chức danh tư pháp
không có đơn vị trực thuộc (cấp phòng) thì tổ chức cuộc họp kiểm điểm với thành
phần dự họp là toàn thể
công chức, viên chức và người lao động của đơn vị sử dụng
người giữ chức danh tư pháp.
2. Đối với người đứng đầu có hành vi vi phạm thì người
đứng đầu cơ quan quản lý cấp trên trực tiếp theo quy định tại khoản 1 Điều 5
Quy định này có trách nhiệm tổ chức họp kiểm điểm và quyết định thành phần dự
họp.
3. Người có hành vi vi phạm phải làm bản tự kiểm điểm,
trong đó tự nhận hình thức xử lý trách nhiệm. Trường hợp người có hành vi vi
phạm vắng mặt sau 02 lần thông báo triệu tập hợp lệ mà không có lý do chính đáng thì cuộc họp kiểm
điểm vẫn được tiến hành. Trường hợp người bị kiểm điểm vắng
mặt thì trong thời hạn 03 ngày làm việc, kể từ ngày tổ chức cuộc họp
kiểm điểm, biên bản cuộc họp phải được giao cho người bị kiểm điểm. Nếu người
có hành vi vi phạm vắng mặt sau 02 lần thông báo triệu tập hợp lệ, có dấu hiệu
trốn tránh thì bị xử lý trách nhiệm bằng hình thức nặng hơn một mức, trừ trường
hợp người đó bị xử lý trách nhiệm bằng hình thức nặng nhất.
4. Nội dung cuộc họp xử lý người có hành vi vi phạm phải
được lập thành biên bản. Biên bản phải được công khai tại cuộc họp và do người
chủ trì cuộc họp và người ghi biên bản ký. Biên bản cuộc họp phải có kiến nghị
áp dụng hình thức xử lý trách nhiệm đối với người có hành vi vi phạm.
Trong thời hạn 10 ngày làm việc, kể từ ngày kết thúc cuộc
họp kiểm điểm, biên bản cuộc họp kiểm điểm phải được gửi đến người có thẩm
quyền xử lý trách nhiệm theo quy định tại Điều 5 của Quy định này.
5. Việc xử lý trách nhiệm người có hành vi vi phạm phải
được thể hiện bằng văn bản.
Điều 8. Thời hạn xử lý trách nhiệm
1. Thời hạn xử lý trách nhiệm tối đa là 30 ngày, kể từ
ngày xác định người giữ chức danh tư pháp có hành vi vi phạm cho đến ngày người
đứng đầu cơ quan, đơn vị có thẩm quyền ra quyết định xử lý.
2. Khi phát hiện hành vi vi phạm của người giữ chức danh
tư pháp, người đứng đầu cơ quan, đơn vị có thẩm quyền xử lý trách nhiệm quy định tại Điều 5 Quy
định này phải kiểm tra, xác định rõ hành vi vi phạm và ra thông báo bằng văn bản
về việc xem xét xử lý trách nhiệm. Thông báo phải nếu
rõ thời điểm người giữ chức danh tư pháp có hành vi vi phạm, thời điểm xác định
người giữ chức danh tư pháp có hành vi vi phạm và thời hạn xử lý trách nhiệm.
3.
Trường hợp vụ, việc có liên quan đến nhiều người hoặc có tình tiết phức tạp cần
có thời gian thanh tra, kiểm tra để xác minh làm rõ thì
thời hạn xử lý trách nhiệm có thể kéo dài nhưng tối đa không quá 60 ngày.
Chương II
XỬ LÝ TRÁCH NHIỆM NGƯỜI GIỮ CHỨC DANH TƯ PHÁP
Mục 1. XỬ LÝ TRÁCH NHIỆM THẨM PHÁN
Điều 9. Xử lý trách nhiệm bằng hình
thức kiểm điểm trước cơ quan, đơn vị
Thẩm phán bị xử lý trách nhiệm bằng hình thức kiểm điểm
trước cơ quan, đơn vị khi có một trong những hành vi vi phạm sau đây:
1. Thẩm phán có một trong những hành vi vi phạm trong
việc xử lý đơn, thụ lý đơn khởi kiện, đơn yêu cầu giải quyết vụ, việc:
a) Xử lý đơn khởi kiện để quá thời hạn 05 ngày làm việc,
kể từ ngày hết thời hạn quy định tại Khoản 3 Điều 191 Bộ luật tố
tụng dân sự; Khoản 3 Điều 121 Luật tố tụng hành chính;
b) Xử lý đơn yêu cầu giải quyết vụ, việc dân sự để quá
thời hạn 07 ngày làm việc, kể từ ngày hết
thời hạn quy định tại Điều 363 Bộ luật tố tụng dân sự;
c) Thụ lý vụ, việc chậm quá thời hạn 05 ngày làm việc, kể
từ ngày đủ điều kiện thụ lý theo quy định tại Điều 195; khoản 4
Điều 363 Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 125 Luật tố tụng hành
chính;
d) Trả lại đơn khởi kiện, đơn yêu cầu giải quyết việc dân
sự không đúng quy định của pháp luật, gây ảnh hưởng đến quyền, lợi ích hợp
pháp của cơ quan, tổ chức, cá nhân hoặc gây dư luận xấu, ảnh hưởng đến uy tín
của Tòa án nhân dân.
2. Để từ 01 đến 03 vụ, việc quá thời hạn
dưới 06 tháng, kể từ ngày hết thời hạn chuẩn bị xét xử, thời hạn chuẩn bị xét
đơn yêu cầu theo quy định của pháp luật nhưng không có lý do chính đáng.
3. Ra 01 quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời
không đúng quy định của pháp luật hoặc không ra quyết định áp dụng biện pháp
khẩn cấp tạm thời theo quy định của pháp luật.
4. Ra bản án, quyết định, sau khi được công bố trên Cổng
thông tin điện tử Tòa án có nhiều sai sót bị phát hiện, gây dư
luận xấu, ảnh hưởng đến uy tín của Tòa án nhân dân.
5. Thẩm phán chủ tọa phiên tòa, không thực hiện hoặc thực
hiện không đúng việc công bố bản án, quyết định trên Cổng
thông tin điện tử của Tòa án theo quy định của Nghị quyết 03/2017/NQ-HĐTP ngày
16/3/2017 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao.
6. Có hành vi chậm ra bản án, cấp trích lục, giao hoặc
gửi bản án không đúng quy định của pháp luật.
7. Trong thời gian giữ nhiệm kỳ, Thẩm phán có tỷ lệ bản
án, quyết định bị hủy do lỗi chủ quan từ trên 1,16% đến dưới 2% so với tổng số
vụ, việc đã tham gia giải quyết, xét xử.
8. Ra 01 quyết định tạm đình chỉ xét
xử, giải quyết vụ, việc không có căn cứ theo quy định của pháp luật.
9. Trong một năm, Thẩm phán ra bản án xử phạt 01 bị cáo
hình phạt tù cho hưởng án treo, cảnh cáo, phạt tiền (hình phạt
chính), cải tạo không giam giữ không đúng quy định của pháp luật.
Điều 10. Xử lý trách nhiệm bằng hình
thức tạm dừng thực hiện nhiệm vụ được giao
Thẩm phán bị xử lý trách nhiệm bằng hình thức tạm dừng
thực hiện nhiệm vụ được giao trong thời gian 30 ngày khi có một trong những
hành vi vi phạm sau đây:
1. Đã bị xử lý trách nhiệm bằng hình thức
kiểm điểm trước cơ quan, đơn vị nhưng sau đó tiếp tục có một trong những hành
vi vi phạm được quy định tại các khoản từ khoản 1 đến khoản 6 Điều 9 Quy định
này.
2. Ra từ 02 quyết định tạm đình chỉ xét xử, giải quyết
vụ, việc không có căn cứ gây ảnh hưởng đến quyền, lợi ích hợp pháp của cơ quan,
tổ chức, cá nhân.
3. Để từ trên 03 vụ, việc quá thời hạn dưới 06 tháng hoặc
01 vụ, việc trở
lên quá thời hạn từ 06 tháng trở lên kể từ ngày hết thời
hạn chuẩn bị xét xử, thời hạn chuẩn bị xét đơn yêu cầu theo quy định của pháp
luật nhưng không có lý do chính đáng.
4. Chậm ra bản án; cấp trích lục, giao hoặc gửi bản án
không đúng quy định của pháp luật gây ảnh hưởng đến quyền,
lợi ích hợp pháp của cơ quan, tổ chức, cá nhân.
5. Trong một năm công tác, Thẩm phán ra bản án xử phạt 02
bị cáo hình phạt tù cho hưởng án treo, cảnh cáo, phạt tiền (hình phạt chính),
cải tạo không giam giữ không đúng quy định của pháp luật.
6. Ra 01 quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời
không đúng quy định của pháp luật hoặc không ra quyết định áp dụng biện pháp khẩn
cấp tạm thời theo quy định của pháp luật, gây thiệt hại phải bồi thường theo
Luật trách nhiệm bồi thường của Nhà nước.
7. Trong thời gian giữ nhiệm kỳ, Thẩm phán ra bản án,
quyết định bị hủy do lỗi chủ quan chiếm tỷ lệ từ 2% đến dưới 3% trên tổng
số vụ, việc đã tham gia giải quyết, xét xử.
Điều 11. Xử lý trách nhiệm bằng hình
thức bố trí làm công việc khác
Thẩm phán bị xử lý trách nhiệm bằng hình thức bố trí làm
công việc khác khi có một trong những hành vi vi phạm sau đây:
1. Ra bản án tuyên bị cáo có tội, nhưng sau đó có bản án
hoặc quyết định có hiệu lực pháp luật của Tòa án có thẩm quyền tuyên bị cáo đó
không có tội, hoặc hủy bản án để điều tra lại mà sau đó bị can được
đình chỉ điều tra, đình chỉ vụ án vì không có sự việc phạm tội
hoặc hành vi không cấu thành tội phạm.
2. Xét xử bỏ lọt tội phạm đối với 01 bị cáo do lỗi chủ
quan trong trường hợp Viện kiểm sát truy tố, Thẩm phán tuyên bị cáo
không có tội nhưng sau đó Tòa án có thẩm quyền ra bản án tuyên bị cáo có tội.
3. Ra bản án, quyết định không đúng pháp luật, gây thiệt
hại cho cơ quan, tổ chức, cá nhân dẫn đến việc Tòa án phải bồi thường theo Luật
trách nhiệm bồi thường của Nhà nước.
4. Có bản án, quyết định bị hủy vì rõ ràng sai trong
việc: Xem xét, đánh giá chứng cứ; vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng; áp dụng
pháp luật không đúng gây thiệt hại đến tài sản Nhà nước, quyền và lợi ích hợp
pháp của cơ quan, tổ chức, cá nhân hoặc gây ảnh hưởng đến uy tín của Tòa án.
5. Trong thời gian giữ nhiệm kỳ, Thẩm phán ra bản án,
quyết định bị hủy do lỗi chủ quan chiếm tỷ lệ từ 3% trở lên trên
tổng số vụ, việc đã tham gia giải quyết, xét xử.
6. Trong một năm công tác, Thẩm phán ra bản án xử phạt 03
bị cáo trở lên hình phạt tù cho hưởng án treo, cảnh cáo, phạt tiền (hình phạt
chính), cải tạo không giam giữ không đúng quy định của pháp luật.
7. Trong một năm công tác, Thẩm phán áp dụng hình phạt tù
cho hưởng án treo, hình phạt cảnh cáo, phạt tiền (hình phạt chính), cải tạo
không giam giữ không đúng quy định của pháp luật đối với 01 bị cáo phạm tội
tham nhũng hoặc 01 bị cáo phạm tội khác nhưng gây dư luận xấu.
8. Đã bị xử lý trách nhiệm bằng hình thức tạm dừng thực
hiện nhiệm vụ được giao theo quy định tại khoản 5 Điều 10 Quy định này, nhưng
sau đó tiếp tục ra 01 quyết định áp dụng biện pháp khẩn
cấp tạm thời không đúng quy định của pháp luật hoặc không ra quyết định áp dụng
biện pháp khẩn cấp tạm thời theo quy định của pháp luật gây thiệt hại dẫn đến Tòa án
phải bồi thường theo Luật trách nhiệm bồi thường của Nhà nước.
Điều 12. Xử lý trách nhiệm bằng hình
thức chưa xem xét đề nghị bổ nhiệm lại Thẩm phán
Khi kết thúc nhiệm kỳ, Thẩm phán bị xử lý trách nhiệm
bằng hình thức chưa xem xét đề nghị bổ nhiệm lại trong những trường hợp sau đây:
1. Thẩm phán được giao giải quyết, xét xử dưới 100 vụ,
việc có bản án, quyết định bị hủy do lỗi chủ quan chiếm tỷ lệ từ 1,5 % đến dưới
3% trên tổng số vụ, việc đã giải quyết, xét xử.
2. Thẩm phán được giao giải quyết, xét xử từ 100 vụ, việc
trở lên có bản án, quyết định bị hủy do lỗi chủ quan chiếm tỷ lệ từ trên 1,16%
đến dưới 3% trên tổng số vụ, việc đã giải quyết, xét xử.
3. Để từ 03 vụ, việc quá thời hạn giải quyết, xét xử theo
quy định của pháp luật từ 12 tháng trở lên nhưng không có lý do chính đáng.
4. Ra bản án xử phạt 01 đến 03 bị cáo hình phạt tù cho
hưởng án treo, cảnh cáo, phạt tiền (hình phạt chính), cải
tạo không giam giữ không đúng quy định của pháp luật.
Điều 13. Xử lý trách nhiệm bằng hình
thức không xem xét đề nghị bổ nhiệm lại Thẩm phán
Khi kết thúc nhiệm kỳ, Thẩm phán bị xử lý trách nhiệm
bằng hình thức không xem xét đề nghị bổ nhiệm lại trong những trường hợp sau
đây:
1. Có tổng số bản án, quyết định bị hủy do lỗi chủ quan
chiếm tỷ lệ trên 3% so với tổng số vụ, việc đã giải quyết, xét xử.
2. Có một trong những hành vi vi phạm quy định từ khoản 1
đến khoản 4 Điều 11 Quy định này.
3. Ra bản án xử phạt 04 bị cáo trở lên hình phạt tù cho
hưởng án treo, cảnh cáo, phạt tiền (hình phạt chính), cải
tạo không giam giữ không đúng quy định của pháp luật.
4. Quyết định hình phạt tù cho hưởng án treo, hình phạt
cảnh cáo, phạt tiền (hình phạt chính), cải tạo không giam giữ không đúng quy
định của pháp luật đối với bị cáo phạm tội tham nhũng hoặc đối với bị
cáo phạm tội khác gây dư luận xấu.
5. Trong nhiệm kỳ, Thẩm phán có từ hai lần trở lên bị xử
lý trách nhiệm bằng hình thức tạm dừng thực hiện nhiệm vụ được giao, quy định
tại khoản 6 Điều 10 Quy định này.
6. Ban hành các quyết định khác không đúng quy định của
pháp luật, gây thiệt hại nghiêm trọng đến tài sản, quyền lợi ích hợp
pháp của cơ quan, tổ chức, cá nhân mà Tòa án phải bồi thường theo Luật trách
nhiệm bồi thường của Nhà nước.
Điều 14. Trách nhiệm của Thẩm phán
trong Hội đồng xét xử
Việc xác định trách nhiệm của các Thẩm phán trong Hội
đồng xét xử được thực hiện như sau:
1. Đối với Thẩm phán chủ tọa có 01 bản án, quyết định bị
hủy do lỗi chủ quan thì tính là 01 vụ, việc; trừ trường hợp ý kiến của Thẩm
phán khác với ý kiến của Hội đồng xét xử nhưng là thiểu số; ý kiến đó phải được
thể hiện bằng văn bản và lưu hồ sơ vụ án.
2. Đối với các Thẩm phán còn lại, mỗi bản án, quyết định
bị hủy do lỗi chủ quan thì tính bằng 1/2 vụ,
việc; trừ trường hợp ý kiến của Thẩm phán khác với ý kiến của Hội đồng xét xử
nhưng là thiểu số; ý kiến đó phải được thể hiện bằng văn bản và lưu hồ sơ vụ
án.
3. Trường hợp bản án, quyết định bị hủy một phần do lỗi
chủ quan thì tính bằng 1/2 vụ, việc đối với Thẩm phán
chủ tọa; 1/4 vụ, việc đối với Thẩm phán thành viên khác; trừ trường hợp
ý kiến của Thẩm phán khác với ý kiến của Hội đồng xét xử nhưng là thiểu
số; ý kiến đó phải được thể hiện bằng văn bản và lưu hồ sơ vụ án.
4. Tỷ lệ bản án, quyết định bị hủy do lỗi chủ quan được
tính trên tổng số vụ, việc mà Thẩm phán được phân công làm
chủ tọa phiên tòa, phân công giải quyết việc Dân sự và tham gia Hội đồng xét xử.
Điều 15. Trách nhiệm của Thẩm phán khi
ra bản án, quyết định bị sửa nghiêm trọng do lỗi chủ quan
Thẩm phán được phân công giải quyết vụ, việc nhưng ra bản
án hoặc quyết định bị sửa nghiêm trọng do lỗi chủ quan nhưng chưa đến mức bị xử
lý kỷ luật thì bị xử lý trách nhiệm theo Quy định này. Trách nhiệm đối với 1
bản án, quyết định bị sửa nghiêm trọng do lỗi chủ quan của Thẩm phán tính bằng 1/2 bản án, quyết định bị hủy do lỗi chủ quan.
Điều 16. Quy định về thời gian chưa
xem xét đề nghị bổ nhiệm lại Thẩm phán
1. Khi kết thúc nhiệm kỳ, Thẩm phán đã giải quyết, xét xử
dưới 100 vụ, việc có tỷ lệ bản án, quyết định bị hủy do lỗi chủ quan quy định
tại khoản 1 Điều 12 Quy định này thì thời gian chưa xem xét đề nghị bổ nhiệm
lại được thực hiện như sau:
a) Có bản án, quyết định bị hủy do lỗi chủ quan trên tổng
số vụ, việc đã giải quyết, xét xử trong nhiệm kỳ chiếm tỷ lệ từ 1,5% đến
2% thì chưa xem xét đề nghị bổ nhiệm lại trong thời hạn 06 tháng;
b) Có bản án, quyết định bị hủy do lỗi chủ quan trên tổng
số vụ, việc đã giải quyết, xét xử trong nhiệm kỳ chiếm tỷ lệ từ trên 2% đến
2,4% thì chưa xem xét đề nghị bổ nhiệm lại trong thời hạn 09 tháng;
c) Có bản án, quyết định bị hủy do lỗi chủ quan trên tổng
số vụ, việc đã giải quyết, xét xử trong nhiệm kỳ chiếm tỷ lệ từ trên 2,4% đến
2,6% thì chưa xem xét đề nghị bổ nhiệm lại trong thời hạn 12 tháng;
d) Có bản án, quyết định bị hủy do lỗi chủ quan trên tổng
số vụ, việc đã giải quyết, xét xử trong nhiệm kỳ chiếm tỷ lệ từ trên 2,6% đến
dưới 3% thì chưa xem xét đề nghị bổ nhiệm lại trong thời hạn 18 tháng.
2. Khi kết thúc nhiệm kỳ, Thẩm phán đã giải quyết, xét xử
từ 100 vụ, việc trở lên có tỷ lệ bản án, quyết định bị hủy do lỗi chủ quan quy
định tại khoản 2 Điều 12 Quy định này thì thời gian chưa xem xét đề nghị bổ
nhiệm được thực hiện như sau:
a) Có bản án, quyết định bị hủy do lỗi chủ quan trên tổng
số vụ, việc đã
giải quyết, xét xử trong nhiệm kỳ chiếm tỷ lệ từ trên
1,16% đến 1,2% thì chưa xem xét đề nghị bổ nhiệm lại trong thời hạn 06 tháng;
b) Có bản án, quyết định bị hủy do lỗi chủ quan trên tổng
số vụ, việc đã giải quyết, xét xử trong nhiệm kỳ chiếm tỷ lệ từ trên 1,2 % đến
1,5 % thì chưa xem xét đề nghị bổ nhiệm lại trong thời hạn 09 tháng;
c) Có bản án, quyết định bị hủy do lỗi
chủ quan trên tổng số vụ, việc đã giải quyết, xét xử trong nhiệm kỳ chiếm tỷ lệ
từ trên 1,5% đến 2% thì chưa xem xét đề nghị bổ nhiệm lại trong thời hạn 12
tháng;
d) Có bản án, quyết định bị hủy do lỗi chủ quan trên tổng
số vụ, việc đã
giải quyết, xét xử trong nhiệm kỳ chiếm tỷ lệ từ trên 2%
đến dưới 3% thì chưa xem xét đề nghị bổ nhiệm lại trong thời hạn 18 tháng.
3. Khi kết thúc nhiệm kỳ, Thẩm phán có bản án xử phạt bị
cáo hình phạt tù cho hưởng án treo, cảnh cáo, phạt tiền (hình phạt chính), cải
tạo không giam giữ không đúng quy định của pháp luật thì thời gian chưa xem xét
đề nghị bổ nhiệm lại được thực hiện như sau:
a) Ra bản án xử phạt 01 bị cáo hình phạt tù cho hưởng án
treo, cảnh cáo, phạt tiền (hình phạt chính), cải tạo không giam giữ không đúng quy định của pháp
luật thì chưa xem xét đề nghị bổ nhiệm lại trong thời hạn 09 tháng;
b) Ra bản án xử phạt 02 bị cáo hình phạt tù cho hưởng án
treo, cảnh cáo, phạt tiền (hình phạt chính), cải tạo không giam giữ không đúng
quy định của pháp luật thì chưa xem xét đề nghị bổ nhiệm lại trong thời hạn 12
tháng;
c) Ra bản án xử phạt 03 bị cáo hình phạt tù cho hưởng án
treo, hình phạt cảnh cáo, phạt tiền (hình phạt chính), cải tạo không giam giữ
không đúng quy định của pháp luật thì chưa xem xét đề nghị bổ nhiệm
lại trong thời hạn 18 tháng.
4. Khi kết thúc nhiệm kỳ, Thẩm phán để từ 03 vụ, việc quá
thời hạn giải quyết, xét xử theo quy định của pháp luật từ 12 tháng trở lên
nhưng không có lý do chính đáng thì chưa xem xét đề nghị
bổ nhiệm lại trong thời hạn 12 tháng.
1. Đối với Tòa án nhân dân cấp cao, Tòa án nhân dân cấp
tỉnh: Chánh án Tòa án nhân dân cấp cao, Chánh án Tòa án
nhân dân cấp tỉnh tổ chức cuộc họp kiểm điểm. Thành phần tham dự bao gồm:
Tập thể lãnh đạo, đại diện cấp ủy, công đoàn, Ủy ban Thẩm phán,
đại diện lãnh đạo các Tòa chuyên trách, đại diện lãnh đạo các phòng chức
năng của cơ quan trực tiếp quản lý, sử dụng Thẩm phán. Thẩm phán có hành vi vi
phạm đọc bản tự kiểm điểm; các thành viên dự họp nhận xét, đánh giá về tính
chất, mức độ của hành vi vi phạm, đề nghị thời gian chưa xem xét đề nghị bổ
nhiệm lại hoặc kiến nghị không
xem xét đề nghị bổ nhiệm lại Thẩm phán.
Hồ sơ đề nghị xử lý trách nhiệm Thẩm phán gửi đến Toà án nhân dân tối
cao (qua Ban Thanh tra) để thẩm tra.
2. Đối với Tòa án nhân dân cấp huyện:
a) Chánh án Tòa án nhân dân cấp huyện tổ chức cuộc họp kiểm điểm. Thành phần tham dự bao gồm: Tập thể lãnh
đạo, đại diện cấp ủy, công đoàn và các Thẩm phán đang công tác tại cơ quan. Thẩm
phán có hành vi vi phạm đọc bản tự kiểm điểm; các thành viên dự họp nhận xét,
đánh giá về tính chất, mức độ của hành vi vi phạm, đề nghị thời gian
chưa xem xét đề nghị bổ nhiệm lại hoặc kiến nghị không
xem xét đề nghị bổ nhiệm lại Thẩm phán. Hồ sơ đề nghị xử lý trách nhiệm gửi đến Chánh án Tòa án nhân dân cấp tỉnh. Trong thời
hạn 07 ngày làm việc, Tòa án nhân dân cấp tỉnh gửi hồ sơ đề nghị xử lý trách nhiệm
đến Tòa án nhân dân tối cao (qua Ban Thanh tra) để thẩm tra.
b) Đối với Thẩm phán trung cấp được biệt phái công tác
tại Tòa án nhân dân cấp huyện thì Chánh án Tòa án nhân cấp huyện tổ chức cuộc
họp kiểm điểm. Lập hồ sơ đề nghị xử lý trách nhiệm gửi đến Chánh án Tòa án nhân
dân cấp tỉnh. Sau khi nhận được hồ sơ đề nghị xử lý trách nhiệm, trong thời hạn 07
ngày làm việc, Chánh án Tòa án nhân dân cấp tỉnh có văn bản đánh giá, nhận xét,
kiến nghị gửi kèm hồ sơ đề nghị xử lý trách nhiệm đến Tòa án
nhân dân tối cao (qua Ban Thanh tra) để thẩm tra.
3. Nội dung cuộc họp xử lý trách nhiệm
người có hành vi vi phạm phải được lập thành biên bản. Biên bản phải được công
khai tại cuộc họp và do người chủ trì cuộc họp và người ghi biên bản ký. Biên
bản cuộc họp phải có kiến nghị áp dụng hình thức xử lý trách nhiệm đối với
người có hành vi vi phạm.
4. Sau khi nhận được hồ sơ đề nghị xử lý trách nhiệm Thẩm
phán của Toà án nhân dân trực tiếp quản lý, sử dụng Thẩm phán gửi đến hoặc
trong quá trình thực hiện nhiệm vụ thanh tra, kiểm tra, giám sát Thẩm phán,
phát hiện Thẩm phán thuộc trường hợp sẽ bị xử lý trách nhiệm bằng hình thức chưa xem xét
đề nghị bổ nhiệm lại hoặc không xem xét đề nghị bổ nhiệm lại thì Ban Thanh tra
Toà án nhân dân tối cao phối hợp với Vụ Tổ chức - Cán bộ và cơ quan trực tiếp quản lý, sử
dụng Thẩm phán, thẩm tra hồ sơ giám sát Thẩm phán, nghiên cứu, đề xuất Chánh án Toà án nhân
dân tối cao xem xét, quyết định.
5. Căn cứ kết quả phiên họp Hội đồng tuyển chọn, giám sát
Thẩm phán quốc gia, Vụ Tổ chức - Cán bộ phối hợp với Ban Thanh tra thông báo
đến Chánh án Toà án nhân dân trực tiếp quản lý, sử dụng Thẩm phán có hành vi vi
phạm biết để thực hiện và lưu hồ sơ giám sát Thẩm phán.
1. Thẩm phán có bản án, quyết định bị Tòa án có thẩm
quyền hủy, sửa do lỗi chủ quan, nếu không đồng ý với quyết định đó
thì có thể kiến nghị đến Tòa án có thẩm quyền để xem xét, giải quyết.
2. Trình tự, thủ tục xem xét đơn kiến nghị đối với bản
án, quyết định của Thẩm phán bị Tòa án nhân dân cấp tỉnh hủy, sửa do lỗi chủ
quan, thực hiện như sau:
a) Bản án, quyết định của Thẩm phán Tòa án nhân dân cấp
huyện bị Tòa án nhân dân cấp tỉnh hủy, sửa, nếu Thẩm phán không đồng ý với
quyết định đó
thì gửi đơn kiến nghị, kèm theo bản
án, quyết định bị hủy, sửa và các tài liệu có liên quan đến Tòa án nhân dân cấp
cao để xem xét, giải quyết;
b) Trong thời hạn 30 ngày, kể từ ngày nhận được đơn kiến
nghị và các tài liệu gửi kèm theo của Thẩm phán, Chánh án Tòa án nhân dân cấp
cao có trách nhiệm chỉ đạo tổ chức nghiên cứu, giải quyết và thông báo cho Thẩm
phán có đơn
kiến nghị được biết kết quả; đồng thời gửi Ban Thanh tra
Tòa án nhân dân tối cao 01 ban để phục vụ công tác giám sát Thẩm phán.
3. Trình tự, thủ tục xem xét đơn kiến nghị đối với bản
án, quyết định của Thẩm phán bị Tòa án nhân dân cấp cao hoặc Hội đồng Thẩm phán
Tòa án nhân dân tối cao hủy, sửa do lỗi chủ quan, thực hiện như sau:
a) Bản án, quyết định của Thẩm phán bị Tòa án nhân dân
cấp cao hủy, sửa do lỗi chủ quan, nếu Thẩm phán không đồng ý với
quyết định của Tòa án nhân dân cấp cao thì gửi đơn kiến nghị đến Tòa án nhân
dân tối cao (qua Ban Thanh tra) để xem xét, đề xuất;
b) Bản án, quyết định của Thẩm phán bị Hội đồng Thẩm phán
Tòa án nhân dân tối cao hủy, sửa do lỗi chủ quan, nếu Thẩm phán không đồng ý với quyết định
của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao thì gửi đơn kiến nghị, kèm theo
bản án, quyết định bị hủy, sửa và các tài liệu có liên quan đến Tòa án nhân dân
tối cao (qua Bản Thanh tra) để nghiên cứu, đề xuất;
c) Thẩm phán có đơn kiến nghị Tòa án nhân dân cấp cao xem
xét, giải quyết, nếu không đồng ý với kết quả giải quyết của Tòa án nhân dân
cấp cao thì gửi đơn kiến nghị đến Tòa án nhân dân tối cao (qua Ban Thanh tra)
để nghiên cứu, đề xuất;
d) Căn cứ vào tính chất vụ, việc, Ban Thanh tra chuyển
đơn kiến nghị, kèm theo các tài liệu có liên quan của Thẩm phán đến các Vụ Giám
đốc, kiểm tra để xem xét, giải quyết. Trong thời hạn 30 ngày, kể từ ngày nhận
được đơn kiến nghị và các tài liệu do Ban Thanh tra chuyển đến, các Vụ giám
đốc, kiểm tra có trách nhiệm tổ chức nghiên cứu, đề xuất, xây dựng tờ trình,
trình Chánh án Tòa án nhân dân tối cao xem xét, quyết định; đồng thời thông báo cho Ban Thanh tra biết kết quả để
trả lời cho người có đơn kiến nghị;
đ) Ngay sau khi nhận được ý kiến của Chánh án Tòa án nhân
dân tối cao hoặc người được Chánh án ủy quyền do các Vụ Giám đốc, kiểm tra
chuyển đến, Ban Thanh tra thông báo cho Thẩm phán có đơn kiến nghị được biết và
lưu hồ sơ giám sát Thẩm phán.
Mục 2. XỬ LÝ TRÁCH NHIỆM THẨM TRA VIÊN
Điều 19. Xử lý trách nhiệm bằng hình
thức kiểm điểm trước cơ quan, đơn vị
Thẩm tra viên bị xử lý trách nhiệm bằng hình thức kiểm
điểm trước cơ quan, đơn vị khi có một trong những hành vi vi phạm sau đây:
1. Không hoàn thành chỉ tiêu công tác chuyên môn, nghiệp
vụ hàng tháng, quý, năm theo quy định của cơ quan, đơn vị mà không có lý do
chính đáng.
2. Vi phạm trong việc yêu cầu, thu thập,
tiếp nhận các tài liệu, chứng cứ do đương sự giao nộp theo quy định của pháp luật.
3. Thiếu trách nhiệm dẫn đến tờ trình, báo
cáo, quyết định, công văn và các văn bản khác do Thẩm tra viên xây dựng, soạn
thảo có nhiều lỗi, sai sót làm ảnh hưởng đến chất lượng giải quyết vụ, việc.
4. Chậm soạn thảo, xây dựng tờ
trình, quyết định, báo cáo, công văn và các văn bản khác khi đã được người có thẩm
quyền chỉ đạo, giao thực hiện làm ảnh hưởng đến tiến độ giải quyết vụ, việc.
5. Đem hồ sơ vụ án, tài liệu trong hồ sơ vụ án
ra khỏi cơ quan hoặc sao chụp hồ sơ tài liệu không vì nhiệm vụ được giao hoặc
không được sự đồng ý của người có thẩm quyền.
6. Thiếu trách nhiệm trong việc thực hiện quy định về
cấp, giao, gửi hoặc thông báo các quyết định, văn bản tố tụng, văn bản thi hành
án hình sự gây ảnh hưởng đến quyền, lợi ích hợp pháp của đương
sự; bị cáo, người bị kết án, người bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên
quan.
7. Vi phạm các quy định khác của pháp luật, quy định của
Toà án nhân dân tối cao về chức trách, nhiệm vụ của Thẩm tra viên.
Điều 20. Xử lý trách nhiệm bằng hình
thức tạm dừng thực hiện nhiệm vụ được giao
Thẩm tra viên bị xử lý trách nhiệm bằng hình thức tạm
dừng thực hiện nhiệm vụ được giao trong thời hạn 30 ngày, khi có một trong
những hành vi vi phạm sau đây:
1. Trình, báo cáo không đầy đủ, báo cáo sai sự thật về
các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án làm ảnh hưởng trực tiếp đến việc xem xét, đánh
giá và quyết định của người có thẩm quyền.
2. Thiếu trách nhiệm dẫn đến để 01 hồ sơ vụ,
việc quá thời hạn giám đốc thẩm, tái thẩm dẫn đến vụ, việc không
thể kháng nghị hoặc ra văn bản trả lời đương sự.
3. Vi phạm trong tham mưu, đề xuất người có thẩm quyền
ban hành quyết định hoãn thi hành án dân sự trái quy định của pháp luật, gây
thiệt hại đến quyền, lợi ích hợp pháp của đương sự.
4. Thiếu trách nhiệm, không kịp thời tham mưu, đề xuất
hoặc tham mưu, đề
xuất sai dẫn đến người có Thẩm quyền
không ban hành hoặc ban hành 01 quyết định thi hành án phạt tù, quyết định hoãn
hoặc tạm đình chỉ chấp hành hình phạt tù, quyết định giảm hoặc miễn thời gian
chấp hành hình phạt tù; các quyết định khác thuộc thẩm quyền của Toà
án trái quy định của pháp luật.
5. Đã bị xử lý trách nhiệm bằng hình thức kiểm điểm trước
cơ quan, đơn vị nhưng sau đó tiếp tục có một trong những hành vi vi phạm quy
định tại Điều 19 Quy định này.
Điều 21. Xử lý trách nhiệm bằng hình
thức bố trí làm công việc khác
1. Thẩm tra viên có một trong những hành vi vi phạm đã bị
xử lý trách nhiệm bằng hình thức tạm dừng thực hiện nhiệm vụ được giao nhưng
sau đó tiếp tục có một trong những hành vi vi phạm quy định tại Điều 20 của Quy
định này, thì bị xử lý
trách nhiệm bằng hình thức bố trí làm công việc khác
trong thời hạn 18 tháng.
2. Thẩm tra viên bị xử lý trách nhiệm bằng hình thức bố
trí làm công việc khác trong thời hạn 18 tháng, nếu sau đó tiếp tục có hành vi
vi phạm trong khi thực hiện nhiệm vụ được giao, thì bị bố trí làm công việc
khác không thời hạn.
Mục 3. XỬ LÝ TRÁCH NHIỆM THƯ KÝ TÒA ÁN
Điều 22. Xử lý trách nhiệm bằng hình
thức kiểm điểm trước cơ quan, đơn vị
Thư ký Tòa án bị xử lý trách nhiệm bằng hình thức kiểm
điểm trước cơ quan, đơn vị khi có một trong những hành vi vi phạm sau đây:
1. Từ chối nhận đơn khởi kiện, đơn yêu cầu giải
quyết vụ, việc trái quy định của pháp luật.
2. Không ghi biên bản, biên nhận, giấy hẹn cho người nộp
đơn, không ghi số nhận đơn hoặc không chuyển đơn cho người có thẩm
quyền xem xét theo quy định của pháp luật làm ảnh hưởng đến quyền, lợi ích hợp
pháp của cơ quan, tổ chức, cá nhân.
3. Đem hồ sơ vụ, việc, tài liệu trong hồ sơ vụ, việc ra
khỏi cơ quan hoặc sao chụp hồ sơ tài liệu không vì nhiệm vụ được
giao hoặc không được sự đồng ý của người có thẩm quyền.
4. Thiếu trách nhiệm trong khi thực hiện quy định về cấp,
giao, gửi hoặc thông báo các quyết định, văn bản tố tụng theo quy định của pháp
luật, gây ảnh hưởng đến quyền, lợi ích hợp pháp của đương sự; bị cáo,
người bị kết án, người bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan.
5. Ghi không trung thực diễn biến tại phiên tòa, phiên
hòa giải, phiên họp, biên bản lấy lời khai và các loại biên bản khác khi được
người có thẩm quyền phân công, làm ảnh hưởng đến kết quả giải quyết vụ, việc.
6. Vi phạm các quy định khác của pháp luật, quy chế, quy
định của Toà án nhân dân về chức trách, nhiệm vụ của Thư ký Tòa án.
Điều 23. Xử lý trách nhiệm bằng hình
thức tạm dừng thực hiện nhiệm vụ được giao
Thư ký Tòa án bị xử lý trách nhiệm bằng hình thức tạm
dừng thực hiện nhiệm vụ được giao trong thời hạn 30 ngày, khi có một trong
những hành vi vi phạm sau đây:
1. Thiếu trách nhiệm, dẫn đến trong một năm công tác có
từ 02 hành vi vi phạm ghi không đầy đủ, không đúng sự thật mọi diễn biến tại
phiên tòa, phiên hòa giải, phiên họp, biên bản lấy lời khai và các loại biên
bản khác khi được người có thẩm quyền phân công, làm ảnh hưởng đến quyền và lợi
ích hợp pháp của cơ quan, tổ chức, cá nhân.
2. Thiếu trách nhiệm, dẫn đến trong một năm công tác có
từ 02 hành vi vi phạm quy định về cấp, giao, gửi hoặc thông báo các quyết định,
văn bản tố tụng theo quy định của pháp luật, gây thiệt hại đến quyền,
lợi ích hợp pháp của đương sự, bị cáo, người bị hại, người có quyền lợi, nghĩa
vụ liên quan trong vụ, việc.
3. Đã bị xử lý trách nhiệm bằng hình thức
kiểm điểm trước cơ quan, đơn vị nhưng sau đó tiếp tục có một trong những hành
vi vi phạm quy định tại Điều 22 Quy định này.
Điều 24. Xử lý trách nhiệm bằng hình
thức bố trí làm công việc khác
1. Thư ký Tòa án có một trong những hành vi vi phạm đã bị
xử lý trách nhiệm bằng hình thức tạm dừng thực hiện nhiệm vụ được giao nhưng
sau đó tiếp tục có một trong những hành vi vi phạm quy định tại Điều 23 của Quy
định này thì bị xử lý trách nhiệm bằng hình thức bố trí làm công việc khác
trong thời hạn 18 tháng.
2. Thư ký Tòa án bị xử lý trách nhiệm bằng hình thức bố
trí làm công việc khác trong thời hạn 18 tháng, nếu sau đó tiếp tục có hành vi
vi phạm trong khi thực hiện nhiệm vụ được giao thì bị bố trí làm công việc khác
không thời hạn.
Mục 4. XỬ LÝ TRÁCH NHIỆM NGƯỜI ĐỨNG
ĐẦU
Điều 25. Xử lý trách nhiệm bằng hình
thức kiểm điểm trước cơ quan, đơn vị
Người đứng đầu cơ quan, đơn vị trong các Tòa án nhân dân
bị xử lý trách nhiệm bằng hình thức kiểm điểm trước cơ quan, đơn vị khi có một
trong những hành vi vi phạm trong công tác quản lý, chỉ đạo, điều
hành sau đây:
1. Trong một năm công tác, cơ quan, đơn vị thuộc quyền
quản lý có số người giữ chức danh tư pháp bị xử lý trách nhiệm chiếm tỷ lệ từ
10% trở lên trên tổng số người giữ chức danh tư pháp của cơ quan, đơn vị.
2. Thiếu trách nhiệm hoặc không tổ chức thực hiện việc
công bố bản án, quyết định trên Cổng thông tin điện tử của
Tòa án theo quy định tại Nghị quyết 03/2017/HĐPT ngày 16 tháng 3 năm 2017 của
Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao.
3. Trong cơ quan, đơn vị có Thẩm phán để từ 02 vụ, việc
quá thời hạn giải quyết, xét xử từ 12 tháng trở lên theo quy
định của Bộ luật tố tụng hình sự, Bộ luật tố tụng dân sự, Luật tố tụng hành
chính.
4. Trong cơ quan, đơn vị có Thẩm tra viên để từ 01 vụ,
việc quá thời hạn xem xét, giải quyết theo thủ tục giám đốc thẩm,
tái thẩm theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự, Bộ luật tố tụng
dân sự, Luật tố
tụng hành chính dẫn đến vụ, việc không thể
kháng nghị hoặc trả lời đơn cho đương sự.
5. Thiếu trách nhiệm để xảy
ra vi phạm trong việc tổ chức công tác xét xử của Tòa án nhân dân thuộc
quyền quản lý, gây ảnh hưởng đến uy tín, uy nghiêm, chất lượng công
tác xét xử, giải quyết các vụ, việc.
6. Để quá thời hạn xử lý hoặc không xử lý
trách nhiệm người giữ chức danh tư pháp có hành vi vi phạm bị xử lý theo quy
định này.
7. Không chỉ đạo thực hiện nhiệm vụ báo cáo hoặc báo cáo
không kịp thời theo yêu cầu của Tòa án cấp trên khi đã có văn bản nhắc nhở lần
thứ hai.
Người
đứng đầu cơ quan, đơn vị có người giữ chức danh tư pháp thuộc quyền quản lý
thực hiện hành vi vi phạm liên quan đến tiêu cực, tham nhũng thì bị xử lý theo
quy định của Luật phòng, chống tham nhũng và các quy định khác có liên quan.
Chương III
1. Quy định này có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01 tháng
07 năm 2017.
2. Đối với các bản án, quyết định đã giải
quyết, xét xử sơ thẩm, phúc thẩm, giám đốc thẩm,
tái thẩm trong nhiệm kỳ Thẩm phán bị Tòa án có thẩm quyền hủy, sửa trước ngày
Quy định này có hiệu lực vẫn được xem xét để xử lý trách nhiệm Thẩm phán khi bổ
nhiệm nâng ngạch hoặc bổ nhiệm lại Thẩm phán.
1. Thủ trưởng các đơn vị thuộc Toà án nhân dân tối cao,
Chánh án Toà án nhân dân cấp cao, Chánh án Toà án nhân dân cấp tỉnh,
Chánh án Tòa án nhân dân cấp huyện chịu trách nhiệm quán triệt và tổ chức thực
hiện Quy định này.
2. Các đơn vị trong Tòa án nhân dân có trách nhiệm xây
dựng, ban hành chỉ tiêu công tác hàng tháng, quý, năm, để làm căn cứ thực hiện
và xử lý trách nhiệm khi có hành vi vi phạm.
3. Ban Thanh tra Toà án nhân dân tối cao có trách nhiệm
theo dõi, kiểm tra, đôn đốc thực hiện Quy định này.
4. Trong quá trình thực hiện nếu có vướng mắc, phản ánh
về Tòa án nhân dân tối cao thông qua Ban Thanh tra để được hướng dẫn kịp thời. Việc sửa đổi, bổ
sung Quy định này do Chánh án Toà án nhân dân tối cao quyết định./.
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét