|
BỘ CÔNG AN Số:
13/2025/TT-BCA |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Hà
Nội, ngày 28 tháng 02 năm 2025 |
Sửa đổi, bổ sung một số điều của các thông
tư quy định về trật tự,
an toàn giao thông đường bộ, đường sắt và
đường thủy nội địa
___________________
Căn cứ Luật Giao thông đường thủy nội địa ngày 15 tháng
6 năm 2004; Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của
Luật Giao thông đường thủy nội địa ngày 17 tháng 6 năm 2014; Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của 37 Luật có
liên quan đến quy hoạch ngày 20 tháng 11 năm 2018;
Căn cứ Luật Đường sắt ngày 16 tháng 6 năm 2017;
Căn cứ Luật Trật tự, an toàn giao thông đường bộ ngày
27 tháng 6 năm 2024;
Căn cứ
Nghị định số 02/2025/NĐ-CP ngày 18 tháng 2 năm 2025 của Chính phủ quy định chức
năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Bộ Công an;
Theo đề
nghị của Cục trưởng Cục Cảnh sát giao thông;
Bộ trưởng Bộ Công
an ban hành Thông tư sửa đổi, bổ sung một số điều của các thông tư quy định về
trật tự, an toàn giao thông đường bộ, đường sắt và đường thủy nội địa.
1. Sửa đổi, bổ sung Điều 4 như sau:
“Điều
4. Biểu mẫu sử dụng trong công tác giải quyết tai nạn giao thông đường sắt
1. Biểu
mẫu sử dụng trong công tác điều tra, giải quyết tai nạn giao thông đường sắt
thực hiện theo quy định của Chính phủ về biểu mẫu sử dụng trong xử phạt vi phạm
hành chính, quy định của Bộ trưởng Bộ Công an về biểu mẫu, giấy tờ, sổ sách về
điều tra hình sự và biểu mẫu quy định tại khoản 2 Điều này.
2. Ban
hành kèm theo Thông tư này các biểu mẫu sau đây:
a) Sổ
theo dõi vụ tai nạn giao thông đường sắt (Mẫu số
01/TNĐS);
b) Biên
bản vụ việc (Mẫu số 02/TNĐS);
c) Biên
bản xác định chỉ tiêu kỹ thuật đường sắt, đường ngang, cầu chung, cầu, hầm, ghi
liên quan đến vụ tai nạn giao thông đường sắt (Mẫu
số 03/TNĐS);
d) Đề
nghị trưng cầu giám định, yêu cầu định giá tài sản (Mẫu
số 04/TNĐS);
đ)
Quyết định phân công cán bộ điều tra, xác minh, giải quyết vụ tai nạn giao
thông đường sắt (Mẫu số 05/TNĐS);
e) Kế
hoạch điều tra, xác minh, giải quyết vụ tai nạn giao thông đường sắt (Mẫu số 06/TNĐS);
g) Biên
bản khám nghiệm hiện trường vụ tai nạn giao thông đường sắt (Mẫu số 07/TNĐS);
h) Sơ
đồ hiện trường vụ tai nạn giao thông đường sắt (Mẫu
số 08/TNĐS);
i) Báo
cáo kết quả khám nghiệm hiện trường vụ tai nạn giao thông đường sắt (Mẫu số 09/TNĐS);
k) Biên
bản khám nghiệm phương tiện liên quan đến vụ tai nạn giao thông đường sắt (Mẫu số 10/TNĐS);
l) Báo
cáo đề xuất, giải quyết vụ tai nạn giao thông đường sắt (Mẫu số 11/TNĐS);
m) Biên
bản ghi nhận dấu vết trên thân thể người bị nạn (Mẫu
số 12/TNĐS);
n) Sơ
đồ vị trí, dấu vết thương tích trên thân thể người bị nạn (Mẫu số 13/TNĐS);
o)
Thông báo kết quả điều tra, xác minh, giải quyết vụ tai nạn giao thông đường
sắt (Mẫu số 14/TNĐS);
p) Biên
bản giải quyết vụ tai nạn giao thông đường sắt (Mẫu
số 15/TNĐS);
q) Kế
hoạch dựng lại hiện trường vụ tai nạn giao thông đường sắt (Mẫu số 16/TNĐS);
r) Biên
bản ghi lời khai (Mẫu số 17/TNĐS).”.
2. Sửa đổi, bổ sung khoản 1, khoản 2,
khoản 3 Điều 6 như sau:
“1. Cục
Cảnh sát giao thông nhận được tin báo về vụ tai nạn giao thông đường sắt phải
thông báo cho Phòng Cảnh sát giao thông và cử cán bộ đến hiện trường phối hợp
tổ chức cấp cứu người bị nạn, bảo vệ hiện trường, bảo vệ tài sản của người bị
nạn, xác định người biết việc.
2.
Phòng Cảnh sát giao thông nhận được tin báo về vụ tai nạn giao thông đường sắt
phải cử cán bộ đến hiện trường để thụ lý, điều tra, giải quyết theo thẩm quyền.
Trường hợp vụ tai nạn giao thông đường sắt thuộc khoản 3 Điều này thì thực hiện
phối hợp tổ chức cấp cứu người bị nạn, bảo vệ hiện trường, bảo vệ tài sản, xác
định người biết việc.
3.
Trường hợp vụ tai nạn giao thông đường sắt có một trong các dấu hiệu về hậu
quả: có người chết tại hiện trường, chết trên đường đi cấp cứu, đang cấp cứu mà
chết, có nguy cơ chết; có người bị thương dập, nát, đứt, rời tay, chân; chấn
thương sọ não; có từ 03 người trở lên bị thương gãy tay, chân trở lên hoặc có
căn cứ xác định tổn hại cho sức khỏe với tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 61% trở lên
hoặc có căn cứ xác định thiệt hại tài sản từ 100 triệu đồng trở lên thì cán bộ
Phòng Cảnh sát giao thông báo cáo Trưởng phòng để chuyển ngay cho Cơ quan Cảnh
sát điều tra Công an cấp tỉnh có thẩm quyền giải quyết.”.
3. Sửa đổi, bổ sung khoản 6 Điều 7 như sau:
“6. Huy
động người, phương tiện, thiết bị dân sự trong trường hợp cấp bách
Trong
trường hợp cấp bách để đưa người bị nạn đi cấp cứu, truy bắt người phạm tội,
người gây tai nạn giao thông đường sắt bỏ chạy, cứu nạn, cứu hộ, chữa cháy hoặc
nhiệm vụ khẩn cấp khác để bảo đảm trật tự, an toàn xã hội thì thực hiện quyền
huy động người, phương tiện, thiết bị dân sự theo quy định tại Điều
68 Luật Trật tự, an toàn giao thông đường bộ năm 2024.”.
4. Sửa đổi, bổ sung khoản 8 Điều 7 như sau:
“8.
Trách nhiệm thực hiện nhiệm vụ quy định tại các khoản 1, 2, 3, 4, 5 và 6 Điều
này:
a)
Trường hợp vụ tai nạn giao thông đường sắt không thuộc khoản 3 Điều 6 Thông tư
này thuộc trách nhiệm điều tra, giải quyết của Phòng Cảnh sát giao thông nếu
xác định vụ tai nạn giao thông có khả năng có dấu hiệu tội phạm được quy định
tại một trong các điều 267, 268, 269, 270,
271 và 281 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) thì cán bộ
Phòng Cảnh sát giao thông báo cáo Trưởng phòng để thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn
điều tra theo quy định tại Điều 38 Luật Tổ chức cơ quan điều tra
hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2021) và Điều 40 Bộ luật
Tố tụng hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2021);
b) Đối
với vụ tai nạn giao thông đường sắt không thuộc trường hợp quy định tại điểm a
khoản này thì Trưởng phòng Cảnh sát giao thông phân công cán bộ Cảnh sát giao
thông đảm bảo tiêu chuẩn để tiến hành điều tra, xác minh, giải quyết theo quy
định của Thông tư này.”.
5. Bổ sung khoản 9 vào sau khoản 8 Điều 7 như sau:
“9.
Trong quá trình điều tra, xác minh, giải quyết vụ tai nạn giao thông đường sắt,
nếu có người bị thương đang điều trị mà chết hoặc có cơ sở xác định nguyên nhân
chết do vụ tai nạn giao thông đường sắt gây ra thì cán bộ Phòng Cảnh sát giao
thông báo cáo Trưởng phòng để chuyển cho Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an cấp
tỉnh có thẩm quyền điều tra, giải quyết.”.
6. Sửa đổi, bổ sung khoản 1 Điều 15 như sau:
“1. Tạm
giữ tang vật, phương tiện, giấy phép, chứng chỉ hành nghề của người điều khiển
phương tiện đường bộ liên quan đến vụ tai nạn giao thông đường sắt được thực
hiện theo quy định tại Điều 125 Luật Xử lý vi phạm hành chính
năm 2012 (sửa đổi, bổ sung năm 2020) và các quy định khác có liên quan.
Đối với
trường hợp các giấy tờ có liên quan đến người và phương tiện giao thông đã được
tích hợp trong căn cước điện tử, tài khoản định danh điện tử trên Ứng dụng định
danh quốc gia, khi tạm giữ giấy tờ, Cảnh sát giao thông thực hiện việc tạm giữ
giấy tờ trên môi trường điện tử.
Việc xử
lý tang vật, phương tiện, giấy phép, chứng chỉ hành nghề của người điều khiển
phương tiện liên quan đến vụ tai nạn giao thông đường sắt được thực hiện theo
quy định tại Điều 126 Luật Xử lý vi phạm hành chính năm 2012
(sửa đổi, bổ sung năm 2020) và các quy định khác có liên quan.”.
7. Sửa đổi, bổ sung khoản 11 Điều 15 như sau:
“11.
Giám định chuyên môn, định giá thiệt hại tài sản:
a)
Trường hợp cần giám định tỷ lệ tổn thương cơ thể người bị nạn hoặc giám định
dấu vết, giám định chuyên môn kỹ thuật phương tiện, cầu, đường, phà, chất lượng
công trình giao thông liên quan trực tiếp đến vụ tai nạn giao thông đường sắt
để làm căn cứ giải quyết vụ tai nạn giao thông theo quy định tại khoản
1 Điều 59 Luật Xử lý vi phạm hành chính năm 2012 (sửa đổi, bổ sung năm
2020), định giá thiệt hại về tài sản thì cán bộ Cảnh sát giao thông được giao
nhiệm vụ điều tra, xác minh, giải quyết vụ tai nạn giao thông đường sắt báo cáo
lãnh đạo có thẩm quyền ra quyết định trưng cầu giám định, yêu cầu định giá
thiệt hại tài sản để yêu cầu, đề nghị cơ quan có chức năng giám định, định giá
tài sản theo quy định của pháp luật;
b) Cán
bộ Phòng Cảnh sát giao thông trong quá trình xác minh, giải quyết các vụ tai
nạn giao thông đường sắt theo nhiệm vụ, quyền hạn điều tra của Cơ quan thuộc
lực lượng Cảnh sát trong Công an nhân dân được giao nhiệm vụ tiến hành một số
hoạt động điều tra xét thấy cần phải thực hiện thủ tục trưng cầu giám định, yêu
cầu định giá tài sản khi thuộc một trong các trường hợp quy định tại Điều 205 hoặc Điều 215 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 (sửa
đổi, bổ sung năm 2021) thì báo cáo Trưởng phòng Cảnh sát giao thông có văn bản
đề nghị Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an cấp tỉnh tiến hành trưng cầu giám
định, yêu cầu định giá tài sản theo Mẫu số 04/TNĐS
ban hành kèm theo Thông tư này. Trong thời hạn 24 giờ kể từ khi ban hành văn
bản đề nghị Cơ quan Cảnh sát điều tra ra quyết định trưng cầu giám định, yêu
cầu định giá tài sản thì Phòng Cảnh sát giao thông phải gửi cho Viện kiểm sát
cùng cấp với Cơ quan Cảnh sát điều tra được đề nghị;
c)
Trường hợp người bị nạn, người đại diện của người bị nạn trong vụ tai nạn giao
thông đường sắt từ chối giám định thương tích mà không có lý do bất khả kháng
hoặc không do trở ngại khách quan thì vận động, thuyết phục, giải thích quyền
và nghĩa vụ của họ theo quy định của pháp luật; nếu họ cương quyết từ chối thì
lập biên bản ghi rõ lý do từ chối, có xác nhận của họ và người chứng kiến. Chủ
động thu thập hồ sơ, bệnh án tại cơ sở khám bệnh, chữa bệnh để phối hợp với các
đơn vị có chức năng giám định qua hồ sơ đối với trường hợp việc yêu cầu người
bị nạn trực tiếp đi giám định gặp khó khăn. Nếu người bị nạn, người đại diện
của người bị nạn tiếp tục cản trở, chống đối thì tùy theo tính chất, mức độ xem
xét xử lý theo quy định của pháp luật.”.
8. Bổ sung Điều 15a vào sau Điều
15 như sau:
“Điều
15a. Xem xét kết quả điều tra, xác minh vụ tai nạn giao thông đường sắt
Cán bộ
Cảnh sát giao thông trong khi thực hiện nhiệm vụ theo quy định tại các điều 5,
6, 7, 8, 9, 10, 11, 12, 13, 14 và 15 Thông tư này, xác định:
1. Vụ
tai nạn giao thông đường sắt không có dấu hiệu tội phạm thì báo cáo kết quả và
đề xuất giải quyết vụ tai nạn giao thông đường sắt theo Mẫu số 11/TNĐS ban hành kèm theo Thông tư này
đến lãnh đạo có thẩm quyền ra Thông báo kết quả điều tra, xác minh, giải quyết
vụ tai nạn giao thông đường sắt theo Mẫu số 14/TNĐS
ban hành kèm theo Thông tư này. Việc giải quyết vụ tai nạn giao thông đường sắt
được thực hiện theo Điều 16 Thông tư này.
2. Vụ
tai nạn giao thông đường sắt có dấu hiệu tội phạm thì cán bộ Phòng Cảnh sát
giao thông báo cáo Trưởng phòng để chỉ đạo việc điều tra, giải quyết vụ tai nạn
giao thông đường sắt theo Điều 17 Thông tư này;
3.
Trường hợp phát hiện cá nhân, tổ chức có hành vi cố ý xâm phạm đến tính mạng,
sức khỏe, tài sản của người khác hoặc cố ý gây ra vụ tai nạn giao thông đường
sắt để che giấu hành vi phạm tội khác thì cán bộ Cảnh sát giao thông báo cáo
lãnh đạo có thẩm quyền ra quyết định chuyển hồ sơ, tang vật, phương tiện cho Cơ
quan điều tra có thẩm quyền để truy cứu trách nhiệm hình sự theo Điều 62 Luật
Xử lý vi phạm hành chính năm 2012 (sửa đổi, bổ sung năm 2020).”.
9. Bổ
sung Điều 15b vào trước Điều 16 như sau:
“Điều
15b. Thời hạn điều tra, xác minh, giải quyết vụ tai nạn giao thông đường sắt
1. Vụ
tai nạn giao thông đường sắt không có dấu hiệu tội phạm thì thời hạn điều tra,
xác minh, giải quyết như sau: nhận được tin báo về vụ tai nạn giao thông đường
sắt thì Cảnh sát giao thông phải tiến hành điều tra, xác minh, giải quyết trong
thời hạn không quá 07 ngày làm việc; trường hợp vụ tai nạn giao thông đường sắt
có nhiều tình tiết phức tạp cần xác minh thêm hoặc phải thông qua giám định
chuyên môn thì có thể được kéo dài nhưng không quá 01 tháng kể từ ngày nhận
được tin báo về vụ tai nạn giao thông đường sắt; trường hợp cần phải có thêm
thời gian để xác minh, thu thập tài liệu, chứng cứ thì tiếp tục được kéo dài,
thời hạn kéo dài không quá 02 tháng kể từ ngày nhận được tin báo về vụ tai nạn
giao thông đường sắt. Việc kéo dài phải được báo cáo bằng văn bản với người có
thẩm quyền theo Mẫu số 11/TNĐS ban hành kèm
theo Thông tư này.
2. Vụ
tai nạn giao thông đường sắt quy định tại điểm a khoản 8 Điều 7 Thông tư này
hoặc trong quá trình điều tra, xác minh, giải quyết vụ tai nạn giao thông đường
sắt quy định tại điểm b khoản 8 Điều 7 Thông tư này nếu phát hiện có dấu hiệu
tội phạm, thì Phòng Cảnh sát giao thông thực hiện xác minh, giải quyết theo
thời hạn quy định tại khoản 1, khoản 2 Điều 147 Bộ luật Tố tụng
hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2021) và Điều 9,
Điều 11 Thông tư liên tịch số 01/2017/TTLT-BCA-BQP-BTC-BNN&PTNT-VKSNDTC
ngày 29 tháng 12 năm 2017 của Bộ Công an, Bộ Quốc phòng, Bộ Tài chính, Bộ Nông
nghiệp và Phát triển nông thôn, Viện Kiểm sát nhân dân tối cao quy định về việc
phối hợp giữa các cơ quan có thẩm quyền trong việc thực hiện một số quy định
của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 về tiếp nhận, giải quyết tố giác, tin báo
về tội phạm, kiến nghị khởi tố (sửa đổi, bổ sung theo quy định tại Thông tư
liên tịch số 01/2021/TTLT-BCA-BQP-BTC-BNN&PTNT-VKSNDTC
ngày 29 tháng 11 năm 2021) và Điều 12 Thông tư số 28/2020/TT-BCA
ngày 26 tháng 3 năm 2020 của Bộ trưởng Bộ Công an quy định trình tự, thủ tục
tiếp nhận, phân loại, xử lý, giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị
khởi tố của lực lượng Công an nhân dân (sửa đổi, bổ sung theo quy định tại
Thông tư số 129/2021/TT-BCA ngày 31 tháng 12
năm 2021).”.
10. Sửa đổi, bổ sung Điều 16 như sau:
“Điều
16. Giải quyết vụ tai nạn giao thông đường sắt theo thủ tục hành chính
Căn cứ
vào hồ sơ, tài liệu của hoạt động điều tra, xác minh, cán bộ Cảnh sát giao
thông báo cáo lãnh đạo có thẩm quyền để giải quyết vụ tai nạn giao thông đường
sắt như sau:
1. Mời
các bên liên quan đến trụ sở đơn vị để thông báo kết quả điều tra, xác minh
(kết luận nguyên nhân, diễn biến vụ tai nạn giao thông đường sắt, xác định lỗi
của những người có liên quan trong vụ tai nạn giao thông đường sắt và hình thức
xử lý vi phạm hành chính), đồng thời lập biên bản giải quyết vụ tai nạn giao
thông đường sắt theo Mẫu số 15/TNĐS, biên
bản vi phạm hành chính (nếu có) theo quy định của Luật
Xử lý vi phạm hành chính năm 2012 (sửa đổi,
bổ sung năm 2020).
Nếu một
trong các bên liên quan đến vụ tai nạn giao thông đường sắt vắng mặt có lý do
chính đáng, thì phải lập biên bản ghi nhận việc vắng mặt và hẹn thời gian đến
giải quyết.
2. Báo
cáo lãnh đạo có thẩm quyền ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh
vực giao thông đường sắt (nếu có); khi áp dụng hình thức tước quyền sử dụng
giấy phép, chứng chỉ hành nghề, Cảnh sát giao thông thực hiện việc tước giấy tờ
trên môi trường điện tử trong trường hợp các giấy tờ này đã được tích hợp trong
căn cước điện tử, tài khoản định danh điện tử trên ứng dụng định danh quốc gia;
trừ điểm, phục hồi điểm giấy phép lái xe theo quy định (nếu có).
3.
Hướng dẫn cho các bên liên quan đến vụ tai nạn giao thông đường sắt tự giải
quyết bồi thường thiệt hại dân sự.
Trường
hợp các bên liên quan trong vụ tai nạn giao thông đường sắt không tự thỏa thuận
giải quyết bồi thường thiệt hại dân sự thì phải lập biên bản, đồng thời hướng
dẫn các bên liên hệ với Tòa án có thẩm quyền để giải quyết theo thủ tục tố tụng
dân sự.
4. Sau
khi hoàn thành việc điều tra, xác minh, giải quyết vụ tai nạn giao thông đường
sắt, cán bộ Cảnh sát giao thông thụ lý hoàn chỉnh hồ sơ và báo cáo lãnh đạo đơn
vị kết thúc việc điều tra, xác minh, giải quyết vụ tai nạn giao thông đường
sắt; thực hiện chế độ thống kê, báo cáo tai nạn giao thông đường sắt, đăng ký,
lưu hồ sơ theo quy định của Bộ Công an và pháp luật có liên quan.
5. Đối
với vụ tai nạn giao thông đường sắt do Cơ quan điều tra thụ lý, giải quyết
nhưng sau đó lại có quyết định không khởi tố vụ án hình sự, quyết định hủy bỏ
quyết định khởi tố vụ án hình sự, quyết định đình chỉ điều tra hoặc quyết định
đình chỉ vụ án, nhưng hành vi có dấu hiệu vi phạm hành chính thuộc trường hợp
chuyển hồ sơ, tang vật, phương tiện của vụ tai nạn giao thông đường sắt cho cơ
quan, đơn vị Cảnh sát giao thông báo đảm trật tự, an toàn giao thông trên
tuyến, địa bàn để xử lý vi phạm hành chính thì cán bộ Cảnh sát giao thông được
giao tiếp nhận thụ lý báo cáo người có thẩm quyền thực hiện theo quy định tại Điều 63 Luật Xử lý vi phạm hành chính năm 2012 (sửa đổi, bổ
sung năm 2020) và căn cứ vào từng vụ tai nạn giao thông đường sắt cụ thể thực
hiện quy định tại khoản 2 Điều này.
6. Kết
thúc việc điều tra, xác minh, giải quyết vụ tai nạn giao thông đường sắt, nếu
cơ quan, đơn vị thụ lý vụ tai nạn giao thông đường sắt phát hiện những tồn tại,
bất cập, thiếu sót trong lĩnh vực quản lý nhà nước về hạ tầng giao thông đường
sắt, việc quản lý người điều khiển phương tiện, quản lý phương tiện thì có văn
bản kiến nghị với cơ quan quản lý, ngành chủ quản để có biện pháp khắc phục.
7. Việc
thống kê tai nạn giao thông đường sắt phải được cập nhật thông tin vụ tai nạn
giao thông đường sắt vào Cơ sở dữ liệu về tai nạn giao thông, Phần mềm Tổng
hợp, đồng bộ dữ liệu và xử lý tai nạn giao thông, Phần mềm Điều tra hình sự
theo quy định.”.
11. Sửa đổi, bổ sung Điều 17 như sau:
“Điều
17. Giải quyết vụ tai nạn giao thông đường sắt phát hiện có dấu hiệu tội phạm
theo chức năng của Cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều
tra
1.
Trong quá trình thực hiện việc điều tra, xác minh, giải quyết vụ tai nạn giao
thông đường sắt quy định tại khoản 8 Điều 7 Thông tư này nếu phát hiện có dấu
hiệu tội phạm không thuộc trường hợp phải chuyển Cơ quan điều tra hình sự trong
Quân đội nhân dân có thẩm quyền thì cán bộ được phân công điều tra, xác minh,
giải quyết vụ tai nạn giao thông đường sắt thuộc Phòng Cảnh sát giao thông báo
cáo Trưởng phòng để thực hiện hoặc phân công cấp phó, cán bộ điều tra hoặc thay
đổi cấp phó, cán bộ điều tra thực hiện như sau:
a)
Phòng Cảnh sát giao thông thông báo đến Viện kiểm sát nhân dân cấp tỉnh về việc
tiếp nhận nguồn tin tội phạm; xem xét việc quyết định khởi tố hay không khởi tố
vụ án hình sự theo quy định pháp luật;
b) Phối
hợp thực hiện trưng cầu giám định, yêu cầu định giá tài sản theo quy định tại
khoản 11 Điều 15 Thông tư này và Hướng dẫn liên ngành số 02/HDLN-BCA-VKSNDTC ngày 31 tháng 01 năm 2024 về
phối hợp thực hiện thủ tục trưng cầu giám định, yêu cầu định giá tài sản của
các cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra của Công an
nhân dân;
c) Thực
hiện nhiệm vụ, quyền hạn điều tra theo quy định tại Điều 38 Luật
Tổ chức cơ quan điều tra hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2021), Điều 40 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm
2021), Thông tư liên tịch số 01/2017/TTLT-BCA-BQP-BTC-BNN&PTNT-VKSNDTC
ngày 29 tháng 12 năm 2017 của Bộ Công an, Bộ Quốc phòng, Bộ Tài chính, Bộ Nông
nghiệp và Phát triển nông thôn, Viện Kiểm sát nhân dân tối cao quy định việc
phối hợp giữa các cơ quan có thẩm quyền trong việc thực hiện một số quy định của
Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 về tiếp
nhận, giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố (sửa đổi, bổ
sung theo quy định tại Thông tư số 01/2021/TTLT-BCA-BQP-BTC-BNN&PTNT-VKSNDTC
ngày 29 tháng 11 năm 2021) và Thông tư số 28/2020/TT-BCA
ngày 26 tháng 3 năm 2020 của Bộ trưởng Bộ Công an quy định trình tự, thủ tục
tiếp nhận, phân loại, xử lý, giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị
khởi tố của lực lượng Công an nhân dân (sửa đổi, bổ sung theo quy định tại
Thông tư số 129/2021/TT-BCA ngày 31 tháng
12 năm 2021).
2. Hồ
sơ vụ án tai nạn giao thông đường sắt chuyển cho Cơ quan Cảnh sát điều tra:
a) Các
tài liệu dùng cho cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều
tra được ban hành kèm theo Thông tư số 119/2021/TT-BCA;
b) Biên
bản khám nghiệm hiện trường vụ tai nạn giao thông đường sắt; sơ đồ hiện trường
vụ tai nạn giao thông đường sắt; bản ảnh hiện trường; thiết bị lưu trữ hình ảnh
động (nếu có);
c) Biên
bản khám nghiệm phương tiện; biên bản tạm giữ tang vật, phương tiện; quyết định
tạm giữ tang vật, phương tiện; các giấy tờ của phương tiện, người điều khiển
phương tiện và hàng hóa trên phương tiện (nếu có);
d) Biên
bản ghi lời khai và bản tường trình của những người có liên quan trong vụ tai
nạn giao thông đường sắt;
đ) Biên
bản ghi nhận dấu vết trên thân thể người bị nạn, sơ đồ vị trí dấu vết thương
tích trên cơ thể người bị nạn, biên bản về việc dựng lại hiện trường vụ tai nạn
giao thông đường sắt (nếu có);
e) Kết
luận giám định thiệt hại về người và tài sản; các tài liệu khác liên quan (nếu
có);
g) Tang
vật, phương tiện, vật chứng liên quan đến vụ tai nạn (nếu có);
h) Biên
bản giao, nhận hồ sơ vụ án.”.
12. Bổ sung cụm từ “Việt Nam” sau cụm từ “Đường sắt”
tại khoản 4 Điều 6, cụm từ “thiết bị tín hiệu
đuôi tàu” sau cụm từ “hệ thống xả cát” tại điểm b khoản 2 Điều 10.
13. Bỏ một số cụm từ tại các điểm, khoản thuộc các
điều như sau:
a) Bỏ
cụm từ “và khoản 3” tại khoản 4 Điều 6, cụm từ “tố tụng hình sự” tại khoản 1,
khoản 3 Điều 10 và khoản 2 Điều 14;
b) Bỏ
cụm từ “đề nghị người tiến hành tố tụng hình sự có thẩm quyền” tại khoản 2 và
cụm từ “đề nghị người tiến hành tố tụng có thẩm quyền” tại khoản 4 Điều 14;
c) Bỏ
cụm từ “Tham gia” tại tên Điều 9, Điều 10, Điều 11, Điều 12, Điều 13, Điều 14.
14. Bãi bỏ khoản 5 Điều 6 và
khoản 7 Điều 7.
1. Sửa đổi, bổ sung điểm
b khoản 1 Điều 5 như sau:
“b)
Phòng Cảnh sát giao thông;”.
2. Sửa đổi, bổ sung khoản
5 Điều 5 như sau:
“5. Các
cơ quan, đơn vị khác trong Công an nhân dân nhận được tin báo về vụ tai nạn
giao thông có trách nhiệm báo tin cho cơ quan, đơn vị quy định tại khoản 1 Điều
này để tiếp nhận tin báo về tai nạn giao thông đường thủy nội địa.
Tất cả
các vụ tai nạn giao thông phải được thông báo cho Phòng Cảnh sát giao thông và
Công an cấp xã nơi xảy ra vụ tai nạn giao thông để giải quyết theo thẩm quyền
hoặc phối hợp khi có yêu cầu.”.
3. Sửa đổi, bổ sung điểm
b khoản 2 Điều 6 như sau:
“b) Nếu
tin báo vụ tai nạn giao thông không xảy ra trên tuyến đường thủy nội địa được
giao nhiệm vụ tuần tra, kiểm soát, xử lý vi phạm thì thông báo cho trực ban
Phòng Cảnh sát giao thông nơi xảy ra vụ tai nạn giao thông để xử lý tin báo và
phối hợp khi có yêu cầu.”.
4. Sửa đổi, bổ sung khoản
4 Điều 6 như sau:
“4.
Trường hợp vụ tai nạn giao thông có tình tiết phức tạp làm từ 03 người chết
hoặc mất tích trở lên; gây ùn tắc giao thông kéo dài liên tuyến, liên địa bàn,
liên tỉnh; gây thảm họa hoặc cần thiết phải có sự phối hợp cứu nạn, cứu hộ,
điều tiết, giải tỏa ùn tắc giao thông của Công an nhiều tỉnh, thành phố trực
thuộc trung ương báo cáo ngay Giám đốc Công an cấp tỉnh (qua Phòng Tham mưu
hoặc Phòng Cảnh sát giao thông), đồng thời báo cáo Bộ Công an (qua Cục Cảnh sát
giao thông) để chỉ đạo giải quyết.”.
5. Sửa đổi, bổ sung khoản
6, khoản 7 Điều 6 như sau:
“6.
Phòng Cảnh sát giao thông nhận được tin báo vụ tai nạn giao thông theo quy định
tại khoản 4 Điều này hoặc vụ tai nạn giao thông liên quan đến người nước ngoài;
liên quan đến cán bộ, chiến sĩ Công an nhân dân báo cáo vụ việc theo quy định
tại Thông tư số 66/2022/TT-BCA ngày 30 tháng 12 năm 2022 của Bộ trưởng Bộ Công
an quy định về chế độ báo cáo trong Công an nhân dân.
7.
Trường hợp cán bộ Cảnh sát giao thông khi đến nơi xảy ra vụ tai nạn giao thông
nhưng các bên liên quan đã rời khỏi hiện trường (không còn hiện trường) thì
phải lập Biên bản vụ việc theo Mẫu số
02/TNĐT ban hành kèm theo Thông tư này.”.
6. Sửa đổi, bổ sung điểm
a khoản 7 Điều 7 như sau:
“a) Nếu
phát hiện vụ tai nạn giao thông có một trong các dấu hiệu về hậu quả: có người
chết tại hiện trường, chết trên đường đi cấp cứu, đang cấp cứu mà chết, có nguy
cơ chết; có người bị thương dập, nát, đứt, rời tay, chân; chấn thương sọ não;
có từ 03 người trở lên bị thương gãy tay, chân trở lên hoặc có căn cứ xác định
tổn hại cho sức khỏe với tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 61% trở lên hoặc có căn cứ
xác định thiệt hại tài sản từ 100 triệu đồng trở lên thì cán bộ Phòng Cảnh sát
giao thông báo cáo Trưởng phòng để chuyển cho Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an
cấp tỉnh có thẩm quyền giải quyết;”.
7. Sửa đổi, bổ sung khoản
2 Điều 8 như sau:
“2. Cán
bộ Cảnh sát giao thông được phân công đến hiện trường tiến hành các biện pháp
điều tra, xác minh, giải quyết vụ tai nạn giao thông, phải lập Biên bản vụ việc
theo Mẫu số 02/TNĐT ban hành kèm
theo Thông tư này. Trong thời hạn 24 giờ, kể từ khi lập Biên bản vụ việc hành
chính, cán bộ Cảnh sát giao thông lập biên bản báo cáo lãnh đạo có thẩm quyền
ra quyết định phân công cán bộ điều tra, xác minh, giải quyết vụ tai nạn giao
thông theo Mẫu số 04/TNĐT ban hành
kèm theo Thông tư này và lập Kế hoạch xác minh, giải quyết vụ tai nạn giao
thông theo Mẫu số 03/TNĐT ban hành
kèm theo Thông tư này được lãnh đạo có thẩm quyền phê duyệt; việc lập biên bản
vi phạm hành chính được tiến hành ngay khi xác định tổ chức, cá nhân có hành vi
vi phạm.”.
8. Sửa đổi, bổ sung điểm
c khoản 3 Điều 9 như sau:
“c) Xác
định thành phần khám nghiệm:
Tùy
theo tính chất, mức độ của vụ tai nạn giao thông để mời thành phần khám nghiệm
cho phù hợp như: cán bộ kỹ thuật hình sự; Cảnh sát phòng cháy, chữa cháy và cứu
nạn, cứu hộ; Công an xã, phường, thị trấn, Đồn Công an ở huyện nơi không có đơn
vị hành chính cấp xã nơi xảy ra vụ tai nạn giao thông; đại diện đơn vị đăng
kiểm phương tiện giao thông đường thủy nội địa hoặc cá nhân, tổ chức có chuyên
môn (liên quan đến việc khám phương tiện thủy nội địa); đại diện đơn vị quản lý
đường thủy nội địa; đại diện đơn vị chuyên môn kỹ thuật liên quan đến công
trình thủy, công trình vượt sông; người chứng kiến, người có quyền lợi, nghĩa
vụ liên quan; đại diện chính quyền cấp xã nơi xảy ra vụ tai nạn giao thông; đại
diện cơ sở, doanh nghiệp (người có kiến thức chuyên môn về lĩnh vực giá, lĩnh
vực định giá tài sản) để xác định giá trị thiệt hại ban đầu về tài sản;”.
9. Sửa đổi, bổ sung Điều
10 như sau:
“Điều
10. Tạm giữ, xử lý tang vật, phương tiện, giấy phép, chứng chỉ hành nghề theo
thủ tục hành chính
1. Việc
tạm giữ tang vật, phương tiện, giấy chứng nhận khả năng chuyên môn và giấy
phép, chứng chỉ hành nghề khác (sau đây gọi chung là giấy phép, chứng chỉ hành
nghề) của thuyền viên liên quan đến vụ tai nạn giao thông đường thủy nội địa
được thực hiện theo quy định tại Điều 125 Luật Xử lý vi phạm
hành chính năm 2012 (sửa đổi, bổ sung năm 2020) và các quy định khác có
liên quan.
Đối với
trường hợp các giấy tờ có liên quan đến người và phương tiện giao thông đã được
tích hợp trong căn cước điện tử, tài khoản định danh điện từ trên ứng dụng định
danh quốc gia khi tạm giữ giấy tờ, Cảnh sát giao thông thực hiện việc tạm giữ
giấy tờ trên môi trường điện tử.
2.
Trước khi kéo dài thời hạn tạm giữ tang vật, phương tiện, giấy phép, chứng chỉ
hành nghề của thuyền viên, cán bộ được phân công điều tra, xác minh, giải quyết
vụ tai nạn giao thông đường thủy nội địa báo cáo, đề xuất lãnh đạo có thẩm
quyền kéo dài thời hạn tạm giữ theo Mẫu
số 14B/TNĐT ban hành kèm theo Thông tư này.
3. Việc
xử lý tang vật, phương tiện, giấy phép, chứng chỉ hành nghề của thuyền viên
liên quan đến vụ tai nạn giao thông đường thủy nội địa được thực hiện theo quy
định tại Điều 126 Luật Xử lý vi phạm hành chính năm 2012
(sửa đổi, bổ sung năm 2020) và các quy định khác có liên quan.
4. Sau
khi kết thúc khám nghiệm phương tiện giao thông, xác định người điều khiển
phương tiện không có lỗi và không vi phạm các quy định khác của pháp luật thì
phương tiện giao thông được trả ngay cho chủ sở hữu hoặc người điều khiển
phương tiện.”.
10. Sửa đổi, bổ sung khoản
1 Điều 14 như sau:
“1.
Trường hợp cần giám định tỷ lệ tổn thương cơ thể người bị nạn, định giá thiệt
hại về tài sản, giám định dấu vết; giám định chuyên môn kỹ thuật phương tiện,
cầu, phà, công trình vượt sông, công trình ngầm, cảng, bến thủy nội địa, tổ
chức giao thông, chất lượng công trình giao thông để làm căn cứ giải quyết vụ
tai nạn giao thông theo quy định của pháp luật hành chính thì cán bộ Cảnh sát
giao thông báo cáo lãnh đạo có thẩm quyền ra quyết định trưng cầu giám định
theo quy định của Chính phủ về biểu mẫu sử dụng trong xử phạt vi phạm hành
chính để yêu cầu, đề nghị cơ quan có chức năng giám định, định giá tài sản theo
quy định của pháp luật.”.
11. Sửa đổi, bổ sung điểm
c khoản 4 Điều 15 như sau:
“c)
Việc kiểm tra, xác minh phương tiện, người điều khiển phương tiện; hành khách,
hàng hóa vận chuyển, tải trọng trên phương tiện và các giấy tờ có liên quan
phải mời đại diện cơ sở, doanh nghiệp (người có kiến thức chuyên môn về lĩnh
vực giá, lĩnh vực định giá tài sản) để xác định giá trị thiệt hại về tài sản
và được lập Biên bản xác minh theo quy định của Chính phủ về biểu mẫu sử dụng
trong xử phạt vi phạm hành chính.”.
12. Sửa đổi, bổ sung khoản
2 Điều 17 như sau:
“2. Vụ
tai nạn giao thông có dấu hiệu tội phạm được quy định tại một trong các điều 272, 273, 274, 275, 276 và 281 Bộ luật
Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) thì cán bộ Phòng Cảnh sát giao
thông báo cáo, đề xuất Trưởng phòng để chỉ đạo, điều tra giải quyết vụ tai nạn
giao thông theo Điều 20 của Thông tư này.”.
13. Sửa đổi, bổ sung điểm
a khoản 2 Điều 20 như sau:
“a) Các
tài liệu dùng cho cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều
tra được ban hành kèm theo Thông tư số 119/2021/TT-BCA
ngày 08 tháng 12 tháng 2021 của Bộ trưởng Bộ Công an quy định biểu mẫu, giấy tờ
sổ sách về điều tra hình sự (sau đây viết gọn là Thông tư số 119/2021/TT-BCA);”.
14. Sửa đổi, bổ sung điểm
g khoản 2 Điều 20 như sau:
“g)
Biên bản giao, nhận hồ sơ vụ án theo Mẫu
số 240 ban hành kèm theo Thông tư số 119/2021/TT-BCA.”.
15. Sửa đổi, bổ sung Điều
23 như sau:
“Điều
23. Kiểm tra công tác điều tra, giải quyết tai nạn giao thông
1. Việc
kiểm tra công tác điều tra, xác minh, giải quyết tai nạn giao thông đường thủy
được thực hiện theo Thông tư này và Thông tư số 35/2024/TT-BCA ngày 02 tháng 8
năm 2024 của Bộ trưởng Bộ Công an quy định về kiểm tra công tác trong Công an
nhân dân.
2. Khi
xảy ra vụ tai nạn giao thông theo quy định tại khoản 4 Điều 6
Thông tư này hoặc theo chỉ đạo của lãnh đạo Bộ Công an, Cục Cảnh sát giao
thông có trách nhiệm phối hợp với các đơn vị có liên quan và Công an địa phương
nơi xảy ra vụ tai nạn giao thông tiến hành kiểm tra công tác đảm bảo trật tự,
an toàn giao thông để đánh giá nguyên nhân, xem xét trách nhiệm của cá nhân, tổ
chức có liên quan để xảy ra vụ tai nạn giao thông.”.
16. Sửa đổi, bổ sung khoản
1, khoản 2 Điều 24 như sau:
“1.
Phòng Cảnh sát giao thông trong quá trình điều tra, xác minh, giải quyết vụ tai
nạn giao thông đường thủy nội địa nếu phát hiện vụ tai nạn giao thông đường
thủy nội địa có dấu hiệu tội phạm thì sử dụng biểu mẫu ban hành kèm theo Thông
tư số 119/2021/TT-BCA.
2. Điều
tra, xác minh, giải quyết vụ tai nạn giao thông đường thủy nội địa theo thủ tục
hành chính thì sử dụng biểu mẫu theo quy định của Chính phủ về biểu mẫu sử dụng
trong xử phạt vi phạm hành chính và các biểu mẫu quy định tại khoản 3 Điều
này.”.
17. Sửa đổi, bổ sung điểm
b khoản 3 Điều 24 như sau:
“b)
Biên bản vụ việc (Mẫu số 02/TNĐT);”.
18. Sửa đổi, bổ sung khoản
2 Điều 26 như sau:
“2. Đối
với những vụ tai nạn giao thông qua công tác điều tra, xác minh ban đầu xác
định có dấu hiệu tội phạm thì Phòng Cảnh sát giao thông bàn giao toàn bộ hồ sơ,
tài liệu, phương tiện có liên quan đến vụ tai nạn giao thông cho Cơ quan điều
tra hình sự trong Quân đội nhân dân có thẩm quyền để giải quyết và sao lưu hồ
sơ để theo dõi. Sau khi bàn giao cho Cơ quan điều tra hình sự trong Quân đội
nhân dân, Phòng Cảnh sát giao thông có trách nhiệm tiếp tục phối hợp theo đề
nghị của Cơ quan điều tra hình sự trong Quân đội nhân dân.”.
19. Thay thế cụm từ “Công an cấp huyện” bằng cụm từ
“Công an cấp tỉnh” tại khoản 8 Điều 7 và Điều 29;
thay thế cụm từ “bàn giao cho Công an cấp huyện” bằng
cụm từ “Phòng Cảnh sát giao thông” tại Điều 29.
20. Bỏ một số cụm từ tại các điểm, khoản thuộc các
điều như sau:
a) Bỏ
cụm từ “Cảnh sát đường thủy” tại Điều 1;
b) Bỏ
cụm từ “Công an cấp tỉnh hoặc đơn vị Cảnh sát đường thủy” tại khoản
1 Điều 6;
c) Bỏ
cụm từ “đồng thời thông báo cho Công an cấp huyện nơi xảy ra vụ tai nạn giao
thông biết hoặc yêu cầu phối hợp điều tra, xác minh, giải quyết vụ tai nạn giao
thông theo quy định” tại điểm a khoản 2 Điều 6;
d) Bỏ
cụm từ “với Công an cấp huyện nơi xảy ra vụ tai nạn giao thông” tại khoản 5 Điều 6.
21. Bãi bỏ điểm
a khoản 1 Điều 5, khoản 3 Điều 6, điểm c khoản 1 Điều 22.
1. Bổ sung điểm c vào sau điểm
b khoản 4 Điều 6 như sau:
“c) Xây
dựng kế hoạch tổ chức tuần tra, kiểm soát, xử lý vi phạm trên tuyến, địa bàn
theo Kế hoạch đã được Cục trưởng Cục Cảnh sát giao thông phê duyệt.”.
2. Sửa đổi, bổ sung khoản
7 Điều 6 như sau:
“7.
Trưởng Công an xã, phường, thị trấn, Đồn Công an ở huyện nơi không có đơn vị
hành chính cấp xã (sau đây viết gọn là Trưởng Công an cấp xã): thực hiện công
tác bảo đảm trật tự, an toàn giao thông và an ninh, trật tự đối với người,
phương tiện ở các bến khách ngang sông và các vùng nước chưa được công bố thuộc
phạm vi địa giới hành chính cấp xã.”.
3. Sửa đổi, bổ sung điểm
c khoản 1 Điều 16 như sau:
“c) Gửi
thông báo (theo Mẫu số 02/36) yêu cầu chủ phương
tiện, tổ chức, cá nhân có liên quan đến vi phạm hành chính đến trụ sở cơ quan
Công an nơi phát hiện vi phạm hành chính hoặc đến trụ sở Công an cấp xã, Phòng
Cảnh sát giao thông nơi cư trú, đóng trụ sở để giải quyết vụ việc vi phạm hành
chính nếu việc đi lại gặp khó khăn và không có điều kiện trực tiếp đến trụ sở
cơ quan Công an nơi phát hiện vi phạm hành chính theo quy định tại khoản 2 Điều 15 Nghị định số 135/2021/NĐ-CP ngày 31 tháng 12
năm 2021 của Chính phủ quy định về danh mục, việc quản lý, sử dụng phương tiện,
thiết bị kỹ thuật nghiệp vụ và quy trình thu thập, sử dụng dữ liệu thu được từ
phương tiện, thiết bị kỹ thuật do cá nhân, tổ chức cung cấp để phát hiện vi
phạm hành chính (sau đây viết gọn là Nghị định số 135/2021/NĐ-CP).”.
4. Thay thế một số cụm từ tại các điểm, khoản thuộc
các điều như sau:
a) Thay
thế cụm từ “Trưởng Công an cấp huyện” bằng cụm từ “Trưởng phòng Cảnh sát giao
thông” tại khoản 2 Điều 16;
b) Thay
thế cụm từ “Công an cấp huyện” bằng cụm từ “Phòng Cảnh sát giao thông” tại khoản 3 và khoản 4 Điều 16.
5. Bỏ một số cụm từ tại các điểm, khoản thuộc các điều
như sau:
a) Bỏ
cụm từ “Trưởng phòng cảnh sát đường thủy” và cụm từ “(sau đây viết gọn là
Trưởng phòng Cảnh sát giao thông); Trưởng Công an quận, huyện, thị xã, thành
phố thuộc tỉnh; Trưởng Công an quận, huyện, thành phố thuộc thành phố trực
thuộc trung ương (sau đây viết gọn là Trưởng Công an cấp huyện)” tại khoản 5 Điều 6;
b) Bỏ
cụm từ “Trưởng Công an cấp huyện” tại điểm a và điểm b khoản 6
Điều 6, điểm b khoản 1 Điều 8;
c) Bỏ
cụm từ “lãnh đạo Công an cấp huyện” tại khoản 4 Điều 15;
d) Bỏ
cụm từ “Công an cấp huyện” tại khoản 1 Điều 19 và bỏ cụm
từ “Trưởng Công an cấp huyện” tại khoản 3 Điều 19.
6. Bãi bỏ điểm c khoản 1
Điều 17.
7. Thay thế các mẫu số 01, 02 và 05 ban hành
kèm theo Thông tư số 36/2023/TT-BCA bằng các mẫu số 01/36,
02/36 và 05/36 ban hành kèm theo Thông tư này.
1. Bỏ một số cụm từ tại các điểm, khoản thuộc các điều
như sau:
a) Bỏ
cụm từ “Đội Cảnh sát giao thông, trật tự Công an cấp huyện” tại điểm
a khoản 1 Điều 10;
b) Bỏ
cụm từ “sử dụng tại Công an cấp huyện” tại khoản 4 Điều 29.
2. Bãi bỏ khoản 2 Điều 30 và
điểm g khoản 3 Điều 30.
1. Sửa đổi, bổ sung điểm
b khoản 1 Điều 18 như sau:
“b) Gửi
thông báo yêu cầu chủ phương tiện, tổ chức, cá nhân có liên quan đến vi phạm
hành chính đến trụ sở cơ quan Công an nơi phát hiện vi phạm hành chính hoặc đến
trụ sở các đội, trạm Cảnh sát giao thông thuộc Phòng Cảnh sát giao thông nơi cư
trú, đóng trụ sở để giải quyết vụ việc vi phạm hành chính nếu việc đi lại gặp
khó khăn và không có điều kiện trực tiếp đến trụ sở cơ quan Công an nơi phát
hiện vi phạm hành chính theo quy định tại khoản 2 Điều 15 Nghị
định số 135/2021/NĐ-CP. Việc gửi thông báo vi phạm được thực hiện bằng văn
bản giấy hoặc bằng phương thức điện tử (khi đáp ứng điều kiện về cơ sở hạ tầng,
kỹ thuật, thông tin).”.
2. Bỏ một số cụm từ tại các điểm, khoản thuộc các điều
như sau:
a) Bỏ
cụm từ “Trưởng Công an huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh, thành phố
trực thuộc trung ương (sau đây viết gọn là Trưởng Công an cấp huyện)” tại khoản 3 Điều 6;
b) Bỏ
cụm từ “Trưởng Công an cấp huyện” tại khoản 3 Điều 8;
c) Bỏ
cụm từ “Đội Cảnh sát giao thông - trật tự” tại khoản 4 Điều 8.
3. Bãi bỏ điểm c khoản 1
Điều 19.
Sửa
đổi, bổ sung khoản 1 Điều 6 như sau:
“1. Nội
dung kiểm tra, bao gồm:
a) Kiểm
tra lý thuyết kiến thức pháp luật về trật tự, an toàn giao thông đường bộ được
thực hiện theo bộ câu hỏi lý thuyết dùng cho sát hạch, cấp giấy phép lái xe cơ
giới đường bộ do Cục Cảnh sát giao thông xây dựng và ban hành (sau đây viết gọn
là kiểm tra lý thuyết kiến thức pháp luật);
b) Kiểm
tra kiến thức pháp luật về trật tự, an toàn giao thông đường bộ theo mô phỏng
các tình huống giao thông trên máy tính do Bộ Công an phê duyệt, ban hành (sau
đây viết gọn là kiểm tra kiến thức pháp luật theo mô phỏng).”.
1. Sửa đổi, bổ sung khoản 1 Điều 26 như sau:
“1.
Tiêu chuẩn của sát hạch viên: là sĩ quan nghiệp vụ công tác trong lực lượng
Cảnh sát giao thông; có Giấy phép lái xe tương ứng với hạng xe sát hạch từ 03
năm trở lên kể từ ngày cấp, còn điểm, còn thời hạn sử dụng; đã tham gia tập
huấn về nghiệp vụ sát hạch và được Cục Cảnh sát giao thông cấp thẻ sát hạch
viên.”.
2. Sửa đổi, bổ sung điểm a khoản 2
Điều 26 như sau:
“a) Thẻ
sát hạch viên được cấp cho cán bộ đủ tiêu chuẩn quy định tại khoản 1 Điều này
và có thời hạn tương ứng với thời hạn sử dụng của Giấy phép lái xe nhưng không
được quá 03 năm kể từ ngày cấp;”.
3. Sửa đổi, bổ sung khoản 3 Điều 31 như sau:
“3. Cán
bộ, chiến sĩ được cấp Giấy phép lái xe trong Công an nhân dân với 01 số giấy
phép riêng biệt gồm 12 chữ số tự nhiên. Trường hợp Giấy phép lái xe đã được
cấp, khi đổi, cấp lại thì theo mẫu giấy phép lái xe được quy định tại Thông tư
này.”.
4. Sửa đổi, bổ sung điểm c khoản 3
Điều 33 như sau:
“c) Đối
với trường hợp quy định tại điểm d khoản 1 Điều này thì cơ quan Cảnh sát giao
thông quản lý Giấy phép lái xe phải thông báo cho cơ quan có thẩm quyền trong
Quân đội nhân dân biết để phối hợp quản lý. Hạng Giấy phép lái xe trong Công an
nhân dân sau khi được đổi tương ứng với hạng Giấy phép lái xe được cấp trước
đó. Đối với Giấy phép lái xe hạng CX do Bộ Quốc phòng cấp được đổi sang Giấy
phép lái xe trong Công an nhân dân hạng C theo quy định tại điểm e khoản 1 Điều
31 Thông tư này. Thời hạn và số của Giấy phép lái xe áp dụng theo quy định tại
khoản 2, khoản 3 Điều 31 Thông tư này.”.
5. Sửa đổi, bổ sung điểm a khoản 1
Điều 36 như sau:
“a)
Giấy phép lái xe hết thời hạn sử dụng dưới 03 tháng nhưng do yêu cầu công tác
mà có đơn trình bày lý do và có xác nhận của cơ quan, đơn vị công tác thì được
xem xét giải quyết đổi Giấy phép lái xe theo quy định tại khoản 2 và khoản 3
Điều 33 Thông tư này. Nếu không có đơn thì phải sát hạch lại lý thuyết đạt yêu
cầu mới được đổi Giấy phép lái xe;”.
6. Sửa đổi, bổ sung khoản 7 Điều 36 như sau:
“7.
Trường hợp cán bộ, chiến sĩ có Giấy phép lái xe trong Công an nhân dân khi thôi
làm nhiệm vụ an ninh thì được đổi Giấy phép lái xe đang sử dụng sang mẫu Giấy
phép lái xe ban hành kèm theo Thông tư của Bộ trưởng Bộ Công an quy định về sát
hạch, cấp Giấy phép lái xe; cấp, sử dụng Giấy phép lái xe quốc tế.”.
7. Thay thế Mẫu số 16 ban hành kèm theo Thông tư số 66/2024/TT-BCA bằng
Mẫu số 16/66 ban
hành kèm theo Thông tư này.
Bỏ cụm
từ “Công an huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh, thành phố thuộc thành
phố trực thuộc Trung ương” tại điểm b khoản 1 Điều 4.
1. Bỏ
cụm từ “Trưởng Công an quận, huyện, thị xã, thành phố thuộc tỉnh, thành phố
trực thuộc trung ương (sau đây viết gọn là Trưởng Công an cấp huyện)” tại điểm a khoản 1 Điều 5.
2. Thay
thế Mẫu số 03A và Mẫu số 03B ban hành kèm theo Thông tư
số 69/2024/TT-BCA bằng Mẫu số 03A/69 và Mẫu
số 03B/69 ban hành kèm theo Thông tư này.
1. Sửa đổi, bổ sung khoản
10 Điều 4 như sau:
“10.
Các vụ tai nạn giao thông đường bộ phải được thông báo cho Phòng Cảnh sát giao
thông và Công an xã, phường, thị trấn, Đồn Công an ở huyện nơi không có đơn vị
hành chính cấp xã (sau đây gọi chung là Công an cấp xã) nơi xảy ra vụ tai nạn
giao thông đường bộ để giải quyết theo thẩm quyền hoặc phối hợp khi có yêu cầu
và theo dõi, thống kê, tổng hợp tai nạn giao thông đường bộ xảy ra trên địa
bàn.”.
2. Sửa đổi, bổ sung điểm
b khoản 1 Điều 5 như sau:
“b) Nếu
tin báo vụ tai nạn giao thông đường bộ không xảy ra trên tuyến được giao nhiệm
vụ tuần tra, kiểm soát, xử lý vi phạm thì thông báo cho trực ban Phòng Cảnh sát
giao thông để thực hiện nhiệm vụ theo quy định của Thông tư này.”.
3. Sửa đổi, bổ sung điểm
b khoản 2 Điều 5 như sau:
“b) Nếu
tin báo vụ tai nạn giao thông đường bộ không xảy ra trên tuyến được giao nhiệm
vụ tuần tra, kiểm soát, xử lý vi phạm thì thông báo cho trực ban Cục Cảnh sát
giao thông để thực hiện nhiệm vụ theo quy định của Thông tư này.”.
4. Thay thế một số cụm từ tại các điểm, khoản thuộc
các điều như sau:
a) Thay
thế cụm từ “Công an cấp huyện” bằng cụm từ “Phòng Cảnh sát giao thông” tại điểm a khoản 1 Điều 5;
b) Thay
thế cụm từ “Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an cấp huyện” bằng cụm từ “Cơ quan
Cảnh sát điều tra Công an cấp tỉnh” tại điểm b khoản 7 Điều 6,
điểm a khoản 8 Điều 6 và điểm a khoản 9 Điều 6;
c) Thay
thế cụm từ “Viện kiểm sát nhân dân cấp huyện” bằng cụm từ “Viện kiểm sát nhân
dân cùng cấp” tại điểm b khoản 7 Điều 6.
5. Bỏ một số từ, cụm từ tại các điểm, khoản thuộc các
điều như sau:
a) Bỏ
cụm từ “Công an cấp huyện” tại điểm a khoản 4 Điều 5, khoản 5
và khoản 6 Điều 5;
b) Bỏ
cụm từ “đồng thời thông báo ngay cho Công an cấp huyện nơi xảy ra vụ tai nạn
giao thông đường bộ để phối hợp giải quyết” tại điểm b khoản 4
Điều 5;
c) Bỏ
cụm từ “Đối với cán bộ Cảnh sát giao thông Công an cấp huyện, báo cáo Trưởng
Công an cấp huyện phân công Cảnh sát điều tra tiếp nhận điều tra, giải quyết”
tại điểm a khoản 8 Điều 6;
d) Bỏ
từ “Trạm” tại điểm c khoản 3 Điều 8.
6. Bãi bỏ điểm c khoản 1
Điều 4, khoản 3 Điều 5, điểm c khoản 4 Điều 5, điểm b khoản
9 Điều 6 và điểm b khoản 2 Điều 16.
1. Sửa đổi, bổ sung điểm
b, điểm c khoản 1 Điều 24 như sau:
“b)
Trường hợp chủ phương tiện, tổ chức, cá nhân có liên quan đến vi phạm hành
chính không cư trú, đóng trụ sở tại địa bàn cấp huyện nơi cơ quan Công an đã
phát hiện vi phạm hành chính, nếu xác định vi phạm hành chính đó thuộc thẩm
quyền xử phạt của Trưởng Công an xã, phường, thị trấn, Đồn Công an ở huyện nơi
không có đơn vị hành chính cấp xã (sau đây gọi chung là Trưởng Công an cấp xã)
thì chuyển kết quả thu thập được bằng phương tiện, thiết bị kỹ thuật nghiệp vụ
đến Công an xã, phường, thị trấn, Đồn Công an ở huyện nơi không có đơn vị hành
chính cấp xã (sau đây gọi chung là Công an cấp xã) nơi chủ phương tiện, tổ
chức, cá nhân có liên quan đến vi phạm hành chính cư trú, đóng trụ sở theo Mẫu số 03/73 ban hành kèm theo Thông tư này để giải
quyết, xử lý vụ việc vi phạm (khi được trang bị hệ thống mạng kết nối gửi bằng
phương thức điện tử).
Trường
hợp vi phạm hành chính không thuộc thẩm quyền xử phạt của Trưởng Công an cấp xã
hoặc thuộc thẩm quyền xử phạt của Trưởng Công an cấp xã nhưng Công an cấp xã
chưa được trang bị hệ thống mạng kết nối thì chuyển kết quả thu thập được bằng
phương tiện, thiết bị kỹ thuật nghiệp vụ đến Phòng Cảnh sát giao thông nơi chủ
phương tiện, tổ chức, cá nhân có liên quan đến vi phạm hành chính cư trú, đóng
trụ sở theo Mẫu số 03/73 ban hành kèm theo
Thông tư này để giải quyết, xử lý vụ việc vi phạm;
c) Gửi
thông báo theo Mẫu số 01/73 ban hành kèm theo
Thông tư này yêu cầu chủ phương tiện, tổ chức, cá nhân có liên quan vụ việc vi
phạm hành chính đến trụ sở cơ quan Công an nơi phát hiện vi phạm hành chính
hoặc đến trụ sở các đội, trạm Cảnh sát giao thông thuộc Phòng Cảnh sát giao
thông, Công an cấp xã nơi cư trú, đóng trụ sở để giải quyết vụ việc vi phạm
hành chính nếu việc đi lại gặp khó khăn và không có điều kiện trực tiếp đến trụ
sở cơ quan Công an nơi phát hiện vi phạm hành chính theo quy định tại khoản 2 Điều 15 Nghị định số 135/2021/NĐ-CP. Việc gửi thông
báo vi phạm được thực hiện bằng văn bản, bằng phương thức điện từ kết nối, chia
sẻ dữ liệu trên App VNeTraffic khi đáp ứng điều kiện về cơ sở hạ tầng, kỹ
thuật, thông tin.
Đồng
thời cập nhật thông tin của phương tiện giao thông vi phạm (loại phương tiện;
biển số, màu biển số; thời gian, địa điểm vi phạm, hành vi vi phạm; đơn vị phát
hiện vi phạm; đơn vị giải quyết vụ việc, số điện thoại liên hệ) trên Trang
thông tin điện tử của Cục Cảnh sát giao thông, App VNeTraffic để chủ phương
tiện, tổ chức, cá nhân có liên quan đến vi phạm hành chính biết, tra cứu, liên
hệ giải quyết.”.
2. Sửa đổi, bổ sung điểm
b khoản 1 Điều 29 như sau:
“b)
Giám đốc Công an cấp tỉnh quyết định huy động lực lượng khác trong Công an nhân
dân thuộc quyền quản lý tham gia phối hợp với Cảnh sát giao thông thực hiện
tuần tra, kiểm soát trong phạm vi địa phương mình phụ trách.”.
3. Sửa đổi, bổ sung điểm
a khoản 1 Điều 30 như sau:
“a) Xây
dựng kế hoạch tuần tra, kiểm soát trật tự, an toàn giao thông đường bộ
Trường
hợp Bộ trưởng Bộ Công an quyết định việc huy động thì Cục Cảnh sát giao thông
có trách nhiệm xây dựng kế hoạch. Trường hợp Giám đốc Công an cấp tỉnh quyết
định việc huy động thì Phòng Cảnh sát giao thông có trách nhiệm xây dựng kế
hoạch;”.
4. Sửa đổi, bổ sung điểm
c khoản 2 Điều 30 như sau:
“c)
Trường hợp không có lực lượng Cảnh sát giao thông đi cùng thì Công an cấp xã
chỉ được kiểm tra, xử lý vi phạm trên các tuyến đường thuộc địa bàn quản lý
theo kế hoạch đã được cấp có thẩm quyền ban hành và báo cáo tình hình kết quả
thực hiện cho lực lượng Cảnh sát giao thông; trường hợp phát hiện người điều
khiển xe mô tô, xe gắn máy, xe thô sơ có một trong các hành vi vi phạm pháp luật
sau đây thì được xử lý theo quy định: không đội mũ bảo hiểm theo quy định; chở
quá số người quy định; chở hàng hóa cồng kềnh, quá kích thước giới hạn quy
định; dừng, đỗ xe không đúng quy định; lạng lách, đánh võng, điều khiển xe bằng
một bánh đối với xe hai bánh; không có gương chiếu hậu ở bên trái theo quy
định; sử dụng ô (dù); kéo, đẩy xe khác, vật khác; chưa đủ tuổi điều khiển
phương tiện theo quy định hoặc phát hiện vi phạm nghiêm trọng về trật tự, an
toàn giao thông đường bộ, an ninh, trật tự xã hội.
Khi
giải quyết, xử lý vụ việc vi phạm, nếu phát hiện hành vi vi phạm khác thì được
xử lý theo thẩm quyền, nếu vượt quá thẩm quyền xử phạt thì lập biên bản vi phạm
hành chính và báo cáo cấp có thẩm quyền xử lý theo quy định. Quá trình dừng
phương tiện giao thông, kiểm tra, xử lý vi phạm thực hiện theo quy định tại
Thông tư này.”.
5. Thay thế một số cụm từ tại các điểm, khoản thuộc
các điều như sau:
a) Thay
thế cụm từ “Trưởng Công an xã, phường, thị trấn” bằng cụm từ “Trưởng Công an
cấp xã” khoản 2 Điều 24;
b) Thay
thế cụm từ “Công an xã, phường, thị trấn” bằng cụm từ “Công an cấp xã” tại khoản 3, khoản 4, khoản 5 Điều 24; khoản 5 Điều 25;
c) Thay
thế cụm từ “Trưởng Công an cấp huyện” bằng cụm từ “Trưởng phòng Cảnh sát giao
thông” tại khoản 2 Điều 24;
d) Thay
thế cụm từ “Công an cấp huyện” bằng cụm từ “Phòng Cảnh sát giao thông” tại khoản 3, khoản 4, khoản 5 Điều 24.
6. Bỏ một số cụm từ tại các điểm, khoản thuộc các điều
như sau:
a) Bỏ
cụm từ “Trưởng Công an huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh, thành phố
trực thuộc trung ương (sau đây viết gọn là Trưởng Công an cấp huyện)” tại khoản 4 Điều 6;
b) Bỏ
cụm từ “Trưởng Công an cấp huyện” tại điểm a khoản 3 Điều 7,
khoản 3 Điều 10;
c) Bỏ
cụm từ “Đội Cảnh sát giao thông, trật tự” tại khoản 4 Điều 10.
7. Bãi bỏ điểm c khoản 1
Điều 25, điểm c khoản 1 Điều 29.
8. Thay thế các mẫu số 01, 02, 03 và 05 ban
hành kèm theo Thông tư số 73/2024/TT-BCA bằng các mẫu
số 01/73, 02/73, 03/73
và 05/73 ban
hành kèm theo Thông tư này.
1. Sửa đổi, bổ sung khoản
8 Điều 3 như sau:
“8. Tổ
chức, cá nhân trúng đấu giá biển số xe ô tô, xe mô tô, xe gắn máy được lựa chọn
đăng ký, cấp biển số xe trúng đấu giá tại Phòng Cảnh sát giao thông nơi tổ
chức, cá nhân có trụ sở, cư trú hoặc tại Phòng Cảnh sát giao thông quản lý biển
số xe trúng đấu giá đó.”.
2. Sửa đổi, bổ sung khoản
9 Điều 3 như sau:
“9. Tổ
chức, cá nhân có trụ sở, cư trú tại huyện nơi không có đơn vị hành chính cấp xã
được lựa chọn đăng ký xe tại Phòng Cảnh sát giao thông hoặc Đồn Công an được
giao nhiệm vụ đăng ký xe.”.
3. Sửa đổi, bổ sung điểm
b khoản 2 Điều 4 như sau:
“b) Xe
ô tô, xe mô tô, xe gắn máy đăng ký gắn biển số xe trúng đấu giá;”.
4. Sửa đổi, bổ sung khoản
4 Điều 4 như sau:
“4.
Công an xã, phường, thị trấn, Đồn Công an ở huyện nơi không có đơn vị hành
chính cấp xã (sau đây gọi chung là Công an cấp xã) thực hiện đăng ký xe như
sau:
a) Công
an cấp xã đã được phân cấp đăng ký xe mô tô trước ngày Thông tư này có hiệu lực
thực hiện đăng ký các loại xe ô tô, xe máy chuyên dùng, xe mô tô của tổ chức,
cá nhân trong nước có trụ sở, cư trú tại địa phương (trừ các loại xe quy định
tại khoản 1, khoản 2 Điều này);
b) Công
an cấp xã nơi trước đây Công an cấp huyện đặt trụ sở hoặc tổ chức đăng ký xe
thực hiện đăng ký các loại xe ô tô, xe máy chuyên dùng, xe mô tô của tổ chức,
cá nhân trong nước có trụ sở, cư trú tại địa phương đó và tại các xã, phường,
thị trấn thuộc quận, huyện, thị xã, thành phố đó chưa được phân cấp đăng ký xe
(trừ các loại xe quy định tại khoản 1, khoản 2 Điều này).”.
5. Sửa đổi, bổ sung khoản
5 Điều 4 như sau:
“5. Đối
với cấp xã có địa bàn đặc thù, căn cứ tình hình thực tế số lượng xe đăng ký,
tính chất địa bàn, khoảng cách địa lý, Giám đốc Công an tỉnh, thành phố trực
thuộc trung ương (sau đây viết gọn là Công an cấp tỉnh) thống nhất với Cục
trưởng Cục Cảnh sát giao thông quyết định tổ chức đăng ký xe như sau:
a) Đối
với cấp xã có số lượng xe vượt quá khả năng đăng ký thì ngoài Công an cấp xã đó
trực tiếp đăng ký xe, giao Công an cấp xã liền kề đã được phân cấp đăng ký xe
hỗ trợ tổ chức đăng ký xe theo cụm cho tổ chức, cá nhân trong nước có trụ sở,
nơi cư trú tại địa bàn;
b) Đối
với huyện nơi không có đơn vị hành chính cấp xã, giao Đồn Công an hoặc Phòng
Cảnh sát giao thông thực hiện đăng ký xe;
c) Đối
với Công an cấp xã quy định tại điểm b khoản 4 Điều này mà chưa đáp ứng được
điều kiện tổ chức đăng ký xe thì giao Công an cấp xã khác thuộc địa bàn huyện
thực hiện đăng ký xe;
d) Tiếp
tục thực hiện phân cấp đăng ký xe cho Công an cấp xã chưa được phân cấp, thời
gian hoàn thành trước ngày 30 tháng 6 năm 2026.”.
6. Sửa đổi, bổ sung điểm
b khoản 3 Điều 11 như sau:
“b) Hóa
đơn bán tài sản công hoặc hóa đơn bán tài sản nhà nước hoặc hóa đơn bán tài sản
tịch thu hoặc biên bản bàn giao, tiếp nhận tài sản (trong trường hợp xử lý theo
hình thức điều chuyển) theo quy định của pháp luật.”.
7. Sửa đổi, bổ sung điểm
c khoản 1 Điều 14 như sau:
“c) Cán
bộ đăng ký xe thực hiện tiếp nhận hồ sơ đăng ký xe lần đầu trực tuyến toàn
trình từ cổng dịch vụ công, Ứng dụng định danh quốc gia chuyển về hệ thống đăng
ký, quản lý xe để kiểm tra, hiệu chỉnh dữ liệu đăng ký xe (không phải thực hiện
việc kiểm tra thực tế xe, chà số máy, số khung của xe, chụp ảnh xe theo quy
định); in giấy khai đăng ký xe, chứng nhận đăng ký xe; trình lãnh đạo cấp có
thẩm quyền duyệt, ký hồ sơ xe, chứng nhận đăng ký xe và các giấy tờ liên quan;
đóng dấu hồ sơ xe. Trả chứng nhận đăng ký xe, biển số xe (dán tem nhận diện vào
biển số xe trúng đấu giá hoặc tem biển số xe sử dụng năng lượng sạch, năng
lượng xanh, thân thiện môi trường theo quy định) cho chủ xe qua dịch vụ bưu
chính hoặc trực tiếp tại cơ quan đăng ký xe;”.
8. Sửa đổi, bổ sung điểm
b khoản 2 Điều 27 như sau:
“b) Căn
cứ danh sách xe ô tô hết niên hạn sử dụng, xe thải bỏ, xe không được phép lưu
hành theo quy định của pháp luật do cơ quan đăng ký xe cung cấp, Công an cấp xã
thông báo chủ xe hoặc người đang sử dụng xe có trụ sở, nơi cư trú trên địa bàn,
tiến hành thu hồi chứng nhận đăng ký xe, biển số xe và cấp chứng nhận thu hồi
(bản giấy hoặc bản điện tử). Trường hợp Công an cấp xã chưa được phân cấp đăng
ký xe thì tiến hành thu hồi và bàn giao chứng nhận đăng ký xe, biển số xe cho
đơn vị Công an đã được phân cấp đăng ký xe theo cụm quản lý để thực hiện thu
hồi trên hệ thống đăng ký, quản lý xe theo quy định;”.
9. Sửa đổi, bổ sung khoản
3 Điều 34 như sau:
“3. Biểu
mẫu quy định tại các điểm a, b, c, đ, e, q và r khoản 2 Điều này được in bảo an
tại Cục Công nghiệp an ninh. Cục Cảnh sát giao thông có trách nhiệm đặt in theo
đề nghị của Công an các đơn vị, địa phương. Căn cứ nhu cầu thực tế của Công an
cấp xã và của đơn vị, Phòng Cảnh sát giao thông có văn bản gửi Cục Cảnh sát
giao thông, đồng gửi đơn vị sản xuất biểu mẫu để đặt in biểu mẫu và thanh quyết
toán theo quy định.”.
10. Bỏ cụm từ “Công an cấp huyện” tại khoản 1 Điều 10 và cụm từ “công
ích” tại khoản 6 Điều 3; điểm a khoản 1 Điều 14; điểm a,
điểm d khoản 2 Điều 14; điểm c, điểm d khoản 2 Điều 17;
khoản 2 Điều 20; điểm a, điểm b, điểm c khoản 1 Điều 21;
điểm b khoản 2 Điều 21; điểm a khoản 1 Điều 26; điểm d
khoản 1 Điều 29.
12. Thay thế các mẫu số ĐKX01, ĐKX02, ĐKX03, ĐKX05, ĐKX06, ĐKX07, ĐKX08, ĐKX09 và ĐKX10 ban
hành kèm theo Thông tư số 79/2024/TT-BCA bằng các mẫu số ĐKX01/79,
ĐKX02/79, ĐKX03/79,
ĐKX05/79, ĐKX06/79,
ĐKX07/79, ĐKX08/79,
ĐKX09/79 và ĐKX10/79
ban hành kèm theo Thông tư này.
1. Sửa
đổi, bổ sung điểm a khoản 1 Điều 5 như sau:
“a) Thẻ
căn cước, giấy chứng nhận căn cước;”.
2. Sửa
đổi, bổ sung điểm đ khoản 1 Điều 5 như sau:
“đ)
Giấy chứng nhận đăng ký xe; giấy phép lái xe do cơ quan Công an cấp; các loại
chứng nhận, chứng chỉ; giấy phép sử dụng phục vụ công tác Công an;”.
1.
Thông tư này có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01 tháng 3 năm 2025.
2. Cục
trưởng Cục Cảnh sát giao thông chịu trách nhiệm theo dõi, hướng dẫn, kiểm tra,
đôn đốc việc thực hiện Thông tư này.
3. Thủ
trưởng các đơn vị thuộc cơ quan Bộ, Giám đốc Công an tỉnh, thành phố trực thuộc
trung ương, cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan chịu trách nhiệm thi hành
Thông tư này.
4. Trong quá trình
triển khai thực hiện Thông tư này, nếu có khó khăn, vướng mắc, Công an các đơn
vị, địa phương báo cáo về Bộ Công an (qua Cục Cảnh sát giao thông) để kịp thời
hướng dẫn./.
|
Nơi nhận: |
BỘ
TRƯỞNG |
|
FILE ĐƯỢC ĐÍNH KÈM THEO VĂN BẢN |
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét