|
|
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM |
Bộ luật Tố tụng dân sự số 92/2015/QH13 ngày 25 tháng 11
năm 2015 của Quốc hội, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2016 được sửa đổi,
bổ sung bởi:
1. Bộ luật Lao động số 45/2019/QH14 ngày 20 tháng 11 năm
2019 của Quốc hội, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 01 năm 2021;
2. Luật Doanh nghiệp số 59/2020/QH14 ngày 17 tháng 6 năm
2020 của Quốc hội, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 01 năm 2021;
3. Luật Phòng, chống bạo lực gia đình số 13/2022/QH15
ngày 14 tháng 11 năm 2022 của Quốc hội, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm
2023;
4. Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng số 19/2023/QH15
ngày 20 tháng 6 năm 2023 của Quốc hội, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm
2024;
5. Luật Tổ chức Tòa án nhân dân số 34/2024/QH15 ngày 24
tháng 6 năm 2024 của Quốc hội, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 01 năm 2025;
6. Luật Công chứng số 46/2024/QH15 ngày 26 tháng 11 năm
2024 của Quốc hội, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2025.
Căn cứ Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ
nghĩa Việt Nam;
Quốc hội ban hành Bộ luật Tố tụng dân sự[1].
Chương I
NHIỆM VỤ VÀ HIỆU LỰC CỦA BỘ LUẬT TỐ TỤNG DÂN
SỰ
Điều 1. Phạm vi điều chỉnh và nhiệm vụ của Bộ
luật Tố tụng dân sự
Bộ luật Tố tụng dân sự quy định những nguyên tắc cơ bản
trong tố tụng dân sự; trình tự, thủ tục khởi kiện để Tòa án nhân dân (sau đây
gọi là Tòa án) giải quyết các vụ án về tranh chấp dân sự, hôn nhân và gia đình,
kinh doanh, thương mại, lao động (sau đây gọi chung là vụ án dân sự) và trình
tự, thủ tục yêu cầu để Tòa án giải quyết các việc về yêu cầu dân sự, hôn nhân
và gia đình, kinh doanh, thương mại, lao động (sau đây gọi chung là việc dân
sự); trình tự, thủ tục giải quyết vụ án dân sự, việc dân sự (sau đây gọi chung
là vụ việc dân sự) tại Tòa án; thủ tục công nhận và cho thi hành tại Việt Nam
bản án, quyết định dân sự của Tòa án nước ngoài, phán quyết của Trọng tài nước
ngoài; thi hành án dân sự; nhiệm vụ, quyền hạn và trách nhiệm của cơ quan tiến
hành tố tụng, người tiến hành tố tụng; quyền và nghĩa vụ của người tham gia tố
tụng, của cá nhân, của cơ quan nhà nước, đơn vị vũ trang nhân dân, tổ chức kinh
tế, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức chính trị xã hội -
nghề nghiệp, tổ chức xã hội, tổ chức xã hội - nghề nghiệp (sau đây gọi chung là
cơ quan, tổ chức) có liên quan nhằm bảo đảm cho việc giải quyết vụ việc dân sự
được nhanh chóng, chính xác, công minh và đúng pháp luật.
Bộ luật Tố tụng dân sự góp phần bảo vệ công lý, bảo vệ
quyền con người, quyền công dân, bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa, bảo vệ lợi ích
của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của cơ quan, tổ chức, cá nhân; giáo dục
mọi người nghiêm chỉnh chấp hành pháp luật.
Điều 2. Đối tượng áp dụng và hiệu lực của Bộ
luật Tố tụng dân sự
1. Bộ luật Tố tụng dân sự được áp dụng đối với mọi hoạt
động tố tụng dân sự trên lãnh thổ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, bao
gồm đất liền, hải đảo, vùng biển và vùng trời.
2. Bộ luật Tố tụng dân sự được áp dụng đối với mọi hoạt
động tố tụng dân sự do cơ quan đại diện nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam
tiến hành ở nước ngoài.
3. Bộ luật Tố tụng dân sự được áp dụng đối với việc giải
quyết vụ việc dân sự có yếu tố nước ngoài; trường hợp điều ước quốc tế mà Cộng
hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên có quy định khác thì áp dụng quy
định của điều ước quốc tế đó.
4. Cơ quan, tổ chức, cá nhân nước ngoài thuộc đối tượng
được hưởng quyền ưu đãi, miễn trừ ngoại giao hoặc quyền ưu đãi, miễn trừ lãnh
sự theo pháp luật Việt Nam, theo điều ước quốc tế mà Cộng hòa xã hội chủ nghĩa
Việt Nam là thành viên thì vụ việc dân sự có liên quan đến cơ quan, tổ chức, cá
nhân đó được giải quyết bằng con đường ngoại giao.
Điều 3. Tuân thủ pháp luật trong tố tụng dân
sự
Mọi hoạt động tố tụng dân sự của cơ quan tiến hành tố
tụng, người tiến hành tố tụng, người tham gia tố tụng, của cơ quan, tổ chức, cá
nhân có liên quan phải tuân theo các quy định của Bộ luật này.
Điều 4. Quyền yêu cầu Tòa án bảo vệ quyền và
lợi ích hợp pháp
1. Cơ quan, tổ chức, cá nhân do Bộ luật này quy định có
quyền khởi kiện vụ án dân sự, yêu cầu giải quyết việc dân sự tại Tòa án có thẩm
quyền để yêu cầu Tòa án bảo vệ công lý, bảo vệ quyền con người, quyền công dân,
bảo vệ lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của mình hoặc của người
khác.
2. Tòa án không được từ chối giải quyết vụ việc dân sự vì
lý do chưa có điều luật để áp dụng.
Vụ việc dân sự chưa có điều luật để áp dụng là vụ việc
dân sự thuộc phạm vi điều chỉnh của pháp luật dân sự nhưng tại thời điểm vụ
việc dân sự đó phát sinh và cơ quan, tổ chức, cá nhân yêu cầu Tòa án giải quyết
chưa có điều luật để áp dụng.
Việc giải quyết vụ việc dân sự quy định tại
khoản này được thực hiện theo các nguyên tắc do Bộ luật Dân sự và Bộ luật này
quy định.
Điều 5. Quyền quyết định và tự định đoạt của
đương sự
1. Đương sự có quyền quyết định việc khởi kiện, yêu cầu
Tòa án có thẩm quyền giải quyết vụ việc dân sự. Tòa án chỉ thụ lý giải quyết vụ
việc dân sự khi có đơn khởi kiện, đơn yêu cầu của đương sự và chỉ giải quyết
trong phạm vi đơn khởi kiện, đơn yêu cầu đó.
2. Trong quá trình giải quyết vụ việc dân sự, đương sự có
quyền chấm dứt, thay đổi yêu cầu của mình hoặc thỏa thuận với nhau một cách tự
nguyện, không vi phạm điều cấm của luật và không trái đạo đức xã hội.
Điều 6. Cung cấp chứng cứ và chứng minh trong
tố tụng dân sự
1. Đương sự có quyền và nghĩa vụ chủ động thu thập, giao
nộp chứng cứ cho Tòa án và chứng minh cho yêu cầu của mình là có căn cứ và hợp
pháp.
Cơ quan, tổ chức, cá nhân khởi kiện, yêu cầu để bảo vệ
quyền và lợi ích hợp pháp của người khác có quyền và nghĩa vụ thu thập, cung
cấp chứng cứ, chứng minh như đương sự.
2. Tòa án có trách nhiệm hỗ trợ đương sự trong việc thu
thập chứng cứ và chỉ tiến hành thu thập, xác minh chứng cứ trong những trường
hợp do Bộ luật này quy định.
Điều 7. Trách nhiệm cung cấp tài liệu, chứng
cứ của cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền
Cơ quan, tổ chức, cá nhân trong phạm vi nhiệm vụ, quyền
hạn của mình có trách nhiệm cung cấp đầy đủ và đúng thời hạn cho đương sự, Tòa
án, Viện kiểm sát nhân dân (sau đây gọi là Viện kiểm sát) tài liệu, chứng cứ mà
mình đang lưu giữ, quản lý khi có yêu cầu của đương sự, Tòa án, Viện kiểm sát
theo quy định của Bộ luật này và phải chịu trách nhiệm trước pháp luật về việc
cung cấp tài liệu, chứng cứ đó; trường hợp không cung cấp được thì phải thông
báo bằng văn bản và nêu rõ lý do cho đương sự, Tòa án, Viện kiểm sát.
Điều 8. Bình đẳng về quyền và nghĩa vụ trong
tố tụng dân sự
1. Trong tố tụng dân sự mọi người đều bình đẳng trước
pháp luật, không phân biệt dân tộc, giới tính, tín ngưỡng, tôn giáo, thành phần
xã hội, trình độ văn hóa, nghề nghiệp, địa vị xã hội.
Mọi cơ quan, tổ chức, cá nhân đều bình đẳng trong việc
thực hiện quyền và nghĩa vụ tố tụng trước Tòa án.
2. Tòa án có trách nhiệm bảo đảm nguyên tắc bình đẳng
trong việc thực hiện quyền và nghĩa vụ của cơ quan, tổ chức, cá nhân trong tố
tụng dân sự.
Điều 9. Bảo đảm quyền bảo vệ quyền và lợi ích
hợp pháp của đương sự
1. Đương sự có quyền tự bảo vệ hoặc nhờ luật sư hay người
khác có đủ điều kiện theo quy định của Bộ luật này bảo vệ quyền và lợi ích hợp
pháp của mình.
2. Tòa án có trách nhiệm bảo đảm cho đương sự thực hiện
quyền bảo vệ của họ.
3. Nhà nước có trách nhiệm bảo đảm trợ giúp pháp lý cho
các đối tượng theo quy định của pháp luật để họ thực hiện quyền bảo vệ quyền và
lợi ích hợp pháp trước Tòa án.
4. Không ai được hạn chế quyền bảo vệ quyền và lợi ích
hợp pháp của đương sự trong tố tụng dân sự.
Điều 10. Hòa giải trong tố tụng dân sự
Tòa án có trách nhiệm tiến hành hòa giải và tạo điều kiện
thuận lợi để các đương sự thỏa thuận với nhau về việc giải quyết vụ việc dân sự
theo quy định của Bộ luật này.
Điều 11. Hội thẩm nhân dân tham gia xét xử vụ
án dân sự
1. Việc xét xử sơ thẩm vụ án dân sự có Hội thẩm nhân dân
tham gia theo quy định của Bộ luật này, trừ trường hợp xét xử theo thủ tục rút
gọn.
2. Khi biểu quyết về quyết định giải quyết vụ án dân sự,
Hội thẩm nhân dân ngang quyền với Thẩm phán.
1. Thẩm phán, Hội thẩm nhân dân xét xử vụ án dân sự, Thẩm
phán giải quyết việc dân sự độc lập và chỉ tuân theo pháp luật.
2. Nghiêm cấm cơ quan, tổ chức, cá nhân can thiệp vào
việc xét xử của Thẩm phán, Hội thẩm nhân dân, việc giải quyết việc dân sự của
Thẩm phán dưới bất kỳ hình thức nào.
Điều 13. Trách nhiệm của cơ quan tiến hành tố
tụng, người tiến hành tố tụng
1. Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng
phải tôn trọng Nhân dân và chịu sự giám sát của Nhân dân.
2. Tòa án có nhiệm vụ bảo vệ công lý, bảo vệ quyền con
người, quyền công dân, bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa, bảo vệ lợi ích của Nhà
nước, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân.
Viện kiểm sát có nhiệm vụ bảo vệ pháp luật, bảo vệ quyền
con người, quyền công dân, bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa, bảo vệ lợi ích của
Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân, góp phần bảo đảm pháp
luật được chấp hành nghiêm chỉnh và thống nhất.
3. Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng
phải giữ bí mật nhà nước, bí mật công tác theo quy định của pháp luật; giữ gìn
thuần phong mỹ tục của dân tộc, bảo vệ người chưa thành niên, giữ bí mật nghề
nghiệp, bí mật kinh doanh, bí mật cá nhân, bí mật gia đình của đương sự
theo yêu cầu chính đáng của họ.
4. Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng
chịu trách nhiệm trước pháp luật về việc thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn của
mình. Trường hợp người tiến hành tố tụng có hành vi trái pháp luật thì tùy theo
tính chất, mức độ vi phạm mà bị xử lý kỷ luật hoặc bị truy cứu trách nhiệm hình
sự theo quy định của pháp luật.
5. Người tiến hành tố tụng trong khi thực hiện nhiệm vụ,
quyền hạn của mình có hành vi trái pháp luật gây thiệt hại cho cơ quan, tổ
chức, cá nhân thì cơ quan trực tiếp quản lý người thi hành công vụ có hành vi
trái pháp luật đó phải bồi thường cho người bị thiệt hại theo quy định của pháp
luật về trách nhiệm bồi thường của Nhà nước.
Điều 14. Tòa án xét xử tập thể
Tòa án xét xử tập thể vụ án dân sự và quyết định theo đa
số, trừ trường hợp xét xử theo thủ tục rút gọn.
Điều 15. Tòa án xét xử kịp thời, công bằng,
công khai
1. Tòa án xét xử kịp thời trong thời hạn do Bộ luật này
quy định, bảo đảm công bằng.
2. Tòa án xét xử công khai. Trường hợp đặc biệt cần giữ
bí mật nhà nước, giữ gìn thuần phong mỹ tục của dân tộc, bảo vệ người chưa
thành niên hoặc giữ bí mật nghề nghiệp, bí mật kinh doanh, bí mật cá nhân, bí
mật gia đình của đương sự theo yêu cầu chính đáng của họ thì Tòa
án có thể xét xử kín.
Điều 16. Bảo đảm sự vô tư, khách quan trong
tố tụng dân sự
1. Chánh án Tòa án, Thẩm phán, Hội thẩm nhân dân, Thẩm
tra viên, Thư ký Tòa án, Viện trưởng Viện kiểm sát, Kiểm sát viên, Kiểm tra
viên, người phiên dịch, người giám định, thành viên Hội đồng định giá không
được tiến hành hoặc tham gia tố tụng nếu có lý do xác đáng để cho rằng họ có
thể không vô tư, khách quan trong khi thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn của mình.
2. Việc phân công người tiến hành tố tụng phải bảo đảm để
họ vô tư, khách quan khi thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn của mình.
Điều 17. Bảo đảm chế độ xét xử sơ thẩm, phúc
thẩm
1. Chế độ xét xử sơ thẩm, phúc thẩm được bảo đảm.
Bản án, quyết định sơ thẩm của Tòa án có thể bị kháng
cáo, kháng nghị theo quy định của Bộ luật này.
Bản án, quyết định sơ thẩm của Tòa án không bị kháng cáo,
kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm trong thời hạn do Bộ luật này quy định thì có
hiệu lực pháp luật. Bản án, quyết định sơ thẩm của Tòa án bị kháng cáo, kháng
nghị thì vụ án phải được xét xử phúc thẩm. Bản án, quyết định phúc thẩm có hiệu
lực pháp luật.
2. Bản án, quyết định của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật
mà phát hiện có vi phạm pháp luật hoặc có tình tiết mới theo quy định của Bộ
luật này thì được xem
xét lại theo thủ tục giám đốc thẩm hoặc tái thẩm.
Tòa án nhân dân tối
cao giám đốc việc xét xử của các Tòa án; Tòa án nhân dân cấp cao giám đốc việc
xét xử của Tòa án nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương (sau đây gọi
chung là Tòa án nhân dân cấp tỉnh), Tòa án nhân dân huyện, quận, thị xã, thành
phố thuộc tỉnh và thành phố thuộc thành phố trực thuộc Trung ương (sau đây gọi
chung là Tòa án nhân dân cấp huyện) thuộc phạm vi thẩm quyền theo lãnh thổ để
bảo đảm việc áp dụng pháp luật nghiêm chỉnh và thống nhất.
Điều 19. Bảo đảm hiệu lực của bản án, quyết định của Tòa án
1. Bản án, quyết
định của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật phải được thi hành và phải được cơ
quan, tổ chức, cá nhân tôn trọng; cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan phải
nghiêm chỉnh chấp hành.
2. Trong phạm vi
nhiệm vụ, quyền hạn của mình, Tòa án và cơ quan, tổ chức được giao nhiệm vụ thi
hành bản án, quyết định của Tòa án phải nghiêm chỉnh thi hành và chịu trách
nhiệm trước pháp luật về việc thực hiện nhiệm vụ đó.
3. Tòa án có quyền
yêu cầu cơ quan thi hành án thông báo tiến độ, kết quả thi hành bản án, quyết
định của Tòa án. Cơ quan thi hành án trực tiếp tổ chức thi hành bản án, quyết
định của Tòa án có trách nhiệm trả lời cho Tòa án.
Điều 20. Tiếng nói và chữ viết dùng trong tố tụng dân sự
Tiếng nói và chữ
viết dùng trong tố tụng dân sự là tiếng Việt.
Người tham gia tố
tụng dân sự có quyền dùng tiếng nói và chữ viết của dân tộc mình; trường hợp
này phải có người phiên dịch.
Người tham gia tố
tụng dân sự là người khuyết tật nghe, nói hoặc khuyết tật nhìn có quyền dùng
ngôn ngữ, ký hiệu, chữ dành riêng cho người khuyết tật; trường hợp này phải có
người biết ngôn ngữ, ký hiệu, chữ dành riêng cho người khuyết tật để dịch lại.
Điều 21. Kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong tố tụng dân sự
1. Viện kiểm sát
kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong tố tụng dân sự, thực hiện các quyền yêu
cầu, kiến nghị, kháng nghị theo quy định của pháp luật nhằm bảo đảm cho việc
giải quyết vụ việc dân sự kịp thời, đúng pháp luật.
2. Viện kiểm sát
tham gia các phiên họp sơ thẩm đối với các việc dân sự; phiên tòa sơ thẩm đối
với những vụ án do Tòa án tiến hành thu thập chứng cứ hoặc đối tượng tranh chấp
là tài sản công, lợi ích công cộng, quyền sử dụng đất, nhà ở hoặc có đương sự là
người chưa thành niên, người mất năng lực hành vi dân sự, người bị hạn chế năng
lực hành vi dân sự, người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi hoặc
trường hợp quy định tại khoản 2 Điều 4 của Bộ luật này.
3. Viện kiểm sát
tham gia phiên tòa, phiên họp phúc thẩm, giám đốc thẩm, tái thẩm.
4. Viện kiểm sát
nhân dân tối cao chủ trì phối hợp với Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn thi
hành Điều này.
Điều 22. Trách nhiệm chuyển giao tài liệu, giấy tờ của Tòa án
1. Tòa án có trách
nhiệm tống đạt, chuyển giao, thông báo bản án, quyết định, giấy triệu tập, giấy
mời và các giấy tờ khác của Tòa án theo quy định của Bộ luật này.
2. Ủy ban nhân dân
cấp xã hoặc cơ quan, tổ chức, cá nhân liên quan có trách nhiệm chuyển giao bản
án, quyết định, giấy triệu tập, giấy mời và các giấy tờ khác của Tòa án khi có
yêu cầu của Tòa án và phải thông báo kết quả việc chuyển giao đó cho Tòa án.
Điều 23. Việc tham gia tố tụng dân sự của cơ quan, tổ chức, cá nhân
Cơ quan, tổ chức, cá
nhân có quyền và nghĩa vụ tham gia tố tụng dân sự theo quy định của Bộ luật
này, góp phần vào việc giải quyết vụ việc dân sự tại Tòa án kịp thời, đúng pháp
luật.
Điều 24. Bảo đảm tranh tụng trong xét xử
1. Tòa án có trách
nhiệm bảo đảm cho đương sự, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự
thực hiện quyền tranh tụng trong xét xử sơ thẩm, phúc thẩm, giám đốc thẩm, tái
thẩm theo quy định của Bộ luật này.
2. Đương sự, người
bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự có quyền thu thập, giao nộp tài
liệu, chứng cứ kể từ khi Tòa án thụ lý vụ án dân sự và có nghĩa
vụ thông báo cho nhau các tài liệu, chứng cứ đã giao nộp; trình bày, đối đáp,
phát biểu quan điểm, lập luận về đánh giá chứng cứ và pháp luật áp dụng để bảo
vệ yêu cầu, quyền, lợi ích hợp pháp của mình hoặc bác bỏ yêu cầu của người khác
theo quy định của Bộ luật này.
3. Trong quá trình
xét xử, mọi tài liệu, chứng cứ phải được xem xét đầy đủ, khách quan, toàn diện,
công khai, trừ trường hợp không được công khai theo quy định tại khoản
2 Điều 109 của Bộ luật này. Tòa án điều hành việc tranh tụng, hỏi
những vấn đề chưa rõ và căn cứ vào kết quả tranh tụng để ra bản án, quyết định.
Điều 25. Bảo đảm quyền khiếu nại, tố cáo trong tố tụng dân sự
Cơ quan, tổ chức, cá
nhân có quyền khiếu nại, cá nhân có quyền tố cáo những hành vi, quyết định trái
pháp luật của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng
hoặc của bất cứ cơ quan, tổ chức, cá nhân nào trong hoạt động tố tụng dân sự.
Cơ quan, tổ chức, cá
nhân có thẩm quyền phải tiếp nhận, xem xét và giải quyết kịp thời, đúng pháp
luật khiếu nại, tố cáo; thông báo bằng văn bản về kết quả giải quyết cho người
đã khiếu nại, tố cáo.
Mục 1. NHỮNG VỤ VIỆC DÂN SỰ THUỘC THẨM QUYỀN GIẢI QUYẾT CỦA TÒA ÁN
Điều 26. Những tranh chấp về dân sự thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa
án
1. Tranh chấp về
quốc tịch Việt Nam giữa cá nhân với cá nhân.
2. Tranh chấp về
quyền sở hữu và các quyền khác đối với tài sản.
3. Tranh chấp về
giao dịch dân sự, hợp đồng dân sự.
4. Tranh chấp về
quyền sở hữu trí tuệ, chuyển giao công nghệ, trừ trường hợp quy định tại khoản 2 Điều 30 của Bộ luật này.
5. Tranh chấp về
thừa kế tài sản.
6. Tranh chấp về bồi
thường thiệt hại ngoài hợp đồng.
7. Tranh chấp về bồi
thường thiệt hại do áp dụng biện pháp ngăn chặn hành chính không đúng theo quy
định của pháp luật về cạnh tranh, trừ trường hợp yêu cầu bồi thường thiệt hại
được giải quyết trong vụ án hành chính.
8. Tranh chấp về
khai thác, sử dụng tài nguyên nước, xả thải vào nguồn nước theo quy định của
Luật Tài nguyên nước.
9. Tranh chấp đất
đai theo quy định của pháp luật về đất đai; tranh chấp về quyền sở hữu, quyền
sử dụng rừng theo quy định của Luật Bảo vệ và phát triển rừng.
10. Tranh chấp liên
quan đến hoạt động nghiệp vụ báo chí theo quy định của pháp luật về báo chí.
11. Tranh chấp liên
quan đến yêu cầu tuyên bố văn bản công chứng vô hiệu.
12. Tranh chấp liên
quan đến tài sản bị cưỡng chế để thi hành án theo quy định của pháp luật về thi
hành án dân sự.
13. Tranh chấp về
kết quả bán đấu giá tài sản, thanh toán phí tổn đăng ký mua tài sản bán đấu giá
theo quy định của pháp luật về thi hành án dân sự.
14. Các tranh chấp
khác về dân sự, trừ trường hợp thuộc thẩm quyền giải quyết của cơ quan, tổ chức
khác theo quy định của pháp luật.
Điều 27. Những yêu cầu về dân sự thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án
1. Yêu cầu tuyên bố
hoặc hủy bỏ quyết định tuyên bố một người mất năng lực hành vi dân sự, bị hạn
chế năng lực hành vi dân sự hoặc có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi.
2. Yêu cầu thông báo
tìm kiếm người vắng mặt tại nơi cư trú và quản lý tài sản của người đó.
3. Yêu cầu tuyên bố
hoặc hủy bỏ quyết định tuyên bố một người mất tích.
4. Yêu cầu tuyên bố
hoặc hủy bỏ quyết định tuyên bố một người là đã chết.
5. Yêu cầu công nhận
và cho thi hành tại Việt Nam hoặc không công nhận bản án, quyết định về dân sự,
quyết định về tài sản trong bản án, quyết định hình sự, hành chính của Tòa án
nước ngoài hoặc không công nhận bản án, quyết định về dân sự, quyết định về tài
sản trong bản án, quyết định hình sự, hành chính của Tòa án nước ngoài không có
yêu cầu thi hành tại Việt Nam.
6. Yêu cầu tuyên bố
văn bản công chứng vô hiệu.
7. Yêu cầu công nhận
kết quả hòa giải thành ngoài Tòa án.
8. Yêu cầu công nhận
tài sản có trên lãnh thổ Việt Nam là vô chủ, công nhận quyền sở hữu của người
đang quản lý đối với tài sản vô chủ trên lãnh thổ Việt Nam theo quy định tại điểm đ khoản 2 Điều 470 của Bộ luật này.
9. Yêu cầu xác định
quyền sở hữu, quyền sử dụng tài sản, phân chia tài sản chung để thi hành án và
yêu cầu khác theo quy định của Luật Thi hành án dân sự.
10. Các yêu cầu khác
về dân sự, trừ trường hợp thuộc thẩm quyền giải quyết của cơ quan, tổ chức khác
theo quy định của pháp luật.
Điều 28. Những tranh chấp về hôn nhân và gia đình thuộc thẩm quyền giải
quyết của Tòa án
1. Ly hôn, tranh
chấp về nuôi con, chia tài sản khi ly hôn; chia tài sản sau khi ly hôn.
2. Tranh chấp về
chia tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân.
3. Tranh chấp về
thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn.
4. Tranh chấp về xác
định cha, mẹ cho con hoặc xác định con cho cha, mẹ.
5. Tranh chấp về cấp
dưỡng.
6. Tranh chấp về
sinh con bằng kỹ thuật hỗ trợ sinh sản, mang thai hộ vì mục đích nhân đạo.
7. Tranh chấp về
nuôi con, chia tài sản của nam, nữ chung sống với nhau như vợ chồng mà không
đăng ký kết hôn hoặc khi hủy kết hôn trái pháp luật.
8. Các tranh chấp
khác về hôn nhân và gia đình, trừ trường hợp thuộc thẩm quyền giải quyết của cơ
quan, tổ chức khác theo quy định của pháp luật.
Điều 29. Những yêu cầu về hôn nhân và gia đình thuộc thẩm quyền giải
quyết của Tòa án
1. Yêu cầu hủy việc
kết hôn trái pháp luật.
2. Yêu cầu công nhận
thuận tình ly hôn, thỏa thuận nuôi con, chia tài sản khi ly hôn.
3. Yêu cầu công nhận
thỏa thuận của cha, mẹ về thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn hoặc
công nhận việc thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn của cơ quan, tổ
chức, cá nhân theo quy định của pháp luật về hôn nhân và gia đình.
4. Yêu cầu hạn chế
quyền của cha, mẹ đối với con chưa thành niên hoặc quyền thăm nom con sau khi
ly hôn.
5. Yêu cầu chấm dứt
việc nuôi con nuôi.
6. Yêu cầu liên quan
đến việc mang thai hộ theo quy định của pháp luật hôn nhân và gia đình.
7. Yêu cầu công nhận
thỏa thuận chấm dứt hiệu lực của việc chia tài
sản chung trong thời kỳ hôn nhân đã được thực hiện theo bản án, quyết định của
Tòa án.
8. Yêu cầu tuyên bố
vô hiệu thỏa thuận về chế độ tài sản của vợ chồng theo quy định của pháp luật
hôn nhân và gia đình.
9. Yêu cầu công nhận
và cho thi hành tại Việt Nam hoặc không công nhận bản án, quyết định về hôn
nhân và gia đình của Tòa án nước ngoài hoặc cơ quan khác có thẩm quyền của nước
ngoài hoặc không công nhận bản án, quyết định về hôn nhân và gia đình của Tòa
án nước ngoài hoặc cơ quan khác có thẩm quyền của nước ngoài không có yêu cầu
thi hành tại Việt Nam.
10. Yêu cầu xác định
cha, mẹ cho con hoặc con cho cha, mẹ theo quy định của pháp luật về hôn nhân và
gia đình.
11. Các yêu cầu khác
về hôn nhân và gia đình, trừ trường hợp thuộc thẩm quyền giải quyết của cơ
quan, tổ chức khác theo quy định của pháp luật.
Điều 30. Những tranh chấp về kinh doanh, thương mại thuộc thẩm quyền
giải quyết của Tòa án
1. Tranh chấp phát
sinh trong hoạt động kinh doanh, thương mại giữa cá nhân, tổ chức có đăng ký
kinh doanh với nhau và đều có mục đích lợi nhuận.
2. Tranh chấp về
quyền sở hữu trí tuệ, chuyển giao công nghệ giữa cá nhân, tổ chức với nhau và
đều có mục đích lợi nhuận.
3. Tranh chấp giữa
người chưa phải là thành viên công ty nhưng có giao dịch về chuyển nhượng phần
vốn góp với công ty, thành viên công ty.
4. Tranh chấp giữa
công ty với các thành viên của công ty; tranh chấp giữa công ty với người quản
lý trong công ty trách nhiệm hữu hạn hoặc thành viên Hội đồng quản trị, giám
đốc, tổng giám đốc trong công ty cổ phần, giữa các thành viên của
công ty với nhau liên quan đến việc thành lập, hoạt động, giải thể, sáp nhập,
hợp nhất, chia, tách, bàn giao tài sản của công ty, chuyển đổi hình thức tổ
chức của công ty.
5. Các tranh chấp
khác về kinh doanh, thương mại, trừ trường hợp thuộc thẩm quyền giải quyết của
cơ quan, tổ chức khác theo quy định của pháp luật.
Điều 31. Những yêu cầu về kinh doanh, thương mại thuộc thẩm quyền giải
quyết của Tòa án
1. Yêu cầu hủy bỏ
nghị quyết của Đại hội đồng cổ đông, nghị quyết của Hội đồng thành viên theo
quy định của pháp luật về doanh nghiệp.
2. Yêu cầu liên quan
đến việc Trọng tài thương mại Việt Nam giải quyết tranh chấp theo quy định của
pháp luật về Trọng tài thương mại.
3. Yêu cầu bắt giữ
tàu bay, tàu biển theo quy định của pháp luật về hàng không dân dụng Việt Nam,
về hàng hải Việt Nam, trừ trường hợp bắt giữ tàu bay, tàu biển để bảo đảm giải
quyết vụ án.
4. Yêu cầu công nhận
và cho thi hành tại Việt Nam hoặc không công nhận bản án, quyết định kinh
doanh, thương mại của Tòa án nước ngoài hoặc không công nhận bản án, quyết định
kinh doanh, thương mại của Tòa án nước ngoài không có yêu cầu thi hành tại Việt
Nam.
5. Yêu cầu công nhận
và cho thi hành tại Việt Nam phán quyết kinh doanh, thương mại của Trọng tài
nước ngoài.
6. Các yêu cầu khác
về kinh doanh, thương mại, trừ trường hợp thuộc thẩm quyền giải quyết của cơ
quan, tổ chức khác theo quy định của pháp luật.
Điều 32. Những tranh chấp về lao động và tranh chấp liên quan đến lao động thuộc
thẩm quyền giải quyết của Tòa án[2]
1.[3] Tranh chấp lao động cá
nhân giữa người lao động với người sử dụng lao động phải thông qua thủ tục hòa
giải của hòa giải viên lao động mà hòa giải thành nhưng các bên không thực hiện
hoặc thực hiện không đúng, hòa giải không thành hoặc hết thời hạn hòa giải theo
quy định của pháp luật về lao động mà hòa giải viên lao động không tiến hành
hòa giải, trừ các tranh chấp lao động sau đây không bắt buộc phải qua thủ tục
hòa giải:
a) Về xử lý kỷ luật lao động theo hình thức sa thải hoặc
về trường hợp bị đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động;
b) Về bồi thường thiệt hại, trợ cấp khi chấm dứt hợp đồng
lao động;
c) Giữa người giúp việc gia đình với người sử dụng lao
động;
d) Về bảo hiểm xã hội theo quy định của pháp luật về bảo
hiểm xã hội, về bảo hiểm y tế theo quy định của pháp luật về bảo hiểm y tế, về
bảo hiểm thất nghiệp theo quy định của pháp luật về việc làm, về bảo hiểm tai
nạn lao động, bệnh nghề nghiệp theo quy định của pháp luật về an toàn, vệ sinh
lao động;
đ) Về bồi thường thiệt hại giữa người lao động với doanh
nghiệp, tổ chức đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng;
e) Giữa người lao động thuê lại với người sử dụng lao
động thuê lại.
1a.[4] Tranh chấp lao động cá
nhân mà hai bên thỏa thuận lựa chọn Hội đồng trọng tài lao động giải quyết
nhưng hết thời hạn theo quy định của pháp luật về lao động mà Ban trọng tài lao
động không được thành lập, Ban trọng tài lao động không ra quyết định giải quyết
tranh chấp hoặc một trong các bên không thi hành quyết định của Ban trọng tài
lao động thì có quyền yêu cầu Tòa án giải quyết.
1b.[5] Tranh chấp lao động tập
thể về quyền theo quy định của pháp luật về lao động đã qua thủ tục hòa giải
của hòa giải viên lao động mà hòa giải không thành, hết thời hạn hòa giải theo
quy định của pháp luật về lao động mà hòa giải viên lao động không tiến hành
hòa giải hoặc một trong các bên không thực hiện biên bản hòa giải thành thì có
quyền yêu cầu Tòa án giải quyết.
1c.[6] Tranh chấp lao động tập
thể về quyền mà hai bên thỏa thuận lựa chọn Hội đồng trọng tài lao động giải
quyết nhưng hết thời hạn theo quy định của pháp luật về lao động mà Ban trọng
tài lao động không được thành lập, Ban trọng tài lao động không ra quyết định
giải quyết tranh chấp hoặc một trong các bên không thi hành quyết định của Ban
trọng tài lao động thì có quyền yêu cầu Tòa án giải quyết.
2.[7] (được bãi bỏ)
3. Tranh chấp liên
quan đến lao động bao gồm:
a) Tranh chấp về học
nghề, tập nghề;
b) Tranh chấp về cho
thuê lại lao động;
c) Tranh chấp về
quyền công đoàn, kinh phí công đoàn;
d) Tranh chấp về an
toàn lao động, vệ sinh lao động.
4. Tranh chấp về bồi
thường thiệt hại do đình công bất hợp pháp.
5. Các tranh chấp
khác về lao động, trừ trường hợp thuộc thẩm quyền giải quyết của cơ quan, tổ
chức khác theo quy định của pháp luật.
Điều 33. Những yêu cầu về lao động thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa
án
1. Yêu cầu tuyên bố
hợp đồng lao động, thỏa ước lao động tập thể vô hiệu.
2. Yêu cầu xét tính
hợp pháp của cuộc đình công.
3. Yêu cầu công nhận
và cho thi hành tại Việt Nam hoặc không công nhận bản án, quyết định lao động
của Tòa án nước ngoài hoặc không công nhận bản án, quyết định lao động của Tòa
án nước ngoài không có yêu cầu thi hành tại Việt Nam.
4. Yêu cầu công nhận
và cho thi hành tại Việt Nam phán quyết lao động của Trọng tài nước ngoài.
5. Các yêu cầu khác
về lao động, trừ trường hợp thuộc thẩm quyền giải quyết của cơ quan, tổ chức
khác theo quy định của pháp luật.
Điều 34. Thẩm quyền của Tòa án đối với quyết định cá biệt của cơ quan,
tổ chức
1. Khi giải quyết vụ
việc dân sự, Tòa án có quyền hủy quyết định cá biệt trái pháp luật của cơ quan,
tổ chức, người có thẩm quyền xâm phạm quyền, lợi ích hợp pháp của đương sự
trong vụ việc dân sự mà Tòa án có nhiệm vụ giải quyết.
2. Quyết định cá
biệt quy định tại khoản 1 Điều này là quyết định đã được ban hành về một vấn đề
cụ thể và được áp dụng một lần đối với một hoặc một số đối tượng cụ thể. Trường
hợp vụ việc dân sự có liên quan đến quyết định này thì phải được Tòa án xem xét
trong cùng một vụ việc dân sự đó.
3. Khi xem xét hủy
quyết định quy định tại khoản 1 Điều này, Tòa án phải đưa cơ quan, tổ chức hoặc
người có thẩm quyền đã ban hành quyết định tham gia tố tụng với tư cách người
có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan.
Cơ quan, tổ chức,
người có thẩm quyền đã ban hành quyết định phải tham gia tố tụng và trình bày ý
kiến của mình về quyết định cá biệt bị Tòa án xem xét hủy.
4. Thẩm quyền của
cấp Tòa án giải quyết vụ việc dân sự trong trường hợp có xem xét việc hủy quyết
định cá biệt quy định tại khoản 1 Điều này được xác định theo quy định tương
ứng của Luật Tố tụng hành chính về thẩm quyền của Tòa án nhân dân cấp huyện, Tòa
án nhân dân cấp tỉnh.
Mục
2. THẨM QUYỀN CỦA TÒA ÁN CÁC CẤP
Điều
35. Thẩm quyền của Tòa án nhân dân cấp huyện
1. Tòa án nhân dân cấp
huyện có thẩm quyền giải quyết theo thủ tục sơ thẩm những tranh chấp sau đây:
a) Tranh chấp về dân sự,
hôn nhân và gia đình quy định tại Điều 26 và Điều 28 của Bộ luật
này, trừ tranh chấp quy định tại khoản 7 Điều 26 của Bộ luật
này;
b) Tranh chấp về kinh
doanh, thương mại quy định tại khoản 1 Điều 30 của Bộ luật này;
c) Tranh chấp về lao
động quy định tại Điều 32 của Bộ luật này.
2. Tòa án nhân dân cấp
huyện có thẩm quyền giải quyết những yêu cầu sau đây:
a) Yêu cầu về dân sự quy
định tại các khoản 1, 2, 3, 4, 6, 7, 8, 9 và 10 Điều 27 của Bộ
luật này;
b) Yêu cầu về hôn nhân
và gia đình quy định tại các khoản 1, 2, 3, 4, 5, 6, 7, 8, 10
và 11 Điều 29 của Bộ luật này;
c) Yêu cầu về kinh
doanh, thương mại quy định tại khoản 1 và khoản 6 Điều 31 của
Bộ luật này;
d) Yêu cầu về lao động
quy định tại khoản 1 và khoản 5 Điều 33 của Bộ luật này.
3. Những tranh chấp, yêu
cầu quy định tại khoản 1 và khoản 2 Điều này mà có đương sự hoặc tài sản ở nước
ngoài hoặc cần phải ủy thác tư pháp cho cơ quan đại diện nước Cộng hòa xã hội
chủ nghĩa Việt Nam ở nước ngoài, cho Tòa án, cơ quan có thẩm quyền của nước
ngoài không thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân cấp huyện, trừ
trường hợp quy định tại khoản 4 Điều này.
4. Tòa án nhân dân cấp
huyện nơi cư trú của công dân Việt Nam hủy việc kết hôn trái pháp luật, giải
quyết việc ly hôn, các tranh chấp về quyền và nghĩa vụ của vợ chồng, cha mẹ và
con, về nhận cha, mẹ, con, nuôi con nuôi và giám hộ giữa công dân Việt Nam cư
trú ở khu vực biên giới với công dân của nước láng giềng cùng cư trú ở khu vực
biên giới với Việt Nam theo quy định của Bộ luật này và các quy định khác của
pháp luật Việt Nam.
Điều
36. Thẩm quyền của các Tòa chuyên trách Tòa án nhân dân cấp huyện
1. Tòa dân sự Tòa án
nhân dân cấp huyện có thẩm quyền giải quyết theo thủ tục sơ thẩm những vụ việc
về dân sự, kinh doanh, thương mại, lao động thuộc thẩm quyền của Tòa án nhân
dân cấp huyện quy định tại Điều 35 của Bộ luật này.
2. Tòa gia đình và người
chưa thành niên Tòa án nhân dân cấp huyện có thẩm quyền giải quyết theo thủ tục
sơ thẩm những vụ việc về hôn nhân và gia đình thuộc thẩm quyền
của Tòa án nhân dân cấp huyện quy định tại Điều 35 của Bộ luật
này.
3. Đối với Tòa án nhân
dân cấp huyện chưa có Tòa chuyên trách thì Chánh án Tòa án có trách nhiệm tổ
chức công tác xét xử và phân công Thẩm phán giải quyết vụ việc thuộc thẩm quyền
của Tòa án nhân dân cấp huyện.
Điều
37. Thẩm quyền của Tòa án nhân dân cấp tỉnh
1. Tòa án nhân dân cấp
tỉnh có thẩm quyền giải quyết theo thủ tục sơ thẩm những vụ việc sau đây:
a) Tranh chấp về dân sự,
hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại, lao động quy định tại các điều 26, 28, 30 và 32 của Bộ luật này, trừ
những tranh chấp thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân cấp huyện quy
định tại khoản 1 và khoản 4 Điều 35 của Bộ luật này;
b) Yêu cầu về dân sự,
hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại, lao động quy định tại các điều 27, 29, 31 và 33 của Bộ luật này, trừ
những yêu cầu thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân cấp huyện quy
định tại khoản 2 và khoản 4 Điều 35 của Bộ luật này;
c) Tranh chấp, yêu cầu
quy định tại khoản 3 Điều 35 của Bộ luật này.
2. Tòa án nhân dân cấp
tỉnh có thẩm quyền giải quyết theo thủ tục sơ thẩm những vụ việc dân sự thuộc
thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân cấp huyện quy định tại Điều
35 của Bộ luật này mà Tòa án nhân dân cấp tỉnh tự mình lấy lên để giải
quyết khi xét thấy cần thiết hoặc theo đề nghị của Tòa án nhân dân cấp huyện.
Điều
38. Thẩm quyền của các Tòa chuyên trách Tòa án nhân dân cấp tỉnh
1. Tòa dân sự Tòa án
nhân dân cấp tỉnh có thẩm quyền:
a) Giải quyết theo thủ
tục sơ thẩm những tranh chấp, yêu cầu về dân sự thuộc thẩm quyền của Tòa án
nhân dân cấp tỉnh quy định tại Điều 37 của Bộ luật này;
b) Giải quyết theo thủ
tục phúc thẩm những vụ việc mà bản án, quyết định dân sự chưa có hiệu lực pháp
luật của Tòa án nhân dân cấp huyện bị kháng cáo, kháng nghị theo quy định của
Bộ luật này.
2. Tòa gia đình và người
chưa thành niên Tòa án nhân dân cấp tỉnh có thẩm quyền:
a) Giải quyết theo thủ
tục sơ thẩm những tranh chấp, yêu cầu về hôn nhân và gia đình thuộc thẩm quyền
của Tòa án nhân dân cấp tỉnh quy định tại Điều 37 của Bộ luật
này;
b) Giải quyết theo thủ
tục phúc thẩm những vụ việc mà bản án, quyết định hôn nhân và gia đình chưa có
hiệu lực pháp luật của Tòa án nhân dân cấp huyện bị kháng cáo, kháng nghị theo
quy định của Bộ luật này.
3. Tòa kinh tế Tòa án
nhân dân cấp tỉnh có thẩm quyền:
a) Giải quyết theo thủ
tục sơ thẩm những tranh chấp, yêu cầu về kinh doanh, thương mại thuộc thẩm
quyền của Tòa án nhân dân cấp tỉnh quy định tại Điều 37 của Bộ
luật này;
b) Giải quyết theo thủ
tục phúc thẩm những vụ việc mà bản án, quyết định kinh doanh, thương mại chưa
có hiệu lực pháp luật của Tòa án nhân dân cấp huyện bị kháng cáo, kháng nghị
theo quy định của Bộ luật này.
4. Tòa lao động Tòa án
nhân dân cấp tỉnh có thẩm quyền:
a) Giải quyết theo thủ
tục sơ thẩm những tranh chấp, yêu cầu về lao động thuộc thẩm quyền của Tòa án
nhân dân cấp tỉnh quy định tại Điều 37 của Bộ luật này;
b) Giải quyết theo thủ
tục phúc thẩm những vụ việc mà bản án, quyết định lao động chưa có hiệu lực
pháp luật của Tòa án nhân dân cấp huyện bị kháng cáo, kháng nghị theo quy định
của Bộ luật này.
Điều
39. Thẩm quyền của Tòa án theo lãnh thổ
1. Thẩm quyền giải quyết
vụ án dân sự của Tòa án theo lãnh thổ được xác định như sau:
a) Tòa án nơi bị đơn cư
trú, làm việc, nếu bị đơn là cá nhân hoặc nơi bị đơn có trụ sở, nếu bị đơn là
cơ quan, tổ chức có thẩm quyền giải quyết theo thủ tục sơ thẩm những tranh chấp
về dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại, lao động quy định tại
các điều 26, 28, 30 và 32 của Bộ luật này;
b) Các đương sự có quyền
tự thỏa thuận với nhau bằng văn bản yêu cầu Tòa án nơi cư trú, làm việc của
nguyên đơn, nếu nguyên đơn là cá nhân hoặc nơi có trụ sở của nguyên đơn, nếu
nguyên đơn là cơ quan, tổ chức giải quyết những tranh chấp về dân sự, hôn nhân
và gia đình, kinh doanh, thương mại, lao động quy định tại các điều
26, 28, 30 và 32 của Bộ luật này;
c) Đối tượng tranh chấp
là bất động sản thì chỉ Tòa án nơi có bất động sản có thẩm quyền giải quyết.
2. Thẩm quyền giải quyết
việc dân sự của Tòa án theo lãnh thổ được xác định như sau:
a) Tòa án nơi người bị
yêu cầu tuyên bố mất năng lực hành vi dân sự, bị hạn chế năng lực hành vi dân
sự hoặc có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi cư trú, làm việc có thẩm
quyền giải quyết yêu cầu tuyên bố một người mất năng lực hành vi dân sự, bị hạn
chế năng lực hành vi dân sự hoặc có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi;
b) Tòa án nơi người bị
yêu cầu thông báo tìm kiếm vắng mặt tại nơi cư trú, bị yêu cầu tuyên bố mất
tích hoặc là đã chết có nơi cư trú cuối cùng có thẩm quyền giải quyết yêu cầu
thông báo tìm kiếm người vắng mặt tại nơi cư trú và quản lý tài sản của người
đó, yêu cầu tuyên bố một người mất tích hoặc là đã chết;
c) Tòa án nơi người yêu
cầu hủy bỏ quyết định tuyên bố một người mất năng lực hành vi dân sự, bị hạn
chế năng lực hành vi dân sự hoặc có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi
cư trú, làm việc có thẩm quyền hủy bỏ quyết định tuyên bố một người mất năng
lực hành vi dân sự, bị hạn chế năng lực hành vi dân sự hoặc có khó khăn trong
nhận thức, làm chủ hành vi.
Tòa án đã ra quyết định
tuyên bố một người mất tích hoặc là đã chết có thẩm quyền giải quyết yêu cầu
hủy bỏ quyết định tuyên bố một người mất tích hoặc là đã chết;
d) Tòa án nơi người phải
thi hành bản án, quyết định dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thương
mại, lao động của Tòa án nước ngoài cư trú, làm việc, nếu người phải thi hành
án là cá nhân hoặc nơi người phải thi hành án có trụ sở, nếu người phải thi
hành án là cơ quan, tổ chức hoặc nơi có tài sản liên quan đến việc thi hành bản
án, quyết định của Tòa án nước ngoài có thẩm quyền giải quyết yêu cầu công nhận
và cho thi hành tại Việt Nam hoặc không công nhận bản án, quyết định dân sự,
hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại, lao động của Tòa án nước ngoài;
đ) Tòa án nơi người gửi
đơn cư trú, làm việc, nếu người gửi đơn là cá nhân hoặc nơi người gửi đơn có
trụ sở, nếu người gửi đơn là cơ quan, tổ chức có thẩm quyền giải quyết yêu cầu
không công nhận bản án, quyết định dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh,
thương mại, lao động của Tòa án nước ngoài không có yêu cầu thi hành tại Việt
Nam;
e) Tòa án nơi người phải
thi hành phán quyết của Trọng tài nước ngoài cư trú, làm việc, nếu người phải
thi hành là cá nhân hoặc nơi người phải thi hành có trụ sở, nếu người phải thi
hành là cơ quan, tổ chức hoặc nơi có tài sản liên quan đến việc thi hành phán
quyết của Trọng tài nước ngoài có thẩm quyền giải quyết yêu cầu công nhận và
cho thi hành tại Việt Nam phán quyết của Trọng tài nước ngoài;
g) Tòa án nơi việc đăng
ký kết hôn trái pháp luật được thực hiện có thẩm quyền giải quyết yêu cầu hủy
việc kết hôn trái pháp luật;
h) Tòa án nơi một trong
các bên thuận tình ly hôn, thỏa thuận nuôi con, chia tài sản khi ly hôn cư trú,
làm việc có thẩm quyền giải quyết yêu cầu công nhận thuận tình ly hôn, thỏa
thuận nuôi con, chia tài sản khi ly hôn;
i) Tòa án nơi một trong
các bên thỏa thuận về thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn cư trú,
làm việc có thẩm quyền giải quyết yêu cầu công nhận sự thỏa thuận về thay đổi
người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn.
Trường hợp cơ quan, tổ
chức, cá nhân yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn thì Tòa
án nơi người con đang cư trú có thẩm quyền giải quyết;
k) Tòa án nơi cha hoặc
mẹ của con chưa thành niên cư trú, làm việc có thẩm quyền giải quyết yêu cầu
hạn chế quyền của cha, mẹ đối với con chưa thành niên hoặc quyền thăm nom con
sau khi ly hôn;
l) Tòa án nơi cha, mẹ
nuôi hoặc con nuôi cư trú, làm việc có thẩm quyền giải quyết yêu cầu chấm dứt
việc nuôi con nuôi;
m) Tòa án nơi tổ chức
hành nghề công chứng đã thực hiện việc công chứng có trụ sở có thẩm quyền giải
quyết yêu cầu tuyên bố văn bản công chứng vô hiệu;
n) Tòa án nơi cơ quan
thi hành án có thẩm quyền thi hành án có trụ sở hoặc nơi có tài sản liên quan
đến việc thi hành án có thẩm quyền giải quyết yêu cầu xác định quyền sở hữu,
quyền sử dụng tài sản, phân chia tài sản chung để thi hành án và yêu cầu khác
theo quy định của Luật Thi hành án dân sự;
o) Thẩm quyền của Tòa án
theo lãnh thổ giải quyết yêu cầu liên quan đến việc Trọng tài thương mại Việt
Nam giải quyết tranh chấp được thực hiện theo quy định của pháp luật về Trọng
tài thương mại;
p) Tòa án nơi có tài sản
có thẩm quyền giải quyết yêu cầu công nhận tài sản đó có trên lãnh thổ Việt Nam
là vô chủ, công nhận quyền sở hữu của người đang quản lý đối với tài sản vô chủ
trên lãnh thổ Việt Nam;
q) Tòa án nơi người mang
thai hộ cư trú, làm việc có thẩm quyền giải quyết yêu cầu liên quan đến việc
mang thai hộ;
r) Tòa án nơi cư trú,
làm việc của một trong những người có tài sản chung có thẩm quyền giải quyết
yêu cầu công nhận thỏa thuận chấm dứt hiệu lực của việc chia tài sản chung
trong thời kỳ hôn nhân đã được thực hiện theo bản án, quyết định của Tòa án;
s) Tòa án nơi người yêu
cầu cư trú, làm việc có thẩm quyền giải quyết yêu cầu công nhận kết quả hòa
giải thành ngoài Tòa án;
t) Tòa án nơi cư trú,
làm việc của người yêu cầu có thẩm quyền giải quyết yêu cầu tuyên bố vô hiệu thỏa thuận về
chế độ tài sản của vợ chồng theo quy định của pháp luật hôn nhân và gia đình;
xác định cha, mẹ cho con hoặc con cho cha, mẹ theo quy định của pháp luật về
hôn nhân và gia đình;
u) Tòa án nơi có trụ
sở của doanh nghiệp có thẩm quyền giải quyết yêu cầu hủy bỏ nghị quyết của Đại
hội cổ đông, nghị quyết của Hội đồng thành viên;
v) Tòa án nơi giao
kết hoặc thực hiện hợp đồng lao động, thỏa ước lao động tập thể có thẩm quyền
giải quyết yêu cầu tuyên bố hợp đồng lao động, thỏa ước lao động tập thể đó vô
hiệu;
x) Tòa án nơi xảy ra
cuộc đình công có thẩm quyền giải quyết yêu cầu xét tính hợp pháp của cuộc đình
công;
y) Thẩm quyền của Tòa án
theo lãnh thổ giải quyết yêu cầu bắt giữ tàu bay, tàu biển được thực hiện theo
quy định tại Điều 421 của Bộ luật này.
3. Trường hợp vụ án dân
sự đã được Tòa án thụ lý và đang giải quyết theo đúng quy định của Bộ luật này
về thẩm quyền của Tòa án theo lãnh thổ thì phải được Tòa án đó tiếp tục giải
quyết mặc dù trong quá trình giải quyết vụ án có sự thay đổi nơi cư trú, trụ sở
hoặc địa chỉ giao dịch của đương sự.
Điều
40. Thẩm quyền của Tòa án theo sự lựa chọn của nguyên đơn, người yêu cầu
1. Nguyên đơn có quyền
lựa chọn Tòa án giải quyết tranh chấp về dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh
doanh, thương mại, lao động trong các trường hợp sau đây:
a) Nếu không biết nơi cư
trú, làm việc, trụ sở của bị đơn thì nguyên đơn có thể yêu cầu Tòa án nơi bị
đơn cư trú, làm việc, có trụ sở cuối cùng hoặc nơi bị đơn có tài sản giải
quyết;
b) Nếu tranh chấp phát
sinh từ hoạt động của chi nhánh tổ chức thì nguyên đơn có thể yêu cầu Tòa án
nơi tổ chức có trụ sở hoặc nơi tổ chức có chi nhánh giải quyết;
c) Nếu bị đơn không có
nơi cư trú, làm việc, trụ sở ở Việt Nam hoặc vụ án về tranh chấp việc cấp dưỡng
thì nguyên đơn có thể yêu cầu Tòa án nơi mình cư trú, làm việc, có trụ sở giải
quyết;
d) Nếu tranh chấp về bồi
thường thiệt hại ngoài hợp đồng thì nguyên đơn có thể yêu cầu Tòa án nơi mình
cư trú, làm việc, có trụ sở hoặc nơi xảy ra việc gây thiệt hại giải quyết;
đ) Nếu tranh chấp về bồi
thường thiệt hại, trợ cấp khi chấm dứt hợp đồng lao động, bảo hiểm xã hội,
bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp, quyền và lợi ích
liên quan đến việc làm, tiền lương, thu nhập và các điều kiện lao động khác đối
với người lao động thì nguyên đơn là người lao động có thể yêu cầu Tòa án nơi
mình cư trú, làm việc giải quyết;
e) Nếu tranh chấp phát
sinh từ việc sử dụng lao động của người cai thầu hoặc người có vai trò trung
gian thì nguyên đơn có thể yêu cầu Tòa án nơi người sử dụng lao động là chủ
chính cư trú, làm việc, có trụ sở hoặc nơi người cai thầu, người có vai trò trung
gian cư trú, làm việc giải quyết;
g) Nếu tranh chấp phát
sinh từ quan hệ hợp đồng thì nguyên đơn có thể yêu cầu Tòa án nơi hợp đồng được
thực hiện giải quyết;
h) Nếu các bị đơn cư
trú, làm việc, có trụ sở ở nhiều nơi khác nhau thì nguyên đơn có thể yêu cầu
Tòa án nơi một trong các bị đơn cư trú, làm việc, có trụ sở giải quyết;
i) Nếu tranh chấp bất
động sản mà bất động sản có ở nhiều địa phương khác nhau thì nguyên đơn có thể
yêu cầu Tòa án nơi có một trong các bất động sản giải quyết.
2. Người yêu cầu có
quyền lựa chọn Tòa án giải quyết yêu cầu về dân sự, hôn nhân và gia đình trong
các trường hợp sau đây:
a) Đối với các yêu cầu
về dân sự quy định tại các khoản 1, 2, 3, 4, 6, 7, 8, 9 và 10
Điều 27 của Bộ luật này thì người yêu cầu có thể yêu cầu Tòa án nơi mình cư
trú, làm việc, có trụ sở hoặc nơi có tài sản của người bị yêu cầu giải quyết;
b) Đối với yêu cầu hủy
việc kết hôn trái pháp luật quy định tại khoản 1 Điều 29 của Bộ
luật này thì người yêu cầu có thể yêu cầu Tòa án nơi cư trú của một trong
các bên đăng ký kết hôn trái pháp luật giải quyết;
c) Đối với yêu cầu hạn
chế quyền của cha, mẹ đối với con chưa thành niên hoặc quyền thăm nom con sau
khi ly hôn thì người yêu cầu có thể yêu cầu Tòa án nơi người con cư trú giải
quyết.
Điều
41. Chuyển vụ việc dân sự cho Tòa án khác; giải quyết tranh chấp về thẩm quyền
1. Vụ việc dân sự đã
được thụ lý mà không thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án đã thụ lý thì Tòa
án đó ra quyết định chuyển hồ sơ vụ việc dân sự cho Tòa án có thẩm quyền và xóa
tên vụ án đó trong sổ thụ lý. Quyết định này phải được gửi ngay cho Viện kiểm
sát cùng cấp, đương sự, cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan.
Đương sự, cơ quan, tổ
chức, cá nhân có liên quan có quyền khiếu nại, Viện kiểm sát có quyền kiến nghị
quyết định này trong thời hạn 03 ngày làm việc, kể từ ngày nhận được quyết
định. Trong thời hạn 03 ngày làm việc, kể từ ngày nhận được khiếu nại, kiến nghị,
Chánh án Tòa án đã ra quyết định chuyển vụ việc dân sự phải giải quyết khiếu
nại, kiến nghị. Quyết định của Chánh án Tòa án là quyết định cuối cùng.
2. Tranh chấp về thẩm
quyền giữa các Tòa án nhân dân cấp huyện trong cùng một tỉnh, thành phố trực
thuộc Trung ương do Chánh án Tòa án nhân dân cấp tỉnh giải quyết.
3. Tranh chấp về thẩm
quyền giữa các Tòa án nhân dân cấp huyện thuộc các tỉnh, thành phố trực thuộc
Trung ương khác nhau hoặc giữa các Tòa án nhân dân cấp tỉnh thuộc thẩm quyền
giải quyết theo lãnh thổ của Tòa án nhân dân cấp cao thì do Chánh án Tòa án nhân
dân cấp cao giải quyết.
4. Tranh chấp về thẩm
quyền giữa các Tòa án nhân dân cấp huyện thuộc các tỉnh, thành phố trực thuộc
Trung ương khác nhau hoặc giữa các Tòa án nhân dân cấp tỉnh thuộc thẩm quyền
giải quyết theo lãnh thổ của các Tòa án nhân dân cấp cao khác nhau do Chánh án
Tòa án nhân dân tối cao giải quyết.
1. Tòa án nhập hai hoặc
nhiều vụ án mà Tòa án đó đã thụ lý riêng biệt thành một vụ án để giải quyết nếu
việc nhập và việc giải quyết trong cùng một vụ án bảo đảm đúng pháp luật.
Đối với vụ án có nhiều
người có cùng yêu cầu khởi kiện đối với cùng một cá nhân hoặc cùng một cơ quan,
tổ chức thì Tòa án có thể nhập các yêu cầu của họ để giải quyết trong cùng một
vụ án.
2. Tòa án tách một vụ án
có các yêu cầu khác nhau thành hai hoặc nhiều vụ án nếu việc tách và việc giải
quyết các vụ án được tách bảo đảm đúng pháp luật.
3. Khi nhập hoặc tách vụ
án quy định tại khoản 1 và khoản 2 Điều này, Tòa án đã thụ lý vụ án phải ra
quyết định và gửi ngay cho Viện kiểm sát cùng cấp, đương sự, cơ quan, tổ chức,
cá nhân có liên quan.
Mục
3. GIẢI QUYẾT VỤ VIỆC DÂN SỰ TRONG TRƯỜNG HỢP CHƯA CÓ ĐIỀU LUẬT ĐỂ ÁP
DỤNG
Điều
43. Nguyên tắc xác định thẩm quyền của Tòa án trong trường hợp chưa có điều
luật để áp dụng
Thẩm quyền của Tòa án
thụ lý, giải quyết vụ việc dân sự trong trường hợp chưa có điều luật để áp dụng
được thực hiện theo quy định tại các điều từ Điều 35 đến Điều
41 của Bộ luật này.
Trình tự, thủ tục thụ
lý, giải quyết vụ việc dân sự trong trường hợp chưa có điều luật để áp dụng được
thực hiện theo quy định của Bộ luật này.
Điều
45. Nguyên tắc giải quyết vụ việc dân sự trong trường hợp chưa có điều luật để
áp dụng
1. Việc áp dụng tập quán
được thực hiện như sau:
Tòa án áp dụng tập quán
để giải quyết vụ việc dân sự trong trường hợp các bên không có thỏa thuận và
pháp luật không quy định. Tập quán không được trái với các nguyên tắc cơ bản
của pháp luật dân sự quy định tại Điều 3 của Bộ luật Dân sự.
Khi yêu cầu Tòa án giải
quyết vụ việc dân sự, đương sự có quyền viện dẫn tập quán để yêu cầu Tòa án xem
xét áp dụng.
Tòa án có trách nhiệm
xác định giá trị áp dụng của tập quán bảo đảm đúng quy định tại Điều 5 của Bộ
luật Dân sự.
Trường hợp các đương sự
viện dẫn các tập quán khác nhau thì tập quán có giá trị áp dụng là tập quán
được thừa nhận tại nơi phát sinh vụ việc dân sự.
2. Việc áp dụng tương tự
pháp luật được thực hiện như sau:
Tòa án áp dụng tương tự
pháp luật để giải quyết vụ việc dân sự trong trường hợp các bên không có thỏa
thuận, pháp luật không có quy định và không có tập quán được áp dụng theo quy
định tại Điều 5 của Bộ luật Dân sự và khoản 1 Điều này.
Khi áp dụng tương tự
pháp luật, Tòa án phải xác định rõ tính chất pháp lý của vụ việc dân sự, xác
định rõ ràng trong hệ thống pháp luật hiện hành không có quy phạm pháp luật nào
điều chỉnh quan hệ đó và xác định quy phạm pháp luật điều chỉnh quan hệ dân sự
tương tự.
3. Việc áp dụng các
nguyên tắc cơ bản của pháp luật dân sự, án lệ, lẽ công bằng được thực hiện như
sau:
Tòa án áp dụng các
nguyên tắc cơ bản của pháp luật dân sự, án lệ, lẽ công bằng để giải quyết vụ
việc dân sự khi không thể áp dụng tập quán, tương tự pháp luật theo quy định
tại Điều 5 và khoản 1 Điều 6 của Bộ luật Dân sự, khoản 1 và khoản 2 Điều này.
Các nguyên tắc cơ bản
của pháp luật dân sự là những nguyên tắc được quy định tại Điều 3 của Bộ luật
Dân sự.
Án lệ được Tòa án nghiên
cứu, áp dụng trong giải quyết vụ việc dân sự khi đã được Hội đồng Thẩm phán Tòa
án nhân dân tối cao lựa chọn và được Chánh án Tòa án nhân dân tối cao công bố.
Lẽ công bằng được xác
định trên cơ sở lẽ phải được mọi người trong xã hội thừa nhận, phù hợp với
nguyên tắc nhân đạo, không thiên vị và bình đẳng về quyền và nghĩa vụ của các
đương sự trong vụ việc dân sự đó.
CƠ QUAN TIẾN HÀNH TỐ TỤNG, NGƯỜI TIẾN HÀNH TỐ
TỤNG VÀ VIỆC THAY ĐỔI NGƯỜI TIẾN HÀNH TỐ TỤNG
Điều 46. Cơ quan tiến hành tố tụng, người
tiến hành tố tụng
1. Các cơ quan tiến hành tố tụng dân sự gồm có:
a) Tòa án;
b) Viện kiểm sát.
2. Những người tiến hành tố tụng dân sự gồm có:
a) Chánh án Tòa án, Thẩm phán, Hội thẩm nhân dân, Thẩm tra viên, Thư ký Tòa
án;
b) Viện trưởng Viện
kiểm sát, Kiểm sát viên, Kiểm tra viên.
Điều 47. Nhiệm vụ, quyền hạn của Chánh án Tòa
án
1. Chánh án Tòa án có nhiệm vụ, quyền hạn sau đây:
a) Tổ chức công tác giải quyết vụ việc dân sự thuộc thẩm
quyền của Tòa án; bảo đảm thực hiện nguyên tắc Thẩm phán, Hội thẩm xét xử độc
lập và chỉ tuân theo pháp luật;
b) Quyết định phân công Thẩm phán thụ lý vụ việc dân sự,
Thẩm phán giải quyết vụ việc dân sự, Hội thẩm nhân dân tham gia Hội đồng xét xử
vụ án dân sự; quyết định phân công Thẩm tra viên, Thư ký Tòa án tiến hành tố
tụng đối với vụ việc dân sự bảo đảm đúng nguyên tắc quy định tại khoản
2 Điều 16 của Bộ luật này;
c) Quyết định thay đổi Thẩm phán, Hội thẩm nhân dân, Thẩm
tra viên, Thư ký Tòa án trước khi mở phiên tòa;
d) Quyết định thay đổi người giám định, người phiên dịch
trước khi mở phiên tòa;
đ) Ra quyết định và tiến hành hoạt động tố tụng dân sự
theo quy định của Bộ luật này;
e) Giải quyết khiếu nại, tố cáo theo quy định của Bộ luật
này;
g) Kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm, tái thẩm bản
án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật của Tòa án theo quy định của Bộ luật
này hoặc kiến nghị Chánh án Tòa án có thẩm quyền xem xét kháng nghị theo
thủ tục giám đốc thẩm, tái thẩm bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật của
Tòa án;
h) Kiến nghị cơ quan nhà nước có thẩm quyền xem xét, sửa
đổi, bổ sung hoặc bãi bỏ văn bản quy phạm pháp luật nếu phát hiện có dấu hiệu
trái với Hiến pháp, luật, nghị quyết của Quốc hội, pháp lệnh, nghị quyết của Ủy
ban Thường vụ Quốc hội, văn bản quy phạm pháp luật của cơ quan nhà nước cấp
trên theo quy định của Bộ luật này;
i) Xử lý hành vi cản trở hoạt động tố tụng dân sự theo
quy định của pháp luật;
k) Thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn khác theo quy định của
pháp luật.
2. Khi Chánh án vắng mặt, một Phó Chánh án được Chánh án
ủy nhiệm thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn của Chánh án, trừ quyền kháng nghị quy
định tại điểm g khoản 1 Điều này. Phó Chánh án chịu trách nhiệm trước Chánh án
về việc thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn được ủy nhiệm.
Điều 48. Nhiệm vụ, quyền hạn của Thẩm phán
Khi được Chánh án Tòa án phân công, Thẩm phán có nhiệm
vụ, quyền hạn sau đây:
1. Xử lý đơn khởi kiện, đơn yêu cầu, thụ lý vụ việc dân
sự theo quy định của Bộ luật này;
2. Lập hồ sơ vụ việc dân sự;
3. Tiến hành thu thập, xác minh chứng cứ, tổ chức phiên
tòa, phiên họp để giải quyết vụ việc dân sự theo quy định của Bộ luật này;
4. Quyết định việc áp dụng, thay đổi, hủy bỏ biện pháp
khẩn cấp tạm thời;
5. Quyết định tạm đình chỉ hoặc đình chỉ giải quyết vụ
việc dân sự, quyết định tiếp tục đưa vụ việc dân sự ra giải quyết;
6. Giải thích, hướng
dẫn cho đương sự biết để họ thực hiện quyền được yêu cầu trợ giúp pháp lý theo
quy định của pháp luật về trợ giúp pháp lý;
7. Tiến hành phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận,
công khai chứng cứ và hòa giải, ra quyết định công nhận sự thỏa thuận của các
đương sự theo quy định của Bộ luật này;
8. Quyết định đưa vụ án dân sự ra xét xử, đưa việc dân sự
ra giải quyết;
9. Triệu tập người tham gia phiên tòa, phiên họp;
10. Chủ tọa hoặc tham gia xét xử vụ án dân sự, giải quyết
việc dân sự;
11. Đề nghị Chánh án Tòa án phân công Thẩm tra viên hỗ
trợ thực hiện hoạt động tố tụng theo quy định của Bộ luật này;
12. Phát hiện và đề nghị Chánh án Tòa án kiến nghị cơ
quan nhà nước có thẩm quyền xem xét, sửa đổi, bổ sung hoặc bãi bỏ văn bản quy
phạm pháp luật có dấu hiệu trái với Hiến pháp, luật, nghị quyết của Quốc hội,
pháp lệnh, nghị quyết của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, văn bản quy phạm pháp luật
của cơ quan nhà nước cấp trên theo quy định của Bộ luật này;
13. Xử lý hành vi cản trở hoạt động tố tụng dân sự theo
quy định của pháp luật;
14. Tiến hành hoạt động tố tụng khác khi giải quyết vụ
việc dân sự theo quy định của Bộ luật này.
Điều 49. Nhiệm vụ, quyền hạn của Hội thẩm
nhân dân
Khi được Chánh án Tòa án phân công, Hội thẩm nhân dân có
nhiệm vụ, quyền hạn sau đây:
1. Nghiên cứu hồ sơ vụ án trước khi mở phiên tòa;
2. Đề nghị Chánh án Tòa án, Thẩm phán ra các quyết định
cần thiết thuộc thẩm quyền;
3. Tham gia Hội đồng xét xử vụ án dân sự;
4. Tiến hành các hoạt động tố tụng và ngang quyền với
Thẩm phán khi biểu quyết những vấn đề thuộc thẩm quyền của Hội đồng xét xử.
Điều 50. Nhiệm vụ, quyền hạn của Thẩm tra
viên
Khi được Chánh án Tòa án phân công, Thẩm tra viên có
nhiệm vụ, quyền hạn sau đây:
1. Thẩm tra hồ sơ vụ việc dân sự mà bản án, quyết định
của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật cần xem xét lại theo thủ tục giám đốc thẩm, tái thẩm;
2. Kết luận về việc thẩm tra và báo cáo kết quả thẩm tra,
đề xuất phương án giải quyết vụ việc dân sự với Chánh án Tòa án;
3. Thu thập tài liệu, chứng cứ có liên quan đến vụ việc
dân sự theo quy định của Bộ luật này;
4. Hỗ trợ Thẩm phán thực hiện hoạt động tố tụng theo quy
định của Bộ luật này;
5. Thực hiện nhiệm vụ khác theo quy định của Bộ luật này.
Điều 51. Nhiệm vụ, quyền hạn của Thư ký Tòa
án
Khi được Chánh án Tòa án phân công, Thư ký Tòa án có
nhiệm vụ, quyền hạn sau đây:
1. Chuẩn bị các công tác nghiệp vụ cần thiết trước khi
khai mạc phiên tòa;
2. Phổ biến nội quy phiên tòa;
3. Kiểm tra và báo cáo với Hội đồng xét xử danh sách
những người được triệu tập đến phiên tòa;
4. Ghi biên bản phiên tòa, phiên họp, biên bản lấy lời khai của người tham gia tố tụng;
5. Thực hiện nhiệm vụ khác theo quy định của Bộ luật này.
Điều 52. Những trường hợp phải từ chối hoặc
thay đổi người tiến hành tố tụng
Người tiến hành tố tụng phải từ chối tiến hành tố tụng
hoặc bị thay đổi trong những trường hợp sau đây:
1. Họ đồng thời là đương sự, người đại diện, người thân
thích của đương sự;
2. Họ đã tham gia tố tụng với tư cách là người bảo vệ
quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự, người làm chứng, người giám định, người
phiên dịch trong cùng vụ việc đó;
3. Có căn cứ rõ ràng cho rằng họ có thể không vô tư trong
khi làm nhiệm vụ.
Điều 53. Thay đổi Thẩm phán, Hội thẩm nhân
dân
Thẩm phán, Hội thẩm nhân dân phải từ chối tiến hành tố
tụng hoặc bị thay đổi trong những trường hợp sau đây:
1. Thuộc một trong những trường hợp quy định tại Điều 52 của Bộ luật này;
2. Họ cùng trong một Hội đồng xét xử và là người thân
thích với nhau; trong trường hợp này, chỉ có một người được tiến hành tố tụng;
3. Họ đã tham gia giải quyết theo thủ tục sơ thẩm, phúc
thẩm, giám đốc thẩm hoặc tái thẩm vụ việc dân sự đó và đã ra bản án sơ thẩm,
bản án, quyết định phúc thẩm, quyết định giám đốc thẩm hoặc tái thẩm, quyết
định giải quyết việc dân sự, quyết định đình chỉ giải quyết vụ việc, quyết định
công nhận sự thỏa thuận của các đương sự, trừ trường hợp là thành viên của Hội
đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao, Ủy ban Thẩm phán Tòa án nhân dân cấp
cao thì vẫn được tham gia giải quyết vụ việc đó theo thủ tục giám đốc thẩm, tái
thẩm;
4. Họ đã là người tiến hành tố tụng trong vụ việc đó với
tư cách là Thẩm tra viên, Thư ký Tòa án, Kiểm sát viên, Kiểm tra viên.
Điều 54. Thay đổi Thư ký Tòa án, Thẩm tra
viên
Thư ký Tòa án, Thẩm tra viên phải từ chối tiến hành tố
tụng hoặc bị thay đổi trong những trường hợp sau đây:
1. Thuộc một trong những trường hợp quy định tại Điều 52 của Bộ luật này;
2. Họ đã là người tiến hành tố tụng trong vụ việc đó với
tư cách là Thẩm phán, Hội thẩm nhân dân, Thẩm tra viên, Thư ký Tòa án, Kiểm sát
viên, Kiểm tra viên;
3. Là người thân thích với một trong những người tiến
hành tố tụng khác trong vụ việc đó.
1. Việc từ chối tiến hành tố tụng hoặc đề nghị thay đổi
Thẩm phán, Hội thẩm nhân dân, Thẩm tra viên, Thư ký Tòa án trước khi mở phiên
tòa, phiên họp phải được lập thành văn bản, trong đó nêu rõ lý do và căn cứ của
việc từ chối tiến hành tố tụng hoặc đề nghị thay đổi người tiến hành tố tụng.
2. Việc từ chối tiến hành tố tụng hoặc đề nghị thay đổi
những người quy định tại khoản 1 Điều này tại phiên tòa, phiên họp phải được
ghi vào biên bản phiên tòa, phiên họp.
Điều 56. Quyết định việc thay đổi Thẩm phán,
Hội thẩm nhân dân, Thẩm tra viên, Thư ký Tòa án
1. Trước khi mở phiên tòa, việc thay đổi Thẩm phán, Hội
thẩm nhân dân, Thẩm tra viên, Thư ký Tòa án do Chánh án Tòa án
quyết định. Trường hợp Thẩm phán bị thay đổi là Chánh án Tòa án thì thẩm quyền
quyết định việc thay đổi như sau:
a) Thẩm phán là Chánh án Tòa án nhân dân cấp huyện thì do
Chánh án Tòa án nhân dân cấp tỉnh quyết định;
b) Thẩm phán là Chánh án Tòa án nhân dân cấp tỉnh thì do
Chánh án Tòa án nhân dân cấp cao có thẩm quyền theo lãnh thổ đối với Tòa án
nhân dân cấp tỉnh đó quyết định;
c) Thẩm phán là Chánh án Tòa án nhân dân cấp cao thì do
Chánh án Tòa án nhân dân tối cao quyết định.
2. Tại phiên tòa, việc thay đổi Thẩm phán, Hội thẩm nhân
dân, Thẩm tra viên, Thư ký Tòa án do Hội đồng xét xử quyết định sau khi nghe ý
kiến của người bị yêu cầu thay đổi. Hội đồng xét xử thảo luận tại phòng nghị án
và quyết định theo đa số. Trường hợp phải thay đổi Thẩm phán, Hội thẩm nhân
dân, Thẩm tra viên, Thư ký Tòa án thì Hội đồng xét xử ra quyết định hoãn phiên
tòa. Chánh án Tòa án quyết định cử Thẩm phán, Hội thẩm nhân dân, Thẩm tra viên,
Thư ký Tòa án thay thế người bị thay đổi. Nếu người bị thay đổi là Chánh án Tòa
án thì thẩm quyền quyết định được thực hiện theo quy định tại khoản 1 Điều này.
3. Việc thay đổi Thẩm phán, Thư ký Tòa án khi giải quyết
việc dân sự được thực hiện theo quy định tại khoản 1 và khoản 2
Điều 368 của Bộ luật này.
4. Trong thời hạn 03 ngày làm việc, kể từ ngày hoãn phiên
tòa, phiên họp, Chánh án Tòa án phải cử người khác thay thế.
Điều 57. Nhiệm vụ, quyền hạn của Viện trưởng
Viện kiểm sát
1. Khi kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong tố tụng
dân sự, Viện trưởng Viện kiểm sát có nhiệm vụ, quyền hạn sau đây:
a) Tổ chức và chỉ đạo thực hiện công tác kiểm sát việc
tuân theo pháp luật trong tố tụng dân sự;
b) Quyết định phân công Kiểm sát viên thực hiện kiểm sát
việc tuân theo pháp luật trong tố tụng dân sự, tham gia phiên tòa xét xử vụ án
dân sự, phiên họp giải quyết việc dân sự theo quy định của Bộ luật này và thông
báo cho Tòa án; quyết định phân công Kiểm tra viên tiến hành tố tụng đối với vụ
việc dân sự bảo đảm đúng nguyên tắc quy định tại khoản 2 Điều
16 của Bộ luật này;
c) Quyết định thay đổi Kiểm sát viên, Kiểm tra viên;
d) Kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm, giám đốc thẩm, tái
thẩm bản án, quyết định của Tòa án theo quy định của Bộ luật này;
đ) Yêu cầu, kiến nghị theo quy định của Bộ luật này;
e) Giải quyết khiếu nại, tố cáo theo quy định của Bộ luật
này;
g) Thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn khác theo quy định của
pháp luật.
2. Khi Viện trưởng vắng mặt, một Phó Viện trưởng được
Viện trưởng ủy nhiệm thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn của Viện trưởng, trừ quyền
quyết định kháng nghị quy định tại điểm d khoản 1 Điều này. Phó Viện trưởng
chịu trách nhiệm trước Viện trưởng về việc thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn được
ủy nhiệm.
Điều 58. Nhiệm vụ, quyền hạn của Kiểm sát
viên
Khi được Viện trưởng Viện kiểm sát phân công thực hiện
kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong tố tụng dân sự, Kiểm sát viên có nhiệm
vụ, quyền hạn sau đây:
1. Kiểm sát việc trả lại đơn khởi kiện, đơn yêu cầu;
2. Kiểm sát việc thụ lý, giải quyết vụ việc dân sự;
3. Nghiên cứu hồ sơ vụ việc; yêu cầu Tòa án xác minh, thu
thập chứng cứ trong quá trình giải quyết vụ việc dân sự theo quy định của Bộ
luật này; thu thập tài liệu, chứng cứ theo quy định tại khoản 6
Điều 97 của Bộ luật này;
4. Tham gia phiên tòa, phiên họp và phát biểu ý kiến của
Viện kiểm sát về việc giải quyết vụ việc theo quy định của Bộ luật này;
5. Kiểm sát bản án, quyết định của Tòa án;
6. Kiến nghị, yêu cầu Tòa án thực hiện đúng các hoạt động
tố tụng theo quy định của Bộ luật này;
7. Đề nghị Viện trưởng Viện kiểm sát có thẩm quyền kháng
nghị bản án, quyết định của Tòa án có vi phạm pháp luật;
8. Kiểm sát hoạt động tố tụng của người tham gia tố tụng;
yêu cầu, kiến nghị cơ quan, tổ chức có thẩm quyền xử lý nghiêm minh người tham
gia tố tụng vi phạm pháp luật;
9. Thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn tố tụng dân sự khác
thuộc thẩm quyền của Viện kiểm sát theo quy định của Bộ luật này.
Điều 59. Nhiệm vụ, quyền hạn của Kiểm tra
viên
Khi được phân công tiến hành hoạt động tố tụng, Kiểm tra
viên có nhiệm vụ, quyền hạn sau đây:
1. Nghiên cứu hồ sơ vụ việc, báo cáo kết quả với Kiểm sát
viên;
2. Lập hồ sơ kiểm sát vụ việc dân sự theo phân công của
Kiểm sát viên hoặc Viện trưởng Viện kiểm sát;
3. Giúp Kiểm sát viên kiểm sát việc tuân theo pháp luật
trong tố tụng dân sự.
Điều 60. Thay đổi Kiểm sát viên, Kiểm tra
viên
Kiểm sát viên, Kiểm tra viên phải từ chối tiến hành tố
tụng hoặc bị thay đổi trong những trường hợp sau đây:
1. Thuộc một trong những trường hợp quy định tại Điều 52 của Bộ luật này;
2. Họ đã là người tiến hành tố tụng trong vụ việc đó với
tư cách là Thẩm phán, Hội thẩm nhân dân, Thẩm tra viên, Thư ký Tòa án, Kiểm sát
viên, Kiểm tra viên.
Điều 61. Thủ tục từ chối tiến hành tố tụng
hoặc đề nghị thay đổi Kiểm sát viên, Kiểm tra viên
1. Trước khi mở phiên tòa, việc từ chối tiến hành tố tụng
hoặc đề nghị thay đổi Kiểm sát viên phải được lập thành văn bản, trong đó nêu
rõ lý do và căn cứ của việc từ chối hoặc đề nghị thay đổi Kiểm sát viên.
Việc từ chối tiến hành tố tụng hoặc đề nghị thay đổi Kiểm
tra viên phải được lập thành văn bản, trong đó nêu rõ lý do và căn cứ của việc
từ chối hoặc đề nghị thay đổi Kiểm tra viên.
2. Tại phiên tòa, việc từ chối tiến hành tố tụng hoặc đề
nghị thay đổi Kiểm sát viên phải được ghi vào biên bản phiên tòa.
Điều 62. Quyết định việc thay đổi Kiểm sát
viên, Kiểm tra viên
1. Trước khi mở phiên tòa, việc thay đổi Kiểm sát viên do
Viện trưởng Viện kiểm sát cùng cấp quyết định; nếu Kiểm sát viên bị thay đổi là
Viện trưởng Viện kiểm sát thì do Viện trưởng Viện kiểm sát cấp trên trực tiếp
quyết định.
Việc thay đổi Kiểm tra viên do Viện trưởng Viện kiểm sát
cùng cấp quyết định.
2. Tại phiên tòa, việc thay đổi Kiểm sát viên do Hội đồng
xét xử quyết định sau khi nghe ý kiến của người bị yêu cầu thay đổi. Hội đồng
xét xử thảo luận tại phòng nghị án và quyết định theo đa số.
Trường hợp phải thay đổi Kiểm sát viên thì Hội đồng xét
xử ra quyết định hoãn phiên tòa. Việc cử Kiểm sát viên thay thế Kiểm sát viên
bị thay đổi do Viện trưởng Viện kiểm sát cùng cấp quyết định. Nếu Kiểm sát viên
bị thay đổi là Viện trưởng Viện kiểm sát thì do Viện trưởng Viện kiểm sát cấp
trên trực tiếp quyết định.
3. Việc thay đổi Kiểm sát viên khi giải quyết việc dân sự
được thực hiện theo quy định tại khoản 3 Điều 368 của Bộ luật
này.
4. Trong thời hạn 03 ngày làm việc, kể từ ngày hoãn phiên
tòa, phiên họp, Viện trưởng Viện kiểm sát phải cử người khác thay thế và thông
báo bằng văn bản cho Tòa án.
THÀNH PHẦN GIẢI QUYẾT VỤ VIỆC DÂN SỰ
Điều 63. Hội đồng xét xử sơ thẩm vụ án dân sự
Hội đồng xét xử sơ thẩm vụ án dân sự gồm một Thẩm phán và
hai Hội thẩm nhân dân, trừ trường hợp quy định tại Điều 65 của
Bộ luật này. Trong trường hợp đặc biệt thì Hội đồng xét xử sơ thẩm có thể
gồm hai Thẩm phán và ba Hội thẩm nhân dân.
Đối với vụ án có đương sự là người chưa thành niên thì
phải có Hội thẩm nhân dân là người đã hoặc đang công tác tại Đoàn thanh niên
Cộng sản Hồ Chí Minh, Hội liên hiệp phụ nữ Việt Nam, cơ quan quản lý nhà nước
về gia đình, cơ quan quản lý nhà nước về trẻ em.
Đối với vụ án lao động thì phải có Hội thẩm nhân dân là
người đã hoặc đang công tác trong tổ chức đại diện tập thể lao động hoặc người
có kiến thức về pháp luật lao động.
Điều 64. Hội đồng xét xử phúc thẩm vụ án dân
sự
Hội đồng xét xử phúc thẩm vụ án dân sự gồm ba Thẩm phán,
trừ trường hợp quy định tại Điều 65 của Bộ luật này.
Điều 65. Xét xử vụ án dân sự theo thủ tục rút
gọn
Việc xét xử sơ thẩm, phúc thẩm vụ án dân sự theo thủ tục
rút gọn do một Thẩm phán tiến hành.
Điều 66. Hội đồng xét xử giám đốc thẩm, tái
thẩm vụ án dân sự
1. Ủy ban thẩm phán Tòa án nhân dân cấp cao xét xử giám
đốc thẩm, tái thẩm bằng Hội đồng xét xử gồm ba Thẩm phán hoặc toàn thể Ủy ban
Thẩm phán Tòa án nhân dân cấp cao.
2. Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao xét xử giám
đốc thẩm, tái thẩm bằng Hội đồng xét xử gồm năm Thẩm phán hoặc toàn thể Thẩm
phán Tòa án nhân dân tối cao.
Điều 67. Thành phần giải quyết việc dân sự
1. Yêu cầu về dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh,
thương mại, lao động quy định tại khoản 5 Điều 27, khoản 9 Điều
29, khoản 4 và khoản 5 Điều 31, các khoản 2, 3 và 4 Điều 33
của Bộ luật này hoặc việc xét kháng cáo, kháng nghị đối với quyết định giải
quyết việc dân sự do tập thể gồm ba Thẩm phán giải quyết.
2. Yêu cầu về dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh,
thương mại, lao động không thuộc trường hợp quy định tại khoản 1 Điều này do
một Thẩm phán giải quyết.
3. Thành phần giải quyết yêu cầu về kinh doanh, thương
mại quy định tại khoản 2 Điều 31 của Bộ luật này được thực
hiện theo quy định của pháp luật về Trọng tài thương mại.
Mục 1. ĐƯƠNG SỰ TRONG VỤ VIỆC DÂN SỰ
Điều 68. Đương sự trong vụ việc dân sự
1. Đương sự trong vụ án dân sự là cơ quan, tổ chức, cá
nhân bao gồm nguyên đơn, bị đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan.
Đương sự trong việc dân sự là cơ quan, tổ chức, cá nhân
bao gồm người yêu cầu giải quyết việc dân sự và người có quyền lợi, nghĩa vụ
liên quan.
2. Nguyên đơn trong vụ án dân sự là người khởi kiện,
người được cơ quan, tổ chức, cá nhân khác do Bộ luật này quy định khởi kiện để
yêu cầu Tòa án giải quyết vụ án dân sự khi cho rằng quyền và lợi ích hợp pháp
của người đó bị xâm phạm.
Cơ quan, tổ chức do Bộ luật này quy định khởi kiện vụ án
dân sự để yêu cầu Tòa án bảo vệ lợi ích công cộng, lợi ích của Nhà nước thuộc
lĩnh vực mình phụ trách cũng là nguyên đơn.
3. Bị đơn trong vụ án dân sự là người bị nguyên đơn khởi
kiện hoặc bị cơ quan, tổ chức, cá nhân khác do Bộ luật này quy định khởi kiện
để yêu cầu Tòa án giải quyết vụ án dân sự khi cho rằng quyền và lợi ích hợp
pháp của nguyên đơn bị người đó xâm phạm.
4. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trong vụ án dân
sự là người tuy không khởi kiện, không bị kiện, nhưng việc giải quyết vụ án dân
sự có liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của họ nên họ được tự mình đề nghị hoặc
các đương sự khác đề nghị và được Tòa án chấp nhận đưa họ vào tham gia tố tụng
với tư cách là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan.
Trường hợp việc giải quyết vụ án dân sự có liên quan đến
quyền lợi, nghĩa vụ của một người nào đó mà không có ai đề nghị đưa họ vào tham
gia tố tụng với tư cách là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan thì Tòa án
phải đưa họ vào tham gia tố tụng với tư cách là người có quyền lợi, nghĩa vụ
liên quan.
5. Người yêu cầu giải quyết việc dân sự là người yêu cầu
Tòa án công nhận hoặc không công nhận một sự kiện pháp lý làm căn cứ phát sinh
quyền, nghĩa vụ về dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại, lao
động của mình hoặc của cơ quan, tổ chức, cá nhân khác; yêu cầu Tòa án công nhận
cho mình quyền về dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại, lao
động.
6. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trong việc dân
sự là người tuy không yêu cầu giải quyết việc dân sự nhưng việc giải quyết việc
dân sự có liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của họ nên họ được tự mình đề nghị
hoặc đương sự trong việc dân sự đề nghị và được Tòa án chấp nhận đưa họ vào
tham gia tố tụng với tư cách là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan.
Trường hợp giải quyết việc dân sự có liên quan đến quyền
lợi, nghĩa vụ của một người nào đó mà không có ai đề nghị đưa họ vào tham gia
tố tụng với tư cách là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan thì Tòa án phải
đưa họ vào tham gia tố tụng với tư cách là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên
quan trong việc dân sự.
Điều 69. Năng lực pháp luật tố tụng dân sự và
năng lực hành vi tố tụng dân sự của đương sự
1. Năng lực pháp luật tố tụng dân sự là khả năng có các
quyền, nghĩa vụ trong tố tụng dân sự do pháp luật quy định. Mọi cơ quan, tổ
chức, cá nhân có năng lực pháp luật tố tụng dân sự như nhau trong việc yêu cầu
Tòa án bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình.
2. Năng lực hành vi tố tụng dân sự là khả năng tự mình
thực hiện quyền, nghĩa vụ tố tụng dân sự hoặc ủy quyền cho người đại diện tham
gia tố tụng dân sự.
3. Đương sự là người từ đủ mười tám tuổi trở lên có đầy
đủ năng lực hành vi tố tụng dân sự, trừ người mất năng lực hành vi dân sự hoặc
pháp luật có quy định khác.
Đối với người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự, người
có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi thì năng lực hành vi tố tụng dân
sự của họ được xác định theo quyết định của Tòa án.
4. Đương sự là người chưa đủ sáu tuổi hoặc người mất năng
lực hành vi dân sự thì không có năng lực hành vi tố tụng dân sự. Việc thực hiện
quyền, nghĩa vụ tố tụng dân sự của đương sự, việc bảo vệ quyền và lợi ích hợp
pháp cho những người này tại Tòa án do người đại diện hợp pháp của họ thực
hiện.
5. Đương sự là người từ đủ sáu tuổi đến chưa đủ mười lăm
tuổi thì việc thực hiện quyền, nghĩa vụ tố tụng dân sự của đương sự, việc bảo
vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho những người này tại Tòa án do người đại diện
hợp pháp của họ thực hiện.
Đối với người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự, người
có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi thì việc thực hiện quyền, nghĩa vụ
tố tụng dân sự của họ, việc bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho họ được xác
định theo quyết định của Tòa án.
6. Đương sự là người từ đủ mười lăm tuổi đến chưa đủ mười
tám tuổi đã tham gia lao động theo hợp đồng lao động hoặc giao dịch dân sự bằng
tài sản riêng của mình được tự mình tham gia tố tụng về những việc có liên quan
đến quan hệ lao động hoặc quan hệ dân sự đó. Trong trường hợp này, Tòa án có
quyền triệu tập người đại diện hợp pháp của họ tham gia tố tụng. Đối với những
việc khác, việc thực hiện quyền, nghĩa vụ tố tụng dân sự của đương sự tại Tòa
án do người đại diện hợp pháp của họ thực hiện.
7. Đương sự là cơ quan, tổ chức do người đại diện hợp
pháp tham gia tố tụng.
Điều 70. Quyền, nghĩa vụ của đương sự
Đương sự có quyền, nghĩa vụ ngang nhau khi tham gia tố
tụng. Khi tham gia tố tụng, đương sự có quyền, nghĩa vụ sau đây:
1. Tôn trọng Tòa án, chấp hành nghiêm chỉnh nội quy phiên
tòa;
2. Nộp tiền tạm ứng án phí, tạm ứng lệ phí, án phí, lệ
phí và chi phí tố tụng khác theo quy định của pháp luật;
3. Cung cấp đầy đủ, chính xác địa chỉ nơi cư trú, trụ sở
của mình; trong quá trình Tòa án giải quyết vụ việc nếu có thay đổi địa chỉ nơi
cư trú, trụ sở thì phải thông báo kịp thời cho đương sự khác và Tòa án;
4. Giữ nguyên, thay đổi, bổ sung hoặc rút yêu cầu theo
quy định của Bộ luật này;
5. Cung cấp tài liệu, chứng cứ; chứng minh để bảo vệ
quyền và lợi ích hợp pháp của mình;
6. Yêu cầu cơ quan, tổ chức, cá nhân đang lưu giữ, quản
lý tài liệu, chứng cứ cung cấp tài liệu, chứng cứ đó cho mình;
7. Đề nghị Tòa án xác minh, thu thập tài liệu, chứng cứ
của vụ việc mà tự mình không thể thực hiện được; đề nghị Tòa án yêu cầu đương
sự khác xuất trình tài liệu, chứng cứ mà họ đang giữ; đề nghị Tòa án ra quyết
định yêu cầu cơ quan, tổ chức, cá nhân đang lưu giữ, quản lý tài liệu, chứng cứ
cung cấp tài liệu, chứng cứ đó; đề nghị Tòa án triệu tập người làm chứng, trưng
cầu giám định, quyết định việc định giá tài sản;
8. Được biết, ghi chép, sao chụp tài liệu, chứng cứ do
đương sự khác xuất trình hoặc do Tòa án thu thập, trừ tài liệu, chứng cứ quy
định tại khoản 2 Điều 109 của Bộ luật này;
9. Có nghĩa vụ gửi cho đương sự khác hoặc
người đại diện hợp pháp của họ bản sao đơn khởi kiện và tài liệu, chứng cứ, trừ
tài liệu, chứng cứ mà đương sự khác đã có, tài liệu, chứng cứ quy định tại khoản 2 Điều 109 của Bộ luật này.
Trường hợp vì lý do chính đáng không thể sao chụp, gửi
đơn khởi kiện, tài liệu, chứng cứ thì họ có quyền yêu cầu Tòa án hỗ trợ;
10. Đề nghị Tòa án quyết định áp dụng, thay đổi, hủy bỏ
biện pháp khẩn cấp tạm thời;
11. Tự thỏa thuận với nhau về việc giải quyết vụ án; tham
gia hòa giải do Tòa án tiến hành;
12. Nhận thông báo hợp lệ để thực hiện quyền, nghĩa vụ
của mình;
13. Tự bảo vệ hoặc nhờ người khác bảo vệ quyền và lợi ích
hợp pháp cho mình;
14. Yêu cầu thay đổi người tiến hành tố tụng, người tham
gia tố tụng theo quy định của Bộ luật này;
15. Tham gia phiên tòa, phiên họp theo quy định của Bộ
luật này;
16. Phải có mặt theo giấy triệu tập của Tòa án và chấp
hành quyết định của Tòa án trong quá trình Tòa án giải quyết vụ việc;
17. Đề nghị Tòa án đưa người có quyền lợi, nghĩa vụ liên
quan tham gia tố tụng;
18. Đề nghị Tòa án tạm đình chỉ giải quyết vụ việc theo
quy định của Bộ luật này;
19. Đưa ra câu hỏi với người khác về vấn đề liên quan đến
vụ án hoặc đề xuất với Tòa án những vấn đề cần hỏi người khác; được đối chất
với nhau hoặc với người làm chứng;
20. Tranh luận tại phiên tòa, đưa ra lập luận về đánh giá
chứng cứ và pháp luật áp dụng;
21. Được cấp trích lục bản án, bản án, quyết định của Tòa
án;
22. Kháng cáo, khiếu nại bản án, quyết định của Tòa án
theo quy định của Bộ luật này;
23. Đề nghị người có thẩm quyền kháng nghị theo thủ tục
giám đốc thẩm, tái thẩm bản án, quyết định của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật;
24. Chấp hành nghiêm chỉnh bản án, quyết định của Tòa án
đã có hiệu lực pháp luật;
25. Sử dụng quyền của đương sự một cách thiện chí, không
được lạm dụng để gây cản trở hoạt động tố tụng của Tòa án, đương sự khác;
trường hợp không thực hiện nghĩa vụ thì phải chịu hậu quả do Bộ luật này quy
định;
26. Quyền, nghĩa vụ khác mà pháp luật có quy định.
Điều 71. Quyền, nghĩa vụ của nguyên đơn
1. Các quyền, nghĩa vụ của đương sự quy định tại Điều 70 của Bộ luật này.
2. Thay đổi nội dung yêu cầu khởi kiện; rút một phần hoặc
toàn bộ yêu cầu khởi kiện.
3. Chấp nhận hoặc bác bỏ một phần hoặc toàn bộ yêu cầu
phản tố của bị đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có yêu cầu độc lập.
Điều 72. Quyền, nghĩa vụ của bị đơn
1. Các quyền, nghĩa vụ của đương sự quy định tại Điều 70 của Bộ luật này.
2. Được Tòa án thông báo về việc bị khởi kiện.
3. Chấp nhận hoặc bác bỏ một phần hoặc toàn bộ yêu cầu
của nguyên đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có yêu cầu độc lập.
4. Đưa ra yêu cầu phản tố đối với nguyên đơn, nếu có liên
quan đến yêu cầu của nguyên đơn hoặc đề nghị đối trừ với nghĩa vụ của nguyên
đơn. Đối với yêu cầu phản tố thì bị đơn có quyền, nghĩa vụ của nguyên đơn quy
định tại Điều 71 của Bộ luật này.
5. Đưa ra yêu cầu độc lập đối với người có quyền lợi,
nghĩa vụ liên quan và yêu cầu độc lập này có liên quan đến việc giải quyết vụ
án. Đối với yêu cầu độc lập thì bị đơn có quyền, nghĩa vụ của nguyên đơn quy
định tại Điều 71 của Bộ luật này.
6. Trường hợp yêu cầu phản tố hoặc yêu cầu độc lập không
được Tòa án chấp nhận để giải quyết trong cùng vụ án thì bị đơn có quyền khởi
kiện vụ án khác.
Điều 73. Quyền, nghĩa vụ của người có quyền
lợi, nghĩa vụ liên quan
1. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền, nghĩa
vụ sau đây:
a) Các quyền, nghĩa vụ quy định tại Điều
70 của Bộ luật này;
b) Có thể có yêu cầu độc lập hoặc tham gia tố tụng với
bên nguyên đơn hoặc với bên bị đơn.
2. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có yêu cầu độc
lập và yêu cầu độc lập này có liên quan đến việc giải quyết vụ án thì có quyền,
nghĩa vụ của nguyên đơn quy định tại Điều 71 của Bộ luật này.
Trường hợp yêu cầu độc lập không được Tòa án chấp nhận để giải quyết trong cùng
vụ án thì người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền khởi kiện vụ án khác.
3. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan nếu tham gia tố
tụng với bên nguyên đơn hoặc chỉ có quyền lợi thì có quyền, nghĩa vụ của nguyên
đơn quy định tại Điều 71 của Bộ luật này.
4. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan nếu tham gia tố
tụng với bên bị đơn hoặc chỉ có nghĩa vụ thì có quyền, nghĩa vụ của bị đơn quy
định tại Điều 72 của Bộ luật này.
Điều 74. Kế thừa quyền, nghĩa vụ tố tụng
1. Trường hợp đương sự là cá nhân đang tham gia tố tụng
chết mà quyền, nghĩa vụ về tài sản của họ được thừa kế thì người thừa kế tham
gia tố tụng.
2. Trường hợp đương sự là cơ quan, tổ chức đang tham gia
tố tụng phải chấm dứt hoạt động, bị giải thể, hợp nhất, sáp nhập, chia, tách,
chuyển đổi hình thức tổ chức thì việc kế thừa quyền, nghĩa vụ tố tụng dân sự
của cơ quan, tổ chức đó được xác định như sau:
a) Trường hợp tổ chức phải chấm dứt hoạt động, bị giải
thể là công ty cổ phần, công ty trách nhiệm hữu hạn, công ty hợp danh thì cá
nhân, tổ chức là thành viên của tổ chức đó hoặc đại diện của họ tham gia tố
tụng;
b) Trường hợp cơ quan, tổ chức phải chấm dứt hoạt động,
bị giải thể là cơ quan nhà nước, đơn vị vũ trang nhân dân, tổ chức chính trị,
tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức chính trị xã hội - nghề nghiệp, tổ chức xã
hội, tổ chức xã hội - nghề nghiệp, doanh nghiệp do Nhà nước nắm giữ 100% vốn
điều lệ[8] thì đại diện hợp pháp của cơ quan, tổ chức
cấp trên trực tiếp của cơ quan, tổ chức đó hoặc đại diện hợp pháp của cơ quan,
tổ chức tiếp nhận các quyền, nghĩa vụ của cơ quan, tổ chức đó tham gia tố tụng;
c) Trường hợp tổ chức hợp nhất, sáp nhập, chia, tách,
chuyển đổi hình thức tổ chức thì cá nhân, tổ chức tiếp nhận quyền, nghĩa vụ của
tổ chức đó tham gia tố tụng.
3. Trường hợp thay đổi chủ sở hữu của tổ chức và có việc
chuyển giao quyền, nghĩa vụ cho chủ sở hữu mới thì chủ sở hữu mới kế thừa
quyền, nghĩa vụ tố tụng.
4. Trường hợp tổ chức được chuyển giao quyền, nghĩa vụ
theo quy định của pháp luật về dân sự thì tổ chức đó kế thừa quyền, nghĩa vụ tố
tụng.
5. Trường hợp tổ chức không có tư cách pháp nhân tham gia
quan hệ dân sự mà người đại diện đang tham gia tố tụng chết thì tổ chức đó phải
cử người khác làm đại diện để tham gia tố tụng; nếu không cử được người đại
diện hoặc tổ chức đó phải chấm dứt hoạt động, bị giải thể thì các cá nhân là
thành viên của tổ chức đó tham gia tố tụng.
Mục 2. NHỮNG NGƯỜI THAM GIA TỐ TỤNG KHÁC
Điều 75. Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp
pháp của đương sự
1. Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự là
người tham gia tố tụng để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự.
2. Những người sau đây được làm người bảo vệ quyền và lợi
ích hợp pháp của đương sự khi có yêu cầu của đương sự và được Tòa án làm thủ
tục đăng ký người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự:
a) Luật sư tham gia tố tụng theo quy định của pháp luật
về luật sư;
b) Trợ giúp viên pháp lý hoặc người tham gia trợ giúp
pháp lý theo quy định của pháp luật về trợ giúp pháp lý;
c) Đại diện của tổ chức đại diện tập thể lao động là
người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người lao động trong vụ việc lao
động theo quy định của pháp luật về lao động, công đoàn;
d) Công dân Việt Nam có năng lực hành vi dân sự đầy đủ,
không có án tích hoặc đã được xóa án tích, không thuộc trường hợp
đang bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính; không phải là cán bộ, công chức
trong các cơ quan Tòa án, Viện kiểm sát và công chức, sĩ quan, hạ sĩ quan trong
ngành Công an.
3. Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự có
thể bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nhiều đương sự trong cùng một vụ án,
nếu quyền và lợi ích hợp pháp của những người đó không đối lập nhau. Nhiều
người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự có thể cùng bảo vệ quyền và
lợi ích hợp pháp của một đương sự trong vụ án.
4. Khi đề nghị Tòa án làm thủ tục đăng ký người bảo vệ
quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự, người đề nghị phải xuất trình các giấy
tờ sau đây:
a) Luật sư xuất trình các giấy tờ theo quy định của Luật
Luật sư;
b) Trợ giúp viên pháp lý hoặc người tham gia trợ giúp
pháp lý xuất trình văn bản cử người thực hiện trợ giúp pháp lý của tổ chức thực
hiện trợ giúp pháp lý và thẻ trợ giúp viên pháp lý hoặc thẻ luật sư;
c) Đại diện của tổ chức đại diện tập thể lao động xuất
trình văn bản của tổ chức đó cử mình tham gia bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp
cho người lao động, tập thể người lao động;
d) Công dân Việt Nam có đủ điều kiện quy định tại điểm d
khoản 2 Điều này xuất trình giấy yêu cầu của đương sự và giấy tờ tùy thân.
5. Sau khi kiểm tra giấy tờ và thấy người đề nghị có đủ
điều kiện làm người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự quy định tại
các khoản 2, 3 và 4 Điều này thì trong thời hạn 03 ngày làm việc, kể từ ngày
nhận được đề nghị, Tòa án phải vào sổ đăng ký người bảo vệ quyền và lợi ích hợp
pháp của đương sự và xác nhận vào giấy yêu cầu người bảo vệ quyền và lợi ích
hợp pháp của đương sự. Trường hợp từ chối đăng ký thì Tòa án phải thông báo
bằng văn bản và nêu rõ lý do cho người đề nghị.
Điều 76. Quyền, nghĩa vụ của người bảo vệ
quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự
1. Tham gia tố tụng từ khi khởi kiện hoặc bất cứ giai
đoạn nào trong quá trình tố tụng dân sự.
2. Thu thập và cung cấp tài liệu, chứng cứ cho Tòa án;
nghiên cứu hồ sơ vụ án và được ghi chép, sao chụp những tài liệu cần thiết có
trong hồ sơ vụ án để thực hiện việc bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương
sự, trừ tài liệu, chứng cứ quy định tại khoản 2 Điều 109 của Bộ
luật này.
3. Tham gia việc hòa giải, phiên họp, phiên tòa hoặc
trường hợp không tham gia thì được gửi văn bản bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp
của đương sự cho Tòa án xem xét.
4. Thay mặt đương sự yêu cầu thay đổi người tiến hành tố
tụng, người tham gia tố tụng khác theo quy định của Bộ luật này.
5. Giúp đương sự về mặt pháp lý liên quan đến việc bảo vệ
quyền và lợi ích hợp pháp của họ; trường hợp được đương sự ủy quyền thì thay
mặt đương sự nhận giấy tờ, văn bản tố tụng mà Tòa án tống đạt hoặc thông báo và
có trách nhiệm chuyển cho đương sự.
6. Các quyền, nghĩa vụ quy định tại các khoản
1, 6, 16, 17, 18, 19 và 20 Điều 70 của Bộ luật này.
7. Quyền, nghĩa vụ khác mà pháp luật có quy định.
Người biết các tình tiết có liên quan đến nội dung vụ
việc được đương sự đề nghị, Tòa án triệu tập tham gia tố tụng với tư cách là
người làm chứng. Người mất năng lực hành vi dân sự không thể là người làm
chứng.
Điều 78. Quyền, nghĩa vụ của người làm chứng
1. Cung cấp toàn bộ thông tin, tài liệu, đồ vật mà mình
có được có liên quan đến việc giải quyết vụ việc.
2. Khai báo trung thực những tình tiết mà mình biết được
có liên quan đến việc giải quyết vụ việc.
3. Được từ chối khai báo nếu lời khai của mình liên quan
đến bí mật nhà nước, bí mật nghề nghiệp, bí mật kinh doanh, bí mật cá nhân, bí
mật gia đình hoặc việc khai báo đó có ảnh hưởng xấu, bất lợi cho đương sự là
người có quan hệ thân thích với mình.
4. Được nghỉ việc trong thời gian Tòa án triệu tập hoặc
lấy lời khai, nếu làm việc trong cơ quan, tổ chức.
5. Được thanh toán các khoản chi phí có liên quan theo
quy định của pháp luật.
6. Yêu cầu Tòa án đã triệu tập, cơ quan nhà nước có thẩm
quyền bảo vệ tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm, tài sản và các quyền và
lợi ích hợp pháp khác của mình khi tham gia tố tụng; khiếu nại hành vi tố tụng
của người tiến hành tố tụng.
7. Bồi thường thiệt hại và chịu trách nhiệm trước pháp
luật do khai báo sai sự thật gây thiệt hại cho đương sự hoặc cho người khác.
8. Phải có mặt tại Tòa án, phiên tòa, phiên
họp theo giấy triệu tập của Tòa án nếu việc lấy lời khai của người làm chứng
phải thực hiện công khai tại Tòa án, phiên tòa, phiên họp; trường
hợp người làm chứng không đến phiên tòa, phiên họp mà không có lý do chính đáng
và việc vắng mặt của họ cản trở việc xét xử, giải quyết thì Thẩm phán, Hội đồng
xét xử, Hội đồng giải quyết việc dân sự có thể ra quyết định dẫn giải người làm
chứng đến phiên tòa, phiên họp, trừ trường hợp người làm chứng là người chưa
thành niên.
9. Phải cam đoan trước Tòa án về việc thực hiện quyền,
nghĩa vụ của mình, trừ trường hợp người làm chứng là người chưa thành niên.
Người giám định là người có kiến thức, kinh nghiệm cần
thiết theo quy định của pháp luật về lĩnh vực có đối tượng cần giám định mà Tòa
án trưng cầu giám định hoặc được đương sự yêu cầu giám định theo quy định tại Điều 102 của Bộ luật này.
Điều 80. Quyền, nghĩa vụ của người giám định
1. Người giám định có quyền, nghĩa vụ sau đây:
a) Được đọc tài liệu có trong hồ sơ vụ án liên quan đến
đối tượng giám định; yêu cầu Tòa án cung cấp tài liệu cần thiết cho việc giám
định;
b) Đặt câu hỏi đối với người tham gia tố tụng về những
vấn đề có liên quan đến đối tượng giám định;
c) Phải có mặt theo giấy triệu tập của Tòa án; trình bày,
giải thích, trả lời những vấn đề liên quan đến việc giám định và kết luận giám
định một cách trung thực, có căn cứ, khách quan;
d) Phải thông báo bằng văn bản cho Tòa án về việc không
thể giám định được do việc cần giám định vượt quá khả năng chuyên môn, tài liệu
cung cấp phục vụ cho việc giám định không đủ hoặc không sử dụng được;
đ) Phải bảo quản tài liệu đã nhận và gửi trả lại Tòa án
cùng với kết luận giám định hoặc cùng với thông báo về việc không thể giám định
được;
e) Không được tự mình thu thập tài liệu để tiến hành giám
định, tiếp xúc với người tham gia tố tụng khác nếu việc tiếp xúc đó làm ảnh
hưởng đến kết quả giám định; không được tiết lộ bí mật thông tin mà mình biết
khi tiến hành giám định hoặc thông báo kết quả giám định cho người khác, trừ
Thẩm phán quyết định trưng cầu giám định;
g) Được thanh toán các chi phí có liên quan theo quy định
của pháp luật;
h) Phải cam đoan trước Tòa án về việc thực hiện quyền,
nghĩa vụ của mình.
2. Người giám định phải từ chối giám định hoặc bị thay
đổi trong những trường hợp sau đây:
a) Thuộc một trong những trường hợp quy định tại khoản 1 và khoản 3 Điều 52 của Bộ luật này và tại Điều 34 của
Luật Giám định tư pháp;
b) Họ đã tham gia tố tụng với tư cách là người bảo vệ
quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự, người làm chứng, người phiên dịch trong
cùng vụ án đó;
c) Họ đã tiến hành tố tụng trong vụ án đó với tư cách là
Thẩm phán, Hội thẩm nhân dân, Thẩm tra viên, Thư ký Tòa án, Kiểm sát viên, Kiểm
tra viên.
1. Người phiên dịch là người có khả năng dịch từ một ngôn
ngữ khác ra tiếng Việt và ngược lại trong trường hợp có người tham gia tố tụng
không sử dụng được tiếng Việt. Người phiên dịch được một bên đương sự lựa chọn
hoặc các bên đương sự thỏa thuận lựa chọn và được Tòa án chấp nhận hoặc được
Tòa án yêu cầu để phiên dịch.
2. Người biết chữ của người khuyết tật nhìn hoặc biết
nghe, nói bằng ngôn ngữ, ký hiệu của người khuyết tật nghe, nói cũng được coi
là người phiên dịch.
Trường hợp chỉ có người đại diện hoặc người thân thích
của người khuyết tật nhìn hoặc người khuyết tật nghe, nói biết được chữ, ngôn
ngữ, ký hiệu của người khuyết tật thì người đại diện hoặc người thân thích có
thể được Tòa án chấp nhận làm người phiên dịch cho người khuyết tật đó.
Điều 82. Quyền, nghĩa vụ của người phiên dịch
1. Người phiên dịch có quyền, nghĩa vụ sau đây:
a) Phải có mặt theo giấy triệu tập của Tòa án;
b) Phải phiên dịch trung thực, khách quan, đúng nghĩa;
c) Đề nghị người tiến hành tố tụng, người tham gia tố
tụng giải thích thêm nội dung cần phiên dịch;
d) Không được tiếp xúc với người tham gia tố tụng khác
nếu việc tiếp xúc đó làm ảnh hưởng đến tính trung thực, khách quan, đúng nghĩa
khi phiên dịch;
đ) Được thanh toán các chi phí có liên quan theo quy định
của pháp luật;
e) Phải cam đoan trước Tòa án về việc thực hiện quyền,
nghĩa vụ của mình.
2. Người phiên dịch phải từ chối phiên dịch hoặc bị thay
đổi trong những trường hợp sau đây:
a) Thuộc một trong những trường hợp quy định tại khoản 1 và khoản 3 Điều 52 của Bộ luật này;
b) Họ đã tham gia tố tụng với tư cách là người bảo vệ
quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự, người làm chứng, người giám định trong
cùng vụ án đó;
c) Họ đã tiến hành tố tụng với tư cách là Thẩm phán, Hội
thẩm nhân dân, Thẩm tra viên, Thư ký Tòa án, Kiểm sát viên, Kiểm tra viên.
1. Việc từ chối giám định, phiên dịch hoặc đề nghị thay
đổi người giám định, người phiên dịch trước khi mở phiên tòa, phiên họp phải
được lập thành văn bản nêu rõ lý do của việc từ chối hoặc đề nghị thay đổi.
2. Việc từ chối giám định, phiên dịch hoặc đề nghị thay
đổi người giám định, người phiên dịch tại phiên tòa, phiên họp phải được ghi
vào biên bản phiên tòa, phiên họp.
Điều 84. Quyết định việc thay đổi người giám
định, người phiên dịch
1. Trước khi mở phiên tòa, phiên họp, việc thay đổi người
giám định, người phiên dịch do Chánh án Tòa án quyết định.
2. Tại phiên tòa, phiên họp, việc thay đổi người giám
định, người phiên dịch do Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Hội đồng giải quyết việc
dân sự quyết định sau khi nghe ý kiến của người bị yêu cầu thay đổi. Hội đồng
xét xử, Hội đồng giải quyết việc dân sự thảo luận tại phòng nghị án và quyết
định theo đa số.
Trường hợp phải thay đổi người giám định, người phiên
dịch thì Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Hội đồng giải quyết việc dân sự ra quyết
định hoãn phiên tòa, phiên họp. Việc trưng cầu người giám định khác hoặc thay
người phiên dịch khác được thực hiện theo quy định tại Điều 79
và Điều 81 của Bộ luật này.
1. Người đại diện trong tố tụng dân sự bao gồm người đại
diện theo pháp luật và người đại diện theo ủy quyền. Người đại diện có thể là
cá nhân hoặc pháp nhân theo quy định của Bộ luật Dân sự.
2. Người đại diện theo pháp luật theo quy định của Bộ
luật Dân sự là người đại diện theo pháp luật trong tố tụng dân sự, trừ trường
hợp bị hạn chế quyền đại diện theo quy định của pháp luật.
Cơ quan, tổ chức, cá nhân khởi kiện để bảo vệ quyền và
lợi ích hợp pháp của người khác cũng là người đại diện theo pháp luật trong tố
tụng dân sự của người được bảo vệ.
3. Tổ chức đại diện tập thể lao động là người đại diện
theo pháp luật cho tập thể người lao động khởi kiện vụ án lao động, tham gia tố
tụng tại Tòa án khi quyền, lợi ích hợp pháp của tập thể người lao động bị xâm
phạm; tổ chức đại diện tập thể lao động đại diện cho người lao động khởi kiện
vụ án lao động, tham gia tố tụng khi được người lao động ủy quyền.
Trường hợp nhiều người lao động có cùng yêu cầu đối với
người sử dụng lao động, trong cùng một doanh nghiệp, đơn vị thì họ được ủy
quyền cho một đại diện của tổ chức đại diện tập thể lao động thay mặt họ khởi
kiện vụ án lao động, tham gia tố tụng tại Tòa án.
4. Người đại diện theo ủy quyền theo quy định của Bộ luật
Dân sự là người đại diện theo ủy quyền trong tố tụng dân sự.
Đối với việc ly hôn, đương sự không được ủy quyền cho
người khác thay mặt mình tham gia tố tụng. Trường hợp cha, mẹ, người thân thích
khác yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn theo quy định tại khoản 2 Điều 51 của
Luật Hôn nhân và gia đình thì họ là người đại diện.
Điều 86. Quyền, nghĩa vụ của người đại diện
1. Người đại diện theo pháp luật trong tố tụng dân sự
thực hiện quyền, nghĩa vụ tố tụng dân sự của đương sự trong phạm vi mà mình đại
diện.
2. Người đại diện theo ủy quyền trong tố tụng dân sự thực
hiện quyền, nghĩa vụ tố tụng dân sự của đương sự theo nội dung văn bản ủy
quyền.
Điều 87. Những trường hợp không được làm
người đại diện
1. Những người sau đây không được làm người đại diện theo
pháp luật:
a) Nếu họ cũng là đương sự trong cùng một vụ việc với
người được đại diện mà quyền và lợi ích hợp pháp của họ đối lập với quyền và
lợi ích hợp pháp của người được đại diện;
b) Nếu họ đang là người đại diện theo pháp luật trong tố
tụng dân sự cho một đương sự khác mà quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự đó
đối lập với quyền và lợi ích hợp pháp của người được đại diện trong cùng một vụ
việc.
2. Quy định tại khoản 1 Điều này cũng được áp dụng đối
với trường hợp đại diện theo ủy quyền trong tố tụng dân sự.
3. Cán bộ, công chức trong các cơ quan Tòa
án, Kiểm sát, Công an không được làm người đại diện trong tố tụng dân sự, trừ
trường hợp họ tham gia tố tụng với tư cách là người đại diện cho cơ quan của họ
hoặc với tư cách là người đại diện theo pháp luật.
Điều 88. Chỉ định người đại diện trong tố
tụng dân sự
1. Khi tiến hành tố tụng dân sự, nếu có đương sự là người
chưa thành niên, người mất năng lực hành vi dân sự, người bị hạn chế năng lực
hành vi dân sự, người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi mà không có
người đại diện hoặc người đại diện theo pháp luật của họ thuộc một trong các
trường hợp quy định tại khoản 1 Điều 87 của Bộ luật này thì
Tòa án phải chỉ định người đại diện để tham gia tố tụng.
2. Đối với vụ việc lao động mà có đương sự thuộc trường
hợp quy định tại khoản 1 Điều này hoặc người lao động là người chưa thành niên
mà không có người đại diện và Tòa án cũng không chỉ định được người đại diện
theo quy định tại khoản 1 Điều này thì Tòa án chỉ định tổ chức đại diện tập thể
lao động đại diện cho người lao động đó.
Điều 89. Chấm dứt đại diện trong tố tụng dân
sự
Người đại diện theo pháp luật, người đại diện theo ủy
quyền trong tố tụng dân sự chấm dứt việc đại diện theo quy định của Bộ luật Dân
sự.
Điều 90. Hậu quả của việc chấm dứt đại diện
trong tố tụng dân sự
1. Trường hợp chấm dứt đại diện theo pháp luật mà người
được đại diện đã thành niên hoặc đã khôi phục năng lực hành vi dân sự thì người
đó tự mình tham gia tố tụng dân sự hoặc ủy quyền cho người khác tham gia tố
tụng dân sự theo thủ tục do Bộ luật này quy định.
2. Trường hợp chấm dứt đại diện theo ủy quyền thì đương
sự hoặc người thừa kế của đương sự trực tiếp tham gia tố tụng hoặc ủy quyền cho
người khác đại diện tham gia tố tụng theo thủ tục do Bộ luật này quy định.
1. Đương sự có yêu cầu Tòa án bảo vệ quyền và lợi ích hợp
pháp của mình phải thu thập, cung cấp, giao nộp cho Tòa án tài liệu, chứng cứ
để chứng minh cho yêu cầu đó là có căn cứ và hợp pháp, trừ các trường hợp sau
đây:
a) Người tiêu dùng khởi kiện không có nghĩa vụ chứng minh
lỗi của tổ chức, cá nhân kinh doanh hàng hóa, dịch vụ. Tổ chức, cá nhân kinh
doanh hàng hóa, dịch vụ bị kiện có nghĩa vụ chứng minh mình không có lỗi gây ra
thiệt hại theo quy định của Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng;
b) Đương sự là người lao động trong vụ án lao động mà
không cung cấp, giao nộp được cho Tòa án tài liệu, chứng cứ vì lý do tài liệu,
chứng cứ đó đang do người sử dụng lao động quản lý, lưu giữ thì người sử dụng
lao động có trách nhiệm cung cấp, giao nộp tài liệu, chứng cứ đó cho Tòa án.
Người lao động khởi kiện vụ án đơn phương chấm dứt hợp
đồng lao động thuộc trường hợp người sử dụng lao động không được thực hiện
quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động hoặc trường hợp không được xử lý kỷ
luật lao động đối với người lao động theo quy định của pháp luật về lao động
thì nghĩa vụ chứng minh thuộc về người sử dụng lao động;
c) Các trường hợp pháp luật có quy định khác về nghĩa vụ
chứng minh.
2. Đương sự phản đối yêu cầu của người khác đối với mình
phải thể hiện bằng văn bản và phải thu thập, cung cấp, giao nộp cho Tòa án tài
liệu, chứng cứ để chứng minh cho sự phản đối đó.
3. Cơ quan, tổ chức, cá nhân khởi kiện để bảo vệ lợi ích
công cộng, lợi ích của Nhà nước hoặc yêu cầu Tòa án bảo vệ quyền và lợi ích hợp
pháp của người khác phải thu thập, cung cấp, giao nộp cho Tòa án tài liệu,
chứng cứ để chứng minh cho việc khởi kiện, yêu cầu của mình là có căn cứ và hợp
pháp.
Tổ chức xã hội tham gia bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng
không có nghĩa vụ chứng minh lỗi của tổ chức, cá nhân kinh doanh hàng hóa, dịch
vụ theo quy định của Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng.
4. Đương sự có nghĩa vụ đưa ra chứng cứ để chứng minh mà
không đưa ra được chứng cứ hoặc không đưa ra đủ chứng cứ thì Tòa án giải quyết
vụ việc dân sự theo những chứng cứ đã thu thập được có trong hồ sơ vụ việc.
Điều 92. Những tình tiết, sự kiện không phải
chứng minh
1. Những tình tiết, sự kiện sau đây không phải chứng
minh:
a) Những tình tiết, sự kiện rõ ràng mà mọi người đều biết
và được Tòa án thừa nhận;
b) Những tình tiết, sự kiện đã được xác định trong bản
án, quyết định của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật hoặc quyết định của cơ quan
nhà nước có thẩm quyền đã có hiệu lực pháp luật;
c) Những tình tiết, sự kiện đã được ghi trong văn bản và
được công chứng, chứng thực hợp pháp; trường hợp có dấu hiệu nghi ngờ tính
khách quan của những tình tiết, sự kiện này hoặc tính khách quan của văn bản
công chứng, chứng thực thì Thẩm phán có thể yêu cầu đương sự, cơ quan, tổ chức
công chứng, chứng thực xuất trình bản gốc, bản chính.
2. Một bên đương sự thừa nhận hoặc không phản đối những
tình tiết, sự kiện, tài liệu, văn bản, kết luận của cơ quan chuyên môn mà bên
đương sự kia đưa ra thì bên đương sự đó không phải chứng minh.
3. Đương sự có người đại diện tham gia tố tụng thì sự
thừa nhận của người đại diện được coi là sự thừa nhận của đương sự nếu không
vượt quá phạm vi đại diện.
Chứng cứ trong vụ việc dân sự là những gì có thật được
đương sự và cơ quan, tổ chức, cá nhân khác giao nộp, xuất trình cho Tòa án
trong quá trình tố tụng hoặc do Tòa án thu thập được theo trình tự, thủ tục do
Bộ luật này quy định và được Tòa án sử dụng làm căn cứ để xác định các tình
tiết khách quan của vụ án cũng như xác định yêu cầu hay sự phản đối của đương
sự là có căn cứ và hợp pháp.
Chứng cứ được thu thập từ các nguồn sau đây:
1. Tài liệu đọc được, nghe được, nhìn được, dữ liệu điện
tử;
2. Vật chứng;
3. Lời khai của đương sự;
4. Lời khai của người làm chứng;
5. Kết luận giám định;
6. Biên bản ghi kết quả thẩm định tại chỗ;
7. Kết quả định giá tài sản, thẩm định giá tài sản;
8. Văn bản ghi nhận sự kiện, hành vi pháp lý do người có
chức năng lập;
9. Văn bản công chứng, chứng thực;
10. Các nguồn khác mà pháp luật có quy định.
1. Tài liệu đọc được nội dung được coi là chứng cứ nếu là
bản chính hoặc bản sao có công chứng, chứng thực hợp pháp hoặc do cơ quan, tổ
chức có thẩm quyền cung cấp, xác nhận.
2. Tài liệu nghe được, nhìn được được coi là chứng cứ nếu
được xuất trình kèm theo văn bản trình bày của người có tài liệu đó về xuất xứ
của tài liệu nếu họ tự thu âm, thu hình hoặc văn bản có xác nhận của người đã
cung cấp cho người xuất trình về xuất xứ của tài liệu đó hoặc văn bản về sự
việc liên quan tới việc thu âm, thu hình đó.
3. Thông điệp dữ liệu điện tử được thể hiện dưới hình
thức trao đổi dữ liệu điện tử, chứng từ điện tử, thư điện tử, điện tín, điện
báo, fax và các hình thức tương tự khác theo quy định của pháp luật về giao
dịch điện tử.
4. Vật chứng là chứng cứ phải là hiện vật gốc liên quan
đến vụ việc.
5. Lời khai của đương sự, lời khai của người làm chứng
được coi là chứng cứ nếu được ghi bằng văn bản, băng ghi âm, đĩa ghi âm, băng
ghi hình, đĩa ghi hình, thiết bị khác chứa âm thanh, hình ảnh theo quy định tại
khoản 2 Điều này hoặc khai bằng lời tại phiên tòa.
6. Kết luận giám định được coi là chứng cứ nếu việc giám
định đó được tiến hành theo đúng thủ tục do pháp luật quy định.
7. Biên bản ghi kết quả thẩm định tại chỗ được coi là
chứng cứ nếu việc thẩm định được tiến hành theo đúng thủ tục do pháp luật quy
định.
8. Kết quả định giá tài sản, kết quả thẩm định giá tài
sản được coi là chứng cứ nếu việc định giá, thẩm định giá được tiến hành theo
đúng thủ tục do pháp luật quy định.
9. Văn bản ghi nhận sự kiện, hành vi pháp lý do người có
chức năng lập tại chỗ được coi là chứng cứ nếu việc lập văn bản ghi nhận sự
kiện, hành vi pháp lý được tiến hành theo đúng thủ tục do pháp luật quy định.
10. Văn bản công chứng, chứng thực được coi là chứng cứ
nếu việc công chứng, chứng thực được thực hiện theo đúng thủ tục do pháp luật
quy định.
11. Các nguồn khác mà pháp luật có quy định được xác định
là chứng cứ theo điều kiện, thủ tục mà pháp luật quy định.
Điều 96. Giao nộp tài liệu, chứng cứ
1. Trong quá trình Tòa án giải quyết vụ việc dân sự,
đương sự có quyền và nghĩa vụ giao nộp tài liệu, chứng cứ cho Tòa án. Trường
hợp tài liệu, chứng cứ đã được giao nộp chưa bảo đảm đủ cơ sở để giải quyết vụ
việc thì Thẩm phán yêu cầu đương sự giao nộp bổ sung tài liệu, chứng cứ. Nếu
đương sự không giao nộp hoặc giao nộp không đầy đủ tài liệu, chứng cứ do Tòa án
yêu cầu mà không có lý do chính đáng thì Tòa án căn cứ vào tài liệu, chứng cứ
mà đương sự đã giao nộp và Tòa án đã thu thập theo quy định tại Điều
97 của Bộ luật này để giải quyết vụ việc dân sự.
2. Việc đương sự giao nộp tài liệu, chứng cứ cho Tòa án
phải được lập biên bản. Trong biên bản phải ghi rõ tên gọi, hình thức, nội
dung, đặc điểm của tài liệu, chứng cứ; số bản, số trang của chứng cứ và thời
gian nhận; chữ ký hoặc điểm chỉ của người giao nộp, chữ ký của người nhận và
dấu của Tòa án. Biên bản phải lập thành hai bản, một bản lưu vào hồ sơ vụ việc
dân sự và một bản giao cho đương sự nộp chứng cứ.
3. Đương sự giao nộp cho Tòa án tài liệu, chứng cứ bằng
tiếng dân tộc thiểu số, tiếng nước ngoài phải kèm theo bản dịch sang tiếng
Việt, được công chứng, chứng thực hợp pháp.
4. Thời hạn giao nộp tài liệu, chứng cứ do Thẩm phán được
phân công giải quyết vụ việc ấn định nhưng không được vượt quá thời hạn chuẩn
bị xét xử theo thủ tục sơ thẩm, thời hạn chuẩn bị giải quyết việc dân sự theo
quy định của Bộ luật này.
Trường hợp sau khi có quyết định đưa vụ án ra xét xử theo
thủ tục sơ thẩm, quyết định mở phiên họp giải quyết việc dân sự, đương sự mới
cung cấp, giao nộp tài liệu, chứng cứ mà Tòa án đã yêu cầu giao nộp nhưng đương
sự không giao nộp được vì có lý do chính đáng thì đương sự phải chứng minh lý
do của việc chậm giao nộp tài liệu, chứng cứ đó. Đối với tài liệu, chứng cứ mà
trước đó Tòa án không yêu cầu đương sự giao nộp hoặc tài liệu, chứng cứ mà
đương sự không thể biết được trong quá trình giải quyết vụ việc theo thủ tục sơ
thẩm thì đương sự có quyền giao nộp, trình bày tại phiên tòa sơ thẩm, phiên họp
giải quyết việc dân sự hoặc các giai đoạn tố tụng tiếp theo của việc giải quyết
vụ việc dân sự.
5. Khi đương sự giao nộp tài liệu, chứng cứ cho Tòa án
thì họ phải sao gửi tài liệu, chứng cứ đó cho đương sự khác hoặc người đại diện
hợp pháp của đương sự khác; đối với tài liệu, chứng cứ quy định tại khoản 2 Điều 109 của Bộ luật này hoặc tài liệu, chứng cứ không
thể sao gửi được thì phải thông báo bằng văn bản cho đương sự khác hoặc người
đại diện hợp pháp của đương sự khác.
Điều 97. Xác minh, thu thập chứng cứ
1. Cơ quan, tổ chức, cá nhân có quyền tự mình thu thập
tài liệu, chứng cứ bằng những biện pháp sau đây:
a) Thu thập tài liệu đọc được, nghe được, nhìn được;
thông điệp dữ liệu điện tử;
b) Thu thập vật chứng;
c) Xác định người làm chứng và lấy xác nhận của người làm
chứng;
d) Yêu cầu cơ quan, tổ chức, cá nhân cho sao chép hoặc
cung cấp những tài liệu có liên quan đến việc giải quyết vụ việc mà cơ quan, tổ
chức, cá nhân đó đang lưu giữ, quản lý;
đ) Yêu cầu Ủy ban nhân dân cấp xã chứng thực chữ ký của
người làm chứng;
e) Yêu cầu Tòa án thu thập tài liệu, chứng cứ nếu đương
sự không thể thu thập tài liệu, chứng cứ;
g) Yêu cầu Tòa án ra quyết định trưng cầu giám định, định
giá tài sản;
h) Yêu cầu cơ quan, tổ chức, cá nhân thực hiện công việc
khác theo quy định của pháp luật.
2. Trong các trường hợp do Bộ luật này quy định, Tòa án
có thể tiến hành một hoặc một số biện pháp sau đây để thu thập tài liệu, chứng
cứ:
a) Lấy lời khai của đương sự, người làm chứng;
b) Đối chất giữa các đương sự với nhau, giữa đương sự với
người làm chứng;
c) Trưng cầu giám định;
d) Định giá tài sản;
đ) Xem xét, thẩm định tại chỗ;
e) Ủy thác thu thập, xác minh tài liệu, chứng cứ;
g) Yêu cầu cơ quan, tổ chức, cá nhân cung cấp tài liệu
đọc được, nghe được, nhìn được hoặc hiện vật khác liên quan đến việc giải quyết
vụ việc dân sự;
h) Xác minh sự có mặt hoặc vắng mặt của đương sự tại nơi
cư trú;
i) Các biện pháp khác theo quy định của Bộ luật này.
3. Khi tiến hành các biện pháp quy định tại các điểm c,
d, đ, e và g khoản 2 Điều này, Tòa án phải ra quyết định, trong đó nêu rõ lý do
và yêu cầu của Tòa án.
4. Trong giai đoạn giám đốc thẩm, tái thẩm, Thẩm tra viên
có thể tiến hành các biện pháp thu thập tài liệu, chứng cứ quy định tại các
điểm a, g và h khoản 2 Điều này.
Khi Thẩm tra viên tiến hành biện pháp quy định tại điểm g
khoản 2 Điều này, Tòa án phải ra quyết định, trong đó nêu rõ lý do và yêu cầu
của Tòa án.
5. Trong thời hạn 03 ngày làm việc, kể từ ngày Tòa án thu
thập được tài liệu, chứng cứ, Tòa án phải thông báo về tài liệu, chứng cứ đó
cho đương sự để họ thực hiện quyền, nghĩa vụ của mình.
6. Viện kiểm sát thu thập tài liệu, chứng cứ để bảo đảm
cho việc thực hiện thẩm quyền kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm, giám đốc thẩm,
tái thẩm.
Điều 98. Lấy lời khai của đương sự
1. Thẩm phán chỉ tiến hành lấy lời khai của đương sự khi
đương sự chưa có bản khai hoặc nội dung bản khai chưa đầy đủ, rõ ràng. Đương sự
phải tự viết bản khai và ký tên của mình. Trường hợp đương sự không thể tự viết
được thì Thẩm phán lấy lời khai của đương sự. Việc lấy lời khai của đương sự
chỉ tập trung vào những tình tiết mà đương sự khai chưa đầy đủ, rõ ràng. Thẩm
phán tự mình hoặc Thư ký Tòa án ghi lại lời khai của đương sự vào biên bản.
Thẩm phán lấy lời khai của đương sự tại trụ sở Tòa án; trường hợp cần thiết có
thể lấy lời khai của đương sự ngoài trụ sở Tòa án.
2. Biên bản ghi lời khai của đương sự phải được người
khai tự đọc lại hay nghe đọc lại và ký tên hoặc điểm chỉ. Đương sự có quyền yêu
cầu ghi những sửa đổi, bổ sung vào biên bản ghi lời khai và ký tên hoặc điểm
chỉ xác nhận. Biên bản phải có chữ ký của người lấy lời khai, người ghi biên
bản và đóng dấu của Tòa án; nếu biên bản được ghi thành nhiều trang rời nhau
thì phải ký vào từng trang và đóng dấu giáp lai. Trường hợp biên bản ghi lời
khai của đương sự được lập ngoài trụ sở Tòa án thì phải có người làm chứng hoặc
xác nhận của Ủy ban nhân dân cấp xã hoặc Công an xã, phường, thị trấn hoặc cơ
quan, tổ chức nơi lập biên bản.
3. Việc lấy lời khai của đương sự thuộc một trong các
trường hợp quy định tại khoản 4 và khoản 5 Điều 69 của Bộ luật
này phải được tiến hành với sự có mặt của người đại diện hợp pháp của đương
sự đó.
Điều 99. Lấy lời khai của người làm chứng
1. Theo yêu cầu của đương sự hoặc khi xét thấy cần thiết,
Thẩm phán tiến hành lấy lời khai của người làm chứng tại trụ sở Tòa án hoặc
ngoài trụ sở Tòa án.
Trước khi lấy lời khai của người làm chứng, Thẩm phán
phải giải thích quyền, nghĩa vụ của người làm chứng và yêu cầu người làm chứng
cam đoan về lời khai của mình.
2. Thủ tục lấy lời khai của người làm chứng được tiến
hành như thủ tục lấy lời khai của đương sự quy định tại khoản 2
Điều 98 của Bộ luật này.
3. Việc lấy lời khai của người làm chứng chưa đủ mười tám
tuổi, người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự hoặc người có khó khăn trong
nhận thức, làm chủ hành vi phải được tiến hành với sự có mặt của người đại diện
theo pháp luật hoặc người đang thực hiện việc quản lý, trông nom người đó.
1. Theo yêu cầu của đương sự hoặc khi xét thấy có mâu
thuẫn trong lời khai của các đương sự, người làm chứng, Thẩm phán tiến hành đối
chất giữa các đương sự với nhau, giữa đương sự với người làm chứng hoặc giữa
những người làm chứng với nhau.
2. Việc đối chất phải được lập thành biên bản, có chữ ký
hoặc điểm chỉ của những người tham gia đối chất.
Điều 101. Xem xét, thẩm định tại chỗ
1. Theo yêu cầu của đương sự hoặc khi xét thấy cần thiết,
Thẩm phán tiến hành việc xem xét, thẩm định tại chỗ với sự có mặt của đại diện
Ủy ban nhân dân cấp xã hoặc Công an xã, phường, thị trấn hoặc cơ quan, tổ chức
nơi có đối tượng cần xem xét, thẩm định và phải báo trước việc xem xét, thẩm
định tại chỗ để đương sự biết và chứng kiến việc xem xét, thẩm định đó.
2. Việc xem xét, thẩm định tại chỗ phải được ghi thành
biên bản. Biên bản phải ghi rõ kết quả xem xét, thẩm định, mô tả rõ hiện
trường, có chữ ký của người xem xét, thẩm định và chữ ký hoặc điểm chỉ của
đương sự nếu họ có mặt, của đại diện Ủy ban nhân dân cấp xã hoặc Công an xã,
phường, thị trấn hoặc cơ quan, tổ chức nơi có đối tượng được xem xét, thẩm định
và những người khác được mời tham gia việc xem xét, thẩm định. Sau khi lập xong
biên bản, người xem xét, thẩm định phải yêu cầu đại diện Ủy ban nhân dân cấp xã
hoặc Công an xã, phường, thị trấn hoặc cơ quan, tổ chức nơi có đối tượng được
xem xét, thẩm định ký tên và đóng dấu xác nhận.
3. Nghiêm cấm mọi hành vi cản trở việc xem xét, thẩm định
tại chỗ.
4. Thẩm phán có quyền đề nghị Ủy ban nhân dân cấp xã,
Công an xã, phường, thị trấn nơi có đối tượng được xem xét, thẩm định tại chỗ
hỗ trợ trong trường hợp có hành vi cản trở việc xem xét, thẩm định tại chỗ.
Điều 102. Trưng cầu giám định, yêu cầu giám
định
1. Đương sự có quyền yêu cầu Tòa án trưng cầu giám định
hoặc tự mình yêu cầu giám định sau khi đã đề nghị Tòa án trưng cầu giám định
nhưng Tòa án từ chối yêu cầu của đương sự. Quyền tự yêu cầu giám định được thực
hiện trước khi Tòa án ra quyết định đưa vụ án ra xét xử theo thủ tục sơ thẩm,
quyết định mở phiên họp giải quyết việc dân sự.
2. Theo yêu cầu của đương sự hoặc khi xét thấy cần thiết,
Thẩm phán ra quyết định trưng cầu giám định. Trong quyết định trưng cầu giám
định phải ghi rõ tên, địa chỉ của người giám định, đối tượng cần giám định, vấn
đề cần giám định, các yêu cầu cụ thể cần có kết luận của người giám định.
3. Trường hợp xét thấy kết luận giám định chưa đầy đủ, rõ
ràng hoặc có vi phạm pháp luật thì theo yêu cầu của đương sự hoặc khi xét thấy
cần thiết, Tòa án yêu cầu người giám định giải thích kết luận giám định, triệu
tập người giám định đến phiên tòa, phiên họp để trực tiếp trình bày về các nội
dung cần thiết.
4. Theo yêu cầu của đương sự hoặc khi xét thấy cần thiết,
Tòa án ra quyết định trưng cầu giám định bổ sung trong trường hợp nội dung kết
luận giám định chưa rõ, chưa đầy đủ hoặc khi phát sinh vấn đề mới liên quan đến
tình tiết của vụ việc đã được kết luận giám định trước đó.
5. Việc giám định lại được thực hiện trong trường hợp có
căn cứ cho rằng kết luận giám định lần đầu không chính xác, có vi phạm pháp
luật hoặc trong trường hợp đặc biệt theo quyết định của Viện trưởng Viện kiểm
sát nhân dân tối cao, Chánh án Tòa án nhân dân tối cao theo quy định của Luật
Giám định tư pháp.
Điều 103. Trưng cầu giám định chứng cứ bị tố
cáo là giả mạo
1. Trường hợp chứng cứ bị tố cáo là giả mạo thì người đưa
ra chứng cứ đó có quyền rút lại; nếu không rút lại thì người tố cáo có quyền
yêu cầu Tòa án hoặc Tòa án có quyền quyết định trưng cầu giám định theo quy
định tại Điều 102 của Bộ luật này.
2. Trường hợp việc giả mạo chứng cứ có dấu hiệu tội phạm
thì Tòa án chuyển tài liệu, chứng cứ có liên quan cho Cơ quan điều tra có thẩm
quyền xem xét theo quy định của pháp luật tố tụng hình sự.
3. Người đưa ra chứng cứ được kết luận là giả mạo phải
bồi thường thiệt hại nếu việc giả mạo chứng cứ đó gây thiệt hại cho người khác
và phải chịu chi phí giám định nếu Tòa án quyết định trưng cầu giám định.
Điều 104. Định giá tài sản, thẩm định giá tài
sản
1. Đương sự có quyền cung cấp giá tài sản đang tranh
chấp; thỏa thuận về giá tài sản đang tranh chấp.
2. Các đương sự có quyền thỏa thuận lựa chọn tổ chức thẩm
định giá tài sản để thực hiện việc thẩm định giá tài sản và cung cấp kết quả
thẩm định giá cho Tòa án.
Việc thẩm định giá tài sản được thực hiện theo quy định
của pháp luật về thẩm định giá tài sản.
3. Tòa án ra quyết định định giá tài sản và thành lập
Hội đồng định giá khi thuộc một trong các trường hợp sau đây:
a) Theo yêu cầu của một hoặc các bên đương sự;
b) Các đương sự không thỏa thuận lựa chọn tổ chức thẩm
định giá tài sản hoặc đưa ra giá tài sản khác nhau hoặc không thỏa thuận được
giá tài sản;
c) Các bên thỏa thuận với nhau hoặc với tổ chức thẩm định
giá tài sản theo mức giá thấp so với giá thị trường nơi có tài sản định giá tại
thời điểm định giá nhằm trốn tránh nghĩa vụ với Nhà nước hoặc người thứ ba hoặc
có căn cứ cho thấy tổ chức thẩm định giá tài sản đã vi phạm pháp luật khi thẩm
định giá.
4. Trình tự, thủ tục thành lập Hội đồng định
giá, định giá tài sản:
a) Hội đồng định giá do Tòa án thành lập gồm Chủ tịch Hội
đồng định giá là đại diện cơ quan tài chính và thành viên là đại diện các cơ
quan chuyên môn có liên quan. Người đã tiến hành tố tụng trong vụ án đó, người
quy định tại Điều 52 của Bộ luật này không được tham gia
Hội đồng định giá.
Hội đồng định giá chỉ tiến hành định giá khi có mặt đầy
đủ các thành viên của Hội đồng. Trong trường hợp cần thiết, đại diện Ủy ban
nhân dân cấp xã nơi có tài sản định giá được mời chứng kiến việc định giá. Các
đương sự được thông báo trước về thời gian, địa điểm tiến hành định giá, có
quyền tham dự và phát biểu ý kiến về việc định giá. Quyền quyết định về giá đối
với tài sản định giá thuộc Hội đồng định giá;
b) Cơ quan tài chính và các cơ quan chuyên môn có liên
quan có trách nhiệm cử người tham gia Hội đồng định giá và tạo điều kiện để họ
làm nhiệm vụ. Người được cử làm thành viên Hội đồng định giá có trách nhiệm
tham gia đầy đủ vào việc định giá. Trường hợp cơ quan tài chính, các cơ quan
chuyên môn không cử người tham gia Hội đồng định giá thì Tòa án yêu cầu cơ quan
quản lý có thẩm quyền trực tiếp chỉ đạo cơ quan tài chính, cơ quan chuyên môn
thực hiện yêu cầu của Tòa án. Người được cử tham gia Hội đồng định giá không
tham gia mà không có lý do chính đáng thì Tòa án yêu cầu lãnh đạo cơ quan đã cử
người tham gia Hội đồng định giá xem xét trách nhiệm, cử người khác thay thế và
thông báo cho Tòa án biết để tiếp tục tiến hành định giá;
c) Việc định giá phải được lập biên bản, trong đó ghi rõ
ý kiến của từng thành viên, đương sự nếu họ tham dự. Quyết định của Hội đồng
định giá phải được quá nửa tổng số thành viên biểu quyết tán thành. Các thành
viên Hội đồng định giá, đương sự, người chứng kiến ký tên hoặc điểm chỉ vào
biên bản.
5. Việc định giá lại tài sản được thực hiện trong trường
hợp có căn cứ cho rằng kết quả định giá lần đầu không chính xác hoặc không phù
hợp với giá thị trường nơi có tài sản định giá tại thời điểm giải quyết vụ án
dân sự.
Điều 105. Ủy thác thu thập chứng cứ
1. Trong quá trình giải quyết vụ việc dân sự, Tòa án có
thể ra quyết định ủy thác để Tòa án khác hoặc cơ quan có thẩm quyền quy định
tại khoản 4 Điều này lấy lời khai của đương sự, người làm chứng, thẩm định tại
chỗ, tiến hành định giá tài sản hoặc các biện pháp khác để thu thập chứng cứ,
xác minh các tình tiết của vụ việc dân sự.
2. Trong quyết định ủy thác phải ghi rõ tên, địa chỉ của
nguyên đơn, bị đơn, quan hệ tranh chấp và những công việc cụ thể ủy thác để thu
thập chứng cứ.
3. Tòa án nhận được quyết định ủy thác có trách nhiệm
thực hiện công việc cụ thể được ủy thác trong thời hạn 01 tháng, kể từ ngày
nhận được quyết định ủy thác và thông báo kết quả bằng văn bản cho Tòa án đã ra
quyết định ủy thác; trường hợp không thực hiện được việc ủy thác thì phải thông
báo bằng văn bản và nêu rõ lý do cho Tòa án đã ra quyết định ủy thác.
4. Trường hợp việc thu thập chứng cứ phải tiến hành ở
nước ngoài thì Tòa án làm thủ tục ủy thác thông qua cơ quan có thẩm quyền của
Việt Nam hoặc cơ quan có thẩm quyền của nước ngoài mà nước đó và Cộng hòa xã
hội chủ nghĩa Việt Nam cùng là thành viên của điều ước quốc tế có quy định về
vấn đề này.
5. Trường hợp không thực hiện được việc ủy thác theo quy
định tại khoản 3 và khoản 4 Điều này hoặc đã thực hiện việc ủy thác nhưng không
nhận được kết quả trả lời thì Tòa án giải quyết vụ án trên cơ sở chứng cứ đã có
trong hồ sơ vụ việc dân sự.
Điều 106. Yêu cầu cơ quan, tổ chức, cá nhân
cung cấp tài liệu, chứng cứ
1. Đương sự có quyền yêu cầu cơ quan, tổ chức, cá nhân
cung cấp tài liệu, chứng cứ. Khi yêu cầu cơ quan, tổ chức, cá nhân cung cấp tài
liệu, chứng cứ, đương sự phải làm văn bản yêu cầu ghi rõ tài liệu, chứng cứ cần
cung cấp; lý do cung cấp; họ, tên, địa chỉ của cá nhân, tên, địa chỉ của cơ
quan, tổ chức đang quản lý, lưu giữ tài liệu, chứng cứ cần cung cấp.
Cơ quan, tổ chức, cá nhân có trách nhiệm cung cấp tài
liệu, chứng cứ cho đương sự trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được yêu
cầu; trường hợp không cung cấp được thì phải trả lời bằng văn bản và nêu rõ lý
do cho người có yêu cầu.
2. Trường hợp đương sự đã áp dụng các biện pháp cần thiết
để thu thập tài liệu, chứng cứ mà vẫn không thể tự mình thu thập được thì có
thể đề nghị Tòa án ra quyết định yêu cầu cơ quan, tổ chức, cá nhân đang lưu
giữ, quản lý tài liệu, chứng cứ cung cấp cho mình hoặc đề nghị Tòa án tiến hành
thu thập tài liệu, chứng cứ nhằm bảo đảm cho việc giải quyết vụ việc dân sự
đúng đắn.
Đương sự yêu cầu Tòa án thu thập tài liệu, chứng cứ phải
làm đơn ghi rõ vấn đề cần chứng minh; tài liệu, chứng cứ cần thu thập; lý do
mình không tự thu thập được; họ, tên, địa chỉ của cá nhân, tên, địa chỉ của cơ
quan, tổ chức đang quản lý, lưu giữ tài liệu, chứng cứ cần thu thập.
3. Trường hợp có yêu cầu của đương sự hoặc khi xét thấy
cần thiết, Tòa án ra quyết định yêu cầu cơ quan, tổ chức, cá nhân đang quản lý,
lưu giữ cung cấp tài liệu, chứng cứ cho Tòa án.
Cơ quan, tổ chức, cá nhân đang quản lý, lưu giữ tài liệu,
chứng cứ có trách nhiệm cung cấp đầy đủ tài liệu, chứng cứ theo yêu cầu của Tòa
án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được yêu cầu; hết thời hạn này mà
không cung cấp đầy đủ tài liệu, chứng cứ theo yêu cầu của Tòa án thì cơ quan,
tổ chức, cá nhân được yêu cầu phải trả lời bằng văn bản và nêu rõ lý do. Cơ
quan, tổ chức, cá nhân không thực hiện yêu cầu của Tòa án mà không có lý do
chính đáng thì tùy theo tính chất, mức độ vi phạm có thể bị xử phạt hành chính
hoặc truy cứu trách nhiệm hình sự theo quy định của pháp luật. Việc xử phạt
hành chính hoặc truy cứu trách nhiệm hình sự theo quy định của pháp luật đối
với cơ quan, tổ chức, cá nhân không phải là lý do miễn nghĩa vụ cung cấp tài
liệu, chứng cứ cho Tòa án.
4. Trường hợp Viện kiểm sát có yêu cầu cung cấp tài liệu,
chứng cứ thì cơ quan, tổ chức, cá nhân có trách nhiệm thực hiện theo quy định
tại khoản 3 Điều này.
Điều 107. Bảo quản tài liệu, chứng cứ
1. Tài liệu, chứng cứ đã được giao nộp tại Tòa án thì
việc bảo quản tài liệu, chứng cứ đó do Tòa án chịu trách nhiệm.
2. Tài liệu, chứng cứ không thể giao nộp được tại Tòa án
thì người đang lưu giữ tài liệu, chứng cứ đó có trách nhiệm bảo quản.
3. Trường hợp cần giao tài liệu, chứng cứ cho người thứ
ba bảo quản thì Thẩm phán ra quyết định và lập biên bản giao cho người đó bảo
quản. Người nhận bảo quản phải ký tên vào biên bản, được hưởng thù lao và phải
chịu trách nhiệm về việc bảo quản tài liệu, chứng cứ theo quy định của pháp
luật.
4. Nghiêm cấm việc hủy hoại tài liệu, chứng cứ.
1. Việc đánh giá chứng cứ phải khách quan, toàn diện, đầy
đủ và chính xác.
2. Tòa án phải đánh giá từng chứng cứ, sự liên quan giữa
các chứng cứ và khẳng định tính hợp pháp, tính liên quan, giá trị chứng minh
của từng chứng cứ.
Điều 109. Công bố và sử dụng tài liệu, chứng
cứ
1. Mọi chứng cứ được công bố và sử dụng công khai như
nhau, trừ trường hợp quy định tại khoản 2 Điều này.
2. Tòa án không công khai nội dung tài liệu, chứng cứ có
liên quan đến bí mật nhà nước, thuần phong mỹ tục của dân tộc, bí mật nghề
nghiệp, bí mật kinh doanh, bí mật cá nhân, bí mật gia đình theo yêu cầu chính
đáng của đương sự nhưng phải thông báo cho đương sự biết những tài liệu, chứng
cứ không được công khai.
3. Người tiến hành tố tụng, người tham gia tố tụng phải
giữ bí mật tài liệu, chứng cứ thuộc trường hợp quy định tại khoản 2 Điều này
theo quy định của pháp luật.
1. Trường hợp chứng cứ đang bị tiêu hủy, có nguy cơ bị
tiêu hủy hoặc sau này khó có thể thu thập được thì đương sự có quyền đề nghị
Tòa án quyết định áp dụng biện pháp cần thiết để bảo toàn chứng cứ. Đề nghị của
đương sự phải thể hiện bằng văn bản. Tòa án có thể quyết định áp dụng một hoặc
một số trong các biện pháp niêm phong, thu giữ, chụp ảnh, ghi âm, ghi hình,
phục chế, khám nghiệm, lập biên bản và các biện pháp khác.
2. Trường hợp người làm chứng bị lừa dối, đe dọa, cưỡng
ép hoặc mua chuộc để không cung cấp chứng cứ hoặc cung cấp chứng cứ sai sự thật
thì Tòa án có quyền quyết định buộc người có hành vi lừa dối, đe dọa, cưỡng ép
hoặc mua chuộc phải chấm dứt hành vi đó. Trường hợp hành vi đó có dấu hiệu tội
phạm thì Tòa án yêu cầu Viện kiểm sát xem xét về trách nhiệm hình sự.
CÁC BIỆN PHÁP KHẨN CẤP TẠM THỜI
Điều 111. Quyền yêu cầu áp dụng biện pháp
khẩn cấp tạm thời
1. Trong quá trình giải quyết vụ án, đương sự, người đại
diện hợp pháp của đương sự hoặc cơ quan, tổ chức, cá nhân khởi kiện vụ án quy
định tại Điều 187 của Bộ luật này có quyền yêu cầu Tòa án
đang giải quyết vụ án đó áp dụng một hoặc nhiều biện pháp khẩn cấp tạm thời quy
định tại Điều 114 của Bộ luật này để tạm thời giải quyết
yêu cầu cấp bách của đương sự, bảo vệ tính mạng, sức khỏe, tài sản, thu
thập chứng cứ, bảo vệ chứng cứ, bảo toàn tình trạng hiện có tránh gây thiệt hại
không thể khắc phục được, đảm bảo cho việc giải quyết vụ án hoặc việc thi hành
án.
2. Trong trường hợp do tình thế khẩn cấp, cần phải bảo vệ
ngay chứng cứ, ngăn chặn hậu quả nghiêm trọng có thể xảy ra thì cơ quan, tổ
chức, cá nhân có quyền yêu cầu Tòa án có thẩm quyền ra quyết định áp dụng biện
pháp khẩn cấp tạm thời quy định tại Điều 114 của Bộ luật này
đồng thời với việc nộp đơn khởi kiện cho Tòa án đó.
3. Tòa án chỉ tự mình ra quyết định áp dụng biện pháp
khẩn cấp tạm thời trong trường hợp quy định tại Điều 135 của Bộ
luật này.
Điều 112. Thẩm quyền quyết định áp dụng, thay
đổi, hủy bỏ biện pháp khẩn cấp tạm thời
1. Trước khi mở phiên tòa, việc áp dụng, thay đổi, hủy bỏ
biện pháp khẩn cấp tạm thời do một Thẩm phán xem xét, quyết định.
2. Tại phiên tòa, việc áp dụng, thay đổi, hủy bỏ biện
pháp khẩn cấp tạm thời do Hội đồng xét xử xem xét, quyết định.
Điều 113. Trách nhiệm do áp dụng biện pháp
khẩn cấp tạm thời không đúng
1. Người yêu cầu Tòa án áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm
thời phải chịu trách nhiệm trước pháp luật về yêu cầu của mình; trường hợp yêu
cầu áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời không đúng mà gây thiệt hại cho người
bị áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời hoặc cho người thứ ba thì phải bồi
thường.
2. Tòa án áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời không đúng
mà gây thiệt hại cho người bị áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời hoặc cho
người thứ ba thì Tòa án phải bồi thường nếu thuộc một trong các trường hợp sau
đây:
a) Tòa án tự mình áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời;
b) Tòa án áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời khác với
biện pháp khẩn cấp tạm thời mà cơ quan, tổ chức, cá nhân yêu cầu;
c) Tòa án áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời vượt quá
yêu cầu áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời của cơ quan, tổ chức, cá nhân;
d) Tòa án áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời không đúng
thời hạn theo quy định của pháp luật hoặc không áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm
thời mà không có lý do chính đáng.
3. Việc bồi thường thiệt hại quy định tại khoản 2 Điều
này được thực hiện theo quy định của Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước.
Điều 114. Các biện pháp khẩn cấp tạm thời
1. Giao người chưa thành niên, người mất năng lực hành vi
dân sự, người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi cho cá nhân hoặc tổ
chức trông nom, nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục.
2. Buộc thực hiện trước một phần nghĩa vụ cấp dưỡng.
3. Buộc thực hiện trước một phần nghĩa vụ bồi thường
thiệt hại do tính mạng, sức khỏe bị xâm phạm.
4. Buộc người sử dụng lao động tạm ứng tiền lương, tiền
bảo hiểm y tế, bảo hiểm xã hội, bảo hiểm thất nghiệp, chi phí cứu chữa tai nạn
lao động hoặc bệnh nghề nghiệp, tiền bồi thường, trợ cấp tai nạn lao động hoặc
bệnh nghề nghiệp cho người lao động.
5. Tạm đình chỉ thi hành quyết định đơn phương chấm dứt
hợp đồng lao động, quyết định sa thải người lao động.
6. Kê biên tài sản đang tranh chấp.
7. Cấm chuyển dịch quyền về tài sản đối với tài sản đang
tranh chấp.
8. Cấm thay đổi hiện trạng tài sản đang tranh chấp.
9. Cho thu hoạch, cho bán hoa màu hoặc sản phẩm, hàng hóa
khác.
10. Phong tỏa tài khoản tại ngân hàng, tổ chức tín dụng
khác, kho bạc nhà nước; phong tỏa tài sản ở nơi gửi giữ.
11. Phong tỏa tài sản của người có nghĩa vụ.
12. Cấm hoặc buộc thực hiện hành vi nhất định.
13. Cấm xuất cảnh đối với người có nghĩa vụ.
14. Cấm tiếp xúc với nạn nhân bạo lực gia đình.
15. Tạm dừng việc đóng thầu và các hoạt động có liên quan
đến việc đấu thầu.
16. Bắt giữ tàu bay, tàu biển để bảo đảm giải quyết vụ
án.
17. Các biện pháp khẩn cấp tạm thời khác mà luật có quy
định.
Giao người chưa thành niên, người mất năng lực hành vi
dân sự, người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi cho cá nhân hoặc tổ
chức trông nom, nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục được áp dụng nếu việc giải quyết
vụ án có liên quan đến những người này mà họ chưa có người giám hộ.
Việc giao người chưa thành niên từ đủ bảy tuổi trở lên
thì phải xem xét nguyện vọng của người đó.
Điều 116. Buộc thực hiện trước một phần nghĩa
vụ cấp dưỡng
Buộc thực hiện trước một phần nghĩa vụ cấp dưỡng được áp
dụng nếu việc giải quyết vụ án có liên quan đến yêu cầu cấp dưỡng và xét thấy
yêu cầu đó là có căn cứ và nếu không thực hiện trước ngay một phần nghĩa vụ cấp
dưỡng sẽ ảnh hưởng đến sức khỏe, đời sống của người được cấp dưỡng.
Buộc thực hiện trước một phần nghĩa vụ bồi thường thiệt
hại do tính mạng, sức khỏe bị xâm phạm được áp dụng nếu việc giải quyết vụ án
có liên quan đến yêu cầu đòi bồi thường thiệt hại do tính mạng, sức khỏe bị xâm
phạm.
Buộc người sử dụng lao động tạm ứng tiền lương, tiền bảo
hiểm y tế, bảo hiểm xã hội, bảo hiểm thất nghiệp, chi phí cứu chữa tai nạn lao
động hoặc bệnh nghề nghiệp, tiền bồi thường, trợ cấp tai nạn lao động hoặc bệnh
nghề nghiệp cho người lao động được áp dụng để bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp
của người lao động về tiền lương, tiền bảo hiểm, tiền bồi thường, tiền trợ cấp,
chăm sóc sức khỏe theo quy định của pháp luật.
Tạm đình chỉ thi hành quyết định đơn phương chấm dứt hợp
đồng lao động, quyết định sa thải người lao động được áp dụng nếu việc giải
quyết vụ án có liên quan đến đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động, sa thải
người lao động thuộc trường hợp người sử dụng lao động không được thực hiện
quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động hoặc không được xử lý kỷ luật sa
thải đối với người lao động theo quy định của pháp luật về lao động.
Điều 120. Kê biên tài sản đang tranh chấp
1. Kê biên tài sản đang tranh chấp được áp dụng nếu trong
quá trình giải quyết vụ án có căn cứ cho thấy người giữ tài sản đang tranh chấp
có hành vi tẩu tán, hủy hoại tài sản.
2. Tài sản bị kê biên có thể được thu giữ, bảo quản tại
cơ quan thi hành án dân sự hoặc lập biên bản giao cho một bên đương sự hoặc
người thứ ba quản lý cho đến khi có quyết định của Tòa án.
Điều 121. Cấm chuyển dịch quyền về tài sản
đối với tài sản đang tranh chấp
Cấm chuyển dịch quyền về tài sản đối với tài sản đang
tranh chấp được áp dụng nếu trong quá trình giải quyết vụ án có căn cứ cho thấy
người đang chiếm hữu hoặc giữ tài sản đang tranh chấp có hành vi chuyển dịch
quyền về tài sản đối với tài sản đang tranh chấp cho người khác.
Điều 122. Cấm thay đổi hiện trạng tài sản
đang tranh chấp
Cấm thay đổi hiện trạng tài sản đang tranh chấp được áp
dụng nếu trong quá trình giải quyết vụ án có căn cứ cho thấy người đang chiếm
hữu hoặc giữ tài sản đang tranh chấp có hành vi tháo gỡ, lắp ghép, xây dựng
thêm hoặc có hành vi khác làm thay đổi hiện trạng tài sản đó.
Điều 123. Cho thu hoạch, cho bán hoa màu hoặc
sản phẩm, hàng hóa khác
Cho thu hoạch, cho bán hoa màu hoặc sản phẩm, hàng hóa
khác được áp dụng nếu trong quá trình giải quyết vụ án có tài sản đang tranh
chấp hoặc liên quan đến tranh chấp mà có hoa màu hoặc sản phẩm, hàng hóa khác ở
thời kỳ thu hoạch hoặc không thể bảo quản được lâu dài.
Điều 124. Phong tỏa tài khoản tại ngân hàng,
tổ chức tín dụng khác, kho bạc nhà nước
Phong tỏa tài khoản tại ngân hàng, tổ chức tín dụng khác,
kho bạc nhà nước được áp dụng nếu trong quá trình giải quyết vụ án có căn cứ
cho thấy người có nghĩa vụ có tài khoản tại ngân hàng, tổ chức tín dụng khác,
kho bạc nhà nước và việc áp dụng biện pháp này là cần thiết để bảo đảm cho việc
giải quyết vụ án hoặc việc thi hành án.
Điều 125. Phong tỏa tài sản ở nơi gửi giữ
Phong tỏa tài sản ở nơi gửi giữ được áp dụng nếu trong
quá trình giải quyết vụ án có căn cứ cho thấy người có nghĩa vụ có tài sản đang
gửi giữ và việc áp dụng biện pháp này là cần thiết để bảo đảm cho việc giải
quyết vụ án hoặc bảo việc thi hành án.
Điều 126. Phong tỏa tài sản của người có
nghĩa vụ
Phong tỏa tài sản của người có nghĩa vụ được áp dụng nếu
trong quá trình giải quyết vụ án có căn cứ cho thấy người có nghĩa vụ có tài
sản và việc áp dụng biện pháp này là cần thiết để bảo đảm cho việc giải quyết
vụ án hoặc việc thi hành án.
Điều 127. Cấm hoặc buộc thực hiện hành vi
nhất định
Cấm hoặc buộc thực hiện hành vi nhất định được áp dụng
nếu trong quá trình giải quyết vụ án có căn cứ cho thấy đương sự hoặc cơ quan,
tổ chức, cá nhân khác thực hiện hoặc không thực hiện một hoặc một số hành vi
nhất định làm ảnh hưởng đến việc giải quyết vụ án, quyền và lợi ích hợp pháp
của người khác có liên quan trong vụ án đang được Tòa án giải quyết.
Điều 128. Cấm xuất cảnh đối với người có
nghĩa vụ
Cấm xuất cảnh đối với người có nghĩa vụ được áp dụng nếu
có căn cứ cho thấy việc giải quyết vụ án có liên quan đến nghĩa vụ của họ đối
với Nhà nước, cơ quan, tổ chức, cá nhân khác và việc xuất cảnh
của họ ảnh hưởng đến việc giải quyết vụ án, lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi
ích hợp pháp của cơ quan, tổ chức, cá nhân khác hoặc để bảo đảm việc thi hành
án.
Điều 129. Cấm tiếp xúc với nạn nhân bạo lực
gia đình
Cấm người có hành vi bạo lực gia đình tiếp xúc với nạn
nhân bạo lực gia đình được áp dụng nếu biện pháp đó là cần thiết để bảo vệ tính
mạng, sức khỏe, danh dự của nạn nhân bạo lực gia đình theo quy định của Luật
Phòng, chống bạo lực gia đình.
Điều 130. Tạm dừng việc đóng thầu và các hoạt
động có liên quan đến việc đấu thầu
Tạm dừng việc đóng thầu, phê duyệt danh sách ngắn, kết
quả lựa chọn nhà thầu, nhà đầu tư, ký kết hợp đồng, thực hiện hợp đồng được áp
dụng nếu quá trình giải quyết vụ án cho thấy việc áp dụng biện pháp này là cần
thiết để bảo đảm cho việc giải quyết vụ án theo đúng quy định của pháp luật.
Điều 131. Bắt giữ tàu bay, tàu biển để bảo
đảm giải quyết vụ án
1. Tòa án quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời
bắt giữ tàu bay để bảo đảm giải quyết vụ án dân sự mà vụ án đó do chủ sở hữu
tàu bay, chủ nợ trong trường hợp tàu bay là tài sản bảo đảm, người bị thiệt hại
do tàu bay đang bay gây ra hoặc người có quyền, lợi ích liên quan đối với tàu
bay khởi kiện theo quy định của pháp luật về hàng không dân dụng Việt Nam.
2. Tòa án quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời
bắt giữ tàu biển trong các trường hợp sau đây:
a) Tàu biển bị yêu cầu bắt giữ để bảo đảm
việc giải quyết khiếu nại hàng hải mà người yêu cầu bắt giữ tàu biển đã khởi
kiện vụ án dân sự tại Tòa án;
b) Chủ tàu là người có nghĩa vụ về tài sản trong vụ án
đang giải quyết và vẫn là chủ tàu tại thời điểm áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm
thời bắt giữ tàu biển;
c) Người thuê tàu trần, người thuê tàu định hạn, người
thuê tàu chuyến hoặc người khai thác tàu là người có nghĩa vụ về tài sản trong
vụ án dân sự phát sinh từ khiếu nại hàng hải theo quy định của Bộ luật Hàng hải
Việt Nam và vẫn là người thuê tàu trần, người thuê tàu định hạn, người thuê tàu
chuyến, người khai thác tàu hoặc là chủ tàu tại thời điểm áp dụng biện pháp
khẩn cấp tạm thời bắt giữ tàu biển;
d) Tranh chấp đang được giải quyết trong vụ án phát sinh
trên cơ sở của việc thế chấp tàu biển đó;
đ) Tranh chấp đang được giải quyết trong vụ án liên quan
đến quyền sở hữu hoặc quyền chiếm hữu tàu biển đó.
3. Trình tự, thủ tục bắt giữ tàu bay, tàu biển được áp
dụng theo quy định của pháp luật về bắt giữ tàu bay, tàu biển.
Điều 132. Các biện pháp khẩn cấp tạm thời
khác
Ngoài các biện pháp khẩn cấp tạm thời quy định tại các
khoản từ khoản 1 đến khoản 16 Điều 114 của Bộ luật này, Tòa
án có trách nhiệm giải quyết yêu cầu áp dụng biện pháp khẩn tạm thời khác do
luật khác quy định.
Điều 133. Thủ tục áp dụng biện pháp khẩn cấp
tạm thời
1. Người yêu cầu Tòa án áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm
thời phải làm đơn gửi đến Tòa án có thẩm quyền. Đơn yêu cầu áp dụng biện pháp
khẩn cấp tạm thời phải có các nội dung chính sau đây:
a) Ngày, tháng, năm làm đơn;
b) Tên, địa chỉ; số điện thoại, fax, địa chỉ thư điện tử
(nếu có) của người yêu cầu áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời;
c) Tên, địa chỉ; số điện thoại, fax, địa chỉ thư điện tử
(nếu có) của người bị yêu cầu áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời;
d) Tóm tắt nội dung tranh chấp hoặc hành vi xâm phạm
quyền và lợi ích hợp pháp của mình;
đ) Lý do cần phải áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời;
e) Biện pháp khẩn cấp tạm thời cần được áp dụng và các
yêu cầu cụ thể.
Tùy theo yêu cầu áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời mà
người yêu cầu phải cung cấp cho Tòa án chứng cứ để chứng minh cho sự cần thiết
phải áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời đó.
2. Yêu cầu áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời trong
trường hợp quy định tại khoản 1 Điều 111 của Bộ luật này
được giải quyết như sau:
a) Trường hợp Tòa án nhận đơn yêu cầu trước khi mở phiên
tòa thì Thẩm phán được phân công giải quyết vụ án phải xem xét, giải quyết.
Trong thời hạn 03 ngày làm việc, kể từ ngày nhận đơn, nếu người
yêu cầu không phải thực hiện biện pháp bảo đảm hoặc ngay sau khi người đó thực
hiện xong biện pháp bảo đảm quy định tại Điều 136 của Bộ luật
này thì Thẩm phán phải ra ngay quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm
thời; nếu không chấp nhận yêu cầu thì Thẩm phán phải thông báo bằng văn bản và
nêu rõ lý do cho người yêu cầu;
b) Trường hợp Hội đồng xét xử nhận đơn yêu cầu áp dụng
biện pháp khẩn cấp tạm thời tại phiên tòa thì Hội đồng xét xử xem xét, thảo
luận, giải quyết tại phòng xử án. Nếu chấp nhận thì Hội đồng xét xử ra quyết
định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời ngay hoặc sau khi người yêu cầu đã
thực hiện xong biện pháp bảo đảm quy định tại Điều 136 của Bộ
luật này. Việc thực hiện biện pháp bảo đảm được bắt đầu từ thời điểm Hội
đồng xét xử ra quyết định buộc thực hiện biện pháp bảo đảm, nhưng người yêu cầu
phải xuất trình chứng cứ về việc đã thực hiện xong biện pháp bảo đảm trước khi
Hội đồng xét xử vào phòng nghị án; nếu không chấp nhận yêu cầu áp dụng biện
pháp khẩn cấp tạm thời thì Hội đồng xét xử phải thông báo ngay tại phòng xử án
và ghi vào biên bản phiên tòa.
3. Đối với trường hợp yêu cầu áp dụng biện pháp khẩn cấp
tạm thời quy định tại khoản 2 Điều 111 của Bộ luật này thì
sau khi nhận được đơn yêu cầu cùng với đơn khởi kiện và chứng cứ kèm theo,
Chánh án Tòa án phân công ngay một Thẩm phán thụ lý giải quyết đơn yêu cầu.
Trong thời hạn 48 giờ, kể từ thời điểm nhận được đơn yêu cầu, Thẩm phán phải
xem xét và ra quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời; nếu không chấp
nhận yêu cầu thì Thẩm phán phải thông báo bằng văn bản và nêu rõ lý do cho
người yêu cầu biết.
4. Trường hợp áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời quy
định tại khoản 10 và khoản 11 Điều 114 của Bộ luật này thì
chỉ được phong tỏa tài khoản, tài sản có giá trị tương đương với nghĩa vụ tài
sản mà người bị áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời có nghĩa vụ phải thực hiện.
Cơ quan, tổ chức, cá nhân khởi kiện vụ án quy định tại Điều 187 của Bộ luật này kiến nghị Tòa án áp dụng biện pháp
khẩn cấp tạm thời bằng văn bản, trong đó phải nêu rõ lý do kiến nghị; biện pháp
khẩn cấp tạm thời cần được áp dụng; tên, địa chỉ của người có quyền và lợi ích
hợp pháp cần được bảo vệ; tên, địa chỉ của người bị yêu cầu áp dụng biện pháp
khẩn cấp tạm thời; tóm tắt nội dung tranh chấp, hành vi xâm phạm quyền và lợi
ích hợp pháp của đương sự; chứng cứ để chứng minh cho việc kiến nghị của mình
là có căn cứ và hợp pháp.
Điều 135. Tòa án tự mình ra quyết định áp
dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời[9]
Tòa án tự mình ra quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp
tạm thời quy định tại các khoản 1, 2, 3, 4, 5 và 14 Điều
114 của Bộ luật này trong trường hợp đương sự không yêu cầu áp dụng biện
pháp khẩn cấp tạm thời.
Điều 136. Buộc thực hiện biện pháp bảo đảm
1. Người yêu cầu Tòa án áp dụng một trong các biện pháp
khẩn cấp tạm thời quy định tại các khoản 6, 7, 8, 10, 11, 15 và
16 Điều 114 của Bộ luật này phải nộp cho Tòa án chứng từ bảo lãnh được bảo
đảm bằng tài sản của ngân hàng hoặc tổ chức tín dụng khác hoặc của cơ quan, tổ
chức, cá nhân khác hoặc gửi một khoản tiền, kim khí quý, đá quý hoặc giấy tờ có
giá do Tòa án ấn định nhưng phải tương đương với tổn thất hoặc thiệt hại có thể
phát sinh do hậu quả của việc áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời không đúng để
bảo vệ lợi ích của người bị áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời và ngăn ngừa sự
lạm dụng quyền yêu cầu áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời từ phía người có
quyền yêu cầu.
Đối với trường hợp quy định tại khoản 2
Điều 111 của Bộ luật này thì thời hạn thực hiện biện pháp bảo đảm quy định
tại khoản này không được quá 48 giờ, kể từ thời điểm nộp đơn yêu cầu.
2. Khoản tiền, kim khí quý, đá quý hoặc giấy tờ có giá
phải được gửi vào tài khoản phong tỏa tại ngân hàng nơi có trụ sở của Tòa án
quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời trong thời hạn do Tòa án ấn
định.
Trong trường hợp thực hiện biện pháp bảo đảm vào ngày lễ
hoặc ngày nghỉ thì khoản tiền bảo đảm được gửi giữ tại Tòa án. Tòa án phải làm
thủ tục giao nhận và gửi ngay khoản tiền đó vào ngân hàng vào ngày làm việc
tiếp theo.
Điều 137. Thay đổi, áp dụng bổ sung biện pháp
khẩn cấp tạm thời
Khi xét thấy biện pháp khẩn cấp tạm thời đang được áp
dụng không còn phù hợp mà cần thiết phải thay đổi hoặc áp dụng bổ sung biện
pháp khẩn cấp tạm thời khác thì thủ tục thay đổi, áp dụng bổ sung biện pháp
khẩn cấp tạm thời khác được thực hiện theo quy định tại Điều
133 của Bộ luật này.
Điều 138. Hủy bỏ việc áp dụng biện pháp khẩn
cấp tạm thời
1. Tòa án ra ngay quyết định hủy bỏ biện pháp khẩn cấp
tạm thời đã được áp dụng khi thuộc một trong các trường hợp sau đây:
a) Người yêu cầu áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời đề
nghị hủy bỏ;
b) Người phải thi hành quyết định áp dụng biện pháp khẩn
cấp tạm thời nộp tài sản hoặc có người khác thực hiện biện pháp bảo đảm thi
hành nghĩa vụ đối với bên có yêu cầu;
c) Nghĩa vụ dân sự của bên có nghĩa vụ chấm dứt theo quy
định của Bộ luật Dân sự;
d) Việc giải quyết vụ án được đình chỉ theo quy định của
Bộ luật này;
đ) Quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời không
đúng theo quy định của Bộ luật này;
e) Căn cứ của việc áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời
không còn;
g) Vụ việc đã được giải quyết bằng bản án, quyết định
của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật;
h) Các trường hợp Tòa án trả lại đơn khởi kiện theo quy
định của Bộ luật này.
2. Trường hợp hủy bỏ biện pháp khẩn cấp tạm thời, Tòa án
phải xem xét, quyết định để người yêu cầu áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời
nhận lại chứng từ bảo lãnh được bảo đảm bằng tài sản của ngân hàng hoặc tổ chức
tín dụng khác hoặc khoản tiền, kim khí quý, đá quý hoặc giấy tờ có giá quy định
tại Điều 136 của Bộ luật này, trừ trường hợp quy định tại khoản 1 Điều 113 của Bộ luật này.
3. Thủ tục ra quyết định hủy bỏ việc áp dụng biện pháp
khẩn cấp tạm thời được thực hiện theo quy định tại Điều 133 của
Bộ luật này. Trường hợp đã có bản án, quyết định của Tòa án có hiệu lực
pháp luật thì việc giải quyết yêu cầu hủy quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp
tạm thời do một Thẩm phán được Chánh án của Tòa án đã ra quyết định áp dụng
biện pháp khẩn cấp tạm thời phân công giải quyết.
Điều 139. Hiệu lực của quyết định áp dụng,
thay đổi, hủy bỏ biện pháp khẩn cấp tạm thời
1. Quyết định áp dụng, thay đổi, hủy bỏ biện pháp khẩn
cấp tạm thời có hiệu lực thi hành ngay.
2. Tòa án phải cấp hoặc gửi quyết định áp dụng, thay đổi,
hủy bỏ biện pháp khẩn cấp tạm thời ngay sau khi ra quyết định cho người có yêu
cầu, người bị áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời, cơ quan, tổ chức, cá nhân có
liên quan, cơ quan thi hành án dân sự có thẩm quyền và Viện kiểm sát cùng cấp.
Đương sự có quyền khiếu nại, Viện kiểm sát có quyền kiến
nghị với Chánh án Tòa án đang giải quyết vụ án về quyết định áp dụng, thay đổi,
hủy bỏ biện pháp khẩn cấp tạm thời hoặc việc Thẩm phán không quyết định áp
dụng, thay đổi, hủy bỏ biện pháp khẩn cấp tạm thời. Thời hạn khiếu nại, kiến
nghị là 03 ngày làm việc, kể từ ngày nhận được quyết định áp dụng, thay đổi,
hủy bỏ biện pháp khẩn cấp tạm thời hoặc trả lời của Thẩm phán về việc không ra
quyết định áp dụng, thay đổi, hủy bỏ biện pháp khẩn cấp tạm thời.
1. Chánh án Tòa án phải xem xét, giải quyết khiếu nại,
kiến nghị quy định tại Điều 140 của Bộ luật này trong thời
hạn 03 ngày làm việc, kể từ ngày nhận được khiếu nại, kiến nghị.
2. Quyết định giải quyết khiếu nại, kiến nghị của Chánh
án là quyết định cuối cùng và phải được cấp hoặc gửi ngay theo quy định tại khoản 2 Điều 139 của Bộ luật này.
3. Tại phiên tòa, việc giải quyết khiếu nại, kiến nghị
thuộc thẩm quyền của Hội đồng xét xử. Quyết định giải quyết khiếu nại, kiến
nghị của Hội đồng xét xử là quyết định cuối cùng.
Điều 142. Thi hành quyết định áp dụng, thay
đổi, hủy bỏ biện pháp khẩn cấp tạm thời
1. Quyết định áp dụng, thay đổi, hủy bỏ biện pháp khẩn
cấp tạm thời được thi hành theo quy định của pháp luật về thi hành án dân sự.
2. Trường hợp quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm
thời đối với tài sản có đăng ký quyền sở hữu, quyền sử dụng thì đương sự có
nghĩa vụ nộp bản sao quyết định cho cơ quan quản lý đăng ký quyền sở hữu, quyền
sử dụng.
ÁN PHÍ, LỆ PHÍ VÀ CHI PHÍ TỐ TỤNG KHÁC
Điều 143. Tiền tạm ứng án phí, tiền tạm ứng
lệ phí; án phí, lệ phí
1. Tiền tạm ứng án phí bao gồm tiền tạm ứng án phí sơ
thẩm và tiền tạm ứng án phí phúc thẩm.
2. Án phí bao gồm án phí sơ thẩm và án phí phúc thẩm.
3. Tiền tạm ứng lệ phí giải quyết việc dân sự bao gồm
tiền tạm ứng lệ phí sơ thẩm và tiền tạm ứng lệ phí phúc thẩm.
4. Lệ phí bao gồm lệ phí cấp bản sao bản án, quyết định
và các giấy tờ khác của Tòa án, lệ phí nộp đơn yêu cầu Tòa án giải quyết việc
dân sự, lệ phí giải quyết việc dân sự và các khoản lệ phí khác mà luật có quy
định.
Điều 144. Xử lý tiền tạm ứng án phí, tiền tạm
ứng lệ phí, án phí, lệ phí thu được
1. Toàn bộ án phí, lệ phí thu được phải nộp đầy đủ, kịp
thời vào ngân sách nhà nước tại Kho bạc nhà nước.
2. Tiền tạm ứng án phí, tiền tạm ứng lệ phí được nộp cho
cơ quan thi hành án có thẩm quyền để gửi vào tài khoản tạm giữ mở tại kho bạc
nhà nước và được rút ra để thi hành án theo quyết định của Tòa án.
3. Người đã nộp tiền tạm ứng án phí, tiền tạm ứng lệ phí
phải chịu án phí, lệ phí thì ngay sau khi bản án, quyết định của Tòa án có hiệu
lực pháp luật, số tiền tạm ứng đã thu được phải được nộp vào ngân sách nhà
nước.
Trường hợp người đã nộp tiền tạm ứng án phí, tiền tạm ứng
lệ phí được hoàn trả một phần hoặc toàn bộ số tiền đã nộp theo bản án, quyết
định của Tòa án thì cơ quan thi hành án đã thu tiền tạm ứng án phí, tiền tạm
ứng lệ phí phải làm thủ tục trả lại tiền cho họ.
4. Trường hợp việc giải quyết vụ việc dân sự bị tạm đình
chỉ thì tiền tạm ứng án phí, tiền tạm ứng lệ phí đã nộp được xử lý khi vụ việc
được tiếp tục giải quyết.
Điều 145. Chế độ thu, chi trả tiền tạm ứng án
phí, tiền tạm ứng lệ phí, án phí, lệ phí
Việc thu tiền tạm ứng án phí và án phí, tiền tạm ứng lệ
phí và lệ phí; việc chi trả tiền tạm ứng án phí, tiền tạm ứng lệ phí phải được
thực hiện theo quy định của pháp luật.
Điều 146. Nghĩa vụ nộp tiền tạm ứng án phí,
tiền tạm ứng lệ phí
1. Nguyên đơn, bị đơn có yêu cầu phản tố đối với nguyên
đơn và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có yêu cầu độc lập trong vụ án
dân sự phải nộp tiền tạm ứng án phí sơ thẩm, người kháng cáo theo thủ tục phúc
thẩm phải nộp tiền tạm ứng án phí phúc thẩm, trừ trường hợp được miễn hoặc
không phải nộp tiền tạm ứng án phí.
2. Người nộp đơn yêu cầu Tòa án giải quyết việc dân sự
phải nộp tiền tạm ứng lệ phí giải quyết việc dân sự đó, trừ trường hợp được
miễn hoặc không phải nộp tiền tạm ứng lệ phí.
Đối với yêu cầu công nhận thuận tình ly hôn, thỏa thuận
nuôi con, chia tài sản khi ly hôn thì vợ, chồng có thể thỏa thuận về việc nộp
tiền tạm ứng lệ phí, trừ trường hợp được miễn hoặc không phải nộp tiền tạm ứng
lệ phí theo quy định của pháp luật. Trường hợp vợ, chồng không thỏa thuận được
người nộp tiền tạm ứng lệ phí thì mỗi người phải nộp một nửa tiền tạm ứng lệ
phí.
Điều 147. Nghĩa vụ chịu án phí sơ thẩm
1. Đương sự phải chịu án phí sơ thẩm nếu yêu cầu của họ
không được Tòa án chấp nhận, trừ trường hợp được miễn hoặc không phải chịu án
phí sơ thẩm.
2. Trường hợp các đương sự không tự xác định được phần
tài sản của mình trong khối tài sản chung và có yêu cầu Tòa án giải quyết chia
tài sản chung đó thì mỗi đương sự phải chịu án phí sơ thẩm tương ứng với giá
trị phần tài sản mà họ được hưởng.
3. Trước khi mở phiên tòa, Tòa án tiến hành hòa giải; nếu
các đương sự thỏa thuận được với nhau về việc giải quyết vụ án thì họ chỉ phải
chịu 50% mức án phí sơ thẩm quy định tại khoản 1 và khoản 2 Điều này.
4. Trong vụ án ly hôn thì nguyên đơn phải chịu án phí sơ
thẩm, không phụ thuộc vào việc Tòa án chấp nhận hay không chấp nhận yêu cầu của
nguyên đơn. Trường hợp cả hai thuận tình ly hôn thì mỗi bên đương sự phải chịu
một nửa án phí sơ thẩm.
5. Trong vụ án có đương sự được miễn án phí sơ thẩm thì
đương sự khác vẫn phải nộp án phí sơ thẩm mà mình phải chịu theo quy định tại
các khoản 1, 2, 3 và 4 Điều này.
6. Trường hợp vụ án bị tạm đình chỉ giải quyết thì nghĩa
vụ chịu án phí sơ thẩm được quyết định khi vụ án được tiếp tục giải quyết theo
quy định tại Điều này.
Điều 148. Nghĩa vụ chịu án phí phúc thẩm
1. Đương sự kháng cáo phải chịu án phí phúc thẩm, nếu Tòa
án cấp phúc thẩm giữ nguyên bản án, quyết định sơ thẩm bị kháng cáo, trừ trường
hợp được miễn hoặc không phải chịu án phí phúc thẩm.
2. Trường hợp Tòa án cấp phúc thẩm sửa bản án, quyết định
sơ thẩm bị kháng cáo thì đương sự kháng cáo không phải chịu án phí phúc thẩm;
Tòa án cấp phúc thẩm phải xác định lại nghĩa vụ chịu án phí sơ thẩm theo quy
định tại Điều 147 của Bộ luật này.
3. Trường hợp Tòa án cấp phúc thẩm hủy bản án, quyết định
sơ thẩm bị kháng cáo để xét xử lại theo thủ tục sơ thẩm thì đương sự kháng cáo
không phải chịu án phí phúc thẩm; nghĩa vụ chịu án phí được xác định lại khi
giải quyết lại vụ án theo thủ tục sơ thẩm.
Điều 149. Nghĩa vụ chịu lệ phí
1. Nghĩa vụ chịu lệ phí được xác định tuỳ theo từng loại
việc dân sự cụ thể và do luật quy định.
2. Đối với yêu cầu công nhận thuận tình ly hôn, thỏa
thuận nuôi con, chia tài sản khi ly hôn thì vợ, chồng có thể thỏa thuận về việc
chịu lệ phí, trừ trường hợp được miễn hoặc không phải chịu lệ phí theo quy định
của pháp luật.
Trường hợp vợ, chồng không thỏa thuận được người có nghĩa
vụ chịu lệ phí thì mỗi người phải chịu một nửa lệ phí.
Điều 150. Quy định cụ thể về án phí, lệ phí
Căn cứ vào quy định của Luật Phí và lệ phí và Bộ luật
này, Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định cụ thể về án phí, lệ phí Tòa án; mức
thu án phí, lệ phí Tòa án đối với mỗi loại vụ việc cụ thể; các trường hợp được
miễn, giảm hoặc không phải nộp án phí, lệ phí Tòa án; chế độ thu, nộp, quản lý
và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
Mục 2. CÁC CHI PHÍ TỐ TỤNG KHÁC
Điều 151. Tiền tạm ứng chi phí ủy thác tư
pháp ra nước ngoài, chi phí ủy thác tư pháp ra nước ngoài
1. Tiền tạm ứng chi phí ủy thác tư pháp ra nước ngoài là
số tiền mà Tòa án tạm tính để chi trả cho việc ủy thác tư pháp khi tiến hành
thu thập, cung cấp chứng cứ, tống đạt giấy tờ, hồ sơ, tài liệu, triệu tập người
làm chứng, người giám định và các yêu cầu tương trợ tư pháp có liên quan đến
việc giải quyết vụ việc dân sự.
2. Chi phí ủy thác tư pháp ra nước ngoài là số tiền cần
thiết và hợp lý phải chi trả cho việc thực hiện ủy thác tư pháp theo quy định
của pháp luật Việt Nam và của nước được yêu cầu ủy thác tư pháp.
Điều 152. Nghĩa vụ nộp tiền tạm ứng chi phí
ủy thác tư pháp ra nước ngoài
1. Nguyên đơn, người kháng cáo theo thủ tục phúc thẩm
hoặc đương sự khác trong vụ án phải nộp tiền tạm ứng chi phí ủy thác tư pháp ra
nước ngoài khi yêu cầu của họ làm phát sinh việc ủy thác tư pháp ra nước ngoài.
2. Người yêu cầu Tòa án giải quyết việc dân sự, người
kháng cáo theo thủ tục phúc thẩm hoặc đương sự khác trong việc dân sự phải nộp
tiền tạm ứng chi phí ủy thác tư pháp ra nước ngoài khi yêu cầu của họ làm phát
sinh việc ủy thác tư pháp ra nước ngoài.
Điều 153. Nghĩa vụ chịu chi phí ủy thác tư
pháp ra nước ngoài
Trường hợp các bên đương sự không có thỏa thuận khác hoặc
pháp luật không có quy định khác thì nghĩa vụ chịu chi phí ủy thác tư pháp ra
nước ngoài được xác định như sau:
1. Đương sự phải chịu chi phí ủy thác tư pháp ra nước
ngoài nếu yêu cầu giải quyết vụ việc của họ không được Tòa án chấp nhận;
2. Trường hợp yêu cầu Tòa án chia tài sản chung thì mỗi
người được chia tài sản phải chịu phần chi phí ủy thác tư pháp ra nước ngoài
tương ứng với tỷ lệ giá trị phần tài sản mà họ được chia;
3. Trong vụ án ly hôn thì nguyên đơn phải nộp chi phí ủy
thác tư pháp ra nước ngoài, không phụ thuộc vào việc Tòa án chấp nhận hay không
chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn. Trường hợp cả hai thuận tình ly hôn thì mỗi
bên đương sự phải chịu một nửa chi phí ủy thác tư pháp ra nước ngoài;
4. Trường hợp đình chỉ giải quyết vụ án quy định tại điểm c khoản 1 Điều 217, điểm b khoản 1 Điều 299 của Bộ luật này
thì nguyên đơn phải chịu chi phí ủy thác tư pháp ra nước ngoài.
Trường hợp đình chỉ giải quyết việc xét xử phúc thẩm quy
định tại điểm b khoản 1 Điều 289, khoản 3 Điều 296 của Bộ luật
này thì người kháng cáo theo thủ tục phúc thẩm phải chịu chi phí ủy thác tư
pháp ra nước ngoài;
5. Đối với các trường hợp đình chỉ giải quyết vụ án khác
theo quy định của Bộ luật này thì người yêu cầu phải chịu chi phí ủy thác tư
pháp ra nước ngoài.
Điều 154. Xử lý tiền tạm ứng chi phí ủy thác
tư pháp ra nước ngoài
1. Trường hợp người đã nộp tiền tạm ứng chi phí ủy thác
tư pháp không phải chịu chi phí ủy thác tư pháp thì người phải chịu chi phí ủy
thác tư pháp theo quyết định của Tòa án phải hoàn trả cho người đã nộp tiền tạm
ứng chi phí ủy thác tư pháp.
2. Trường hợp người đã nộp tiền tạm ứng chi phí ủy thác
tư pháp phải chịu chi phí ủy thác tư pháp, nếu số tiền tạm ứng đã nộp chưa đủ
cho chi phí ủy thác tư pháp thực tế thì họ phải nộp thêm phần tiền còn thiếu;
nếu số tiền tạm ứng đã nộp nhiều hơn chi phí ủy thác tư pháp thực tế thì họ
được trả lại phần tiền còn thừa theo quyết định của Tòa án.
Điều 155. Tiền tạm ứng chi phí xem xét, thẩm
định tại chỗ, chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ
1. Tiền tạm ứng chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ
là số tiền mà Tòa án tạm tính để tiến hành việc xem xét, thẩm định tại
chỗ.
2. Chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ là số tiền
cần thiết và hợp lý phải chi trả cho việc xem xét, thẩm định tại chỗ căn
cứ vào quy định của pháp luật.
Điều 156. Nghĩa vụ nộp tiền tạm ứng chi phí
xem xét, thẩm định tại chỗ
1. Người yêu cầu Tòa án xem xét, thẩm định tại chỗ
phải nộp tiền tạm ứng chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ theo yêu cầu
của Tòa án.
2. Trường hợp Tòa án xét thấy cần thiết và quyết định xem
xét, thẩm định tại chỗ thì nguyên đơn, người yêu cầu giải quyết việc dân
sự, người kháng cáo theo thủ tục phúc thẩm phải nộp tiền tạm ứng chi phí xem
xét, thẩm định tại chỗ.
Điều 157. Nghĩa vụ chịu chi phí xem xét, thẩm
định tại chỗ
Trường hợp các bên đương sự không có thỏa thuận khác hoặc
pháp luật không có quy định khác thì nghĩa vụ chịu chi phí xem xét, thẩm
định tại chỗ được xác định như sau:
1. Đương sự phải chịu chi phí xem xét, thẩm định
tại chỗ nếu yêu cầu của họ không được Tòa án chấp nhận;
2. Trường hợp yêu cầu Tòa án chia tài sản chung thì mỗi
người được chia tài sản phải chịu phần chi phí xem xét, thẩm định tại
chỗ theo tỷ lệ giá trị phần tài sản mà họ được chia;
3. Trong vụ án ly hôn thì nguyên đơn phải nộp chi phí xem
xét, thẩm định tại chỗ, không phụ thuộc vào việc Tòa án chấp nhận hay
không chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn. Trường hợp cả hai thuận tình ly hôn thì
mỗi bên đương sự phải chịu một nửa chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ;
4. Trường hợp đình chỉ giải quyết vụ án quy định tại điểm c khoản 1 Điều 217, điểm b khoản 1 Điều 299 của Bộ luật này
thì nguyên đơn phải chịu chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ.
Trường hợp đình chỉ giải quyết việc xét xử phúc thẩm quy
định tại điểm b khoản 1 Điều 289, khoản 3 Điều 296 của Bộ luật
này thì người kháng cáo theo thủ tục phúc thẩm phải chịu chi phí xem xét,
thẩm định tại chỗ;
5. Đối với các trường hợp đình chỉ giải quyết vụ án khác
theo quy định của Bộ luật này thì người yêu cầu xem xét, thẩm định phải
chịu chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ.
Điều 158. Xử lý tiền tạm ứng chi phí xem xét,
thẩm định tại chỗ
1. Trường hợp người đã nộp tiền tạm ứng chi phí xem xét,
thẩm định tại chỗ không phải chịu chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ
thì người phải chịu chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ theo quyết định
của Tòa án phải hoàn trả cho người đã nộp tiền tạm ứng chi phí xem xét, thẩm
định tại chỗ.
2. Trường hợp người đã nộp tiền tạm ứng chi phí xem xét,
thẩm định tại chỗ phải chịu chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ, nếu
số tiền tạm ứng đã nộp chưa đủ cho chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ
thực tế thì họ phải nộp thêm phần tiền còn thiếu; nếu số tiền tạm ứng đã nộp
nhiều hơn chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ thực tế thì họ được trả lại
phần tiền còn thừa theo quyết định của Tòa án.
Điều 159. Tiền tạm ứng chi phí giám định, chi
phí giám định
1. Tiền tạm ứng chi phí giám định là số tiền mà người
giám định tạm tính để tiến hành việc giám định theo quyết định của Tòa án hoặc
theo yêu cầu giám định của đương sự.
2. Chi phí giám định là số tiền cần thiết và hợp lý phải
chi trả cho việc giám định và do người giám định tính căn cứ vào quy định của
pháp luật.
Điều 160. Nghĩa vụ nộp tiền tạm ứng chi phí
giám định
Trường hợp các đương sự không có thỏa thuận khác hoặc
pháp luật không có quy định khác thì nghĩa vụ nộp tiền tạm ứng chi phí giám
định được xác định như sau:
1. Người yêu cầu Tòa án trưng cầu giám định phải nộp tiền
tạm ứng chi phí giám định.
Trường hợp các bên đương sự yêu cầu Tòa án trưng cầu giám
định về cùng một đối tượng thì mỗi bên đương sự phải nộp một nửa số tiền tạm
ứng chi phí giám định;
2. Trường hợp Tòa án xét thấy cần thiết và quyết định
trưng cầu giám định thì nguyên đơn, người yêu cầu giải quyết việc dân sự, người
kháng cáo theo thủ tục phúc thẩm phải nộp tiền tạm ứng chi phí giám định;
3. Đương sự, người có yêu cầu giải quyết việc dân sự,
người kháng cáo đã yêu cầu Tòa án trưng cầu giám định mà không được chấp nhận
và tự mình yêu cầu tổ chức, cá nhân thực hiện giám định thì việc nộp tiền tạm
ứng chi phí giám định được thực hiện theo quy định của Luật Giám định tư pháp.
Điều 161. Nghĩa vụ chịu chi phí giám định
Trường hợp các bên đương sự không có thỏa thuận khác hoặc
pháp luật không có quy định khác thì nghĩa vụ chịu chi phí giám định được xác
định như sau:
1. Người yêu cầu Tòa án trưng cầu giám định phải chịu chi
phí giám định, nếu kết quả giám định chứng minh yêu cầu của người đó là không
có căn cứ. Trường hợp kết quả giám định chứng minh yêu cầu của họ chỉ có căn cứ
một phần thì họ phải nộp chi phí giám định đối với phần yêu cầu của họ đã được
chứng minh là không có căn cứ;
2. Người không chấp nhận yêu cầu trưng cầu giám định của
đương sự khác trong vụ án phải nộp chi phí giám định, nếu kết quả giám định
chứng minh yêu cầu của người yêu cầu trưng cầu giám định là có căn cứ. Trường
hợp kết quả giám định chứng minh yêu cầu trưng cầu giám định chỉ có căn cứ một
phần thì người không chấp nhận yêu cầu trưng cầu giám định phải chịu chi phí
giám định tương ứng với phần yêu cầu đã được chứng minh là có căn cứ;
3. Trường hợp đình chỉ giải quyết vụ án quy định tại điểm c khoản 1 Điều 217, điểm b khoản 1 Điều 299 của Bộ luật này
thì nguyên đơn phải chịu chi phí giám định.
Trường hợp đình chỉ giải quyết việc xét xử phúc thẩm quy
định tại điểm b khoản 1 Điều 289, khoản 3 Điều 296 của Bộ luật
này thì người kháng cáo theo thủ tục phúc thẩm phải chịu chi phí giám định;
4. Trường hợp người tự mình yêu cầu giám định theo quy
định tại khoản 3 Điều 160 của Bộ luật này, nếu kết quả giám
định chứng minh yêu cầu của người đó là có căn cứ thì người thua kiện phải chịu
chi phí giám định. Trường hợp kết quả giám định chứng minh yêu cầu giám định
của họ chỉ có căn cứ một phần thì họ phải nộp chi phí giám định đối với phần yêu
cầu của họ đã được chứng minh là không có căn cứ;
5. Đối với các trường hợp đình chỉ giải quyết vụ án khác
theo quy định của Bộ luật này thì người yêu cầu trưng cầu giám định phải chịu
chi phí giám định.
Điều 162. Xử lý tiền tạm ứng chi phí giám
định đã nộp
1 Trường hợp người đã nộp tiền tạm ứng chi phí giám định
không phải chịu chi phí giám định thì người phải chịu chi phí giám định theo
quyết định của Tòa án phải hoàn trả cho người đã nộp tiền tạm ứng chi phí giám
định.
2. Trường hợp người đã nộp tiền tạm ứng chi phí giám định
phải chịu chi phí giám định, nếu số tiền tạm ứng đã nộp chưa đủ cho chi phí
giám định thực tế thì họ phải nộp thêm phần tiền còn thiếu; nếu số tiền tạm ứng
đã nộp nhiều hơn chi phí giám định thực tế thì họ được trả lại phần tiền còn
thừa theo quyết định của Tòa án.
Điều 163. Tiền tạm ứng chi phí định giá tài
sản, chi phí định giá tài sản
1. Tiền tạm ứng chi phí định giá tài sản là số tiền mà
Hội đồng định giá tạm tính để tiến hành việc định giá tài sản theo quyết định
của Tòa án.
2. Chi phí định giá tài sản là số tiền cần thiết và hợp
lý phải chi trả cho công việc định giá tài sản và do Hội đồng định giá tính căn
cứ vào quy định của pháp luật.
Điều 164. Nghĩa vụ nộp tiền tạm ứng chi phí
định giá tài sản
Trường hợp các bên đương sự không có thỏa thuận khác hoặc
pháp luật không có quy định khác thì nghĩa vụ nộp tiền tạm ứng chi phí định giá
tài sản được xác định như sau:
1. Người yêu cầu định giá tài sản phải nộp tiền tạm ứng
chi phí định giá tài sản;
2. Trường hợp các bên đương sự không thống nhất được về
giá và cùng yêu cầu Tòa án định giá tài sản thì mỗi bên đương sự phải nộp một
nửa tiền tạm ứng chi phí định giá tài sản. Trường hợp có nhiều đương sự, thì
các bên đương sự cùng phải nộp tiền tạm ứng chi phí định giá tài sản theo mức
mà Tòa án quyết định;
3. Đối với trường hợp quy định tại khoản
3 Điều 104 của Bộ luật này thì nguyên đơn, người kháng cáo phải nộp tiền
tạm ứng chi phí định giá tài sản.
Điều 165. Nghĩa vụ chịu chi phí định giá tài
sản, thẩm định giá
Trường hợp các bên đương sự không có thỏa thuận khác hoặc
pháp luật không có quy định khác thì nghĩa vụ chịu chi phí định giá tài sản,
thẩm định giá được xác định như sau:
1. Đương sự phải chịu chi phí định giá tài sản nếu yêu
cầu của họ không được Tòa án chấp nhận;
2. Trường hợp yêu cầu Tòa án chia tài sản chung thì mỗi
người được chia tài sản phải chịu phần chi phí định giá tài sản tương ứng với
tỷ lệ giá trị phần tài sản mà họ được chia;
3. Trường hợp Tòa án ra quyết định định giá tài sản quy
định tại điểm c khoản 3 Điều 104 của Bộ luật này thì
nghĩa vụ chịu chi phí định giá tài sản được xác định như sau:
a) Đương sự phải chịu chi phí định giá tài sản quy định
tại khoản 1 Điều này nếu kết quả định giá chứng minh quyết định định giá tài
sản của Tòa án là có căn cứ;
b) Tòa án trả chi phí định giá tài sản nếu kết quả định
giá tài sản chứng minh quyết định định giá tài sản của Tòa án là không có căn
cứ.
4. Trường hợp đình chỉ giải quyết vụ án quy định tại điểm c khoản 1 Điều 217, điểm b khoản 1 Điều 299 của Bộ luật này
và Hội đồng định giá đã tiến hành định giá thì nguyên đơn phải chịu chi phí
định giá tài sản.
Trường hợp đình chỉ giải quyết việc xét xử phúc thẩm quy
định tại điểm b khoản 1 Điều 289, khoản 3 Điều 296 của Bộ luật
này và Hội đồng định giá đã tiến hành định giá thì người kháng cáo theo thủ
tục phúc thẩm phải chịu chi phí định giá tài sản;
5. Các trường hợp đình chỉ giải quyết vụ án khác theo quy
định của Bộ luật này và Hội đồng định giá đã tiến hành định giá thì người yêu
cầu định giá tài sản phải chịu chi phí định giá tài sản;
6. Nghĩa vụ chịu chi phí thẩm định giá tài sản của đương
sự được thực hiện như nghĩa vụ chịu chi phí định giá tài sản quy định tại các
khoản 1, 2, 4 và 5 Điều này.
Điều 166. Xử lý tiền tạm ứng chi phí định giá
tài sản
1. Trường hợp người đã nộp tiền tạm ứng chi phí định giá
tài sản không phải chịu chi phí định giá thì người phải chịu chi phí định giá
theo quyết định của Tòa án phải hoàn trả cho người đã nộp tiền tạm ứng chi phí
định giá.
2. Trường hợp người đã nộp tiền tạm ứng chi phí định giá
tài sản phải chịu chi phí định giá, nếu số tiền tạm ứng đã nộp chưa đủ cho chi
phí định giá thực tế thì họ phải nộp thêm phần tiền còn thiếu; nếu số tiền tạm
ứng đã nộp nhiều hơn chi phí định giá thực tế thì họ được trả lại phần tiền còn
thừa.
Điều 167. Chi phí cho người làm chứng
1. Chi phí hợp lý và thực tế cho người làm chứng do đương
sự chịu.
2. Người đề nghị Tòa án triệu tập người làm chứng phải
chịu tiền chi phí cho người làm chứng nếu lời làm chứng phù hợp với sự thật
nhưng không đúng với yêu cầu của người đề nghị. Trường hợp lời làm chứng phù
hợp với sự thật và đúng với yêu cầu của người đề nghị triệu tập người làm chứng
thì chi phí này do đương sự có yêu cầu độc lập với yêu cầu của người đề nghị
chịu.
Điều 168. Chi phí cho người phiên dịch, luật
sư
1. Chi phí cho người phiên dịch là khoản tiền phải trả
cho người phiên dịch trong quá trình giải quyết vụ việc dân sự theo thỏa thuận
của đương sự với người phiên dịch hoặc theo quy định của pháp luật.
2. Chi phí cho luật sư là khoản tiền phải trả cho luật sư
theo thỏa thuận của đương sự với luật sư trong phạm vi quy định của tổ chức
hành nghề luật sư và theo quy định của pháp luật.
3. Chi phí cho người phiên dịch, luật sư do người có yêu
cầu chịu, trừ trường hợp các bên đương sự có thỏa thuận khác.
4. Trường hợp Tòa án yêu cầu người phiên dịch thì chi phí
cho người phiên dịch do Tòa án trả.
Điều 169. Quy định cụ thể về các chi phí tố
tụng
Căn cứ vào quy định của Bộ luật này, Ủy ban Thường vụ
Quốc hội quy định cụ thể về chi phí ủy thác tư pháp ra nước ngoài, chi phí xem
xét, thẩm định tại chỗ, chi phí giám định, định giá tài sản; chi phí cho người
làm chứng, người phiên dịch; chi phí tố tụng khác do luật khác quy định và việc
miễn, giảm chi phí tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án.
CẤP, TỐNG ĐẠT, THÔNG BÁO VĂN BẢN TỐ TỤNG
Điều 170. Nghĩa vụ cấp, tống đạt, thông báo
văn bản tố tụng
Tòa án, Viện kiểm sát, cơ quan thi hành án thực hiện việc
cấp, tống đạt, thông báo văn bản tố tụng cho đương sự, những người tham gia tố
tụng khác và cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan theo quy định của Bộ luật
này và pháp luật có liên quan.
Điều 171. Các văn bản tố tụng phải được cấp,
tống đạt, thông báo
1. Thông báo, giấy báo, giấy triệu tập, giấy mời trong tố
tụng dân sự.
2. Bản án, quyết định của Tòa án.
3. Quyết định kháng nghị của Viện kiểm sát; các văn bản
của cơ quan thi hành án dân sự.
4. Các văn bản tố tụng khác mà pháp luật có quy định.
Điều 172. Người thực hiện việc cấp, tống đạt,
thông báo văn bản tố tụng
Việc cấp, tống đạt, thông báo văn bản tố tụng do những
người sau đây thực hiện:
1. Người tiến hành tố tụng, người của cơ quan ban hành
văn bản tố tụng được giao nhiệm vụ thực hiện việc cấp, tống đạt, thông báo văn
bản tố tụng;
2. Ủy ban nhân dân cấp xã nơi người tham gia tố tụng dân
sự cư trú hoặc cơ quan, tổ chức nơi người tham gia tố tụng dân sự làm việc khi
Tòa án có yêu cầu;
3. Đương sự, người đại diện của đương sự hoặc người bảo
vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự trong những trường hợp do Bộ luật này
quy định;
4. Nhân viên tổ chức dịch vụ bưu chính;
5. Người có chức năng tống đạt;
6. Những người khác mà pháp luật có quy định.
Điều 173. Các phương thức cấp, tống đạt,
thông báo văn bản tố tụng
Việc cấp, tống đạt, thông báo văn bản tố tụng được thực
hiện bằng các phương thức sau đây:
1. Cấp, tống đạt, thông báo trực tiếp, qua dịch vụ bưu
chính hoặc người thứ ba được ủy quyền thực hiện việc cấp, tống đạt, thông báo;
2. Cấp, tống đạt, thông báo bằng phương tiện điện tử theo
yêu cầu của đương sự hoặc người tham gia tố tụng khác phù hợp với quy định của
pháp luật về giao dịch điện tử;
3. Niêm yết công khai;
4. Thông báo trên các phương tiện thông tin đại chúng;
5. Cấp, tống đạt, thông báo bằng phương thức khác theo
quy định tại Chương XXXVIII của Bộ luật này.
Điều 174. Tính hợp lệ của việc cấp, tống đạt,
thông báo văn bản tố tụng
1. Việc cấp, tống đạt, thông báo văn bản tố tụng được
thực hiện theo quy định của Bộ luật này thì được coi là hợp lệ.
2. Người có nghĩa vụ thực hiện việc cấp, tống đạt, thông
báo văn bản tố tụng phải thực hiện theo quy định của Bộ luật này.
Người có nghĩa vụ thi hành các văn bản tố tụng đã được
cấp, tống đạt, thông báo hợp lệ phải nghiêm chỉnh thi hành.
Điều 175. Thủ tục cấp, tống đạt, thông báo
văn bản tố tụng
1. Người thực hiện việc cấp, tống đạt, thông báo văn bản
tố tụng phải trực tiếp chuyển giao cho người được cấp, tống đạt, thông báo văn
bản tố tụng có liên quan. Người được cấp, tống đạt, thông báo phải ký nhận vào
biên bản hoặc sổ giao nhận văn bản tố tụng. Thời điểm để tính thời hạn tố tụng
là ngày họ được cấp, tống đạt, thông báo văn bản tố tụng.
2. Việc cấp, tống đạt, thông báo văn bản tố tụng qua dịch
vụ bưu chính phải bằng thư bảo đảm và có xác nhận của người nhận văn bản tố
tụng.
Văn bản có xác nhận phải được chuyển lại cho Tòa án.
Thời điểm để tính thời hạn tố tụng là ngày họ xác nhận đã
nhận được văn bản tố tụng do tổ chức dịch vụ bưu chính chuyển đến.
Điều 176. Thủ tục cấp, tống đạt, thông báo
bằng phương tiện điện tử
Việc cấp, tống đạt, thông báo bằng phương tiện điện tử
được thực hiện theo quy định của pháp luật về giao dịch điện tử.
Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn thi hành Điều này.
Điều 177. Thủ tục cấp, tống đạt, thông báo
trực tiếp cho cá nhân
1. Văn bản tố tụng được cấp, tống đạt, thông báo đến địa
chỉ mà các đương sự đã gửi cho Tòa án theo phương thức đương sự yêu cầu hoặc
tới địa chỉ mà các đương sự đã thỏa thuận và đề nghị Tòa án liên hệ theo địa
chỉ đó.
2. Người được cấp, tống đạt, thông báo là cá nhân thì văn
bản tố tụng phải được giao trực tiếp cho họ. Đương sự phải ký nhận theo quy
định tại khoản 1 Điều 175 của Bộ luật này.
3. Trường hợp người được cấp, tống đạt, thông báo đã
chuyển đến nơi cư trú mới và đã thông báo cho Tòa án việc thay đổi nơi cư trú
thì phải cấp, tống đạt, thông báo theo địa chỉ nơi cư trú mới của họ. Đương sự
phải ký nhận hoặc điểm chỉ theo quy định tại khoản 1 Điều 175
của Bộ luật này. Nếu họ không thông báo cho Tòa án biết về việc thay đổi
địa chỉ nơi cư trú và địa chỉ nơi cư trú mới thì Tòa án thực hiện theo quy định
tại Điều 179 và Điều 180 của Bộ luật này.
4. Trường hợp người được cấp, tống đạt, thông báo từ chối
nhận văn bản tố tụng thì người thực hiện việc cấp, tống đạt, thông báo phải lập
biên bản trong đó nêu rõ lý do của việc từ chối, có xác nhận của đại diện tổ
dân phố hoặc Công an xã, phường, thị trấn về việc người đó từ chối nhận văn bản
tố tụng. Biên bản phải được lưu trong hồ sơ vụ án.
5. Trường hợp người được cấp, tống đạt, thông báo vắng
mặt thì người thực hiện việc cấp, tống đạt, thông báo phải lập biên bản và giao
cho người thân thích có đủ năng lực hành vi dân sự cùng nơi cư trú với họ hoặc
tổ trưởng tổ dân phố, trưởng thôn, làng, ấp, bản, buôn, phum, sóc để thực hiện
việc ký nhận hoặc điểm chỉ và yêu cầu người này cam kết giao lại tận tay ngay
cho người được cấp, tống đạt, thông báo. Biên bản phải được lưu trong hồ sơ vụ
án.
Trường hợp người được cấp, tống đạt, thông báo vắng mặt ở
nơi cư trú mà không rõ thời điểm trở về hoặc không rõ địa chỉ nơi cư trú mới
của họ thì người thực hiện việc cấp, tống đạt, thông báo phải lập biên bản về
việc không thực hiện được việc cấp, tống đạt, thông báo, có xác nhận của đại
diện tổ dân phố hoặc Công an xã, phường, thị trấn; đồng thời, thực hiện thủ tục
niêm yết công khai văn bản cần tống đạt theo quy định tại Điều
179 của Bộ luật này. Biên bản phải được lưu trong hồ sơ vụ án.
Điều 178. Thủ tục cấp, tống đạt, thông báo
trực tiếp cho cơ quan, tổ chức
1. Trường hợp người được cấp, tống đạt, thông báo là cơ
quan, tổ chức thì văn bản tố tụng phải được giao trực tiếp cho người đại diện
theo pháp luật hoặc người chịu trách nhiệm nhận văn bản của cơ quan, tổ chức đó
và phải được những người này ký nhận. Trường hợp cơ quan, tổ chức được cấp,
tống đạt, thông báo có người đại diện tham gia tố tụng hoặc cử người đại diện
nhận văn bản tố tụng thì những người này ký nhận văn bản tố tụng đó. Ngày ký
nhận là ngày được cấp, tống đạt, thông báo.
2. Trường hợp người được cấp, tống đạt, thông báo từ chối
nhận văn bản tố tụng hoặc vắng mặt thì thực hiện theo quy định tại khoản 4 và khoản 5 Điều 177 của Bộ luật này.
Điều 179. Thủ tục niêm yết công khai
1. Việc niêm yết công khai văn bản tố tụng được thực hiện
trong trường hợp không thể cấp, tống đạt, thông báo trực tiếp văn bản tố tụng
theo quy định tại Điều 177 và Điều 178 của Bộ luật này.
2. Việc niêm yết công khai văn bản tố tụng do Tòa án trực
tiếp thực hiện hoặc ủy quyền cho người có chức năng tống đạt hoặc Ủy ban nhân
dân cấp xã nơi đương sự cư trú, nơi cơ quan, tổ chức có trụ sở thực hiện theo
thủ tục sau đây:
a) Niêm yết bản chính tại trụ sở Tòa án, Ủy ban nhân dân
cấp xã nơi cư trú hoặc nơi cư trú cuối cùng của cá nhân, nơi có trụ sở hoặc trụ
sở cuối cùng của cơ quan, tổ chức được cấp, tống đạt, thông báo;
b) Niêm yết bản sao tại nơi cư trú hoặc nơi cư trú cuối
cùng của cá nhân, nơi có trụ sở hoặc trụ sở cuối cùng của cơ quan, tổ chức được
cấp, tống đạt, thông báo;
c) Lập biên bản về việc thực hiện thủ tục niêm yết công
khai, trong đó ghi rõ ngày, tháng, năm niêm yết.
3. Thời hạn niêm yết công khai văn bản tố tụng là 15
ngày, kể từ ngày niêm yết.
Điều 180. Thủ tục thông báo trên phương tiện
thông tin đại chúng
1. Việc thông báo trên phương tiện thông tin đại chúng
được thực hiện khi pháp luật có quy định hoặc có căn cứ xác định là việc niêm
yết công khai không bảo đảm cho người được cấp, tống đạt, thông báo nhận được
thông tin về văn bản cần được cấp, tống đạt, thông báo.
2. Việc thông báo trên phương tiện thông tin đại chúng có
thể được thực hiện nếu có yêu cầu của các đương sự khác. Trong trường hợp này,
lệ phí thông báo trên phương tiện thông tin đại chúng do đương sự có yêu cầu
thông báo chịu.
3. Thông báo trên phương tiện thông tin đại chúng phải
được đăng trên Cổng thông tin điện tử của Tòa án, trên một trong các báo hàng
ngày của trung ương trong ba số liên tiếp và phát sóng trên Đài phát thanh hoặc
Đài truyền hình của trung ương ba lần trong 03 ngày liên tiếp.
Điều 181. Thông báo kết quả việc cấp, tống
đạt, thông báo văn bản tố tụng
Trường hợp người thực hiện việc cấp, tống đạt, thông báo
văn bản tố tụng không phải là Tòa án hoặc cơ quan ban hành văn bản tố tụng hoặc
cán bộ của các cơ quan đó thì người thực hiện phải thông báo ngay kết quả việc
cấp, tống đạt, thông báo văn bản tố tụng cho Tòa án hoặc cơ quan ban hành văn
bản tố tụng đó.
1. Thời hạn tố tụng là một khoảng thời gian được xác định
từ thời điểm này đến thời điểm khác để người tiến hành tố tụng, người tham gia
tố tụng hoặc cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan thực hiện hành vi tố tụng
do Bộ luật này quy định.
2. Thời hạn tố tụng có thể được xác định bằng giờ, ngày,
tuần, tháng, năm hoặc bằng một sự kiện có thể sẽ xảy ra.
Điều 183. Áp dụng quy định của Bộ luật Dân sự
về thời hạn
Cách tính thời hạn tố tụng, quy định về thời hạn tố tụng,
thời điểm bắt đầu, kết thúc thời hạn tố tụng trong Bộ luật này được áp dụng
theo các quy định tương ứng của Bộ luật Dân sự.
Điều 184. Thời hiệu khởi kiện, thời hiệu yêu
cầu giải quyết việc dân sự
1. Thời hiệu khởi kiện, thời hiệu yêu cầu giải quyết việc
dân sự được thực hiện theo quy định của Bộ luật Dân sự.
2. Tòa án chỉ áp dụng quy định về thời hiệu theo yêu cầu
áp dụng thời hiệu của một bên hoặc các bên với điều kiện yêu cầu này phải được
đưa ra trước khi Tòa án cấp sơ thẩm ra bản án, quyết định giải quyết vụ việc.
Người được hưởng lợi từ việc áp dụng thời hiệu có quyền
từ chối áp dụng thời hiệu, trừ trường hợp việc từ chối đó nhằm mục đích trốn
tránh thực hiện nghĩa vụ.
Điều 185. Áp dụng quy định của Bộ luật Dân sự
về thời hiệu
Các quy định của Bộ luật Dân sự về thời hiệu được áp dụng
trong tố tụng dân sự.
THỦ TỤC GIẢI QUYẾT VỤ ÁN TẠI TÒA ÁN CẤP SƠ
THẨM
Chương XII
Điều 186. Quyền khởi kiện vụ án
Cơ quan, tổ chức, cá nhân có quyền tự mình hoặc thông qua
người đại diện hợp pháp khởi kiện vụ án (sau đây gọi chung là người khởi kiện)
tại Tòa án có thẩm quyền để yêu cầu bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình.
1. Cơ quan quản lý nhà nước về gia đình, cơ quan quản lý
nhà nước về trẻ em, Hội liên hiệp phụ nữ Việt Nam trong phạm vi nhiệm vụ, quyền
hạn của mình có quyền khởi kiện vụ án về hôn nhân và gia đình theo quy định của
Luật Hôn nhân và gia đình.
2. Tổ chức đại diện tập thể lao động có quyền khởi kiện
vụ án lao động trong trường hợp cần bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của tập
thể người lao động hoặc khi được người lao động ủy quyền theo quy định của pháp
luật.
3. Tổ chức xã hội tham gia bảo vệ quyền lợi người tiêu
dùng có quyền đại diện cho người tiêu dùng khởi kiện bảo vệ quyền lợi người
tiêu dùng hoặc tự mình khởi kiện vì lợi ích công cộng theo quy định của Luật
Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng.
4. Cơ quan, tổ chức trong phạm vi nhiệm vụ,
quyền hạn của mình có quyền khởi kiện vụ án dân sự để yêu cầu Tòa án bảo vệ lợi
ích công cộng, lợi ích của Nhà nước thuộc lĩnh vực mình phụ trách hoặc
theo quy định của pháp luật.
5. Cá nhân có quyền khởi kiện vụ án hôn nhân và gia đình
để bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của người khác theo quy định của Luật Hôn
nhân và gia đình.
1. Cơ quan, tổ chức, cá nhân có thể khởi kiện một hoặc
nhiều cơ quan, tổ chức, cá nhân khác về một quan hệ pháp luật hoặc nhiều quan
hệ pháp luật có liên quan với nhau để giải quyết trong cùng một vụ án.
2. Nhiều cơ quan, tổ chức, cá nhân có thể cùng khởi kiện
một cơ quan, một tổ chức, một cá nhân khác về một quan hệ pháp luật hoặc nhiều
quan hệ pháp luật có liên quan với nhau để giải quyết trong cùng một vụ án.
3. Cơ quan, tổ chức, cá nhân quy định tại Điều
187 của Bộ luật này có thể khởi kiện một hoặc nhiều cơ quan, tổ chức, cá
nhân khác về một quan hệ pháp luật hoặc nhiều quan hệ pháp luật có liên quan
với nhau để giải quyết trong cùng một vụ án.
Điều 189. Hình thức, nội dung đơn khởi kiện
1. Cơ quan, tổ chức, cá nhân khởi kiện phải làm đơn khởi
kiện.
2. Việc làm đơn khởi kiện của cá nhân được thực hiện như
sau:
a) Cá nhân có đầy đủ năng lực hành vi tố tụng dân sự thì
có thể tự mình hoặc nhờ người khác làm hộ đơn khởi kiện vụ án. Tại mục tên, địa
chỉ nơi cư trú của người khởi kiện trong đơn phải ghi họ tên, địa chỉ nơi cư
trú của cá nhân đó; ở phần cuối đơn, cá nhân đó phải ký tên hoặc điểm chỉ;
b) Cá nhân là người chưa thành niên, người mất năng lực
hành vi dân sự, người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi thì người
đại diện hợp pháp của họ có thể tự mình hoặc nhờ người khác làm hộ đơn khởi
kiện vụ án. Tại mục tên, địa chỉ nơi cư trú của người khởi kiện trong đơn phải
ghi họ tên, địa chỉ nơi cư trú của người đại diện hợp pháp của cá nhân đó; ở
phần cuối đơn, người đại diện hợp pháp đó phải ký tên hoặc điểm chỉ;
c) Cá nhân thuộc trường hợp quy định tại điểm a và điểm b
khoản này là người không biết chữ, người khuyết tật nhìn, người không thể tự
mình làm đơn khởi kiện, người không thể tự mình ký tên hoặc điểm chỉ thì có thể
nhờ người khác làm hộ đơn khởi kiện và phải có người có đủ năng lực tố tụng dân
sự làm chứng. Người làm chứng phải ký xác nhận vào đơn khởi kiện.
3. Cơ quan, tổ chức là người khởi kiện thì người đại diện
hợp pháp của cơ quan, tổ chức đó có thể tự mình hoặc nhờ người khác làm hộ đơn
khởi kiện vụ án. Tại mục tên, địa chỉ của người khởi kiện phải ghi tên, địa chỉ
của cơ quan, tổ chức và họ, tên, chức vụ của người đại diện hợp pháp của cơ
quan, tổ chức đó; ở phần cuối đơn, người đại diện hợp pháp của cơ quan, tổ chức
phải ký tên và đóng dấu của cơ quan, tổ chức đó; trường hợp tổ chức khởi kiện
là doanh nghiệp thì việc sử dụng con dấu theo quy định của Luật Doanh nghiệp.
4. Đơn khởi kiện phải có các nội dung chính sau đây:
a) Ngày, tháng, năm làm đơn khởi kiện;
b) Tên Tòa án nhận đơn khởi kiện;
c) Tên, nơi cư trú, làm việc của người khởi kiện là cá
nhân hoặc trụ sở của người khởi kiện là cơ quan, tổ chức; số điện thoại, fax và
địa chỉ thư điện tử (nếu có).
Trường hợp các bên thỏa thuận địa chỉ để Tòa án liên hệ
thì ghi rõ địa chỉ đó;
d) Tên, nơi cư trú, làm việc của người có quyền và lợi
ích được bảo vệ là cá nhân hoặc trụ sở của người có quyền và lợi ích được bảo
vệ là cơ quan, tổ chức; số điện thoại, fax và địa chỉ thư điện tử (nếu có);
đ) Tên, nơi cư trú, làm việc của người bị kiện là cá nhân
hoặc trụ sở của người bị kiện là cơ quan, tổ chức; số điện thoại, fax và địa
chỉ thư điện tử (nếu có). Trường hợp không rõ nơi cư trú, làm việc hoặc trụ sở
của người bị kiện thì ghi rõ địa chỉ nơi cư trú, làm việc hoặc nơi có trụ sở
cuối cùng của người bị kiện;
e) Tên, nơi cư trú, làm việc của người có quyền lợi,
nghĩa vụ liên quan là cá nhân hoặc trụ sở của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên
quan là cơ quan, tổ chức; số điện thoại, fax và địa chỉ thư điện tử (nếu có).
Trường hợp không rõ nơi cư trú, làm việc hoặc trụ sở của
người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan thì ghi rõ địa chỉ nơi cư trú, làm việc
hoặc nơi có trụ sở cuối cùng của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan;
g) Quyền, lợi ích hợp pháp của người khởi kiện bị xâm
phạm; những vấn đề cụ thể yêu cầu Tòa án giải quyết đối với người
bị kiện, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan;
h) Họ, tên, địa chỉ của người làm chứng (nếu có);
i) Danh mục tài liệu, chứng cứ kèm theo đơn khởi kiện.
5. Kèm theo đơn khởi kiện phải có tài liệu, chứng cứ
chứng minh quyền, lợi ích hợp pháp của người khởi kiện bị xâm phạm. Trường hợp
vì lý do khách quan mà người khởi kiện không thể nộp đầy đủ tài liệu, chứng cứ
kèm theo đơn khởi kiện thì họ phải nộp tài liệu, chứng cứ hiện có để chứng minh
quyền, lợi ích hợp pháp của người khởi kiện bị xâm phạm. Người khởi kiện bổ
sung hoặc giao nộp bổ sung tài liệu, chứng cứ khác theo yêu cầu của Tòa án
trong quá trình giải quyết vụ án.
Điều 190. Gửi đơn khởi kiện đến Tòa án
1. Người khởi kiện gửi đơn khởi kiện kèm theo tài liệu,
chứng cứ mà mình hiện có đến Tòa án có thẩm quyền giải quyết vụ án bằng các
phương thức sau đây:
a) Nộp trực tiếp tại Tòa án;
b) Gửi đến Tòa án theo đường dịch vụ bưu chính;
c) Gửi trực tuyến bằng hình thức điện tử qua Cổng thông
tin điện tử của Tòa án (nếu có).
2. Ngày khởi kiện là ngày đương sự nộp đơn khởi kiện tại
Tòa án hoặc ngày được ghi trên dấu của tổ chức dịch vụ bưu chính nơi gửi.
Trường hợp không xác định được ngày, tháng, năm theo dấu
bưu chính nơi gửi thì ngày khởi kiện là ngày đương sự gửi đơn tại tổ chức dịch
vụ bưu chính. Đương sự phải chứng minh ngày mình gửi đơn tại tổ chức dịch vụ
bưu chính; trường hợp đương sự không chứng minh được thì ngày khởi kiện là ngày
Tòa án nhận được đơn khởi kiện do tổ chức dịch vụ bưu chính chuyển đến.
3. Trường hợp người khởi kiện gửi đơn khởi kiện bằng
phương thức gửi trực tuyến thì ngày khởi kiện là ngày gửi đơn.
4. Trường hợp chuyển vụ án cho Tòa án khác theo quy định
tại Điều 41 của Bộ luật này thì ngày khởi kiện là ngày gửi
đơn khởi kiện đến Tòa án đã thụ lý nhưng không đúng thẩm quyền và được xác
định theo quy định tại khoản 2 và khoản 3 Điều này.
5. Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn thi hành Điều này.
Điều 191. Thủ tục nhận và xử lý đơn
khởi kiện
1. Tòa án qua bộ phận tiếp nhận đơn phải nhận đơn khởi
kiện do người khởi kiện nộp trực tiếp tại Tòa án hoặc gửi qua dịch vụ bưu chính
và phải ghi vào sổ nhận đơn; trường hợp Tòa án nhận đơn khởi kiện được gửi bằng
phương thức gửi trực tuyến thì Tòa án in ra bản giấy và phải ghi vào sổ nhận
đơn.
Khi nhận đơn khởi kiện nộp trực tiếp, Tòa án có trách
nhiệm cấp ngay giấy xác nhận đã nhận đơn cho người khởi kiện. Đối với trường
hợp nhận đơn qua dịch vụ bưu chính thì trong thời hạn 02 ngày làm việc, kể từ
ngày nhận đơn, Tòa án phải gửi thông báo nhận đơn cho người khởi kiện. Trường
hợp nhận đơn khởi kiện bằng phương thức gửi trực tuyến thì Tòa án phải thông
báo ngay việc nhận đơn cho người khởi kiện qua Cổng thông tin điện tử của Tòa
án (nếu có).
2. Trong thời hạn 03 ngày làm việc, kể từ ngày nhận được
đơn khởi kiện, Chánh án Tòa án phân công một Thẩm phán xem xét đơn khởi kiện.
3. Trong thời hạn 05 ngày làm việc, kể từ ngày được phân
công, Thẩm phán phải xem xét đơn khởi kiện và có một trong các quyết định sau
đây:
a) Yêu cầu sửa đổi, bổ sung đơn khởi kiện;
b)[10] Tiến hành thủ tục thụ
lý vụ án theo thủ tục thông thường hoặc theo thủ tục rút gọn nếu vụ án có đủ
điều kiện để giải quyết theo thủ tục rút gọn quy định tại khoản
1 hoặc khoản 5 Điều 317 của Bộ luật này;
c) Chuyển đơn khởi kiện cho Tòa án có thẩm quyền và thông
báo cho người khởi kiện nếu vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án khác;
d) Trả lại đơn khởi kiện cho người khởi kiện nếu vụ việc
đó không thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án.
4. Kết quả xử lý đơn của Thẩm phán quy định tại khoản 3
Điều này phải được ghi chú vào sổ nhận đơn và thông báo cho người khởi kiện qua
Cổng thông tin điện tử của Tòa án (nếu có).
Điều 192. Trả lại đơn khởi kiện, hậu quả của
việc trả lại đơn khởi kiện
1. Thẩm phán trả lại đơn khởi kiện trong các trường hợp
sau đây:
a) Người khởi kiện không có quyền khởi kiện theo quy định
tại Điều 186 và Điều 187 của Bộ luật này hoặc không có đủ
năng lực hành vi tố tụng dân sự;
b) Chưa có đủ điều kiện khởi kiện theo quy định của pháp
luật.
Chưa có đủ điều kiện khởi kiện là trường hợp pháp luật có
quy định về các điều kiện khởi kiện nhưng người khởi kiện đã khởi kiện đến Tòa
án khi còn thiếu một trong các điều kiện đó;
c) Sự việc đã được giải quyết bằng bản án, quyết định đã
có hiệu lực pháp luật của Tòa án hoặc quyết định đã có hiệu lực của cơ quan nhà
nước có thẩm quyền, trừ trường hợp vụ án mà Tòa án bác đơn yêu cầu ly hôn, yêu
cầu thay đổi nuôi con, thay đổi mức cấp dưỡng, mức bồi thường thiệt hại, yêu
cầu thay đổi người quản lý tài sản, thay đổi người quản lý di sản, thay đổi
người giám hộ hoặc vụ án đòi tài sản, đòi tài sản cho thuê, cho mượn, đòi nhà,
đòi quyền sử dụng đất cho thuê, cho mượn, cho ở nhờ mà Tòa án chưa chấp nhận
yêu cầu và theo quy định của pháp luật được quyền khởi kiện lại;
d) Hết thời hạn quy định tại khoản 2
Điều 195 của Bộ luật này mà người khởi kiện không nộp biên lai thu tiền tạm
ứng án phí cho Tòa án, trừ trường hợp người khởi kiện được miễn hoặc không phải
nộp tiền tạm ứng án phí hoặc có trở ngại khách quan, sự kiện bất
khả kháng;
đ) Vụ án không thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án;
e) Người khởi kiện không sửa đổi, bổ sung đơn khởi kiện
theo yêu cầu của Thẩm phán quy định tại khoản 2 Điều 193 của
Bộ luật này.
Trường hợp trong đơn khởi kiện, người khởi kiện đã ghi
đầy đủ và đúng địa chỉ nơi cư trú của người bị kiện, người có quyền lợi, nghĩa
vụ liên quan nhưng họ không có nơi cư trú ổn định, thường xuyên thay đổi nơi cư
trú, trụ sở mà không thông báo địa chỉ mới cho cơ quan, người có thẩm quyền
theo quy định của pháp luật về cư trú làm cho người khởi kiện không biết được
nhằm mục đích che giấu địa chỉ, trốn tránh nghĩa vụ đối với người khởi kiện thì
Thẩm phán không trả lại đơn khởi kiện mà xác định người bị kiện, người có quyền
lợi, nghĩa vụ liên quan cố tình giấu địa chỉ và tiến hành thụ lý, giải quyết
theo thủ tục chung.
Trường hợp trong đơn khởi kiện, người khởi kiện không ghi
đầy đủ, cụ thể hoặc ghi không đúng tên, địa chỉ của người bị kiện, người có
quyền lợi, nghĩa vụ liên quan mà không sửa chữa, bổ sung theo yêu cầu của Thẩm
phán thì Thẩm phán trả lại đơn khởi kiện;
g) Người khởi kiện rút đơn khởi kiện.
2. Khi trả lại đơn khởi kiện và tài liệu, chứng cứ kèm
theo cho người khởi kiện, Thẩm phán phải có văn bản nêu rõ lý do trả lại đơn
khởi kiện, đồng thời gửi cho Viện kiểm sát cùng cấp. Đơn khởi kiện và tài liệu,
chứng cứ mà Thẩm phán trả lại cho người khởi kiện phải được sao chụp và lưu tại
Tòa án để làm cơ sở giải quyết khiếu nại, kiến nghị khi có yêu cầu.
3. Đương sự có quyền nộp đơn khởi kiện lại trong các
trường hợp sau đây:
a) Người khởi kiện đã có đủ năng lực hành vi tố tụng dân
sự;
b) Yêu cầu ly hôn, yêu cầu thay đổi nuôi con, thay đổi
mức cấp dưỡng, mức bồi thường thiệt hại, yêu cầu thay đổi người quản lý tài
sản, thay đổi người quản lý di sản, thay đổi người giám hộ hoặc vụ án đòi tài
sản, đòi tài sản cho thuê, cho mượn, đòi nhà, đòi quyền sử dụng đất cho thuê,
cho mượn, cho ở nhờ mà trước đó Tòa án chưa chấp nhận yêu cầu mà theo quy định
của pháp luật được quyền khởi kiện lại;
c) Đã có đủ điều kiện khởi kiện;
d) Các trường hợp khác theo quy định của pháp luật.
4. Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn thi hành khoản 1 và
khoản 3 Điều này.
Điều 193. Yêu cầu sửa đổi, bổ sung đơn khởi
kiện
1. Trường hợp đơn khởi kiện không có đủ các nội dung quy
định tại khoản 4 Điều 189 của Bộ luật này thì Thẩm phán
thông báo bằng văn bản nêu rõ những vấn đề cần sửa đổi, bổ sung cho người khởi
kiện để họ sửa đổi, bổ sung trong thời hạn do Thẩm phán ấn định nhưng không quá
01 tháng; trường hợp đặc biệt, Thẩm phán có thể gia hạn nhưng không quá 15
ngày. Văn bản thông báo có thể được giao trực tiếp, gửi trực tuyến hoặc gửi cho
người khởi kiện qua dịch vụ bưu chính và phải ghi chú vào sổ nhận đơn để theo
dõi. Thời hạn thực hiện việc sửa đổi, bổ sung đơn khởi kiện không tính vào thời
hiệu khởi kiện.
2. Trường hợp người khởi kiện đã sửa đổi, bổ sung đơn
khởi kiện theo đúng quy định tại khoản 4 Điều 189 của Bộ luật
này thì Thẩm phán tiếp tục việc thụ lý vụ án; nếu họ không sửa đổi, bổ sung
theo yêu cầu thì Thẩm phán trả lại đơn khởi kiện và tài liệu, chứng cứ kèm theo
cho người khởi kiện.
Điều 194. Khiếu nại, kiến nghị và giải quyết
khiếu nại, kiến nghị về việc trả lại đơn khởi kiện
1. Trong thời hạn 10 ngày, kể từ ngày nhận được văn bản
trả lại đơn khởi kiện, người khởi kiện có quyền khiếu nại, Viện kiểm sát có
quyền kiến nghị với Tòa án đã trả lại đơn khởi kiện.
2. Ngay sau khi nhận được khiếu nại, kiến nghị về việc
trả lại đơn khởi kiện, Chánh án Tòa án phải phân công một Thẩm phán khác xem
xét, giải quyết khiếu nại, kiến nghị.
3. Trong thời hạn 05 ngày làm việc, kể từ ngày được phân
công, Thẩm phán phải mở phiên họp xem xét, giải quyết khiếu nại, kiến nghị.
Phiên họp xem xét, giải quyết khiếu nại, kiến nghị có sự tham gia của đại diện
Viện kiểm sát cùng cấp và đương sự có khiếu nại; trường hợp đương sự vắng mặt
thì Thẩm phán vẫn tiến hành phiên họp.
4. Căn cứ vào tài liệu, chứng cứ có liên quan đến việc
trả lại đơn khởi kiện, ý kiến của đại diện Viện kiểm sát và đương sự có khiếu
nại tại phiên họp, Thẩm phán phải ra một trong các quyết định sau đây:
a) Giữ nguyên việc trả lại đơn khởi kiện và thông báo cho
đương sự, Viện kiểm sát cùng cấp;
b) Nhận lại đơn khởi kiện và tài liệu, chứng cứ kèm theo
để tiến hành việc thụ lý vụ án.
5. Trong thời hạn 10 ngày, kể từ ngày nhận được quyết
định trả lời khiếu nại, kiến nghị về việc trả lại đơn khởi kiện của Thẩm phán,
người khởi kiện có quyền khiếu nại, Viện kiểm sát có quyền kiến nghị với Chánh
án Tòa án trên một cấp trực tiếp xem xét, giải quyết.
6. Trong thời hạn 10 ngày, kể từ ngày nhận được khiếu
nại, kiến nghị về việc trả lại đơn khởi kiện, Chánh án Tòa án trên một cấp trực
tiếp phải ra một trong các quyết định sau đây:
a) Giữ nguyên việc trả lại đơn khởi kiện;
b) Yêu cầu Tòa án cấp sơ thẩm nhận lại đơn khởi kiện và
tài liệu, chứng cứ kèm theo để tiến hành việc thụ lý vụ án.
Quyết định giải quyết khiếu nại, kiến nghị của Chánh án
Tòa án trên một cấp trực tiếp có hiệu lực thi hành và được gửi ngay cho người
khởi kiện, Viện kiểm sát cùng cấp, Viện kiểm sát đã kiến nghị và Tòa án đã ra
quyết định trả lại đơn khởi kiện.
7. Trường hợp có căn cứ xác định quyết định giải quyết
của Chánh án Tòa án trên một cấp trực tiếp quy định tại khoản 6 Điều này có vi
phạm pháp luật thì trong thời hạn 10 ngày, kể từ ngày nhận được quyết định,
đương sự có quyền khiếu nại, Viện kiểm sát có quyền kiến nghị với Chánh án Tòa
án nhân dân cấp cao nếu quyết định bị khiếu nại, kiến nghị là của Chánh án Tòa
án nhân dân cấp tỉnh hoặc với Chánh án Tòa án nhân dân tối cao nếu quyết định
bị khiếu nại, kiến nghị là của Chánh án Tòa án nhân dân cấp cao.
Trong thời hạn 10 ngày, kể từ ngày nhận được khiếu nại
của đương sự, kiến nghị của Viện kiểm sát thì Chánh án phải giải quyết. Quyết
định của Chánh án là quyết định cuối cùng.
1. Sau khi nhận đơn khởi kiện và tài liệu, chứng cứ kèm
theo, nếu xét thấy vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án thì Thẩm phán
phải thông báo ngay cho người khởi kiện biết để họ đến Tòa án làm thủ tục nộp
tiền tạm ứng án phí trong trường hợp họ phải nộp tiền tạm ứng án phí.
2. Thẩm phán dự tính số tiền tạm ứng án phí, ghi vào giấy
báo và giao cho người khởi kiện để họ nộp tiền tạm ứng án phí. Trong thời hạn
07 ngày, kể từ ngày nhận được giấy báo của Tòa án về việc nộp tiền tạm ứng án
phí, người khởi kiện phải nộp tiền tạm ứng án phí và nộp cho Tòa án biên lai
thu tiền tạm ứng án phí.
3. Thẩm phán thụ lý vụ án khi người khởi kiện nộp cho Tòa
án biên lai thu tiền tạm ứng án phí.
4. Trường hợp người khởi kiện được miễn hoặc không phải
nộp tiền tạm ứng án phí thì Thẩm phán phải thụ lý vụ án khi nhận được đơn khởi
kiện và tài liệu, chứng cứ kèm theo.
Điều 196. Thông báo về việc thụ lý vụ án
1. Trong thời hạn 03 ngày làm việc, kể từ ngày thụ lý vụ
án, Thẩm phán phải thông báo bằng văn bản cho nguyên đơn, bị đơn, cơ quan, tổ
chức, cá nhân có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến việc giải quyết vụ án, cho
Viện kiểm sát cùng cấp về việc Tòa án đã thụ lý vụ án.
Đối với vụ án do người tiêu dùng khởi kiện thì Tòa án
phải niêm yết công khai tại trụ sở Tòa án thông tin về việc thụ lý vụ án trong
thời hạn 03 ngày làm việc, kể từ ngày thụ lý vụ án.
2. Văn bản thông báo phải có các nội dung chính sau đây:
a) Ngày, tháng, năm làm văn bản thông báo;
b) Tên, địa chỉ Tòa án đã thụ lý vụ án;
c) Tên, địa chỉ; số điện thoại, fax, địa chỉ thư điện tử
(nếu có) của người khởi kiện;
d) Những vấn đề cụ thể người khởi kiện yêu cầu Tòa án
giải quyết;
đ) Vụ án được thụ lý theo thủ tục thông thường hay thủ
tục rút gọn;
e) Danh mục tài liệu, chứng cứ người khởi kiện nộp kèm
theo đơn khởi kiện;
g) Thời hạn bị đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên
quan phải có ý kiến bằng văn bản nộp cho Tòa án đối với yêu cầu của người khởi
kiện và tài liệu, chứng cứ kèm theo, yêu cầu phản tố, yêu cầu độc lập (nếu có);
h) Hậu quả pháp lý của việc bị đơn, người có quyền lợi,
nghĩa vụ liên quan không nộp cho Tòa án văn bản về ý kiến của mình đối với yêu
cầu khởi kiện.
3. Trường hợp nguyên đơn có đơn yêu cầu Tòa án hỗ trợ
trong việc gửi tài liệu, chứng cứ thì kèm theo thông báo về việc thụ lý vụ án,
Tòa án gửi cho bị đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bản sao tài liệu,
chứng cứ do nguyên đơn cung cấp.
Điều 197. Phân công Thẩm phán giải quyết vụ
án
1. Trên cơ sở báo cáo thụ lý vụ án của Thẩm phán được
phân công thụ lý vụ án, Chánh án Tòa án quyết định phân công Thẩm phán giải
quyết vụ án bảo đảm nguyên tắc vô tư, khách quan, ngẫu nhiên.
2. Trong thời hạn 03 ngày làm việc, kể từ ngày thụ lý vụ
án, Chánh án Tòa án quyết định phân công Thẩm phán giải quyết vụ án.
Đối với vụ án phức tạp, việc giải quyết có thể phải kéo
dài thì Chánh án Tòa án phân công Thẩm phán dự khuyết để bảo đảm xét xử đúng
thời hạn theo quy định của Bộ luật này.
3. Trong quá trình giải quyết vụ án, nếu Thẩm phán được
phân công không thể tiếp tục tiến hành được nhiệm vụ thì Chánh án Tòa án phân
công Thẩm phán khác tiếp tục nhiệm vụ; trường hợp đang xét xử mà không có Thẩm
phán dự khuyết thì vụ án phải được xét xử lại từ đầu và Tòa án phải thông báo
cho đương sự, Viện kiểm sát cùng cấp.
Điều 198. Nhiệm vụ, quyền hạn của Thẩm phán
khi lập hồ sơ vụ án
1. Lập hồ sơ vụ án theo quy định tại Điều
204 của Bộ luật này.
2. Yêu cầu đương sự giao nộp tài liệu,
chứng cứ cho Tòa án.
3. Tiến hành xác minh, thu thập chứng cứ
theo quy định tại khoản 2 và khoản 3 Điều 97 của Bộ luật này.
Điều 199. Quyền, nghĩa vụ của bị đơn, người
có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan khi nhận được thông báo
1. Trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được thông
báo, bị đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan phải nộp cho Tòa án văn bản
ghi ý kiến của mình đối với yêu cầu của nguyên đơn và tài liệu, chứng cứ kèm
theo, yêu cầu phản tố, yêu cầu độc lập (nếu có).
Trường hợp cần gia hạn thì bị đơn, người có quyền lợi,
nghĩa vụ liên quan phải có đơn đề nghị gia hạn gửi cho Tòa án nêu rõ lý
do; nếu việc đề nghị gia hạn là có căn cứ thì Tòa án phải gia hạn nhưng không
quá 15 ngày.
2. Bị đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có
quyền yêu cầu Tòa án cho xem, ghi chép, sao chụp đơn khởi kiện và tài liệu,
chứng cứ kèm theo đơn khởi kiện, trừ tài liệu, chứng cứ quy định tại khoản 2 Điều 109 của Bộ luật này.
Điều 200. Quyền yêu cầu phản tố của bị đơn
1. Cùng với việc phải nộp cho Tòa án văn bản ghi ý kiến
của mình đối với yêu cầu của nguyên đơn, bị đơn có quyền yêu cầu phản tố đối
với nguyên đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có yêu cầu độc lập.
2. Yêu cầu phản tố của bị đơn đối với nguyên đơn, người
có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có yêu cầu độc lập được chấp nhận khi thuộc
một trong các trường hợp sau đây:
a) Yêu cầu phản tố để bù trừ nghĩa vụ với yêu cầu của
nguyên đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có yêu cầu độc lập;
b) Yêu cầu phản tố được chấp nhận dẫn đến loại trừ việc
chấp nhận một phần hoặc toàn bộ yêu cầu của nguyên đơn, người có quyền lợi,
nghĩa vụ liên quan có yêu cầu độc lập;
c) Giữa yêu cầu phản tố và yêu cầu của nguyên đơn, người
có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có yêu cầu độc lập có sự liên quan với nhau và
nếu được giải quyết trong cùng một vụ án thì làm cho việc giải quyết vụ án được
chính xác và nhanh hơn.
3. Bị đơn có quyền đưa ra yêu cầu phản tố trước thời điểm
mở phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải.
Điều 201. Quyền yêu cầu độc lập của người có
quyền lợi, nghĩa vụ liên quan
1. Trường hợp người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan
không tham gia tố tụng với bên nguyên đơn hoặc với bên bị đơn thì họ có quyền
yêu cầu độc lập khi có các điều kiện sau đây:
a) Việc giải quyết vụ án có liên quan đến quyền lợi,
nghĩa vụ của họ;
b) Yêu cầu độc lập của họ có liên quan đến vụ án đang
được giải quyết;
c) Yêu cầu độc lập của họ được giải quyết trong cùng một
vụ án làm cho việc giải quyết vụ án được chính xác và nhanh hơn.
2. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền đưa ra
yêu cầu độc lập trước thời điểm mở phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận,
công khai chứng cứ và hòa giải.
Điều 202. Thủ tục yêu cầu phản tố hoặc yêu
cầu độc lập
Thủ tục yêu cầu phản tố hoặc yêu cầu độc lập được thực
hiện theo quy định của Bộ luật này về thủ tục khởi kiện của nguyên đơn.
THỦ TỤC HÒA GIẢI VÀ CHUẨN BỊ XÉT XỬ
Điều 203. Thời hạn chuẩn bị xét xử
1. Thời hạn chuẩn bị xét xử các loại vụ án, trừ các vụ án
được xét xử theo thủ tục rút gọn hoặc vụ án có yếu tố nước ngoài, được
quy định như sau:
a) Đối với các vụ án quy định tại Điều
26 và Điều 28 của Bộ luật này thì thời hạn là 04 tháng, kể từ ngày thụ lý
vụ án;
b) Đối với các vụ án quy định tại Điều
30 và Điều 32 của Bộ luật này thì thời hạn là 02 tháng, kể từ ngày thụ lý
vụ án.
Đối với vụ án có tính chất phức tạp hoặc do sự kiện bất
khả kháng, trở ngại khách quan thì Chánh án Tòa án có thể quyết định gia hạn
thời hạn chuẩn bị xét xử nhưng không quá 02 tháng đối với vụ án thuộc trường
hợp quy định tại điểm a khoản này và không quá 01 tháng đối với vụ án thuộc
trường hợp quy định tại điểm b khoản này.
Trường hợp có quyết định tạm đình chỉ việc giải quyết vụ
án thì thời hạn chuẩn bị xét xử được tính lại kể từ ngày quyết định tiếp tục
giải quyết vụ án của Tòa án có hiệu lực pháp luật.
2. Trong giai đoạn chuẩn bị xét xử, Thẩm phán thực hiện
các nhiệm vụ, quyền hạn sau đây:
a) Lập hồ sơ vụ án theo quy định tại Điều 198 của Bộ luật này;
b) Xác định tư cách đương sự, người tham gia tố tụng
khác;
c) Xác định quan hệ tranh chấp giữa các đương sự và pháp
luật cần áp dụng;
d) Làm rõ những tình tiết khách quan của vụ án;
đ) Xác minh, thu thập chứng cứ theo quy định của Bộ luật
này;
e) Áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời;
g) Tổ chức phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận,
công khai chứng cứ và hòa giải theo quy định của Bộ luật này, trừ trường hợp vụ
án được giải quyết theo thủ tục rút gọn;
h) Thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn khác theo quy định của
Bộ luật này.
3. Trong thời hạn chuẩn bị xét xử quy định tại khoản 1
Điều này, tùy từng trường hợp, Thẩm phán ra một trong các quyết
định sau đây:
a) Công nhận sự thỏa thuận của các đương sự;
b) Tạm đình chỉ giải quyết vụ án dân sự;
c) Đình chỉ giải quyết vụ án dân sự;
d) Đưa vụ án ra xét xử.
4. Trong thời hạn 01 tháng, kể từ ngày có quyết định đưa
vụ án ra xét xử, Tòa án phải mở phiên tòa; trường hợp có lý do chính đáng thì
thời hạn này là 02 tháng.
Điều 204. Lập hồ sơ vụ án dân sự
1. Hồ sơ vụ án dân sự bao gồm đơn và toàn bộ tài liệu,
chứng cứ của đương sự, người tham gia tố tụng khác; tài liệu, chứng cứ do Tòa
án thu thập liên quan đến vụ án; văn bản tố tụng của Tòa án, Viện kiểm sát về
việc giải quyết vụ án dân sự.
2. Các giấy tờ, tài liệu trong hồ sơ vụ án dân sự phải
được đánh số bút lục, sắp xếp theo thứ tự ngày, tháng, năm. Giấy tờ, tài liệu
có trước thì để ở dưới, giấy tờ, tài liệu có sau thì để ở trên và phải được
quản lý, lưu giữ, sử dụng theo quy định của pháp luật.
Điều 205. Nguyên tắc tiến hành hòa giải
1. Trong thời hạn chuẩn bị xét xử sơ thẩm vụ án, Tòa án
tiến hành hòa giải để các đương sự thỏa thuận với nhau về việc giải quyết vụ
án, trừ những vụ án không được hòa giải hoặc không tiến hành hòa giải được quy
định tại Điều 206 và Điều 207 của Bộ luật này hoặc vụ án
được giải quyết theo thủ tục rút gọn.
2. Việc hòa giải được tiến hành theo các nguyên tắc sau
đây:
a) Tôn trọng sự tự nguyện thỏa thuận của các đương sự,
không được dùng vũ lực hoặc đe dọa dùng vũ lực, bắt buộc các đương sự phải thỏa
thuận không phù hợp với ý chí của mình;
b) Nội dung thỏa thuận giữa các đương sự không vi phạm
điều cấm của luật, không trái đạo đức xã hội.
Điều 206. Những vụ án dân sự không được hòa
giải
1. Yêu cầu đòi bồi thường vì lý do gây thiệt hại đến tài
sản của Nhà nước.
2. Những vụ án phát sinh từ giao dịch dân sự vi phạm điều
cấm của luật hoặc trái đạo đức xã hội.
Điều 207. Những vụ án dân sự không tiến hành
hòa giải được
1. Bị đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đã được
Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai mà vẫn cố tình vắng mặt.
2. Đương sự không thể tham gia hòa giải được vì có lý do
chính đáng.
3. Đương sự là vợ hoặc chồng trong vụ án ly hôn là người
mất năng lực hành vi dân sự.
4. Một trong các đương sự đề nghị không tiến hành hòa
giải.
Điều 208. Thông báo về phiên họp kiểm tra
việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải
1. Thẩm phán tiến hành mở phiên họp kiểm tra việc giao
nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải giữa các đương sự. Trước khi
tiến hành phiên họp, Thẩm phán phải thông báo cho đương sự, người đại diện hợp
pháp của đương sự, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự về thời
gian, địa điểm tiến hành phiên họp và nội dung của phiên họp.
2. Trường hợp vụ án dân sự không được hòa giải hoặc không
tiến hành hòa giải được quy định tại Điều 206 và Điều 207 của
Bộ luật này thì Thẩm phán tiến hành phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp
cận, công khai chứng cứ mà không tiến hành hòa giải.
3. Đối với vụ án hôn nhân và gia đình liên quan đến người
chưa thành niên, trước khi mở phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công
khai chứng cứ và hòa giải giữa các đương sự thì Thẩm phán, Thẩm tra viên được
Chánh án Tòa án phân công phải thu thập tài liệu, chứng cứ để xác định nguyên
nhân của việc phát sinh tranh chấp. Khi xét thấy cần thiết, Thẩm phán có thể
tham khảo ý kiến của cơ quan quản lý nhà nước về gia đình, cơ quan quản lý nhà
nước về trẻ em về hoàn cảnh gia đình, nguyên nhân phát sinh tranh chấp và
nguyện vọng của vợ, chồng, con có liên quan đến vụ án.
Đối với vụ án tranh chấp về nuôi con khi ly hôn hoặc thay
đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn, Thẩm phán phải lấy ý kiến của con
chưa thành niên từ đủ bảy tuổi trở lên, trường hợp cần thiết có thể mời đại
diện cơ quan quản lý nhà nước về gia đình, cơ quan quản lý nhà nước về trẻ em
chứng kiến, tham gia ý kiến. Việc lấy ý kiến của con chưa thành niên và các thủ
tục tố tụng khác đối với người chưa thành niên phải bảo đảm thân thiện, phù hợp
với tâm lý, lứa tuổi, mức độ trưởng thành, khả năng nhận thức của người chưa
thành niên, bảo đảm quyền, lợi ích hợp pháp, giữ bí mật cá nhân của người chưa
thành niên.
Điều 209. Thành phần phiên họp kiểm tra việc
giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải
1. Thành phần tham gia phiên họp gồm có:
a) Thẩm phán chủ trì phiên họp;
b) Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên họp;
c) Các đương sự hoặc người đại diện hợp pháp của các
đương sự;
d) Đại diện tổ chức đại diện tập thể lao động đối với vụ
án lao động khi có yêu cầu của người lao động, trừ vụ án lao động đã có tổ chức
đại diện tập thể lao động là người đại diện, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp
pháp cho tập thể người lao động, người lao động. Trường hợp đại diện tổ chức
đại diện tập thể lao động không tham gia hòa giải thì phải có ý kiến bằng văn
bản;
đ) Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự
(nếu có);
e) Người phiên dịch (nếu có).
2. Trường hợp cần thiết, Thẩm phán yêu cầu cá nhân, cơ
quan, tổ chức có liên quan tham gia phiên họp; đối với vụ án về hôn nhân và gia
đình, Thẩm phán yêu cầu đại diện cơ quan quản lý nhà nước về gia đình, cơ quan
quản lý nhà nước về trẻ em, Hội liên hiệp phụ nữ Việt Nam tham gia phiên họp;
nếu họ vắng mặt thì Tòa án vẫn tiến hành phiên họp.
3. Trong vụ án có nhiều đương sự mà có đương sự
vắng mặt, nhưng các đương sự có mặt vẫn đồng ý tiến hành phiên họp và việc tiến
hành phiên họp đó không ảnh hưởng đến quyền, nghĩa vụ của đương sự vắng mặt thì
Thẩm phán tiến hành phiên họp giữa các đương sự có mặt; nếu các đương sự đề
nghị hoãn phiên hòa giải để có mặt tất cả các đương sự trong vụ án thì Thẩm
phán phải hoãn phiên họp. Thẩm phán phải thông báo việc hoãn phiên họp và việc
mở lại phiên họp cho đương sự.
Điều 210. Trình tự phiên họp kiểm tra việc
giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải
1. Trước khi tiến hành phiên họp, Thư ký Tòa án báo cáo
Thẩm phán về sự có mặt, vắng mặt của những người tham gia phiên họp đã được Tòa
án thông báo. Thẩm phán chủ trì phiên họp kiểm tra lại sự có mặt và căn cước
của những người tham gia, phổ biến cho các đương sự về quyền và nghĩa vụ của họ
theo quy định của Bộ luật này.
2. Khi kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng
cứ, Thẩm phán công bố tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, hỏi đương sự về
những vấn đề sau đây:
a) Yêu cầu và phạm vi khởi kiện, việc sửa đổi, bổ sung,
thay đổi, rút yêu cầu khởi kiện, yêu cầu phản tố, yêu cầu độc lập; những vấn đề
đã thống nhất, những vấn đề chưa thống nhất yêu cầu Tòa án giải quyết;
b) Tài liệu, chứng cứ đã giao nộp cho Tòa án và việc gửi
tài liệu, chứng cứ cho đương sự khác;
c) Bổ sung tài liệu, chứng cứ; yêu cầu Tòa án thu thập
tài liệu, chứng cứ; yêu cầu Tòa án triệu tập đương sự khác, người làm chứng và
người tham gia tố tụng khác tại phiên tòa;
d) Những vấn đề khác mà đương sự thấy cần thiết.
3. Sau khi các đương sự đã trình bày xong, Thẩm
phán xem xét các ý kiến, giải quyết các yêu cầu của đương sự quy định tại khoản
2 Điều này. Trường hợp người được Tòa án triệu tập vắng mặt thì Tòa án thông
báo kết quả phiên họp cho họ.
4. Thủ tục tiến hành hòa giải được thực hiện như sau:
a) Thẩm phán phổ biến cho các đương sự về các quy định
của pháp luật có liên quan đến việc giải quyết vụ án để các đương sự liên hệ
đến quyền, nghĩa vụ của mình, phân tích hậu quả pháp lý của việc hòa giải thành
để họ tự nguyện thỏa thuận với nhau về việc giải quyết vụ án;
b) Nguyên đơn, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của
họ trình bày nội dung tranh chấp, bổ sung yêu cầu khởi kiện; những căn cứ để
bảo vệ yêu cầu khởi kiện và đề xuất quan điểm về những vấn đề cần hòa giải,
hướng giải quyết vụ án (nếu có);
c) Bị đơn, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của họ
trình bày ý kiến của mình đối với yêu cầu của nguyên đơn, yêu cầu phản tố (nếu
có); những căn cứ để phản đối yêu cầu của nguyên đơn; những căn cứ để bảo vệ
yêu cầu phản tố của mình và đề xuất quan điểm về những vấn đề cần hòa giải,
hướng giải quyết vụ án (nếu có);
d) Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, người bảo vệ
quyền và lợi ích hợp pháp của họ trình bày ý kiến của mình đối với yêu cầu của
nguyên đơn, bị đơn; trình bày yêu cầu độc lập của mình (nếu có); những căn cứ
để phản đối yêu cầu của nguyên đơn, bị đơn; những căn cứ để bảo vệ yêu cầu độc
lập của mình và đề xuất quan điểm về những vấn đề cần hòa giải, hướng giải
quyết vụ án (nếu có);
đ) Người khác tham gia phiên họp hòa giải (nếu có) phát
biểu ý kiến;
e) Sau khi các đương sự, người bảo vệ quyền và lợi ích
hợp pháp của họ trình bày hết ý kiến của mình, Thẩm phán xác định những vấn đề
các đương sự đã thống nhất, chưa thống nhất và yêu cầu các đương sự trình bày
bổ sung về những nội dung chưa rõ, chưa thống nhất;
g) Thẩm phán kết luận về những vấn đề các đương sự đã
thống nhất, chưa thống nhất.
Điều 211. Biên bản phiên họp kiểm tra việc
giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải
1. Thư ký Tòa án phải lập biên bản về kiểm tra việc giao
nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và biên bản về việc hòa giải.
2. Biên bản về kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công
khai chứng cứ phải có các nội dung chính sau đây:
a) Ngày, tháng, năm tiến hành phiên họp;
b) Địa điểm tiến hành phiên họp;
c) Thành phần tham gia phiên họp;
d) Ý kiến của các đương sự hoặc người đại diện hợp pháp
của các đương sự về các nội dung quy định tại khoản 2 Điều 210
của Bộ luật này;
đ) Các nội dung khác;
e) Quyết định của Tòa án về việc chấp nhận, không chấp
nhận các yêu cầu của đương sự.
3. Biên bản về việc hòa giải phải có các nội dung chính
sau đây:
a) Các nội dung quy định tại các điểm a, b và c khoản 2
Điều này;
b) Ý kiến của các đương sự, người bảo vệ quyền và lợi ích
hợp pháp của các đương sự;
c) Những nội dung đã được các đương sự thống nhất, không
thống nhất.
4. Biên bản phải có đầy đủ chữ ký hoặc điểm chỉ của những
người tham gia phiên họp, chữ ký của Thư ký Tòa án ghi biên bản và của Thẩm
phán chủ trì phiên họp. Những người tham gia phiên họp có quyền được xem biên
bản ngay sau khi kết thúc phiên họp, yêu cầu ghi những sửa đổi, bổ sung vào
biên bản và ký xác nhận hoặc điểm chỉ.
5. Trường hợp các đương sự thỏa thuận được với nhau về
vấn đề phải giải quyết trong vụ án dân sự thì Tòa án lập biên bản hòa giải
thành. Biên bản này được gửi ngay cho các đương sự tham gia hòa giải.
Điều 212. Ra quyết định công nhận sự thỏa
thuận của các đương sự
1. Hết thời hạn 07 ngày, kể từ ngày lập biên bản hòa giải
thành mà không có đương sự nào thay đổi ý kiến về sự thỏa thuận đó thì Thẩm
phán chủ trì phiên hòa giải hoặc một Thẩm phán được Chánh án Tòa án phân công
phải ra quyết định công nhận sự thỏa thuận của các đương sự.
Trong thời hạn 05 ngày làm việc, kể từ ngày ra quyết định
công nhận sự thỏa thuận của các đương sự, Tòa án phải gửi quyết định đó cho các
đương sự và Viện kiểm sát cùng cấp.
2. Thẩm phán chỉ ra quyết định công nhận sự thỏa thuận
của các đương sự nếu các đương sự thỏa thuận được với nhau về việc giải quyết
toàn bộ vụ án.
3. Trong trường hợp quy định tại khoản 4
Điều 210 của Bộ luật này mà các đương sự có mặt thỏa thuận được với nhau về
việc giải quyết vụ án thì thỏa thuận đó chỉ có giá trị đối với những người có
mặt và được Thẩm phán ra quyết định công nhận nếu không ảnh hưởng đến quyền,
nghĩa vụ của đương sự vắng mặt. Trường hợp thỏa thuận của họ có ảnh hưởng đến
quyền, nghĩa vụ của đương sự vắng mặt thì thỏa thuận này chỉ có giá trị và được
Thẩm phán ra quyết định công nhận nếu được đương sự vắng mặt tại phiên hòa giải
đồng ý bằng văn bản.
Điều 213. Hiệu lực của quyết định công nhận
sự thỏa thuận của các đương sự
1. Quyết định công nhận sự thỏa thuận của các đương sự có
hiệu lực pháp luật ngay sau khi được ban hành và không bị kháng cáo, kháng nghị
theo thủ tục phúc thẩm.
2. Quyết định công nhận sự thỏa thuận của các đương sự
chỉ có thể bị kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm nếu có căn cứ cho rằng sự
thỏa thuận đó là do bị nhầm lẫn, lừa dối, đe dọa, cưỡng ép hoặc vi phạm điều
cấm của luật, trái đạo đức xã hội.
Điều 214. Tạm đình chỉ giải quyết vụ án dân
sự
1. Tòa án ra quyết định tạm đình chỉ giải quyết vụ án dân
sự khi có một trong các căn cứ sau đây:
a) Đương sự là cá nhân đã chết, cơ quan, tổ chức đã hợp
nhất, sáp nhập, chia, tách, giải thể mà chưa có cơ quan, tổ chức, cá nhân kế
thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng của cơ quan, tổ chức, cá nhân đó;
b) Đương sự là cá nhân mất năng lực hành vi dân sự, người
chưa thành niên mà chưa xác định được người đại diện theo pháp luật;
c) Chấm dứt đại diện hợp pháp của đương sự mà chưa có
người thay thế;
d) Cần đợi kết quả giải quyết vụ án khác có liên quan
hoặc sự việc được pháp luật quy định là phải do cơ quan, tổ chức khác giải
quyết trước mới giải quyết được vụ án;
đ) Cần đợi kết quả thực hiện ủy thác tư pháp, ủy thác thu
thập chứng cứ hoặc đợi cơ quan, tổ chức cung cấp tài liệu, chứng cứ theo yêu
cầu của Tòa án mới giải quyết được vụ án;
e) Cần đợi kết quả xử lý văn bản quy phạm pháp luật có
liên quan đến việc giải quyết vụ án có dấu hiệu trái với Hiến pháp, luật, nghị
quyết của Quốc hội, pháp lệnh, nghị quyết của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, văn
bản quy phạm pháp luật của cơ quan nhà nước cấp trên mà Tòa án đã có văn bản
kiến nghị cơ quan nhà nước có thẩm quyền xem xét sửa đổi, bổ sung hoặc bãi bỏ;
g) Theo quy định tại Điều 41 của Luật Phá sản;
h) Các trường hợp khác theo quy định của pháp luật.
2. Trong thời hạn 03 ngày làm việc, kể từ ngày ra quyết
định tạm đình chỉ giải quyết vụ án dân sự, Tòa án phải gửi quyết định đó cho
đương sự, cơ quan, tổ chức, cá nhân khởi kiện và Viện kiểm sát cùng cấp.
Điều 215. Hậu quả của việc tạm đình chỉ giải
quyết vụ án dân sự
1. Tòa án không xóa tên vụ án dân sự bị tạm đình chỉ giải
quyết trong sổ thụ lý mà chỉ ghi chú vào sổ thụ lý số và ngày, tháng, năm của
quyết định tạm đình chỉ giải quyết vụ án dân sự đó.
2. Tiền tạm ứng án phí, lệ phí mà đương sự đã nộp được
gửi tại kho bạc nhà nước và được xử lý khi Tòa án tiếp tục giải quyết vụ án dân
sự.
3. Trường hợp tạm đình chỉ theo quy định tại điểm e khoản 1 Điều 214 của Bộ luật này thì trước khi tạm
đình chỉ, Chánh án Tòa án đang giải quyết vụ án phải có văn bản đề nghị Chánh
án Tòa án nhân dân tối cao kiến nghị cơ quan nhà nước có thẩm quyền xem xét sửa
đổi, bổ sung hoặc bãi bỏ văn bản quy phạm pháp luật có dấu hiệu trái với Hiến
pháp, luật, nghị quyết của Quốc hội, pháp lệnh, nghị quyết của Ủy ban Thường vụ
Quốc hội, văn bản quy phạm pháp luật của cơ quan nhà nước cấp trên theo quy
định tại Điều 221 của Bộ luật này.
Trong thời hạn 01 tháng, kể từ ngày nhận được văn bản
kiến nghị của Tòa án, cơ quan có thẩm quyền phải có văn bản trả lời. Hết thời
hạn này mà cơ quan có thẩm quyền không có văn bản trả lời thì Tòa án tiếp tục
giải quyết vụ án theo thủ tục chung.
4. Trong thời gian tạm đình chỉ giải quyết vụ án, Thẩm
phán được phân công giải quyết vụ án vẫn phải có trách nhiệm về việc giải quyết
vụ án.
Sau khi có quyết định tạm đình chỉ giải quyết vụ án quy
định tại khoản 1 Điều 214 của Bộ luật này, Thẩm phán được
phân công giải quyết vụ án có trách nhiệm theo dõi, đôn đốc cơ quan, tổ chức,
cá nhân nhằm khắc phục trong thời gian ngắn nhất những lý do dẫn tới vụ án bị
tạm đình chỉ để kịp thời đưa vụ án ra giải quyết.
5. Quyết định tạm đình chỉ giải quyết vụ án dân sự có thể
bị kháng cáo, kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm.
Điều 216. Quyết định tiếp tục giải quyết vụ
án dân sự
Trong thời hạn 03 ngày làm việc, kể từ ngày lý do tạm
đình chỉ giải quyết vụ án quy định tại Điều 214 của Bộ luật
này không còn thì Tòa án phải ra quyết định tiếp tục giải quyết vụ án dân
sự và gửi quyết định đó cho đương sự, cơ quan, tổ chức, cá nhân khởi
kiện, Viện kiểm sát cùng cấp.
Quyết định tạm đình chỉ giải quyết vụ án dân sự hết hiệu
lực kể từ ngày ban hành quyết định tiếp tục giải quyết vụ án dân sự. Tòa án
tiếp tục giải quyết vụ án kể từ khi ban hành quyết định tiếp tục giải quyết vụ
án dân sự.
Điều 217. Đình chỉ giải quyết vụ án dân sự
1. Sau khi thụ lý vụ án thuộc thẩm quyền của mình, Tòa án
ra quyết định đình chỉ giải quyết vụ án dân sự trong các trường hợp sau đây:
a) Nguyên đơn hoặc bị đơn là cá nhân đã chết mà quyền,
nghĩa vụ của họ không được thừa kế;
b) Cơ quan, tổ chức đã bị giải thể, phá sản mà không có
cơ quan, tổ chức, cá nhân nào kế thừa quyền, nghĩa vụ tố tụng của cơ quan, tổ
chức đó;
c) Người khởi kiện rút toàn bộ yêu cầu khởi kiện hoặc
nguyên đơn đã được triệu tập hợp lệ lần thứ hai mà vẫn vắng mặt, trừ trường hợp
họ đề nghị xét xử vắng mặt hoặc vì sự kiện bất khả kháng, trở ngại khách quan;
d) Đã có quyết định của Tòa án mở thủ tục phá sản đối với
doanh nghiệp, hợp tác xã là một bên đương sự trong vụ án mà việc giải quyết vụ
án có liên quan đến nghĩa vụ, tài sản của doanh nghiệp, hợp tác xã đó;
đ) Nguyên đơn không nộp tiền tạm ứng chi phí định giá tài
sản và chi phí tố tụng khác theo quy định của Bộ luật này.
Trường hợp bị đơn có yêu cầu phản tố, người có quyền lợi,
nghĩa vụ liên quan có yêu cầu độc lập không nộp tiền tạm ứng chi phí định giá
tài sản và chi phí tố tụng khác theo quy định của Bộ luật này thì Tòa án đình
chỉ việc giải quyết yêu cầu phản tố của bị đơn, yêu cầu độc lập của người có
quyền lợi, nghĩa vụ liên quan;
e) Đương sự có yêu cầu áp dụng thời hiệu trước khi Tòa án
cấp sơ thẩm ra bản án, quyết định giải quyết vụ án và thời hiệu khởi
kiện đã hết;
g) Các trường hợp quy định tại khoản 1
Điều 192 của Bộ luật này mà Tòa án đã thụ lý;
h) Các trường hợp khác theo quy định của pháp luật.
2. Trường hợp nguyên đơn rút toàn bộ yêu cầu khởi kiện
hoặc đã được triệu tập hợp lệ lần thứ hai mà vẫn vắng mặt không có lý do chính
đáng, không đề nghị xét xử vắng mặt và trong vụ án đó có bị đơn yêu cầu phản
tố, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có yêu cầu độc lập thì giải quyết
như sau:
a) Bị đơn rút toàn bộ yêu cầu phản tố, người có quyền
lợi, nghĩa vụ liên quan rút toàn bộ yêu cầu độc lập thì Tòa án ra quyết định
đình chỉ giải quyết vụ án;
b) Bị đơn không rút hoặc chỉ rút một phần yêu cầu phản tố
thì Tòa án ra quyết định đình chỉ giải quyết đối với yêu cầu khởi kiện của
nguyên đơn; bị đơn trở thành nguyên đơn, nguyên đơn trở thành bị đơn;
c) Bị đơn rút toàn bộ yêu cầu phản tố, người có quyền lợi
và nghĩa vụ liên quan không rút hoặc chỉ rút một phần yêu cần độc lập thì Tòa
án ra quyết định đình chỉ giải quyết đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn,
yêu cầu phản tố của bị đơn; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trở thành
nguyên đơn, người nào bị khởi kiện theo yêu cầu độc lập trở thành bị đơn.
3. Tòa án ra quyết định đình chỉ giải quyết vụ án dân sự,
xóa tên vụ án đó trong sổ thụ lý và trả lại đơn khởi kiện, tài liệu, chứng cứ
kèm theo cho đương sự nếu có yêu cầu; trong trường hợp này, Tòa án phải sao
chụp và lưu lại để làm cơ sở giải quyết khiếu nại, kiến nghị khi có yêu cầu.
Trong thời hạn 03 ngày làm việc, kể từ ngày ra quyết định
đình chỉ giải quyết vụ án dân sự, Tòa án phải gửi quyết định đó cho đương sự,
cơ quan, tổ chức, cá nhân khởi kiện và Viện kiểm sát cùng cấp.
4. Đối với vụ án được xét xử lại theo thủ tục sơ thẩm sau
khi có quyết định giám đốc thẩm, tái thẩm mà Tòa án quyết định đình chỉ việc
giải quyết vụ án thì Tòa án đồng thời phải giải quyết hậu quả của việc thi hành
án, các vấn đề khác có liên quan (nếu có); trường hợp nguyên đơn rút đơn khởi
kiện hoặc đã được triệu tập hợp lệ lần thứ hai mà vẫn vắng mặt thì việc đình
chỉ giải quyết vụ án phải có sự đồng ý của bị đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ
liên quan.
Điều 218. Hậu quả của việc đình chỉ giải
quyết vụ án dân sự
1. Khi có quyết định đình chỉ giải quyết vụ án dân sự,
đương sự không có quyền khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết lại vụ án dân sự
đó, nếu việc khởi kiện vụ án sau không có gì khác với vụ án trước về nguyên
đơn, bị đơn và quan hệ pháp luật có tranh chấp, trừ trường hợp quy định tại khoản 3 Điều 192, điểm c khoản 1 Điều 217 của Bộ luật này và
các trường hợp khác theo quy định của pháp luật.
2. Trường hợp Tòa án ra quyết định đình chỉ giải quyết vụ
án dân sự theo quy định tại điểm a và điểm b khoản 1 Điều 217
hoặc vì lý do nguyên đơn đã được triệu tập hợp lệ lần thứ hai mà vẫn vắng mặt
quy định tại điểm c khoản 1 Điều 217 của Bộ luật này thì
tiền tạm ứng án phí mà đương sự đã nộp được sung vào công quỹ nhà nước.
3. Trường hợp Tòa án ra quyết định đình chỉ giải quyết vụ
án dân sự do người khởi kiện rút toàn bộ yêu cầu khởi kiện quy định tại điểm c và trường hợp khác quy định tại các điểm
d, đ, e và g khoản 1 Điều 217 của Bộ luật này thì tiền tạm ứng án phí mà
đương sự đã nộp được trả lại cho họ.
4. Quyết định đình chỉ giải quyết vụ án dân sự có thể bị
kháng cáo, kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm.
1. Trước khi mở phiên tòa, Thẩm phán được phân công giải
quyết vụ án dân sự có thẩm quyền ra quyết định tạm đình chỉ giải quyết vụ án
dân sự, quyết định tiếp tục giải quyết vụ án dân sự, quyết định đình chỉ giải
quyết vụ án dân sự.
2. Tại phiên tòa, Hội đồng xét xử có thẩm quyền ra quyết
định tạm đình chỉ giải quyết vụ án dân sự, quyết định tiếp tục giải quyết vụ án
dân sự, quyết định đình chỉ giải quyết vụ án dân sự.
Điều 220. Quyết định đưa vụ án ra xét xử
1. Quyết định đưa vụ án ra xét xử phải có các nội dung
chính sau đây:
a) Ngày, tháng, năm ra quyết định;
b) Tên Tòa án ra quyết định;
c) Vụ án được đưa ra xét xử;
d) Tên, địa chỉ của nguyên đơn, bị đơn hoặc cơ quan, tổ
chức, cá nhân khởi kiện quy định tại Điều 187 của Bộ luật này,
người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan;
đ) Họ, tên Thẩm phán, Hội thẩm nhân dân, Thư ký Tòa án;
họ, tên Thẩm phán, Hội thẩm nhân dân dự khuyết (nếu có);
e) Họ, tên Kiểm sát viên tham gia phiên tòa; họ, tên Kiểm
sát viên dự khuyết (nếu có);
g) Ngày, giờ, tháng, năm, địa điểm mở phiên tòa;
h) Xét xử công khai hoặc xét xử kín;
i) Họ, tên người được triệu tập tham gia phiên tòa.
2. Quyết định đưa vụ án ra xét xử phải được gửi cho đương
sự và Viện kiểm sát cùng cấp trong thời hạn 03 ngày làm việc, kể từ ngày ra
quyết định.
Trường hợp Viện kiểm sát tham gia phiên tòa theo quy định
tại khoản 2 Điều 21 của Bộ luật này thì Tòa án phải gửi hồ
sơ vụ án cùng quyết định đưa vụ án ra xét xử cho Viện kiểm sát cùng cấp; trong
thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được hồ sơ, Viện kiểm sát phải nghiên cứu và
trả lại hồ sơ cho Tòa án.
Điều 221. Phát hiện và kiến nghị sửa đổi, bổ
sung hoặc hủy bỏ văn bản quy phạm pháp luật
1. Trong quá trình giải quyết vụ án dân sự, nếu phát hiện
văn bản quy phạm pháp luật liên quan đến việc giải quyết vụ án dân sự có dấu
hiệu trái với Hiến pháp, luật, nghị quyết của Quốc hội, pháp lệnh, nghị quyết
của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, văn bản quy phạm pháp luật của cơ quan nhà nước
cấp trên thì Tòa án thực hiện như sau:
a) Trường hợp chưa có quyết định đưa vụ án ra xét xử thì
Thẩm phán được phân công giải quyết vụ án báo cáo và đề nghị Chánh án Tòa án
đang giải quyết vụ án có văn bản đề nghị Chánh án Tòa án nhân dân tối cao kiến
nghị cơ quan nhà nước có thẩm quyền xem xét sửa đổi, bổ sung hoặc bãi bỏ văn
bản quy phạm pháp luật;
b) Trường hợp đã có quyết định đưa vụ án ra xét xử hoặc
vụ án đang được xem xét tại phiên tòa hoặc đang được xét xử theo thủ tục giám
đốc thẩm, tái thẩm thì Hội đồng xét xử tạm ngừng phiên tòa theo quy định tại điểm e khoản 1 Điều 259 của Bộ luật này và báo
cáo Chánh án Tòa án đang giải quyết vụ án có văn bản đề nghị Chánh án Tòa án
nhân dân tối cao kiến nghị cơ quan nhà nước có thẩm quyền xem xét sửa đổi, bổ
sung hoặc bãi bỏ văn bản quy phạm pháp luật.
2. Trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được văn bản
đề nghị của Chánh án Tòa án cấp dưới thì Chánh án Tòa án nhân dân tối cao phải
xem xét và xử lý như sau:
a) Trường hợp đề nghị có căn cứ thì phải ra văn bản kiến
nghị gửi cơ quan nhà nước có thẩm quyền sửa đổi, bổ sung hoặc bãi bỏ văn bản
quy phạm pháp luật và thông báo cho Tòa án đã đề nghị để ra quyết định tạm đình
chỉ giải quyết vụ án;
b) Trường hợp đề nghị không có căn cứ thì phải ra văn bản
trả lời cho Tòa án đã đề nghị để tiếp tục giải quyết vụ án theo đúng quy định
của pháp luật.
3. Cơ quan nhận được kiến nghị của Tòa án về việc sửa
đổi, bổ sung hoặc bãi bỏ văn bản quy phạm pháp luật có trách nhiệm giải quyết
như sau:
a) Đối với văn bản quy phạm pháp luật quy định chi tiết,
hướng dẫn thi hành Hiến pháp, luật, nghị quyết của Quốc hội, pháp lệnh, nghị
quyết của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, văn bản quy phạm pháp luật của cơ quan nhà
nước cấp trên bị kiến nghị xem xét thì trong thời hạn 01 tháng, kể từ ngày nhận
được kiến nghị của Chánh án Tòa án nhân dân tối cao, cơ quan đã ban hành văn
bản đó phải xem xét và trả lời bằng văn bản cho Tòa án nhân dân tối cao; nếu
quá thời hạn này mà không nhận được văn bản trả lời thì Tòa án áp dụng văn bản
có hiệu lực cao hơn để giải quyết vụ án;
b) Trường hợp kiến nghị xem xét sửa đổi, bổ sung hoặc bãi
bỏ văn bản quy phạm pháp luật là luật, nghị quyết của Quốc hội, pháp lệnh, nghị
quyết của Ủy ban Thường vụ của Quốc hội thì thực hiện theo quy định của Luật
Ban hành văn bản quy phạm pháp luật.
Mục 1. QUY ĐỊNH CHUNG VỀ PHIÊN TÒA SƠ THẨM
Điều 222. Yêu cầu chung đối với phiên tòa sơ
thẩm
Phiên tòa sơ thẩm phải được tiến hành đúng thời gian, địa
điểm đã được ghi trong quyết định đưa vụ án ra xét xử hoặc trong giấy báo mở
lại phiên tòa trong trường hợp phải hoãn phiên tòa.
Điều 223. Địa điểm tổ chức phiên tòa
Phiên tòa được tổ chức tại trụ sở Tòa án hoặc có thể
ngoài trụ sở Tòa án nhưng phải bảo đảm tính trang nghiêm và hình thức phòng xử
án quy định tại Điều 224 của Bộ luật này.
Điều 224. Hình thức bố trí phòng xử án
1. Quốc huy nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam được
treo chính giữa phía trên phòng xử án và phía trên chỗ ngồi của Hội đồng xét
xử.
2. Phòng xử án phải có các khu vực được bố trí riêng cho
Hội đồng xét xử, Kiểm sát viên, Thư ký Tòa án, đương sự, người bảo vệ quyền và
lợi ích hợp pháp của đương sự, những người tham gia tố tụng khác và người tham
dự phiên tòa.
Điều 225. Xét xử trực tiếp, bằng lời nói
1. Tòa án phải trực tiếp xác định những tình tiết của vụ
án bằng cách nghe lời trình bày của nguyên đơn, bị đơn, người có quyền lợi,
nghĩa vụ liên quan đến vụ án, người đại diện hợp pháp, người bảo vệ quyền và
lợi ích hợp pháp của đương sự và những người tham gia tố tụng khác, cơ quan, tổ
chức được mời tham dự phiên tòa; hỏi và nghe trả lời câu hỏi; xem xét, kiểm tra
tài liệu, chứng cứ đã thu thập được; điều hành và nghe tranh luận giữa các
đương sự; nghe Kiểm sát viên phát biểu ý kiến của Viện kiểm sát.
2. Việc xét xử phải bằng lời nói và được tiến hành tại
phòng xử án.
Điều 226. Thay thế thành viên Hội đồng xét xử
trong trường hợp đặc biệt
1. Trường hợp có Thẩm phán, Hội thẩm nhân dân không thể
tiếp tục tham gia xét xử vụ án nhưng có Thẩm phán, Hội thẩm nhân dân dự khuyết
thì những người này được tham gia xét xử tiếp vụ án nếu họ có mặt tại phiên tòa
từ đầu.
Trường hợp Hội đồng xét xử có hai Thẩm phán mà Thẩm phán
chủ tọa phiên tòa không thể tiếp tục tham gia xét xử vụ án thì Thẩm phán là
thành viên Hội đồng xét xử làm chủ tọa phiên tòa và Thẩm phán dự khuyết được bổ
sung làm thành viên Hội đồng xét xử.
2. Trường hợp không có Thẩm phán hoặc Hội thẩm nhân dân
dự khuyết để thay thế thành viên Hội đồng xét xử hoặc phải thay đổi Thẩm phán
chủ tọa phiên tòa mà không có Thẩm phán để thay thế theo quy định tại khoản 1
Điều này thì vụ án phải được xét xử lại từ đầu.
1. Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ nhất, đương sự hoặc
người đại diện của họ, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự phải
có mặt tại phiên tòa; nếu có người vắng mặt thì Hội đồng xét xử phải hoãn phiên
tòa, trừ trường hợp người đó có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.
Tòa án phải thông báo cho đương sự, người đại diện, người
bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự về việc hoãn phiên tòa.
2. Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai, đương sự hoặc
người đại diện của họ, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự phải
có mặt tại phiên tòa, trừ trường hợp họ có đơn đề nghị xét xử vắng mặt; nếu
vắng mặt vì sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan thì Tòa án có thể
hoãn phiên tòa, nếu không vì sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan thì
xử lý như sau:
a) Nguyên đơn vắng mặt mà không có người đại diện tham
gia phiên tòa thì bị coi là từ bỏ việc khởi kiện và Tòa án ra quyết định đình
chỉ giải quyết vụ án đối với yêu cầu khởi kiện của người đó, trừ trường hợp
người đó có đơn đề nghị xét xử vắng mặt. Nguyên đơn có quyền khởi kiện lại theo
quy định của pháp luật;
b) Bị đơn không có yêu cầu phản tố, người có quyền lợi,
nghĩa vụ liên quan không có yêu cầu độc lập vắng mặt mà không có người đại diện
tham gia phiên tòa thì Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt họ;
c) Bị đơn có yêu cầu phản tố vắng mặt mà không có người
đại diện tham gia phiên tòa thì bị coi là từ bỏ yêu cầu phản tố và Tòa án quyết
định đình chỉ giải quyết đối với yêu cầu phản tố, trừ trường hợp bị đơn có đơn
đề nghị xét xử vắng mặt. Bị đơn có quyền khởi kiện lại đối với yêu cầu phản tố
đó theo quy định của pháp luật;
d) Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có yêu cầu độc
lập vắng mặt mà không có người đại diện tham gia phiên tòa thì bị coi là từ bỏ
yêu cầu độc lập và Tòa án quyết định đình chỉ giải quyết đối với yêu cầu độc
lập của người đó, trừ trường hợp người đó có đơn đề nghị xét xử vắng mặt. Người
có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có yêu cầu độc lập có quyền khởi kiện lại đối
với yêu cầu độc lập đó theo quy định của pháp luật;
đ) Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự
vắng mặt thì Tòa án vẫn tiến hành xét xử vắng mặt họ.
Tòa án vẫn tiến hành xét xử vụ án trong các trường hợp
sau đây:
1. Nguyên đơn, bị đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên
quan và người đại diện của họ vắng mặt tại phiên tòa có đơn đề nghị Tòa án xét
xử vắng mặt;
2. Nguyên đơn, bị đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên
quan vắng mặt tại phiên tòa nhưng có người đại diện tham gia phiên tòa;
3. Các trường hợp quy định tại các điểm
b, c, d và đ khoản 2 Điều 227 của Bộ luật này.
Điều 229. Sự có mặt của người làm chứng
1. Người làm chứng có nghĩa vụ tham gia phiên tòa theo
giấy triệu tập của Tòa án.
2. Trường hợp người làm chứng vắng mặt thì Hội đồng xét
xử quyết định vẫn tiến hành xét xử hoặc hoãn phiên tòa.
Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử trong trường hợp
người làm chứng vắng mặt nhưng trước đó họ đã có lời khai trực tiếp với Tòa án
hoặc gửi lời khai cho Tòa án. Chủ tọa phiên tòa công bố lời khai đó.
Hội đồng xét xử quyết định hoãn phiên tòa nếu việc vắng
mặt của người làm chứng tại phiên tòa gây khó khăn, ảnh hưởng đến việc giải
quyết khách quan, toàn diện vụ án.
3. Người làm chứng vắng mặt tại phiên tòa không có lý do
chính đáng và việc vắng mặt của họ gây cản trở cho việc xét xử thì có thể bị
dẫn giải đến phiên tòa theo quyết định của Hội đồng xét xử, trừ trường hợp
người làm chứng là người chưa thành niên.
Điều 230. Sự có mặt của người giám định
1. Người giám định có nghĩa vụ tham gia phiên tòa theo
giấy triệu tập của Tòa án để giải thích, trả lời những vấn đề liên quan đến
việc giám định và kết luận giám định.
2. Trường hợp người giám định vắng mặt thì Hội đồng xét
xử quyết định vẫn tiến hành xét xử hoặc hoãn phiên tòa.
Điều 231. Sự có mặt của người phiên dịch
1. Người phiên dịch có nghĩa vụ tham gia phiên tòa theo
giấy triệu tập của Tòa án.
2. Trường hợp người phiên dịch vắng mặt mà không có người
khác thay thế thì Hội đồng xét xử quyết định hoãn phiên tòa.
Điều 232. Sự có mặt của Kiểm sát viên
1. Kiểm sát viên được Viện trưởng Viện kiểm sát cùng cấp
phân công có nhiệm vụ tham gia phiên tòa; nếu Kiểm sát viên vắng mặt thì Hội
đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử, không hoãn phiên tòa.
2. Trường hợp Kiểm sát viên bị thay đổi tại phiên tòa
hoặc không thể tiếp tục tham gia phiên tòa xét xử, nhưng có Kiểm sát viên dự
khuyết thì người này được tham gia phiên tòa xét xử tiếp vụ án nếu họ có mặt
tại phiên tòa từ đầu.
Điều 233. Thời hạn hoãn phiên tòa và quyết
định hoãn phiên tòa
1. Hội đồng xét xử quyết định hoãn phiên tòa trong các
trường hợp quy định tại khoản 2 Điều 56, khoản 2 Điều 62,
khoản 2 Điều 84, Điều 227, khoản 2 Điều 229, khoản 2 Điều
230, khoản 2 Điều 231 và Điều 241 của Bộ luật này.
Thời hạn hoãn phiên tòa là không quá 01 tháng, đối với phiên tòa xét xử vụ án
theo thủ tục rút gọn là không quá 15 ngày, kể từ ngày ra quyết định hoãn phiên
tòa.
2. Quyết định hoãn phiên tòa phải có các nội dung chính
sau đây:
a) Ngày, tháng, năm ra quyết định;
b) Tên Tòa án và họ, tên những người tiến hành tố tụng;
c) Vụ án được đưa ra xét xử;
d) Lý do của việc hoãn phiên tòa;
đ) Thời gian, địa điểm mở lại phiên tòa.
3. Quyết định hoãn phiên tòa phải được chủ tọa phiên tòa
thay mặt Hội đồng xét xử ký tên và thông báo công khai tại phiên tòa; đối với
người vắng mặt thì Tòa án gửi ngay cho họ quyết định đó, đồng thời gửi cho Viện
kiểm sát cùng cấp.
4. Trường hợp sau khi hoãn phiên tòa mà Tòa án không thể
mở lại phiên tòa đúng thời gian, địa điểm mở lại phiên tòa ghi trong quyết định
hoãn phiên tòa thì Tòa án phải thông báo ngay cho Viện kiểm sát cùng cấp và
những người tham gia tố tụng về thời gian, địa điểm mở lại phiên tòa.
1. Khi vào phòng xử án, mọi người đều phải chấp hành việc
kiểm tra an ninh của lực lượng có trách nhiệm bảo vệ phiên tòa.
2. Nghiêm cấm mang vào phòng xử án vũ khí, hung khí, chất
nổ, chất cháy, chất độc, chất phóng xạ, đồ vật cấm lưu hành, truyền đơn, khẩu
hiệu và tài liệu, đồ vật khác ảnh hưởng đến sự tôn nghiêm của phiên tòa, trừ
vật chứng của vụ án phục vụ cho công tác xét xử hoặc vũ khí, công cụ hỗ trợ
được người có thẩm quyền mang theo để làm nhiệm vụ bảo vệ phiên tòa.
3. Người tham gia phiên tòa theo yêu cầu của Tòa án phải
xuất trình giấy triệu tập, giấy mời, các giấy tờ có liên quan khác cho Thư ký
phiên tòa tại bàn thư ký chậm nhất là 15 phút trước giờ khai mạc phiên tòa và
ngồi đúng vị trí trong phòng xử án theo hướng dẫn của Thư ký phiên tòa; trường
hợp đến muộn thì phải xuất trình giấy triệu tập, giấy mời, các giấy tờ có liên
quan khác cho Thư ký phiên tòa thông qua lực lượng làm nhiệm vụ bảo vệ phiên
tòa.
4.[11] (được bãi bỏ)
5. Mọi người tham dự phiên tòa phải có trang phục nghiêm
chỉnh; có thái độ tôn trọng Hội đồng xét xử, giữ trật tự và tuân theo sự điều
khiển của chủ tọa phiên tòa.
6. Không đội mũ, nón, đeo kính màu trong phòng xử án, trừ
trường hợp có lý do chính đáng và được sự đồng ý của chủ tọa phiên tòa; không
sử dụng điện thoại di động, không hút thuốc, không ăn uống trong phòng xử án
hoặc có hành vi khác ảnh hưởng đến sự tôn nghiêm của phiên tòa.
7. Người tham gia phiên tòa theo yêu cầu của Tòa án phải
có mặt tại phiên tòa trong suốt thời gian xét xử vụ án, trừ trường hợp được chủ
tọa phiên tòa đồng ý cho rời khỏi phòng xử án khi có lý do chính đáng.
Người dưới mười sáu tuổi không được vào phòng xử án, trừ
trường hợp được Tòa án triệu tập tham gia phiên tòa.
8. Mọi người trong phòng xử án phải đứng dậy khi Hội đồng
xét xử vào phòng xử án và khi tuyên án, trừ trường hợp đặc biệt được sự đồng ý
của chủ tọa phiên tòa.
9. Chỉ những người được Hội đồng xét xử đồng ý mới được
hỏi, trả lời hoặc phát biểu. Người hỏi, trả lời hoặc phát biểu phải đứng dậy,
trừ trường hợp vì lý do sức khỏe được chủ tọa phiên tòa đồng ý cho ngồi để hỏi,
trả lời, phát biểu.
Điều 235. Thủ tục ra bản án và quyết định của
Tòa án tại phiên tòa
1. Bản án phải được Hội đồng xét xử thảo luận và thông
qua tại phòng nghị án.
2. Quyết định thay đổi người tiến hành tố tụng, người
giám định, người phiên dịch, chuyển vụ án, tạm đình chỉ hoặc đình chỉ giải
quyết vụ án, hoãn phiên tòa, quyết định công nhận sự thỏa thuận của các đương
sự, tạm ngừng phiên tòa phải được Hội đồng xét xử thảo luận, thông qua tại
phòng nghị án và lập thành văn bản.
3. Quyết định về các vấn đề khác được Hội đồng xét xử
thảo luận và thông qua tại phòng xử án, không phải lập thành văn bản nhưng phải
được ghi vào biên bản phiên tòa.
1. Biên bản phiên tòa phải ghi đầy đủ các nội dung sau
đây:
a) Các nội dung chính trong quyết định đưa vụ án ra xét
xử quy định tại khoản 1 Điều 220 của Bộ luật này;
b) Mọi diễn biến tại phiên tòa từ khi bắt đầu cho đến khi
kết thúc phiên tòa;
c) Các câu hỏi, câu trả lời và phát biểu tại phiên tòa.
2. Ngoài việc ghi biên bản phiên tòa, Hội đồng xét xử có
thể thực hiện việc ghi âm, ghi hình về diễn biến phiên tòa.
3. Sau khi kết thúc phiên tòa, chủ toạ phiên tòa phải
kiểm tra biên bản và cùng với Thư ký phiên tòa ký biên bản đó.
4. Kiểm sát viên và những người tham gia tố tụng có quyền
được xem biên bản phiên tòa ngay sau khi kết thúc phiên tòa, yêu cầu ghi những
sửa đổi, bổ sung vào biên bản phiên tòa và ký xác nhận.
Điều 237. Chuẩn bị khai mạc phiên tòa
Trước khi khai mạc phiên tòa, Thư ký phiên tòa phải tiến
hành các công việc sau đây:
1. Phổ biến nội quy phiên tòa.
2. Kiểm tra, xác định sự có mặt, vắng mặt của những người
tham gia phiên tòa theo giấy triệu tập, giấy báo của Tòa án; nếu có người vắng
mặt thì phải làm rõ lý do.
3. Ổn định trật tự trong phòng xử án.
4. Yêu cầu mọi người trong phòng xử án đứng dậy khi Hội
đồng xét xử vào phòng xử án.
Điều 238. Thủ tục xét xử vắng mặt tất cả
những người tham gia tố tụng
1. Tòa án căn cứ vào tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ để
xét xử vắng mặt đương sự, người tham gia tố tụng khác theo quy định của pháp
luật khi có đủ các điều kiện sau đây:
a) Nguyên đơn, người đại diện hợp pháp của nguyên đơn có
đơn đề nghị xét xử vắng mặt;
b) Bị đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan; người
đại diện hợp pháp của bị đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có đơn đề
nghị xét xử vắng mặt hoặc đã được triệu tập hợp lệ lần thứ hai mà vẫn vắng mặt;
c) Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn,
bị đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có đơn đề nghị xét xử vắng mặt
hoặc đã được triệu tập hợp lệ lần thứ hai mà vẫn vắng mặt.
2. Chủ tọa phiên tòa công bố lý do đương sự vắng mặt hoặc
đơn của đương sự đề nghị Hội đồng xét xử vắng mặt.
3. Chủ tọa phiên tòa công bố tóm tắt nội dung vụ án và
tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án. Hội đồng xét xử thảo luận về những vấn
đề cần giải quyết trong vụ án.
4. Kiểm sát viên phát biểu ý kiến của Viện kiểm sát.
5. Hội đồng xét xử tiến hành nghị án và tuyên án theo quy
định của Bộ luật này.
Mục 2. THỦ TỤC BẮT ĐẦU PHIÊN TÒA
1. Chủ tọa phiên tòa khai mạc phiên tòa và đọc quyết định
đưa vụ án ra xét xử.
2. Thư ký phiên tòa báo cáo Hội đồng xét xử về sự có mặt,
vắng mặt của những người tham gia phiên tòa theo giấy triệu tập, giấy báo của
Tòa án và lý do vắng mặt.
3. Chủ tọa phiên tòa kiểm tra lại sự có mặt của những
người tham gia phiên tòa theo giấy triệu tập, giấy báo của Tòa án và kiểm tra
căn cước của đương sự, người tham gia tố tụng khác.
4. Chủ tọa phiên tòa phổ biến quyền, nghĩa vụ của đương
sự và của người tham gia tố tụng khác.
5. Chủ tọa phiên tòa giới thiệu họ, tên những người tiến
hành tố tụng, người giám định, người phiên dịch.
6. Chủ tọa phiên tòa hỏi những người có quyền yêu cầu
thay đổi người tiến hành tố tụng, người giám định, người phiên dịch xem
họ có yêu cầu thay đổi ai không.
7. Yêu cầu người làm chứng cam kết khai báo đúng sự thật,
nếu khai không đúng phải chịu trách nhiệm trước pháp luật, trừ trường hợp người
làm chứng là người chưa thành niên.
8. Yêu cầu người giám định, người phiên dịch cam kết cung
cấp kết quả giám định chính xác, phiên dịch đúng nội dung cần phiên dịch.
Điều 240. Giải quyết yêu cầu thay đổi người
tiến hành tố tụng, người giám định, người phiên dịch
Trường hợp có người yêu cầu thay đổi người tiến hành tố
tụng, người giám định, người phiên dịch thì Hội đồng xét xử phải xem xét, quyết
định theo thủ tục do Bộ luật này quy định và có thể chấp nhận hoặc không chấp
nhận; trường hợp không chấp nhận thì phải nêu rõ lý do.
Điều 241. Xem xét, quyết định hoãn phiên tòa
khi có người vắng mặt
Khi có người tham gia tố tụng vắng mặt tại phiên tòa mà
không thuộc trường hợp Tòa án phải hoãn phiên tòa thì chủ tọa phiên tòa phải
hỏi xem có ai đề nghị hoãn phiên tòa hay không; nếu có người đề nghị thì Hội
đồng xét xử xem xét, quyết định theo thủ tục do Bộ luật này quy định và có thể
chấp nhận hoặc không chấp nhận; trường hợp không chấp nhận thì phải nêu rõ lý
do.
Điều 242. Bảo đảm tính khách quan của người
làm chứng
1. Trước khi hỏi người làm chứng về những vấn đề mà họ
biết có liên quan đến việc giải quyết vụ án, chủ toạ phiên tòa có thể quyết
định những biện pháp cần thiết để những người làm chứng không nghe được lời
khai của nhau hoặc tiếp xúc với những người có liên quan.
2. Trường hợp lời khai của đương sự và người làm chứng có
ảnh hưởng lẫn nhau thì chủ tọa phiên tòa có thể quyết định cách ly đương sự với
người làm chứng trước khi hỏi người làm chứng.
Điều 243. Hỏi đương sự về việc thay đổi, bổ
sung, rút yêu cầu
Thủ tục hỏi đương sự về việc thay đổi, bổ sung, rút yêu
cầu được bắt đầu bằng việc chủ tọa phiên tòa hỏi đương sự về các vấn đề sau
đây:
1. Hỏi nguyên đơn có thay đổi, bổ sung, rút một phần hoặc
toàn bộ yêu cầu khởi kiện hay không;
2. Hỏi bị đơn có thay đổi, bổ sung, rút một phần hoặc
toàn bộ yêu cầu phản tố hay không;
3. Hỏi người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có yêu cầu
độc lập có thay đổi, bổ sung, rút một phần hoặc toàn bộ yêu cầu độc lập hay
không.
Điều 244. Xem xét việc thay đổi, bổ sung, rút
yêu cầu
1. Hội đồng xét xử chấp nhận việc thay đổi, bổ sung yêu
cầu của đương sự nếu việc thay đổi, bổ sung yêu cầu của họ không vượt quá phạm
vi yêu cầu khởi kiện, yêu cầu phản tố hoặc yêu cầu độc lập ban đầu.
2. Trường hợp có đương sự rút một phần hoặc toàn bộ yêu
cầu của mình và việc rút yêu cầu của họ là tự nguyện thì Hội đồng xét xử chấp
nhận và đình chỉ xét xử đối với phần yêu cầu hoặc toàn bộ yêu cầu đương sự đã
rút.
Điều 245. Thay đổi địa vị tố tụng
1. Trường hợp nguyên đơn rút toàn bộ yêu cầu khởi kiện,
nhưng bị đơn vẫn giữ nguyên yêu cầu phản tố của mình thì bị đơn trở thành
nguyên đơn và nguyên đơn trở thành bị đơn.
2. Trường hợp nguyên đơn rút toàn bộ yêu cầu khởi kiện,
bị đơn rút toàn bộ yêu cầu phản tố, nhưng người có quyền lợi, nghĩa vụ liên
quan vẫn giữ nguyên yêu cầu độc lập của mình thì người có quyền lợi, nghĩa vụ
liên quan trở thành nguyên đơn, người bị khởi kiện theo yêu cầu độc lập trở
thành bị đơn.
Điều 246. Công nhận sự thỏa thuận của các
đương sự
1. Chủ tọa phiên tòa hỏi các đương sự có thỏa thuận được
với nhau về việc giải quyết vụ án hay không; trường hợp các đương sự thỏa thuận
được với nhau về việc giải quyết vụ án và thỏa thuận của họ là tự nguyện, không
vi phạm điều cấm của luật và không trái đạo đức xã hội thì Hội đồng xét xử ra
quyết định công nhận sự thỏa thuận của các đương sự về việc giải quyết vụ án.
2. Quyết định công nhận sự thỏa thuận của các đương sự về
việc giải quyết vụ án có hiệu lực pháp luật theo quy định tại Điều
213 của Bộ luật này.
Mục
3. TRANH TỤNG TẠI PHIÊN TÒA
Điều
247. Nội dung và phương thức tranh tụng tại phiên tòa
1. Tranh tụng tại phiên tòa bao gồm việc trình bày chứng
cứ, hỏi, đối đáp, trả lời và phát biểu quan điểm, lập luận về đánh giá chứng
cứ, tình tiết của vụ án dân sự, quan hệ pháp luật tranh chấp và pháp luật áp
dụng để giải quyết yêu cầu của các đương sự trong vụ án.
2. Việc tranh tụng tại phiên tòa được tiến hành theo sự
điều khiển của chủ tọa phiên tòa.
3. Chủ tọa phiên tòa không được hạn chế thời gian tranh
tụng, tạo điều kiện cho những người tham gia tranh tụng trình bày hết ý kiến
nhưng có quyền yêu cầu họ dừng trình bày những ý kiến không có liên quan đến vụ
án dân sự.
Điều 248. Trình bày của đương sự, người bảo
vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự
1. Trường hợp có đương sự vẫn giữ nguyên yêu cầu của mình
và các đương sự không tự thỏa thuận được với nhau về việc giải quyết vụ án thì
các đương sự trình bày theo trình tự sau đây:
a) Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn
trình bày về yêu cầu và chứng cứ để chứng minh cho yêu cầu của nguyên đơn là có
căn cứ và hợp pháp. Nguyên đơn có quyền bổ sung ý kiến.
Trường hợp cơ quan, tổ chức khởi kiện vụ án thì đại diện
cơ quan, tổ chức trình bày về yêu cầu và chứng cứ để chứng minh cho yêu cầu
khởi kiện là có căn cứ và hợp pháp;
b) Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị đơn
trình bày ý kiến của bị đơn đối với yêu cầu của nguyên đơn; yêu cầu phản tố, đề
nghị của bị đơn và chứng cứ để chứng minh cho yêu cầu, đề nghị đó là có căn cứ
và hợp pháp. Bị đơn có quyền bổ sung ý kiến;
c) Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người có
quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trình bày ý kiến của người có quyền lợi, nghĩa vụ
liên quan đối với yêu cầu, đề nghị của nguyên đơn, bị đơn; yêu cầu độc lập, đề
nghị của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan và chứng cứ để chứng minh cho
yêu cầu, đề nghị đó là có căn cứ và hợp pháp. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên
quan có quyền bổ sung ý kiến.
2. Trường hợp nguyên đơn, bị đơn, người có quyền lợi,
nghĩa vụ liên quan không có người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho mình thì
họ tự trình bày về yêu cầu, đề nghị của mình và chứng cứ để chứng minh cho yêu
cầu, đề nghị đó là có căn cứ và hợp pháp.
3. Tại phiên tòa, đương sự, người bảo vệ quyền và lợi ích
hợp pháp của đương sự chỉ có quyền bổ sung chứng cứ theo quy định tại khoản 4 Điều 96 của Bộ luật này để chứng minh cho yêu cầu, đề
nghị của mình.
Điều 249. Thứ tự và nguyên tắc hỏi tại phiên
tòa
1. Sau khi nghe xong lời trình bày của đương sự, người
bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự theo quy định tại Điều
248 của Bộ luật này, theo sự điều hành của chủ tọa phiên tòa, thứ tự hỏi
của từng người được thực hiện như sau:
a) Nguyên đơn, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của
nguyên đơn hỏi trước, tiếp đến bị đơn, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp
của bị đơn, sau đó là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, người bảo vệ
quyền và lợi ích hợp pháp của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan;
b) Những người tham gia tố tụng khác;
c) Chủ tọa phiên tòa, Hội thẩm nhân dân;
d) Kiểm sát viên tham gia phiên tòa.
2. Việc đặt câu hỏi phải rõ ràng, nghiêm túc, không trùng
lắp, không lợi dụng việc hỏi và trả lời để xâm phạm danh dự, nhân phẩm của
những người tham gia tố tụng.
1. Trường hợp có nhiều nguyên đơn thì phải hỏi riêng từng
nguyên đơn.
2. Chỉ hỏi nguyên đơn về những vấn đề mà người bảo vệ
quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn, nguyên đơn trình bày chưa rõ, có mâu
thuẫn với nhau hoặc mâu thuẫn với lời khai của họ trước đó, mâu thuẫn với lời
trình bày của bị đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan và người bảo vệ
quyền và lợi ích hợp pháp của những người này.
3. Nguyên đơn có thể tự mình trả lời hoặc người bảo vệ
quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn trả lời thay cho nguyên đơn và sau đó
nguyên đơn trả lời bổ sung.
1. Trường hợp có nhiều bị đơn thì phải hỏi riêng từng bị
đơn.
2. Chỉ hỏi bị đơn về những vấn đề mà người bảo vệ quyền
và lợi ích hợp pháp của bị đơn, bị đơn trình bày chưa rõ, có mâu thuẫn với nhau
hoặc mâu thuẫn với lời khai của họ trước đó, mâu thuẫn với yêu cầu, lời trình
bày của nguyên đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan và người bảo vệ
quyền và lợi ích hợp pháp của những người này.
3. Bị đơn có thể tự mình trả lời hoặc người bảo vệ quyền
và lợi ích hợp pháp của bị đơn trả lời thay cho bị đơn và sau đó bị đơn trả lời
bổ sung.
Điều 252. Hỏi người có quyền lợi, nghĩa vụ
liên quan
1. Trường hợp có nhiều người có quyền lợi, nghĩa vụ liên
quan thì phải hỏi riêng từng người một.
2. Chỉ hỏi người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan về
những vấn đề mà họ, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của họ trình bày
chưa rõ, có mâu thuẫn với nhau hoặc mâu thuẫn với lời khai của họ trước đó, mâu
thuẫn với yêu cầu, đề nghị, lời trình bày của nguyên đơn, bị đơn, người bảo vệ
quyền và lợi ích hợp pháp của những người này.
3. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có thể tự mình
trả lời hoặc người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của họ trả lời thay cho họ
và sau đó họ trả lời bổ sung.
1. Trước khi hỏi người làm chứng, chủ tọa phiên tòa phải
hỏi rõ về quan hệ giữa họ với các đương sự trong vụ án; nếu người làm chứng là
người chưa thành niên thì chủ tọa phiên tòa có thể yêu cầu cha, mẹ, người giám
hộ hoặc thầy giáo, cô giáo giúp đỡ để hỏi. Trường hợp có nhiều người làm chứng
thì phải hỏi riêng từng người một.
2. Chủ tọa phiên tòa yêu cầu người làm chứng trình bày rõ
những tình tiết của vụ án mà họ biết; sau khi người làm chứng trình bày xong
thì chỉ hỏi thêm người làm chứng về những điểm mà họ trình bày chưa rõ, chưa
đầy đủ hoặc có mâu thuẫn với nhau, mâu thuẫn với lời khai của họ trước đó, mâu
thuẫn với lời trình bày của đương sự, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp
của đương sự.
3. Sau khi đã trình bày xong, người làm chứng ở lại phòng
xử án để có thể được hỏi thêm.
4. Trong trường hợp cần thiết phải bảo đảm an toàn cho
người làm chứng và những người thân thích của họ, Hội đồng xét xử quyết định
không tiết lộ thông tin về nhân thân của người làm chứng và không để những
người trong phiên tòa nhìn thấy họ.
5. Đương sự, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của
đương sự hỏi người làm chứng sau khi được sự đồng ý của chủ tọa phiên tòa.
Điều 254. Công bố tài liệu, chứng cứ của vụ
án
1. Hội đồng xét xử công bố tài liệu, chứng cứ của vụ án
trong các trường hợp sau đây:
a) Người tham gia tố tụng không có mặt tại phiên tòa
nhưng đã có lời khai trong giai đoạn chuẩn bị xét xử;
b) Lời khai của người tham gia tố tụng tại phiên tòa mâu
thuẫn với lời khai trước đó;
c) Trong các trường hợp khác mà Hội đồng xét xử thấy cần
thiết hoặc có yêu cầu của Kiểm sát viên, đương sự, người bảo vệ quyền và lợi
ích hợp pháp của đương sự, người tham gia tố tụng khác.
2. Trường hợp đặc biệt cần giữ bí mật nhà nước, giữ gìn
thuần phong mỹ tục của dân tộc, giữ bí mật nghề nghiệp, bí mật kinh doanh, bí
mật cá nhân, bí mật gia đình, bảo vệ người chưa thành niên theo yêu cầu của
đương sự thì Hội đồng xét xử không công bố tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ
án.
Theo yêu cầu của đương sự, người bảo vệ quyền và lợi ích
hợp pháp của đương sự, người tham gia tố tụng khác, Kiểm sát viên hoặc khi xét
thấy cần thiết, Hội đồng xét xử cho nghe băng ghi âm, đĩa ghi âm, xem băng ghi
hình, đĩa ghi hình, thiết bị khác chứa âm thanh, hình ảnh tại phiên tòa, trừ
trường hợp quy định tại khoản 2 Điều 254 của Bộ luật này.
Vật chứng, ảnh hoặc biên bản xác nhận vật chứng được đưa
ra để xem xét tại phiên tòa.
Khi cần thiết, Hội đồng xét xử có thể cùng với đương sự
đến xem xét tại chỗ vật chứng không thể đưa đến phiên tòa được.
1. Chủ tọa phiên tòa yêu cầu người giám định trình bày
kết luận của mình về vấn đề được yêu cầu giám định. Khi trình bày, người giám
định có quyền giải thích về kết luận giám định, các căn cứ để đưa ra kết luận
giám định.
2. Kiểm sát viên, đương sự, người bảo vệ quyền và lợi ích
hợp pháp của đương sự, người tham gia tố tụng khác có mặt tại phiên tòa có
quyền nhận xét về kết luận giám định; hỏi những vấn đề còn chưa rõ hoặc có mâu
thuẫn trong kết luận giám định hoặc có mâu thuẫn với những tình tiết khác của
vụ án sau khi được sự đồng ý của chủ tọa phiên tòa.
3. Trường hợp người giám định không có mặt tại phiên tòa
thì chủ tọa phiên tòa công bố kết luận giám định.
4. Khi có đương sự, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp
pháp của đương sự không đồng ý với kết luận giám định được công bố tại phiên
tòa và có yêu cầu giám định bổ sung hoặc giám định lại, nếu xét thấy việc giám
định bổ sung, giám định lại là cần thiết cho việc giải quyết vụ án thì Hội đồng
xét xử quyết định giám định bổ sung, giám định lại; trong trường hợp này, Hội
đồng xét xử quyết định tạm ngừng phiên tòa theo quy định tại điểm
d khoản 1 Điều 259 của Bộ luật này.
Điều 258. Kết thúc việc hỏi tại phiên tòa
Khi nhận thấy các tình tiết của vụ án đã được xem xét đầy
đủ thì chủ tọa phiên tòa hỏi Kiểm sát viên, đương sự, người bảo vệ quyền và lợi
ích hợp pháp của đương sự và những người tham gia tố tụng khác xem họ có yêu
cầu hỏi vấn đề gì nữa không; trường hợp có người yêu cầu và xét thấy yêu cầu đó
là có căn cứ thì chủ tọa phiên tòa quyết định tiếp tục việc hỏi.
1. Trong quá trình xét xử, Hội đồng xét xử có quyền quyết
định tạm ngừng phiên tòa khi có một trong các căn cứ sau đây:
a) Do tình trạng sức khỏe hoặc do sự kiện bất khả kháng,
trở ngại khách quan khác mà người tiến hành tố tụng không thể tiếp tục tiến
hành phiên tòa, trừ trường hợp thay thế được người tiến hành tố tụng;
b) Do tình trạng sức khỏe hoặc do sự kiện bất khả kháng,
trở ngại khách quan khác mà người tham gia tố tụng không thể tiếp tục tham gia
phiên tòa, trừ trường hợp người tham gia tố tụng có yêu cầu xét xử vắng mặt;
c) Cần phải xác minh, thu thập bổ sung tài liệu, chứng cứ
mà nếu không thực hiện thì không thể giải quyết được vụ án và không thể thực
hiện được ngay tại phiên tòa;
d) Chờ kết quả giám định bổ sung, giám định lại;
đ) Các đương sự thống nhất đề nghị Tòa án tạm ngừng phiên
tòa để họ tự hòa giải;
e) Cần phải báo cáo Chánh án Tòa án để đề nghị sửa đổi,
bổ sung hoặc bãi bỏ văn bản quy phạm pháp luật theo quy định tại Điều 221 của Bộ luật này.
2. Việc tạm ngừng phiên tòa phải được ghi vào biên bản
phiên tòa. Thời hạn tạm ngừng phiên tòa là không quá 01 tháng, kể từ ngày Hội
đồng xét xử quyết định tạm ngừng phiên tòa. Hết thời hạn này, nếu lý do để
ngừng phiên tòa không còn thì Hội đồng xét xử tiếp tục tiến hành phiên tòa; nếu
lý do để ngừng phiên tòa chưa được khắc phục thì Hội đồng xét xử ra quyết định
tạm đình chỉ giải quyết vụ án dân sự. Hội đồng xét xử phải thông báo bằng văn
bản cho những người tham gia tố tụng và Viện kiểm sát cùng cấp về thời gian
tiếp tục phiên tòa.
Điều 260. Trình tự phát biểu khi tranh luận
1. Sau khi kết thúc việc hỏi, Hội đồng xét xử chuyển sang
phần tranh luận tại phiên tòa. Trình tự phát biểu khi tranh luận được thực hiện
như sau:
a) Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn
trình bày. Nguyên đơn có quyền bổ sung ý kiến. Trường hợp cơ quan, tổ chức khởi
kiện thì đại diện cơ quan, tổ chức trình bày ý kiến. Người có quyền và lợi ích
hợp pháp được bảo vệ có quyền bổ sung ý kiến;
b) Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị đơn
tranh luận, đối đáp. Bị đơn có quyền bổ sung ý kiến;
c) Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người có
quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trình bày. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan
có quyền bổ sung ý kiến;
d) Các đương sự đối đáp theo sự điều khiển của chủ tọa
phiên tòa;
đ) Khi xét thấy cần thiết, Hội đồng xét xử có thể yêu cầu
các đương sự tranh luận bổ sung về những vấn đề cụ thể để làm căn cứ giải quyết
vụ án.
2. Trường hợp nguyên đơn, bị đơn, người có quyền lợi,
nghĩa vụ liên quan không có người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp thì họ tự
mình trình bày khi tranh luận.
3. Trường hợp vắng mặt một trong các đương sự và người
tham gia tố tụng khác thì chủ tọa phiên tòa phải công bố lời khai của họ để
trên cơ sở đó các đương sự có mặt tại phiên tòa tranh luận và đối đáp.
Điều 261. Phát biểu khi tranh luận và đối đáp
Khi phát biểu về đánh giá chứng cứ, đề xuất quan điểm của
mình về việc giải quyết vụ án, người tham gia tranh luận phải căn cứ vào tài
liệu, chứng cứ đã thu thập được và đã được xem xét, kiểm tra tại phiên tòa cũng
như kết quả việc hỏi tại phiên tòa. Người tham gia tranh luận có quyền đáp lại
ý kiến của người khác.
Điều 262. Phát biểu của Kiểm sát viên
Sau khi những người tham gia tố tụng phát biểu tranh luận
và đối đáp xong, Kiểm sát viên phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố
tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và của người tham gia tố
tụng trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm
Hội đồng xét xử nghị án và phát biểu ý kiến về việc giải quyết vụ án.
Ngay sau khi kết
thúc phiên tòa, Kiểm sát viên phải gửi văn bản phát biểu ý kiến cho Tòa án để
lưu vào hồ sơ vụ án.
Điều 263. Trở lại việc hỏi và tranh luận
Qua tranh luận, nếu xét thấy có tình tiết của vụ án chưa
được xem xét, việc xem xét chưa được đầy đủ hoặc cần xem xét thêm chứng cứ thì
Hội đồng xét xử quyết định trở lại việc hỏi và tranh luận.
1. Sau khi kết thúc phần tranh luận, Hội đồng xét xử vào
phòng nghị án để nghị án.
2. Chỉ có các thành viên Hội đồng xét xử mới có quyền
nghị án. Khi nghị án, các thành viên Hội đồng xét xử phải căn cứ vào tài liệu,
chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa, kết quả tranh tụng tại phiên tòa, các
quy định của pháp luật, nếu vụ án thuộc trường hợp quy định tại khoản
2 Điều 4 của Bộ luật này thì còn phải căn cứ vào tập quán, tương tự pháp
luật, những nguyên tắc cơ bản của pháp luật dân sự, án lệ hoặc lẽ công bằng, để
giải quyết tất cả các vấn đề của vụ án bằng cách biểu quyết theo đa số về từng
vấn đề. Hội thẩm nhân dân biểu quyết trước, Thẩm phán chủ tọa phiên tòa biểu
quyết sau cùng. Người có ý kiến thiểu số có quyền trình bày ý kiến của mình
bằng văn bản và được đưa vào hồ sơ vụ án.
3. Khi nghị án phải có biên bản ghi lại các ý kiến đã
thảo luận và quyết định của Hội đồng xét xử. Biên bản nghị án phải được các
thành viên Hội đồng xét xử ký tên tại phòng nghị án trước khi tuyên án.
4. Trường hợp vụ án có nhiều tình tiết phức tạp, việc
nghị án đòi hỏi phải có thời gian dài thì Hội đồng xét xử có thể quyết định
thời gian nghị án nhưng không quá 05 ngày làm việc, kể từ khi kết thúc tranh
luận tại phiên tòa.
Hội đồng xét xử phải thông báo cho những người có mặt tại
phiên tòa và người tham gia tố tụng vắng mặt tại phiên tòa về giờ, ngày và địa
điểm tuyên án. Trường hợp Hội đồng xét xử đã thực hiện việc thông báo mà có
người tham gia tố tụng vắng mặt vào ngày, giờ và địa điểm tuyên án thì Hội đồng
xét xử vẫn tiến hành việc tuyên án theo quy định tại Điều 267
của Bộ luật này.
Điều 265. Trở lại việc hỏi và tranh luận
Qua nghị án, nếu xét thấy có tình tiết của vụ án chưa
được xem xét, việc hỏi chưa đầy đủ hoặc cần xem xét thêm chứng cứ thì Hội đồng
xét xử quyết định trở lại việc hỏi và tranh luận.
1. Tòa án ra bản án nhân danh nước Cộng hòa xã hội chủ
nghĩa Việt Nam.
2. Bản án gồm có phần mở đầu, phần nội dung vụ án và nhận
định và phần quyết định của Tòa án, cụ thể như sau:
a) Trong phần mở đầu phải ghi rõ tên Tòa án xét xử sơ
thẩm; số và ngày thụ lý vụ án; số bản án và ngày tuyên án; họ, tên của các
thành viên Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa, Kiểm sát viên, người giám định,
người phiên dịch; tên, địa chỉ của nguyên đơn, bị đơn, người có quyền lợi,
nghĩa vụ liên quan, cơ quan, tổ chức, cá nhân khởi kiện; người đại diện hợp
pháp, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự; đối tượng tranh
chấp; số, ngày, tháng, năm của quyết định đưa vụ án ra xét xử; xét xử công khai
hoặc xét xử kín; thời gian và địa điểm xét xử;
b) Trong phần nội dung vụ án và nhận định của Tòa án phải
ghi yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, yêu cầu khởi kiện của cơ quan, tổ chức,
cá nhân; yêu cầu phản tố, đề nghị của bị đơn; yêu cầu độc lập, đề nghị của
người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan.
Tòa án phải căn cứ vào tài liệu, chứng cứ đã được xem xét
tại phiên tòa, kết quả tranh tụng tại phiên tòa để phân tích, đánh giá, nhận
định đầy đủ, khách quan về các tình tiết của vụ án, những căn cứ pháp luật, nếu
vụ án thuộc trường hợp quy định tại khoản 2 Điều 4 của Bộ luật
này thì còn phải căn cứ vào tập quán, tương tự pháp luật, những nguyên tắc
cơ bản của pháp luật dân sự, án lệ hoặc lẽ công bằng, để chấp nhận hoặc không
chấp nhận yêu cầu, đề nghị của đương sự, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp
của đương sự và giải quyết các vấn đề khác có liên quan;
c) Trong phần quyết định phải ghi rõ các căn cứ pháp
luật, quyết định của Hội đồng xét xử về từng vấn đề phải giải quyết trong vụ
án, về áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời, án phí, chi phí tố tụng và quyền
kháng cáo đối với bản án; trường hợp có quyết định phải thi hành ngay thì phải
ghi rõ quyết định đó.
3. Khi xét xử lại vụ án mà bản án, quyết định đã bị hủy
một phần hoặc toàn bộ theo quyết định giám đốc thẩm, tái thẩm thì Tòa án phải
giải quyết vấn đề tài sản, nghĩa vụ đã được thi hành (nếu có) theo bản án,
quyết định có hiệu lực pháp luật nhưng bị hủy và ghi rõ trong bản án.
Hội đồng xét xử tuyên đọc bản án với sự có mặt của các
đương sự, đại diện cơ quan, tổ chức và cá nhân khởi kiện. Trường hợp đương sự
có mặt tại phiên tòa nhưng vắng mặt khi tuyên án hoặc vắng mặt trong trường hợp
quy định tại khoản 4 Điều 264 của Bộ luật này thì Hội đồng
xét xử vẫn tuyên đọc bản án.
Khi tuyên án, mọi người trong phòng xử án phải đứng dậy,
trừ trường hợp đặc biệt được sự đồng ý của chủ tọa phiên tòa. Chủ tọa phiên tòa
hoặc một thành viên khác của Hội đồng xét xử tuyên đọc bản án và có thể giải
thích thêm về việc thi hành bản án và quyền kháng cáo.
Trường hợp Tòa án xét xử kín theo quy định tại khoản 2 Điều 15 của Bộ luật này thì Hội đồng xét xử chỉ tuyên
công khai phần mở đầu và phần quyết định của bản án.
Trường hợp đương sự cần có người phiên dịch thì người
phiên dịch phải dịch lại cho họ nghe toàn bộ bản án hoặc phần mở đầu và phần
quyết định của bản án được tuyên công khai.
Điều 268. Sửa chữa, bổ sung bản án
1. Sau khi tuyên án xong thì không được sửa chữa, bổ sung
bản án, trừ trường hợp phát hiện lỗi rõ ràng về chính tả, về số liệu do nhầm
lẫn hoặc tính toán sai.
2. Trường hợp cần sửa chữa, bổ sung bản án theo quy định
tại khoản 1 Điều này thì Thẩm phán phối hợp với các Hội thẩm nhân dân là thành
viên Hội đồng xét xử đã tuyên bản án đó phải ra quyết định sửa chữa, bổ sung
bản án và gửi ngay cho đương sự, cơ quan, tổ chức, cá nhân khởi kiện, Viện kiểm
sát cùng cấp và cơ quan thi hành án dân sự nếu bản án đã được gửi cho cơ quan
thi hành án dân sự.
Trường hợp Thẩm phán đã xét xử vụ án đó không còn đảm
nhiệm chức vụ Thẩm phán tại Tòa án đã ra bản án đó thì Chánh án Tòa án thực
hiện việc sửa chữa, bổ sung bản án.
Điều 269. Cấp trích lục bản án; giao, gửi bản
án
1. Trong thời hạn 03 ngày làm việc, kể từ ngày kết thúc
phiên tòa, các đương sự, cơ quan, tổ chức, cá nhân khởi kiện được Tòa án cấp
trích lục bản án.
2. Trong thời hạn 10 ngày, kể từ ngày tuyên án, Tòa án
phải giao hoặc gửi bản án cho các đương sự, cơ quan, tổ chức, cá nhân khởi kiện
và Viện kiểm sát cùng cấp.
3. Bản án sơ thẩm có hiệu lực pháp luật của Tòa án giải
quyết vụ án dân sự bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng do tổ chức xã hội tham gia
bảo vệ người tiêu dùng khởi kiện phải được niêm yết công khai tại trụ sở Tòa án
và công bố công khai trên một trong các báo hàng ngày của trung ương hoặc địa
phương trong ba số liên tiếp.
Bản án sơ thẩm có hiệu lực pháp luật của Tòa án có liên
quan đến trách nhiệm bồi thường của Nhà nước phải được Tòa án cấp sơ thẩm gửi
cho cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền về bồi thường nhà nước.
Bản án sơ thẩm có hiệu lực pháp luật của Tòa án có liên
quan đến việc thay đổi hộ tịch của cá nhân phải được Tòa án cấp sơ thẩm thông
báo bằng văn bản kèm theo trích lục bản án cho Ủy ban nhân dân nơi đã đăng ký
hộ tịch của cá nhân đó theo quy định của Luật Hộ tịch.
Thời hạn niêm yết, công bố, gửi bản án, thông báo quy
định tại khoản này là 05 ngày làm việc, kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp
luật.
4. Bản án sơ thẩm có hiệu lực pháp luật của Tòa án được
công bố trên Cổng thông tin điện tử của Tòa án (nếu có), trừ bản án, quyết định
của Tòa án có chứa thông tin quy định tại khoản 2 Điều 109 của
Bộ luật này.
THỦ TỤC GIẢI QUYẾT VỤ ÁN TẠI TÒA ÁN CẤP PHÚC
THẨM
Chương XV
TÍNH
CHẤT CỦA XÉT XỬ PHÚC THẨM VÀ KHÁNG CÁO, KHÁNG NGHỊ BẢN ÁN, QUYẾT ĐỊNH CỦA TÒA
ÁN CẤP SƠ THẨM
Điều
270. Tính chất của xét xử phúc thẩm
Xét xử phúc thẩm là việc Tòa án cấp phúc thẩm trực tiếp
xét xử lại vụ án mà bản án, quyết định của Tòa án cấp sơ thẩm chưa có hiệu lực
pháp luật bị kháng cáo, kháng nghị.
Điều 271. Người có quyền kháng cáo
Đương sự, người đại diện hợp pháp của đương sự, cơ quan,
tổ chức, cá nhân khởi kiện có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm, quyết định tạm
đình chỉ giải quyết vụ án dân sự, quyết định đình chỉ giải quyết vụ án dân sự
của Tòa án cấp sơ thẩm để yêu cầu Tòa án cấp phúc thẩm giải quyết lại theo thủ
tục phúc thẩm.
1. Khi thực hiện quyền kháng cáo, người kháng cáo phải
làm đơn kháng cáo. Đơn kháng cáo phải có các nội dung chính sau đây:
a) Ngày, tháng, năm làm đơn kháng cáo;
b) Tên, địa chỉ; số điện thoại, fax, địa chỉ thư điện tử
(nếu có) của người kháng cáo;
c) Kháng cáo toàn bộ hoặc phần của bản án, quyết định của
Tòa án cấp sơ thẩm chưa có hiệu lực pháp luật;
d) Lý do của việc kháng cáo và yêu cầu của người kháng
cáo;
đ) Chữ ký hoặc điểm chỉ của người kháng cáo.
2. Người kháng cáo là cá nhân có đầy đủ năng lực hành vi
tố tụng dân sự có thể tự mình làm đơn kháng cáo. Tại mục tên, địa chỉ của người
kháng cáo trong đơn phải ghi họ, tên, địa chỉ; số điện thoại, fax, địa chỉ thư
điện tử (nếu có) của người kháng cáo. Ở phần cuối đơn kháng cáo, người kháng
cáo phải ký tên hoặc điểm chỉ.
3. Người kháng cáo quy định tại khoản 2 Điều này nếu
không tự mình kháng cáo thì có thể ủy quyền cho người khác đại diện cho mình
kháng cáo. Tại mục tên, địa chỉ của người kháng cáo trong đơn phải ghi họ, tên,
địa chỉ của người đại diện theo ủy quyền của người kháng cáo, của người kháng
cáo ủy quyền kháng cáo; số điện thoại, fax, địa chỉ thư điện tử (nếu có) của
người kháng cáo ủy quyền kháng cáo và văn bản ủy quyền. Ở phần cuối đơn kháng
cáo, người đại diện theo ủy quyền phải ký tên hoặc điểm chỉ.
4. Người đại diện theo pháp luật của đương sự là cơ quan,
tổ chức có thể tự mình làm đơn kháng cáo. Tại mục tên, địa chỉ của người kháng
cáo trong đơn phải ghi tên, địa chỉ; số điện thoại, fax, địa chỉ thư điện tử
(nếu có) của đương sự là cơ quan, tổ chức; họ, tên, chức vụ của người đại diện
theo pháp luật của đương sự là cơ quan, tổ chức. Ở phần cuối đơn kháng cáo,
người đại diện theo pháp luật phải ký tên và đóng dấu của cơ quan, tổ chức đó,
trường hợp doanh nghiệp kháng cáo thì việc sử dụng con dấu theo quy định của
Luật Doanh nghiệp.
Trường hợp người đại diện theo pháp luật của cơ quan, tổ
chức ủy quyền cho người khác kháng cáo thì tại mục tên, địa chỉ của người kháng
cáo trong đơn phải ghi họ, tên, địa chỉ của người đại diện theo ủy quyền, của
đương sự là cơ quan, tổ chức ủy quyền; số điện thoại, fax, địa chỉ thư điện tử
(nếu có) của đương sự là cơ quan, tổ chức ủy quyền; họ, tên, chức vụ của người
đại diện theo pháp luật của đương sự là cơ quan, tổ chức đó và văn bản ủy
quyền. Ở phần cuối đơn kháng cáo, người đại diện theo ủy quyền phải ký tên hoặc
điểm chỉ.
5. Người đại diện theo pháp luật của đương sự là người
chưa thành niên, người mất năng lực hành vi dân sự có thể tự mình làm đơn kháng
cáo. Tại mục tên, địa chỉ của người kháng cáo trong đơn phải ghi họ, tên, địa
chỉ của người đại diện theo pháp luật; họ, tên, địa chỉ của đương sự là người
chưa thành niên, người mất năng lực hành vi dân sự. Ở phần cuối đơn kháng cáo,
người đại diện theo pháp luật phải ký tên hoặc điểm chỉ.
Trường hợp người đại diện theo pháp luật của đương sự ủy
quyền cho người khác đại diện cho mình kháng cáo thì tại mục tên, địa chỉ của
người kháng cáo trong đơn phải ghi họ, tên, địa chỉ của người đại diện theo ủy
quyền và văn bản ủy quyền; họ, tên, địa chỉ của người đại diện theo pháp luật
của đương sự ủy quyền; họ, tên, địa chỉ của đương sự là người chưa thành niên,
người mất năng lực hành vi dân sự. Ở phần cuối đơn kháng cáo, người đại diện
theo ủy quyền phải ký tên hoặc điểm chỉ.
6. Việc ủy quyền quy định tại các khoản 3, 4 và 5 Điều
này phải được làm thành văn bản có công chứng, chứng thực hợp pháp, trừ trường
hợp văn bản ủy quyền đó được lập tại Tòa án có sự chứng kiến của Thẩm phán
hoặc người được Chánh án Tòa án phân công. Trong văn bản ủy quyền phải có nội
dung đương sự ủy quyền cho người đại diện theo ủy quyền kháng cáo bản án, quyết
định tạm đình chỉ, đình chỉ giải quyết vụ án của Tòa án cấp sơ thẩm.
7. Đơn kháng cáo phải được gửi cho Tòa án cấp sơ thẩm đã
ra bản án, quyết định sơ thẩm bị kháng cáo. Trường hợp đơn kháng cáo được gửi
cho Tòa án cấp phúc thẩm thì Tòa án đó phải chuyển cho Tòa án cấp sơ thẩm để
tiến hành các thủ tục cần thiết theo quy định của Bộ luật này.
8. Kèm theo đơn kháng cáo, người kháng cáo phải gửi tài
liệu, chứng cứ bổ sung (nếu có) để chứng minh cho kháng cáo của mình là có căn
cứ và hợp pháp.
1. Thời hạn kháng cáo đối với bản án của Tòa án cấp sơ
thẩm là 15 ngày, kể từ ngày tuyên án; đối với đương sự, đại diện cơ quan, tổ
chức hoặc cá nhân khởi kiện không có mặt tại phiên tòa hoặc không có mặt khi
tuyên án mà có lý do chính đáng thì thời hạn kháng cáo được tính từ ngày họ
nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
Đối với trường hợp đương sự, đại diện cơ quan, tổ chức
hoặc cá nhân khởi kiện đã tham gia phiên tòa nhưng vắng mặt khi Tòa án tuyên án
mà không có lý do chính đáng thì thời hạn kháng cáo được tính từ ngày tuyên án.
2. Thời hạn kháng cáo đối với quyết định tạm đình chỉ,
đình chỉ giải quyết vụ án của Tòa án cấp sơ thẩm là 07 ngày, kể từ ngày đương
sự, cơ quan, tổ chức, cá nhân khởi kiện nhận được quyết định hoặc kể từ ngày
quyết định được niêm yết theo quy định của Bộ luật này.
3. Trường hợp đơn kháng cáo được gửi qua dịch vụ bưu
chính thì ngày kháng cáo được xác định căn cứ vào ngày tổ chức dịch vụ bưu
chính nơi gửi đóng dấu ở phong bì. Trường hợp người kháng cáo đang bị tạm giam
thì ngày kháng cáo là ngày đơn kháng cáo được giám thị trại giam xác nhận.
Điều 274. Kiểm tra đơn kháng cáo
1. Sau khi nhận được đơn kháng cáo, Tòa án cấp sơ thẩm
phải kiểm tra tính hợp lệ của đơn kháng cáo theo quy định tại Điều
272 của Bộ luật này.
2. Trường hợp đơn kháng cáo quá hạn thì Tòa án cấp sơ
thẩm yêu cầu người kháng cáo trình bày rõ lý do và xuất trình tài liệu, chứng
cứ (nếu có) để chứng minh lý do nộp đơn kháng cáo quá hạn là chính đáng.
3. Trường hợp đơn kháng cáo chưa đúng quy định tại Điều 272 của Bộ luật này thì Tòa án cấp sơ thẩm yêu cầu người
kháng cáo làm lại hoặc sửa đổi, bổ sung đơn kháng cáo.
4. Tòa án trả lại đơn kháng cáo trong các trường hợp sau
đây:
a) Người kháng cáo không có quyền kháng cáo;
b) Người kháng cáo không làm lại đơn kháng cáo hoặc không
sửa đổi, bổ sung đơn kháng cáo theo yêu cầu của Tòa án quy định tại khoản 3
Điều này.
c) Trường hợp quy định tại khoản 2 Điều
276 của Bộ luật này.
Điều 275. Kháng cáo quá hạn và xem xét kháng
cáo quá hạn
1. Kháng cáo quá thời hạn quy định tại Điều
273 của Bộ luật này là kháng cáo quá hạn. Sau khi nhận được đơn kháng cáo
quá hạn, Tòa án cấp sơ thẩm phải gửi đơn kháng cáo, bản tường trình của người
kháng cáo về lý do kháng cáo quá hạn và tài liệu, chứng cứ (nếu có) cho Tòa án
cấp phúc thẩm.
2. Trong thời hạn 10 ngày, kể từ ngày nhận được đơn kháng
cáo quá hạn và tài liệu, chứng cứ kèm theo, Tòa án cấp phúc thẩm thành lập Hội
đồng gồm ba Thẩm phán để xem xét kháng cáo quá hạn. Phiên họp xem xét kháng cáo
quá hạn phải có sự tham gia của đại diện Viện kiểm sát cùng cấp và người kháng
cáo quá hạn. Trường hợp người kháng cáo, Kiểm sát viên vắng mặt thì Tòa án vẫn
tiến hành phiên họp.
3. Căn cứ vào tài liệu, chứng cứ có liên quan đến việc
kháng cáo quá hạn, ý kiến của người kháng cáo quá hạn, đại diện Viện kiểm sát
tại phiên họp, Hội đồng xét kháng cáo quá hạn quyết định theo đa số về việc
chấp nhận hoặc không chấp nhận việc kháng cáo quá hạn và phải ghi rõ lý do của
việc chấp nhận hoặc không chấp nhận trong quyết định. Tòa án cấp phúc thẩm phải
gửi quyết định cho người kháng cáo quá hạn, Tòa án cấp sơ thẩm và Viện kiểm sát
cùng cấp; nếu Tòa án cấp phúc thẩm chấp nhận việc kháng cáo quá hạn thì Tòa án
cấp sơ thẩm phải tiến hành các thủ tục do Bộ luật này quy định.
Điều 276. Thông báo nộp tiền tạm ứng án phí
phúc thẩm
1. Sau khi chấp nhận đơn kháng cáo hợp lệ, Tòa án cấp sơ
thẩm phải thông báo cho người kháng cáo biết để họ nộp tiền tạm ứng án phí phúc
thẩm theo quy định của pháp luật, nếu họ không thuộc trường hợp được miễn hoặc
không phải nộp tiền tạm ứng án phí phúc thẩm.
2. Trong thời hạn 10 ngày, kể từ ngày nhận được thông báo
của Tòa án về việc nộp tiền tạm ứng án phí phúc thẩm, người kháng cáo phải nộp
tiền tạm ứng án phí phúc thẩm và nộp cho Tòa án cấp sơ thẩm biên lai thu tiền
tạm ứng án phí phúc thẩm. Hết thời hạn này mà người kháng cáo không nộp tiền
tạm ứng án phí phúc thẩm thì được coi là từ bỏ việc kháng cáo, trừ trường hợp
có lý do chính đáng.
Trường hợp sau khi hết thời hạn 10 ngày, kể từ ngày nhận
được thông báo của Tòa án về việc nộp tiền tạm ứng án phí phúc thẩm, người
kháng cáo mới nộp cho Tòa án biên lai thu tiền tạm ứng án phí phúc thẩm mà
không nêu rõ lý do thì Tòa án cấp sơ thẩm yêu cầu người kháng cáo trong thời
hạn 03 ngày làm việc, kể từ ngày nhận được yêu cầu của Tòa án phải có văn bản
trình bày lý do chậm nộp biên lai thu tiền tạm ứng án phí phúc thẩm nộp cho Tòa
án cấp sơ thẩm để đưa vào hồ sơ vụ án. Trường hợp này được xử lý theo thủ tục
xem xét kháng cáo quá hạn.
Điều 277. Thông báo về việc kháng cáo
1. Sau khi chấp nhận đơn kháng cáo hợp lệ, Tòa án cấp sơ
thẩm phải thông báo ngay bằng văn bản cho Viện kiểm sát cùng cấp và đương sự có
liên quan đến kháng cáo biết về việc kháng cáo kèm theo bản sao đơn kháng cáo,
tài liệu, chứng cứ bổ sung mà người kháng cáo gửi kèm đơn kháng cáo.
2. Đương sự có liên quan đến kháng cáo được thông báo về
việc kháng cáo có quyền gửi văn bản nêu ý kiến của mình về nội dung kháng cáo
cho Tòa án cấp phúc thẩm. Văn bản nêu ý kiến của họ được đưa vào hồ sơ vụ án.
Điều 278. Kháng nghị của Viện kiểm sát
Viện trưởng Viện kiểm sát cùng cấp và cấp trên trực tiếp
có quyền kháng nghị bản án sơ thẩm, quyết định tạm đình chỉ giải quyết vụ án
dân sự, quyết định đình chỉ giải quyết vụ án dân sự của Tòa án cấp sơ thẩm để
yêu cầu Tòa án cấp phúc thẩm giải quyết lại theo thủ tục phúc thẩm.
Điều 279. Quyết định kháng nghị của Viện kiểm
sát
1. Quyết định kháng nghị của Viện kiểm sát phải bằng văn
bản và có các nội dung chính sau đây:
a) Ngày, tháng, năm ra quyết định kháng nghị và số của
quyết định kháng nghị;
b) Tên của Viện kiểm sát ra quyết định kháng nghị;
c) Kháng nghị toàn bộ hoặc phần của bản án, quyết định
của Tòa án cấp sơ thẩm chưa có hiệu lực pháp luật;
d) Lý do của việc kháng nghị và yêu cầu của Viện kiểm
sát;
đ) Họ, tên của người ký quyết định kháng nghị và đóng dấu
của Viện kiểm sát ra quyết định kháng nghị.
2. Quyết định kháng nghị phải được gửi ngay cho Tòa án
cấp sơ thẩm đã ra bản án, quyết định sơ thẩm bị kháng nghị để Tòa án cấp sơ
thẩm tiến hành các thủ tục do Bộ luật này quy định và gửi hồ sơ vụ án cho Tòa
án cấp phúc thẩm theo quy định tại Điều 283 của Bộ luật này.
3. Kèm theo quyết định kháng nghị là tài liệu, chứng cứ
bổ sung (nếu có) để chứng minh cho kháng nghị của Viện kiểm sát là có căn cứ và
hợp pháp.
1. Thời hạn kháng nghị đối với bản án của Tòa án cấp sơ
thẩm của Viện kiểm sát cùng cấp là 15 ngày, của Viện kiểm sát cấp trên trực
tiếp là 01 tháng, kể từ ngày tuyên án. Trường hợp Kiểm sát viên không tham gia
phiên tòa thì thời hạn kháng nghị tính từ ngày Viện kiểm sát cùng cấp nhận được
bản án.
2. Thời hạn kháng nghị của Viện kiểm sát cùng cấp đối với
quyết định tạm đình chỉ, quyết định đình chỉ giải quyết vụ án của Tòa án cấp sơ
thẩm là 07 ngày, của Viện kiểm sát cấp trên trực tiếp là 10 ngày, kể từ ngày
Viện kiểm sát cùng cấp nhận được quyết định.
3. Khi Tòa án nhận được quyết định kháng nghị của Viện
kiểm sát mà quyết định kháng nghị đó đã quá thời hạn quy định tại khoản 1 và
khoản 2 Điều này thì Tòa án cấp sơ thẩm yêu cầu Viện kiểm sát giải thích bằng
văn bản và nêu rõ lý do.
Điều 281. Thông báo về việc kháng nghị
1. Viện kiểm sát ra quyết định kháng nghị phải gửi ngay
quyết định kháng nghị cho đương sự có liên quan đến kháng nghị.
2. Người được thông báo về việc kháng nghị có quyền gửi
văn bản nêu ý kiến của mình về nội dung kháng nghị cho Tòa án cấp phúc thẩm.
Văn bản nêu ý kiến của họ được đưa vào hồ sơ vụ án.
Điều 282. Hậu quả của việc kháng cáo, kháng
nghị
1. Bản án sơ thẩm, quyết định của Tòa án cấp sơ thẩm hoặc
những phần bản án sơ thẩm, quyết định của Tòa án cấp sơ thẩm bị kháng cáo,
kháng nghị thì chưa được đưa ra thi hành, trừ trường hợp pháp luật quy định cho
thi hành ngay.
2. Bản án sơ thẩm, quyết định của Tòa án cấp sơ thẩm hoặc
những phần bản án sơ thẩm, quyết định của Tòa án cấp sơ thẩm không bị kháng
cáo, kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm thì có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết
thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Điều 283. Gửi hồ sơ vụ án và kháng cáo, kháng
nghị
Tòa án cấp sơ thẩm phải gửi hồ sơ vụ án, đơn kháng cáo,
quyết định kháng nghị và tài liệu, chứng cứ bổ sung kèm theo cho Tòa án cấp
phúc thẩm trong thời hạn 05 ngày làm việc, kể từ ngày:
1. Hết thời hạn kháng nghị;
2. Hết thời hạn kháng cáo, người kháng cáo đã nộp cho Tòa
án cấp sơ thẩm biên lai thu tiền tạm ứng án phí phúc thẩm.
Điều 284. Thay đổi, bổ sung, rút kháng cáo,
kháng nghị
1. Trường hợp chưa hết thời hạn kháng cáo theo quy định
tại Điều 273 của Bộ luật này thì người đã kháng cáo có
quyền thay đổi, bổ sung kháng cáo mà không bị giới hạn bởi phạm vi kháng cáo
ban đầu.
Trường hợp chưa hết thời hạn kháng nghị theo quy định tại
Điều 280 của Bộ luật này thì Viện kiểm sát đã kháng nghị
có quyền thay đổi, bổ sung kháng nghị mà không bị giới hạn bởi phạm vi kháng
nghị ban đầu.
2. Trước khi bắt đầu phiên tòa hoặc tại phiên tòa phúc
thẩm, người kháng cáo có quyền thay đổi, bổ sung kháng cáo, Viện kiểm sát đã
kháng nghị có quyền thay đổi, bổ sung kháng nghị, nhưng không được vượt quá
phạm vi kháng cáo, kháng nghị ban đầu, nếu thời hạn kháng cáo, kháng nghị đã
hết.
3. Trước khi bắt đầu phiên tòa hoặc tại phiên tòa phúc
thẩm, người kháng cáo có quyền rút kháng cáo, Viện kiểm sát đã kháng nghị hoặc
Viện kiểm sát cấp trên trực tiếp có quyền rút kháng nghị.
Tòa án cấp phúc thẩm đình chỉ xét xử phúc thẩm đối với
những phần của vụ án mà người kháng cáo đã rút kháng cáo hoặc Viện kiểm sát đã
rút kháng nghị.
Việc đình chỉ xét xử phúc thẩm trước khi mở phiên tòa do
Thẩm phán chủ tọa phiên tòa quyết định, tại phiên tòa do Hội đồng xét xử quyết
định.
4. Việc thay đổi, bổ sung, rút kháng cáo, kháng nghị
trước khi mở phiên tòa phải được lập thành văn bản và gửi cho Tòa án cấp phúc
thẩm. Tòa án cấp phúc thẩm phải thông báo cho các đương sự về việc thay đổi, bổ
sung, rút kháng cáo, kháng nghị, thông báo cho Viện kiểm sát cùng cấp về việc
thay đổi, bổ sung, rút kháng cáo.
Việc thay đổi, bổ sung, rút kháng cáo, kháng nghị tại
phiên tòa phải được ghi vào biên bản phiên tòa.
Điều 285. Thụ lý vụ án để xét xử phúc thẩm
1. Ngay sau khi nhận được hồ sơ vụ án, kháng cáo, kháng
nghị và tài liệu, chứng cứ kèm theo, Tòa án cấp phúc thẩm phải vào sổ thụ lý.
Trong thời hạn 03 ngày làm việc, kể từ ngày thụ lý vụ án,
Tòa án phải thông báo bằng văn bản cho các đương sự, cơ quan, tổ chức, cá nhân
khởi kiện và Viện kiểm sát cùng cấp về việc Tòa án đã thụ lý vụ án và thông báo
trên Cổng thông tin điện tử của Tòa án (nếu có).
2. Chánh án Tòa án cấp phúc thẩm thành lập Hội đồng xét
xử phúc thẩm và phân công một Thẩm phán làm chủ tọa phiên tòa.
Điều 286. Thời hạn chuẩn bị xét xử phúc thẩm
1. Trong thời hạn 02 tháng, kể từ ngày thụ lý vụ án, tùy
từng trường hợp, Tòa án cấp phúc thẩm ra một trong các quyết định sau đây:
a) Tạm đình chỉ xét xử phúc thẩm vụ án;
b) Đình chỉ xét xử phúc thẩm vụ án;
c) Đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm.
Đối với vụ án có tính chất phức tạp hoặc do sự kiện bất
khả kháng, trở ngại khách quan thì Chánh án Tòa án cấp phúc thẩm có thể quyết
định kéo dài thời hạn chuẩn bị xét xử, nhưng không được quá 01 tháng.
2. Trong thời hạn 01 tháng, kể từ ngày có quyết định đưa
vụ án ra xét xử, Tòa án phải mở phiên tòa phúc thẩm; trường hợp có lý do chính
đáng thì thời hạn này là 02 tháng.
3. Trường hợp có quyết định tạm đình chỉ xét xử phúc thẩm
vụ án thì thời hạn chuẩn bị xét xử phúc thẩm được tính lại kể từ ngày quyết
định tiếp tục giải quyết vụ án của Tòa án có hiệu lực pháp luật.
4. Thời hạn quy định tại Điều này không áp dụng đối với
vụ án xét xử phúc thẩm theo thủ tục rút gọn, vụ án có yếu tố nước ngoài.
Điều 287. Cung cấp tài liệu, chứng cứ trong
giai đoạn chuẩn bị xét xử phúc thẩm
1. Đương sự được quyền bổ sung tài liệu, chứng cứ sau đây
trong giai đoạn chuẩn bị xét xử phúc thẩm:
a) Tài liệu, chứng cứ mà Tòa án cấp sơ thẩm đã yêu cầu
giao nộp nhưng đương sự không cung cấp, giao nộp được vì có lý do chính đáng;
b) Tài liệu, chứng cứ mà Tòa án cấp sơ thẩm không yêu cầu
đương sự giao nộp hoặc đương sự không thể biết được trong quá trình giải quyết
vụ việc theo thủ tục sơ thẩm.
2. Thủ tục giao nộp tài liệu, chứng cứ được thực hiện
theo quy định tại Điều 96 của Bộ luật này.
Điều 288. Tạm đình chỉ xét xử phúc thẩm vụ án
1. Trường hợp tòa án cấp phúc thẩm ra quyết định tạm đình
chỉ xét xử phúc thẩm vụ án thì hậu quả của việc tạm đình chỉ xét xử phúc thẩm
và việc tiếp tục xét xử phúc thẩm được thực hiện theo quy định tại các điều 214, 215 và 216 của Bộ luật này.
2. Quyết định tạm đình chỉ xét xử phúc thẩm vụ án có hiệu
lực thi hành ngay và được gửi ngay cho đương sự, cơ quan, tổ chức, cá nhân khởi
kiện, Viện kiểm sát cùng cấp.
Điều 289. Đình chỉ xét xử phúc thẩm vụ án
1. Tòa án cấp phúc thẩm ra quyết định đình chỉ xét xử
phúc thẩm vụ án hoặc một phần vụ án trong các trường hợp sau đây:
a) Các trường hợp quy định tại điểm a và
điểm b khoản 1 Điều 217 của Bộ luật này;
b) Người kháng cáo rút toàn bộ kháng cáo hoặc Viện kiểm
sát rút toàn bộ kháng nghị;
c) Người kháng cáo rút một phần kháng cáo hoặc Viện kiểm
sát rút một phần kháng nghị;
d) Các trường hợp khác theo quy định của pháp luật.
2. Trường hợp người kháng cáo rút toàn bộ kháng cáo hoặc
Viện kiểm sát rút toàn bộ kháng nghị trước khi Tòa án cấp phúc thẩm ra quyết
định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm thì Thẩm phán được phân công làm chủ tọa
phiên tòa ra quyết định đình chỉ xét xử phúc thẩm; trường hợp người kháng cáo
rút toàn bộ kháng cáo, Viện kiểm sát rút toàn bộ kháng nghị sau khi Tòa án cấp
phúc thẩm ra quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm thì Hội đồng xét xử phúc
thẩm ra quyết định đình chỉ xét xử phúc thẩm.
Trong các trường hợp này, bản án, quyết định sơ thẩm có
hiệu lực pháp luật từ ngày Tòa án cấp phúc thẩm ra quyết định đình chỉ xét xử
phúc thẩm.
3. Trường hợp người kháng cáo rút một phần kháng cáo hoặc
Viện kiểm sát rút một phần kháng nghị thì Hội đồng xét xử phúc thẩm nhận định
về việc người kháng cáo rút một phần kháng cáo, Viện kiểm sát rút một phần
kháng nghị và quyết định đình chỉ xét xử phần kháng cáo, kháng nghị đó trong
bản án phúc thẩm.
4. Quyết định đình chỉ xét xử phúc thẩm vụ án có hiệu lực
thi hành ngay và phải được gửi ngay cho đương sự, cơ quan tổ chức, cá nhân khởi
kiện, Viện kiểm sát cùng cấp.
Điều 290. Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc
thẩm
1. Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm phải có các
nội dung chính sau đây:
a) Các nội dung quy định tại các điểm a,
b, c, d, g, h và i khoản 1 Điều 220 của Bộ luật này;
b) Họ, tên Thẩm phán, Thư ký Tòa án; họ, tên Thẩm phán dự
khuyết (nếu có);
c) Họ, tên, tư cách tham gia tố tụng của người kháng cáo;
d) Viện kiểm sát kháng nghị (nếu có);
đ) Họ, tên Kiểm sát viên tham gia phiên tòa; họ, tên Kiểm
sát viên dự khuyết (nếu có).
2. Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm phải được gửi
cho đương sự, Viện kiểm sát cùng cấp trong thời hạn 03 ngày làm việc, kể từ
ngày ra quyết định.
Điều 291. Quyết định áp dụng, thay đổi, hủy
bỏ biện pháp khẩn cấp tạm thời
Trong thời hạn chuẩn bị xét xử phúc thẩm, Tòa án cấp phúc
thẩm có quyền quyết định áp dụng, thay đổi, hủy bỏ biện pháp khẩn cấp tạm thời
quy định tại Chương VIII của Bộ luật này.
Điều 292. Chuyển hồ sơ vụ án cho Viện kiểm
sát nghiên cứu
1. Tòa án cấp phúc thẩm phải chuyển hồ sơ vụ án cùng với
quyết định đưa vụ án ra xét xử cho Viện kiểm sát cùng cấp nghiên cứu.
2. Thời hạn nghiên cứu hồ sơ của Viện kiểm sát cùng cấp
là 15 ngày, kể từ ngày nhận được hồ sơ vụ án; hết thời hạn đó, Viện kiểm sát
phải trả hồ sơ vụ án cho Tòa án.
Mục
1. THỦ TỤC BẮT ĐẦU PHIÊN TÒA PHÚC THẨM
Điều
293. Phạm vi xét xử phúc thẩm
Tòa án cấp phúc thẩm chỉ xem xét lại phần của bản án sơ
thẩm, quyết định của Tòa án cấp sơ thẩm có kháng cáo, kháng nghị hoặc có liên
quan đến việc xem xét nội dung kháng cáo, kháng nghị.
Điều 294. Những người tham gia phiên tòa phúc
thẩm
1. Người kháng cáo, đương sự, cơ quan, tổ chức, cá nhân
có liên quan đến việc giải quyết kháng cáo, kháng nghị và người bảo vệ quyền và
lợi ích hợp pháp của đương sự phải được triệu tập tham gia phiên tòa. Tòa án có
thể triệu tập những người tham gia tố tụng khác tham gia phiên tòa nếu xét thấy
cần thiết cho việc giải quyết kháng cáo, kháng nghị.
2. Kiểm sát viên Viện kiểm sát cùng cấp tham gia phiên
tòa phúc thẩm.
Điều 295. Tạm đình chỉ, đình chỉ xét xử phúc
thẩm tại phiên tòa
Tại phiên tòa phúc thẩm, việc tạm đình chỉ, đình chỉ xét
xử phúc thẩm vụ án được thực hiện theo quy định tại Điều 288
và Điều 289 của Bộ luật này.
Điều 296. Hoãn phiên tòa phúc thẩm
1. Kiểm sát viên được phân công tham gia phiên tòa phúc
thẩm vắng mặt thì Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử, không hoãn phiên tòa,
trừ trường hợp Viện kiểm sát có kháng nghị phúc thẩm.
2. Người kháng cáo, người không kháng cáo nhưng có quyền
lợi, nghĩa vụ liên quan đến việc kháng cáo, kháng nghị, người bảo vệ quyền và
lợi ích hợp pháp của họ được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ nhất mà vắng mặt
thì phải hoãn phiên tòa. Trường hợp họ có đơn đề nghị xét xử vắng mặt thì Tòa
án tiến hành phiên tòa phúc thẩm xét xử vắng mặt họ.
3. Người kháng cáo được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ
hai mà vắng mặt thì bị coi như từ bỏ việc kháng cáo và Tòa án đình chỉ xét xử
phúc thẩm đối với yêu cầu kháng cáo của người đó, trừ trường hợp người đó đề
nghị xét xử vắng mặt thì Tòa án tiến hành phiên tòa phúc thẩm xét xử vắng mặt
họ.
Trường hợp người kháng cáo vắng mặt vì sự kiện bất khả
kháng hoặc trở ngại khách quan thì phải hoãn phiên tòa.
Trường hợp có nhiều người kháng cáo, trong đó có người
kháng cáo được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai mà vắng mặt nhưng không có
đơn đề nghị xét xử vắng mặt thì coi như người đó từ bỏ việc kháng cáo và Tòa án
đưa vụ án ra xét xử. Trong phần quyết định của bản án, Tòa án đình chỉ xét xử
phúc thẩm đối với phần kháng cáo của người kháng cáo vắng mặt đó.
Người không kháng cáo nhưng có quyền lợi, nghĩa vụ liên
quan đến việc kháng cáo, kháng nghị và những người tham gia tố tụng khác đã
được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai mà vẫn vắng mặt thì Tòa án tiến hành
xét xử vụ án.
4. Thời hạn hoãn phiên tòa và quyết định hoãn phiên tòa
phúc thẩm được thực hiện theo quy định tại Điều 233 của Bộ
luật này.
Điều 297. Chuẩn bị khai mạc phiên tòa phúc
thẩm và thủ tục bắt đầu phiên tòa phúc thẩm
Chuẩn bị khai mạc phiên tòa phúc thẩm và thủ tục bắt đầu
phiên tòa phúc thẩm được thực hiện theo quy định tại các điều
237, 239, 240, 241 và 242 của Bộ luật này.
1. Sau khi kết thúc thủ tục bắt đầu phiên tòa phúc thẩm
thì một thành viên của Hội đồng xét xử phúc thẩm công bố nội dung vụ án, quyết
định của bản án sơ thẩm và nội dung kháng cáo, kháng nghị.
2. Chủ tọa phiên tòa hỏi về các vấn đề sau đây:
a) Hỏi nguyên đơn có rút đơn khởi kiện hay không;
b) Hỏi người kháng cáo, Kiểm sát viên có thay đổi, bổ
sung, rút kháng cáo, kháng nghị hay không;
c) Hỏi các đương sự có thỏa thuận được với nhau về việc
giải quyết vụ án hay không.
3. Trường hợp người kháng cáo rút một phần kháng cáo,
Viện kiểm sát rút một phần kháng nghị thì Tòa án chấp nhận việc rút kháng cáo,
kháng nghị. Trường hợp người kháng cáo, Viện kiểm sát bổ sung nội dung mới vượt
quá phạm vi kháng cáo, kháng nghị ban đầu thì Tòa án không xem xét nội dung đó.
Điều 299. Nguyên đơn rút đơn khởi kiện trước
khi mở phiên tòa hoặc tại phiên tòa phúc thẩm
1. Trước khi mở phiên tòa hoặc tại phiên tòa phúc thẩm,
nếu nguyên đơn rút đơn khởi kiện thì Hội đồng xét xử phúc thẩm phải hỏi bị đơn
có đồng ý hay không và tùy từng trường hợp mà giải quyết như sau:
a) Bị đơn không đồng ý thì không chấp nhận việc rút đơn
khởi kiện của nguyên đơn;
b) Bị đơn đồng ý thì chấp nhận việc rút đơn khởi kiện của
nguyên đơn. Hội đồng xét xử phúc thẩm ra quyết định hủy bản án sơ thẩm và đình
chỉ giải quyết vụ án. Trong trường hợp này, các đương sự vẫn phải chịu án phí
sơ thẩm theo quyết định của Tòa án cấp sơ thẩm và phải chịu một nửa án phí phúc
thẩm theo quy định của pháp luật.
2. Trường hợp Hội đồng xét xử phúc thẩm ra quyết định
đình chỉ giải quyết vụ án theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều này thì nguyên
đơn có quyền khởi kiện lại vụ án theo thủ tục do Bộ luật này quy định.
Điều 300. Công nhận sự thỏa thuận của các
đương sự tại phiên tòa phúc thẩm
1. Tại phiên tòa phúc thẩm, nếu các đương sự thỏa thuận
được với nhau về việc giải quyết vụ án và thỏa thuận của họ là tự nguyện, không
vi phạm điều cấm của luật và không trái đạo đức xã hội thì Hội đồng xét xử phúc
thẩm ra bản án phúc thẩm sửa bản án sơ thẩm, công nhận sự thỏa thuận của các
đương sự.
2. Các đương sự tự thỏa thuận với nhau về việc chịu án
phí sơ thẩm, nếu không thỏa thuận được thì Tòa án quyết định theo quy định của
pháp luật.
Mục 2. TRANH TỤNG TẠI PHIÊN TÒA PHÚC THẨM
Điều 301. Nội dung và phương thức tranh tụng
tại phiên tòa phúc thẩm
Nội dung và phương thức tranh tụng tại phiên tòa phúc
thẩm được thực hiện theo quy định tại Điều 247 của Bộ luật này.
Điều 302. Trình bày của đương sự, Kiểm sát
viên tại phiên tòa phúc thẩm
Trường hợp có đương sự vẫn giữ kháng cáo, Viện kiểm sát
vẫn giữ kháng nghị thì việc trình bày tại phiên tòa phúc thẩm được tiến hành
như sau:
1. Trình bày kháng cáo, kháng nghị:
a) Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người kháng
cáo trình bày nội dung kháng cáo, căn cứ của việc kháng cáo. Người kháng cáo có
quyền bổ sung ý kiến.
Trường hợp tất cả đương sự đều kháng cáo thì việc trình
bày được thực hiện theo thứ tự người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của
nguyên đơn kháng cáo và nguyên đơn; người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của
bị đơn kháng cáo và bị đơn; người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người có
quyền lợi, nghĩa vụ liên quan kháng cáo và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên
quan;
b) Trường hợp chỉ có Viện kiểm sát kháng nghị thì Kiểm
sát viên trình bày về nội dung kháng nghị, căn cứ của việc kháng nghị. Trường
hợp vừa có kháng cáo, vừa có kháng nghị thì các đương sự trình bày về nội dung
kháng cáo và các căn cứ của việc kháng cáo trước, sau đó Kiểm sát viên trình
bày về nội dung kháng nghị và các căn cứ của việc kháng nghị;
c) Trường hợp đương sự không có người bảo vệ quyền và lợi
ích hợp pháp cho mình thì họ tự trình bày ý kiến về nội dung kháng cáo và đề
nghị của mình.
2. Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của các đương
sự khác có liên quan đến kháng cáo, kháng nghị trình bày ý kiến về nội dung
kháng cáo, kháng nghị. Đương sự có quyền bổ sung ý kiến.
3. Tại phiên tòa phúc thẩm, đương sự, Kiểm sát viên có
quyền xuất trình bổ sung tài liệu, chứng cứ.
Điều 303. Thủ tục hỏi và công bố tài liệu,
chứng cứ, xem xét vật chứng tại phiên tòa phúc thẩm
1. Thủ tục hỏi những người tham gia tố tụng và công bố
tài liệu, chứng cứ, xem xét vật chứng quy định tại Điều 287
của Bộ luật này tại phiên tòa phúc thẩm được thực hiện như tại phiên tòa sơ
thẩm.
2. Việc hỏi được thực hiện đối với những vấn đề thuộc
phạm vi xét xử phúc thẩm quy định tại Điều 293 của Bộ luật này.
Điều 304. Tạm ngừng phiên tòa phúc thẩm
Việc tạm ngừng phiên tòa phúc thẩm được thực hiện theo
quy định tại Điều 259 của Bộ luật này.
Điều 305. Tranh luận tại phiên tòa phúc thẩm
1. Tại phiên tòa phúc thẩm, đương sự, người bảo vệ quyền
và lợi ích hợp pháp của đương sự chỉ được tranh luận về những vấn đề thuộc phạm
vi xét xử phúc thẩm và đã được hỏi tại phiên tòa phúc thẩm.
2. Trình tự tranh luận đối với kháng cáo được thực hiện
như sau:
a) Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người kháng
cáo trình bày. Người kháng cáo có quyền bổ sung ý kiến;
b) Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự
tranh luận, đối đáp. Đương sự có quyền bổ sung ý kiến;
c) Khi xét thấy cần thiết, Hội đồng xét xử có thể yêu cầu
các đương sự tranh luận bổ sung về những vấn đề cụ thể để làm căn cứ giải quyết
vụ án.
3. Trình tự tranh luận đối với kháng nghị được thực hiện
như sau:
a) Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự
phát biểu về tính hợp pháp, tính có căn cứ của kháng nghị. Đương sự có quyền bổ
sung ý kiến;
b) Kiểm sát viên phát biểu ý kiến về những vấn đề mà
người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự, đương sự đã nêu.
4. Trường hợp đương sự không có người bảo vệ quyền và lợi
ích hợp pháp của mình thì họ tự mình tranh luận.
5. Trường hợp vắng mặt một trong các đương sự và người
tham gia tố tụng khác thì chủ tọa phiên tòa phải công bố lời khai của họ để
trên cơ sở đó các đương sự có mặt tại phiên tòa tranh luận và đối đáp.
Điều 306. Phát biểu của Kiểm sát viên tại
phiên tòa phúc thẩm
Sau khi kết thúc việc tranh luận và đối đáp, Kiểm sát
viên phát biểu ý kiến của Viện kiểm sát về việc tuân theo pháp luật trong quá
trình giải quyết vụ án dân sự ở giai đoạn phúc thẩm.
Ngay sau khi kết thúc phiên tòa, Kiểm sát viên phải gửi
văn bản phát biểu ý kiến cho Tòa án để lưu vào hồ sơ vụ án.
Việc nghị án, trở lại việc hỏi và tranh luận, thời gian
nghị án, tuyên án, sửa chữa, bổ sung bản án phúc thẩm được thực hiện như thủ
tục xét xử sơ thẩm.
Điều 308. Thẩm quyền của Hội đồng xét xử phúc
thẩm
Hội đồng xét xử phúc thẩm có quyền sau đây:
1. Giữ nguyên bản án sơ thẩm;
2. Sửa bản án sơ thẩm;
3. Hủy bản án sơ thẩm, hủy một phần bản án sơ thẩm và
chuyển hồ sơ vụ án cho Tòa án cấp sơ thẩm giải quyết lại vụ án theo thủ tục sơ
thẩm;
4. Hủy bản án sơ thẩm và đình chỉ giải quyết vụ án;
5. Đình chỉ xét xử phúc thẩm;
6. Tạm đình chỉ việc giải quyết vụ án khi có văn bản của
Chánh án Tòa án nhân dân tối cao kiến nghị cơ quan nhà nước có thẩm quyền xem
xét sửa đổi, bổ sung hoặc bãi bỏ văn bản quy phạm pháp luật có dấu hiệu trái
với Hiến pháp, luật, nghị quyết của Quốc hội, pháp lệnh, nghị quyết của Ủy ban
Thường vụ Quốc hội, văn bản quy phạm pháp luật của cơ quan nhà nước cấp trên
cho đến khi cơ quan nhà nước có thẩm quyền có văn bản trả lời Tòa án kết quả xử
lý.
Hội đồng xét xử phúc thẩm sửa một phần hoặc toàn bộ bản
án sơ thẩm nếu Tòa án cấp sơ thẩm quyết định không đúng pháp luật trong các
trường hợp sau đây:
1. Việc thu thập chứng cứ và chứng minh đã được thực hiện
đầy đủ và theo đúng quy định tại Chương VII của Bộ luật này;
2. Việc thu thập chứng cứ và chứng minh chưa được thực
hiện đầy đủ ở cấp sơ thẩm nhưng tại phiên tòa phúc thẩm đã được bổ sung đầy đủ.
Hội đồng xét xử phúc thẩm hủy bản án sơ thẩm, hủy một
phần bản án sơ thẩm và chuyển hồ sơ vụ án cho Tòa án cấp sơ thẩm giải quyết lại
vụ án theo thủ tục sơ thẩm khi thuộc một trong các trường hợp sau đây:
1. Việc thu thập chứng cứ và chứng minh không theo đúng
quy định tại Chương VII của Bộ luật này hoặc chưa được thực hiện đầy đủ mà tại
phiên tòa phúc thẩm không thể thực hiện bổ sung được;
2. Thành phần của Hội đồng xét xử sơ thẩm không đúng quy
định của Bộ luật này hoặc có vi phạm nghiêm trọng khác về thủ tục tố tụng ảnh
hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự.
Điều 311. Hủy bản án sơ thẩm và đình chỉ giải
quyết vụ án
Hội đồng xét xử phúc thẩm hủy bản án sơ thẩm và đình chỉ
giải quyết vụ án nếu trong quá trình giải quyết vụ án tại Tòa án cấp sơ thẩm,
vụ án thuộc một trong các trường hợp quy định tại Điều 217,
điểm b khoản 1 Điều 299 của Bộ luật này.
Điều 312. Đình chỉ xét xử phúc thẩm
Hội đồng xét xử phúc thẩm đình chỉ xét xử phúc thẩm và
giữ nguyên bản án sơ thẩm khi thuộc một trong các trường hợp sau đây:
1. Theo quy định tại khoản 2 Điều 289
của Bộ luật này;
2. Người kháng cáo đã được triệu tập hợp lệ lần thứ hai
mà không có mặt theo quy định tại khoản 3 Điều 296 của Bộ luật
này, trừ trường hợp vụ án có người khác kháng cáo, Viện kiểm sát kháng
nghị.
1. Hội đồng xét xử phúc thẩm ra bản án phúc thẩm nhân
danh nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam.
2. Bản án phúc thẩm gồm có:
a) Phần mở đầu;
b) Phần nội dung vụ án, kháng cáo, kháng nghị và nhận
định;
c) Phần quyết định.
3. Trong phần mở đầu phải ghi rõ tên của Tòa án xét xử
phúc thẩm; số và ngày thụ lý vụ án; số bản án và ngày tuyên án; họ, tên của các
thành viên Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa, Kiểm sát viên, người giám định,
người phiên dịch; tên, địa chỉ của nguyên đơn, bị đơn, người có quyền lợi,
nghĩa vụ liên quan, cơ quan, tổ chức, cá nhân khởi kiện; người đại diện hợp
pháp, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của họ; người kháng cáo, Viện kiểm
sát kháng nghị; xét xử công khai hoặc xét xử kín; thời gian và địa điểm xét xử.
4. Trong phần nội dung vụ án, kháng cáo, kháng nghị và
nhận định phải tóm tắt nội dung vụ án, quyết định của Tòa án cấp sơ thẩm; nội
dung kháng cáo, kháng nghị.
Tòa án phải căn cứ vào tài liệu, chứng cứ đã được xem xét
tại phiên tòa, kết quả tranh tụng tại phiên tòa để phân tích, đánh giá, nhận
định về kháng cáo, kháng nghị, các tình tiết của vụ án, việc giải quyết, xét xử
của Tòa án cấp sơ thẩm, những căn cứ pháp luật mà Tòa án áp dụng, nếu vụ án
thuộc trường hợp quy định tại khoản 2 Điều 4 của Bộ luật này
thì còn phải căn cứ vào tập quán, tương tự pháp luật, những nguyên tắc cơ bản
của pháp luật dân sự, án lệ hoặc lẽ công bằng, để chấp nhận hoặc không chấp
nhận kháng cáo, kháng nghị và giải quyết các vấn đề khác có liên quan.
Trong phần quyết định phải ghi rõ các căn cứ pháp luật,
quyết định của Hội đồng xét xử về từng vấn đề phải giải quyết trong vụ án, về
áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời, án phí sơ thẩm, phúc thẩm, chi phí tố tụng
(nếu có).
5. Khi xét xử lại vụ án mà bản án, quyết định đã bị hủy
một phần hoặc toàn bộ theo quyết định giám đốc thẩm, tái thẩm thì Tòa án phải
giải quyết vấn đề tài sản, nghĩa vụ đã được thi hành (nếu có) theo bản án,
quyết định có hiệu lực pháp luật nhưng bị hủy và ghi rõ trong bản án.
6. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày
tuyên án.
Điều 314. Thủ tục phúc thẩm đối với quyết
định của Tòa án cấp sơ thẩm bị kháng cáo, kháng nghị
1. Khi phúc thẩm đối với quyết định của Tòa án cấp sơ
thẩm bị kháng cáo, kháng nghị, Hội đồng phúc thẩm không phải mở phiên tòa,
không phải triệu tập các đương sự, trừ trường hợp cần phải nghe ý kiến của họ
trước khi ra quyết định.
2. Trong thời hạn 01 tháng, kể từ ngày thụ lý vụ án có
quyết định của Tòa án cấp sơ thẩm bị kháng cáo, kháng nghị, Tòa án phải mở
phiên họp phúc thẩm để xem xét quyết định đó; trường hợp có lý do chính đáng
thì thời hạn này là 02 tháng. Kiểm sát viên Viện kiểm sát cùng cấp tham gia
phiên họp phúc thẩm. Kiểm sát viên vắng mặt thì Tòa án vẫn tiến hành phiên họp,
trừ trường hợp Viện kiểm sát có kháng nghị.
3. Một thành viên của Hội đồng phúc thẩm trình bày tóm
tắt nội dung quyết định sơ thẩm bị kháng cáo, kháng nghị, nội dung của kháng
cáo, kháng nghị và tài liệu, chứng cứ kèm theo (nếu có).
4. Kiểm sát viên phát biểu ý kiến của Viện kiểm sát về
việc giải quyết kháng cáo, kháng nghị trước khi Hội đồng phúc thẩm ra quyết
định.
5. Khi xem xét quyết định của Tòa án cấp sơ thẩm bị kháng
cáo, kháng nghị, Hội đồng phúc thẩm có quyền:
a) Giữ nguyên quyết định của Tòa án cấp sơ thẩm;
b) Sửa quyết định của Tòa án cấp sơ thẩm;
c) Hủy quyết định của Tòa án cấp sơ thẩm và chuyển hồ sơ
vụ án cho Tòa án cấp sơ thẩm để tiếp tục giải quyết vụ án.
6. Quyết định phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày
ra quyết định.
Điều 315. Gửi bản án, quyết định phúc thẩm
1. Trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày ra bản án, quyết
định phúc thẩm, Tòa án cấp phúc thẩm phải gửi bản án, quyết định phúc thẩm cho
Tòa án đã xét xử sơ thẩm, Viện kiểm sát cùng cấp, cơ quan thi hành án dân sự có
thẩm quyền, người kháng cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến việc
kháng cáo, kháng nghị hoặc người đại diện hợp pháp của họ.
Trường hợp Tòa án nhân dân cấp cao xét xử phúc thẩm thì
thời hạn này có thể dài hơn, nhưng không quá 25 ngày.
2. Bản án, quyết định phúc thẩm có liên quan đến bảo vệ
quyền lợi người tiêu dùng do tổ chức xã hội tham gia bảo vệ người tiêu dùng
khởi kiện phải được niêm yết công khai tại trụ sở Tòa án và công bố công khai
trên một trong các báo hàng ngày của trung ương hoặc địa phương trong ba số
liên tiếp.
Bản án, quyết định phúc thẩm có liên quan đến trách nhiệm
bồi thường của Nhà nước phải được Tòa án cấp phúc thẩm gửi cho cơ quan quản lý
nhà nước có thẩm quyền về bồi thường nhà nước.
Bản án, quyết định phúc thẩm có liên quan đến việc thay
đổi hộ tịch của cá nhân thì trong thời hạn 05 ngày làm việc, kể từ ngày bản án,
quyết định đó có hiệu lực pháp luật phải được Tòa án cấp phúc thẩm thông báo
bằng văn bản kèm theo trích lục bản án, quyết định cho Ủy ban nhân dân nơi đã
đăng ký hộ tịch của cá nhân đó theo quy định của Luật Hộ tịch.
3. Bản án phúc thẩm được Tòa án cấp phúc thẩm công bố
trên Cổng thông tin điện tử của Tòa án (nếu có), trừ trường hợp có chứa thông
tin quy định tại khoản 2 Điều 109 của Bộ luật này.
GIẢI QUYẾT VỤ ÁN DÂN SỰ THEO THỦ TỤC RÚT GỌN
Chương XVIII
GIẢI
QUYẾT VỤ ÁN DÂN SỰ THEO THỦ TỤC RÚT GỌN TẠI TÒA ÁN CẤP SƠ THẨM
Điều
316. Phạm vi áp dụng thủ tục rút gọn
1. Thủ tục rút gọn là thủ tục tố tụng được áp dụng để
giải quyết vụ án dân sự có đủ điều kiện theo quy định của Bộ luật này với trình
tự đơn giản so với thủ tục giải quyết các vụ án dân sự thông thường nhằm giải
quyết vụ án nhanh chóng nhưng vẫn bảo đảm đúng pháp luật.
2. Những quy định của Phần này được áp dụng để giải quyết
vụ án theo thủ tục rút gọn; trường hợp không có quy định thì áp dụng những quy
định khác của Bộ luật này để giải quyết vụ án.
3. Trường hợp luật khác có quy định tranh chấp dân sự
được giải quyết theo thủ tục rút gọn thì việc giải quyết tranh chấp đó được
thực hiện theo thủ tục quy định tại Phần này.
Điều 317. Điều kiện áp dụng thủ tục rút gọn
1. Trừ trường hợp quy định tại khoản 5 Điều này, Tòa án
giải quyết vụ án theo thủ tục rút gọn khi có đủ các điều kiện sau đây:[12]
a) Vụ án có tình tiết đơn giản, quan hệ pháp luật rõ
ràng, đương sự đã thừa nhận nghĩa vụ; tài liệu, chứng cứ đầy đủ, bảo đảm đủ căn
cứ để giải quyết vụ án và Tòa án không phải thu thập tài liệu, chứng cứ;
b) Các đương sự đều có địa chỉ nơi cư trú, trụ sở rõ
ràng;
c) Không có đương sự cư trú ở nước ngoài, tài sản tranh
chấp ở nước ngoài, trừ trường hợp đương sự ở nước ngoài và đương sự ở Việt Nam
có thỏa thuận đề nghị Tòa án giải quyết theo thủ tục rút gọn hoặc các đương sự
đã xuất trình được chứng cứ về quyền sở hữu hợp pháp tài sản và có thỏa thuận
thống nhất về việc xử lý tài sản.
2. Đối với vụ án lao động đã được thụ lý, giải quyết theo
thủ tục rút gọn mà người sử dụng lao động có quốc tịch nước ngoài hoặc người
đại diện theo pháp luật của họ đã rời khỏi địa chỉ nơi cư trú, nơi có trụ sở mà
không thông báo cho đương sự khác, Tòa án thì bị coi là trường hợp cố tình giấu
địa chỉ. Tòa án vẫn giải quyết vụ án đó theo thủ tục rút gọn quy định tại Phần
này.
3. Trong giai đoạn chuẩn bị xét xử vụ án theo thủ tục rút
gọn, nếu xuất hiện tình tiết mới sau đây làm cho vụ án không còn đủ điều kiện
để giải quyết theo thủ tục rút gọn thì Tòa án ra quyết định chuyển vụ án sang
giải quyết theo thủ tục thông thường:
a) Phát sinh tình tiết mới mà các đương sự không thống
nhất do đó cần phải xác minh, thu thập thêm tài liệu, chứng cứ hoặc cần phải
tiến hành giám định;
b) Cần phải định giá, thẩm định giá tài sản tranh chấp mà
các đương sự không thống nhất về giá;
c) Cần phải áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời;
d) Phát sinh người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan;
đ) Phát sinh yêu cầu phản tố hoặc yêu cầu độc lập;
e) Phát sinh đương sự cư trú ở nước ngoài, tài sản tranh
chấp ở nước ngoài, yêu cầu xác minh, thu thập chứng cứ ở nước ngoài mà cần phải
thực hiện ủy thác tư pháp, trừ trường hợp quy định tại điểm c khoản 1 Điều này.
4. Trường hợp chuyển vụ án sang giải quyết theo thủ tục
thông thường thì thời hạn chuẩn bị xét xử vụ án được tính lại kể từ ngày ra
quyết định chuyển vụ án sang giải quyết theo thủ tục thông thường.
5.[13] Điều kiện áp dụng thủ
tục rút gọn trong việc giải quyết vụ án dân sự về bảo vệ quyền lợi người tiêu
dùng có giá trị giao dịch dưới 100 triệu đồng được thực hiện theo quy định tại
khoản 2 Điều 70 của Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng.
Điều 318. Quyết định đưa vụ án ra xét xử theo
thủ tục rút gọn
1. Trong thời hạn không quá 01 tháng, kể từ ngày thụ lý
vụ án theo quy định tại khoản 3 và khoản 4 Điều 195 của Bộ
luật này, Thẩm phán được phân công giải quyết vụ án phải ra quyết định đưa
vụ án ra xét xử theo thủ tục rút gọn và mở phiên tòa xét xử trong thời hạn 10
ngày, kể từ ngày ra quyết định.
2. Quyết định đưa vụ án ra xét xử theo thủ tục rút gọn
phải có các nội dung chính sau đây:
a) Ngày, tháng, năm ra quyết định;
b) Tên Tòa án ra quyết định;
c) Vụ án được đưa ra xét xử theo thủ tục rút gọn;
d) Tên, địa chỉ; số điện thoại, fax, địa chỉ thư điện tử
(nếu có) của nguyên đơn, bị đơn hoặc cơ quan, tổ chức, cá nhân khởi kiện quy
định tại Điều 187 của Bộ luật này, người có quyền lợi,
nghĩa vụ liên quan;
đ) Họ, tên Thẩm phán, Thư ký Tòa án; họ, tên Thẩm phán dự
khuyết (nếu có);
e) Họ, tên Kiểm sát viên; họ, tên Kiểm sát viên dự khuyết
(nếu có);
g) Ngày, giờ, tháng, năm, địa điểm mở phiên tòa;
h) Xét xử công khai hoặc xét xử kín;
i) Họ, tên những người được triệu tập tham gia phiên tòa.
3. Quyết định đưa vụ án ra xét xử theo thủ tục rút gọn
phải được gửi ngay cho đương sự, Viện kiểm sát cùng cấp.
Trường hợp Viện kiểm sát tham gia phiên tòa theo quy định
tại khoản 2 Điều 21 của Bộ luật này thì Tòa án phải gửi hồ
sơ vụ án cùng quyết định đưa vụ án ra xét xử cho Viện kiểm sát cùng cấp; trong
thời hạn 03 ngày làm việc, kể từ ngày nhận được hồ sơ, Viện kiểm sát phải
nghiên cứu và trả lại hồ sơ cho Tòa án.
1. Trong thời hạn 03 ngày làm việc, kể từ ngày nhận được
quyết định đưa vụ án ra xét xử theo thủ tục rút gọn, đương sự có quyền khiếu
nại, Viện kiểm sát cùng cấp có quyền kiến nghị với Chánh án Tòa án đã ra quyết
định.
2. Trong thời hạn 03 ngày làm việc, kể từ ngày nhận được
khiếu nại, kiến nghị về quyết định đưa vụ án ra xét xử theo thủ tục rút gọn,
Chánh án Tòa án phải ra một trong các quyết định sau đây:
a) Giữ nguyên quyết định đưa vụ án ra xét xử theo thủ tục
rút gọn;
b) Hủy quyết định đưa vụ án ra xét xử theo thủ tục rút
gọn và chuyển vụ án sang giải quyết theo thủ tục thông thường.
3. Quyết định giải quyết khiếu nại, kiến nghị của Chánh
án Tòa án là quyết định cuối cùng và phải được gửi ngay cho đương sự, Viện kiểm
sát cùng cấp.
Điều 320. Phiên tòa xét xử theo thủ tục rút
gọn
1. Các đương sự, Kiểm sát viên Viện kiểm sát cùng cấp
phải có mặt tại phiên tòa xét xử theo thủ tục rút gọn. Trường hợp Kiểm sát viên
vắng mặt thì Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử. Đương sự có quyền đề nghị
Tòa án xét xử vắng mặt.
Trường hợp bị đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan
đã được triệu tập hợp lệ mà vắng mặt không có lý do chính đáng thì Thẩm phán
vẫn tiến hành phiên tòa.
2. Thẩm phán tiến hành thủ tục khai mạc phiên tòa theo
quy định tại Điều 239 của Bộ luật này.
3. Sau khi khai mạc phiên tòa, Thẩm phán tiến hành hòa
giải, trừ trường hợp không được hòa giải theo quy định tại Điều
206 hoặc không tiến hành hòa giải được theo quy định tại Điều
207 của Bộ luật này. Trường hợp các đương sự thỏa thuận được với nhau về
vấn đề phải giải quyết trong vụ án thì Thẩm phán ra quyết định công nhận sự
thỏa thuận của các đương sự theo quy định tại Điều 212 của Bộ
luật này. Trường hợp các đương sự không thỏa thuận được với nhau về vấn đề
phải giải quyết trong vụ án thì Thẩm phán tiến hành xét xử.
Việc trình bày, tranh luận, đối đáp, đề xuất quan điểm về
việc giải quyết vụ án được thực hiện theo quy định tại Mục 3 Chương XIV của Bộ
luật này.
4. Trường hợp tại phiên tòa mà phát sinh tình tiết mới
quy định tại khoản 3 Điều 317 của Bộ luật này làm cho vụ
án không còn đủ điều kiện để giải quyết theo thủ tục rút gọn thì Thẩm phán xem
xét, ra quyết định chuyển vụ án sang giải quyết theo thủ tục thông thường.
Trong trường hợp này, thời hạn chuẩn bị xét xử vụ án được tính theo quy định
tại khoản 4 Điều 317 của Bộ luật này.
Điều 321. Hiệu lực của bản án, quyết định
theo thủ tục rút gọn
1. Bản án, quyết định sơ thẩm của Tòa án theo thủ tục rút
gọn có thể bị kháng cáo, kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm để yêu cầu Tòa án
cấp phúc thẩm giải quyết lại theo thủ tục phúc thẩm rút gọn.
2. Bản án, quyết định theo thủ tục rút gọn có thể bị
kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm, tái thẩm theo quy định của Bộ luật này.
GIẢI
QUYẾT VỤ ÁN DÂN SỰ THEO THỦ TỤC RÚT GỌN TẠI TÒA ÁN CẤP PHÚC THẨM
Điều 322. Thời hạn kháng cáo, kháng nghị đối
với bản án, quyết định theo thủ tục rút gọn
1. Thời hạn kháng cáo đối với bản án, quyết định của Tòa
án cấp sơ thẩm theo thủ tục rút gọn là 07 ngày, kể từ ngày tuyên án. Đối với
đương sự không có mặt tại phiên tòa thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày bản án,
quyết định được giao cho họ hoặc bản án, quyết định được niêm yết.
2. Thời hạn kháng nghị đối với bản án, quyết định của Tòa
án cấp sơ thẩm theo thủ tục rút gọn của Viện kiểm sát cùng cấp là 07 ngày, của
Viện kiểm sát cấp trên trực tiếp là 10 ngày, kể từ ngày nhận được bản án, quyết
định.
Điều 323. Thời hạn chuẩn bị xét xử phúc thẩm
theo thủ tục rút gọn
1. Trong thời hạn 01 tháng, kể từ ngày thụ lý vụ án, tuỳ
từng trường hợp, Thẩm phán được phân công giải quyết vụ án theo thủ tục phúc
thẩm ra một trong các quyết định sau đây:
a) Tạm đình chỉ xét xử phúc thẩm vụ án;
b) Đình chỉ xét xử phúc thẩm vụ án;
c) Đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm.
2. Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm phải có nội
dung quy định tại khoản 1 Điều 290 của Bộ luật này. Quyết
định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm phải được gửi ngay cho những người có liên
quan đến kháng cáo, kháng nghị và Viện kiểm sát cùng cấp kèm theo hồ sơ vụ án
để nghiên cứu.
Thời hạn nghiên cứu hồ sơ của Viện kiểm sát cùng cấp là
05 ngày làm việc, kể từ ngày nhận được hồ sơ vụ án; hết thời hạn đó, Viện kiểm
sát phải trả hồ sơ vụ án cho Tòa án.
3. Trường hợp có quyết định tạm đình chỉ xét xử phúc thẩm
vụ án thì thời hạn chuẩn bị xét xử phúc thẩm được tính lại kể từ ngày Tòa án
cấp phúc thẩm tiếp tục xét xử phúc thẩm vụ án khi lý do tạm đình chỉ không còn.
4. Trường hợp xuất hiện tình tiết mới quy định tại khoản 3 Điều 317 của Bộ luật này thì Tòa án ra quyết định
chuyển vụ án sang giải quyết theo thủ tục thông thường. Trong trường hợp này,
thời hạn chuẩn bị xét xử vụ án được tính theo quy định tại khoản
4 Điều 317 của Bộ luật này.
1. Trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày có quyết định đưa
vụ án ra xét xử phúc thẩm, Thẩm phán phải mở phiên tòa phúc thẩm.
2. Các đương sự, Kiểm sát viên Viện kiểm sát cùng cấp
phải có mặt tại phiên tòa phúc thẩm. Trường hợp Kiểm sát viên vắng mặt thì Hội
đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử, trừ trường hợp Viện kiểm sát có kháng nghị
phúc thẩm. Đương sự có quyền đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt.
Trường hợp đương sự không kháng cáo đã được triệu tập hợp
lệ mà vắng mặt không có lý do chính đáng thì Thẩm phán vẫn tiến hành phiên tòa.
3. Thẩm phán trình bày tóm tắt nội dung bản án, quyết
định sơ thẩm bị kháng cáo, kháng nghị, nội dung của kháng cáo, kháng nghị và
tài liệu, chứng cứ kèm theo (nếu có).
4. Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự
trình bày, đương sự bổ sung ý kiến về nội dung kháng cáo, kháng nghị, tranh
luận, đối đáp, đề xuất quan điểm của mình về việc giải quyết vụ án.
5. Sau khi kết thúc việc tranh luận và đối đáp, Kiểm sát
viên phát biểu ý kiến của Viện kiểm sát về việc tuân theo pháp luật trong quá
trình giải quyết vụ án dân sự ở giai đoạn phúc thẩm.
Ngay sau khi kết thúc phiên tòa, Kiểm sát viên phải gửi
văn bản phát biểu ý kiến cho Tòa án để lưu vào hồ sơ vụ án.
6. Khi xem xét bản án, quyết định của Tòa án cấp sơ thẩm
bị kháng cáo, kháng nghị, Thẩm phán có quyền sau đây:
a) Giữ nguyên bản án, quyết định của Tòa án cấp sơ thẩm;
b) Sửa bản án, quyết định của Tòa án cấp sơ thẩm;
c) Hủy bản án, quyết định của Tòa án cấp sơ thẩm và
chuyển hồ sơ vụ án cho Tòa án cấp sơ thẩm để giải quyết lại vụ án theo thủ tục
rút gọn hoặc theo thủ tục thông thường nếu không còn đủ các điều kiện để giải
quyết theo thủ tục rút gọn;
d) Hủy bản án sơ thẩm và đình chỉ giải quyết vụ án;
đ) Đình chỉ xét xử phúc thẩm và giữ nguyên bản án sơ
thẩm.
7. Bản án, quyết định phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể
từ ngày ra bản án, quyết định.
THỦ TỤC XÉT LẠI BẢN ÁN, QUYẾT ĐỊNH ĐÃ CÓ HIỆU
LỰC PHÁP LUẬT
Chương XX
Điều 325. Tính chất của giám đốc thẩm
Giám đốc thẩm là xét lại bản án, quyết định của Tòa án đã
có hiệu lực pháp luật nhưng bị kháng nghị giám đốc thẩm khi có căn cứ quy định
tại Điều 326 của Bộ luật này.
Điều 326. Căn cứ, điều kiện để kháng nghị
theo thủ tục giám đốc thẩm
1. Bản án, quyết định của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật
bị kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm khi có một trong những căn cứ sau đây:
a) Kết luận trong bản án, quyết định không phù hợp với
những tình tiết khách quan của vụ án gây thiệt hại đến quyền, lợi ích hợp pháp
của đương sự;
b) Có vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng làm cho đương
sự không thực hiện được quyền, nghĩa vụ tố tụng của mình, dẫn đến quyền, lợi
ích hợp pháp của họ không được bảo vệ theo đúng quy định của pháp luật;
c) Có sai lầm trong việc áp dụng pháp luật dẫn đến việc
ra bản án, quyết định không đúng, gây thiệt hại đến quyền, lợi ích hợp pháp của
đương sự, xâm phạm đến lợi ích công cộng, lợi ích của Nhà nước, quyền, lợi ích
hợp pháp của người thứ ba.
2. Người có thẩm quyền kháng nghị quy định tại Điều 331 của Bộ luật này kháng nghị bản án, quyết định của
Tòa án đã có hiệu lực pháp luật khi có một trong các căn cứ quy định tại khoản
1 Điều này và có đơn đề nghị theo quy định tại Điều 328 của Bộ
luật này hoặc có thông báo, kiến nghị theo quy định tại khoản
2 và khoản 3 Điều 327 của Bộ luật này; trường hợp xâm phạm đến lợi ích công
cộng, lợi ích của Nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của người thứ ba thì không
cần phải có đơn đề nghị.
1. Trong thời hạn 01 năm, kể từ ngày bản án, quyết định
của Tòa án có hiệu lực pháp luật, nếu phát hiện có vi phạm pháp luật trong bản
án, quyết định đó thì đương sự có quyền đề nghị bằng văn bản với người có thẩm
quyền kháng nghị quy định tại Điều 331 của Bộ luật này để
xem xét kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm.
2. Trường hợp Tòa án, Viện kiểm sát hoặc cơ quan, tổ
chức, cá nhân khác phát hiện có vi phạm pháp luật trong bản án, quyết định của
Tòa án đã có hiệu lực pháp luật thì phải thông báo bằng văn bản cho người có
thẩm quyền kháng nghị quy định tại Điều 331 của Bộ luật này.
3. Chánh án Tòa án nhân dân cấp tỉnh kiến nghị Chánh án
Tòa án nhân dân cấp cao hoặc Chánh án Tòa án nhân dân tối cao, Chánh án Tòa án
nhân dân cấp cao kiến nghị Chánh án Tòa án nhân dân tối cao xem xét kháng nghị
theo thủ tục giám đốc thẩm bản án, quyết định của Tòa án đã có hiệu lực pháp
luật nếu phát hiện có căn cứ quy định tại khoản 1 Điều 326 của
Bộ luật này.
1. Đơn đề nghị xem xét bản án, quyết định của Tòa án đã
có hiệu lực pháp luật theo thủ tục giám đốc thẩm phải có các nội dung chính sau
đây:
a) Ngày, tháng, năm làm đơn đề nghị;
b) Tên, địa chỉ của người đề nghị;
c) Tên bản án, quyết định của Tòa án đã có hiệu lực pháp
luật được đề nghị xem xét theo thủ tục giám đốc thẩm;
d) Lý do đề nghị, yêu cầu của người đề nghị;
đ) Người đề nghị là cá nhân phải ký tên hoặc điểm chỉ;
người đề nghị là cơ quan, tổ chức thì người đại diện hợp pháp của cơ quan, tổ
chức đó phải ký tên và đóng dấu vào phần cuối đơn; trường hợp tổ chức đề nghị
là doanh nghiệp thì việc sử dụng con dấu được thực hiện theo quy định của Luật
Doanh nghiệp.
2. Kèm theo đơn đề nghị, người đề nghị phải gửi bản án,
quyết định của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật, tài liệu, chứng cứ (nếu có) để
chứng minh cho những yêu cầu của mình là có căn cứ và hợp pháp.
3. Đơn đề nghị và tài liệu, chứng cứ được gửi cho người
có thẩm quyền kháng nghị quy định tại Điều 331 của Bộ luật này.
1. Tòa án, Viện kiểm sát nhận đơn đề nghị do đương sự nộp
trực tiếp tại Tòa án, Viện kiểm sát hoặc gửi qua dịch vụ bưu chính và phải ghi
vào sổ nhận đơn, cấp giấy xác nhận đã nhận đơn cho đương sự. Ngày gửi đơn được
tính từ ngày đương sự nộp đơn tại Tòa án, Viện kiểm sát hoặc ngày có dấu dịch
vụ bưu chính nơi gửi.
2. Tòa án, Viện kiểm sát chỉ thụ lý đơn đề nghị khi có đủ
các nội dung quy định tại Điều 328 của Bộ luật này. Trường
hợp đơn đề nghị không có đủ điều kiện theo quy định tại Điều
328 của Bộ luật này thì Tòa án, Viện kiểm sát yêu cầu người gửi đơn sửa
đổi, bổ sung trong thời hạn 01 tháng, kể từ ngày nhận được yêu cầu của Tòa án,
Viện kiểm sát; hết thời hạn này mà người gửi đơn không sửa đổi, bổ sung thì Tòa
án, Viện kiểm sát trả lại đơn đề nghị, nêu rõ lý do cho đương sự và ghi chú vào
sổ nhận đơn.
3. Người có thẩm quyền kháng nghị theo thủ tục giám đốc
thẩm phân công người có trách nhiệm tiến hành nghiên cứu đơn, thông báo, kiến
nghị, hồ sơ vụ án, báo cáo người có thẩm quyền kháng nghị xem xét, quyết định;
trường hợp không kháng nghị thì thông báo bằng văn bản, nêu rõ lý do cho đương
sự, cơ quan, tổ chức, cá nhân có văn bản thông báo, kiến nghị.
Chánh án Tòa án nhân dân tối cao phân công Thẩm phán Tòa
án nhân dân tối cao, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao phân công Kiểm
sát viên Viện kiểm sát nhân dân tối cao nghiên cứu đơn, thông báo, kiến nghị,
hồ sơ vụ án, báo cáo Chánh án Tòa án nhân dân tối cao, Viện trưởng Viện kiểm
sát nhân dân tối cao xem xét, quyết định kháng nghị. Trường hợp không kháng
nghị thì Chánh án Tòa án nhân dân tối cao, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân
tối cao tự mình hoặc ủy quyền cho Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao, Kiểm sát
viên Viện kiểm sát nhân dân tối cao thông báo bằng văn bản, nêu rõ lý do cho
đương sự, cơ quan, tổ chức, cá nhân có văn bản thông báo, kiến nghị.
Điều 330. Bổ sung, xác minh tài liệu, chứng
cứ trong thủ tục giám đốc thẩm
1. Đương sự có quyền cung cấp tài liệu, chứng cứ cho
người có thẩm quyền kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm nếu tài liệu, chứng
cứ đó chưa được Tòa án cấp sơ thẩm, Tòa án cấp phúc thẩm yêu cầu đương sự giao
nộp hoặc đã yêu cầu giao nộp nhưng đương sự không giao nộp được vì có lý do
chính đáng hoặc tài liệu, chứng cứ mà đương sự không thể biết được trong quá
trình giải quyết vụ án.
2. Trong quá trình giải quyết đơn đề nghị xem xét bản án,
quyết định của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật theo thủ tục giám đốc thẩm,
người có thẩm quyền kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm có quyền yêu cầu
người có đơn bổ sung tài liệu, chứng cứ hoặc tự mình kiểm tra, xác minh tài
liệu, chứng cứ cần thiết.
Điều 331. Người có thẩm quyền kháng nghị theo
thủ tục giám đốc thẩm
1. Chánh án Tòa án nhân dân tối cao, Viện trưởng Viện
kiểm sát nhân dân tối cao có thẩm quyền kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm
bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật của Tòa án nhân dân cấp cao; bản
án, quyết định có hiệu lực pháp luật của Tòa án khác khi xét thấy cần thiết,
trừ quyết định giám đốc thẩm của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao.
2. Chánh án Tòa án nhân dân cấp cao, Viện trưởng Viện
kiểm sát nhân dân cấp cao có quyền kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm bản
án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật của Tòa án nhân dân cấp tỉnh, Tòa án
nhân dân cấp huyện trong phạm vi thẩm quyền theo lãnh thổ.
Điều 332. Hoãn, tạm đình chỉ thi hành bản án,
quyết định đã có hiệu lực pháp luật
1. Người có thẩm quyền kháng nghị bản án, quyết định đã
có hiệu lực pháp luật của Tòa án có quyền yêu cầu hoãn thi hành bản án, quyết
định để xem xét việc kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm. Việc hoãn thi hành
bản án, quyết định được thực hiện theo quy định của pháp luật thi hành án dân
sự.
2. Người đã kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm bản án,
quyết định đã có hiệu lực pháp luật có quyền quyết định tạm đình chỉ thi hành
bản án, quyết định đó cho đến khi có quyết định giám đốc thẩm.
Điều 333. Quyết định kháng nghị giám đốc thẩm
Quyết định kháng nghị giám đốc thẩm phải có các nội dung
chính sau đây:
1. Ngày, tháng, năm ra quyết định kháng nghị và số của
quyết định kháng nghị;
2. Chức vụ của người ra quyết định kháng nghị;
3. Số, ngày, tháng, năm của bản án, quyết định đã có hiệu
lực pháp luật bị kháng nghị;
4. Quyết định của bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp
luật bị kháng nghị;
5. Nhận xét, phân tích những vi phạm, sai lầm của bản án,
quyết định đã có hiệu lực pháp luật bị kháng nghị;
6. Căn cứ pháp luật để quyết định kháng nghị;
7. Kháng nghị toàn bộ hoặc phần của bản án, quyết định đã
có hiệu lực pháp luật;
8. Tên của Tòa án có thẩm quyền giám đốc thẩm vụ án;
9. Đề nghị của người kháng nghị.
Điều 334. Thời hạn kháng nghị theo thủ tục
giám đốc thẩm
1. Người có thẩm quyền kháng nghị theo thủ tục giám đốc
thẩm có quyền kháng nghị trong thời hạn 03 năm, kể từ ngày bản án, quyết định
của Tòa án có hiệu lực pháp luật, trừ trường hợp quy định tại khoản 2 Điều này.
2. Trường hợp đã hết thời hạn kháng nghị theo quy định
tại khoản 1 Điều này nhưng có các điều kiện sau đây thì thời hạn kháng nghị
được kéo dài thêm 02 năm, kể từ ngày hết thời hạn kháng nghị:
a) Đương sự đã có đơn đề nghị theo quy định tại khoản 1 Điều 328 của Bộ luật này và sau khi hết thời hạn
kháng nghị quy định tại khoản 1 Điều này đương sự vẫn tiếp tục có đơn đề nghị;
b) Bản án, quyết định của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật
có vi phạm pháp luật theo quy định tại khoản 1 Điều 326 của Bộ
luật này, xâm phạm nghiêm trọng đến quyền, lợi ích hợp pháp của đương sự,
của người thứ ba, xâm phạm lợi ích của cộng đồng, lợi ích của Nhà nước và phải
kháng nghị để khắc phục sai lầm trong bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp
luật đó.
Điều 335. Thay đổi, bổ sung, rút kháng nghị
giám đốc thẩm
1. Người đã kháng nghị giám đốc thẩm có quyền thay đổi,
bổ sung kháng nghị nếu chưa hết thời hạn kháng nghị quy định tại Điều 334 của Bộ luật này. Việc thay đổi, bổ sung phải được
thực hiện bằng quyết định. Quyết định thay đổi, bổ sung kháng nghị phải được
gửi theo quy định tại Điều 336 của Bộ luật này.
2. Người đã kháng nghị có quyền rút một phần hoặc toàn bộ
kháng nghị trước khi mở phiên tòa hoặc tại phiên tòa giám đốc thẩm. Việc rút
kháng nghị phải được thực hiện bằng quyết định.
3. Khi nhận được quyết định rút toàn bộ kháng nghị, Tòa
án giám đốc thẩm ra quyết định đình chỉ việc xét xử giám đốc thẩm.
Điều 336. Gửi quyết định kháng nghị giám đốc
thẩm
1. Quyết định kháng nghị giám đốc thẩm phải được gửi ngay
cho Tòa án ra bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật bị kháng nghị, các
đương sự, cơ quan thi hành án dân sự có thẩm quyền, người khác có quyền lợi,
nghĩa vụ liên quan đến nội dung kháng nghị.
2. Trường hợp Chánh án Tòa án nhân dân tối cao hoặc Chánh
án Tòa án nhân dân cấp cao kháng nghị thì quyết định kháng nghị cùng hồ sơ vụ
án phải được gửi ngay cho Viện kiểm sát cùng cấp. Viện kiểm sát nghiên cứu hồ
sơ trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được hồ sơ vụ án; hết thời hạn này,
Viện kiểm sát phải chuyển hồ sơ vụ án cho Tòa án có thẩm quyền giám đốc thẩm.
3. Trường hợp Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao
hoặc Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân cấp cao kháng nghị thì quyết định kháng
nghị phải được gửi ngay cho Tòa án có thẩm quyền giám đốc thẩm.
Điều 337. Thẩm quyền giám đốc thẩm
1. Ủy ban Thẩm phán Tòa án nhân dân cấp cao giám đốc thẩm
bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật của Tòa án nhân dân cấp tỉnh, Tòa
án nhân dân cấp huyện trong phạm vi thẩm quyền theo lãnh thổ bị kháng nghị như
sau:
a) Ủy ban Thẩm phán Tòa án nhân dân cấp cao xét xử giám
đốc thẩm bằng Hội đồng xét xử gồm ba Thẩm phán đối với bản án, quyết định của
Tòa án nhân dân cấp tỉnh, Tòa án nhân dân cấp huyện có hiệu lực pháp luật bị
kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm;
b) Toàn thể Ủy ban Thẩm phán Tòa án nhân dân cấp cao xét
xử giám đốc thẩm đối với bản án, quyết định của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật
quy định tại điểm a khoản này nhưng có tính chất phức tạp hoặc bản án, quyết
định đã được Ủy ban thẩm phán Tòa án nhân dân cấp cao xét xử giám đốc thẩm bằng
Hội đồng xét xử gồm ba Thẩm phán nhưng không đạt được sự thống nhất khi biểu
quyết thông qua quyết định về việc giải quyết vụ án.
2. Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao giám đốc
thẩm bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật của Tòa án nhân dân cấp cao bị
kháng nghị như sau:
a) Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao xét xử giám
đốc thẩm bằng Hội đồng xét xử gồm năm Thẩm phán đối với bản án, quyết định của
Tòa án nhân dân cấp cao bị kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm;
b) Toàn thể Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao
xét xử giám đốc thẩm đối với bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật quy
định tại điểm a khoản này nhưng có tính chất phức tạp hoặc bản án, quyết định
đã được Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao xét xử giám đốc thẩm bằng
Hội đồng xét xử gồm năm Thẩm phán nhưng không đạt được sự thống nhất khi biểu
quyết thông qua quyết định về việc giải quyết vụ án.
3. Những vụ án có tính chất phức tạp quy định tại điểm b
khoản 1 và điểm b khoản 2 Điều này là những vụ án thuộc một trong các trường
hợp sau đây:
a) Quy định của pháp luật về những vấn đề cần giải quyết
trong vụ án chưa rõ ràng, chưa được hướng dẫn áp dụng thống nhất;
b) Việc đánh giá chứng cứ, áp dụng pháp luật có nhiều ý
kiến khác nhau;
c) Việc giải quyết vụ án liên quan đến lợi ích công cộng,
lợi ích của Nhà nước, bảo vệ quyền con người, quyền công dân được dư luận xã
hội đặc biệt quan tâm.
4. Chánh án Tòa án nhân dân cấp cao xem xét, quyết định
việc tổ chức xét xử giám đốc thẩm trong các trường hợp quy định tại khoản 1
Điều này. Chánh án Tòa án nhân dân tối cao xem xét, quyết định việc tổ chức xét
xử giám đốc thẩm trong các trường hợp quy định tại khoản 2 Điều này.
5. Trường hợp những bản án, quyết định đã có hiệu lực
pháp luật về cùng một vụ án dân sự cùng thuộc thẩm quyền giám đốc thẩm của Tòa
án nhân dân cấp cao và Tòa án nhân dân tối cao thì Tòa án nhân dân tối cao có
thẩm quyền giám đốc thẩm toàn bộ vụ án.
Điều 338. Những người tham gia phiên tòa giám
đốc thẩm
1. Phiên tòa giám đốc thẩm phải có sự tham gia của Viện
kiểm sát cùng cấp.
2. Trường hợp xét thấy cần thiết, Tòa án triệu tập đương
sự hoặc người đại diện hợp pháp, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của
đương sự hoặc người tham gia tố tụng khác có liên quan đến việc kháng nghị tham
gia phiên tòa giám đốc thẩm; nếu họ vắng mặt tại phiên tòa thì Hội đồng xét xử
giám đốc thẩm vẫn tiến hành phiên tòa.
Điều 339. Thời hạn mở phiên tòa giám đốc thẩm
Trong thời hạn 04 tháng, kể từ ngày nhận được kháng nghị
kèm theo hồ sơ vụ án, Tòa án có thẩm quyền giám đốc thẩm phải mở phiên tòa để
xét xử vụ án theo thủ tục giám đốc thẩm.
Điều 340. Chuẩn bị phiên tòa giám đốc thẩm
Chánh án Tòa án phân công một Thẩm phán làm bản thuyết
trình về vụ án tại phiên tòa. Bản thuyết trình tóm tắt nội dung vụ án và các
bản án, quyết định của các cấp Tòa án, nội dung của kháng nghị. Bản thuyết
trình phải được gửi cho các thành viên Hội đồng xét xử giám đốc thẩm chậm nhất
là 07 ngày trước ngày mở phiên tòa giám đốc thẩm.
Điều 341. Thủ tục xét xử tại phiên tòa giám
đốc thẩm
1. Sau khi chủ tọa khai mạc phiên tòa, một thành viên Hội
đồng xét xử giám đốc thẩm trình bày tóm tắt nội dung vụ án, quá trình xét xử vụ
án, quyết định của bản án, quyết định của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật bị
kháng nghị, các căn cứ, nhận định của kháng nghị và đề nghị của người kháng
nghị. Trường hợp Viện kiểm sát kháng nghị thì đại diện Viện kiểm sát trình bày
nội dung kháng nghị.
2. Đương sự, người đại diện hợp pháp, người bảo vệ quyền
và lợi ích hợp pháp của đương sự hoặc người tham gia tố tụng khác được Tòa án
triệu tập đến phiên tòa giám đốc thẩm trình bày ý kiến về những vấn đề mà Hội
đồng giám đốc thẩm yêu cầu. Trường hợp họ vắng mặt nhưng có văn bản trình bày ý
kiến thì Hội đồng xét xử giám đốc thẩm công bố ý kiến của họ.
3. Đại diện Viện kiểm sát phát biểu ý kiến về quyết định
kháng nghị và việc giải quyết vụ án.
Ngay sau khi kết thúc phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát
phải gửi văn bản phát biểu ý kiến cho Tòa án để lưu vào hồ sơ vụ án.
4. Các thành viên Hội đồng xét xử giám đốc thẩm phát biểu
ý kiến và thảo luận. Hội đồng xét xử giám đốc thẩm nghị án và biểu quyết về
việc giải quyết vụ án và công bố nội dung quyết định về việc giải quyết vụ án
tại phiên tòa. Việc nghị án phải được thực hiện theo các nguyên tắc quy định
tại Điều 264 của Bộ luật này.
5. Trường hợp Ủy ban Thẩm phán Tòa án nhân dân cấp cao
xét xử theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 337 của Bộ luật
này thì quyết định của Hội đồng xét xử phải được tất cả thành viên tham gia
Hội đồng biểu quyết tán thành.
Trường hợp xét xử theo quy định tại điểm
b khoản 1 Điều 337 của Bộ luật này thì phiên tòa xét xử của toàn thể Ủy ban
Thẩm phán Tòa án nhân dân cấp cao phải có ít nhất hai phần ba tổng số thành
viên tham gia; quyết định của Ủy ban Thẩm phán phải được quá nửa tổng số thành
viên biểu quyết tán thành.
6. Trường hợp Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao
xét xử theo quy định tại điểm a khoản 2 Điều 337 của Bộ luật
này thì quyết định của Hội đồng xét xử phải được tất cả thành viên tham gia
Hội đồng biểu quyết tán thành.
Trường hợp xét xử theo quy định tại điểm
b khoản 2 Điều 337 của Bộ luật này thì phiên tòa xét xử của toàn thể Hội
đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao phải có ít nhất hai phần ba tổng số
thành viên tham gia; quyết định của Hội đồng Thẩm phán phải được quá nửa tổng
số thành viên biểu quyết tán thành.
Điều 342. Phạm vi giám đốc thẩm
1. Hội đồng xét xử giám đốc thẩm chỉ xem xét lại phần
quyết định của bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật bị kháng nghị hoặc
có liên quan đến việc xem xét nội dung kháng nghị.
2. Hội đồng xét xử giám đốc thẩm có quyền xem xét phần
quyết định của bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật không bị kháng nghị
hoặc không liên quan đến việc xem xét nội dung kháng nghị, nếu phần quyết định
đó xâm phạm đến lợi ích công cộng, lợi ích của Nhà nước, lợi ích của người thứ
ba không phải là đương sự trong vụ án.
Điều 343. Thẩm quyền của Hội đồng xét xử giám
đốc thẩm
Hội đồng xét xử giám đốc thẩm có thẩm quyền sau đây:
1. Không chấp nhận kháng nghị và giữ nguyên bản án, quyết
định của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật;
2. Hủy bản án, quyết định của Tòa án đã có hiệu lực pháp
luật và giữ nguyên bản án, quyết định đúng pháp luật của Tòa án cấp dưới đã bị
hủy hoặc bị sửa;
3. Hủy một phần hoặc toàn bộ bản án, quyết định của Tòa
án đã có hiệu lực pháp luật để xét xử lại theo thủ tục sơ thẩm hoặc xét xử lại
theo thủ tục phúc thẩm;
4. Hủy bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật và
đình chỉ giải quyết vụ án;
5. Sửa một phần hoặc toàn bộ bản án, quyết định của Tòa
án đã có hiệu lực pháp luật.
Điều 344. Giữ nguyên bản án, quyết định đúng
pháp luật của Tòa án cấp dưới đã bị hủy hoặc bị sửa
Hội đồng xét xử giám đốc thẩm ra quyết định hủy bản án,
quyết định đã có hiệu lực pháp luật bị kháng nghị và giữ nguyên bản án, quyết
định của Tòa án cấp dưới xét xử đúng pháp luật nhưng đã bị bản án, quyết định
đã có hiệu lực pháp luật bị kháng nghị hủy bỏ hoặc sửa đổi một phần hay toàn
bộ.
Trường hợp bản án, quyết định của Tòa án đã thi hành được
một phần hoặc toàn bộ thì Hội đồng xét xử giám đốc thẩm phải giải quyết hậu quả
của việc thi hành án.
Hội đồng xét xử giám đốc thẩm ra quyết định hủy một phần
hoặc toàn bộ bản án, quyết định của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật bị kháng
nghị để xét xử lại theo thủ tục sơ thẩm hoặc xét xử lại theo thủ tục phúc thẩm
trong trường hợp sau đây:
1. Việc thu thập chứng cứ và chứng minh chưa được thực
hiện đầy đủ hoặc không theo đúng quy định tại Chương VII của Bộ luật này;
2. Kết luận trong bản án, quyết định không phù hợp với
những tình tiết khách quan của vụ án hoặc có sai lầm nghiêm trọng trong việc áp
dụng pháp luật;
3. Thành phần của Hội đồng xét xử sơ thẩm hoặc phúc thẩm
không đúng quy định của Bộ luật này hoặc có vi phạm nghiêm trọng khác về thủ
tục tố tụng ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự.
Điều 346. Hủy bản án, quyết định đã có hiệu
lực pháp luật và đình chỉ giải quyết vụ án
Hội đồng xét xử giám đốc thẩm ra quyết định hủy bản án,
quyết định của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật và đình chỉ giải quyết vụ án,
nếu vụ án đó thuộc một trong các trường hợp quy định tại Điều
217 của Bộ luật này.
Trường hợp bản án, quyết định của Tòa án đã thi hành được
một phần hoặc toàn bộ thì Hội đồng xét xử giám đốc thẩm phải giải quyết hậu quả
của việc thi hành án.
Điều 347. Sửa một phần hoặc toàn bộ bản án,
quyết định của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật
1. Hội đồng xét xử giám đốc thẩm ra quyết định sửa một
phần hoặc toàn bộ bản án, quyết định của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật khi có
đủ các điều kiện sau đây:
a) Tài liệu, chứng cứ trong hồ sơ vụ án đã đầy đủ, rõ
ràng; có đủ căn cứ để làm rõ các tình tiết trong vụ án;
b) Việc sửa bản án, quyết định bị kháng nghị không làm
ảnh hưởng đến quyền, nghĩa vụ của cơ quan, tổ chức, cá nhân khác.
2. Trường hợp bản án, quyết định của Tòa án đã thi hành
được một phần hoặc toàn bộ thì Hội đồng xét xử giám đốc thẩm phải giải quyết
hậu quả của việc thi hành án.
Điều 348. Quyết định giám đốc thẩm
1. Hội đồng xét xử giám đốc thẩm ra quyết định nhân danh
nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam.
2. Quyết định giám đốc thẩm phải có các nội dung sau đây:
a) Ngày, tháng, năm và địa điểm mở phiên tòa giám đốc
thẩm;
b) Họ, tên các thành viên Hội đồng xét xử giám đốc thẩm.
Trường hợp Hội đồng xét xử giám đốc thẩm là Ủy ban Thẩm phán Tòa án nhân dân
cấp cao hoặc Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao thì ghi họ, tên, chức
vụ của chủ tọa phiên tòa và số lượng thành viên tham gia xét xử;
c) Họ, tên Thư ký Tòa án, Kiểm sát viên tham gia phiên
tòa giám đốc thẩm;
d) Tên vụ án mà Hội đồng đưa ra xét xử giám đốc thẩm;
đ) Tên, địa chỉ của các đương sự trong vụ án;
e) Tóm tắt nội dung vụ án, quyết định của bản án, quyết
định đã có hiệu lực pháp luật bị kháng nghị;
g) Quyết định kháng nghị, lý do kháng nghị;
h) Nhận định của Hội đồng xét xử giám đốc thẩm, trong đó
phải phân tích quan điểm về việc giải quyết vụ án và những căn cứ để chấp nhận
hoặc không chấp nhận kháng nghị;
i) Điểm, khoản, điều của Bộ luật Tố tụng dân sự, văn bản
quy phạm pháp luật khác mà Hội đồng xét xử giám đốc thẩm căn cứ để ra quyết
định;
k) Quyết định của Hội đồng xét xử giám đốc thẩm.
3. Quyết định của Hội đồng xét xử giám đốc thẩm của Hội
đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao cần có lập luận để làm rõ quy định của
pháp luật còn có cách hiểu khác nhau; phân tích, giải thích các vấn đề, sự kiện
pháp lý và chỉ ra nguyên nhân, đường lối xử lý, quy phạm pháp luật cần áp dụng
(nếu có).
Điều 349. Hiệu lực của quyết định giám đốc
thẩm
Quyết định giám đốc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày
Hội đồng giám đốc thẩm ra quyết định.
Điều 350. Gửi quyết định giám đốc thẩm
1. Trong thời hạn 05 ngày làm việc, kể từ ngày ra quyết
định, Hội đồng xét xử giám đốc thẩm phải gửi quyết định giám đốc
thẩm cho cơ quan, tổ chức, cá nhân sau đây:
a) Đương sự, người khác có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan
theo quyết định giám đốc thẩm;
b) Tòa án ra bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật
bị kháng nghị;
c) Viện kiểm sát cùng cấp, cơ quan thi hành án dân sự có
thẩm quyền.
2. Quyết định giám đốc thẩm được Tòa án có thẩm quyền
giám đốc thẩm công bố trên Cổng thông tin điện tử của Tòa án (nếu có), trừ
quyết định có chứa thông tin quy định tại khoản 2 Điều 109 của
Bộ luật này.
Điều 351. Tính chất của tái thẩm
Tái thẩm là xét lại bản án, quyết định đã có hiệu lực
pháp luật nhưng bị kháng nghị vì có tình tiết mới được phát hiện có thể làm
thay đổi cơ bản nội dung của bản án, quyết định mà Tòa án, các đương sự không
biết được khi Tòa án ra bản án, quyết định đó.
Điều 352. Căn cứ để kháng nghị theo thủ tục
tái thẩm
Bản án, quyết định của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật bị
kháng nghị theo thủ tục tái thẩm khi có một trong những căn cứ sau đây:
1. Mới phát hiện được tình tiết quan trọng của vụ án mà
đương sự đã không thể biết được trong quá trình giải quyết vụ án;
2. Có cơ sở chứng minh kết luận của người giám định, lời
dịch của người phiên dịch không đúng sự thật hoặc có giả mạo chứng cứ;
3. Thẩm phán, Hội thẩm nhân dân, Kiểm sát viên cố ý làm
sai lệch hồ sơ vụ án hoặc cố ý kết luận trái pháp luật;
4. Bản án, quyết định hình sự, hành chính, dân sự, hôn
nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại, lao động của Tòa án hoặc quyết định
của cơ quan nhà nước mà Tòa án căn cứ vào đó để giải quyết vụ án đã bị hủy bỏ.
Điều 353. Thông báo và xác minh tình tiết mới
được phát hiện
1. Đương sự hoặc cơ quan, tổ chức, cá nhân khác có quyền
phát hiện tình tiết mới của vụ án và thông báo bằng văn bản cho người có thẩm
quyền kháng nghị quy định tại Điều 354 của Bộ luật này.
2. Trường hợp phát hiện tình tiết mới của vụ án, Viện
kiểm sát, Tòa án phải thông báo bằng văn bản cho người có thẩm quyền kháng nghị
quy định tại Điều 354 của Bộ luật này.
Điều 354. Người có thẩm quyền kháng nghị theo
thủ tục tái thẩm
1. Chánh án Tòa án nhân dân tối cao, Viện trưởng Viện
kiểm sát nhân dân tối cao có thẩm quyền kháng nghị theo thủ tục tái thẩm bản
án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật của Tòa án nhân dân cấp cao; bản án,
quyết định có hiệu lực pháp luật của Tòa án khác khi xét thấy cần thiết, trừ
quyết định giám đốc thẩm của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao.
2. Chánh án Tòa án nhân dân cấp cao, Viện trưởng Viện
kiểm sát nhân dân cấp cao có thẩm quyền kháng nghị theo thủ tục tái thẩm bản
án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật của Tòa án nhân dân cấp tỉnh, Tòa án
nhân dân cấp huyện trong phạm vi thẩm quyền theo lãnh thổ.
3. Người đã kháng nghị bản án, quyết định đã có hiệu lực
pháp luật có quyền quyết định tạm đình chỉ thi hành bản án, quyết định đó cho
đến khi có quyết định tái thẩm.
Điều 355. Thời hạn kháng nghị theo thủ tục
tái thẩm
Thời hạn kháng nghị theo thủ tục tái thẩm là 01 năm, kể
từ ngày người có thẩm quyền kháng nghị biết được căn cứ để kháng nghị theo thủ
tục tái thẩm quy định tại Điều 352 của Bộ luật này.
Điều 356. Thẩm quyền của Hội đồng xét xử tái
thẩm
Hội đồng xét xử tái thẩm có thẩm quyền sau đây:
1. Không chấp nhận kháng nghị và giữ nguyên bản án, quyết
định đã có hiệu lực pháp luật;
2. Hủy bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật để xét
xử sơ thẩm lại theo thủ tục do Bộ luật này quy định;
3. Hủy bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật và
đình chỉ giải quyết vụ án.
Điều 357. Áp dụng các quy định về thủ tục
giám đốc thẩm
Các quy định khác về thủ tục tái thẩm được thực hiện như
các quy định của Bộ luật này về thủ tục giám đốc thẩm.
THỦ TỤC ĐẶC BIỆT XEM XÉT LẠI QUYẾT ĐỊNH CỦA
HỘI ĐỒNG THẨM PHÁN TÒA ÁN NHÂN DÂN TỐI CAO
1. Khi có căn cứ xác định quyết định của Hội đồng Thẩm
phán Tòa án nhân dân tối cao có vi phạm pháp luật nghiêm trọng hoặc phát hiện
tình tiết quan trọng mới có thể làm thay đổi cơ bản nội dung quyết định mà Hội
đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao, đương sự đã không thể biết được khi ra
quyết định đó, nếu có yêu cầu của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, kiến nghị của Ủy
ban Tư pháp của Quốc hội, kiến nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối
cao hoặc đề nghị của Chánh án Tòa án nhân dân tối cao thì Hội đồng Thẩm phán
Tòa án nhân dân tối cao xem xét lại quyết định đó.
2. Trường hợp có yêu cầu của Ủy ban Thường vụ Quốc hội
thì Chánh án Tòa án nhân dân tối cao có trách nhiệm báo cáo Hội đồng Thẩm phán
Tòa án nhân dân tối cao để xem xét lại quyết định của Hội đồng Thẩm phán Tòa án
nhân dân tối cao.
3. Trường hợp có kiến nghị của Ủy ban Tư pháp của Quốc
hội, kiến nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao hoặc Chánh án Tòa
án nhân dân tối cao phát hiện vi phạm, tình tiết mới thì Chánh án Tòa án nhân
dân tối cao có trách nhiệm báo cáo Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao
xem xét kiến nghị, đề nghị đó.
4. Phiên họp của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối
cao xem xét kiến nghị, đề nghị quy định tại khoản 3 Điều này phải có sự tham dự
của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao.
Điều 359. Thủ tục xem xét lại quyết định của
Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao
1. Sau khi nhận được yêu cầu của Ủy ban Thường vụ Quốc
hội, kiến nghị của Ủy ban Tư pháp của Quốc hội hoặc sau khi Chánh án Tòa án
nhân dân tối cao có văn bản đề nghị xem xét lại quyết định của Hội đồng Thẩm
phán Tòa án nhân dân tối cao theo quy định tại khoản 2 và
khoản 3 Điều 358 của Bộ luật này, Tòa án nhân dân tối cao gửi cho Viện kiểm
sát nhân dân tối cao bản sao văn bản yêu cầu, kiến nghị hoặc đề nghị đó kèm
theo hồ sơ vụ án để Viện kiểm sát nhân dân tối cao nghiên cứu và chuẩn bị ý
kiến phát biểu tại phiên họp xem xét kiến nghị, đề nghị, yêu cầu. Trong thời
hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được hồ sơ vụ án, Viện kiểm sát nhân dân tối cao
phải trả lại hồ sơ vụ án cho Tòa án nhân dân tối cao.
2. Trong thời hạn 01 tháng, kể từ ngày nhận được kiến
nghị của Ủy ban Tư pháp của Quốc hội, kiến nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát
nhân dân tối cao hoặc kể từ ngày Chánh án Tòa án nhân dân tối cao có văn bản đề
nghị thì Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao phải mở phiên họp để xem
xét kiến nghị, đề nghị.
Tòa án nhân dân tối cao thông báo bằng văn bản về thời
gian mở phiên họp để xem xét kiến nghị, đề nghị cho Viện trưởng Viện kiểm sát
nhân dân tối cao.
Đại diện Ủy ban Tư pháp của Quốc hội được mời tham dự
phiên họp của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao để xem xét kiến nghị
của Ủy ban Tư pháp của Quốc hội.
3. Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao xem xét
kiến nghị, đề nghị theo trình tự như sau:
a) Chánh án Tòa án nhân dân tối cao tự mình hoặc phân
công một thành viên Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao trình bày tóm
tắt nội dung vụ án và quá trình giải quyết vụ án;
b) Đại diện Ủy ban Tư pháp của Quốc hội, Viện trưởng Viện
kiểm sát nhân dân tối cao, Chánh án Tòa án nhân dân tối cao có kiến nghị, đề
nghị xem xét lại quyết định của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao
trình bày về nội dung kiến nghị, đề nghị; căn cứ của việc kiến nghị, đề nghị;
phân tích, đánh giá các tình tiết của vụ án, chứng cứ cũ và chứng cứ mới bổ
sung (nếu có) để làm rõ việc vi phạm pháp luật nghiêm trọng trong quyết định
của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hoặc những tình tiết quan trọng
mới có thể làm thay đổi cơ bản nội dung quyết định của Hội đồng Thẩm phán Tòa
án nhân dân tối cao;
c) Trường hợp xem xét kiến nghị của Ủy ban Tư pháp của
Quốc hội hoặc xem xét đề nghị của Chánh án Tòa án nhân dân tối cao thì Viện
trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao phát biểu quan điểm và lý do nhất trí
hoặc không nhất trí với kiến nghị, đề nghị đó.
Ý kiến phát biểu của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân
tối cao phải thể hiện bằng văn bản, có chữ ký của Viện trưởng Viện kiểm sát
nhân dân tối cao và phải được gửi cho Tòa án nhân dân tối cao trong thời hạn 05
ngày làm việc, kể từ ngày kết thúc phiên họp;
d) Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao thảo luận
và biểu quyết theo đa số về việc nhất trí hoặc không nhất trí với kiến nghị, đề
nghị xem xét lại quyết định của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao;
đ) Trường hợp nhất trí với kiến nghị của Ủy ban Tư pháp
của Quốc hội, kiến nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao hoặc đề
nghị của Chánh án Tòa án nhân dân tối cao thì Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân
dân tối cao quyết định về việc mở phiên họp để xem xét lại quyết định của Hội
đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao, đồng thời giao cho Chánh án Tòa án nhân
dân tối cao tổ chức nghiên cứu hồ sơ, báo cáo Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân
dân tối cao xem xét, quyết định tại phiên họp xem xét lại quyết định của Hội
đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao.
Trường hợp không nhất trí kiến nghị, đề nghị thì Hội đồng
Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao phải thông báo bằng văn bản và nêu rõ lý do
cho cá nhân, cơ quan đã kiến nghị, đề nghị;
e) Mọi diễn biến tại phiên họp xem xét kiến nghị, đề nghị
và các quyết định được thông qua tại phiên họp phải được ghi vào biên bản phiên
họp và lưu hồ sơ xem xét kiến nghị, đề nghị;
g) Trong thời hạn 05 ngày làm việc, kể từ ngày kết thúc
phiên họp xem xét kiến nghị, đề nghị xem xét lại quyết định của Hội đồng Thẩm
phán Tòa án nhân dân tối cao, Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao gửi
cho Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Ủy ban Tư pháp của Quốc hội văn
bản thông báo về việc Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao nhất trí hoặc
không nhất trí với kiến nghị, đề nghị xem xét lại quyết định của Hội đồng Thẩm
phán Tòa án nhân dân tối cao.
4. Theo yêu cầu của Ủy ban Thường vụ Quốc hội hoặc khi có
quyết định của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao về việc mở phiên họp
để xem xét lại quyết định của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao quy
định tại điểm đ khoản 3 Điều này thì Chánh án Tòa án nhân dân tối cao tổ chức
việc nghiên cứu hồ sơ vụ án, xác minh, thu thập tài liệu, chứng cứ trong trường
hợp cần thiết.
Việc nghiên cứu hồ sơ vụ án, xác minh, thu thập tài liệu,
chứng cứ phải làm rõ có hay không có vi phạm pháp luật nghiêm trọng hoặc tình
tiết quan trọng mới có thể làm thay đổi cơ bản nội dung quyết định của Hội đồng
Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao.
5. Trong thời hạn 04 tháng, kể từ ngày nhận được yêu cầu
của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định tại khoản 2 Điều 358
của Bộ luật này hoặc kể từ ngày có quyết định của Hội đồng Thẩm phán Tòa án
nhân dân tối cao quy định tại điểm đ khoản 3 Điều này, Hội đồng Thẩm phán Tòa
án nhân dân tối cao phải mở phiên họp với sự tham gia của toàn thể Thẩm phán
Tòa án nhân dân tối cao để xem xét lại quyết định của Hội đồng Thẩm phán Tòa án
nhân dân tối cao.
Tòa án nhân dân tối cao gửi cho Viện kiểm sát nhân dân
tối cao văn bản thông báo về thời gian mở phiên họp xem xét lại quyết định của
Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao kèm theo hồ sơ vụ án. Trong thời hạn
15 ngày, kể từ ngày nhận được hồ sơ vụ án, Viện kiểm sát nhân dân tối cao phải
trả lại hồ sơ vụ án cho Tòa án nhân dân tối cao.
Phiên họp Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao phải
có sự tham dự của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao. Trường hợp xét
thấy cần thiết, Tòa án nhân dân tối cao có thể mời cơ quan, tổ chức, cá nhân có
liên quan tham dự phiên họp.
6. Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao phải tham
dự phiên họp xem xét lại quyết định của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối
cao và phát biểu quan điểm về việc có hay không có vi phạm pháp luật nghiêm
trọng hoặc tình tiết quan trọng mới có thể làm thay đổi cơ bản nội dung quyết
định của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao và quan điểm về việc giải
quyết vụ án.
Ý kiến phát biểu của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân
tối cao phải thể hiện bằng văn bản, có chữ ký của Viện trưởng Viện kiểm sát
nhân dân tối cao và phải được gửi cho Tòa án nhân dân tối cao trong thời hạn 05
ngày làm việc, kể từ ngày kết thúc phiên họp.
7. Trong thời hạn 01
tháng, kể từ ngày Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân
dân tối cao ra quyết
định quy định tại khoản 1 Điều 360 của Bộ luật này, Tòa án
nhân dân tối cao gửi quyết định cho Ủy ban Thường vụ Quốc hội, Ủy ban Tư pháp
của Quốc hội, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Tòa án nhân dân đã giải quyết vụ
án và các đương sự.
Điều 360. Thẩm quyền xem xét lại quyết định
của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao
1. Sau khi nghe Chánh án Tòa án nhân dân tối cao báo cáo,
nghe ý kiến của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao, của cơ quan, tổ
chức, cá nhân có liên quan được mời tham dự (nếu có) và khi xét thấy quyết định
của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao có vi phạm pháp luật nghiêm
trọng hoặc có tình tiết quan trọng mới làm thay đổi cơ bản nội dung quyết định
của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao; bản án, quyết định đã có hiệu
lực pháp luật của Tòa án cấp dưới có vi phạm pháp luật nghiêm trọng hoặc có
tình tiết quan trọng mới làm thay đổi cơ bản nội dung bản án, quyết định thì
tùy từng trường hợp, Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao quyết định như
sau:
a) Hủy quyết định của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân
tối cao, hủy bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật và quyết định về nội
dung vụ án;
b) Hủy quyết định của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân
tối cao, hủy bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật và xác định trách
nhiệm bồi thường thiệt hại của Tòa án nhân dân tối cao có quyết định vi phạm
pháp luật nghiêm trọng bị hủy do lỗi vô ý hoặc cố ý và gây thiệt hại cho đương
sự hoặc xác định trách nhiệm bồi hoàn giá trị tài sản theo quy định của pháp
luật;
c) Hủy quyết định của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân
tối cao, hủy bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật để giao hồ sơ vụ án
cho Tòa án cấp dưới giải quyết theo quy định của pháp luật.
2. Quyết định của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối
cao phải được ít nhất ba phần tư tổng số thành viên của Hội đồng Thẩm phán Tòa
án nhân dân tối cao biểu quyết tán thành.
THỦ TỤC GIẢI QUYẾT VIỆC DÂN SỰ
Chương XXIII
QUY ĐỊNH CHUNG VỀ THỦ TỤC GIẢI QUYẾT VIỆC DÂN
SỰ
Việc dân sự là việc cơ quan, tổ chức, cá nhân không có
tranh chấp, nhưng có yêu cầu Tòa án công nhận hoặc không công nhận một sự kiện
pháp lý là căn cứ làm phát sinh quyền, nghĩa vụ dân sự, hôn nhân và gia đình,
kinh doanh, thương mại, lao động của mình hoặc của cơ quan, tổ chức, cá nhân
khác; yêu cầu Tòa án công nhận cho mình quyền về dân sự, hôn nhân và gia đình,
kinh doanh, thương mại, lao động.
Những quy định của Phần này được áp dụng để giải quyết
việc dân sự quy định tại các khoản 1, 2, 3, 4, 6, 7, 8, 9 và
10 Điều 27, các khoản 1, 2, 3, 4, 5, 6, 7, 8, 10 và 11
Điều 29, các khoản 1, 2, 3 và 6 Điều 31, các khoản 1, 2 và 5 Điều 33 của Bộ luật này. Trường hợp Phần này
không quy định thì áp dụng những quy định khác của Bộ luật này để giải quyết
việc dân sự.
Điều 362. Đơn yêu cầu Tòa án giải quyết việc
dân sự
1. Người yêu cầu Tòa án giải quyết việc dân sự phải gửi
đơn đến Tòa án có thẩm quyền quy định tại Mục 2 Chương III của Bộ luật này.
Trường hợp Chấp hành viên yêu cầu Tòa án giải quyết việc
dân sự theo quy định của Luật Thi hành án dân sự thì có quyền, nghĩa vụ của
người yêu cầu giải quyết việc dân sự theo quy định của Bộ luật này.
2. Đơn yêu cầu phải có các nội dung chính sau đây:
a) Ngày, tháng, năm làm đơn;
b) Tên Tòa án có thẩm quyền giải quyết việc dân sự;
c) Tên, địa chỉ; số điện thoại, fax, địa chỉ thư điện tử
(nếu có) của người yêu cầu;
d) Những vấn đề cụ thể yêu cầu Tòa án giải quyết và lý
do, mục đích, căn cứ của việc yêu cầu Tòa án giải quyết việc dân sự đó;
đ) Tên, địa chỉ của những người có liên quan đến việc
giải quyết việc dân sự đó (nếu có);
e) Các thông tin khác mà người yêu cầu xét thấy cần thiết
cho việc giải quyết yêu cầu của mình;
g) Người yêu cầu là cá nhân phải ký tên hoặc điểm chỉ,
nếu là cơ quan, tổ chức thì đại diện hợp pháp của cơ quan, tổ chức đó phải ký
tên và đóng dấu vào phần cuối đơn; trường hợp tổ chức yêu cầu là doanh nghiệp
thì việc sử dụng con dấu được thực hiện theo quy định của Luật Doanh nghiệp.
3. Kèm theo đơn yêu cầu, người yêu cầu phải gửi tài liệu,
chứng cứ để chứng minh cho yêu cầu của mình là có căn cứ và hợp pháp.
Điều 363. Thủ tục nhận và xử lý đơn yêu cầu
1. Thủ tục nhận đơn yêu cầu được thực hiện theo quy định
tại khoản 1 Điều 191 của Bộ luật này.
Trong thời hạn 03 ngày làm việc, kể từ ngày nhận đơn yêu
cầu và tài liệu, chứng cứ kèm theo, Chánh án Tòa án phân công Thẩm phán giải
quyết đơn yêu cầu.
2. Trường hợp đơn yêu cầu chưa ghi đầy đủ nội dung theo
quy định tại khoản 2 Điều 362 của Bộ luật này thì Thẩm
phán yêu cầu người yêu cầu sửa đổi, bổ sung trong thời hạn 07 ngày, kể từ ngày
nhận được yêu cầu. Thủ tục sửa đổi, bổ sung đơn yêu cầu được thực hiện theo quy
định tại khoản 1 Điều 193 của Bộ luật này.
3. Trường hợp người yêu cầu thực hiện đầy đủ yêu cầu sửa
đổi, bổ sung thì Thẩm phán tiến hành thủ tục thụ lý việc dân sự.
Hết thời hạn quy định tại khoản 2 Điều này mà người yêu
cầu không sửa đổi, bổ sung đơn yêu cầu thì Thẩm phán trả lại đơn yêu cầu và tài
liệu, chứng cứ kèm theo cho họ.
4. Trường hợp xét thấy đơn yêu cầu và tài liệu, chứng cứ
kèm theo đã đủ điều kiện thụ lý thì Thẩm phán thực hiện như sau:
a) Thông báo cho người yêu cầu về việc nộp lệ phí yêu cầu
giải quyết việc dân sự trong thời hạn 05 ngày làm việc, kể từ ngày nhận được
thông báo nộp lệ phí, trừ trường hợp người đó được miễn hoặc không phải nộp lệ
phí theo quy định của pháp luật về phí, lệ phí;
b) Tòa án thụ lý đơn yêu cầu khi người yêu cầu nộp cho
Tòa án biên lai thu tiền lệ phí yêu cầu giải quyết việc dân sự;
c) Trường hợp người yêu cầu được miễn hoặc không phải nộp
lệ phí thì Thẩm phán thụ lý việc dân sự kể từ ngày nhận được đơn yêu cầu.
1. Tòa án trả lại đơn yêu cầu trong những trường hợp sau
đây:
a) Người yêu cầu không có quyền yêu cầu hoặc không có đủ
năng lực hành vi tố tụng dân sự;
b) Sự việc người yêu cầu yêu cầu đã được Tòa án hoặc cơ
quan nhà nước có thẩm quyền giải quyết;
c) Việc dân sự không thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa
án;
d) Người yêu cầu không sửa đổi, bổ sung đơn yêu cầu trong
thời hạn quy định tại khoản 2 Điều 363 của Bộ luật này;
đ) Người yêu cầu không nộp lệ phí trong thời hạn quy định
tại điểm a khoản 4 Điều 363 của Bộ luật này, trừ trường
hợp được miễn hoặc không phải nộp lệ phí hoặc chậm nộp vì sự kiện bất khả
kháng, trở ngại khách quan;
e) Người yêu cầu rút đơn yêu cầu;
g) Những trường hợp khác theo quy định của pháp luật.
2. Khi trả lại đơn yêu cầu và tài liệu, chứng cứ kèm
theo, Tòa án phải thông báo bằng văn bản và nêu rõ lý do.
3. Việc khiếu nại và giải quyết khiếu nại việc trả lại
đơn yêu cầu được thực hiện theo quy định tại Điều 194 của Bộ
luật này.
Điều 365. Thông báo thụ lý đơn yêu cầu
1. Trong thời hạn 03 ngày làm việc, kể từ ngày thụ lý đơn
yêu cầu, Tòa án phải thông báo bằng văn bản cho người yêu cầu, người có quyền
lợi, nghĩa vụ liên quan đến việc giải quyết việc dân sự, cho Viện kiểm sát cùng
cấp về việc Tòa án đã thụ lý đơn yêu cầu.
2. Văn bản thông báo phải có các nội dung chính sau đây:
a) Ngày, tháng, năm làm văn bản thông báo;
b) Tên, địa chỉ Tòa án đã thụ lý đơn yêu cầu;
c) Tên, địa chỉ của đương sự;
d) Những vấn đề cụ thể đương sự yêu cầu Tòa án giải
quyết;
đ) Danh mục tài liệu, chứng cứ đương sự nộp kèm theo đơn
yêu cầu;
e) Thời hạn người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan phải
có ý kiến bằng văn bản nộp cho Tòa án đối với yêu cầu của người yêu cầu và tài
liệu, chứng cứ kèm theo (nếu có);
g) Hậu quả pháp lý của việc người có quyền lợi, nghĩa vụ
liên quan không nộp cho Tòa án văn bản về ý kiến của mình đối với yêu cầu giải
quyết việc dân sự.
Điều 366. Chuẩn bị xét đơn yêu cầu
1. Thời hạn chuẩn bị xét đơn yêu cầu là 01 tháng, kể từ
ngày Tòa án thụ lý đơn yêu cầu, trừ trường hợp Bộ luật này có quy định khác.
2. Trong thời hạn chuẩn bị xét đơn yêu cầu, Tòa án tiến
hành công việc sau đây:
a) Trường hợp xét thấy tài liệu, chứng cứ chưa đủ căn cứ
để Tòa án giải quyết thì Tòa án yêu cầu đương sự bổ sung tài liệu, chứng cứ
trong thời hạn 05 ngày làm việc, kể từ ngày nhận được yêu cầu của Tòa án;
b) Trường hợp đương sự có yêu cầu hoặc khi xét thấy cần
thiết thì Thẩm phán ra quyết định yêu cầu cơ quan, tổ chức, cá nhân cung cấp
tài liệu, chứng cứ; triệu tập người làm chứng, trưng cầu giám định, định giá
tài sản. Nếu hết thời hạn chuẩn bị xét đơn yêu cầu quy định tại khoản 1 Điều
này mà chưa có kết quả giám định, định giá tài sản thì thời hạn chuẩn bị xét
đơn yêu cầu được kéo dài nhưng không quá 01 tháng;
c) Quyết định đình chỉ việc xét đơn yêu cầu và trả lại
đơn yêu cầu, tài liệu, chứng cứ kèm theo nếu người yêu cầu rút đơn yêu cầu;
d) Quyết định mở phiên họp giải quyết việc dân sự.
3. Tòa án phải gửi ngay quyết định mở phiên họp giải
quyết việc dân sự và hồ sơ việc dân sự cho Viện kiểm sát cùng cấp để nghiên
cứu. Viện kiểm sát phải nghiên cứu trong thời hạn 07 ngày, kể từ ngày nhận được
hồ sơ; hết thời hạn này, Viện kiểm sát phải trả hồ sơ cho Tòa án để mở phiên
họp giải quyết việc dân sự.
4. Tòa án phải mở phiên họp để giải quyết việc dân sự
trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày ra quyết định mở phiên họp.
Điều 367. Những người tham gia phiên họp giải
quyết việc dân sự
1. Kiểm sát viên Viện kiểm sát cùng cấp phải tham gia
phiên họp; trường hợp Kiểm sát viên vắng mặt thì Tòa án vẫn tiến hành phiên
họp.
2. Người yêu cầu hoặc người đại diện hợp pháp, người bảo
vệ quyền và lợi ích hợp pháp của họ phải tham gia phiên họp theo giấy triệu tập
của Tòa án.
Người yêu cầu vắng mặt lần thứ nhất thì Tòa án hoãn phiên
họp, trừ trường hợp người yêu cầu đề nghị Tòa án giải quyết việc dân sự vắng
mặt họ. Trường hợp người yêu cầu đã được triệu tập hợp lệ lần thứ hai mà vẫn
vắng mặt thì bị coi là từ bỏ yêu cầu và Tòa án ra quyết định đình chỉ giải
quyết việc dân sự; trong trường hợp này, quyền yêu cầu Tòa án giải quyết việc
dân sự đó theo thủ tục do Bộ luật này quy định vẫn được bảo đảm.
3. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan hoặc người đại
diện hợp pháp, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của họ được Tòa án triệu
tập tham gia phiên họp. Trong trường hợp cần thiết, Tòa án có thể triệu tập
người làm chứng, người giám định, người phiên dịch tham gia phiên họp; nếu có
người vắng mặt thì Tòa án quyết định hoãn phiên họp hoặc vẫn tiến hành phiên
họp.
Điều 368. Quyết định việc thay đổi người tiến
hành tố tụng khi giải quyết việc dân sự
1. Trước khi mở phiên họp, việc thay đổi Thẩm phán, Thư
ký phiên họp do Chánh án của Tòa án đang giải quyết việc dân sự đó quyết định;
nếu Thẩm phán bị thay đổi là Chánh án của Tòa án đang giải quyết việc dân sự đó
thì việc thay đổi do Chánh án Tòa án trên một cấp trực tiếp quyết định.
2. Tại phiên họp giải quyết việc dân sự, việc thay đổi
Thẩm phán, Thư ký phiên họp được thực hiện như sau:
a) Trường hợp việc dân sự do một Thẩm phán giải quyết thì
việc thay đổi Thẩm phán, Thư ký phiên họp do Chánh án của Tòa án đang giải
quyết việc dân sự đó quyết định; nếu Thẩm phán bị thay đổi là Chánh án của Tòa
án đang giải quyết việc dân sự đó thì việc thay đổi do Chánh án Tòa án trên một
cấp trực tiếp quyết định;
b) Trường hợp việc dân sự do Hội đồng giải quyết việc dân
sự gồm ba Thẩm phán giải quyết thì việc thay đổi thành viên Hội đồng, Thư ký
phiên họp do Hội đồng giải quyết việc dân sự quyết định.
3. Trước khi mở phiên họp, việc thay đổi Kiểm sát viên do
Viện trưởng Viện kiểm sát cùng cấp quyết định.
Tại phiên họp, việc thay đổi Kiểm sát viên do Thẩm phán,
Hội đồng giải quyết việc dân sự quyết định. Trường hợp phải thay đổi Kiểm sát
viên thì Thẩm phán, Hội đồng giải quyết việc dân sự ra quyết định hoãn phiên
họp và thông báo cho Viện kiểm sát.
Việc cử Kiểm sát viên thay thế Kiểm sát viên bị thay đổi
do Viện trưởng Viện kiểm sát cùng cấp quyết định. Nếu Kiểm sát viên bị thay đổi
là Viện trưởng Viện kiểm sát thì do Viện trưởng Viện kiểm sát cấp trên trực
tiếp quyết định.
Điều 369. Thủ tục tiến hành phiên họp giải
quyết việc dân sự
1. Phiên họp giải quyết việc dân sự được tiến hành theo
trình tự sau đây:
a) Thư ký phiên họp báo cáo Thẩm phán, Hội đồng giải
quyết việc dân sự về sự có mặt, vắng mặt của những người tham gia phiên họp;
b) Thẩm phán chủ tọa phiên họp khai mạc phiên họp, kiểm
tra về sự có mặt, vắng mặt của những người được triệu tập tham gia phiên họp và
căn cước của họ, giải thích quyền và nghĩa vụ của người tham gia phiên họp;
c) Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người yêu
cầu, người yêu cầu hoặc người đại diện hợp pháp của họ trình bày về những vấn
đề cụ thể yêu cầu Tòa án giải quyết, lý do, mục đích và căn cứ của việc yêu cầu
Tòa án giải quyết việc dân sự đó;
d) Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người có
quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan hoặc
người đại diện hợp pháp của họ trình bày ý kiến về những vấn đề có liên quan
đến quyền, nghĩa vụ của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trong việc giải
quyết việc dân sự;
đ) Người làm chứng trình bày ý kiến; người giám định
trình bày kết luận giám định, giải thích những vấn đề còn chưa rõ hoặc có mâu
thuẫn (nếu có);
e) Thẩm phán, Hội đồng giải quyết việc dân sự xem xét tài
liệu, chứng cứ;
g) Kiểm sát viên phát biểu ý kiến của Viện kiểm sát về
việc giải quyết việc dân sự và gửi văn bản phát biểu ý kiến cho Tòa án để lưu vào hồ sơ việc dân sự
ngay sau khi kết thúc phiên họp;
h) Thẩm phán, Hội đồng giải quyết việc dân sự xem xét,
quyết định chấp nhận hoặc không chấp nhận yêu cầu giải quyết việc dân sự.
2. Trường hợp có người được Tòa án triệu tập tham gia
phiên họp vắng mặt thì Thẩm phán, Hội đồng giải quyết việc dân sự cho công bố
lời khai, tài liệu, chứng cứ do người đó cung cấp trước khi xem xét tài liệu,
chứng cứ.
Điều 370. Quyết định giải quyết việc dân sự
1. Quyết định giải quyết việc dân sự phải có các nội dung
sau đây:
a) Ngày, tháng, năm ra quyết định;
b) Tên Tòa án ra quyết định;
c) Họ, tên của Thẩm phán, Kiểm sát viên, Thư ký phiên
họp;
d) Tên, địa chỉ của người yêu cầu giải quyết việc dân sự;
đ) Những vấn đề cụ thể yêu cầu Tòa án giải quyết;
e) Tên, địa chỉ của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên
quan;
g) Nhận định của Tòa án và những căn cứ để chấp nhận hoặc
không chấp nhận đơn yêu cầu;
h) Căn cứ pháp luật để giải quyết việc dân sự;
i) Quyết định của Tòa án;
k) Lệ phí phải nộp.
2. Quyết định giải quyết việc dân sự phải được gửi cho
Viện kiểm sát cùng cấp, người yêu cầu giải quyết việc dân sự, người có quyền
lợi, nghĩa vụ liên quan đến việc giải quyết việc dân sự trong thời hạn 05 ngày
làm việc, kể từ ngày ra quyết định.
Việc gửi quyết định giải quyết việc dân sự cho cơ quan
thi hành án được thực hiện theo quy định của Luật Thi hành án dân sự.
3. Quyết định giải quyết việc dân sự có hiệu lực pháp
luật của Tòa án có liên quan đến việc thay đổi hộ tịch của cá nhân phải được
Tòa án gửi cho Ủy ban nhân dân nơi đã đăng ký hộ tịch của cá nhân đó theo quy
định của Luật Hộ tịch.
4. Quyết định giải quyết việc dân sự có hiệu lực pháp
luật của Tòa án được công bố trên Cổng thông tin điện tử của Tòa án (nếu có),
trừ quyết định có chứa thông tin quy định tại khoản 2 Điều 109
của Bộ luật này.
Điều 371. Kháng cáo, kháng nghị quyết định
giải quyết việc dân sự
Người yêu cầu, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến
việc giải quyết việc dân sự có quyền kháng cáo, Viện kiểm sát cùng cấp, Viện
kiểm sát cấp trên trực tiếp có quyền kháng nghị quyết định giải quyết việc dân
sự để yêu cầu Tòa án trên một cấp trực tiếp giải quyết lại theo thủ tục phúc
thẩm, trừ quyết định giải quyết việc dân sự quy định tại khoản
7 Điều 27, khoản 2 và khoản 3 Điều 29 của Bộ luật này.
Điều 372. Thời hạn kháng cáo, kháng nghị
1. Người yêu cầu, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan
đến việc giải quyết việc dân sự có quyền kháng cáo quyết định giải quyết việc
dân sự trong thời hạn 10 ngày, kể từ ngày Tòa án ra quyết định. Trường hợp họ
không có mặt tại phiên họp giải quyết việc dân sự thì thời hạn đó được tính từ
ngày họ nhận được quyết định giải quyết việc dân sự hoặc kể từ ngày quyết định
đó được thông báo, niêm yết.
2. Viện kiểm sát cùng cấp có quyền kháng nghị quyết định
giải quyết việc dân sự trong thời hạn 10 ngày, Viện kiểm sát cấp trên trực tiếp
có quyền kháng nghị trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày Tòa án ra quyết định.
Điều 373. Chuẩn bị xét kháng cáo, kháng nghị
1. Thời hạn chuẩn bị xét kháng cáo, kháng nghị là 15
ngày, kể từ ngày Tòa án nhận kháng cáo, kháng nghị.
2. Trong thời hạn chuẩn bị xét kháng cáo, kháng nghị, Tòa
án tiến hành các công việc sau đây:
a) Trường hợp xét thấy tài liệu, chứng cứ chưa đủ căn cứ
để Tòa án giải quyết thì Tòa án yêu cầu đương sự bổ sung tài liệu, chứng cứ
trong thời hạn 05 ngày làm việc, kể từ ngày nhận được yêu cầu của Tòa án;
b) Trường hợp đương sự có yêu cầu hoặc khi xét thấy cần
thiết, Thẩm phán ra quyết định yêu cầu cơ quan, tổ chức, cá nhân cung cấp tài
liệu, chứng cứ; triệu tập người làm chứng, trưng cầu giám định, định giá. Nếu
hết thời hạn quy định tại khoản 1 Điều này mà chưa có kết quả giám định, định
giá thì thời hạn chuẩn bị xét kháng cáo, kháng nghị được kéo dài nhưng không
quá 15 ngày;
c) Trong thời hạn chuẩn bị xét kháng cáo, kháng nghị, nếu
tất cả người kháng cáo rút đơn kháng cáo, Viện kiểm sát rút kháng nghị thì Tòa
án ra quyết định đình chỉ giải quyết việc xét đơn yêu cầu theo thủ tục phúc
thẩm. Trong trường hợp này, quyết định giải quyết việc dân sự theo thủ tục sơ
thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày Tòa án cấp phúc thẩm ra quyết định đình
chỉ;
d) Quyết định mở phiên họp phúc thẩm giải quyết việc dân
sự.
3. Tòa án phải gửi ngay quyết định mở phiên họp phúc thẩm
giải quyết việc dân sự và hồ sơ việc dân sự cho Viện kiểm sát cùng cấp để
nghiên cứu. Viện kiểm sát phải nghiên cứu trong thời hạn 07 ngày, kể từ ngày
nhận được hồ sơ; hết thời hạn này, Viện kiểm sát phải trả hồ sơ cho Tòa án để
mở phiên họp phúc thẩm giải quyết việc dân sự.
4. Trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày ra quyết định mở
phiên họp, Thẩm phán phải mở phiên họp phúc thẩm giải quyết việc dân sự.
Điều 374. Những người tham gia phiên họp phúc
thẩm giải quyết việc dân sự
1. Kiểm sát viên Viện kiểm sát cùng cấp phải tham gia
phiên họp phúc thẩm giải quyết việc dân sự; trường hợp Kiểm sát viên vắng mặt
thì Tòa án vẫn tiến hành phiên họp, trừ trường hợp Viện kiểm sát kháng nghị
phúc thẩm.
2. Người có đơn kháng cáo, người đại diện hợp pháp, người
bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của họ phải tham gia phiên họp theo giấy triệu
tập của Tòa án.
Người kháng cáo vắng mặt lần thứ nhất có lý do chính đáng
thì Tòa án hoãn phiên họp phúc thẩm giải quyết việc dân sự, trừ trường hợp
người kháng cáo yêu cầu giải quyết vắng mặt họ. Nếu người kháng cáo đã được
triệu tập hợp lệ lần thứ hai mà vẫn vắng mặt thì bị coi là từ bỏ kháng cáo và
Tòa án ra quyết định đình chỉ giải quyết phúc thẩm việc dân sự đối với yêu cầu
kháng cáo của họ, trừ trường hợp họ có đơn đề nghị giải quyết vắng mặt hoặc do
sự kiện bất khả kháng, trở ngại khách quan.
3. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, người đại diện
hợp pháp, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của họ được Tòa án triệu tập
tham gia phiên họp. Trong trường hợp cần thiết, Tòa án có thể triệu tập người
làm chứng, người giám định, người phiên dịch tham gia phiên họp; nếu có người
vắng mặt thì Tòa án quyết định hoãn phiên họp hoặc vẫn tiến hành phiên họp.
Điều 375. Thủ tục tiến hành phiên họp phúc
thẩm giải quyết việc dân sự
1. Phiên họp phúc thẩm giải quyết việc dân sự được tiến
hành theo trình tự sau đây:
a) Thư ký phiên họp báo cáo về sự có mặt, vắng mặt của
những người tham gia phiên họp;
b) Thẩm phán chủ tọa phiên họp khai mạc phiên họp, kiểm
tra về sự có mặt, vắng mặt của những người được triệu tập tham gia phiên họp và
căn cước của họ, giải thích quyền và nghĩa vụ của người tham gia phiên họp;
c) Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người kháng
cáo, người kháng cáo hoặc người đại diện hợp pháp của họ trình bày về nội dung
kháng cáo và căn cứ của việc kháng cáo;
Trường hợp chỉ có Viện kiểm sát kháng nghị thì Kiểm sát
viên trình bày về nội dung kháng nghị và căn cứ của việc kháng nghị. Trường hợp
vừa có kháng cáo, vừa có kháng nghị thì các đương sự trình bày về nội dung
kháng cáo và các căn cứ của việc kháng cáo trước, sau đó Kiểm sát viên trình
bày về nội dung kháng nghị và căn cứ của việc kháng nghị. Trường hợp Viện kiểm
sát không kháng nghị thì Kiểm sát viên phát biểu ý kiến của Viện kiểm sát về
việc giải quyết kháng cáo trước khi Hội đồng phúc thẩm ra quyết định.
Ngay sau khi kết thúc phiên họp, Kiểm sát viên phải gửi
văn bản phát biểu ý kiến cho Tòa án để lưu vào hồ sơ việc dân sự;
d) Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người có
quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan hoặc
người đại diện hợp pháp của họ trình bày ý kiến về những vấn đề có liên quan
đến quyền, nghĩa vụ của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trong nội dung
kháng cáo, kháng nghị;
đ) Người làm chứng trình bày ý kiến; người giám định
trình bày kết luận giám định, giải thích những vấn đề còn chưa rõ hoặc có mâu
thuẫn.
2. Trường hợp có người được Tòa án triệu tập tham gia
phiên họp vắng mặt thì Thẩm phán cho công bố lời khai, tài liệu, chứng cứ do
người đó cung cấp.
3. Hội đồng phúc thẩm xem xét quyết định của Tòa án cấp
sơ thẩm bị kháng cáo, kháng nghị, tài liệu, chứng cứ có liên quan và ra một
trong các quyết định sau đây:
a) Giữ nguyên quyết định giải quyết việc dân sự của Tòa
án cấp sơ thẩm;
b) Sửa quyết định giải quyết việc dân sự của Tòa án cấp
sơ thẩm;
c) Hủy quyết định giải quyết việc dân sự của Tòa án cấp
sơ thẩm và chuyển hồ sơ việc dân sự cho Tòa án cấp sơ thẩm để giải quyết lại
theo thủ tục sơ thẩm;
d) Hủy quyết định giải quyết việc dân sự của Tòa án cấp
sơ thẩm và đình chỉ giải quyết việc dân sự;
đ) Đình chỉ giải quyết việc xét đơn yêu cầu theo thủ tục
phúc thẩm nếu tại phiên họp tất cả người kháng cáo rút đơn kháng cáo, Viện kiểm
sát rút kháng nghị.
4. Quyết định phúc thẩm giải quyết việc dân sự có hiệu
lực pháp luật kể từ ngày ra quyết định và được gửi cho cơ quan, tổ chức, cá
nhân quy định tại khoản 2 và khoản 3 Điều 370 của Bộ luật này.
5. Quyết định phúc thẩm giải quyết việc dân sự có hiệu
lực pháp luật được công bố trên Cổng thông tin điện tử của Tòa án (nếu có), trừ
quyết định có chứa thông tin quy định tại khoản 2 Điều 109 của
Bộ luật này.
1. Người có quyền, lợi ích liên quan, cơ quan, tổ chức
hữu quan có quyền yêu cầu Tòa án tuyên bố một người mất năng lực hành vi dân sự
hoặc bị hạn chế năng lực hành vi dân sự hoặc có khó khăn trong nhận thức, làm
chủ hành vi theo quy định của Bộ luật Dân sự.
2. Người thành niên không đủ khả năng nhận thức, làm chủ
hành vi do tình trạng thể chất, tinh thần nhưng chưa đến mức mất năng lực hành
vi dân sự có quyền yêu cầu Tòa án tuyên bố họ là người có khó khăn trong nhận
thức, làm chủ hành vi theo quy định của Bộ luật Dân sự.
Điều 377. Chuẩn bị xét đơn yêu cầu
Trong thời hạn chuẩn bị xét đơn yêu cầu, theo đề nghị của
người yêu cầu, Tòa án có thể trưng cầu giám định sức khỏe, bệnh tật của người
bị yêu cầu tuyên bố bị hạn chế năng lực hành vi dân sự hoặc giám định pháp y
tâm thần đối với người bị yêu cầu tuyên bố mất năng lực hành vi dân sự, người
có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi. Trong trường hợp này, khi nhận
được kết luận giám định, Tòa án phải ra quyết định mở phiên họp để xét đơn yêu
cầu.
Trường hợp chấp nhận đơn yêu cầu thì Tòa án ra quyết định
tuyên bố một người mất năng lực hành vi dân sự, bị hạn chế năng lực hành vi dân
sự hoặc có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi.
Trong quyết định tuyên bố một người bị hạn chế năng lực
hành vi dân sự, Tòa án phải xác định người đại diện theo pháp luật của người bị
hạn chế năng lực hành vi dân sự và phạm vi đại diện.
Trong quyết định tuyên bố một người có khó khăn trong
nhận thức, làm chủ hành vi, Tòa án phải chỉ định người giám hộ, xác định quyền,
nghĩa vụ của người giám hộ.
Khi người bị Tòa án tuyên bố mất năng lực hành vi dân sự,
bị hạn chế năng lực hành vi dân sự hoặc có khó khăn trong nhận thức, làm chủ
hành vi không còn ở trong tình trạng đã bị tuyên bố thì chính người đó hoặc
người có quyền, lợi ích liên quan hoặc cơ quan, tổ chức hữu quan có quyền yêu
cầu Tòa án ra quyết định hủy bỏ quyết định tuyên bố mất năng lực hành vi dân
sự, bị hạn chế năng lực hành vi dân sự hoặc có khó khăn trong nhận thức, làm
chủ hành vi.
Trường hợp chấp nhận đơn yêu cầu thì Tòa án ra quyết định
hủy bỏ quyết định tuyên bố mất năng lực hành vi dân sự hoặc bị hạn chế năng lực
hành vi dân sự hoặc có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi.
THỦ TỤC GIẢI QUYẾT YÊU CẦU THÔNG BÁO TÌM KIẾM
NGƯỜI VẮNG MẶT TẠI NƠI CƯ TRÚ
Điều 381. Đơn yêu cầu thông báo tìm kiếm
người vắng mặt tại nơi cư trú
1. Người có quyền, lợi ích liên quan có quyền yêu cầu Tòa
án thông báo tìm kiếm người vắng mặt tại nơi cư trú khi người đó biệt tích 06
tháng liền trở lên, đồng thời có thể yêu cầu Tòa án áp dụng biện pháp quản lý
tài sản của người vắng mặt đó theo quy định của Bộ luật Dân sự.
2. Kèm theo đơn yêu cầu Tòa án thông báo tìm kiếm người
vắng mặt tại nơi cư trú, người yêu cầu phải gửi tài liệu, chứng cứ để chứng
minh là người bị yêu cầu biệt tích 06 tháng liền trở lên; trường hợp có yêu cầu
Tòa án áp dụng biện pháp quản lý tài sản của người vắng mặt thì phải cung cấp
tài liệu, chứng cứ về tình hình tài sản của người đó, việc quản lý tài sản hiện
có và danh sách những người thân thích của người đó.
Điều 382. Chuẩn bị xét đơn yêu cầu thông báo
tìm kiếm người vắng mặt tại nơi cư trú
Trong thời hạn chuẩn bị xét đơn yêu cầu, Tòa án ra quyết
định đình chỉ xét đơn yêu cầu thông báo tìm kiếm người vắng mặt tại nơi cư trú,
nếu người bị yêu cầu thông báo tìm kiếm trở về và yêu cầu Tòa án đình chỉ việc
xét đơn yêu cầu.
Điều 383. Quyết định thông báo tìm kiếm người
vắng mặt tại nơi cư trú
Trường hợp chấp nhận đơn yêu cầu thì Tòa án ra quyết định
thông báo tìm kiếm người vắng mặt tại nơi cư trú; trường hợp có yêu cầu Tòa án
áp dụng biện pháp quản lý tài sản của người vắng mặt đó tại nơi cư trú và được
chấp nhận thì trong quyết định, Tòa án còn phải quyết định áp dụng biện pháp
quản lý tài sản của người đó theo quy định của Bộ luật Dân sự.
Điều 384. Thông báo tìm kiếm người vắng mặt
tại nơi cư trú
Thông báo tìm kiếm người vắng mặt tại nơi cư trú phải có
các nội dung chính sau đây:
1. Ngày, tháng, năm ra thông báo;
2. Tên Tòa án ra thông báo;
3. Số và ngày, tháng, năm của quyết định thông báo tìm
kiếm người vắng mặt tại nơi cư trú;
4. Tên, địa chỉ của người yêu cầu Tòa án thông báo;
5. Họ, tên và ngày, tháng, năm sinh hoặc tuổi của người
cần tìm kiếm và địa chỉ cư trú của người đó trước khi biệt tích;
6. Địa chỉ liên hệ của cơ quan, tổ chức, cá nhân nếu
người cần tìm kiếm biết được thông báo hoặc người khác có được tin tức về người
cần tìm kiếm.
Điều 385. Công bố thông báo tìm kiếm người
vắng mặt tại nơi cư trú
1. Trong thời hạn 01 tháng, kể từ ngày Tòa án ra quyết
định thông báo tìm kiếm người vắng mặt tại nơi cư trú, thông báo này phải được
đăng trên một trong các báo hàng ngày của trung ương trong ba số liên tiếp,
Cổng thông tin điện tử của Tòa án, Ủy ban nhân dân cấp tỉnh (nếu có) và phát
sóng trên Đài phát thanh hoặc Đài truyền hình của trung ương ba lần trong 03
ngày liên tiếp.
2. Chi phí cho việc đăng, phát thông báo tìm kiếm người
vắng mặt tại nơi cư trú do người yêu cầu chịu.
Điều 386. Hiệu lực của quyết định thông báo
tìm kiếm người vắng mặt tại nơi cư trú
Quyết định thông báo tìm kiếm người vắng mặt tại nơi cư
trú quy định tại Điều 383 của Bộ luật này đương nhiên hết
hiệu lực trong trường hợp người cần tìm kiếm trở về.
THỦ TỤC GIẢI QUYẾT YÊU CẦU TUYÊN BỐ MỘT NGƯỜI
MẤT TÍCH
Điều 387. Đơn yêu cầu tuyên bố một người mất
tích
1. Người có quyền, lợi ích liên quan có quyền yêu cầu Tòa
án tuyên bố một người mất tích theo quy định của Bộ luật Dân sự.
2. Kèm theo đơn yêu cầu, người yêu cầu phải gửi tài liệu,
chứng cứ để chứng minh người bị yêu cầu tuyên bố mất tích đã biệt tích 02 năm
liền trở lên mà không có tin tức xác thực về việc người đó còn sống hoặc đã
chết và chứng minh cho việc người yêu cầu đã áp dụng đầy đủ các biện pháp thông
báo tìm kiếm; trường hợp trước đó đã có quyết định của Tòa án thông báo tìm
kiếm người vắng mặt tại nơi cư trú thì phải có bản sao quyết định đó.
Điều 388. Chuẩn bị xét đơn yêu cầu tuyên bố
một người mất tích
1. Trong thời hạn 20 ngày, kể từ ngày thụ lý đơn yêu cầu
tuyên bố một người mất tích, Tòa án ra quyết định thông báo tìm kiếm người bị
yêu cầu tuyên bố mất tích.
2. Nội dung thông báo và việc công bố thông báo được thực
hiện theo quy định tại Điều 384 và Điều 385 của Bộ luật này.
Thời hạn thông báo tìm kiếm người bị yêu cầu tuyên bố mất tích là 04 tháng, kể
từ ngày đăng, phát thông báo lần đầu tiên.
3. Trong thời hạn thông báo, nếu người bị yêu cầu tuyên
bố mất tích trở về và yêu cầu Tòa án đình chỉ việc xét đơn yêu cầu thì Tòa án
ra quyết định đình chỉ việc xét đơn yêu cầu tuyên bố một người mất tích.
4. Trong thời hạn 10 ngày, kể từ ngày kết thúc thời hạn
thông báo quy định tại khoản 2 Điều này thì Tòa án phải mở phiên họp xét đơn
yêu cầu.
Điều 389. Quyết định tuyên bố một người mất
tích
Trường hợp chấp nhận đơn yêu cầu thì Tòa án ra quyết định
tuyên bố một người mất tích; trường hợp có yêu cầu Tòa án áp dụng biện pháp
quản lý tài sản của người bị tuyên bố mất tích đó và được chấp nhận thì trong
quyết định tuyên bố một người mất tích, Tòa án còn phải quyết định áp dụng biện
pháp quản lý tài sản của người đó theo quy định của Bộ luật Dân sự.
Điều 390. Hủy bỏ quyết định tuyên bố một
người mất tích
1. Người bị Tòa án tuyên bố mất tích trở về hoặc người có
quyền, lợi ích liên quan có quyền yêu cầu Tòa án hủy bỏ quyết định tuyên bố một
người mất tích theo quy định của Bộ luật Dân sự.
2. Trường hợp chấp nhận đơn yêu cầu thì Tòa án ra quyết
định hủy bỏ quyết định tuyên bố một người mất tích, trong đó phải quyết định về
hậu quả pháp lý của việc hủy bỏ quyết định tuyên bố một người mất tích theo quy
định của Bộ luật Dân sự.
THỦ TỤC GIẢI QUYẾT YÊU CẦU TUYÊN BỐ MỘT NGƯỜI
LÀ ĐÃ CHẾT
Điều 391. Quyền yêu cầu tuyên bố một người là
đã chết
1. Người có quyền, lợi ích liên quan có quyền yêu cầu Tòa
án tuyên bố một người là đã chết theo quy định của Bộ luật Dân sự.
2. Kèm theo đơn yêu cầu, người yêu cầu phải gửi tài liệu,
chứng cứ để chứng minh người bị yêu cầu tuyên bố là đã chết thuộc trường hợp
theo quy định của Bộ luật Dân sự.
Điều 392. Chuẩn bị xét đơn yêu cầu tuyên bố
một người là đã chết
1. Trong thời hạn 20 ngày, kể từ ngày thụ lý đơn yêu cầu
tuyên bố một người là đã chết, Tòa án ra quyết định thông báo tìm kiếm thông
tin về người bị yêu cầu tuyên bố là đã chết.
2. Nội dung thông báo, việc công bố thông báo và thời hạn
thông báo được thực hiện theo quy định tại khoản 2 Điều 388
của Bộ luật này.
3. Trong thời hạn thông báo, nếu người yêu cầu rút đơn
yêu cầu hoặc người bị yêu cầu tuyên bố là đã chết trở về và thông báo cho Tòa
án biết thì Tòa án ra quyết định đình chỉ việc xét đơn yêu cầu.
4. Trong thời hạn 10 ngày, kể từ ngày hết thời hạn thông
báo thì Tòa án phải mở phiên họp xét đơn yêu cầu.
Điều 393. Quyết định tuyên bố một người là đã
chết
Trường hợp chấp nhận đơn yêu cầu thì Tòa án ra quyết định
tuyên bố một người là đã chết; trong quyết định này, Tòa án phải xác định ngày
chết của người đó và hậu quả pháp lý của việc tuyên bố một người là đã chết
theo quy định của Bộ luật Dân sự.
Điều 394. Đơn yêu cầu hủy bỏ quyết định tuyên
bố một người là đã chết
1. Khi một người bị tuyên bố là đã chết trở về hoặc có
tin tức xác thực là người đó còn sống thì người đó hoặc người có quyền, lợi ích
liên quan có quyền yêu cầu Tòa án ra quyết định hủy bỏ quyết định tuyên bố một
người là đã chết.
2. Kèm theo đơn yêu cầu, người yêu cầu phải gửi tài liệu,
chứng cứ để chứng minh người bị tuyên bố là đã chết trở về hoặc chứng minh xác
thực là người đó còn sống.
Điều 395. Quyết định hủy bỏ quyết định tuyên
bố một người là đã chết
Trường hợp chấp nhận đơn yêu cầu thì Tòa án ra quyết định
hủy bỏ quyết định tuyên bố một người là đã chết; trong quyết định này, Tòa án
phải quyết định về hậu quả pháp lý của việc hủy bỏ quyết định tuyên bố một
người là đã chết theo quy định của Bộ luật Dân sự.
THỦ TỤC GIẢI QUYẾT YÊU CẦU CÔNG NHẬN THUẬN
TÌNH LY HÔN, THỎA THUẬN NUÔI CON, CHIA TÀI SẢN KHI LY HÔN
Điều 396. Đơn yêu cầu công nhận thuận tình ly
hôn, thỏa thuận nuôi con, chia tài sản khi ly hôn
1. Vợ, chồng yêu cầu Tòa án công nhận thuận tình ly hôn,
thỏa thuận nuôi con, chia tài sản khi ly hôn phải có đơn yêu cầu. Đơn phải có
các nội dung quy định tại khoản 2 Điều 362 của Bộ luật này.
2. Vợ, chồng cùng yêu cầu Tòa án công nhận thuận tình ly
hôn, thỏa thuận nuôi con, chia tài sản khi ly hôn phải ký tên hoặc điểm chỉ vào
đơn yêu cầu. Trong trường hợp này vợ, chồng cùng được xác định là người yêu
cầu.
3. Kèm theo đơn yêu cầu, người yêu cầu phải gửi tài liệu,
chứng cứ chứng minh thỏa thuận về thuận tình ly hôn, thỏa thuận nuôi con, chia
tài sản khi ly hôn là có căn cứ và hợp pháp.
Điều 397. Hòa giải và công nhận thuận tình ly
hôn, thỏa thuận nuôi con, chia tài sản khi ly hôn
1. Trong thời hạn chuẩn bị xét đơn yêu cầu, trước khi
tiến hành hòa giải để vợ chồng đoàn tụ, khi xét thấy cần thiết, Thẩm phán có
thể tham khảo ý kiến của cơ quan quản lý nhà nước về gia đình, cơ quan quản lý
nhà nước về trẻ em về hoàn cảnh gia đình, nguyên nhân phát sinh mâu thuẫn và
nguyện vọng của vợ, chồng, con có liên quan đến vụ án.
2. Thẩm phán phải tiến hành hòa giải để vợ chồng đoàn tụ;
giải thích về quyền và nghĩa vụ giữa vợ và chồng, giữa cha, mẹ và con, giữa các
thành viên khác trong gia đình, về trách nhiệm cấp dưỡng và các vấn đề khác
liên quan đến hôn nhân và gia đình.
3. Trường hợp sau khi hòa giải, vợ, chồng
đoàn tụ thì Thẩm phán ra quyết định đình chỉ giải quyết yêu cầu của họ.
4. Trường hợp hòa giải đoàn tụ không thành thì Thẩm phán
ra quyết định công nhận thuận tình ly hôn và sự thỏa thuận của các đương sự
theo quy định tại Điều 212 của Bộ luật này khi có đầy đủ
các điều kiện sau đây:
a) Hai bên thực sự tự nguyện ly hôn;
b) Hai bên đã thỏa thuận được với nhau về việc chia hoặc
không chia tài sản chung, việc trông nom, nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục con;
c) Sự thỏa thuận phải bảo đảm quyền lợi chính đáng của
vợ, con.
5. Trường hợp hòa giải đoàn tụ không thành và các đương
sự không thỏa thuận được về việc chia tài sản, việc trông nom, nuôi dưỡng, chăm
sóc, giáo dục con thì Tòa án đình chỉ giải quyết việc dân sự về công nhận thuận
tình ly hôn, thỏa thuận nuôi con, chia tài sản khi ly hôn và thụ lý vụ án để
giải quyết. Tòa án không phải thông báo về việc thụ lý vụ án, không phải phân
công lại Thẩm phán giải quyết vụ án. Việc giải quyết vụ án được thực hiện theo
thủ tục chung do Bộ luật này quy định.
THỦ TỤC GIẢI QUYẾT YÊU CẦU TUYÊN BỐ VĂN BẢN
CÔNG CHỨNG VÔ HIỆU
Điều 398. Đơn yêu cầu tuyên bố văn bản công
chứng vô hiệu
1.[14] Công chứng viên đã
thực hiện việc công chứng, người yêu cầu công chứng, người làm chứng, người
phiên dịch, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, cơ quan nhà nước có thẩm
quyền có quyền yêu cầu Tòa án tuyên bố văn bản công chứng vô hiệu khi có căn cứ
cho rằng việc công chứng có vi phạm pháp luật theo quy định của pháp luật về
công chứng.
2. Đơn yêu cầu Tòa án tuyên bố văn bản công chứng vô hiệu
phải có các nội dung quy định tại khoản 2 Điều 362 của Bộ luật
này.
3. Kèm theo đơn yêu cầu, người yêu cầu phải gửi tài liệu,
chứng cứ để chứng minh cho yêu cầu tuyên bố văn bản công chứng vô hiệu là có
căn cứ và hợp pháp.
Điều 399. Chuẩn bị xét đơn yêu cầu tuyên bố
văn bản công chứng vô hiệu
1. Thời hạn chuẩn bị xét đơn yêu cầu tuyên bố văn bản
công chứng vô hiệu là 01 tháng, kể từ ngày Tòa án thụ lý đơn yêu cầu; hết thời
hạn này, Tòa án phải ra quyết định mở phiên họp để xét đơn yêu cầu.
2. Sau khi thụ lý đơn yêu cầu tuyên bố văn bản công chứng
vô hiệu, Tòa án có thẩm quyền phải thông báo ngay cho tổ chức hành nghề công
chứng, Công chứng viên đã thực hiện việc công chứng, người yêu cầu công chứng,
người có quyền, lợi ích liên quan, cơ quan nhà nước có thẩm quyền và Viện kiểm
sát cùng cấp.
3. Trong thời hạn chuẩn bị xét đơn yêu cầu, nếu người yêu
cầu rút đơn yêu cầu thì Tòa án ra quyết định đình chỉ việc xét đơn yêu cầu.
4. Trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày ra quyết định mở
phiên họp, Tòa án phải mở phiên họp để xét đơn yêu cầu.
Điều 400. Quyết định tuyên bố văn bản công
chứng vô hiệu
1. Tòa án có thể chấp nhận hoặc không chấp nhận đơn yêu
cầu tuyên bố văn bản công chứng vô hiệu.
2. Trường hợp chấp nhận đơn yêu cầu thì Tòa án ra quyết
định tuyên bố văn bản công chứng vô hiệu. Trong quyết định này, Tòa án phải
quyết định về hậu quả pháp lý của việc tuyên bố văn bản công chứng vô hiệu theo
quy định của pháp luật.
THỦ TỤC GIẢI QUYẾT YÊU CẦU TUYÊN BỐ HỢP ĐỒNG
LAO ĐỘNG VÔ HIỆU; THỎA ƯỚC LAO ĐỘNG TẬP THỂ VÔ HIỆU
Điều 401. Yêu cầu tuyên bố hợp đồng lao động
vô hiệu, thỏa ước lao động tập thể vô hiệu
1. Người lao động, người sử dụng lao động, tổ chức đại
diện tập thể lao động, cơ quan nhà nước có thẩm quyền có quyền yêu cầu Tòa án
có thẩm quyền tuyên bố hợp đồng lao động, thỏa ước lao động tập thể vô hiệu khi
có căn cứ theo quy định của Bộ luật Lao động.
2. Đơn yêu cầu của người lao động, người sử dụng lao
động, tổ chức đại diện tập thể lao động, văn bản yêu cầu của cơ quan nhà nước
có thẩm quyền phải có các nội dung quy định tại khoản 2 Điều
362 của Bộ luật này.
Điều 402. Xem xét yêu cầu tuyên bố hợp đồng
lao động vô hiệu, thỏa ước lao động tập thể vô hiệu
1. Thời hạn chuẩn bị xét yêu cầu tuyên bố hợp đồng lao
động vô hiệu là 10 ngày, thỏa ước lao động tập thể vô hiệu là 15 ngày, kể từ
ngày Tòa án thụ lý đơn yêu cầu. Hết thời hạn này, Tòa án phải ra quyết định mở
phiên họp để xét đơn yêu cầu.
2. Sau khi thụ lý đơn yêu cầu tuyên bố hợp đồng lao động
vô hiệu, thỏa ước lao động tập thể vô hiệu, Tòa án có trách nhiệm gửi thông báo
thụ lý cho người có đơn yêu cầu, người sử dụng lao động, tổ chức đại diện tập
thể lao động và Viện kiểm sát cùng cấp.
3. Trong thời hạn chuẩn bị xét đơn hoặc văn bản yêu cầu,
nếu người yêu cầu rút yêu cầu thì Tòa án ra quyết định đình chỉ việc xét đơn,
văn bản yêu cầu.
4. Trong thời hạn 05 ngày làm việc, kể từ ngày ra quyết
định mở phiên họp, Tòa án phải mở phiên họp để xét yêu cầu tuyên bố hợp đồng
lao động vô hiệu.
Trong thời hạn 10 ngày, kể từ ngày ra quyết định mở phiên
họp, Tòa án phải mở phiên họp để xét yêu cầu tuyên bố thỏa ước lao động tập thể
vô hiệu.
5. Khi xét đơn yêu cầu, Thẩm phán có thể chấp nhận hoặc
không chấp nhận yêu cầu tuyên bố hợp đồng lao động vô hiệu, thỏa ước lao động
tập thể vô hiệu.
Trường hợp chấp nhận yêu cầu thì Thẩm phán ra quyết định
tuyên bố hợp đồng lao động vô hiệu, thỏa ước lao động tập thể vô hiệu. Trong
quyết định này, Tòa án phải giải quyết hậu quả pháp lý của việc tuyên bố hợp
đồng lao động vô hiệu, thỏa ước lao động tập thể vô hiệu.
6. Quyết định tuyên bố hợp đồng lao động vô hiệu, thỏa
ước lao động tập thể vô hiệu phải gửi đến người có đơn hoặc văn bản yêu cầu,
người sử dụng lao động, tổ chức đại diện tập thể lao động và cơ quan quản lý
nhà nước về lao động nơi doanh nghiệp đóng trụ sở chính, cơ quan quản lý nhà
nước về lao động cùng cấp trong trường hợp có liên quan đến doanh nghiệp không
có trụ sở chính tại Việt Nam.
THỦ TỤC XÉT TÍNH HỢP PHÁP CỦA CUỘC ĐÌNH CÔNG
Điều 403. Yêu cầu Tòa án xét tính hợp pháp
của cuộc đình công
1. Trong quá trình đình công hoặc trong thời hạn 03
tháng, kể từ ngày chấm dứt đình công, người sử dụng lao động, tổ chức đại diện
tập thể lao động có quyền yêu cầu Tòa án xét tính hợp pháp của cuộc đình công.
2. Người yêu cầu Tòa án xét tính hợp pháp của cuộc đình
công phải làm đơn yêu cầu gửi Tòa án. Đơn yêu cầu phải có các nội dung chính
sau đây:
a) Những nội dung quy định tại khoản 2
Điều 362 của Bộ luật này;
b) Tên, địa chỉ của tổ chức lãnh đạo cuộc đình công;
c) Tên, địa chỉ của người sử dụng lao động nơi tập thể
lao động đình công.
3. Kèm theo đơn yêu cầu, người yêu cầu phải gửi bản sao
quyết định đình công, quyết định hoặc biên bản hòa giải của cơ quan, tổ chức có
thẩm quyền giải quyết vụ tranh chấp lao động tập thể, tài liệu, chứng cứ có
liên quan đến việc xét tính hợp pháp của cuộc đình công.
Điều 404. Thủ tục gửi đơn yêu cầu Tòa án xét
tính hợp pháp của cuộc đình công
Thủ tục gửi đơn, nhận đơn, nghĩa vụ cung cấp tài liệu,
chứng cứ đối với việc xét và quyết định về tính hợp pháp của cuộc đình công tại
Tòa án được thực hiện theo quy định của Bộ luật này.
Điều 405. Thẩm quyền xét tính hợp pháp của
cuộc đình công
1. Tòa án nhân dân cấp tỉnh nơi xảy ra đình công có thẩm
quyền xét tính hợp pháp của cuộc đình công.
2. Tòa án nhân dân cấp cao có thẩm quyền giải quyết kháng
cáo, kháng nghị đối với quyết định của Tòa án nhân dân cấp tỉnh về tính hợp
pháp của cuộc đình công trong phạm vi thẩm quyền theo lãnh thổ.
Điều 406. Thành phần Hội đồng xét tính hợp
pháp của cuộc đình công
1. Tòa án nhân dân cấp tỉnh xét tính hợp pháp của cuộc
đình công bằng Hội đồng gồm ba Thẩm phán.
2. Tòa án nhân dân cấp cao giải quyết kháng cáo, kháng
nghị đối với quyết định về tính hợp pháp của cuộc đình công bằng Hội đồng gồm
ba Thẩm phán.
Điều 407. Những người tham gia phiên họp xét
tính hợp pháp của cuộc đình công
1. Hội đồng xét tính hợp pháp của cuộc đình công do một
Thẩm phán làm chủ tọa; Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên họp.
2. Kiểm sát viên Viện kiểm sát cùng cấp.
3. Đại diện tổ chức đại diện tập thể lao động và người sử
dụng lao động.
4. Đại diện cơ quan, tổ chức theo yêu cầu của Tòa án.
Điều 408. Hoãn phiên họp xét tính hợp pháp
của cuộc đình công
1. Phiên họp xét tính hợp pháp của cuộc đình công được
hoãn theo quy định tại Điều 233 của Bộ luật này về
hoãn phiên tòa.
2. Thời hạn hoãn phiên họp xét tính hợp pháp của cuộc
đình công không quá 03 ngày làm việc, kể từ ngày có quyết định hoãn phiên họp.
Điều 409. Đình chỉ việc xét tính hợp pháp của
cuộc đình công
Tòa án đình chỉ việc xét tính hợp pháp của cuộc đình công
trong các trường hợp sau đây:
1. Người yêu cầu rút đơn yêu cầu;
2. Các bên đã thỏa thuận được với nhau về giải quyết cuộc
đình công và có đơn yêu cầu Tòa án không giải quyết;
3. Người yêu cầu đã được triệu tập hợp lệ lần thứ hai mà
vẫn vắng mặt, trừ trường hợp do sự kiện bất khả kháng, trở ngại khách quan.
Điều 410. Thủ tục giải quyết đơn yêu cầu xét
tính hợp pháp của cuộc đình công
1. Ngay sau khi nhận đơn yêu cầu, Chánh án Tòa án nhân
dân cấp tỉnh quyết định thành lập Hội đồng xét tính hợp pháp của cuộc đình công
và phân công một Thẩm phán chủ trì việc giải quyết đơn yêu cầu.
2. Trong thời hạn 05 ngày làm việc, kể từ ngày nhận đơn
yêu cầu, Thẩm phán được phân công chủ trì việc giải quyết đơn yêu cầu phải ra
quyết định mở phiên họp xét tính hợp pháp của cuộc đình công. Quyết định mở
phiên họp xét tính hợp pháp của cuộc đình công phải được gửi ngay cho tổ chức
đại diện tập thể lao động, người sử dụng lao động, Viện kiểm sát cùng cấp và cơ
quan, tổ chức liên quan.
3. Trong thời hạn 05 ngày làm việc, kể từ ngày ra quyết
định mở phiên họp xét tính hợp pháp của cuộc đình công, Hội đồng xét tính hợp
pháp của cuộc đình công phải mở phiên họp xét tính hợp pháp của cuộc đình công.
Điều 411. Trình tự phiên họp xét tính hợp
pháp của cuộc đình công
1. Thẩm phán chủ trì phiên họp xét tính hợp pháp của cuộc
đình công công bố quyết định mở phiên họp xét tính hợp pháp của cuộc đình công
và tóm tắt nội dung đơn yêu cầu.
2. Đại diện tổ chức đại diện tập thể lao động và đại diện
của người sử dụng lao động trình bày ý kiến của mình.
3. Thẩm phán chủ trì phiên họp xét tính hợp pháp của cuộc
đình công có thể yêu cầu đại diện cơ quan, tổ chức tham gia phiên họp trình bày
ý kiến.
4. Kiểm sát viên phát biểu ý kiến của Viện kiểm sát về
việc xét tính hợp pháp của cuộc đình công.
Ngay sau khi kết thúc phiên họp, Kiểm sát viên phải gửi
văn bản phát biểu ý kiến cho Tòa án để lưu vào hồ sơ việc dân sự.
5. Hội đồng xét tính hợp pháp của cuộc đình công thảo
luận và quyết định theo đa số.
Điều 412. Quyết định về tính hợp pháp của
cuộc đình công
1. Quyết định của Tòa án về tính hợp pháp của cuộc đình
công phải nêu rõ lý do và căn cứ để kết luận tính hợp pháp của cuộc đình công.
Quyết định của Tòa án về tính hợp pháp của cuộc đình công
phải được công bố công khai tại phiên họp và gửi ngay cho tổ chức đại diện tập
thể lao động và người sử dụng lao động, Viện kiểm sát cùng cấp. Tập thể lao
động, người sử dụng lao động có trách nhiệm thi hành quyết định của Tòa án
nhưng có quyền kháng cáo; Viện kiểm sát có quyền kháng nghị quyết định đó.
2. Sau khi quyết định của Tòa án về tính hợp pháp của
cuộc đình công được công bố, nếu cuộc đình công là bất hợp pháp thì người lao
động đang tham gia đình công phải ngừng ngay đình công và trở lại làm việc.
1. Ngay sau khi nhận đơn kháng cáo, quyết định kháng nghị
đối với quyết định về tính hợp pháp của cuộc đình công, Tòa án nhân dân cấp cao
phải có văn bản yêu cầu Tòa án đã xét tính hợp pháp của cuộc đình công chuyển
hồ sơ vụ việc để xem xét, giải quyết.
2. Trong thời hạn 03 ngày làm việc, kể từ ngày nhận được
văn bản yêu cầu, Tòa án đã ra quyết định về tính hợp pháp của cuộc đình công
phải chuyển hồ sơ vụ việc cho Tòa án nhân dân cấp cao để xem xét, giải quyết.
3. Trong thời hạn 02 ngày làm việc, kể từ ngày nhận được
hồ sơ vụ việc, Chánh án Tòa án nhân dân cấp cao quyết định thành lập Hội đồng
phúc thẩm xét tính hợp pháp của cuộc đình công và phân công một Thẩm phán chủ
trì việc nghiên cứu hồ sơ.
Trong thời hạn 05 ngày làm việc, kể từ ngày Tòa án nhân
dân cấp cao nhận được hồ sơ vụ việc, Hội đồng phúc thẩm phải tiến hành xét
kháng cáo, kháng nghị đối với quyết định về tính hợp pháp của cuộc đình công.
Quyết định của Hội đồng phúc thẩm xét tính hợp pháp của
cuộc đình công của Tòa án nhân dân cấp cao là quyết định cuối cùng.
THỦ TỤC GIẢI QUYẾT CÁC VIỆC DÂN SỰ LIÊN QUAN
ĐẾN HOẠT ĐỘNG TRỌNG TÀI THƯƠNG MẠI VIỆT NAM
1. Chỉ định, thay đổi Trọng tài viên.
2. Áp dụng, thay đổi, hủy bỏ biện pháp khẩn cấp tạm thời.
3. Hủy phán quyết trọng tài.
4. Giải quyết khiếu nại đối với quyết định của Hội đồng
trọng tài về thỏa thuận trọng tài vô hiệu, thỏa thuận trọng tài không thể thực
hiện được, thẩm quyền của Hội đồng trọng tài.
5. Thu thập chứng cứ.
6. Triệu tập người làm chứng.
7. Đăng ký phán quyết trọng tài.
8. Các việc dân sự khác mà pháp luật về Trọng tài thương
mại Việt Nam có quy định.
Thủ tục giải quyết các việc dân sự liên quan đến hoạt
động của Trọng tài thương mại Việt Nam được thực hiện theo quy định của pháp
luật về Trọng tài thương mại Việt Nam.
THỦ TỤC CÔNG NHẬN KẾT QUẢ HÒA GIẢI THÀNH
NGOÀI TÒA ÁN
Điều 416. Công nhận kết quả hòa giải thành
ngoài Tòa án
Kết quả hòa giải vụ việc ngoài Tòa án được Tòa án xem xét
ra quyết định công nhận là kết quả hòa giải thành vụ việc xảy ra giữa cơ quan,
tổ chức, cá nhân do cơ quan, tổ chức, người có thẩm quyền có nhiệm vụ hòa giải
đã hòa giải thành theo quy định của pháp luật về hòa giải.
Điều 417. Điều kiện công nhận kết quả hòa
giải thành ngoài Tòa án
1. Các bên tham gia thỏa thuận hòa giải có đầy đủ năng
lực hành vi dân sự.
2. Các bên tham gia thỏa thuận hòa giải là người có
quyền, nghĩa vụ đối với nội dung thỏa thuận hòa giải. Trường hợp nội dung thỏa
thuận hòa giải thành liên quan đến quyền, nghĩa vụ của người thứ ba thì phải
được người thứ ba đồng ý.
3. Một hoặc cả hai bên có đơn yêu cầu Tòa án công nhận.
4. Nội dung thỏa thuận hòa giải thành của các bên là hoàn
toàn tự nguyện, không vi phạm điều cấm của luật, không trái đạo đức xã hội,
không nhằm trốn tránh nghĩa vụ với Nhà nước hoặc người thứ ba.
Điều 418. Đơn yêu cầu công nhận kết quả hòa
giải thành ngoài Tòa án
1. Người yêu cầu công nhận kết quả hòa giải thành ngoài
Tòa án phải gửi đơn đến Tòa án trong thời hạn 06 tháng, kể từ ngày các bên đạt
được thỏa thuận hòa giải thành.
Đơn yêu cầu phải có các nội dung chủ yếu sau đây:
a) Các nội dung quy định tại các điểm a,
b, c, đ, e và g khoản 2 Điều 362 của Bộ luật này;
b) Tên, địa chỉ của cá nhân, tổ chức đã tiến hành hòa
giải;
c) Nội dung, thỏa thuận hòa giải thành yêu cầu Tòa án
công nhận.
2. Kèm theo đơn yêu cầu, người yêu cầu phải gửi văn bản
về kết quả hòa giải thành theo quy định của pháp luật có liên quan.
Điều 419. Thủ tục công nhận kết quả hòa giải
thành ngoài Tòa án
1. Thủ tục nhận và xử lý đơn yêu cầu công nhận kết quả
hòa giải thành ngoài Tòa án được thực hiện theo quy định tại các điều 363, 364 và 365 của Bộ luật này.
2. Thời hạn chuẩn bị xét đơn yêu cầu là 15 ngày, kể từ
ngày Tòa án thụ lý đơn yêu cầu; hết thời hạn này, Tòa án phải ra quyết định mở
phiên họp xét đơn yêu cầu.
Thời hạn mở phiên họp xét đơn yêu cầu là 10 ngày, kể từ
ngày Tòa án ra quyết định mở phiên họp.
3. Trong thời hạn chuẩn bị xét đơn yêu cầu, Thẩm phán
được phân công xét đơn có quyền sau đây:
a) Yêu cầu bên tham gia hòa giải, người có quyền lợi,
nghĩa vụ liên quan có ý kiến về yêu cầu của người có đơn đề nghị Tòa án công
nhận kết quả hòa giải thành; làm rõ nội dung yêu cầu hoặc bổ sung tài liệu, nếu
xét thấy cần thiết;
b) Yêu cầu cơ quan, tổ chức cá nhân có thẩm quyền tiến
hành hòa giải cung cấp cho Tòa án tài liệu làm cơ sở cho việc xét đơn yêu cầu
của đương sự, nếu xét thấy cần thiết.
Cơ quan, tổ chức, cá nhân được Tòa án yêu cầu có trách
nhiệm trả lời Tòa án trong thời hạn 05 ngày làm việc, kể từ ngày nhận được yêu
cầu của Tòa án.
4. Những người tham gia phiên họp xét đơn yêu cầu, thủ
tục tiến hành phiên họp xét đơn yêu cầu được thực hiện theo quy định tại Điều 367 và Điều 369 của Bộ luật này.
5. Thẩm phán ra quyết định công nhận kết quả hòa giải
thành ngoài Tòa án khi có đủ các điều kiện quy định tại Điều
417 của Bộ luật này. Quyết định của Tòa án phải có các nội dung quy định
tại Điều 370 của Bộ luật này.
6. Thẩm phán ra quyết định không công nhận kết quả hòa
giải thành ngoài Tòa án đối với trường hợp không có đủ các điều kiện quy định
tại Điều 417 của Bộ luật này.
Việc không công nhận kết quả hòa giải thành ngoài Tòa án
không ảnh hưởng đến nội dung và giá trị pháp lý của kết quả hòa giải ngoài Tòa
án.
7. Quyết định công nhận hoặc không công nhận kết quả hòa
giải thành ngoài Tòa án được gửi cho người tham gia thỏa thuận hòa giải, người
có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan và Viện kiểm sát cùng cấp.
8. Quyết định công nhận hoặc không công nhận kết quả hòa
giải thành ngoài Tòa án có hiệu lực thi hành ngay, không bị kháng cáo, kháng
nghị theo thủ tục phúc thẩm.
9. Quyết định công nhận kết quả hòa giải thành ngoài Tòa
án được thi hành theo pháp luật về thi hành án dân sự.
THỦ TỤC GIẢI QUYẾT VIỆC DÂN SỰ LIÊN QUAN ĐẾN
VIỆC BẮT GIỮ TÀU BAY, TÀU BIỂN
Điều 420. Quyền yêu cầu Tòa án bắt giữ tàu
bay, tàu biển
1. Cơ quan, tổ chức, cá nhân có quyền yêu cầu Tòa án bắt
giữ tàu bay tại cảng hàng không, sân bay để bảo đảm lợi ích của chủ nợ, chủ sở
hữu, người thứ ba ở mặt đất bị thiệt hại hoặc người khác có quyền, lợi ích đối
với tàu bay hoặc để thi hành án dân sự theo quy định của pháp luật về hàng
không dân dụng Việt Nam.
2. Cơ quan, tổ chức, cá nhân có quyền yêu cầu Tòa án bắt
giữ tàu biển để bảo đảm giải quyết khiếu nại hàng hải, thi hành án dân sự, thực
hiện tương trợ tư pháp.
Điều 421. Thẩm quyền của Tòa án bắt giữ tàu
bay, tàu biển
1. Tòa án nhân dân cấp tỉnh nơi có cảng hàng không, sân
bay mà tàu bay bị yêu cầu bắt giữ hạ cánh có thẩm quyền quyết định bắt giữ tàu
bay.
2. Tòa án nhân dân cấp tỉnh nơi có cảng biển, cảng thủy
nội địa mà tàu biển bị yêu cầu bắt giữ đang hoạt động hàng hải có thẩm quyền
quyết định bắt giữ tàu biển. Trường hợp cảng có nhiều bến cảng thuộc địa phận
các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương khác nhau thì Tòa án nhân dân cấp
tỉnh nơi có bến cảng mà tàu biển bị yêu cầu bắt giữ đang hoạt động hàng hải có
thẩm quyền quyết định bắt giữ tàu biển đó.
Điều 422. Thủ tục bắt giữ tàu bay, tàu biển
Thủ tục giải quyết việc dân sự liên quan đến việc bắt giữ
tàu bay, tàu biển được thực hiện theo quy định của pháp luật về bắt giữ tàu
bay, tàu biển.
Chương XXXV
1. Bản án, quyết định dân sự của Tòa án nước ngoài sau
đây được xem xét công nhận và cho thi hành tại Việt Nam:
a) Bản án, quyết định về dân sự, hôn nhân và gia đình,
kinh doanh, thương mại, lao động, quyết định về tài sản trong bản án, quyết
định hình sự, hành chính của Tòa án nước ngoài được quy định tại điều ước quốc
tế mà nước đó và Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên;
b) Bản án, quyết định về dân sự, hôn nhân và gia đình,
kinh doanh, thương mại, lao động; quyết định về tài sản trong bản án, quyết
định hình sự, hành chính của Tòa án nước ngoài mà nước đó và Cộng hòa xã hội
chủ nghĩa Việt Nam chưa cùng là thành viên của điều ước quốc tế có quy định về
công nhận và cho thi hành bản án, quyết định của Tòa án nước ngoài trên cơ sở
nguyên tắc có đi có lại;
c) Bản án, quyết định dân sự khác của Tòa án nước ngoài
được pháp luật Việt Nam quy định công nhận và cho thi hành.
2. Quyết định về nhân thân, hôn nhân và gia đình của cơ
quan khác có thẩm quyền của nước ngoài cũng được xem xét công nhận và cho thi
hành tại Việt Nam như bản án, quyết định dân sự của Tòa án nước ngoài quy định
tại khoản 1 Điều này.
Điều 424. Phán quyết của Trọng tài nước ngoài
được công nhận và cho thi hành tại Việt Nam
1. Phán quyết của Trọng tài nước ngoài sau đây được xem
xét công nhận và cho thi hành tại Việt Nam:
a) Phán quyết của Trọng tài nước ngoài mà nước đó và Cộng
hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam cùng là thành viên của điều ước quốc tế về công
nhận và cho thi hành phán quyết của Trọng tài nước ngoài;
b) Phán quyết của Trọng tài nước ngoài không thuộc trường
hợp quy định tại điểm a khoản này trên cơ sở nguyên tắc có đi có lại.
2. Phán quyết của Trọng tài nước ngoài quy định tại khoản
1 Điều này được xem xét công nhận và cho thi hành tại Việt Nam là phán quyết
cuối cùng của Hội đồng trọng tài giải quyết toàn bộ nội dung vụ tranh chấp,
chấm dứt tố tụng trọng tài và có hiệu lực thi hành.
3. Trọng tài nước ngoài, phán quyết của Trọng tài nước
ngoài quy định tại khoản 1 Điều này được xác định theo quy định của Luật Trọng
tài thương mại của Việt Nam.
1. Người được thi hành hoặc người đại diện hợp pháp của
họ có quyền yêu cầu Tòa án Việt Nam công nhận và cho thi hành tại Việt Nam bản
án, quyết định dân sự của Tòa án nước ngoài, phán quyết của Trọng tài nước
ngoài, nếu cá nhân phải thi hành cư trú, làm việc tại Việt Nam hoặc cơ quan, tổ
chức phải thi hành có trụ sở chính tại Việt Nam hoặc tài sản liên quan đến việc
thi hành bản án, quyết định dân sự của Tòa án nước ngoài, phán quyết của Trọng
tài nước ngoài có tại Việt Nam vào thời điểm yêu cầu.
2. Người phải thi hành hoặc người đại diện hợp pháp của
họ có quyền yêu cầu Tòa án Việt Nam không công nhận bản án, quyết định dân sự
của Tòa án nước ngoài.
3. Đương sự, người có quyền, lợi ích hợp pháp liên quan
hoặc người đại diện hợp pháp của họ có quyền yêu cầu Tòa án Việt Nam không công
nhận bản án, quyết định dân sự của Tòa án nước ngoài không có yêu cầu thi hành
tại Việt Nam.
Điều 426. Bảo đảm quyền kháng cáo, kháng nghị
Đương sự có quyền kháng cáo, Viện kiểm sát nhân dân cấp
tỉnh, Viện kiểm sát nhân dân cấp cao có quyền kháng nghị quyết định của Tòa án
công nhận và cho thi hành hoặc không công nhận bản án, quyết định dân sự của
Tòa án nước ngoài, quyết định công nhận và cho thi hành phán quyết của Trọng
tài nước ngoài để yêu cầu Tòa án nhân dân cấp cao xét lại theo quy định của Bộ
luật này.
1. Bản án, quyết định dân sự của Tòa án nước ngoài được
Tòa án Việt Nam công nhận và cho thi hành tại Việt Nam có hiệu lực pháp luật
như bản án, quyết định dân sự của Tòa án Việt Nam đã có hiệu lực pháp luật và
được thi hành theo thủ tục thi hành án dân sự. Bản án, quyết định dân sự của
Tòa án nước ngoài không được Tòa án Việt Nam công nhận thì không có hiệu lực
pháp luật tại Việt Nam, trừ trường hợp đương nhiên được công nhận quy định tại Điều 431 của Bộ luật này.
2. Phán quyết của Trọng tài nước ngoài được Tòa án Việt
Nam công nhận và cho thi hành tại Việt Nam có hiệu lực pháp luật như quyết định
của Tòa án Việt Nam đã có hiệu lực pháp luật và được thi hành theo thủ tục thi
hành án dân sự.
3. Bản án, quyết định dân sự của Tòa án nước ngoài, phán
quyết của Trọng tài nước ngoài chỉ được thi hành tại Việt Nam sau khi quyết
định của Tòa án Việt Nam công nhận và cho thi hành bản án, quyết định của Tòa
án nước ngoài, phán quyết của Trọng tài nước ngoài đó có hiệu lực pháp luật.
Tòa án có trách nhiệm chuyển giao trực tiếp hoặc qua dịch
vụ bưu chính hoặc thông qua Bộ Tư pháp quyết định của Tòa án cho người được thi
hành, người phải thi hành bản án, quyết định dân sự của Tòa án nước ngoài, phán
quyết của Trọng tài nước ngoài hoặc người đại diện hợp pháp của họ, Viện kiểm
sát cùng cấp và cơ quan thi hành án dân sự theo quy định của Bộ luật này.
Nhà nước Việt Nam bảo đảm việc chuyển tiền, tài sản thi
hành bản án, quyết định dân sự của Tòa án nước ngoài, phán quyết của Trọng tài
nước ngoài đã được Tòa án Việt Nam công nhận và cho thi hành từ Việt Nam ra
nước ngoài. Việc chuyển tiền, tài sản này được thực hiện theo quy định của pháp
luật Việt Nam.
1. Người yêu cầu Tòa án Việt Nam công nhận và cho thi
hành hoặc không công nhận tại Việt Nam bản án, quyết định dân sự của Tòa án
nước ngoài; công nhận và cho thi hành phán quyết của Trọng tài nước ngoài phải
nộp lệ phí theo quy định của pháp luật Việt Nam.
2. Người yêu cầu quy định tại khoản 1 Điều này phải chịu
chi phí tống đạt ra nước ngoài văn bản tố tụng của Tòa án Việt Nam liên quan
đến yêu cầu của họ.
1. Bản án, quyết định dân sự của Tòa án nước ngoài, quyết
định của cơ quan khác có thẩm quyền của nước ngoài không có yêu cầu thi hành
tại Việt Nam và không có đơn yêu cầu không công nhận tại Việt Nam được quy định
tại điều ước quốc tế mà Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên.
2. Bản án, quyết định về hôn nhân và gia đình của Tòa án
nước ngoài, quyết định về hôn nhân và gia đình của cơ quan khác có thẩm quyền
của nước ngoài mà nước đó và Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam chưa cùng là
thành viên của điều ước quốc tế không có yêu cầu thi hành tại Việt Nam và không
có đơn yêu cầu không công nhận tại Việt Nam.
Điều 432. Thời hiệu yêu cầu công nhận và cho
thi hành
1. Trong thời hạn 03 năm, kể từ ngày bản án, quyết định
dân sự của Tòa án nước ngoài có hiệu lực pháp luật, người được thi hành, người
có quyền, lợi ích hợp pháp liên quan hoặc người đại diện hợp pháp của họ có
quyền gửi đơn đến Bộ Tư pháp Việt Nam theo quy định của điều ước quốc tế mà
Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam và nước có Tòa án đã ra bản án, quyết định
cùng là thành viên hoặc Tòa án Việt Nam có thẩm quyền quy định tại Bộ luật này
để yêu cầu công nhận và cho thi hành tại Việt Nam bản án, quyết định dân sự đó.
2. Trường hợp người làm đơn chứng minh được vì sự kiện
bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan mà không thể gửi đơn đúng thời hạn quy
định tại khoản 1 Điều này thì thời gian có sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại
khách quan đó không tính vào thời hạn gửi đơn.
Điều 433. Đơn yêu cầu công nhận và cho thi
hành
1. Đơn yêu cầu công nhận và cho thi hành phải có các nội
dung chính sau đây:
a) Họ, tên, địa chỉ nơi cư trú hoặc nơi làm việc của
người được thi hành, người đại diện hợp pháp của người đó; nếu người được thi
hành án là cơ quan, tổ chức thì phải ghi đầy đủ tên và địa chỉ trụ sở chính của
cơ quan, tổ chức đó;
b) Họ, tên, địa chỉ nơi cư trú hoặc nơi làm việc của
người phải thi hành; nếu người phải thi hành là cơ quan, tổ chức thì ghi đầy đủ
tên và địa chỉ trụ sở chính của cơ quan, tổ chức đó; trường hợp người phải thi
hành là cá nhân không có nơi cư trú hoặc nơi làm việc tại Việt Nam, người phải
thi hành là cơ quan, tổ chức không có trụ sở chính tại Việt Nam thì trong đơn
yêu cầu phải ghi rõ địa chỉ nơi có tài sản và các loại tài sản liên quan đến
việc thi hành bản án, quyết định dân sự của Tòa án nước ngoài tại Việt Nam;
c) Yêu cầu của người được thi hành; trường hợp bản án,
quyết định của Tòa án nước ngoài đã được thi hành một phần thì người được thi
hành phải ghi rõ phần đã được thi hành và phần còn lại có yêu cầu công nhận và
cho thi hành tiếp tại Việt Nam.
2. Đơn yêu cầu bằng tiếng nước ngoài phải được gửi kèm
theo bản dịch ra tiếng Việt, được công chứng, chứng thực hợp pháp.
Điều 434. Giấy tờ, tài liệu gửi kèm theo đơn
yêu cầu
1. Gửi kèm theo đơn yêu cầu là giấy tờ, tài liệu được quy
định tại điều ước quốc tế mà Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam và nước có Tòa
án đã ra bản án, quyết định cùng là thành viên. Trường hợp Cộng hòa xã hội chủ
nghĩa Việt Nam và nước có Tòa án đã ra bản án, quyết định chưa cùng là thành
viên của điều ước quốc tế có quy định về vấn đề này thì kèm theo đơn yêu cầu
phải có giấy tờ, tài liệu sau đây:
a) Bản chính hoặc bản sao có chứng thực bản án, quyết
định do Tòa án nước ngoài cấp;
b) Văn bản của Tòa án nước ngoài hoặc cơ quan khác có
thẩm quyền của nước ngoài xác nhận bản án, quyết định đó có hiệu lực pháp luật,
chưa hết thời hiệu thi hành và cần được thi hành tại Việt Nam, trừ trường hợp
trong bản án, quyết định đó đã thể hiện rõ những nội dung này;
c) Văn bản của Tòa án nước ngoài hoặc cơ quan có thẩm
quyền của nước ngoài xác nhận kết quả tống đạt hợp lệ bản án, quyết định đó cho
người phải thi hành;
d) Văn bản của Tòa án nước ngoài hoặc cơ quan có thẩm
quyền của nước ngoài xác nhận người phải thi hành hoặc người đại diện hợp pháp
của người đó đã được triệu tập hợp lệ trong trường hợp Tòa án nước ngoài ra bản
án vắng mặt họ.
2. Giấy tờ, tài liệu kèm theo đơn yêu cầu bằng tiếng nước
ngoài phải được gửi kèm theo bản dịch ra tiếng Việt, được công chứng, chứng
thực hợp pháp.
Điều 435. Chuyển hồ sơ cho Tòa án
Trường hợp Bộ Tư pháp nhận được đơn yêu cầu và giấy tờ,
tài liệu quy định tại khoản 1 Điều 434 của Bộ luật này thì
trong thời hạn 05 ngày làm việc, kể từ ngày nhận được hồ sơ, Bộ Tư pháp phải
chuyển cho Tòa án có thẩm quyền theo quy định tại Điều 37 và
Điều 39 của Bộ luật này.
Trong thời hạn 05 ngày làm việc, kể từ ngày nhận được hồ
sơ do Bộ Tư pháp chuyển đến hoặc kể từ ngày nhận được đơn yêu cầu và giấy tờ,
tài liệu kèm theo do người có yêu cầu gửi đến, Tòa án căn cứ vào các điều 363, 364 và 365 của Bộ luật này để xem xét, thụ lý hồ sơ
và thông báo cho người có đơn yêu cầu, người phải thi hành hoặc người đại diện
hợp pháp của họ tại Việt Nam, Viện kiểm sát cùng cấp và Bộ Tư pháp.
Điều 437. Chuẩn bị xét đơn yêu cầu
1. Trong thời hạn chuẩn bị xét đơn yêu cầu, Tòa án có
quyền yêu cầu người được thi hành giải thích những điểm chưa rõ trong đơn; yêu
cầu Tòa án nước ngoài đã ra bản án, quyết định giải thích những điểm chưa rõ
trong hồ sơ.
2. Văn bản yêu cầu giải thích của Tòa án được gửi cho
người được thi hành hoặc người đại diện hợp pháp của họ tại Việt Nam, Tòa án
nước ngoài theo đường dịch vụ bưu chính.
Trường hợp Tòa án Việt Nam yêu cầu Tòa án nước ngoài giải
thích thì văn bản yêu cầu được dịch ra ngôn ngữ quy định tại điều ước quốc tế
mà Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên. Trường hợp giữa Cộng hòa
xã hội chủ nghĩa Việt Nam và nước ngoài chưa có điều ước quốc tế thì hồ sơ phải
kèm theo bản dịch ra ngôn ngữ của nước được yêu cầu tương trợ tư pháp hoặc dịch
ra một ngôn ngữ khác mà nước được yêu cầu chấp nhận. Người yêu cầu công nhận và
cho thi hành tại Việt Nam bản án, quyết định của Tòa án nước ngoài phải chịu
chi phí dịch và chi phí dịch vụ bưu chính gửi văn bản yêu cầu giải thích của
Tòa án Việt Nam cho Tòa án nước ngoài.
3. Thời hạn chuẩn bị xét đơn yêu cầu là 04 tháng, kể từ
ngày thụ lý. Trong thời hạn này, tùy từng trường hợp mà Tòa án ra một trong các
quyết định sau đây:
a) Tạm đình chỉ việc xét đơn yêu cầu;
b) Đình chỉ việc xét đơn yêu cầu;
c) Mở phiên họp xét đơn yêu cầu.
Trường hợp Tòa án yêu cầu giải thích theo quy định tại
khoản 1 Điều này thì thời hạn chuẩn bị xét đơn yêu cầu được kéo dài nhưng không
quá 02 tháng. Nếu hết thời hạn này mà Tòa án không nhận được văn bản giải thích
của đương sự hoặc của Tòa án nước ngoài thì Tòa án căn cứ vào tài liệu có trong
hồ sơ để giải quyết yêu cầu của đương sự.
Tòa án phải mở phiên họp trong thời hạn 01 tháng, kể từ
ngày ra quyết định mở phiên họp xét đơn yêu cầu.
Tòa án chuyển hồ sơ cho Viện kiểm sát cùng cấp nghiên cứu
trong thời hạn 15 ngày trước ngày mở phiên họp; hết thời hạn này, Viện kiểm sát
phải gửi trả lại hồ sơ cho Tòa án để mở phiên họp xét đơn yêu cầu.
4. Tòa án ra quyết định tạm đình chỉ việc xét đơn yêu cầu
khi có một trong các căn cứ sau đây:
a) Người phải thi hành là cá nhân chết hoặc người phải
thi hành là cơ quan, tổ chức đã sáp nhập, hợp nhất, chia, tách, giải thể mà
chưa có cơ quan, tổ chức, cá nhân kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng của cơ
quan, tổ chức, cá nhân đó;
b) Người phải thi hành là cá nhân bị mất năng lực hành vi
dân sự mà chưa xác định được người đại diện theo pháp luật;
c) Chấm dứt đại diện hợp pháp của người phải thi hành mà
chưa có người thay thế;
d) Việc thi hành bản án, quyết định đã bị tạm đình chỉ
tại nước có Tòa án đã ra bản án, quyết định;
đ) Bản án, quyết định đang được xem xét lại hoặc đang chờ
xem xét lại theo thủ tục tố tụng tại nước nơi Tòa án đã ra bản án, quyết định
đó.
5. Tòa án ra quyết định đình chỉ việc xét đơn yêu cầu khi
có một trong các căn cứ sau đây:
a) Người được thi hành rút đơn yêu cầu hoặc người phải
thi hành đã tự nguyện thi hành bản án, quyết định của Tòa án nước ngoài;
b) Người phải thi hành là cá nhân chết mà quyền, nghĩa vụ
của người đó không được thừa kế;
c) Người phải thi hành là cơ quan, tổ chức đã bị giải
thể, phá sản mà quyền, nghĩa vụ của cơ quan, tổ chức đó đã được giải quyết theo
quy định của pháp luật Việt Nam;
d) Người phải thi hành là cơ quan, tổ chức đã bị giải
thể, phá sản mà không có cơ quan, tổ chức, cá nhân nào kế thừa quyền, nghĩa vụ
tố tụng của cơ quan, tổ chức đó;
đ) Đã có quyết định của Tòa án mở thủ tục phá sản đối với
người phải thi hành;
e) Tòa án không xác định được địa chỉ của người phải thi
hành và địa điểm nơi có tài sản liên quan đến việc thi hành;
g) Thẩm quyền giải quyết yêu cầu thuộc Tòa án khác và hồ
sơ đã được chuyển cho Tòa án đó giải quyết;
h) Tòa án không xác định được địa điểm nơi có tài sản
liên quan đến việc thi hành tại Việt Nam trong trường hợp cơ quan, tổ chức phải
thi hành không có trụ sở chính tại Việt Nam, cá nhân phải thi hành không cư
trú, làm việc tại Việt Nam.
Điều 438. Phiên họp xét đơn yêu cầu
1. Việc xét đơn yêu cầu được tiến hành tại phiên họp do
Hội đồng xét đơn yêu cầu gồm ba Thẩm phán thực hiện, trong đó một Thẩm phán làm
chủ tọa theo sự phân công của Chánh án Tòa án.
2. Kiểm sát viên Viện kiểm sát cùng cấp tham gia phiên
họp; trường hợp Kiểm sát viên vắng mặt thì Tòa án vẫn tiến hành phiên họp.
3. Phiên họp được tiến hành với sự có mặt của người được
thi hành, người phải thi hành hoặc người đại diện hợp pháp của họ; nếu một
trong những người này vắng mặt lần thứ nhất thì phải hoãn phiên họp.
Việc xét đơn yêu cầu vẫn được tiến hành nếu người được
thi hành hoặc người đại diện hợp pháp của họ, người phải thi hành hoặc người
đại diện hợp pháp của họ có đơn yêu cầu Tòa án xét đơn vắng mặt hoặc người phải
thi hành hoặc người đại diện hợp pháp của họ đã được triệu tập hợp lệ lần thứ
hai mà vẫn vắng mặt.
Hội đồng ra quyết định đình chỉ việc xét đơn nếu người
được thi hành hoặc người đại diện hợp pháp của họ đã được triệu tập hợp lệ lần
thứ hai mà vẫn vắng mặt hoặc khi có một trong các căn cứ quy định tại khoản 5 Điều 437 của Bộ luật này.
4. Khi xem xét đơn yêu cầu công nhận và cho thi hành, Hội
đồng không được xét xử lại vụ án đã được Tòa án nước ngoài ra bản án, quyết
định. Tòa án chỉ được kiểm tra, đối chiếu bản án, quyết định dân sự của Tòa án
nước ngoài, giấy tờ, tài liệu kèm theo đơn yêu cầu với các quy định tại Chương
XXXV và Chương XXXVI của Bộ luật này, các quy định khác có liên quan của pháp
luật Việt Nam và điều ước quốc tế mà Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là
thành viên để làm cơ sở cho việc ra quyết định công nhận và cho thi hành hoặc
không công nhận bản án, quyết định đó.
5. Sau khi xem xét đơn yêu cầu, các giấy tờ, tài liệu kèm
theo, nghe ý kiến của người được triệu tập, của Kiểm sát viên, Hội đồng thảo
luận và quyết định theo đa số.
Hội đồng có quyền ra quyết định công nhận và cho thi hành
tại Việt Nam hoặc quyết định không công nhận bản án, quyết định dân sự của Tòa
án nước ngoài.
6. Trong thời hạn chuẩn bị xét đơn yêu cầu, Tòa án cấp sơ
thẩm có quyền quyết định áp dụng, thay đổi, hủy bỏ biện pháp khẩn cấp tạm thời
quy định tại Chương VIII của Bộ luật này.
1. Bản án, quyết định dân sự của Tòa án nước ngoài không
đáp ứng được một trong các điều kiện để được công nhận quy định tại điều ước
quốc tế mà Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên.
2. Bản án, quyết định dân sự chưa có hiệu lực pháp luật
theo quy định của pháp luật của nước có Tòa án đã ra bản án, quyết định đó.
3. Người phải thi hành hoặc người đại diện hợp pháp của
người đó đã vắng mặt tại phiên tòa của Tòa án nước ngoài do không được triệu
tập hợp lệ hoặc văn bản của Tòa án nước ngoài không được tống đạt cho họ trong
một thời hạn hợp lý theo quy định của pháp luật của nước có Tòa án nước ngoài
đó để họ thực hiện quyền tự bảo vệ.
4. Tòa án nước đã ra bản án, quyết định không có thẩm
quyền giải quyết vụ việc dân sự đó theo quy định tại Điều 440
của Bộ luật này.
5. Vụ việc dân sự này đã có bản án, quyết định dân sự đã
có hiệu lực pháp luật của Tòa án Việt Nam hoặc trước khi cơ quan xét xử của
nước ngoài thụ lý vụ việc, Tòa án Việt Nam đã thụ lý và đang giải quyết vụ việc
hoặc đã có bản án, quyết định dân sự của Tòa án nước thứ ba đã được Tòa án Việt
Nam công nhận và cho thi hành.
6. Đã hết thời hiệu thi hành án theo pháp luật của nước
có Tòa án đã ra bản án, quyết định dân sự đó hoặc theo pháp luật thi hành án
dân sự của Việt Nam.
7. Việc thi hành bản án, quyết định đã bị hủy bỏ hoặc
đình chỉ thi hành tại nước có Tòa án đã ra bản án, quyết định đó.
8. Việc công nhận và cho thi hành bản án, quyết định dân
sự của Tòa án nước ngoài tại Việt Nam trái với các nguyên tắc cơ bản của pháp
luật nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam.
Điều 440. Tòa án nước ngoài có thẩm quyền
giải quyết tranh chấp, yêu cầu
Tòa án nước ngoài đã ra bản án, quyết định mà bản án,
quyết định đó đang được xem xét để công nhận và cho thi hành tại Việt Nam có
thẩm quyền giải quyết vụ việc dân sự đó trong những trường hợp sau đây:
1. Vụ việc dân sự không thuộc thẩm quyền riêng biệt của
Tòa án Việt Nam quy định tại Điều 470 của Bộ luật này;
2. Vụ việc dân sự quy định tại Điều 469
của Bộ luật này nhưng có một trong các điều kiện sau đây:
a) Bị đơn tham gia tranh tụng mà không có ý kiến phản đối
thẩm quyền của Tòa án nước ngoài đó;
b) Vụ việc dân sự này chưa có bản án, quyết định của Tòa
án nước thứ ba đã được Tòa án Việt Nam công nhận và cho thi hành;
c) Vụ việc dân sự này đã được Tòa án nước ngoài thụ lý
trước khi Tòa án Việt Nam thụ lý.
Điều 441. Gửi quyết định của Tòa án
1. Trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày ra quyết định quy
định tại khoản 5 Điều 438 của Bộ luật này, Tòa án phải gửi
quyết định đó cho các đương sự hoặc người đại diện hợp pháp của họ, Bộ Tư pháp
và Viện kiểm sát cùng cấp.
2. Trong thời hạn 05 ngày làm việc, kể từ ngày ra quyết
định tạm đình chỉ, quyết định đình chỉ việc giải quyết đơn quy định tại khoản 4 và khoản 5 Điều 437 của Bộ luật này, Tòa án phải gửi
quyết định đó cho các đương sự hoặc người đại diện hợp pháp của họ, Bộ Tư pháp
và Viện kiểm sát cùng cấp.
3. Ngay sau khi ra quyết định áp dụng, thay đổi, hủy bỏ
biện pháp khẩn cấp tạm thời quy định tại khoản 6 Điều 438 của
Bộ luật này, Tòa án phải gửi quyết định đó cho các đương sự hoặc người đại
diện hợp pháp của họ, cơ quan thi hành án dân sự có thẩm quyền, Bộ Tư pháp và
Viện kiểm sát cùng cấp.
4. Việc gửi quyết định của Tòa án cho đương sự ở nước
ngoài được thực hiện theo các phương thức quy định tại Điều
474 của Bộ luật này.
Điều 442. Kháng cáo, kháng nghị
1. Trong thời hạn 07 ngày, kể từ ngày Tòa án ra quyết
định tạm đình chỉ, quyết định đình chỉ xét đơn yêu cầu và 15 ngày, kể từ ngày
Tòa án ra quyết định công nhận và cho thi hành hoặc không công nhận bản án,
quyết định của Tòa án nước ngoài, đương sự, người đại diện hợp pháp của họ có
quyền kháng cáo quyết định đó; trường hợp đương sự, người đại diện hợp pháp của
họ không có mặt tại phiên họp xét đơn yêu cầu thì thời hạn kháng cáo được tính
từ ngày họ nhận được quyết định đó. Đơn kháng cáo phải nêu rõ lý do và yêu cầu
kháng cáo.
Trong trường hợp có sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại
khách quan làm cho đương sự, người đại diện hợp pháp của họ không thể kháng cáo
trong thời hạn nêu trên thì thời gian có sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại
khách quan đó không tính vào thời hạn kháng cáo.
2. Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân cấp tỉnh hoặc Viện
trưởng Viện kiểm sát nhân dân cấp cao có quyền kháng nghị quyết định của Tòa án
quy định tại khoản 4 và khoản 5 Điều 437 và khoản 5 Điều 438
của Bộ luật này.
Thời hạn kháng nghị của Viện kiểm sát nhân dân cấp tỉnh
là 07 ngày, của Viện kiểm sát nhân dân cấp cao là 10 ngày, kể từ ngày Viện kiểm
sát nhận được quyết định.
Điều 443. Xét kháng cáo, kháng nghị
1. Tòa án nhân dân cấp cao xét quyết định của Tòa án nhân
dân cấp tỉnh trong phạm vi thẩm quyền theo lãnh thổ bị kháng cáo, kháng nghị
trong thời hạn 01 tháng, kể từ ngày nhận được hồ sơ; trường hợp cần phải yêu
cầu giải thích theo quy định tại khoản 1 và khoản 2 Điều 437
của Bộ luật này thì thời hạn này được kéo dài, nhưng không quá 02 tháng.
2. Thành phần Hội đồng xét quyết định bị kháng cáo, kháng
nghị gồm ba Thẩm phán, trong đó một Thẩm phán làm chủ tọa theo sự phân công của
Chánh Tòa án nhân dân cấp cao.
Phiên họp xét lại quyết định bị kháng cáo, kháng nghị
được tiến hành như phiên họp xét đơn yêu cầu quy định tại Điều
438 của Bộ luật này.
3. Hội đồng xét quyết định bị kháng cáo, kháng nghị có
các quyền sau đây:
a) Giữ nguyên quyết định của Tòa án cấp sơ thẩm;
b) Sửa một phần hoặc toàn bộ quyết định của Tòa án cấp sơ
thẩm;
c) Tạm đình chỉ giải quyết kháng cáo, kháng nghị;
d) Đình chỉ giải quyết kháng cáo, kháng nghị;
đ) Hủy quyết định của Tòa án cấp sơ thẩm và chuyển hồ sơ
cho Tòa án cấp sơ thẩm để giải quyết lại theo thủ tục sơ thẩm;
e) Hủy quyết định của Tòa án cấp sơ thẩm và đình chỉ việc
xét đơn yêu cầu khi có một trong các căn cứ quy định tại khoản
5 Điều 437 của Bộ luật này.
4. Quyết định của Tòa án nhân dân cấp cao có hiệu lực
pháp luật kể từ ngày ra quyết định và có thể bị kháng nghị theo thủ tục giám
đốc thẩm, tái thẩm theo quy định của Bộ luật này.
Mục 2. THỦ TỤC XÉT ĐƠN YÊU CẦU KHÔNG CÔNG
NHẬN BẢN ÁN, QUYẾT ĐỊNH DÂN SỰ CỦA TÒA ÁN NƯỚC NGOÀI
1. Trong thời hạn 03 năm, kể từ ngày bản án, quyết định
dân sự của Tòa án nước ngoài có hiệu lực pháp luật, người phải thi hành hoặc
người đại diện hợp pháp của họ có quyền yêu cầu Tòa án Việt Nam không công nhận
bản án, quyết định dân sự của Tòa án nước ngoài.
2. Trường hợp người yêu cầu chứng minh được vì sự kiện
bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan mà không thể yêu cầu đúng thời hạn quy
định tại khoản 1 Điều này thì thời gian có sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại
khách quan đó không tính vào thời hạn gửi đơn.
Điều 445. Đơn yêu cầu không công nhận bản án,
quyết định dân sự của Tòa án nước ngoài tại Việt Nam
1. Người yêu cầu quy định tại khoản 1
Điều 444 của Bộ luật này phải làm đơn yêu cầu. Đơn yêu cầu phải có các nội
dung chính sau đây:
a) Họ, tên, địa chỉ nơi cư trú hoặc nơi làm việc của
người phải thi hành; nếu người phải thi hành là cơ quan, tổ chức thì ghi đầy đủ
tên và địa chỉ trụ sở chính của cơ quan, tổ chức đó; trường hợp người phải thi
hành là cá nhân không có nơi cư trú hoặc nơi làm việc tại Việt Nam, người phải
thi hành là cơ quan, tổ chức không có trụ sở chính tại Việt Nam thì trong đơn
yêu cầu phải ghi rõ địa chỉ nơi có tài sản và các loại tài sản liên quan đến
việc thi hành bản án, quyết định dân sự của Tòa án nước ngoài tại Việt Nam;
b) Họ, tên, địa chỉ nơi cư trú hoặc nơi làm việc của
người được thi hành, người đại diện hợp pháp của người đó; nếu người được thi
hành án là cơ quan, tổ chức thì phải ghi đầy đủ tên và địa chỉ trụ sở chính của
cơ quan, tổ chức đó;
c) Yêu cầu của người phải thi hành; trường hợp bản án,
quyết định của Tòa án nước ngoài đã được thi hành một phần thì phải ghi rõ phần
đã được thi hành và phần còn lại có yêu cầu không công nhận tại Việt Nam.
2. Đơn yêu cầu bằng tiếng nước ngoài phải được gửi kèm
theo bản dịch ra tiếng Việt, được công chứng, chứng thực hợp pháp.
1. Gửi kèm theo đơn yêu cầu là giấy tờ, tài liệu quy định
tại điều ước quốc tế mà Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên.
Trường hợp Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam và nước có Tòa án đã ra bản án,
quyết định chưa cùng là thành viên của điều ước quốc tế có quy định về vấn đề
này thì kèm theo đơn yêu cầu phải có bản chính hoặc bản sao có chứng thực bản
án, quyết định do Tòa án nước ngoài cấp và giấy tờ, tài liệu chứng minh cho yêu
cầu không công nhận.
2. Giấy tờ, tài liệu kèm theo đơn yêu cầu bằng tiếng nước
ngoài phải được gửi kèm theo bản dịch ra tiếng Việt, được công chứng, chứng
thực hợp pháp.
3. Thủ tục xét đơn yêu cầu, việc gửi quyết định của Tòa
án, việc kháng cáo, kháng nghị và xét kháng cáo, kháng nghị được thực hiện theo
quy định tại các điều tương ứng tại Mục 1 Chương này.
1. Trong thời hạn 06 tháng, kể từ ngày nhận được bản án,
quyết định dân sự đã có hiệu lực pháp luật của Tòa án nước ngoài mà không có
yêu cầu thi hành tại Việt Nam, đương sự, người có quyền, lợi ích hợp pháp liên
quan hoặc người đại diện hợp pháp của họ có quyền gửi đơn đến Bộ Tư pháp Việt
Nam theo quy định của điều ước quốc tế mà Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là
thành viên hoặc Tòa án có thẩm quyền của Việt Nam theo quy định của Bộ luật này
trong trường hợp điều ước quốc tế mà Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là
thành viên không quy định hoặc không có điều ước quốc tế liên quan để yêu cầu
Tòa án không công nhận bản án, quyết định dân sự đó.
2. Trường hợp người làm đơn chứng minh được vì sự kiện
bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan mà không thể gửi đơn đúng thời hạn quy
định tại khoản 1 Điều này thì thời gian có sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại
khách quan đó không tính vào thời hạn gửi đơn.
1. Đơn yêu cầu không công nhận bản án, quyết định dân sự
của Tòa án nước ngoài không có yêu cầu thi hành tại Việt Nam phải có các nội
dung chính sau đây:
a) Họ, tên, địa chỉ nơi cư trú hoặc nơi làm việc của
người làm đơn; nếu là cơ quan, tổ chức thì ghi đầy đủ tên và địa chỉ trụ sở
chính của cơ quan, tổ chức đó;
b) Yêu cầu của người làm đơn.
2. Kèm theo đơn yêu cầu phải có bản chính hoặc bản sao có
chứng thực bản án, quyết định dân sự của Tòa án nước ngoài và giấy tờ, tài liệu
cần thiết để chứng minh yêu cầu không công nhận của mình là có căn cứ và hợp
pháp.
3. Đơn yêu cầu và giấy tờ, tài liệu kèm theo bằng tiếng
nước ngoài phải được gửi kèm theo bản dịch ra tiếng Việt, được công chứng,
chứng thực hợp pháp.
1. Việc thụ lý đơn, chuẩn bị xét đơn yêu cầu và phiên họp
xét đơn yêu cầu không công nhận bản án, quyết định dân sự của Tòa án nước ngoài
không có yêu cầu thi hành tại Việt Nam được thực hiện theo quy định tại các điều 436, 437 và 438 của Bộ luật này.
2. Hội đồng xét đơn yêu cầu có quyền ra một trong các
quyết định sau đây:
a) Không công nhận bản án, quyết định dân sự của Tòa án
nước ngoài;
b) Bác đơn yêu cầu không công nhận.
3. Bản án, quyết định dân sự của Tòa án nước ngoài không
có yêu cầu thi hành tại Việt Nam không được công nhận trong các trường hợp quy
định tại Điều 439 của Bộ luật này.
Điều 450. Gửi quyết định của Tòa án và việc
kháng cáo, kháng nghị
Việc gửi quyết định của Tòa án; việc kháng cáo, kháng
nghị và xét kháng cáo, kháng nghị được thực hiện theo quy định tại các điều 441, 442 và 443 của Bộ luật này.
THỦ TỤC XÉT ĐƠN YÊU CẦU CÔNG NHẬN VÀ CHO THI
HÀNH TẠI VIỆT NAM PHÁN QUYẾT CỦA TRỌNG TÀI NƯỚC NGOÀI
Điều 451. Thời hạn gửi đơn yêu cầu công nhận
và cho thi hành
1. Trong thời hạn 03 năm, kể từ ngày phán quyết của Trọng
tài nước ngoài có hiệu lực pháp luật, người được thi hành, người có quyền, lợi
ích hợp pháp liên quan hoặc người đại diện hợp pháp của họ có quyền gửi đơn đến
Bộ Tư pháp Việt Nam theo quy định của điều ước quốc tế mà Cộng hòa xã hội chủ
nghĩa Việt Nam là thành viên hoặc Tòa án có thẩm quyền của Việt Nam theo quy
định của Bộ luật này trong trường hợp điều ước quốc tế mà Cộng hòa xã hội chủ
nghĩa Việt Nam là thành viên không quy định hoặc không có điều ước quốc tế liên
quan để yêu cầu Tòa án công nhận và cho thi hành tại Việt Nam phán quyết đó.
2. Trường hợp người làm đơn chứng minh được vì sự kiện
bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan mà không thể gửi đơn đúng thời hạn quy
định tại khoản 1 Điều này thì thời gian có sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại
khách quan đó không tính vào thời hạn gửi đơn.
Điều 452. Đơn yêu cầu công nhận và cho thi
hành tại Việt Nam phán quyết của Trọng tài nước ngoài
1. Đơn yêu cầu công nhận và cho thi hành tại Việt Nam
phán quyết của Trọng tài nước ngoài phải có các nội dung chính sau đây:
a) Họ, tên, địa chỉ nơi cư trú hoặc nơi làm việc của
người được thi hành, người đại diện hợp pháp tại Việt Nam của người đó; nếu
người được thi hành án là cơ quan, tổ chức thì phải ghi đầy đủ tên và địa chỉ
trụ sở chính của cơ quan, tổ chức đó;
b) Họ, tên, địa chỉ nơi cư trú hoặc nơi làm việc của
người phải thi hành; nếu người phải thi hành là cơ quan, tổ chức thì ghi đầy đủ
tên và địa chỉ trụ sở chính của cơ quan, tổ chức đó; trường hợp người phải thi
hành là cá nhân không có nơi cư trú hoặc nơi làm việc tại Việt Nam, người phải
thi hành là cơ quan, tổ chức không có trụ sở chính tại Việt Nam thì trong đơn
yêu cầu phải ghi rõ địa chỉ nơi có tài sản và các loại tài sản liên quan đến
việc thi hành phán quyết của Trọng tài nước ngoài tại Việt Nam;
c) Yêu cầu của người được thi hành.
2. Đơn yêu cầu bằng tiếng nước ngoài phải được gửi kèm
theo bản dịch ra tiếng Việt, được công chứng, chứng thực hợp pháp.
Điều 453. Giấy tờ, tài liệu gửi kèm theo đơn
yêu cầu
1. Gửi kèm theo đơn yêu cầu là giấy tờ, tài liệu quy định
tại điều ước quốc tế mà Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên;
trường hợp không có điều ước quốc tế hoặc điều ước quốc tế không quy định thì
kèm theo đơn yêu cầu phải có giấy tờ, tài liệu sau đây:
a) Bản chính hoặc bản sao có chứng thực phán quyết của
Trọng tài nước ngoài;
b) Bản chính hoặc bản sao có chứng thực thỏa thuận trọng
tài giữa các bên.
2. Giấy tờ, tài liệu kèm theo đơn yêu cầu bằng tiếng nước
ngoài thì phải được gửi kèm theo bản dịch ra tiếng Việt, được công chứng, chứng
thực hợp pháp.
Điều 454. Chuyển hồ sơ cho Tòa án
1. Trong thời hạn 05 ngày làm việc, kể từ ngày nhận được
đơn yêu cầu và giấy tờ, tài liệu quy định tại Điều 453 của Bộ
luật này thì Bộ Tư pháp phải chuyển cho Tòa án có thẩm quyền.
2. Trường hợp Bộ Tư pháp đã chuyển hồ sơ cho Tòa án mà
sau đó lại nhận được thông báo của cơ quan có thẩm quyền của nước ngoài cho
biết đang xem xét hoặc đã hủy bỏ, đình chỉ thi hành phán quyết của Trọng tài
nước ngoài thì Bộ Tư pháp phải thông báo ngay bằng văn bản cho Tòa án biết.
Trong thời hạn 05 ngày làm việc, kể từ ngày nhận được hồ
sơ do Bộ Tư pháp chuyển đến hoặc nhận được đơn và giấy tờ, tài liệu kèm theo do
người có đơn yêu cầu gửi đến, Tòa án có thẩm quyền căn cứ vào các điều 363, 364 và 365 của Bộ luật này để xem xét, thụ lý và
thông báo bằng văn bản cho người được thi hành, người phải thi hành hoặc người
đại diện hợp pháp của họ tại Việt Nam, Viện kiểm sát cùng cấp và Bộ Tư pháp.
Điều 456. Chuyển hồ sơ cho Tòa án khác, giải
quyết tranh chấp về thẩm quyền
Trường hợp sau khi thụ lý mà Tòa án xét thấy việc giải
quyết yêu cầu công nhận và cho thi hành tại Việt Nam phán quyết của Trọng tài
nước ngoài thuộc thẩm quyền của Tòa án khác của Việt Nam thì Tòa án đã thụ lý
ra quyết định chuyển hồ sơ cho Tòa án có thẩm quyền và xóa tên yêu cầu đó trong
sổ thụ lý. Quyết định này phải được gửi ngay cho Viện kiểm sát cùng cấp và
đương sự.
Đương sự có quyền khiếu nại, Viện kiểm sát có quyền kiến
nghị đối với quyết định này trong thời hạn 03 ngày làm việc, kể từ ngày nhận
được quyết định. Trình tự, thủ tục giải quyết khiếu nại, kiến nghị, giải quyết
tranh chấp về thẩm quyền được thực hiện theo quy định tại Điều
41 của Bộ luật này.
Điều 457. Chuẩn bị xét đơn yêu cầu
1. Trong thời hạn 02 tháng, kể từ ngày thụ lý, tùy từng
trường hợp mà Tòa án ra một trong các quyết định sau đây:
a) Tạm đình chỉ việc xét đơn yêu cầu;
b) Đình chỉ việc xét đơn yêu cầu;
c) Mở phiên họp xét đơn yêu cầu.
Trong thời hạn chuẩn bị xét đơn yêu cầu, Tòa án có quyền
yêu cầu người được thi hành giải thích những điểm chưa rõ trong đơn. Trong
trường hợp này, thời hạn chuẩn bị xét đơn yêu cầu được kéo dài nhưng không quá
02 tháng.
Tòa án phải mở phiên họp trong thời hạn 20 ngày, kể từ
ngày ra quyết định mở phiên họp xét đơn yêu cầu. Tòa án chuyển hồ sơ cho Viện
kiểm sát cùng cấp nghiên cứu trong thời hạn 15 ngày trước ngày mở phiên họp;
hết thời hạn này, Viện kiểm sát phải gửi trả lại hồ sơ cho Tòa án để mở phiên
họp xét đơn yêu cầu.
2. Tòa án ra quyết định tạm đình chỉ việc xét đơn yêu cầu
khi có một trong các căn cứ sau đây:
a) Phán quyết của Trọng tài nước ngoài đang được cơ quan
có thẩm quyền của nước nơi Trọng tài ra phán quyết xem xét lại;
b) Người phải thi hành là cá nhân chết hoặc người phải
thi hành là cơ quan, tổ chức đã sáp nhập, hợp nhất, chia, tách, giải thể mà
chưa có cơ quan, tổ chức, cá nhân kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng của cơ
quan, tổ chức, cá nhân đó;
c) Người phải thi hành là cá nhân bị mất năng lực hành vi
dân sự mà chưa xác định được người đại diện theo pháp luật.
Trong thời gian tạm đình chỉ, Thẩm phán được phân công
giải quyết vẫn phải có trách nhiệm về việc giải quyết đơn yêu cầu.
Sau khi có quyết định tạm đình chỉ giải quyết đơn yêu cầu
theo quy định tại khoản này, Thẩm phán có trách nhiệm theo dõi, đôn đốc cơ
quan, tổ chức, cá nhân nhằm khắc phục những lý do dẫn tới việc tạm đình chỉ
trong thời gian ngắn nhất để kịp thời tiếp tục giải quyết đơn yêu cầu. Khi lý
do tạm đình chỉ không còn thì Thẩm phán phải ra quyết định tiếp tục giải quyết
đơn yêu cầu.
3. Tòa án ra quyết định đình chỉ việc xét đơn yêu cầu khi
có một trong các căn cứ sau đây:
a) Người được thi hành rút đơn yêu cầu hoặc người phải
thi hành đã tự nguyện thi hành phán quyết của Trọng tài nước ngoài;
b) Người phải thi hành là cá nhân chết mà quyền, nghĩa vụ
của người đó không được thừa kế;
c) Người phải thi hành là cơ quan, tổ chức đã bị giải
thể, phá sản mà quyền, nghĩa vụ của cơ quan, tổ chức đó đã được giải quyết theo
quy định của pháp luật Việt Nam;
d) Người phải thi hành là cơ quan, tổ chức đã bị giải
thể, phá sản mà không có cơ quan, tổ chức, cá nhân nào kế thừa quyền, nghĩa vụ
tố tụng của cơ quan, tổ chức đó;
đ) Tòa án không xác định được địa điểm nơi có tài sản tại
Việt Nam của người phải thi hành theo yêu cầu của người được thi hành phán
quyết trọng tài.
Điều 458. Phiên họp xét đơn yêu cầu
1. Việc xét đơn yêu cầu được tiến hành tại phiên họp do
Hội đồng xét đơn yêu cầu gồm ba Thẩm phán thực hiện, trong đó một Thẩm phán làm
chủ tọa theo sự phân công của Chánh án Tòa án.
2. Kiểm sát viên Viện kiểm sát cùng cấp phải tham gia
phiên họp; trường hợp Kiểm sát viên vắng mặt thì Tòa án vẫn tiến hành phiên
họp.
3. Phiên họp được tiến hành với sự có mặt của người được
thi hành, người phải thi hành hoặc người đại diện hợp pháp của họ, nếu một
trong những người này vắng mặt lần thứ nhất có lý do chính đáng thì phải hoãn
phiên họp.
Việc xét đơn yêu cầu vẫn được tiến hành nếu người được
thi hành hoặc người đại diện hợp pháp của họ, người phải thi hành hoặc người
đại diện hợp pháp của họ yêu cầu Tòa án xét đơn vắng mặt họ hoặc người phải thi
hành hoặc người đại diện hợp pháp của họ đã được triệu tập hợp lệ lần thứ hai
mà vẫn vắng mặt.
Hội đồng xét đơn ra quyết định đình chỉ việc giải quyết
đơn nếu người được thi hành hoặc người đại diện hợp pháp của họ đã được triệu
tập hợp lệ lần thứ hai mà vẫn vắng mặt hoặc khi có một trong các căn cứ quy
định tại khoản 3 Điều 457 của Bộ luật này.
4. Khi xem xét đơn yêu cầu công nhận và cho thi hành, Hội
đồng không được xét xử lại tranh chấp đã được Trọng tài nước ngoài ra phán
quyết. Tòa án chỉ được kiểm tra, đối chiếu phán quyết của Trọng tài nước ngoài,
giấy tờ, tài liệu kèm theo đơn yêu cầu với các quy định tại Chương XXXV và
Chương XXXVII của Bộ luật này, các quy định khác có liên quan của pháp luật
Việt Nam và điều ước quốc tế mà Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành
viên để làm cơ sở cho việc ra quyết định công nhận hoặc không công nhận phán
quyết đó.
5. Sau khi xem xét đơn yêu cầu, giấy tờ, tài liệu kèm
theo, nghe ý kiến của người được triệu tập, của Kiểm sát viên, Hội đồng thảo
luận và quyết định theo đa số.
Hội đồng có quyền ra quyết định công nhận và cho thi hành
tại Việt Nam phán quyết của Trọng tài nước ngoài hoặc quyết định không công
nhận phán quyết của Trọng tài nước ngoài.
Điều 459. Những trường hợp không công nhận
1. Tòa án không công nhận phán quyết của Trọng tài nước
ngoài khi xét thấy chứng cứ do bên phải thi hành cung cấp cho Tòa án để phản
đối yêu cầu công nhận là có căn cứ, hợp pháp và phán quyết trọng tài thuộc một
trong các trường hợp sau đây:
a) Các bên ký kết thỏa thuận trọng tài không có năng lực
để ký kết thỏa thuận đó theo pháp luật được áp dụng cho mỗi bên;
b) Thỏa thuận trọng tài không có giá trị pháp lý theo
pháp luật của nước mà các bên đã chọn để áp dụng hoặc theo pháp luật của nước
nơi phán quyết đã được tuyên, nếu các bên không chọn pháp luật áp dụng cho thỏa
thuận đó;
c) Cơ quan, tổ chức, cá nhân phải thi hành không được
thông báo kịp thời và hợp thức về việc chỉ định Trọng tài viên, về thủ tục giải
quyết vụ tranh chấp tại Trọng tài nước ngoài hoặc vì nguyên nhân chính đáng
khác mà không thể thực hiện được quyền tố tụng của mình;
d) Phán quyết của Trọng tài nước ngoài được tuyên về một
vụ tranh chấp không được các bên yêu cầu giải quyết hoặc vượt quá yêu cầu của
các bên ký kết thỏa thuận trọng tài. Trường hợp có thể tách được phần quyết
định về vấn đề đã được yêu cầu và phần quyết định về vấn đề không được yêu cầu
giải quyết tại Trọng tài nước ngoài thì phần quyết định về vấn đề được yêu cầu
giải quyết có thể được công nhận và cho thi hành tại Việt Nam;
đ) Thành phần của Trọng tài nước ngoài, thủ tục giải
quyết tranh chấp của Trọng tài nước ngoài không phù hợp với thỏa thuận trọng
tài hoặc với pháp luật của nước nơi phán quyết của Trọng tài nước ngoài đã được
tuyên, nếu thỏa thuận trọng tài không quy định về các vấn đề đó;
e) Phán quyết của Trọng tài nước ngoài chưa có hiệu lực
bắt buộc đối với các bên;
g) Phán quyết của Trọng tài nước ngoài bị cơ quan có thẩm
quyền của nước nơi phán quyết đã được tuyên hoặc của nước có pháp luật đã được
áp dụng hủy bỏ hoặc đình chỉ thi hành.
2. Phán quyết của Trọng tài nước ngoài cũng không được
công nhận, nếu Tòa án Việt Nam xét thấy:
a) Theo pháp luật Việt Nam, vụ tranh chấp không được giải
quyết theo thể thức trọng tài;
b) Việc công nhận và cho thi hành tại Việt Nam phán quyết
của Trọng tài nước ngoài trái với các nguyên tắc cơ bản của pháp luật của nước
Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam.
Điều 460. Gửi quyết định của Tòa án
1. Trong thời hạn 05 ngày làm việc, kể từ ngày ra quyết
định tạm đình chỉ, quyết định đình chỉ việc giải quyết đơn quy định tại khoản 2 và khoản 3 Điều 457 của Bộ luật này, Tòa án phải gửi
quyết định đó cho các đương sự hoặc người đại diện hợp pháp của họ, Bộ Tư pháp
và Viện kiểm sát cùng cấp.
2. Trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày ra quyết định công
nhận và cho thi hành hoặc không công nhận tại Việt Nam phán quyết của Trọng tài
nước ngoài quy định tại khoản 5 Điều 458 của Bộ luật này,
Tòa án phải gửi quyết định đó cho các đương sự hoặc người đại diện hợp pháp của
họ, Bộ Tư pháp và Viện kiểm sát cùng cấp. Nếu đương sự ở nước ngoài không có
người đại diện hợp pháp tại Việt Nam và Tòa án đã ra quyết định vắng mặt họ
theo quy định tại khoản 3 Điều 458 của Bộ luật này thì Tòa
án gửi quyết định cho họ theo đường dịch vụ bưu chính hoặc thông qua Bộ Tư pháp
theo quy định của điều ước quốc tế mà Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là
thành viên.
3. Việc gửi quyết định của Tòa án được thực hiện theo các
phương thức quy định tại Điều 474 của Bộ luật này.
Điều 461. Kháng cáo, kháng nghị
1. Trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày Tòa án ra quyết
định quy định tại khoản 2 và khoản 3 Điều 457 hoặc khoản 5
Điều 458 của Bộ luật này, đương sự, người đại diện hợp pháp của họ có quyền
kháng cáo quyết định đó; trường hợp đương sự không có mặt tại phiên họp xét đơn
yêu cầu thì thời hạn kháng cáo được tính từ ngày họ nhận được quyết định. Đơn
kháng cáo phải nêu rõ lý do và yêu cầu kháng cáo.
Trường hợp có sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách
quan làm cho đương sự, người đại diện hợp pháp của họ không thể kháng cáo trong
thời hạn nêu trên thì thời gian có sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách
quan đó không tính vào thời hạn kháng cáo.
2. Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân cấp tỉnh hoặc Viện
trưởng Viện kiểm sát nhân dân cấp cao có quyền kháng nghị quyết định của Tòa án
quy định tại khoản 2 và khoản 3 Điều 457 và khoản 5 Điều 458
của Bộ luật này.
Thời hạn kháng nghị của Viện kiểm sát nhân dân cấp tỉnh
là 07 ngày, của Viện kiểm sát nhân dân cấp cao là 10 ngày, kể từ ngày Viện kiểm
sát nhận được quyết định.
Điều 462. Xét kháng cáo, kháng nghị
1. Tòa án nhân dân cấp cao xét lại quyết định của Tòa án
nhân dân cấp tỉnh bị kháng cáo, kháng nghị trong thời hạn 01 tháng, kể từ ngày
nhận được hồ sơ; trường hợp cần phải yêu cầu giải thích theo quy định tại khoản 1 Điều 457 của Bộ luật này thì thời hạn này được kéo
dài, nhưng không quá 02 tháng.
2. Thành phần Hội đồng xét quyết định bị kháng cáo, kháng
nghị gồm ba Thẩm phán, trong đó có một Thẩm phán làm chủ tọa theo sự phân công
của Chánh án Tòa án nhân dân cấp cao. Phiên họp xét lại quyết định bị kháng
cáo, kháng nghị được tiến hành như phiên họp xét đơn yêu cầu quy định tại Điều 458 của Bộ luật này.
3. Hội đồng xét quyết định bị kháng cáo, kháng nghị có
các quyền sau đây:
a) Giữ nguyên quyết định của Tòa án cấp sơ thẩm;
b) Sửa một phần hoặc toàn bộ quyết định của Tòa án cấp sơ
thẩm;
c) Tạm đình chỉ giải quyết kháng cáo, kháng nghị;
d) Đình chỉ giải quyết kháng cáo, kháng nghị;
đ) Hủy quyết định của Tòa án cấp sơ thẩm và chuyển hồ sơ
cho Tòa án cấp sơ thẩm để giải quyết lại theo thủ tục sơ thẩm;
e) Hủy quyết định sơ thẩm và đình chỉ giải quyết đơn yêu
cầu khi có một trong các căn cứ quy định tại khoản 3 Điều 457
của Bộ luật này.
4. Hội đồng xét quyết định bị kháng cáo, kháng nghị đình
chỉ giải quyết kháng cáo, kháng nghị trong các trường hợp sau đây:
a) Đương sự kháng cáo rút toàn bộ kháng cáo hoặc Viện
kiểm sát rút toàn bộ kháng nghị;
b) Đương sự kháng cáo đã được triệu tập hợp lệ lần thứ
hai mà vẫn vắng mặt và không có đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt.
Trường hợp đương sự kháng cáo rút toàn bộ kháng cáo hoặc
Viện kiểm sát rút toàn bộ kháng nghị trước khi Tòa án cấp phúc thẩm ra quyết
định mở phiên họp xét kháng cáo, kháng nghị thì Thẩm phán được phân công làm
chủ tọa phiên họp ra quyết định đình chỉ giải quyết kháng cáo, kháng nghị.
Trường hợp đương sự kháng cáo rút toàn bộ kháng cáo, Viện kiểm sát rút toàn bộ
kháng nghị sau khi Tòa án cấp phúc thẩm ra quyết định mở phiên họp xét kháng
cáo, kháng nghị thì Hội đồng xét kháng cáo, kháng nghị ra quyết định đình chỉ
giải quyết xét kháng cáo, kháng nghị.
Trong các trường hợp này, quyết định của Tòa án cấp sơ
thẩm có hiệu lực pháp luật từ ngày Tòa án cấp phúc thẩm ra quyết định đình chỉ
xét kháng cáo, kháng nghị.
5. Hội đồng xét quyết định bị kháng cáo, kháng nghị hủy
quyết định của Tòa án cấp sơ thẩm và chuyển hồ sơ cho Tòa án cấp sơ thẩm để
giải quyết lại theo thủ tục sơ thẩm trong các trường hợp sau đây:
a) Việc chứng minh của đương sự phản đối việc công nhận
phán quyết của Trọng tài nước ngoài hoặc căn cứ để Tòa án cấp sơ thẩm ra quyết
định công nhận hoặc không công nhận phán quyết của Trọng tài nước ngoài không
đúng quy định tại Chương XXXV và Chương XXXVII của Bộ luật này, các quy định
khác có liên quan của pháp luật Việt Nam và điều ước quốc tế mà Cộng hòa xã hội
chủ nghĩa Việt Nam là thành viên;
b) Thành phần của Hội đồng xét đơn của Tòa án cấp sơ thẩm
không đúng quy định tại Chương XXXVII của Bộ luật này hoặc có vi phạm nghiêm
trọng khác về thủ tục tố tụng ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của đương
sự.
6. Quyết định của Tòa án nhân dân cấp cao có hiệu lực
pháp luật kể từ ngày ra quyết định và có thể bị kháng nghị theo thủ tục giám
đốc thẩm, tái thẩm theo quy định của Bộ luật này.
1. Ngay sau khi nhận được thông báo bằng văn bản của cơ
quan có thẩm quyền của nước ngoài về việc đang xem xét yêu cầu hủy bỏ hoặc đình
chỉ thi hành phán quyết của Trọng tài nước ngoài từ đương sự hoặc Bộ Tư pháp,
Tòa án đã ra quyết định công nhận và cho thi hành tại Việt Nam phán quyết đó
phải yêu cầu Thủ trưởng cơ quan thi hành án dân sự ra quyết định tạm đình chỉ
thi hành phán quyết.
Ngay sau khi nhận được yêu cầu của Tòa án, Thủ trưởng cơ
quan thi hành án dân sự ra quyết định tạm đình chỉ thi hành phán quyết và gửi
quyết định đó cho Tòa án đã ra quyết định công nhận và cho thi hành tại Việt
Nam phán quyết của Trọng tài nước ngoài, đồng thời gửi cho đương sự, người có
quyền lợi, nghĩa vụ liên quan.
Thủ trưởng cơ quan thi hành án dân sự có thể áp dụng biện
pháp bảo đảm cần thiết cho việc tiếp tục thi hành phán quyết của Trọng tài nước
ngoài theo quy định của pháp luật về thi hành án dân sự nếu có yêu cầu của cơ
quan, tổ chức, cá nhân được thi hành.
2. Ngay sau khi nhận được thông báo bằng văn bản của cơ
quan có thẩm quyền của nước ngoài hủy bỏ hoặc đình chỉ thi hành phán quyết của
Trọng tài nước ngoài, Tòa án Việt Nam đã ra quyết định công nhận và cho thi
hành tại Việt Nam phán quyết của Trọng tài nước ngoài ra quyết định hủy bỏ
quyết định đó và gửi quyết định này cho đương sự, người có quyền lợi, nghĩa vụ
liên quan, cơ quan thi hành án dân sự.
Ngay sau khi nhận được quyết định của Tòa án, Thủ trưởng
cơ quan thi hành án dân sự ra quyết định đình chỉ việc thi hành phán quyết của
Trọng tài nước ngoài.
THỦ TỤC GIẢI QUYẾT VỤ VIỆC DÂN SỰ CÓ YẾU TỐ
NƯỚC NGOÀI
Chương XXXVIII
QUY ĐỊNH CHUNG VỀ THỦ TỤC GIẢI QUYẾT VỤ VIỆC
DÂN SỰ CÓ YẾU TỐ NƯỚC NGOÀI
1. Phần này quy định về thẩm quyền, thủ tục giải quyết vụ
việc dân sự có yếu tố nước ngoài; trường hợp Phần này không có quy định thì áp
dụng các quy định khác có liên quan của Bộ luật này để giải quyết.
2. Vụ việc dân sự có yếu tố nước ngoài là vụ việc dân sự
thuộc một trong các trường hợp sau đây:
a) Có ít nhất một trong các bên tham gia là cá nhân, cơ
quan, tổ chức nước ngoài;
b) Các bên tham gia đều là công dân, cơ quan, tổ chức
Việt Nam nhưng việc xác lập, thay đổi, thực hiện hoặc chấm dứt quan hệ đó xảy
ra tại nước ngoài;
c) Các bên tham gia đều là công dân, cơ quan, tổ chức
Việt Nam nhưng đối tượng của quan hệ dân sự đó ở nước ngoài.
3. Các hoạt động tương trợ tư pháp trong tố tụng dân sự
được thực hiện theo quy định của pháp luật về tương trợ tư pháp.
1. Người nước ngoài, cơ quan, tổ chức nước ngoài, tổ chức
quốc tế, cơ quan đại diện của tổ chức quốc tế tại Việt Nam có quyền khởi kiện
đến Tòa án Việt Nam để yêu cầu bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình khi bị
xâm phạm hoặc có tranh chấp.
Chi nhánh, văn phòng đại diện tại Việt Nam của cơ quan,
tổ chức nước ngoài theo ủy quyền có quyền khởi kiện đến Tòa án Việt Nam để yêu
cầu bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của cơ quan, tổ chức nước ngoài ủy quyền
bị xâm phạm hoặc có tranh chấp.
2. Khi tham gia tố tụng dân sự, người nước ngoài, cơ
quan, tổ chức nước ngoài, chi nhánh, văn phòng đại diện tại Việt Nam của cơ
quan, tổ chức nước ngoài, tổ chức quốc tế, cơ quan đại diện của tổ chức quốc tế
tại Việt Nam, Nhà nước nước ngoài có quyền, nghĩa vụ tố tụng như công dân, cơ
quan, tổ chức Việt Nam.
3. Nhà nước Việt Nam có thể áp dụng nguyên tắc có đi có
lại để hạn chế quyền tố tụng dân sự tương ứng của người nước ngoài, cơ quan, tổ
chức nước ngoài, chi nhánh, văn phòng đại diện tại Việt Nam của cơ quan, tổ
chức nước ngoài mà Tòa án của nước đó đã hạn chế quyền tố tụng dân sự đối với
công dân, cơ quan, tổ chức Việt Nam, chi nhánh, văn phòng đại diện tại nước
ngoài của cơ quan, tổ chức Việt Nam.
Điều 466. Năng lực pháp luật tố tụng dân sự
và năng lực hành vi tố tụng dân sự của người nước ngoài
1. Năng lực pháp luật tố tụng dân sự và năng lực hành vi
tố tụng dân sự của người nước ngoài được xác định như sau:
a) Theo pháp luật của nước mà người nước ngoài có quốc
tịch; trường hợp người nước ngoài là người không quốc tịch thì theo pháp luật
của nước nơi người đó cư trú; nếu người không quốc tịch thường trú tại Việt Nam
thì theo pháp luật Việt Nam;
b) Theo pháp luật của nước nơi người nước ngoài có quốc
tịch và cư trú tại một trong các nước mà họ có quốc tịch nếu họ có nhiều quốc
tịch nước ngoài.
Trường hợp người nước ngoài có nhiều quốc tịch và cư trú
ở nước mà không cùng với quốc tịch của nước đó thì theo pháp luật của nước nơi
người nước ngoài có thời gian mang quốc tịch dài nhất;
c) Theo pháp luật Việt Nam nếu người nước ngoài có nhiều
quốc tịch và một trong quốc tịch đó là quốc tịch Việt Nam hoặc người nước ngoài
có thẻ thường trú hoặc thẻ tạm trú tại Việt Nam.
2. Người nước ngoài có thể được công nhận có năng lực
hành vi tố tụng dân sự tại Tòa án Việt Nam, nếu theo quy định của pháp luật
nước ngoài thì họ không có năng lực hành vi tố tụng dân sự, nhưng theo quy định
của pháp luật Việt Nam thì họ có năng lực hành vi tố tụng dân sự.
1. Năng lực pháp luật tố tụng dân sự của cơ quan, tổ chức
nước ngoài được xác định theo pháp luật của nước nơi cơ quan, tổ chức đó được
thành lập.
Năng lực pháp luật tố tụng dân sự của chi nhánh, văn
phòng đại diện tại Việt Nam của cơ quan, tổ chức nước ngoài được xác định theo
pháp luật Việt Nam.
2. Năng lực pháp luật tố tụng dân sự của tổ chức quốc tế,
cơ quan đại diện của tổ chức quốc tế được xác định trên cơ sở điều ước quốc tế
là căn cứ để thành lập tổ chức đó, quy chế hoạt động của tổ chức quốc tế hoặc
điều ước quốc tế mà Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên.
Trường hợp tổ chức quốc tế tuyên bố từ bỏ quyền ưu đãi,
quyền miễn trừ thì năng lực pháp luật tố tụng dân sự của tổ chức quốc tế đó
được xác định theo pháp luật Việt Nam.
Đương sự là người nước ngoài, cơ quan, tổ chức nước
ngoài, chi nhánh, văn phòng đại diện tại Việt Nam của cơ quan, tổ chức nước
ngoài, tổ chức quốc tế, cơ quan đại diện của tổ chức quốc tế tại Việt Nam, Nhà
nước nước ngoài tham gia tố tụng tại Tòa án Việt Nam có quyền tự mình hoặc nhờ
luật sư, người khác bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho mình theo quy định của
pháp luật Việt Nam.
1. Tòa án Việt Nam có thẩm quyền giải quyết các vụ việc
dân sự có yếu tố nước ngoài trong những trường hợp sau đây:
a) Bị đơn là cá nhân cư trú, làm ăn, sinh sống lâu dài
tại Việt Nam;
b) Bị đơn là cơ quan, tổ chức có trụ sở tại Việt Nam hoặc
bị đơn là cơ quan, tổ chức có chi nhánh, văn phòng đại diện tại Việt Nam đối
với các vụ việc liên quan đến hoạt động của chi nhánh, văn phòng đại diện của
cơ quan, tổ chức đó tại Việt Nam;
c) Bị đơn có tài sản trên lãnh thổ Việt Nam;
d) Vụ việc ly hôn mà nguyên đơn hoặc bị đơn là công dân
Việt Nam hoặc các đương sự là người nước ngoài cư trú, làm ăn, sinh sống lâu
dài tại Việt Nam;
đ) Vụ việc về quan hệ dân sự mà việc xác lập, thay đổi,
chấm dứt quan hệ đó xảy ra ở Việt Nam, đối tượng của quan hệ đó là tài sản trên
lãnh thổ Việt Nam hoặc công việc được thực hiện trên lãnh thổ Việt Nam;
e) Vụ việc về quan hệ dân sự mà việc xác lập, thay đổi,
chấm dứt quan hệ đó xảy ra ở ngoài lãnh thổ Việt Nam nhưng có liên quan đến
quyền và nghĩa vụ của cơ quan, tổ chức, cá nhân Việt Nam hoặc có trụ sở, nơi cư
trú tại Việt Nam.
2. Sau khi xác định thẩm quyền của Tòa án Việt Nam theo
quy định của Chương này, Tòa án áp dụng các quy định tại Chương III của Bộ luật
này để xác định thẩm quyền của Tòa án cụ thể giải quyết vụ việc dân sự có yếu
tố nước ngoài.
Điều 470. Thẩm quyền riêng biệt của Tòa án
Việt Nam
1. Những vụ án dân sự có yếu tố nước ngoài sau đây thuộc
thẩm quyền giải quyết riêng biệt của Tòa án Việt Nam:
a) Vụ án dân sự đó có liên quan đến quyền đối với tài sản
là bất động sản có trên lãnh thổ Việt Nam;
b) Vụ án ly hôn giữa công dân Việt Nam với công dân nước
ngoài hoặc người không quốc tịch, nếu cả hai vợ chồng cư trú, làm ăn, sinh sống
lâu dài ở Việt Nam;
c) Vụ án dân sự khác mà các bên được lựa chọn Tòa án Việt
Nam để giải quyết theo pháp luật Việt Nam hoặc điều ước quốc tế mà Cộng hòa xã
hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên và các bên đồng ý lựa chọn Tòa án Việt
Nam.
2. Những việc dân sự có yếu tố nước ngoài sau đây thuộc
thẩm quyền giải quyết riêng biệt của Tòa án Việt Nam:
a) Các yêu cầu không có tranh chấp phát sinh từ quan hệ
pháp luật dân sự quy định tại khoản 1 Điều này;
b) Yêu cầu xác định một sự kiện pháp lý xảy ra trên lãnh
thổ Việt Nam;
c) Tuyên bố công dân Việt Nam hoặc người nước ngoài cư
trú tại Việt Nam bị mất tích, đã chết nếu việc tuyên bố đó có liên quan đến
việc xác lập quyền, nghĩa vụ của họ trên lãnh thổ Việt Nam, trừ trường hợp điều
ước quốc tế mà Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên có quy định
khác;
d) Tuyên bố người nước ngoài cư trú tại Việt Nam bị hạn
chế năng lực hành vi dân sự, mất năng lực hành vi dân sự nếu việc tuyên bố đó
có liên quan đến việc xác lập quyền, nghĩa vụ của họ trên lãnh thổ Việt Nam;
đ) Công nhận tài sản có trên lãnh thổ Việt Nam là vô chủ,
công nhận quyền sở hữu của người đang quản lý đối với tài sản vô chủ trên lãnh
thổ Việt Nam.
Điều 471. Không thay đổi thẩm quyền giải
quyết của Tòa án
Vụ việc dân sự có yếu tố nước ngoài đã được một Tòa án
Việt Nam thụ lý giải quyết theo quy định về thẩm quyền của Bộ luật này thì phải
được Tòa án đó tiếp tục giải quyết mặc dù trong quá trình giải quyết có sự thay
đổi quốc tịch, nơi cư trú, địa chỉ của các đương sự hoặc có tình tiết mới làm
cho vụ việc dân sự đó thuộc thẩm quyền của Tòa án khác của Việt Nam hoặc của
Tòa án nước ngoài.
1. Tòa án Việt Nam phải trả lại đơn khởi kiện, đơn yêu
cầu hoặc đình chỉ giải quyết vụ việc dân sự có yếu tố nước ngoài nếu vụ việc
dân sự thuộc thẩm quyền chung của Tòa án Việt Nam nhưng thuộc một trong các
trường hợp sau đây:
a) Các đương sự được thỏa thuận lựa chọn phương thức giải
quyết tranh chấp theo quy định của pháp luật áp dụng đối với quan hệ dân sự có
yếu tố nước ngoài và đã lựa chọn Trọng tài hoặc Tòa án nước ngoài giải quyết vụ
việc đó.
Trường hợp các bên thay đổi thỏa thuận lựa chọn Trọng tài
hoặc Tòa án nước ngoài bằng thỏa thuận lựa chọn Tòa án Việt Nam hoặc thỏa thuận
lựa chọn Trọng tài hoặc Tòa án nước ngoài bị vô hiệu hoặc không thể thực hiện
được, hoặc Trọng tài hoặc Tòa án nước ngoài từ chối thụ lý đơn thì Tòa án Việt
Nam vẫn có thẩm quyền giải quyết;
b) Vụ việc không thuộc thẩm quyền riêng biệt của Tòa án
Việt Nam quy định tại Điều 470 của Bộ luật này và vụ việc
thuộc thẩm quyền riêng biệt của Tòa án nước ngoài có liên quan;
c) Vụ việc không thuộc thẩm quyền riêng biệt của Tòa án
Việt Nam quy định tại Điều 470 của Bộ luật này và đã được
Trọng tài hoặc Tòa án nước ngoài thụ lý giải quyết;
d) Vụ việc đã được giải quyết bằng bản án, quyết định của
Tòa án nước ngoài hoặc phán quyết của Trọng tài.
Trường hợp bản án, quyết định của Tòa án nước ngoài, phán
quyết của Trọng tài nước ngoài không được Tòa án Việt Nam công nhận thì Tòa án
Việt Nam vẫn có thẩm quyền giải quyết vụ việc đó;
đ) Bị đơn được hưởng quyền miễn trừ tư pháp.
2. Trường hợp trả lại đơn hoặc đình chỉ giải quyết vụ
việc dân sự có yếu tố nước ngoài quy định tại khoản 1 Điều này thì tiền tạm ứng
án phí, lệ phí được xử lý theo quy định của Bộ luật này.
Điều 473. Yêu cầu cung cấp thông tin về nhân
thân, xác định địa chỉ của đương sự ở nước ngoài
1. Người khởi kiện, người yêu cầu phải ghi đầy đủ họ,
tên, địa chỉ, quốc tịch của đương sự ở nước ngoài trong đơn khởi kiện, đơn yêu
cầu kèm theo giấy tờ, tài liệu xác thực họ, tên, địa chỉ, quốc tịch của đương
sự đó.
Trường hợp không ghi đầy đủ họ, tên, địa chỉ, quốc tịch
của đương sự ở nước ngoài hoặc thiếu những nội dung trên thì phải bổ sung trong
thời hạn do Tòa án ấn định, hết thời hạn đó mà không cung cấp được thì Tòa án
trả lại đơn khởi kiện, đơn yêu cầu.
2. Trường hợp không xác định được địa chỉ của đương sự ở
nước ngoài thì người khởi kiện, người yêu cầu có thể yêu cầu Tòa án Việt Nam đề
nghị cơ quan có thẩm quyền của nước ngoài xác định địa chỉ của đương sự hoặc có
thể yêu cầu cơ quan có thẩm quyền tìm kiếm người vắng mặt tại nơi cư trú hoặc
yêu cầu Tòa án Việt Nam hoặc cơ quan có thẩm quyền của nước ngoài tuyên bố
đương sự mất tích hoặc đã chết theo quy định của pháp luật Việt Nam hoặc pháp
luật nước ngoài hoặc điều ước quốc tế mà Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là
thành viên.
Trường hợp cơ quan có thẩm quyền của nước ngoài trả lời
cho Tòa án Việt Nam không xác định được địa chỉ của đương sự ở nước ngoài hoặc
sau 06 tháng mà không có trả lời thì Tòa án trả lại đơn khởi kiện, đơn yêu cầu.
Điều 474. Các phương thức tống đạt, thông báo
văn bản tố tụng của Tòa án cho đương sự ở nước ngoài
1. Tòa án thực hiện
việc tống đạt, thông báo văn bản tố tụng của Tòa án theo một trong các phương
thức sau đây:
a) Theo phương thức
được quy định tại điều ước quốc tế mà Cộng hòa xã
hội chủ nghĩa Việt
Nam là thành viên;
b) Theo đường ngoại
giao đối với đương sự cư trú ở nước mà nước đó và Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam chưa cùng là thành viên của điều ước quốc
tế;
c) Theo đường dịch vụ bưu chính đến địa chỉ của đương sự đang cư trú ở nước ngoài với điều kiện pháp
luật nước đó đồng ý với phương thức tống đạt này;
d) Theo đường dịch vụ bưu chính đến cơ quan đại diện nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam ở nước
ngoài để tống đạt cho đương sự là công dân Việt Nam ở nước ngoài;
đ) Đối với cơ quan,
tổ chức nước ngoài có văn phòng đại diện, chi nhánh tại Việt Nam thì việc tống
đạt có thể được thực hiện qua văn phòng đại diện, chi nhánh của họ tại Việt Nam
theo quy định của Bộ luật này;
e) Theo đường dịch vụ bưu chính cho người đại diện theo pháp luật hoặc đại diện theo ủy quyền tại Việt
Nam của đương sự ở nước ngoài.
2. Các phương thức
tống đạt quy định tại điểm a và điểm b khoản 1 Điều này được thực hiện theo
pháp luật tương trợ tư pháp.
3. Trường hợp các phương thức tống đạt quy định tại khoản 1 Điều này thực hiện không có kết quả thì Tòa án tiến hành niêm yết công khai tại trụ sở cơ quan đại diện nước Cộng hòa
xã hội chủ nghĩa Việt Nam ở nước ngoài, Tòa án đang giải quyết vụ việc hoặc tại nơi cư trú cuối cùng của đương sự tại Việt Nam trong thời hạn 01 tháng và thông báo trên Cổng thông tin điện tử của Tòa án (nếu có), Cổng thông tin điện tử của cơ
quan đại diện nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam ở nước ngoài; trường hợp
cần thiết, Tòa án có thể thông báo qua kênh dành cho người nước ngoài của Đài phát thanh hoặc Đài truyền hình của trung ương ba lần trong 03
ngày liên tiếp.
Điều 475. Thu thập chứng cứ ở nước ngoài
Tòa án thực hiện thu thập chứng cứ ở nước ngoài theo một
trong các phương thức sau đây:
1. Theo quy định tại điểm a và điểm b
khoản 1 Điều 474 của Bộ luật này;
2. Theo đường dịch vụ bưu chính yêu cầu đương sự là công
dân Việt Nam đang cư trú ở nước ngoài gửi giấy tờ, tài liệu, chứng cứ cho Tòa
án Việt Nam.
Điều 476. Thông báo về việc thụ lý, ngày mở
phiên họp, phiên tòa
1. Tòa án phải gửi
thông báo thụ lý vụ án, trong đó nêu rõ thời gian, địa
điểm mở phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa
giải (sau đây gọi chung là phiên họp hòa giải), mở lại phiên họp hòa giải, mở
phiên tòa và mở lại phiên tòa trong văn bản thông báo thụ lý vụ án cho đương sự
ở nước ngoài.
2. Thời hạn mở phiên
tòa, phiên họp hòa giải được xác định như sau:
a) Phiên họp hòa
giải phải được mở sớm nhất là 06 tháng và chậm nhất là 08 tháng, kể từ ngày ra
văn bản thông báo thụ lý vụ án. Ngày mở lại phiên họp hòa giải (nếu có) được ấn
định cách ngày mở phiên họp hòa giải chậm nhất là 01 tháng;
b) Phiên tòa phải
được mở sớm nhất là 09 tháng và chậm nhất là 12 tháng, kể từ ngày ra văn bản
thông báo thụ lý vụ án. Ngày mở lại phiên tòa (nếu có) được ấn định cách ngày
mở phiên tòa chậm nhất là 01 tháng, trừ trường hợp quy định tại khoản
4 Điều 477 của Bộ luật này.
3. Tòa án phải gửi
thông báo thụ lý việc dân sự, trong đó nêu rõ thời
gian, địa điểm mở phiên họp, mở lại phiên họp giải quyết việc dân sự trong văn
bản thông báo thụ lý việc dân sự cho đương sự ở nước ngoài.
Phiên họp phải được
mở sớm nhất là 06 tháng và chậm nhất là 08 tháng, kể từ ngày ra văn bản thông
báo thụ lý việc dân sự. Ngày mở lại phiên họp giải quyết việc dân sự (nếu có)
được ấn định cách ngày mở phiên họp lần đầu chậm nhất là 01 tháng.
Khi nhận được kết quả tống đạt và kết quả thu thập chứng
cứ ở nước ngoài, tùy từng trường hợp cụ thể mà Tòa án xử lý như sau:
1. Không mở phiên họp hòa giải khi đã nhận được kết quả
tống đạt theo một trong các phương thức quy định tại khoản 1
Điều 474 của Bộ luật này, đương sự đã cung cấp đầy đủ lời khai, tài liệu,
chứng cứ và vụ án dân sự thuộc trường hợp không tiến hành hòa giải được quy
định tại Điều 207 của Bộ luật này;
2. Hoãn phiên họp hòa giải nếu đã nhận được thông
báo về việc tống đạt đã hoàn thành nhưng đến ngày mở phiên họp hòa giải mà Tòa
án vẫn không nhận được lời khai, tài liệu, chứng cứ của đương sự và họ không đề
nghị được vắng mặt tại phiên họp hòa giải. Nếu đến ngày mở lại phiên họp hòa
giải mà đương sự ở nước ngoài vẫn vắng mặt thì Tòa án xác định đây là trường
hợp không tiến hành hòa giải được;
3. Tòa án hoãn phiên tòa trong các trường hợp sau đây:
a) Đương sự ở nước ngoài đề nghị hoãn phiên tòa lần thứ
nhất;
b) Đương sự ở nước ngoài vắng mặt tại phiên tòa lần thứ
nhất, trừ trường hợp họ có đơn đề nghị xét xử vắng mặt;
4. Tòa án không nhận được văn bản thông báo về kết quả
tống đạt cũng như lời khai, tài liệu, chứng cứ của đương sự ở nước ngoài và đến
ngày mở phiên tòa đương sự ở nước ngoài không có mặt, không có đơn đề nghị Tòa
án xét xử vắng mặt họ thì Tòa án hoãn phiên tòa. Ngay sau khi hoãn phiên tòa
thì Tòa án có văn bản đề nghị Bộ Tư pháp hoặc cơ quan đại diện nước Cộng hòa xã
hội chủ nghĩa Việt Nam ở nước ngoài thông báo về việc thực hiện tống đạt văn
bản tố tụng của Tòa án cho đương sự ở nước ngoài trong trường hợp Tòa án thực
hiện việc tống đạt thông qua các cơ quan này theo một trong các phương thức quy
định tại các điểm a, b và d khoản 1 Điều 474 của Bộ luật này.
Trong thời hạn 01 tháng, kể từ ngày nhận được văn bản của
Tòa án, cơ quan đại diện nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam ở nước ngoài
phải thông báo cho Tòa án về kết quả thực hiện việc tống đạt văn bản tố tụng
cho đương sự ở nước ngoài.
Trong thời hạn 10 ngày, kể từ ngày Bộ Tư pháp nhận được
văn bản của Tòa án, Bộ Tư pháp phải có văn bản đề nghị cơ quan có thẩm quyền ở
nước ngoài trả lời về kết quả thực hiện ủy thác tư pháp.
Trong thời hạn 05 ngày làm việc, kể từ ngày nhận được văn
bản của cơ quan có thẩm quyền ở nước ngoài gửi về thì Bộ Tư pháp phải trả lời
cho Tòa án.
Hết thời hạn 03 tháng, kể từ ngày chuyển văn bản của Tòa
án cho cơ quan có thẩm quyền ở nước ngoài mà không nhận được văn bản trả lời
thì Bộ Tư pháp phải thông báo cho Tòa án biết để làm căn cứ giải quyết vụ án;
5. Tòa án xét xử vắng mặt đương sự ở nước ngoài trong các
trường hợp sau đây:
a) Tòa án đã nhận được kết quả tống đạt theo một trong
các phương thức tống đạt quy định tại khoản 1 Điều 474 của Bộ
luật này, đương sự đã cung cấp đầy đủ lời khai, tài liệu, chứng cứ và đương
sự đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt họ;
b) Tòa án đã thực hiện các biện pháp quy định tại khoản 3 Điều 474 của Bộ luật này;
c) Tòa án không nhận được thông báo của cơ quan có thẩm
quyền theo quy định tại khoản 4 Điều này về kết quả thực hiện việc tống đạt cho
đương sự ở nước ngoài;
6. Nếu Tòa án nhận được văn bản thông báo về việc tống
đạt không thực hiện được do họ, tên, địa chỉ của đương sự không đúng hoặc đương
sự đã chuyển đến địa chỉ mới nhưng không rõ địa chỉ mới thì Tòa án giải quyết
như sau:
a) Tòa án yêu cầu nguyên đơn và người thân thích trong
nước của đương sự ở nước ngoài (nếu có) cung cấp địa chỉ đúng hoặc địa chỉ mới
của đương sự ở nước ngoài. Tòa án tiếp tục tống đạt thông báo thụ lý cho đương
sự ở nước ngoài theo địa chỉ do nguyên đơn, người thân thích trong nước của
đương sự ở nước ngoài cung cấp;
b) Nếu nguyên đơn, người thân thích trong nước của đương
sự không cung cấp được hoặc người thân thích trong nước của đương sự từ chối
cung cấp địa chỉ đúng hoặc địa chỉ mới của đương sự ở nước ngoài hoặc đương sự
ở nước ngoài không có người thân thích ở Việt Nam thì Tòa án ra quyết định đình
chỉ việc giải quyết vụ án. Đồng thời, Tòa án giải thích cho người khởi kiện
biết quyền yêu cầu Tòa án thông báo tìm kiếm đương sự vắng mặt tại nơi cư trú
hoặc yêu cầu Tòa án tuyên bố đương sự mất tích hoặc đã chết;
c) Trường hợp nguyên đơn là công dân Việt Nam yêu cầu ly
hôn với người nước ngoài đang cư trú ở nước ngoài mà không thể thực hiện việc
cung cấp đúng họ, tên, địa chỉ hoặc địa chỉ mới của người nước ngoài theo yêu
cầu của Tòa án mặc dù nguyên đơn, thân nhân của họ hoặc cơ quan có thẩm quyền
của Việt Nam hoặc của nước ngoài đã tiến hành xác minh tin tức, địa chỉ của
người nước ngoài đó nhưng không có kết quả thì nguyên đơn yêu cầu Tòa án thông
báo trên Cổng thông tin điện tử của Tòa án (nếu có), Cổng thông tin điện tử của cơ quan đại diện
nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam ở nước ngoài; trường hợp cần thiết,
theo yêu cầu của nguyên đơn, Tòa án có thể thông báo qua kênh dành cho người
nước ngoài của Đài phát thanh hoặc Đài truyền hình của
trung ương ba lần trong 03 ngày liên tiếp.
Trong trường hợp này, Tòa án không phải tống đạt lại văn
bản tố tụng cho đương sự ở nước ngoài. Hết thời hạn 01 tháng, kể từ ngày đăng
thông báo, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt đương sự.
1. Tòa án Việt Nam công nhận giấy tờ, tài liệu do cơ
quan, tổ chức có thẩm quyền nước ngoài lập, cấp, xác nhận trong các trường hợp
sau:
a) Giấy tờ, tài liệu và bản dịch tiếng Việt có công
chứng, chứng thực đã được hợp pháp hóa lãnh sự;
b) Giấy tờ, tài liệu đó được miễn hợp pháp hóa lãnh sự
theo quy định của pháp luật Việt Nam hoặc điều ước quốc tế mà Cộng hòa xã hội
chủ nghĩa Việt Nam là thành viên.
2. Tòa án Việt Nam công nhận giấy tờ, tài liệu do cá nhân
cư trú ở nước ngoài lập trong các trường hợp sau đây:
a) Giấy tờ, tài liệu lập bằng tiếng nước ngoài đã được
dịch ra tiếng Việt có công chứng, chứng thực hợp pháp theo quy định của pháp
luật Việt Nam;
b) Giấy tờ, tài liệu được lập ở nước ngoài được công
chứng, chứng thực theo quy định của pháp luật nước ngoài và đã được hợp pháp
hóa lãnh sự;
c) Giấy tờ, tài liệu do công dân Việt Nam ở nước ngoài
lập bằng tiếng Việt có chữ ký của người lập giấy tờ, tài liệu đó và đã được
công chứng, chứng thực theo quy định của pháp luật Việt Nam.
Điều 479. Thời hạn kháng cáo bản án, quyết
định của Tòa án xét xử vụ án dân sự có yếu tố nước ngoài
1. Đương sự có mặt tại Việt Nam có quyền kháng cáo bản
án, quyết định của Tòa án trong thời hạn quy định tại Điều 273
của Bộ luật này.
2. Đương sự cư trú ở nước ngoài không có mặt tại phiên
tòa thì thời hạn kháng cáo bản án, quyết định của Tòa án là 01 tháng, kể từ
ngày bản án, quyết định được tống đạt hợp lệ hoặc kể từ ngày bản án, quyết định
được niêm yết hợp lệ theo quy định của pháp luật.
3. Trường hợp Tòa án xét xử vắng mặt đương sự ở nước
ngoài theo quy định tại điểm c khoản 5 Điều 477 của Bộ luật
này thì thời hạn kháng cáo là 12 tháng, kể từ ngày tuyên án.
Tòa án cấp phúc thẩm thực hiện việc tống đạt, thông báo
văn bản tố tụng xử lý kết quả tống đạt, thông báo văn bản tố tụng cho đương sự
ở nước ngoài theo quy định tại các điều 474, 476 và 477 của Bộ
luật này.
Trường hợp Tòa án Việt Nam áp dụng pháp luật nước ngoài
để giải quyết vụ việc dân sự có yếu tố nước ngoài theo quy định của luật Việt
Nam, điều ước quốc tế mà Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên thì
trách nhiệm xác định và cung cấp pháp luật nước ngoài được thực hiện như sau:
1. Trường hợp đương sự được quyền lựa chọn pháp luật áp
dụng là pháp luật nước ngoài và đã lựa chọn áp dụng pháp luật nước ngoài đó thì
có nghĩa vụ cung cấp pháp luật nước ngoài đó cho Tòa án đang giải quyết vụ việc
dân sự. Các đương sự chịu trách nhiệm về tính chính xác và hợp pháp của pháp
luật nước ngoài đã cung cấp.
Trường hợp các đương sự không thống nhất được với nhau về
pháp luật nước ngoài hoặc trong trường hợp cần thiết, Tòa án yêu cầu Bộ Tư
pháp, Bộ ngoại giao, cơ quan đại diện nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam ở
nước ngoài hoặc thông qua Bộ Ngoại giao đề nghị cơ quan đại diện ngoại giao của
nước ngoài tại Việt Nam cung cấp pháp luật nước ngoài;
2. Trường hợp luật của Việt Nam, điều ước quốc tế mà Cộng
hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên quy định phải áp dụng pháp luật
nước ngoài thì đương sự có quyền cung cấp pháp luật nước ngoài cho Tòa án hoặc
Tòa án yêu cầu Bộ Tư pháp, Bộ Ngoại giao hoặc cơ quan đại diện nước Cộng hòa xã
hội chủ nghĩa Việt Nam ở nước ngoài cung cấp pháp luật nước ngoài;
3. Tòa án có thể yêu cầu cơ quan, tổ chức, cá nhân có
chuyên môn về pháp luật nước ngoài cung cấp thông tin về pháp luật nước ngoài;
4. Hết thời hạn 06 tháng, kể từ ngày Tòa án yêu cầu cung
cấp pháp luật nước ngoài theo quy định tại Điều này mà không có kết quả thì Tòa
án áp dụng pháp luật của Việt Nam để giải quyết vụ việc dân sự đó.
THI HÀNH BẢN ÁN, QUYẾT ĐỊNH DÂN SỰ CỦA TÒA ÁN
Chương XXXIX
THI HÀNH BẢN ÁN, QUYẾT ĐỊNH DÂN SỰ CỦA TÒA ÁN
Điều 482. Những bản án, quyết định của Tòa án
được thi hành
1. Bản án, quyết định dân sự của Tòa án được thi hành là
bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật, bao gồm:
a) Bản án, quyết định hoặc phần bản án, quyết định của
Tòa án cấp sơ thẩm không bị kháng cáo, kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm;
b) Bản án, quyết định của Tòa án cấp phúc thẩm;
c) Quyết định giám đốc thẩm hoặc tái thẩm của Tòa án;
quyết định của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao quy định tại Điều 360 của Bộ luật này;
d) Bản án, quyết định dân sự của Tòa án nước ngoài, phán
quyết của Trọng tài nước ngoài đã được Tòa án Việt Nam công nhận và cho thi
hành tại Việt Nam.
2. Những bản án, quyết định sau đây của Tòa án cấp sơ
thẩm được thi hành ngay mặc dù có thể bị kháng cáo, khiếu nại, kháng nghị, kiến
nghị:
a) Bản án, quyết định về cấp dưỡng, trả công lao động,
nhận người lao động trở lại làm việc, trả lương, trợ cấp thôi việc, trợ cấp mất
sức lao động, trợ cấp mất việc làm, bảo hiểm xã hội, bảo hiểm thất nghiệp, bảo
hiểm y tế hoặc bồi thường thiệt hại về tính mạng, sức khỏe, tổn thất tinh thần
của công dân; quyết định về tính hợp pháp của cuộc đình công;
b) Quyết định về việc áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm
thời.
Điều 483. Ghi nhận và giải thích về quyền yêu
cầu thi hành án dân sự
1. Trường hợp trong bản án, quyết định của Tòa án có
quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 482 của Bộ
luật này thì trong phần quyết định của bản án, quyết định của Tòa án phải
ghi rõ nội dung về quyền yêu cầu thi hành án, nghĩa vụ thi hành án, thời hiệu
yêu cầu thi hành án.
2. Khi ra bản án, quyết định, Tòa án phải giải thích rõ
cho đương sự biết về quyền yêu cầu thi hành án, nghĩa vụ thi hành án, thời hiệu
yêu cầu thi hành án theo quy định của Luật Thi hành án dân sự.
Điều 484. Cấp bản án, quyết định của Tòa án
Khi bản án, quyết định của Tòa án thuộc trường hợp được
thi hành theo quy định tại Điều 482 của Bộ luật này thì
Tòa án đã ra bản án, quyết định đó phải cấp cho người được thi hành án và người
phải thi hành án bản án hoặc quyết định đó có ghi “để thi hành”.
Điều 485. Thời hạn chuyển giao bản án, quyết
định
1. Tòa án đã ra bản án, quyết định quy định tại khoản 1 Điều 482 của Bộ luật này phải chuyển giao bản án,
quyết định đó cho cơ quan thi hành án dân sự có thẩm quyền trong thời hạn 01
tháng, kể từ ngày bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật, trừ trường hợp pháp
luật có quy định khác.
2. Tòa án đã ra bản án, quyết định quy định tại điểm a khoản 2 Điều 482 của Bộ luật này phải chuyển giao bản
án, quyết định đó cho cơ quan thi hành án dân sự có thẩm quyền trong thời hạn
15 ngày, kể từ ngày ra bản án, quyết định.
3. Tòa án đã ra quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm
thời, quyết định về tính hợp pháp của cuộc đình công phải chuyển giao quyết
định đó cho cơ quan thi hành án dân sự có thẩm quyền ngay sau khi ra quyết
định.
4. Trường hợp cơ quan có thẩm quyền đã kê biên tài sản,
tạm giữ tài sản, thu giữ vật chứng hoặc thu giữ các tài liệu khác có liên quan
đến việc thi hành án thì khi chuyển giao bản án, quyết định cho cơ quan thi
hành án dân sự, Tòa án phải gửi kèm theo bản sao biên bản về việc kê biên, tạm
giữ tài sản, thu giữ vật chứng hoặc tài liệu khác có liên quan.
Điều 486. Giải thích, sửa chữa bản án, quyết
định của Tòa án
1. Người được thi hành án, người phải thi hành án, người
có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến việc thi hành bản án, quyết định của Tòa
án và cơ quan thi hành án có quyền yêu cầu bằng văn bản Tòa án đã ra bản án,
quyết định, giải thích, sửa chữa những điểm chưa rõ trong bản án, quyết định để
thi hành.
2. Thẩm phán đã ra quyết định hoặc Thẩm phán là chủ tọa
phiên tòa có trách nhiệm giải thích, sửa chữa những điểm chưa rõ trong bản án,
quyết định của Tòa án. Trường hợp họ không còn là Thẩm phán của Tòa án thì
Chánh án Tòa án đó có trách nhiệm giải thích, sửa chữa bản án, quyết định của
Tòa án.
3. Việc giải thích bản án, quyết định của Tòa án phải căn
cứ vào biên bản phiên tòa, biên bản phiên họp, biên bản nghị án. Việc sửa chữa
bản án, quyết định được thực hiện theo quy định tại Điều 268
của Bộ luật này.
Điều 487. Giải quyết yêu cầu, kiến nghị đối
với bản án, quyết định của Tòa án
Trường hợp cơ quan thi hành án dân sự kiến nghị về việc
xem xét lại bản án, quyết định của Tòa án theo thủ tục giám đốc thẩm, tái thẩm
thì Tòa án có thẩm quyền phải trả lời trong thời hạn 03 tháng, kể từ ngày nhận
được kiến nghị; trường hợp vụ việc phức tạp thì thời hạn trả lời không quá 04
tháng, kể từ ngày nhận được văn bản kiến nghị.
1. Thẩm quyền xét miễn, giảm nghĩa vụ thi hành án đối với
khoản thu nộp ngân sách nhà nước của Tòa án được xác định như sau:
a) Tòa án nhân dân cấp huyện nơi cơ quan thi hành án dân
sự đang tổ chức việc thi hành án có trụ sở, có thẩm quyền xét đề nghị việc
miễn, giảm nghĩa vụ thi hành án đối với khoản thu nộp ngân sách nhà nước;
b) Tòa án nhân dân cấp tỉnh có thẩm quyền xem xét theo
thủ tục phúc thẩm đối với quyết định miễn, giảm nghĩa vụ thi hành án đối với
khoản thu nộp ngân sách nhà nước của Tòa án bị Viện kiểm sát kháng nghị;
c) Tòa án nhân dân cấp cao có thẩm quyền xem xét theo thủ
tục tái thẩm quyết định miễn, giảm nghĩa vụ thi hành án đã có hiệu lực pháp
luật của Tòa án trong phạm vi thẩm quyền theo lãnh thổ bị kháng nghị.
2. Trình tự, thủ tục xét miễn, giảm nghĩa vụ thi hành án
đối với khoản thu nộp ngân sách nhà nước được thực hiện theo quy định của Luật
Thi hành án dân sự.
XỬ LÝ HÀNH VI CẢN TRỞ HOẠT ĐỘNG TỐ TỤNG DÂN
SỰ; KHIẾU NẠI, TỐ CÁO TRONG TỐ TỤNG DÂN SỰ
Chương XL
XỬ LÝ HÀNH VI CẢN TRỞ HOẠT ĐỘNG TỐ TỤNG DÂN
SỰ
Điều 489. Xử lý hành vi cản trở hoạt động xác
minh, thu thập chứng cứ của người tiến hành tố tụng
Người nào có một trong các hành vi sau đây thì tùy theo
tính chất, mức độ vi phạm mà có thể bị xử lý kỷ luật, xử phạt hành chính hoặc
truy cứu trách nhiệm hình sự theo quy định của pháp luật:
1. Làm giả, hủy hoại chứng cứ quan trọng gây trở ngại cho
việc giải quyết vụ án của Tòa án;
2. Từ chối khai báo, khai báo gian dối hoặc cung cấp tài
liệu sai sự thật khi làm chứng;
3. Từ chối kết luận giám định hoặc từ chối cung cấp tài
liệu mà không có lý do chính đáng, kết luận giám định sai sự thật;
4. Cố ý dịch sai sự thật;
5. Không cử người tham gia Hội đồng định giá theo yêu cầu
của Tòa án mà không có lý do chính đáng; không tham gia thực hiện nhiệm vụ của
Hội đồng định giá mà không có lý do chính đáng;
6. Cản trở người tiến hành tố tụng tiến hành xem xét thẩm
định tại chỗ, định giá, giám định hoặc xác minh, thu thập chứng cứ khác do Bộ
luật này quy định;
7. Lừa dối, mua chuộc, đe dọa, cưỡng ép, sử dụng vũ lực
nhằm ngăn cản người làm chứng ra làm chứng hoặc buộc người khác ra làm chứng
gian dối;
8. Lừa dối, mua chuộc, đe dọa, cưỡng ép, sử dụng vũ lực
nhằm ngăn cản người giám định thực hiện nhiệm vụ hoặc buộc người giám định kết
luận sai với sự thật khách quan;
9. Lừa dối, mua chuộc, đe dọa, cưỡng ép, sử dụng vũ lực
nhằm ngăn cản người phiên dịch thực hiện nhiệm vụ hoặc buộc người phiên dịch
dịch không trung thực, không khách quan, không đúng nghĩa.
Điều 490. Xử lý hành vi cố ý không có mặt
theo giấy triệu tập của Tòa án
1. Người làm chứng, người phiên dịch, người giám định đã
được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng cố ý không đến Tòa án hoặc không có mặt tại
phiên tòa, phiên họp mà không có lý do chính đáng và nếu sự vắng mặt của họ gây
trở ngại cho việc thu thập, xác minh chứng cứ hoặc giải quyết vụ việc thì bị xử
phạt hành chính theo quy định của pháp luật.
2. Trong trường hợp quy định tại khoản 1 Điều này, Tòa án
có quyền ra quyết định dẫn giải người làm chứng đến phiên tòa, phiên họp, trừ
trường hợp người làm chứng là người chưa thành niên. Quyết định dẫn giải người
làm chứng phải ghi rõ thời gian, địa điểm ra quyết định; họ, tên, chức vụ người
ra quyết định; họ, tên, ngày, tháng, năm sinh, nơi cư trú của người làm chứng;
thời gian, địa điểm người làm chứng phải có mặt.
3. Cơ quan công an có nhiệm vụ thi hành quyết định của
Tòa án dẫn giải người làm chứng. Người thi hành quyết định dẫn giải người làm
chứng phải đọc, giải thích quyết định dẫn giải cho người bị dẫn giải biết và
lập biên bản về việc dẫn giải.
Điều 491. Xử lý hành vi vi phạm nội quy phiên
tòa
1. Người có hành vi vi phạm nội quy phiên tòa quy định
tại Điều 234 của Bộ luật này thì tùy theo tính chất, mức
độ vi phạm mà có thể bị chủ tọa phiên tòa xử phạt hành chính theo quy định của
pháp luật.
2. Chủ tọa phiên tòa có quyền ra quyết định buộc người vi
phạm quy định tại khoản 1 Điều này rời khỏi phòng xử án. Cơ quan công an có
nhiệm vụ bảo vệ phiên tòa hoặc người có nhiệm vụ bảo vệ trật tự phiên tòa thi
hành quyết định của chủ tọa phiên tòa về việc buộc rời khỏi phòng xử án hoặc
tạm giữ hành chính người gây rối trật tự tại phiên tòa.
3.[15] Trường hợp người vi
phạm nội quy phiên tòa có dấu hiệu tội phạm thì Tòa án yêu cầu, kiến nghị
khởi tố theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự.
4. Quy định tại Điều này cũng được áp dụng đối với người
có hành vi vi phạm tại phiên họp của Tòa án.
Người có hành vi xúc phạm, xâm hại đến sự tôn nghiêm, uy
tín của Tòa án, danh dự, nhân phẩm, sức khỏe của người tiến hành tố tụng hoặc
những người khác thực hiện nhiệm vụ theo yêu cầu của Tòa án thì tùy theo tính
chất, mức độ vi phạm mà bị xử phạt hành chính hoặc bị truy cứu trách nhiệm hình
sự theo quy định của pháp luật.
Điều 493. Xử lý hành vi cản trở việc cấp,
giao, nhận, tống đạt, thông báo văn bản tố tụng của Tòa án
Người có một trong các hành vi sau đây thì tùy theo tính
chất, mức độ vi phạm mà bị xử lý kỷ luật, xử phạt hành chính hoặc bị truy cứu
trách nhiệm hình sự theo quy định của pháp luật:
1. Không thực hiện việc cấp, giao, tống đạt, thông báo
văn bản tố tụng của Tòa án theo yêu cầu của Tòa án mà không có lý do chính
đáng;
2. Hủy hoại văn bản tố tụng của Tòa án mà mình được giao
để cấp, tống đạt, thông báo theo yêu cầu của Tòa án;
3. Giả mạo kết quả thực hiện việc tống đạt, thông báo văn
bản tố tụng của Tòa án mà mình được giao thực hiện;
4. Ngăn cản việc cấp, giao, nhận, tống đạt, thông báo văn
bản tố tụng của Tòa án.
Người có hành vi đe dọa, hành hung hoặc lợi dụng sự lệ
thuộc nhằm cản trở đại diện của cơ quan, tổ chức hoặc cá nhân đến phiên tòa,
phiên họp theo triệu tập của Tòa án thì tùy theo tính chất, mức độ vi phạm mà
bị xử phạt hành chính hoặc bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo quy định của
pháp luật.
1. Cơ quan, tổ chức, cá nhân không thi hành quyết định
của Tòa án về việc cung cấp tài liệu, chứng cứ mà cơ quan, tổ chức, cá nhân đó
đang quản lý, lưu giữ thì có thể bị Tòa án xử phạt hành chính theo quy định của
pháp luật.
2. Người có hành vi đưa tin sai sự thật nhằm cản trở Tòa
án giải quyết vụ án thì tùy theo tính chất, mức độ vi phạm mà bị xử phạt hành
chính hoặc bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo quy định của pháp luật.
Điều 496. Xử lý hành vi can thiệp vào việc
giải quyết vụ việc dân sự
Người nào bằng ảnh hưởng của mình có hành vi tác động
dưới bất kỳ hình thức nào đối với Thẩm phán, thành viên Hội đồng xét xử nhằm
làm cho việc giải quyết vụ việc không khách quan, không đúng pháp luật thì tùy
theo tính chất, mức độ vi phạm mà bị xử lý kỷ luật, xử phạt hành chính hoặc bị
truy cứu trách nhiệm hình sự theo quy định của pháp luật.
Điều 498. Hình thức xử phạt, thẩm quyền,
trình tự, thủ tục, xử phạt
Hình thức xử phạt, thẩm quyền, trình tự, thủ tục xử phạt
hành chính đối với các hành vi cản trở hoạt động tố tụng dân sự được thực hiện
theo quy định của Luật Xử lý vi phạm hành chính và pháp luật có liên quan.
KHIẾU NẠI, TỐ CÁO TRONG TỐ TỤNG DÂN SỰ
Điều 499. Quyết định, hành vi trong tố tụng
dân sự có thể bị khiếu nại
1. Cơ quan, tổ chức, cá nhân có quyền khiếu nại quyết
định, hành vi trong tố tụng dân sự của cơ quan, người tiến hành tố tụng dân sự
khi có căn cứ cho rằng quyết định, hành vi đó là trái pháp luật, xâm phạm quyền
và lợi ích hợp pháp của mình.
2. Đối với bản án, quyết định sơ thẩm, phúc thẩm, giám
đốc thẩm, tái thẩm của Tòa án nếu có kháng cáo, kháng nghị và các quyết định tố
tụng khác do người tiến hành tố tụng dân sự ban hành nếu có khiếu nại, kiến
nghị thì không giải quyết theo quy định của Chương này mà được giải quyết theo
quy định của các chương tương ứng của Bộ luật này.
Điều 500. Quyền, nghĩa vụ của người khiếu nại
1. Người khiếu nại có các quyền sau đây:
a) Tự mình hoặc thông qua người đại diện hợp pháp khiếu
nại;
b) Khiếu nại trong bất kỳ giai đoạn nào của quá trình
giải quyết vụ án;
c) Rút khiếu nại trong bất kỳ giai đoạn nào của quá trình
giải quyết khiếu nại;
d) Được nhận văn bản trả lời về việc thụ lý để giải quyết
khiếu nại; nhận quyết định giải quyết khiếu nại;
đ) Được khôi phục quyền và lợi ích hợp pháp đã bị xâm
phạm, được bồi thường thiệt hại theo quy định của pháp luật.
2. Người khiếu nại có các nghĩa vụ sau đây:
a) Khiếu nại đến đúng người có thẩm quyền giải quyết;
b) Trình bày trung thực sự việc, cung cấp thông tin, tài
liệu cho người giải quyết khiếu nại; chịu trách nhiệm trước pháp luật về nội
dung trình bày và việc cung cấp thông tin, tài liệu đó;
c) Không được lạm dụng quyền khiếu nại để cản trở hoạt
động tố tụng của Tòa án;
d) Chấp hành quyết định, hành vi của người tiến hành tố
tụng mà mình đang khiếu nại trong thời gian khiếu nại;
đ) Chấp hành nghiêm chỉnh quyết định giải quyết khiếu nại
đã có hiệu lực pháp luật.
Điều 501. Quyền, nghĩa vụ của người bị khiếu
nại
1. Người bị khiếu nại có các quyền sau đây:
a) Được biết các căn cứ khiếu nại của người khiếu nại;
đưa ra bằng chứng về tính hợp pháp của quyết định, hành vi trong tố tụng bị
khiếu nại;
b) Được nhận quyết định giải quyết khiếu nại về quyết
định, hành vi trong tố tụng của mình.
2. Người bị khiếu nại có các nghĩa vụ sau đây:
a) Giải trình về quyết định, hành vi trong tố tụng dân sự
bị khiếu nại; cung cấp thông tin, tài liệu liên quan khi cơ quan, tổ chức, cá
nhân có thẩm quyền yêu cầu;
b) Chấp hành nghiêm chỉnh quyết định giải quyết khiếu nại
đã có hiệu lực pháp luật;
c) Bồi thường thiệt hại, bồi hoàn hoặc khắc phục hậu quả
do quyết định, hành vi trong tố tụng dân sự trái pháp luật của mình gây ra theo
quy định của pháp luật.
Thời hiệu khiếu nại là 15 ngày, kể từ ngày người khiếu
nại nhận được hoặc biết được quyết định, hành vi tố tụng mà người đó cho rằng
có vi phạm pháp luật.
Trường hợp có sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách
quan mà người khiếu nại không thực hiện được quyền khiếu nại theo đúng thời hạn
quy định tại Điều này thì thời gian có sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại
khách quan đó không tính vào thời hiệu khiếu nại.
Việc khiếu nại phải được thực hiện bằng đơn. Trong đơn
khiếu nại phải ghi rõ ngày, tháng, năm; họ, tên, địa chỉ của người khiếu nại;
nội dung, lý do khiếu nại, yêu cầu của người khiếu nại, có chữ ký hoặc điểm chỉ
của người khiếu nại.
Điều 504. Thẩm quyền giải quyết khiếu nại đối
với quyết định, hành vi của người tiến hành tố tụng
1. Khiếu nại quyết định, hành vi của người tiến hành tố
tụng là Thẩm phán, Phó Chánh án, Thẩm tra viên, Thư ký Tòa án, Hội thẩm nhân
dân do Chánh án Tòa án đang giải quyết vụ việc dân sự có thẩm quyền giải quyết.
Đối với khiếu nại quyết định, hành vi tố tụng của Chánh
án Tòa án thì Chánh án Tòa án trên một cấp trực tiếp có thẩm quyền giải quyết.
2. Khiếu nại quyết định, hành vi của người tiến hành tố
tụng là Kiểm sát viên, Kiểm tra viên, Phó Viện trưởng Viện kiểm sát do Viện
trưởng Viện kiểm sát giải quyết.
Đối với khiếu nại quyết định, hành vi tố tụng của Viện
trưởng Viện kiểm sát thì Viện trưởng Viện kiểm sát cấp trên trực tiếp có thẩm
quyền giải quyết.
3. Khiếu nại quyết định giải quyết khiếu nại lần đầu của
Chánh án Tòa án, Viện trưởng Viện kiểm sát quy định tại khoản 1 và khoản 2 Điều
này do Chánh án Tòa án trên một cấp trực tiếp, Viện trưởng Viện kiểm sát cấp
trên trực tiếp giải quyết.
Điều 505. Thời hạn giải quyết khiếu nại
Thời hạn giải quyết khiếu nại lần đầu là 15 ngày, kể từ
ngày Tòa án, Viện kiểm sát nhận được khiếu nại. Trường hợp cần thiết, đối với
vụ việc có tính chất phức tạp thì thời hạn giải quyết khiếu nại có thể được kéo
dài nhưng không quá 15 ngày, kể từ ngày hết thời hạn giải quyết khiếu nại.
Điều 506. Nội dung quyết định giải quyết
khiếu nại lần đầu
1. Người giải quyết khiếu nại lần đầu phải ra quyết định
giải quyết khiếu nại bằng văn bản. Quyết định giải quyết khiếu nại phải có các
nội dung sau đây:
a) Ngày, tháng, năm ra quyết định;
b) Tên, địa chỉ của người khiếu nại, người bị khiếu nại;
c) Nội dung khiếu nại;
d) Kết quả xác minh nội dung khiếu nại;
đ) Căn cứ pháp luật để giải quyết khiếu nại;
e) Nội dung quyết định giải quyết khiếu nại.
2. Quyết định giải quyết khiếu nại lần đầu phải được gửi
cho người khiếu nại, cá nhân, cơ quan, tổ chức có liên quan; trường hợp là
quyết định của Chánh án Tòa án thì còn phải gửi cho Viện kiểm sát cùng cấp.
Điều 507. Thủ tục giải quyết khiếu nại lần
hai
1. Trong thời hạn 05 ngày làm việc, kể từ ngày người
khiếu nại nhận được quyết định giải quyết khiếu nại lần đầu, nếu không đồng ý
với quyết định đó thì có quyền khiếu nại đến người có thẩm quyền giải quyết
khiếu nại lần hai.
2. Đơn khiếu nại phải kèm theo bản sao quyết định giải
quyết khiếu nại lần đầu và các tài liệu kèm theo.
Đơn khiếu nại phải ghi rõ ngày, tháng năm làm đơn; họ,
tên, địa chỉ của người khiếu nại; nội dung, lý do khiếu nại; có chữ ký hoặc
điểm chỉ của người khiếu nại.
3. Quyết định giải quyết khiếu nại lần hai phải có các
nội dung sau đây:
a) Các nội dung quy định tại các điểm a,
b, c, d và đ khoản 1 Điều 506 của Bộ luật này;
b) Kết quả giải quyết khiếu nại của người giải quyết
khiếu nại lần đầu;
c) Kết luận về từng vấn đề cụ thể trong nội dung khiếu
nại của người khiếu nại và việc giải quyết của người giải quyết khiếu nại lần
hai.
4. Quyết định giải quyết khiếu nại lần hai phải được gửi
cho người khiếu nại, cá nhân, cơ quan, tổ chức có liên quan; trường hợp là
quyết định của Chánh án Tòa án thì còn phải gửi cho Viện kiểm sát cùng cấp.
5. Quyết định giải quyết khiếu nại lần hai có hiệu lực
thi hành.
Điều 508. Giải quyết khiếu nại về hoạt động
giám định trong tố tụng dân sự
Việc giải quyết khiếu nại về hoạt động giám định trong tố
tụng dân sự được thực hiện theo quy định của pháp luật về giám định tư pháp và
pháp luật có liên quan.
Điều 509. Người có quyền tố cáo
Cá nhân có quyền tố cáo với cơ quan, tổ chức, cá nhân có
thẩm quyền về hành vi vi phạm pháp luật của người có thẩm quyền tiến hành tố
tụng gây thiệt hại hoặc đe dọa gây thiệt hại đến lợi ích của Nhà nước, quyền và
lợi ích hợp pháp của cơ quan, tổ chức, cá nhân.
Điều 510. Quyền, nghĩa vụ của người tố cáo
1. Người tố cáo có các quyền sau đây:
a) Gửi đơn hoặc trực tiếp tố cáo với cơ quan, tổ chức, cá
nhân có thẩm quyền;
b) Yêu cầu giữ bí mật họ, tên, địa chỉ, bút tích của
mình;
c) Yêu cầu được thông báo kết quả giải quyết tố cáo;
d) Yêu cầu cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền bảo vệ
khi bị đe dọa, trù dập, trả thù.
2. Người tố cáo có các nghĩa vụ sau đây:
a) Trình bày trung thực về nội dung tố cáo;
b) Nêu rõ họ, tên, địa chỉ của mình;
c) Chịu trách nhiệm trước pháp luật về việc tố cáo sai sự
thật.
Điều 511. Quyền, nghĩa vụ của người bị tố cáo
1. Người bị tố cáo có các quyền sau đây:
a) Được thông báo về nội dung tố cáo;
b) Đưa ra bằng chứng để chứng minh nội dung tố cáo là
không đúng sự thật;
c) Được khôi phục quyền và lợi ích hợp pháp bị xâm phạm;
được phục hồi danh dự, được bồi thường thiệt hại do việc tố cáo không đúng gây
ra;
d) Yêu cầu cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền xử lý
người tố cáo sai sự thật.
2. Người bị tố cáo có các nghĩa vụ sau đây:
a) Giải trình về hành vi bị tố cáo; cung cấp thông tin,
tài liệu liên quan khi cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền yêu cầu;
b) Chấp hành nghiêm chỉnh quyết định xử lý của cơ quan,
tổ chức, cá nhân có thẩm quyền;
c) Bồi thường thiệt hại, bồi hoàn hoặc khắc phục hậu quả
do hành vi tố tụng dân sự trái pháp luật của mình gây ra theo quy định của pháp
luật.
Điều 512. Thẩm quyền và thời hạn giải quyết
tố cáo
1. Tố cáo hành vi vi phạm pháp luật của người có thẩm
quyền tiến hành tố tụng thuộc cơ quan có thẩm quyền nào thì người đứng đầu cơ
quan đó có trách nhiệm giải quyết.
Trường hợp người bị tố cáo là Chánh án, Phó Chánh án Tòa
án, Viện trưởng, Phó Viện trưởng Viện kiểm sát thì Chánh án Tòa án trên một cấp
trực tiếp, Viện trưởng Viện kiểm sát cấp trên trực tiếp có trách nhiệm giải
quyết.
Thời hạn giải quyết tố cáo là không quá 02 tháng, kể từ
ngày thụ lý; đối với vụ việc phức tạp thì thời hạn giải quyết tố cáo có thể dài
hơn, nhưng không quá 03 tháng.
2. Tố cáo về hành vi vi phạm pháp luật có dấu hiệu tội
phạm được giải quyết theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự.
Điều 513. Thủ tục giải quyết tố cáo
Thủ tục giải quyết tố cáo được thực hiện theo quy định
của pháp luật về tố cáo.
Điều 514. Trách nhiệm của người có thẩm quyền
giải quyết khiếu nại, tố cáo
1. Cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền trong phạm vi
nhiệm vụ, quyền hạn của mình có trách nhiệm tiếp nhận và giải quyết kịp thời,
đúng pháp luật; xử lý nghiêm minh người vi phạm; áp dụng biện pháp cần thiết
nhằm ngăn chặn thiệt hại có thể xảy ra; bảo đảm cho quyết định giải quyết được
thi hành nghiêm chỉnh và phải chịu trách nhiệm trước pháp luật về quyết định
của mình.
2. Người có thẩm quyền giải quyết khiếu nại, tố cáo mà
không giải quyết, thiếu trách nhiệm trong việc giải quyết, giải quyết trái pháp
luật thì tùy theo tính chất, mức độ vi phạm mà bị xử lý kỷ luật hoặc truy cứu
trách nhiệm hình sự; nếu gây thiệt hại thì phải bồi thường theo quy định của
pháp luật.
Viện kiểm sát kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong
việc giải quyết khiếu nại, tố cáo trong tố tụng dân sự theo quy định của pháp
luật. Viện kiểm sát có quyền yêu cầu, kiến nghị đối với Tòa án cùng cấp và cấp
dưới, cơ quan, tổ chức và cá nhân có trách nhiệm để bảo đảm việc giải quyết
khiếu nại, tố cáo có căn cứ, đúng pháp luật.
Điều 516. Sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ
luật Lao động số 10/2012/QH13
1. Điều 51 được sửa đổi, bổ sung như sau:
“Điều 51. Thẩm quyền tuyên bố hợp đồng lao động vô
hiệu
Tòa án nhân dân có quyền tuyên bố hợp đồng lao động vô
hiệu.”
2. Bãi bỏ các điều 223, 224, 225, 226, 227, 228, 229,
230, 231, 232 và 234 Mục 5 Chương XIV của Bộ luật Lao động số 10/2012/QH13.
1. Bộ luật này có hiệu lực thi hành từ ngày 01 tháng 7
năm 2016, trừ các quy định sau đây của Bộ luật này có liên quan đến quy định
của Bộ luật Dân sự số 91/2015/QH13 thì có hiệu lực thi hành từ ngày 01 tháng 01
năm 2017:
a) Quy định liên quan đến việc Tòa án không được từ chối
giải quyết vụ việc dân sự vì lý do chưa có điều luật để áp dụng quy định tại khoản 2 Điều 4, các Điều 43, 44 và 45 của Bộ luật này;
b) Quy định liên quan đến người có khó khăn trong nhận
thức, làm chủ hành vi;
c) Quy định liên quan đến áp dụng thời hiệu tại khoản 2 Điều 184 và điểm e khoản 1 Điều 217 của Bộ luật này;
d) Quy định liên quan đến pháp nhân là người đại diện,
người giám hộ.
2. Bộ luật Tố tụng dân sự số 24/2004/QH11 đã được sửa
đổi, bổ sung theo Luật số 65/2011/QH12 hết hiệu lực kể từ ngày Bộ luật này có
hiệu lực thi hành, trừ các quy định tại Điều 159 và điểm h khoản 1 Điều 192
tiếp tục có hiệu lực thi hành đến hết ngày 31 tháng 12 năm 2016.
|
VĂN PHÒNG QUỐC HỘI Số:
12/VBHN-VPQH |
XÁC THỰC VĂN BẢN HỢP NHẤT Hà Nội,
ngày 24 tháng 02 năm 2025 CHỦ NHIỆM |
_______________________________________
[1] Bộ luật Lao động số 45/2019/QH14 có căn cứ ban hành như sau:
“Căn cứ Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam;
Quốc hội ban hành Bộ
luật Lao động.”.
Luật Doanh nghiệp số
59/2020/QH14 có căn cứ ban hành như sau:
“Căn cứ Hiến pháp
nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam;
Quốc hội ban hành Luật
Doanh nghiệp.”.
Luật Phòng, chống bạo lực gia đình số 13/2022/QH15 có căn
cứ ban hành như sau:
“Căn cứ Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt
Nam;
Quốc hội ban hành Luật Phòng, chống bạo lực
gia đình.”.
Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng số 19/2023/QH15 có
căn cứ ban hành như sau:
“Căn cứ Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt
Nam;
Quốc hội ban hành Luật Bảo vệ quyền lợi người
tiêu dùng.”.
Luật Tổ chức Tòa án nhân dân số 34/2024/QH15 có căn cứ
ban hành như sau:
“Căn cứ Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt
Nam;
Quốc hội ban hành Luật Tổ chức Tòa án nhân
dân.”.
Luật Công chứng số 46/2024/QH15 có căn cứ ban hành như
sau:
“Căn cứ Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt
Nam;
Quốc hội ban hành Luật Công chứng.”.
[2] Tên Điều này được sửa đổi, bổ sung theo
quy định tại điểm a khoản 2 Điều 219 của Bộ luật Lao động số 45/2019/QH14, có
hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 01 năm 2021.
[3] Khoản này được sửa đổi, bổ sung theo quy
định tại điểm a khoản 2 Điều 219 của Bộ luật Lao động số 45/2019/QH14, có hiệu
lực kể từ ngày 01 tháng 01 năm 2021.
[4] Khoản này được bổ sung theo quy định tại
điểm a khoản 2 Điều 219 của Bộ luật Lao động số 45/2019/QH14, có hiệu lực kể từ
ngày 01 tháng 01 năm 2021.
[5] Khoản này được bổ sung theo quy định tại
điểm a khoản 2 Điều 219 của Bộ luật Lao động số 45/2019/QH14, có hiệu lực kể từ
ngày 01 tháng 01 năm 2021.
[6] Khoản này được bổ sung theo quy định tại
điểm a khoản 2 Điều 219 của Bộ luật Lao động số 45/2019/QH14, có hiệu lực kể từ
ngày 01 tháng 01 năm 2021.
[7] Khoản này được bãi bỏ theo quy định tại
điểm b khoản 2 Điều 219 của Bộ luật Lao động số 45/2019/QH14, có hiệu lực kể từ
ngày 01 tháng 01 năm 2021.
[8] Cụm từ “doanh nghiệp nhà nước” được thay
thế bằng cụm từ “doanh nghiệp do Nhà nước nắm giữ 100% vốn điều lệ” theo quy
định tại khoản 3 Điều 217 của Luật Doanh nghiệp số 59/2020/QH14, có hiệu lực kể
từ ngày 01 tháng 01 năm 2021.
[9] Điều này được sửa đổi, bổ sung theo quy
định tại Điều 55 của Luật Phòng, chống bạo lực gia đình số 13/2022/QH15, có
hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2023.
[10] Điểm này được sửa đổi, bổ sung theo quy
định tại khoản 1 Điều 78 của Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng số
19/2023/QH15, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2024.
[11] Khoản này được bãi bỏ theo quy định tại
điểm a khoản 2 Điều 150 của Luật Tổ chức Tòa án nhân dân số 34/2024/QH15, có
hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 01 năm 2025.
[12] Đoạn mở đầu này được sửa đổi, bổ sung
theo quy định tại điểm a khoản 2 Điều 78 của Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu
dùng số 19/2023/QH15, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2024.
[13] Khoản này được bổ sung theo quy định tại
điểm b khoản 2 Điều 78 của Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng số
19/2023/QH15, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2024.
[14] Khoản này được sửa đổi, bổ sung theo quy
định tại Điều 74 của Luật Công chứng số 46/2024/QH15, có hiệu lực kể từ ngày 01
tháng 7 năm 2025.
[15] Khoản này được sửa đổi, bổ sung theo quy
định tại điểm b khoản 2 Điều 150 của Luật Tổ chức Tòa án nhân dân số
34/2024/QH15, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 01 năm 2025.
[16] Điều này được bãi bỏ theo quy định tại
điểm c khoản 2 Điều 150 của Luật Tổ chức Tòa án nhân dân số 34/2024/QH15, có
hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 01 năm 2025.
[17] Điều 220 của Bộ luật Lao động số
45/2019/QH14, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 01 năm 2021 quy định như sau:
“Điều 220. Hiệu lực thi hành
1. Bộ luật này có hiệu lực thi hành từ ngày
01 tháng 01 năm 2021.
Bộ luật Lao động số 10/2012/QH13 hết hiệu lực
thi hành kể từ ngày Bộ luật này có hiệu lực.
2. Kể từ ngày Bộ luật này có hiệu lực thi
hành, hợp đồng lao động, thỏa ước lao động tập thể, các thỏa thuận hợp pháp đã
giao kết có nội dung không trái hoặc bảo đảm cho người lao động có quyền và
điều kiện thuận lợi hơn so với quy định của Bộ luật này được tiếp tục thực
hiện, trừ trường hợp các bên có thỏa thuận về việc sửa đổi, bổ sung để phù hợp
và để áp dụng quy định của Bộ luật này.
3. Chế độ lao động đối với cán bộ, công chức,
viên chức, người thuộc lực lượng Quân đội nhân dân, Công an nhân dân, tổ chức
xã hội, xã viên hợp tác xã, người làm việc không có quan hệ lao động do các văn bản pháp luật khác quy định nhưng tùy từng đối tượng mà được
áp dụng một số quy định trong Bộ luật này.”.
Điều 217 và Điều 218 của Luật Doanh nghiệp số
59/2020/QH14, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 01 năm 2021 quy định như sau:
“Điều 217. Điều khoản thi hành
1. Luật này có hiệu lực thi hành từ ngày 01
tháng 01 năm 2021.
2. Luật Doanh nghiệp số 68/2014/QH13 hết hiệu
lực kể từ ngày Luật này có hiệu lực thi hành.
3. Thay thế cụm từ “doanh nghiệp nhà nước”
bằng cụm từ “doanh nghiệp do Nhà nước nắm giữ 100% vốn điều lệ” quy định tại
điểm m khoản 1 Điều 35 và điểm k khoản 1 Điều 37 của Luật Ngân sách nhà nước số
83/2015/QH13; điểm a khoản 3 Điều 23 của Luật Thủy lợi số 08/2017/QH14 đã được
sửa đổi, bổ sung một số điều theo Luật số 35/2018/QH14; điểm b khoản 2 Điều 74
của Bộ luật Tố tụng dân sự số 92/2015/QH13 đã được sửa đổi, bổ sung một số điều
theo Luật số 45/2019/QH14; điểm a khoản 2 Điều 43 của Luật Quản lý, sử dụng vũ
khí, vật liệu nổ và công cụ hỗ trợ số 14/2017/QH14 đã được sửa đổi, bổ sung một
số điều theo Luật số 50/2019/QH14; Điều 19 của Luật Tố cáo số 25/2018/QH14; các
điều 3, 20, 30, 34, 39 và 61 của Luật Phòng, chống tham nhũng số 36/2018/QH14.
4. Chính phủ quy định việc đăng ký và hoạt
động của hộ kinh doanh.
5. Căn cứ vào quy định của Luật này, Chính
phủ quy định chi tiết việc tổ chức quản lý và hoạt động của doanh nghiệp
nhà nước trực tiếp phục vụ quốc phòng, an ninh hoặc kết hợp kinh tế
với
quốc
phòng, an ninh.
Điều 218. Quy định chuyển tiếp
1. Các công ty không có cổ phần hoặc phần vốn
góp do Nhà nước nắm giữ thực hiện góp vốn, mua cổ
phần trước ngày 01 tháng 7 năm 2015 không phải thực hiện theo quy định tại
khoản 2 Điều 195 của Luật này nhưng không được tăng tỷ lệ sở hữu chéo.
2. Đối tượng là người quản lý doanh nghiệp,
Kiểm soát viên và người đại diện theo ủy quyền mà không đáp ứng đủ tiêu chuẩn,
điều kiện quy định tại điểm b khoản 5 Điều 14, khoản 3 Điều 64, khoản 3 Điều
93, khoản 3 Điều 101, các điểm a, b và c khoản 3 Điều 103, điểm d khoản 1 Điều
155, điểm b khoản 5 Điều 162 và khoản 2 Điều 169 của Luật này được tiếp tục
thực hiện nhiệm vụ đến hết thời gian còn lại của nhiệm kỳ.”.
Điều 56 của Luật Phòng, chống bạo lực gia đình số
13/2022/QH15, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2023 quy định như sau:
“Điều 56. Hiệu lực thi hành
1. Luật này có hiệu lực thi hành từ ngày 01
tháng 7 năm 2023.
2. Luật Phòng, chống bạo lực gia đình số
02/2007/QH12 hết hiệu lực kể từ ngày Luật này có hiệu lực thi hành.”.
Điều 79 và Điều 80 của Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu
dùng số 19/2023/QH15, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2024 quy định như
sau:
“Điều 79. Hiệu lực thi hành
1. Luật này có hiệu lực thi hành từ ngày 01
tháng 7 năm 2024.
2. Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng số
59/2010/QH12 đã được sửa đổi, bổ sung một số điều theo Luật số 35/2018/QH14 hết
hiệu lực kể từ ngày Luật này có hiệu lực thi hành, trừ trường hợp quy định tại
điểm a khoản 1 và khoản 2 Điều 80 của Luật này.
Điều 80. Điều khoản chuyển tiếp
1. Đối với giao dịch giữa tổ chức, cá nhân kinh doanh và người tiêu dùng
được xác lập trước ngày Luật này có hiệu lực thi hành thì việc áp dụng pháp
luật được thực hiện như sau:
a) Giao dịch giữa tổ chức, cá nhân kinh doanh và người tiêu dùng chưa
được thực hiện mà có nội dung, hình thức khác với quy định của Luật này thì các
bên tiếp tục thực hiện theo quy định của Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng
số 59/2010/QH12 đã được sửa đổi, bổ sung một số điều theo Luật số 35/2018/QH14.
Trường hợp các bên có thỏa thuận mới về việc sửa đổi, bổ sung nội dung, hình
thức của giao dịch thì phải bảo đảm phù hợp với Luật này và áp dụng quy định
của Luật này kể từ ngày Luật này có hiệu lực thi hành.
Giao dịch giữa tổ chức, cá nhân kinh doanh và người tiêu dùng đang được
thực hiện mà có nội dung, hình thức khác với quy định của Luật này thì áp dụng
quy định của Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng số 59/2010/QH12 đã được sửa
đổi, bổ sung một số điều theo Luật số 35/2018/QH14;
b) Giao dịch giữa tổ chức, cá nhân kinh doanh và người tiêu dùng chưa
được thực hiện hoặc đang được thực hiện mà có nội dung và hình thức phù hợp với
quy định của Luật này thì áp dụng quy định của Luật này.
2. Đối với hợp đồng theo mẫu, điều kiện giao dịch chung đã được công
khai, áp dụng đối với người tiêu dùng trước ngày Luật này có hiệu lực thi hành
thì việc áp dụng pháp luật được quy định như sau:
a) Hợp đồng theo mẫu, điều kiện giao dịch chung không thuộc trường hợp
phải đăng ký theo quy định của pháp luật, tổ chức, cá nhân kinh doanh phải hoàn
thành việc sửa đổi, bổ sung nội dung, hình thức của hợp đồng theo mẫu, điều
kiện giao dịch chung và công khai để phù hợp với quy định của Luật này trước
ngày 31 tháng 12 năm 2024;
b) Hợp đồng theo mẫu, điều kiện giao dịch chung thuộc trường hợp phải
đăng ký theo quy định của pháp luật tại thời điểm Luật này có hiệu lực thi
hành, tổ chức, cá nhân kinh doanh phải hoàn thành việc đăng ký hợp đồng theo
mẫu, điều kiện giao dịch chung phù hợp với quy định của Luật này trước ngày 31
tháng 12 năm 2024.”.
Điều 151 của Luật Tổ chức Tòa án nhân dân số
34/2024/QH15, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 01 năm 2025 quy định như sau:
“Điều 151. Hiệu lực thi hành
1. Luật này có hiệu lực thi hành từ ngày 01 tháng 01 năm 2025.
2. Luật Tổ chức Tòa án nhân dân số 62/2014/QH13 hết hiệu lực từ ngày
Luật này có hiệu lực thi hành, trừ trường hợp quy định tại khoản 1 và khoản 2
Điều 152 của Luật này.”.
Điều 75 của Luật Công chứng số 46/2024/QH15, có hiệu lực kể từ ngày 01
tháng 7 năm 2025 quy định như sau:
“Điều 75. Hiệu lực thi hành
1. Luật này có hiệu
lực thi hành từ ngày 01 tháng 7 năm 2025.
2. Luật Công chứng số 53/2014/QH13 đã được sửa đổi, bổ sung một số điều
theo Luật số 28/2018/QH14 và Luật số 16/2023/QH15 (sau đây gọi là Luật Công
chứng số 53/2014/QH13) hết hiệu lực kể từ ngày Luật này có hiệu lực thi hành,
trừ trường hợp quy định tại các khoản 1, 2, 3, 6, 7, 9, 11, 12 và 14 Điều 76
của Luật này.”.
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét