|
|
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM |
Luật Tố tụng hành chính số 93/2015/QH13 ngày
25 tháng 11 năm 2015 của Quốc hội, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2016,
được sửa đổi, bổ sung bởi:
1. Luật số 55/2019/QH14 ngày 26 tháng 11 năm
2019 của Quốc hội sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Kiểm toán nhà nước, có
hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2020;
2. Luật Tổ chức Tòa án nhân dân số
34/2024/QH15 ngày 24 tháng 6 năm 2024 của Quốc hội, có hiệu lực kể từ ngày 01
tháng 01 năm 2025;
3. Luật số 85/2025/QH15 ngày 25 tháng 6 năm
2025 của Quốc hội sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Tố tụng dân sự, Luật
Tố tụng hành chính, Luật Tư pháp người chưa thành niên, Luật Phá sản và Luật
Hòa giải, đối thoại tại Tòa án, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2025;
4. Luật Tương trợ tư pháp về dân sự số
102/2025/QH15 ngày 26 tháng 11 năm 2025 của Quốc hội, có hiệu lực kể từ ngày 01
tháng 7 năm 2026.
Căn cứ Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ
nghĩa Việt Nam;
Quốc hội ban hành Luật Tố tụng hành chính[1].
Điều 1. Phạm vi điều chỉnh và nhiệm vụ của
Luật Tố tụng hành chính
Luật Tố tụng hành chính quy định những nguyên
tắc cơ bản trong tố tụng hành chính; nhiệm vụ, quyền hạn và trách nhiệm của cơ
quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng; quyền và nghĩa vụ
của người tham gia tố tụng, cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan;
trình tự, thủ tục khởi kiện, giải quyết vụ án hành chính, thi hành án hành
chính và giải quyết khiếu nại, tố cáo trong tố tụng hành chính.
Luật Tố tụng hành chính góp phần bảo vệ công
lý, bảo vệ quyền con người, quyền công dân, bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa, bảo
vệ lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của cơ quan, tổ chức, cá
nhân; giáo dục mọi người nghiêm chỉnh chấp hành pháp luật; bảo đảm tính ổn
định, thông suốt và hiệu lực của nền hành chính quốc gia.
Điều 2. Đối tượng áp dụng và hiệu lực của
Luật Tố tụng hành chính
1. Luật Tố tụng hành chính được áp dụng đối
với mọi hoạt động tố tụng hành chính trên lãnh thổ bao gồm đất liền, hải đảo,
vùng biển, vùng trời của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam.
2. Luật Tố tụng hành chính được áp dụng đối
với hoạt động tố tụng hành chính do cơ quan đại diện của nước Cộng hòa xã hội
chủ nghĩa Việt Nam tiến hành ở nước ngoài.
3. Luật Tố tụng hành chính được áp dụng đối
với việc giải quyết vụ án hành chính có yếu tố nước ngoài; trường hợp điều ước
quốc tế mà Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên có quy định khác
thì áp dụng quy định của điều ước quốc tế đó.
4. Cơ quan, tổ chức, cá nhân nước ngoài, tổ
chức quốc tế thuộc đối tượng được hưởng các quyền ưu đãi, miễn trừ ngoại giao
hoặc các quyền ưu đãi, miễn trừ lãnh sự theo pháp luật Việt Nam hoặc điều ước
quốc tế mà Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên thì nội dung vụ án
hành chính có liên quan đến cơ quan, tổ chức, cá nhân đó được giải quyết bằng
con đường ngoại giao.
Trong Luật này, các từ ngữ dưới đây được hiểu
như sau:
1. Quyết định hành chính là văn bản do
cơ quan hành chính nhà nước, cơ quan, tổ chức được giao thực hiện quản lý hành
chính nhà nước ban hành hoặc người có thẩm quyền trong cơ quan, tổ chức đó ban
hành quyết định về vấn đề cụ thể trong hoạt động quản lý hành chính được áp
dụng một lần đối với một hoặc một số đối tượng cụ thể.
2. Quyết định hành chính bị kiện là
quyết định quy định tại khoản 1 Điều này mà quyết định đó làm phát sinh,
thay đổi, hạn chế, chấm dứt quyền, lợi ích hợp pháp của cơ quan, tổ chức, cá
nhân hoặc có nội dung làm phát sinh nghĩa vụ, ảnh hưởng đến quyền, lợi ích hợp
pháp của cơ quan, tổ chức, cá nhân.
3. Hành vi hành chính là hành vi của
cơ quan hành chính nhà nước hoặc của người có thẩm quyền trong cơ quan hành
chính nhà nước hoặc cơ quan, tổ chức được giao thực hiện quản lý hành chính nhà
nước thực hiện hoặc không thực hiện nhiệm vụ, công vụ theo quy định của pháp
luật.
4. Hành vi hành chính bị kiện là hành
vi quy định tại khoản 3 Điều này mà hành vi đó làm ảnh hưởng đến việc thực hiện
quyền, lợi ích hợp pháp của cơ quan, tổ chức, cá nhân.
5. Quyết định kỷ luật buộc thôi việc
là quyết định bằng văn bản của người đứng đầu cơ quan, tổ chức để áp dụng hình
thức kỷ luật buộc thôi việc đối với công chức thuộc quyền quản lý của mình.
6. Quyết định hành chính, hành vi hành
chính mang tính nội bộ của cơ quan, tổ chức là những quyết định, hành vi
chỉ đạo, điều hành việc triển khai thực hiện nhiệm vụ, kế hoạch công tác; quản
lý, tổ chức cán bộ, kinh phí, tài sản được giao; kiểm tra, thanh tra việc thực
hiện nhiệm vụ, công vụ, chính sách, pháp luật đối với cán bộ, công chức, viên
chức, người lao động và các đơn vị thuộc thẩm quyền quản lý của cơ quan, tổ
chức.
7. Đương sự bao gồm người khởi kiện,
người bị kiện, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan.
8. Người khởi kiện là cơ quan, tổ
chức, cá nhân khởi kiện vụ án hành chính đối với quyết định hành chính, hành vi
hành chính, quyết định kỷ luật buộc thôi việc, quyết định giải quyết khiếu nại
về quyết định xử lý vụ việc cạnh tranh, quyết định giải quyết khiếu nại trong hoạt
động kiểm toán nhà nước[2]; danh sách cử tri bầu cử đại biểu
Quốc hội, danh sách cử tri bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân, danh sách cử tri trưng cầu ý
dân (sau đây gọi chung là danh sách cử
tri).
9. Người bị kiện là cơ quan, tổ chức,
cá nhân có quyết định hành chính, hành vi hành chính, quyết định kỷ luật buộc
thôi việc, quyết định giải quyết khiếu nại về quyết định xử lý vụ việc cạnh
tranh, quyết định giải quyết khiếu nại trong hoạt động kiểm toán nhà nước[3],
danh sách cử tri bị khởi kiện.
10. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan
là cơ quan, tổ chức, cá nhân tuy không khởi kiện, không bị kiện, nhưng việc
giải quyết vụ án hành chính có liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của họ nên họ
tự mình hoặc đương sự khác đề nghị và được Tòa án nhân dân (sau đây gọi là Tòa
án) chấp nhận hoặc được Tòa án đưa vào tham gia tố tụng với tư cách là người có
quyền lợi, nghĩa vụ liên quan.
11. Cơ quan, tổ chức bao gồm cơ
quan nhà nước, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức chính trị
- xã hội - nghề nghiệp, tổ chức xã hội, tổ chức xã hội - nghề nghiệp, tổ chức
kinh tế, đơn vị sự nghiệp công lập, đơn vị lực lượng vũ trang nhân dân và các
tổ chức khác được thành lập và hoạt động theo quy định của pháp luật.
12. Vụ án phức tạp là vụ án có liên
quan đến quyền và lợi ích của nhiều người; có tài liệu, chứng cứ mâu thuẫn với
nhau cần có thời gian kiểm tra, xác minh, đánh giá hoặc tham khảo ý kiến của
các cơ quan chuyên môn; có đương sự là người nước ngoài đang ở nước ngoài hoặc
người Việt Nam đang cư trú, học tập, làm việc ở nước ngoài.
13. Trở ngại khách quan là những trở
ngại do hoàn cảnh khách quan tác động làm cho người có quyền, nghĩa vụ không
thể biết về việc quyền, lợi ích hợp pháp của mình bị xâm phạm hoặc không thể
thực hiện được quyền hoặc nghĩa vụ của mình.
14. Sự kiện bất khả kháng là sự kiện
xảy ra một cách khách quan không thể lường trước được và không thể khắc phục
được mặc dù đã áp dụng mọi biện pháp cần thiết và khả năng cho phép.
Điều 4. Tuân thủ pháp luật trong tố tụng hành
chính
Mọi hoạt động tố tụng hành chính của cơ quan
tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng, người tham gia tố tụng và cơ quan,
tổ chức, cá nhân có liên quan phải tuân theo quy định của Luật này.
Điều 5. Quyền yêu cầu Tòa án bảo vệ quyền và
lợi ích hợp pháp
Cơ quan, tổ chức, cá nhân có quyền khởi kiện vụ án hành chính để yêu cầu
Tòa án bảo vệ quyền
và lợi ích hợp pháp của mình theo quy định của
Luật này.
1. Trong quá trình giải quyết vụ án hành
chính, Tòa án có quyền xem xét về tính hợp pháp của văn bản hành chính,
hành vi hành chính có liên quan đến quyết định hành chính, hành vi hành
chính bị kiện và kiến nghị cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền xem xét lại
văn bản hành chính, hành vi hành chính đó và trả lời kết quả cho Tòa án theo
quy định của Luật này và quy định khác của pháp luật có liên quan.
2. Tòa án có quyền kiến nghị cơ quan, cá nhân
có thẩm quyền xem xét, sửa đổi, bổ sung hoặc bãi bỏ văn bản quy phạm pháp luật
nếu phát hiện văn bản đó có dấu hiệu trái với Hiến pháp, luật, văn bản quy phạm
pháp luật của cơ quan nhà nước cấp trên theo quy định của Luật này và quy định
khác của pháp luật có liên quan để bảo đảm quyền, lợi ích hợp pháp của cơ quan,
tổ chức, cá nhân. Cơ quan, cá nhân có thẩm quyền có trách nhiệm trả lời Tòa án
kết quả xử lý văn bản quy phạm pháp luật bị kiến nghị theo quy định của pháp
luật làm cơ sở để Tòa án giải quyết vụ án.
Điều 7. Giải quyết vấn đề bồi thường thiệt
hại trong vụ án hành chính
1. Người khởi kiện, người có quyền lợi, nghĩa
vụ liên quan trong vụ án hành chính có thể đồng thời yêu cầu bồi thường thiệt
hại do quyết định hành chính, hành vi hành chính, quyết định kỷ luật buộc thôi
việc, quyết định giải quyết khiếu nại về quyết định xử lý vụ việc cạnh tranh,
quyết định giải quyết khiếu nại trong hoạt động kiểm toán nhà nước[4],
danh sách cử tri gây ra.
Người khởi kiện, người có quyền lợi, nghĩa vụ
liên quan có yêu cầu bồi thường thiệt hại có nghĩa vụ cung cấp tài liệu, chứng
cứ. Trường hợp cần thiết, Tòa án có thể tiến hành xác minh, thu thập tài liệu,
chứng cứ để bảo đảm cho việc giải quyết vụ án được chính xác.
Khi giải quyết yêu cầu bồi thường thiệt hại
trong vụ án hành chính, các quy định của pháp luật về trách nhiệm bồi thường
của Nhà nước và pháp luật về tố tụng dân sự được áp dụng để giải quyết.
2. Trường hợp trong vụ án hành chính có yêu
cầu bồi thường thiệt hại mà chưa có điều kiện để chứng minh thì Tòa án có thể
tách yêu cầu bồi thường thiệt hại để giải quyết sau bằng một vụ án dân sự khác
theo quy định của pháp luật về tố tụng dân sự.
Trường hợp Tòa án giải quyết cả phần yêu cầu
bồi thường thiệt hại cùng với việc giải quyết vụ án hành chính mà phần quyết
định của bản án về bồi thường thiệt hại bị kháng cáo hoặc kháng nghị hoặc bị
Tòa án cấp phúc thẩm, giám đốc thẩm hoặc tái thẩm hủy để xét xử sơ thẩm hoặc
phúc thẩm lại thì phần quyết định về bồi thường thiệt hại trong các trường hợp
này là một phần của vụ án hành chính. Thủ tục giải quyết đối với phần quyết
định về bồi thường thiệt hại bị kháng cáo, kháng nghị hoặc bị hủy để xét xử sơ
thẩm hoặc phúc thẩm lại được thực hiện theo quy định của Luật này.
Điều 8. Quyền quyết định và tự định đoạt của
người khởi kiện
Cơ quan, tổ chức, cá nhân có quyền quyết định việc khởi kiện vụ án hành
chính. Tòa án chỉ thụ lý giải quyết vụ án hành chính khi có đơn khởi kiện của
người khởi kiện. Trong quá trình giải quyết vụ án hành chính, người khởi kiện
có quyền thay đổi, bổ sung, rút yêu cầu khởi kiện, thực hiện các quyền tố tụng
khác của mình theo quy định của Luật này.
Điều 9. Cung cấp tài liệu, chứng cứ, chứng
minh trong tố tụng hành chính
1. Các đương sự có quyền và nghĩa
vụ chủ động thu thập, giao nộp tài liệu, chứng cứ cho Tòa án và chứng minh yêu
cầu của mình là có căn cứ và hợp pháp.
Cá nhân khởi kiện,
yêu cầu để bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của người khác có quyền và nghĩa vụ
thu thập, cung cấp tài liệu, chứng cứ, chứng minh như đương sự.
2. Tòa án có trách nhiệm hỗ trợ đương sự trong việc thu
thập tài liệu, chứng cứ và tiến hành thu
thập, xác minh chứng cứ; yêu cầu cơ quan, tổ chức, cá nhân cung cấp tài liệu, chứng cứ cho Tòa án hoặc đương sự theo quy định của
Luật này.
Điều 10. Nghĩa vụ cung cấp tài liệu, chứng cứ
của cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền
Cơ quan, tổ chức, cá nhân trong phạm vi nhiệm
vụ, quyền hạn của mình có nghĩa vụ cung cấp đầy đủ và đúng thời hạn tài liệu,
chứng cứ mà mình đang lưu giữ, quản lý cho đương sự, Tòa án, Viện kiểm sát nhân dân (sau
đây gọi là Viện kiểm sát) theo quy định của Luật này khi có yêu cầu và phải chịu trách nhiệm trước pháp luật về việc cung cấp tài liệu,
chứng cứ đó; trường hợp không cung cấp được thì phải thông
báo bằng văn bản và nêu rõ lý do cho đương sự, Tòa án, Viện kiểm sát biết.
Điều 11. Bảo đảm chế độ xét xử sơ thẩm, phúc
thẩm
1. Chế độ xét xử sơ thẩm, phúc thẩm được bảo
đảm, trừ trường hợp xét xử vụ án hành chính đối với khiếu kiện danh sách cử tri.
Bản án, quyết định sơ thẩm của Tòa án có thể
bị kháng cáo, kháng nghị theo quy định của Luật này.
Bản án, quyết định sơ thẩm của Tòa án không
bị kháng cáo, kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm trong thời hạn do Luật này quy
định thì có hiệu lực pháp luật. Bản án, quyết định sơ thẩm của Tòa án bị
kháng cáo, kháng nghị thì vụ án phải được giải quyết theo thủ tục phúc thẩm.
Bản án, quyết định phúc thẩm của Tòa án có hiệu lực pháp luật.
2. Bản án, quyết định của Tòa án đã có hiệu
lực pháp luật mà phát hiện có vi phạm pháp luật hoặc có tình tiết mới theo quy
định của Luật này thì được xem xét lại theo thủ tục giám đốc thẩm hoặc tái
thẩm.
Điều 12. Hội thẩm nhân dân tham gia xét xử vụ
án hành chính
1. Việc xét xử sơ thẩm vụ án hành chính có Hội thẩm nhân dân tham gia, trừ trường hợp xét xử theo thủ
tục rút gọn theo quy định của Luật này.
2. Khi biểu quyết về
quyết định giải quyết vụ án, Hội thẩm nhân dân ngang quyền với Thẩm phán.
Điều 13. Thẩm phán, Hội thẩm nhân dân xét xử
độc lập và chỉ tuân theo pháp luật
1. Thẩm phán, Hội thẩm nhân dân xét xử độc
lập và chỉ tuân theo pháp luật.
2. Nghiêm cấm cơ quan, tổ chức, cá nhân can thiệp vào
việc xét xử của Thẩm phán, Hội thẩm nhân dân dưới bất kỳ hình thức nào.
Điều 14. Bảo đảm sự vô tư, khách quan trong
tố tụng hành chính
1. Chánh án Tòa án,
Thẩm phán, Hội thẩm nhân dân, Thẩm tra viên Tòa án[5], Thư ký Tòa án, Viện trưởng
Viện kiểm sát, Kiểm sát viên, Kiểm tra viên, người phiên dịch, người giám định,
thành viên Hội đồng định giá không được tiến hành, tham gia tố tụng nếu có căn
cứ cho rằng họ có thể không vô tư, khách quan trong khi thực hiện nhiệm vụ,
quyền hạn của mình.
2. Việc phân công
người tiến hành tố tụng phải bảo đảm để họ vô tư, khách quan trong khi
thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn của mình.
Điều 15. Tòa án xét xử tập thể
Tòa án xét xử
tập thể vụ án hành chính và quyết định theo đa số, trừ trường hợp xét xử theo
thủ tục rút gọn.
Điều 16. Tòa án xét xử kịp thời, công bằng,
công khai
1. Tòa án xét xử kịp
thời trong thời hạn do Luật này quy định, bảo đảm công bằng.
2. Tòa án xét xử
công khai. Trường hợp đặc biệt cần giữ bí mật nhà nước, thuần phong, mỹ tục của
dân tộc, bảo vệ người chưa thành niên hoặc giữ bí mật nghề nghiệp, bí mật kinh
doanh, bí mật cá nhân theo yêu cầu chính đáng của đương sự, Tòa án có thể xét xử
kín.
Điều 17. Bình đẳng về quyền và nghĩa vụ trong tố tụng hành chính
1. Trong tố
tụng hành chính, mọi người đều bình đẳng trước pháp luật, không phân
biệt dân tộc, giới tính, tín ngưỡng, tôn giáo, thành phần xã hội, trình độ văn
hoá, nghề nghiệp, địa vị xã hội.
2. Mọi cơ quan, tổ
chức, cá nhân bình đẳng trong việc thực hiện quyền và nghĩa vụ trong tố tụng
hành chính trước Tòa án.
3. Tòa án có trách
nhiệm tạo điều kiện để cơ quan, tổ chức, cá nhân thực hiện các quyền và nghĩa
vụ của mình.
Điều 18. Bảo đảm tranh tụng trong xét xử
1. Tòa án có trách
nhiệm bảo đảm cho đương sự, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự
thực hiện quyền tranh tụng trong xét xử sơ thẩm, phúc thẩm, giám đốc thẩm, tái
thẩm theo quy định của Luật này.
2. Đương sự, người
bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự có quyền thu thập, giao nộp, cung
cấp tài liệu, chứng cứ kể từ khi Tòa án thụ lý vụ án hành chính và có nghĩa vụ
thông báo cho nhau các tài liệu, chứng cứ đã giao nộp; trình bày, đối đáp, phát
biểu quan điểm, lập luận về đánh giá chứng cứ và pháp luật áp dụng để bảo vệ
yêu cầu, quyền và lợi ích hợp pháp của mình hoặc bác bỏ yêu cầu của người khác
theo quy định của Luật này.
3. Trong quá trình
xét xử, mọi tài liệu, chứng cứ phải được xem xét đầy đủ, khách quan, toàn diện,
công khai, trừ trường hợp không được công khai theo quy định của Luật này. Tòa
án điều hành việc tranh tụng, hỏi những vấn đề chưa rõ và căn cứ vào kết quả
tranh tụng để ra bản án, quyết định.
Điều 19. Bảo đảm quyền bảo vệ quyền và lợi
ích hợp pháp của đương sự
1. Đương sự có quyền
tự bảo vệ hoặc nhờ luật sư hoặc người khác có đủ điều kiện theo quy định của
Luật này bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình.
2. Tòa án có trách
nhiệm bảo đảm cho đương sự thực hiện quyền bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của
họ.
3. Nhà nước có trách
nhiệm bảo đảm trợ giúp pháp lý cho người được trợ giúp pháp lý theo quy định
của Luật Trợ giúp pháp lý để họ thực hiện quyền bảo vệ quyền và lợi ích hợp
pháp trước Tòa án.
4. Không ai được hạn
chế quyền bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự trong tố tụng hành
chính.
Điều 20. Đối thoại trong tố tụng hành chính
Tòa án có trách
nhiệm tiến hành đối thoại và tạo điều kiện thuận lợi để các đương sự đối thoại
với nhau về việc giải quyết vụ án theo quy định của Luật này.
Điều 21. Tiếng nói và chữ viết dùng trong tố tụng hành chính
Tiếng nói và chữ
viết dùng trong tố tụng hành chính là tiếng Việt.
Người tham gia tố
tụng hành chính có quyền dùng tiếng nói và chữ viết của dân tộc mình; trường
hợp này phải có người phiên dịch.
Người tham gia tố
tụng hành chính là người khuyết tật nghe, người khuyết tật nói hoặc người
khuyết tật nhìn có quyền dùng ngôn ngữ, ký hiệu, chữ dành riêng cho người
khuyết tật; trường hợp này phải có người biết nghe, nói bằng ngôn ngữ, ký hiệu,
chữ dành riêng của người khuyết tật để dịch lại.
Điều 22. Trách nhiệm của cơ quan tiến hành tố
tụng, người tiến hành tố tụng
1. Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành
tố tụng phải tôn trọng Nhân dân và chịu sự giám sát của Nhân
dân.
2. Tòa án có nhiệm vụ bảo vệ công lý, bảo vệ
quyền con người, quyền công dân, bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa, bảo vệ lợi ích
của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân.
Viện kiểm sát có nhiệm vụ bảo vệ pháp luật,
bảo vệ quyền con người, quyền công dân, bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa, bảo vệ
lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân, góp phần
bảo đảm pháp luật được chấp hành nghiêm chỉnh và thống nhất.
3. Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành
tố tụng phải giữ bí mật nhà nước, bí mật công tác theo quy định của pháp luật;
giữ gìn thuần phong, mỹ tục của dân tộc, bảo vệ người chưa thành niên, giữ bí
mật nghề nghiệp, bí mật kinh doanh, bí mật cá nhân theo yêu cầu chính đáng của
đương sự.
4. Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành
tố tụng chịu trách nhiệm trước pháp luật về việc thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn
của mình. Trường hợp người tiến hành tố tụng có hành vi vi phạm pháp luật thì
tùy theo tính chất, mức độ vi phạm mà bị xử lý kỷ luật hoặc bị truy cứu trách
nhiệm hình sự theo quy định của pháp luật.
5. Người tiến hành tố tụng trong khi thực
hiện nhiệm vụ, quyền hạn của mình có hành vi vi phạm pháp luật gây thiệt hại
cho cơ quan, tổ chức, cá nhân thì cơ quan có người có hành vi vi phạm pháp luật
đó phải bồi thường cho người bị thiệt hại theo quy định của pháp luật về trách
nhiệm bồi thường của Nhà nước.
Điều 23. Bảo đảm hiệu lực của bản án, quyết
định của Tòa án
1. Bản án, quyết
định của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật phải được thi hành và phải được cơ
quan, tổ chức, cá nhân tôn trọng. Cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan phải
nghiêm chỉnh chấp hành.
2. Trong phạm
vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình, Tòa án, cơ quan, tổ chức được giao nhiệm vụ có
liên quan đến việc thi hành bản án, quyết định của Tòa án phải nghiêm chỉnh thi
hành và chịu trách nhiệm trước pháp luật về việc thực hiện nhiệm vụ đó.
Điều 24. Giám đốc việc xét xử[6]
Tòa án nhân dân tối cao giám đốc việc xét xử
của các Tòa án; Tòa án nhân dân tỉnh, thành phố (sau đây gọi chung là Tòa án
cấp tỉnh) giám đốc việc xét xử của Tòa án nhân dân khu vực thuộc phạm vi thẩm
quyền theo lãnh thổ để bảo đảm việc áp dụng pháp luật nghiêm chỉnh và thống
nhất.
Điều 25. Kiểm sát việc tuân theo pháp luật
trong tố tụng hành chính
1. Viện kiểm sát
kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong tố tụng hành chính nhằm bảo đảm cho
việc giải quyết vụ án hành chính kịp thời, đúng pháp luật.
2. Viện kiểm sát
kiểm sát vụ án hành chính từ khi thụ lý đến khi kết thúc việc giải quyết vụ án;
tham gia các phiên tòa, phiên họp của Tòa án; kiểm sát việc tuân theo pháp luật
trong công tác thi hành bản án, quyết định của Tòa án; thực hiện các quyền yêu
cầu, kiến nghị, kháng nghị theo quy định của pháp luật.
3. Đối với quyết
định hành chính, hành vi hành chính liên quan đến quyền, lợi ích hợp pháp của
người chưa thành niên, người mất năng lực hành vi dân sự, người bị hạn chế năng
lực hành vi dân sự, người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi, nếu
họ không có người khởi kiện thì Viện kiểm sát kiến nghị Ủy ban nhân dân cấp xã
nơi người đó cư trú cử người giám hộ đứng ra khởi kiện vụ án hành chính để bảo
vệ quyền, lợi ích hợp pháp cho người đó.
Điều 26. Trách nhiệm chuyển giao tài liệu,
giấy tờ của Tòa án
1. Tòa án có trách
nhiệm tống đạt, chuyển giao, thông báo bản án, quyết định, giấy triệu tập, giấy
mời và các giấy tờ khác của Tòa án theo quy định của Luật này.
2. Ủy ban nhân dân
cấp xã hoặc cơ quan, tổ chức, cá nhân liên quan có trách nhiệm chuyển
giao bản án, quyết định, giấy triệu tập, giấy mời và các giấy tờ khác của Tòa
án khi có yêu cầu của Tòa án và phải thông báo kết quả việc chuyển giao đó cho
Tòa án.
Điều 27. Việc tham gia tố tụng hành chính của
cơ quan, tổ chức, cá nhân
Cơ quan, tổ chức, cá
nhân có quyền và nghĩa vụ tham gia tố tụng hành chính theo quy định của Luật
này, góp phần vào việc giải quyết vụ án hành chính tại Tòa án kịp thời, đúng
pháp luật.
Điều 28. Bảo đảm quyền khiếu nại, tố cáo
trong tố tụng hành chính
Cơ quan, tổ chức, cá
nhân có quyền khiếu nại; cá nhân có quyền tố cáo hành vi, quyết định trái pháp luật của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành
tố tụng hoặc của bất cứ cơ quan, tổ chức, cá nhân nào trong hoạt động tố tụng
hành chính.
Cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền phải tiếp nhận, xem xét và giải
quyết khiếu nại, tố cáo kịp thời, đúng pháp luật; thông báo bằng văn bản về kết
quả giải quyết cho người đã khiếu nại, tố cáo.
Điều 29. Án phí, lệ phí và chi phí tố tụng
Án phí, lệ phí và chi phí tố tụng được thực
hiện theo quy định của Luật này và pháp luật về án phí, lệ phí Tòa án.
Điều 30. Khiếu kiện thuộc thẩm quyền giải
quyết của Tòa án
1. Khiếu kiện quyết
định hành chính, hành vi hành chính, trừ các quyết định, hành vi sau đây:
a) Quyết định hành
chính, hành vi hành chính thuộc phạm vi bí mật nhà nước trong các lĩnh vực quốc
phòng, an ninh, ngoại giao theo quy định của pháp luật;
b) Quyết định, hành
vi của Tòa án trong việc áp dụng biện pháp xử lý hành chính, xử lý hành vi cản
trở hoạt động tố tụng;
c) Quyết định hành
chính, hành vi hành chính mang tính nội bộ của cơ quan, tổ chức.
2.[7] Khiếu kiện quyết định
kỷ luật buộc thôi việc công chức giữ chức vụ dưới Thứ trưởng và dưới tương
đương Thứ trưởng.
3. Khiếu kiện quyết
định giải quyết khiếu nại về quyết định xử lý vụ việc cạnh tranh, quyết định giải quyết khiếu nại trong hoạt động kiểm toán nhà nước[8].
4. Khiếu kiện danh
sách cử tri.
Điều 31. Thẩm quyền của Tòa án nhân dân khu
vực[9]
Tòa án nhân dân khu vực có thẩm quyền giải
quyết theo thủ tục sơ thẩm những khiếu kiện sau:
1. Khiếu kiện quyết định hành chính, hành vi
hành chính của cơ quan nhà nước cấp xã, người có thẩm quyền trong cơ quan nhà
nước cấp xã đó thuộc phạm vi thẩm quyền theo lãnh thổ của Tòa án nhân dân khu
vực.
2. Khiếu kiện quyết định hành chính, hành vi
hành chính của cơ quan nhà nước cấp tỉnh trở xuống, người có thẩm quyền trong
cơ quan nhà nước cấp tỉnh trở xuống, trừ trường hợp quy định tại khoản 1 Điều
này, được xác định như sau:
a) Trường hợp người khởi kiện có nơi cư trú,
nơi làm việc hoặc trụ sở trên cùng phạm vi địa giới hành chính cấp tỉnh với
người bị kiện thì thẩm quyền giải quyết thuộc Tòa án nơi người khởi kiện có nơi
cư trú, nơi làm việc hoặc trụ sở;
b) Trường hợp người khởi kiện không có nơi cư
trú, nơi làm việc hoặc trụ sở trên cùng phạm vi địa giới hành chính cấp tỉnh
với người bị kiện thì thẩm quyền giải quyết thuộc Tòa án nơi quyết định hành
chính, hành vi hành chính bị khởi kiện làm phát sinh, thay đổi, hạn chế, chấm
dứt quyền, lợi ích hợp pháp của người khởi kiện.
3. Khiếu kiện quyết định hành chính, hành vi
hành chính của Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, Văn phòng Chủ
tịch nước, Văn phòng Quốc hội, Kiểm toán nhà nước, Tòa án nhân dân tối cao,
Viện kiểm sát nhân dân tối cao, cơ quan thuộc một trong các cơ quan nhà nước
này và của người có thẩm quyền trong cơ quan đó mà người khởi kiện có nơi cư
trú, nơi làm việc hoặc trụ sở thuộc phạm vi thẩm quyền theo lãnh thổ của Tòa án
nhân dân khu vực; trường hợp người khởi kiện không có nơi cư trú, nơi làm việc
hoặc trụ sở trên lãnh thổ Việt Nam thì thẩm quyền giải quyết thuộc Tòa án nơi
cơ quan, người có thẩm quyền ra quyết định hành chính, có hành vi hành chính.
4. Khiếu kiện quyết định hành chính, hành vi
hành chính của cơ quan đại diện của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam ở
nước ngoài hoặc của người có thẩm quyền trong cơ quan đó mà người khởi kiện có
nơi cư trú thuộc phạm vi thẩm quyền theo lãnh thổ của Tòa án nhân dân khu vực;
trường hợp người khởi kiện không có nơi cư trú tại Việt Nam thì Tòa án có thẩm
quyền là một trong các Tòa án nhân dân khu vực thuộc thành phố Hà Nội hoặc
Thành phố Hồ Chí Minh theo lựa chọn của người khởi kiện.
5. Khiếu kiện quyết định kỷ luật buộc thôi
việc của người đứng đầu cơ quan, tổ chức cấp tỉnh trở xuống, bộ, ngành trung
ương mà người khởi kiện có nơi làm việc khi bị kỷ luật thuộc phạm vi thẩm quyền
theo lãnh thổ của Tòa án nhân dân khu vực.
6. Khiếu kiện danh sách cử tri của cơ quan
lập danh sách cử tri thuộc phạm vi thẩm quyền theo lãnh thổ của Tòa án nhân dân
khu vực.
7. Khiếu kiện quyết định giải quyết khiếu nại
về quyết định xử lý vụ việc cạnh tranh, quyết định giải quyết khiếu nại trong
hoạt động kiểm toán nhà nước mà người khởi kiện có nơi cư trú, nơi làm việc
hoặc trụ sở thuộc phạm vi thẩm quyền theo lãnh thổ của Tòa án nhân dân khu vực.
8. Khiếu kiện quyết định hành chính, hành vi
hành chính về sở hữu trí tuệ, chuyển giao công nghệ mà người khởi kiện có nơi
cư trú, nơi làm việc hoặc trụ sở thuộc phạm vi thẩm quyền theo lãnh thổ của Tòa
án nhân dân khu vực.
9. Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn thi hành
Điều này.
Điều 31a. Thẩm quyền của Tòa chuyên trách Tòa
án nhân dân khu vực[10]
1. Tòa Hành chính Tòa án nhân dân khu vực có
thẩm quyền giải quyết theo thủ tục sơ thẩm những khiếu kiện quy định tại các khoản 1, 2, 3, 4, 5, 6 và 7 Điều 31 của Luật này.
2. Tòa Sở hữu trí tuệ Tòa án nhân dân khu vực
có thẩm quyền giải quyết theo thủ tục sơ thẩm những khiếu kiện quyết định hành
chính, hành vi hành chính về sở hữu trí tuệ, chuyển giao công nghệ quy định tại
khoản 8 Điều 31 của Luật này.
3. Đối với Tòa án nhân dân khu vực chưa có
Tòa Hành chính thì Chánh án Tòa án có trách nhiệm tổ chức công tác xét xử và
phân công Thẩm phán giải quyết vụ án thuộc thẩm quyền của Tòa án nhân dân khu
vực.
Điều 32. Thẩm quyền của Tòa án cấp tỉnh[11]
Tòa án cấp tỉnh có thẩm quyền giải quyết theo
thủ tục phúc thẩm những vụ án mà bản án, quyết định chưa có hiệu lực pháp luật
của Tòa án nhân dân khu vực bị kháng cáo, kháng nghị; giám đốc thẩm, tái thẩm
bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật của Tòa án nhân dân khu vực nhưng
bị kháng nghị theo quy định của Luật này.
Điều 32a. Thẩm quyền của Tòa chuyên trách Tòa
án cấp tỉnh[12]
Tòa Hành chính Tòa án cấp tỉnh có thẩm quyền
giải quyết theo thủ tục phúc thẩm những vụ án mà bản án, quyết định chưa có
hiệu lực pháp luật của Tòa án nhân dân khu vực bị kháng cáo, kháng nghị theo
quy định của Luật này.
Điều 33. Xác định thẩm quyền trong trường hợp
vừa có đơn khiếu nại, vừa có đơn khởi kiện
1. Trường hợp người
khởi kiện có đơn khởi kiện vụ án hành chính tại Tòa án có thẩm quyền, đồng thời
có đơn khiếu nại đến người có thẩm quyền giải quyết khiếu nại thì Tòa án phải
yêu cầu người khởi kiện lựa chọn cơ quan giải quyết và có văn bản thông báo cho
Tòa án.
Trường hợp người
khởi kiện không thể tự mình làm văn bản thì đề nghị Tòa án lập biên bản về việc
lựa chọn cơ quan giải quyết. Tùy từng trường hợp cụ thể Tòa án xử lý như
sau:
a) Trường hợp người
khởi kiện lựa chọn Tòa án giải quyết thì Tòa án thụ lý giải quyết vụ án theo
thủ tục chung, đồng thời thông báo cho người có thẩm quyền giải quyết khiếu nại
và yêu cầu người có thẩm quyền giải quyết khiếu nại chuyển toàn bộ hồ sơ giải
quyết khiếu nại cho Tòa án;
b) Trường hợp người
khởi kiện lựa chọn người có thẩm quyền giải quyết khiếu nại giải quyết thì Tòa
án căn cứ vào quy định tại điểm e khoản 1
Điều 123 của Luật này trả lại đơn khởi kiện và các tài liệu kèm theo cho người khởi kiện.
Trường hợp hết thời
hạn giải quyết khiếu nại mà khiếu nại không được giải quyết hoặc đã được giải
quyết nhưng người khiếu nại không đồng ý với việc giải quyết khiếu nại và có
đơn khởi kiện vụ án hành chính thì Tòa án xem xét để tiến hành thụ lý vụ án theo
thủ tục chung.
2. Trường hợp nhiều
người vừa khởi kiện vụ án hành chính tại Tòa án có thẩm quyền, đồng thời có đơn
khiếu nại đến người có thẩm quyền giải quyết khiếu nại và tất cả những người
này đều lựa chọn một trong hai cơ quan có thẩm quyền giải quyết thì thẩm quyền
giải quyết được thực hiện theo quy định tại khoản 1 Điều này.
3. Trường hợp nhiều
người vừa khởi kiện vụ án hành chính tại Tòa án có thẩm quyền, đồng thời có đơn
khiếu nại đến người có thẩm quyền giải quyết khiếu nại, trong đó có người lựa
chọn Tòa án giải quyết và có người lựa chọn người có thẩm quyền giải quyết khiếu
nại hoặc trường hợp có người chỉ khởi kiện vụ án hành chính tại Tòa án có thẩm
quyền và người khác chỉ khiếu nại đến người có thẩm quyền giải quyết khiếu nại
thì thẩm quyền giải quyết được xác định như sau:
a) Trường hợp quyền lợi, nghĩa vụ của người
khởi kiện và người khiếu nại độc lập với nhau thì việc giải quyết yêu cầu của người khởi kiện thuộc thẩm quyền
của Tòa án, còn việc giải quyết khiếu nại của những người khiếu nại thuộc thẩm
quyền của người có thẩm quyền giải quyết khiếu nại;
b) Trường hợp quyền
lợi, nghĩa vụ của người khởi kiện và người khiếu nại không độc lập với nhau thì
Tòa án thụ lý giải quyết vụ án theo thủ tục chung, đồng thời thông báo cho
người có thẩm quyền giải quyết khiếu nại và yêu cầu chuyển toàn bộ hồ sơ giải quyết
khiếu nại cho Tòa án.
4. Trường hợp người
khởi kiện không lựa chọn cơ quan giải quyết thì Tòa án trả lại đơn khởi kiện
cho người khởi kiện.
Điều 34. Chuyển vụ án cho Tòa án khác, giải
quyết tranh chấp về thẩm quyền
1. Trong quá trình
giải quyết vụ án hành chính theo thủ tục sơ thẩm, Tòa án xác định vụ án
đó không phải là vụ án hành chính mà là vụ án dân sự và việc giải quyết vụ án
này thuộc thẩm quyền của mình thì Tòa án giải quyết vụ án đó theo thủ tục chung
do pháp luật tố tụng dân sự quy định, đồng thời thông báo cho đương sự và Viện
kiểm sát cùng cấp.
2. Trước khi có
quyết định đưa vụ án ra xét xử theo thủ tục sơ thẩm mà có căn cứ xác định việc
giải quyết vụ án thuộc thẩm quyền của Tòa án khác thì Thẩm phán được phân công
giải quyết vụ án hành chính ra quyết định chuyển hồ sơ vụ án cho Tòa án có thẩm
quyền và xoá sổ thụ lý, đồng thời thông báo cho đương sự và Viện kiểm sát cùng
cấp.
3. Sau khi đã có
quyết định đưa vụ án ra xét xử theo thủ tục sơ thẩm mà có căn cứ xác định việc
giải quyết vụ án hành chính thuộc thẩm quyền của Tòa án khác thì Tòa án phải mở
phiên tòa để Hội đồng xét xử ra quyết định đình chỉ việc xét xử, chuyển hồ sơ vụ
án cho Tòa án có thẩm quyền.
4. Khi xét xử phúc
thẩm vụ án hành chính mà xác định vụ án thuộc trường hợp quy định tại
khoản 1 và khoản 2 Điều này thì Tòa án cấp phúc thẩm hủy bản án, quyết định sơ
thẩm và giao hồ sơ vụ án cho Tòa án có thẩm quyền xét xử sơ thẩm để giải quyết
sơ thẩm lại vụ án theo quy định của pháp luật.
5. Khi xét xử giám
đốc thẩm, tái thẩm vụ án hành chính mà xác định vụ án thuộc trường hợp quy định
tại khoản 1 và khoản 2 Điều này thì Tòa án xét xử giám đốc thẩm hoặc tái thẩm
hủy bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật và giao hồ sơ vụ án cho Tòa án
có thẩm quyền xét xử sơ thẩm để giải quyết sơ thẩm lại vụ án theo quy định của
pháp luật.
6. Đương sự có quyền
khiếu nại, Viện kiểm sát cùng cấp có quyền kiến nghị quyết định quy định tại
khoản 2 và khoản 3 Điều này trong thời hạn 03 ngày làm việc kể từ ngày nhận
được quyết định. Trong thời hạn 03 ngày làm việc kể từ ngày nhận được khiếu
nại, kiến nghị, Chánh án Tòa án đã ra quyết định chuyển vụ án hành chính phải
giải quyết khiếu nại, kiến nghị. Quyết định của Chánh án Tòa án là quyết định
cuối cùng và được gửi ngay cho đương sự có khiếu nại, Viện kiểm sát có kiến
nghị.
7.[13] Chánh án Tòa án cấp
tỉnh giải quyết tranh chấp về thẩm quyền giải quyết vụ án hành chính giữa các
Tòa án nhân dân khu vực trong cùng một tỉnh, thành phố.
Chánh án Tòa án nhân dân tối cao giải quyết
tranh chấp về thẩm quyền giữa các Tòa án nhân dân khu vực thuộc các tỉnh, thành
phố khác nhau.
Điều 35. Nhập hoặc tách vụ án hành chính
1. Tòa án nhập hai
hoặc nhiều vụ án mà Tòa án đã thụ lý riêng biệt thành một vụ án để giải quyết
bằng một vụ án hành chính khi có đủ các điều kiện sau đây:
a) Các vụ án thụ lý
riêng biệt chỉ có một người khởi kiện đối với nhiều quyết định hành chính, hành
vi hành chính đều do một cơ quan, tổ chức hoặc một người có thẩm quyền trong cơ
quan, tổ chức ban hành, thực hiện và có mối liên hệ mật thiết với nhau hoặc các
vụ án thụ lý riêng biệt có nhiều người khởi kiện đối với cùng một quyết định
hành chính hoặc hành vi hành chính;
b) Việc nhập hai hay
nhiều vụ án hành chính thành một vụ án hành chính phải bảo đảm việc xét xử được
nhanh chóng, hiệu quả, triệt để và không vi phạm thời hạn chuẩn bị xét xử.
2. Tòa án tách một
vụ án có các yêu cầu khác nhau thành hai hoặc nhiều vụ án hành chính khác nhau để giải quyết trong trường hợp quyết định hành chính bị khởi kiện
liên quan đến nhiều người khởi kiện và quyền lợi, nghĩa vụ của những người khởi
kiện đó không liên quan
với nhau.
3. Khi nhập hoặc
tách vụ án quy định tại khoản 1 và khoản 2 Điều này, Tòa án đã thụ lý vụ án
phải ra quyết định và gửi ngay cho đương sự, Viện kiểm sát cùng cấp.
CƠ QUAN TIẾN HÀNH TỐ TỤNG, NGƯỜI TIẾN HÀNH TỐ
TỤNG VÀ VIỆC THAY ĐỔI NGƯỜI TIẾN HÀNH TỐ TỤNG
Điều 36. Cơ quan tiến hành tố tụng, người
tiến hành tố tụng
1. Các cơ quan tiến
hành tố tụng hành chính gồm có:
a) Tòa án;
b) Viện kiểm sát.
2. Những người tiến
hành tố tụng hành chính gồm có:
a) Chánh án Tòa án,
Thẩm phán, Hội thẩm nhân dân, Thẩm tra viên Tòa án[14], Thư ký Tòa án;
b) Viện trưởng Viện
kiểm sát, Kiểm sát viên, Kiểm tra viên.
Điều 37. Nhiệm vụ, quyền hạn của Chánh án Tòa
án
1. Chánh án Tòa án
có những nhiệm vụ, quyền hạn sau đây:
a) Tổ chức công tác
giải quyết vụ án hành chính thuộc thẩm quyền của Tòa án; bảo đảm thực hiện
nguyên tắc Thẩm phán, Hội thẩm nhân dân xét xử độc lập và chỉ tuân theo
pháp luật;
b) Quyết định phân
công Thẩm phán giải quyết vụ án hành chính, Hội thẩm nhân dân tham gia Hội đồng
xét xử vụ án hành chính; phân công Thẩm tra viên
Tòa án[15], Thư ký Tòa án tiến hành tố tụng đối với vụ án hành chính bảo đảm đúng
nguyên tắc quy định tại Điều 14 của Luật này;
c) Quyết định thay
đổi Thẩm phán, Hội thẩm nhân dân, Thư ký Tòa án trước khi mở phiên tòa;
d) Quyết định thay
đổi người giám định, người phiên dịch trước khi mở phiên tòa;
đ) Ra quyết định và
tiến hành hoạt động tố tụng hành chính;
e) Kháng nghị theo
thủ tục giám đốc thẩm, tái thẩm bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật của
Tòa án hoặc kiến nghị Chánh án Tòa án có thẩm quyền xem xét kháng nghị theo thủ
tục giám đốc thẩm, tái thẩm bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật của Tòa
án;
g) Giải quyết khiếu
nại, tố cáo theo quy định của Luật này;
h) Kiến nghị với cơ
quan, cá nhân có văn bản hành chính, hành vi hành chính có liên quan đến quyết
định hành chính, hành vi hành chính bị khởi kiện xem xét sửa đổi, bổ sung hoặc
bãi bỏ văn bản, chấm dứt hành vi đó nếu phát hiện có dấu hiệu
trái với quy định của pháp luật;
i) Kiến nghị với cơ
quan, cá nhân có thẩm quyền xem xét, sửa đổi, bổ sung hoặc bãi bỏ văn bản quy
phạm pháp luật nếu phát hiện có dấu hiệu trái với Hiến pháp, luật, văn bản quy
phạm pháp luật của cơ quan nhà nước cấp trên theo quy định của Luật này;
k) Xử lý hành vi cản
trở hoạt động tố tụng hành chính theo quy định của pháp luật;
l) Thực hiện nhiệm
vụ, quyền hạn khác theo quy định của Luật này.
2. Khi Chánh án vắng
mặt, một Phó Chánh án được Chánh án ủy nhiệm thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn của
Chánh án, trừ quyền quyết định kháng nghị quy định tại điểm e khoản 1 Điều này.
Phó Chánh án chịu trách nhiệm trước Chánh án về thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn
được ủy nhiệm.
Điều 38. Nhiệm vụ, quyền hạn của Thẩm phán
Khi được Chánh án
Tòa án phân công, Thẩm phán có những nhiệm vụ, quyền hạn sau đây:
1. Xử lý đơn khởi
kiện;
2. Lập hồ sơ vụ án
hành chính;
3. Xác minh, thu
thập tài liệu, chứng cứ; tổ chức phiên tòa, phiên họp để giải quyết vụ án hành
chính theo quy định của Luật này;
4. Quyết định việc
áp dụng, thay đổi, hủy bỏ biện pháp khẩn cấp tạm thời;
5. Quyết định đình
chỉ hoặc tạm đình chỉ, quyết định tiếp tục đưa vụ án hành
chính ra giải quyết;
6. Giải thích, hướng
dẫn cho đương sự biết để họ thực hiện quyền được yêu cầu trợ giúp pháp lý theo
quy định của pháp luật về trợ giúp pháp lý;
7. Tiến hành phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng
cứ và đối thoại theo quy định của Luật này;
8. Quyết định đưa vụ án hành chính ra xét xử;
9. Triệu tập người
tham gia phiên tòa, phiên họp;
10. Yêu cầu cơ quan,
tổ chức, cá nhân cung cấp tài liệu, chứng cứ hoặc xác minh, thu thập tài liệu,
chứng cứ theo quy định của Luật này;
11. Chủ tọa hoặc
tham gia Hội đồng xét xử vụ án hành chính; biểu quyết những vấn đề thuộc thẩm
quyền của Hội đồng xét xử;
12. Xem xét
về tính hợp pháp của văn bản hành chính, hành vi hành chính có liên quan đến
quyết định hành chính, hành vi hành chính bị kiện và đề nghị Chánh án Tòa án
kiến nghị với cơ quan, cá nhân có thẩm quyền xem xét văn bản hành chính, hành
vi hành chính đó theo quy định của pháp luật;
13. Phát hiện và đề
nghị Chánh án Tòa án kiến nghị với cơ quan có thẩm quyền xem xét, sửa đổi, bổ
sung hoặc bãi bỏ văn bản quy phạm pháp luật có dấu hiệu trái với Hiến pháp,
luật, văn bản quy phạm pháp luật của cơ quan nhà nước cấp trên theo quy định
của Luật này;
14. Xử lý hành vi
cản trở hoạt động tố tụng hành chính theo quy định của pháp luật;
15. Thực hiện nhiệm
vụ, quyền hạn khác theo quy định của Luật này.
Điều 39. Nhiệm vụ, quyền hạn của Hội thẩm
nhân dân
Khi được Chánh án
Tòa án phân công, Hội thẩm nhân dân có những nhiệm vụ, quyền hạn sau đây:
1. Nghiên cứu hồ sơ
vụ án;
2. Đề nghị Chánh án
Tòa án, Thẩm phán được phân công giải quyết vụ án hành chính ra quyết định cần
thiết thuộc thẩm quyền;
3. Tham gia Hội đồng
xét xử vụ án hành chính;
4. Tiến hành hoạt
động tố tụng và ngang quyền với Thẩm phán khi biểu quyết những vấn đề thuộc thẩm quyền của Hội đồng xét xử.
Điều 40. Nhiệm vụ, quyền hạn của Thẩm tra viên Tòa án[16]
Khi được Chánh án
Tòa án phân công, Thẩm tra viên Tòa án[17] có những nhiệm vụ, quyền hạn sau
đây:
1. Thẩm tra hồ sơ vụ
án hành chính mà bản án, quyết định của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật cần xem
xét lại theo thủ tục giám đốc thẩm, tái thẩm;
2. Kết luận về việc
thẩm tra và báo cáo kết quả thẩm tra, đề xuất phương án giải quyết vụ án hành
chính với Chánh án Tòa án;
3. Thu thập tài
liệu, chứng cứ theo quy định của Luật này;
4. Thực hiện
nhiệm vụ, quyền hạn khác theo quy định của Luật này.
Điều 41. Nhiệm vụ, quyền hạn của Thư ký Tòa
án
Khi được phân công,
Thư ký Tòa án có những nhiệm vụ, quyền hạn sau đây:
1. Chuẩn bị các công
tác nghiệp vụ cần thiết trước khi khai mạc phiên tòa;
2. Phổ biến nội quy
phiên tòa;
3. Kiểm tra và báo
cáo với Hội đồng xét xử danh sách những người được triệu tập đến phiên tòa;
4. Ghi biên bản phiên tòa, biên bản phiên
họp, biên bản lấy lời khai của người tham gia tố tụng;
5. Thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn khác theo
quy định của Luật này.
Điều 42. Nhiệm vụ, quyền hạn của Viện trưởng
Viện kiểm sát
1. Khi thực hiện
kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong hoạt động tố tụng hành chính, Viện
trưởng Viện kiểm sát có những nhiệm vụ, quyền hạn sau đây:
a) Tổ chức và chỉ
đạo thực hiện công tác kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong hoạt động tố
tụng hành chính;
b) Quyết định phân
công Kiểm sát viên thực hiện kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong hoạt động
tố tụng hành chính, tham gia phiên tòa, phiên họp giải quyết vụ án hành chính
theo quy định của Luật này và thông báo cho Tòa án biết; phân công Kiểm tra viên
tiến hành tố tụng đối với vụ án hành chính bảo đảm đúng nguyên tắc theo quy
định tại Điều 14 của Luật này;
c) Quyết định thay
đổi Kiểm sát viên, Kiểm tra viên;
d) Kháng nghị theo
thủ tục phúc thẩm, giám đốc thẩm, tái thẩm bản án, quyết định của Tòa án theo
quy định của Luật này;
đ) Yêu cầu, kiến
nghị theo quy định của Luật này;
e) Giải quyết khiếu
nại, tố cáo theo quy định của Luật này;
g) Thực hiện nhiệm
vụ, quyền hạn khác theo quy định của Luật này.
2. Khi Viện trưởng
vắng mặt, một Phó Viện trưởng được Viện trưởng ủy nhiệm thực hiện nhiệm vụ,
quyền hạn của Viện trưởng, trừ quyền quyết định kháng nghị quy định tại điểm d
khoản 1 Điều này. Phó Viện trưởng chịu trách nhiệm trước Viện trưởng về thực
hiện nhiệm vụ, quyền hạn được ủy nhiệm.
Điều 43. Nhiệm vụ, quyền hạn của Kiểm sát
viên
Khi được Viện trưởng
Viện kiểm sát phân công thực hiện kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong hoạt
động tố tụng hành chính, Kiểm sát viên có những nhiệm vụ, quyền hạn sau đây:
1. Kiểm sát việc trả
lại đơn khởi kiện;
2. Kiểm sát việc thụ
lý, giải quyết vụ án;
3. Nghiên cứu hồ sơ
vụ án; xác minh, thu thập tài liệu, chứng cứ theo quy định
tại khoản 6 Điều 84 của Luật này;
4. Tham gia phiên tòa, phiên họp và phát biểu
ý kiến của Viện kiểm sát về việc giải quyết vụ án theo quy định
của Luật này;
5. Kiểm sát bản án, quyết định của Tòa án;
6. Yêu cầu, kiến nghị Tòa án thực hiện hoạt
động tố tụng theo quy định của Luật này;
7. Đề nghị với Viện trưởng Viện kiểm sát có
thẩm quyền kháng nghị bản án, quyết định của Tòa án có vi phạm pháp luật;
8. Kiểm sát hoạt động tố tụng của người tham
gia tố tụng; yêu cầu, kiến nghị cơ quan, tổ chức có thẩm quyền xử lý nghiêm
minh người tham gia tố tụng vi phạm pháp luật;
9. Thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn khác theo quy định của Luật này.
Điều 44. Nhiệm vụ, quyền hạn của Kiểm tra viên
Khi được phân công, Kiểm tra viên có những nhiệm vụ, quyền hạn sau đây:
1. Nghiên cứu hồ sơ
vụ án, báo cáo kết quả với Kiểm sát viên;
2. Lập hồ sơ kiểm
sát vụ án hành chính theo sự phân công của Kiểm sát viên hoặc Viện trưởng Viện
kiểm sát;
3. Giúp Kiểm sát
viên kiểm sát việc tuân theo pháp luật theo quy định của Luật này.
Điều 45. Những trường hợp phải từ chối hoặc
thay đổi người tiến hành tố tụng
Người tiến hành tố
tụng phải từ chối tiến hành tố tụng hoặc bị thay đổi nếu thuộc một trong những
trường hợp sau đây:
1. Đồng thời là
đương sự, người đại diện, người thân thích của đương sự;
2. Đã tham gia với
tư cách người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự, người làm chứng,
người giám định, người phiên dịch trong cùng vụ án đó;
3. Đã tham gia vào
việc ra quyết định hành chính hoặc có liên quan đến hành vi hành chính bị khởi
kiện;
4. Đã tham gia vào
việc ra quyết định giải quyết khiếu nại đối với quyết định hành chính, hành vi
hành chính bị khởi kiện;
5. Đã tham gia vào
việc ra quyết định kỷ luật buộc thôi việc công chức hoặc đã tham
gia vào việc ra quyết định giải quyết khiếu nại đối với quyết định kỷ luật buộc
thôi việc công chức bị khởi kiện;
6. Đã tham gia vào
việc ra quyết định xử lý vụ việc cạnh tranh, quyết định giải quyết khiếu nại về
quyết định xử lý vụ việc cạnh tranh bị khởi kiện;
6a.[18] Đã tham gia vào
việc lập báo cáo kiểm toán, ra quyết định giải quyết khiếu nại trong hoạt động
kiểm toán nhà nước bị khởi kiện;
7. Đã tham gia vào
việc lập danh sách cử tri bị khởi kiện;
8. Có căn cứ rõ ràng
khác cho rằng họ có thể không vô tư trong khi làm nhiệm vụ.
Thẩm phán, Hội thẩm
nhân dân phải từ chối tiến hành tố tụng hoặc bị thay đổi nếu thuộc một trong
những trường hợp sau đây:
1. Thuộc một trong
những trường hợp quy định tại Điều 45 của Luật này;
2. Họ cùng trong một
Hội đồng xét xử và là người thân thích với nhau; trường hợp này, chỉ có một
người được tiến hành tố tụng;
3.[19] Họ đã tham gia giải
quyết vụ án hành chính đó theo thủ tục sơ thẩm, phúc thẩm, giám đốc thẩm hoặc
tái thẩm và đã ra bản án sơ thẩm; bản án, quyết định phúc thẩm; quyết định giám
đốc thẩm hoặc tái thẩm và quyết định đình chỉ giải quyết vụ án, quyết định công
nhận kết quả đối thoại thành, trừ trường hợp là thành viên của Hội đồng Thẩm
phán Tòa án nhân dân tối cao, Ủy ban Thẩm phán Tòa án nhân dân cấp tỉnh được
tham gia xét xử vụ án đó theo thủ tục giám đốc thẩm, tái thẩm;
4.[20] Họ đã là người tiến
hành tố tụng trong vụ án đó với tư cách là Thẩm tra viên Tòa án, Thư ký Tòa án,
Kiểm sát viên, Kiểm tra viên.
Điều 47. Những trường hợp Thư ký Tòa án, Thẩm
tra viên Tòa án[21] phải từ chối tiến
hành tố tụng hoặc bị thay đổi
Thư ký Tòa án, Thẩm tra viên Tòa án[22] phải từ chối tiến hành tố tụng hoặc bị thay đổi
nếu thuộc một trong những trường hợp sau đây:
1. Thuộc một trong
những trường hợp quy định tại Điều 45 của Luật này;
2. Đã là người tiến
hành tố tụng trong vụ án đó với tư cách là Thẩm phán, Hội thẩm nhân dân, Thẩm tra viên Tòa án[23], Thư ký Tòa án, Kiểm sát viên, Kiểm tra viên;
3. Là người thân
thích với một trong những người tiến hành tố tụng khác trong vụ án đó.
Điều 48. Thủ tục từ chối tiến hành tố tụng
hoặc đề nghị thay đổi Thẩm phán, Hội thẩm nhân dân, Thẩm tra viên Tòa án[24], Thư ký Tòa án
1. Việc từ chối tiến
hành tố tụng hoặc đề nghị thay đổi Thẩm phán, Hội thẩm nhân dân, Thẩm tra viên Tòa án[25], Thư ký Tòa án trước khi mở phiên tòa phải
được lập thành văn bản, trong đó nêu rõ lý do và căn cứ của việc từ chối tiến
hành tố tụng hoặc của việc đề nghị thay đổi người tiến hành tố tụng.
2. Việc từ chối tiến
hành tố tụng hoặc đề nghị thay đổi những người quy định tại khoản 1 Điều
này tại phiên tòa phải được ghi vào biên bản phiên tòa.
Điều 49. Quyết định việc thay đổi Thẩm phán, Hội thẩm
nhân dân, Thẩm tra viên Tòa án, Thư ký Tòa án[26]
1.[27] Trước khi mở phiên
tòa, việc thay đổi Thẩm phán, Hội thẩm nhân dân, Thẩm tra viên Tòa án, Thư ký
Tòa án do Chánh án Tòa án quyết định.
Trường hợp Thẩm phán bị thay đổi là Chánh án
Tòa án thì giải quyết như sau:
a) Thẩm phán là Chánh án Tòa án nhân dân khu
vực do Chánh án Tòa án cấp tỉnh quyết định;
b) Thẩm phán là Chánh án Tòa án cấp tỉnh do
Chánh án Tòa án nhân dân tối cao quyết định.
2. Tại phiên tòa,
việc thay đổi Thẩm phán, Hội thẩm nhân dân, Thư ký Tòa án do Hội đồng xét xử
quyết định sau khi nghe ý kiến của người bị yêu cầu thay đổi. Hội đồng xét xử
thảo luận tại phòng nghị án và quyết định theo đa số. Trường hợp phải thay đổi
Thẩm phán, Hội thẩm nhân dân, Thư ký Tòa án mà không có người dự khuyết thay
thế ngay thì Hội đồng xét xử ra quyết định hoãn phiên tòa. Chánh án Tòa án
quyết định cử Thẩm phán, Hội thẩm nhân dân, Thư ký Tòa án thay thế người bị
thay đổi; nếu người bị thay đổi là Chánh án Tòa án thì thẩm quyền quyết định
được thực hiện theo quy định tại khoản 1 Điều này.
3. Trong thời hạn 05
ngày làm việc kể từ ngày hoãn phiên tòa, Chánh án Tòa án phải cử người khác
thay thế.
Kiểm sát viên, Kiểm
tra viên phải từ chối tiến hành tố tụng hoặc bị thay đổi nếu thuộc một trong
những trường hợp sau đây:
1. Thuộc một trong
những trường hợp quy định tại Điều 45 của Luật này;
2. Đã là người tiến
hành tố tụng trong vụ án đó với tư cách là Thẩm phán, Hội thẩm nhân dân, Thẩm tra viên Tòa án[28], Thư ký Tòa án, Kiểm sát viên, Kiểm tra viên
trong vụ án đó.
Điều 51. Thủ tục từ chối tiến hành tố tụng
hoặc đề nghị thay đổi Kiểm sát viên, Kiểm tra viên
1. Việc từ chối tiến
hành tố tụng hoặc đề nghị thay đổi Kiểm sát viên trước khi mở
phiên tòa phải được lập thành văn bản, trong đó nêu rõ lý do và căn cứ của việc
từ chối hoặc đề nghị thay đổi Kiểm sát viên.
Việc từ chối tiến hành tố tụng hoặc đề nghị
thay đổi Kiểm tra viên phải được lập thành văn bản, trong đó nêu rõ lý do và
căn cứ của việc từ chối hoặc đề nghị thay đổi Kiểm tra viên.
2. Việc từ chối tiến hành tố tụng hoặc đề
nghị thay đổi Kiểm sát viên tại phiên tòa phải được ghi vào biên bản phiên tòa.
Điều 52. Quyết định việc thay đổi Kiểm sát
viên, Kiểm tra viên
1. Trước khi mở phiên tòa, việc thay đổi Kiểm
sát viên do Viện trưởng Viện kiểm sát cùng cấp quyết định; nếu Kiểm sát viên bị
thay đổi là Viện trưởng Viện kiểm sát thì do Viện trưởng Viện kiểm sát cấp trên
trực tiếp quyết định.
Việc thay đổi Kiểm tra viên do Viện trưởng
Viện kiểm sát cùng cấp quyết định.
2. Tại phiên tòa, việc thay đổi Kiểm sát viên
do Hội đồng xét xử quyết định sau khi nghe ý kiến của người bị yêu cầu thay
đổi. Hội đồng xét xử thảo luận tại phòng nghị án và quyết định theo đa số.
Trường hợp phải thay đổi Kiểm sát viên thì
Hội đồng xét xử ra quyết định hoãn phiên tòa. Việc cử Kiểm sát viên thay thế
Kiểm sát viên bị thay đổi do Viện trưởng Viện kiểm sát cùng cấp quyết định; nếu
Kiểm sát viên bị thay đổi là Viện trưởng Viện kiểm sát thì do Viện trưởng Viện
kiểm sát cấp trên trực tiếp quyết định.
3. Trong thời hạn 03 ngày làm việc kể từ ngày
hoãn phiên tòa, Viện trưởng Viện kiểm sát phải cử người khác thay thế và thông
báo bằng văn bản cho Tòa án.
NGƯỜI THAM GIA TỐ TỤNG, QUYỀN VÀ NGHĨA VỤ CỦA
NGƯỜI THAM GIA TỐ TỤNG
Điều 53. Người tham gia tố tụng
Người tham gia tố tụng hành chính gồm đương
sự, người đại diện của đương sự, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của
đương sự, người làm chứng, người giám định, người phiên dịch.
Điều 54. Năng lực pháp luật tố tụng hành
chính và năng lực hành vi tố tụng hành chính của đương sự
1. Năng lực pháp luật tố tụng hành chính là
khả năng có các quyền, nghĩa vụ trong tố tụng hành chính do pháp luật quy định.
Mọi cơ quan, tổ chức, cá nhân có năng lực pháp luật tố tụng hành chính như nhau
trong việc yêu cầu Tòa án bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình.
2. Năng lực hành vi tố tụng hành chính là khả
năng tự mình thực hiện quyền, nghĩa vụ trong tố tụng hành chính hoặc ủy quyền
cho người đại diện tham gia tố tụng hành chính.
3. Đương sự là người từ đủ mười tám tuổi trở
lên có đầy đủ năng lực hành vi tố tụng hành chính, trừ người mất năng lực hành
vi dân sự hoặc pháp luật có quy định khác.
Đối với người bị hạn chế năng lực hành vi dân
sự, người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi thì năng lực hành vi tố
tụng hành chính của họ được xác định theo quyết định của Tòa án.
4. Đương sự là người chưa thành niên, người
mất năng lực hành vi dân sự, người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự hoặc
người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi thực hiện quyền, nghĩa vụ
của đương sự trong tố tụng hành chính thông qua người đại diện theo pháp luật.
5. Đương sự là cơ quan, tổ chức thực hiện
quyền, nghĩa vụ trong tố tụng hành chính thông qua người đại diện theo pháp
luật.
Điều 55. Quyền, nghĩa vụ của đương sự
Đương sự có quyền, nghĩa vụ ngang nhau khi tham gia tố tụng, bao gồm:
1. Tôn trọng Tòa án, chấp hành nghiêm chỉnh
nội quy phiên tòa;
2. Nộp tiền tạm ứng án phí, án phí, lệ phí và
chi phí tố tụng khác theo quy định của pháp luật;
3. Giữ nguyên, thay đổi, bổ sung hoặc rút yêu
cầu;
4. Cung cấp đầy đủ, chính xác địa chỉ nơi cư
trú, trụ sở của mình; trong quá trình Tòa án giải quyết vụ án nếu có thay đổi
địa chỉ, nơi cư trú, trụ sở thì phải thông báo kịp thời cho đương sự khác và
Tòa án;
5. Cung cấp tài liệu, chứng cứ, chứng minh để
bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình;
6. Yêu cầu cơ quan, tổ chức, cá nhân đang lưu
giữ, quản lý tài liệu, chứng cứ cung cấp tài liệu, chứng cứ đó cho mình để giao
nộp cho Tòa án;
7. Đề nghị Tòa án xác minh, thu thập tài
liệu, chứng cứ của vụ án mà tự mình không thể thực hiện được; đề nghị Tòa án
buộc bên đương sự khác xuất trình tài liệu, chứng cứ mà họ đang lưu giữ, quản
lý; đề nghị Tòa án ra quyết định buộc cơ quan, tổ chức, cá nhân đang lưu giữ,
quản lý chứng cứ cung cấp chứng cứ; đề nghị Tòa án triệu tập người làm chứng,
trưng cầu giám định, định giá tài sản;
8. Được biết, ghi chép và sao chụp tài liệu,
chứng cứ do đương sự khác xuất trình hoặc do Tòa án thu thập, trừ tài liệu,
chứng cứ không được công khai theo quy định tại khoản 2 Điều 96
của Luật này;
9. Nộp bản sao đơn khởi kiện và tài liệu,
chứng cứ cho Tòa án để Tòa án gửi cho đương sự khác hoặc người đại diện hợp
pháp của đương sự khác, trừ tài liệu, chứng cứ không được công khai theo quy
định tại khoản 2 Điều 96 của Luật này;
10. Đề nghị Tòa án quyết định việc áp dụng,
thay đổi, hủy bỏ biện pháp khẩn cấp tạm thời;
11. Đề nghị Tòa án tổ chức phiên họp kiểm tra
việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ, đối thoại và tham gia phiên họp
trong quá trình Tòa án giải quyết vụ án;
12. Nhận thông báo hợp lệ để thực hiện quyền,
nghĩa vụ của mình;
13. Tự bảo vệ, nhờ luật sư hoặc người khác
bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp cho mình;
14. Yêu cầu thay đổi người tiến hành tố tụng,
người tham gia tố tụng;
15. Tham gia phiên tòa, phiên họp;
16. Phải có mặt theo giấy triệu tập của Tòa
án và chấp hành quyết định của Tòa án trong quá trình Tòa án giải quyết vụ án;
17. Đề nghị Tòa án đưa người có quyền lợi,
nghĩa vụ liên quan tham gia tố tụng;
18. Đề nghị Tòa án tạm đình chỉ giải quyết vụ
án;
19. Đưa ra câu hỏi với người khác về vấn đề
liên quan đến vụ án hoặc đề xuất với Tòa án những vấn đề cần hỏi với người
khác; được đối chất với nhau hoặc với người làm chứng;
20. Tranh luận tại phiên tòa, đưa ra lập luận
về đánh giá chứng cứ và pháp luật áp dụng;
21. Được cấp trích lục bản án, quyết định của
Tòa án;
22. Kháng cáo, khiếu nại bản án, quyết định
của Tòa án;
23. Đề nghị người có thẩm quyền kháng nghị
theo thủ tục giám đốc thẩm, tái thẩm bản án, quyết định của Tòa án đã có hiệu
lực pháp luật;
24. Chấp hành nghiêm chỉnh bản án, quyết định
của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật;
25. Sử dụng quyền của đương sự một cách thiện
chí, không được lạm dụng để gây cản trở hoạt động tố tụng của Tòa án, đương sự
khác;
26. Quyền, nghĩa vụ khác theo quy định của
pháp luật.
Điều 56. Quyền, nghĩa vụ của người khởi kiện
Người khởi kiện có
các quyền, nghĩa vụ sau đây:
1. Các quyền, nghĩa vụ quy định tại Điều 55 của Luật này;
2. Thay đổi nội dung yêu cầu khởi kiện, nếu
thời hiệu khởi kiện vẫn còn; rút một phần hoặc toàn bộ yêu cầu khởi kiện.
Điều 57. Quyền, nghĩa vụ của người bị kiện
Người bị kiện có các
quyền, nghĩa vụ sau đây:
1. Các quyền, nghĩa vụ quy định
tại Điều 55 của Luật này;
2. Được Tòa án thông báo về việc bị kiện;
3. Chứng minh tính đúng đắn, hợp pháp của
quyết định hành chính, hành vi hành chính bị khởi kiện;
4. Sửa đổi hoặc hủy bỏ quyết định hành chính,
quyết định kỷ luật buộc thôi việc, quyết định giải quyết khiếu nại về quyết
định xử lý vụ việc cạnh tranh, quyết định giải quyết khiếu nại trong hoạt động
kiểm toán nhà nước[29], danh sách cử tri bị khởi kiện; dừng,
khắc phục hành vi hành chính bị khởi kiện.
Điều 58. Quyền, nghĩa vụ của người có quyền
lợi, nghĩa vụ liên quan
1. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có
thể có yêu cầu độc lập, tham gia tố tụng với bên khởi kiện hoặc với bên bị
kiện.
2. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có
yêu cầu độc lập thì có quyền, nghĩa vụ của người khởi kiện quy định tại Điều 56 của Luật này.
3. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan nếu
tham gia tố tụng với bên khởi kiện hoặc chỉ có quyền lợi thì có quyền, nghĩa vụ
quy định tại Điều 55 của Luật này.
4. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan nếu
tham gia tố tụng với bên bị kiện hoặc chỉ có nghĩa vụ thì có quyền, nghĩa vụ
quy định tại khoản 1 và khoản 2 Điều 57 của Luật này.
Điều 59. Kế thừa quyền, nghĩa vụ tố tụng hành
chính
1. Trường hợp người khởi kiện là cá nhân đã
chết mà quyền, nghĩa vụ của người đó được thừa kế thì người thừa kế tham gia tố
tụng.
2. Trường hợp người khởi kiện là cơ quan, tổ
chức bị hợp nhất, sáp nhập, chia, tách, giải thể thì cơ quan, tổ chức hoặc cá
nhân kế thừa quyền, nghĩa vụ của cơ quan, tổ chức cũ thực hiện quyền, nghĩa vụ
tố tụng của cơ quan, tổ chức đó.
3. Trường hợp người bị kiện là người có thẩm
quyền trong cơ quan, tổ chức mà cơ quan, tổ chức đó hợp nhất, sáp nhập, chia,
tách, giải thể thì người tiếp nhận quyền, nghĩa vụ của người đó tham gia tố
tụng.
Trường hợp người bị kiện là người có thẩm
quyền trong cơ quan, tổ chức mà chức danh đó không còn thì người đứng đầu cơ
quan, tổ chức đó thực hiện quyền, nghĩa vụ của người bị kiện.
4. Trường hợp người bị kiện là cơ quan, tổ
chức bị hợp nhất, sáp nhập, chia, tách thì cơ quan, tổ chức kế thừa quyền,
nghĩa vụ của cơ quan, tổ chức cũ thực hiện quyền, nghĩa vụ tố tụng của cơ quan,
tổ chức đó.
Trường hợp người bị kiện là cơ quan, tổ chức
đã giải thể mà không có người kế thừa quyền, nghĩa vụ thì cơ quan, tổ chức cấp
trên thực hiện quyền, nghĩa vụ của người bị kiện.
5. Trường hợp sáp nhập, chia, tách, giải thể,
điều chỉnh địa giới hành chính trong một đơn vị hành chính mà đối tượng của
quyết định hành chính có sự thay đổi thì cơ quan, tổ chức, cá nhân đã ra quyết
định hành chính có trách nhiệm tham gia tố tụng với tư cách là người bị kiện
tại Tòa án nơi cơ quan, tổ chức, cá nhân có quyết định hành chính bị kiện. Cơ
quan tiếp nhận đối tượng của quyết định hành chính bị kiện phải tham gia tố
tụng với tư cách là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan.
6. Việc kế thừa quyền, nghĩa vụ tố tụng có
thể được Tòa án chấp nhận ở bất cứ giai đoạn nào trong quá trình giải quyết vụ
án hành chính.
1. Người đại diện trong tố tụng hành chính
bao gồm người đại diện theo pháp luật và người đại diện theo ủy quyền.
2. Người đại diện theo pháp luật trong tố
tụng hành chính có thể là một trong những người sau đây, trừ trường hợp người
đó bị hạn chế quyền đại diện theo quy định của pháp luật:
a) Cha, mẹ đối với con chưa thành niên;
b) Người giám hộ đối với người được giám hộ;
c) Người được Tòa án chỉ định đối với người
bị hạn chế năng lực hành vi dân sự; người có khó khăn trong nhận thức,
làm chủ hành vi;
d) Người đứng đầu cơ quan, tổ chức do được bổ
nhiệm hoặc bầu theo quy định của pháp luật;
đ) Những người khác theo quy định của pháp
luật.
3. Người đại diện theo ủy quyền trong tố tụng
hành chính phải là người có năng lực hành vi dân sự đầy đủ, được đương sự hoặc
người đại diện theo pháp luật của đương sự ủy quyền bằng văn bản.
Trường hợp hộ gia đình, tổ hợp tác, tổ chức
khác không có tư cách pháp nhân tham gia tố tụng hành chính thì các thành viên
có thể ủy quyền cho một thành viên hoặc người khác làm đại diện tham gia tố
tụng hành chính.
Trường hợp người bị kiện là cơ quan, tổ chức
hoặc người đứng đầu cơ quan, tổ chức thì người bị kiện chỉ được ủy quyền cho
cấp phó của mình đại diện. Người được ủy quyền phải tham gia vào quá trình giải
quyết toàn bộ vụ án, thực hiện đầy đủ các quyền và nghĩa vụ của người bị kiện
theo quy định của Luật này.
4. Người đại diện theo pháp luật, người đại
diện theo ủy quyền trong tố tụng hành chính chấm dứt việc đại diện theo quy
định của Bộ luật Dân sự.
5. Người đại diện theo pháp luật trong tố
tụng hành chính thực hiện các quyền, nghĩa vụ tố tụng hành chính của đương sự
mà mình là đại diện.
Người đại diện theo ủy quyền trong tố tụng
hành chính thực hiện các quyền, nghĩa vụ tố tụng hành chính của người ủy quyền.
Người được ủy quyền không được ủy quyền lại cho người thứ ba.
6. Những người sau đây không được làm người
đại diện:
a) Nếu họ là đương sự trong cùng một vụ án
với người được đại diện mà quyền và lợi ích hợp pháp của họ đối lập với quyền
và lợi ích hợp pháp của người được đại diện;
b) Nếu họ đang là người đại diện trong tố
tụng hành chính cho một đương sự khác mà quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự
đó đối lập với quyền và lợi ích hợp pháp của người được đại diện trong cùng một
vụ án.
7. Cán bộ, công chức trong các cơ quan Tòa
án, Viện kiểm sát, Thanh tra, Thi hành án; công chức, sĩ quan, hạ sĩ quan trong
ngành Công an không được làm người đại diện trong tố tụng hành chính, trừ
trường hợp họ tham gia tố tụng với tư cách là người đại diện cho cơ quan của họ
hoặc với tư cách là người đại diện theo pháp luật.
Điều 61. Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp
pháp của đương sự
1. Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của
đương sự là người tham gia tố tụng để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của
đương sự.
2. Những người sau đây được làm người bảo vệ
quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự khi có yêu cầu của đương sự và được Tòa
án làm thủ tục đăng ký người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự:
a) Luật sư tham gia tố tụng theo quy định của
pháp luật về luật sư;
b) Trợ giúp viên pháp lý hoặc người tham gia
trợ giúp pháp lý theo quy định của pháp luật về trợ giúp pháp lý;
c) Công dân Việt Nam có năng lực hành
vi dân sự đầy đủ, có kiến thức pháp lý, chưa bị kết án hoặc bị kết án nhưng đã
được xóa án tích, không thuộc trường hợp đang bị áp dụng biện pháp xử lý hành
chính, không phải là cán bộ, công chức trong các cơ quan Tòa án, Viện kiểm sát,
Thanh tra, Thi hành án; công chức, sĩ quan, hạ sĩ quan trong ngành Công an.
3. Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của
đương sự có thể bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nhiều đương sự trong cùng
một vụ án, nếu quyền và lợi ích hợp pháp của những người đó không đối lập nhau.
Nhiều người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự có thể cùng bảo vệ
quyền và lợi ích hợp pháp của một đương sự trong vụ án.
4. Khi đề nghị Tòa án làm thủ tục đăng ký
người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự, người đề nghị phải xuất
trình các giấy tờ sau đây:
a) Luật sư phải xuất trình các giấy tờ quy
định tại khoản 2 Điều 27 của Luật Luật sư;
b) Trợ giúp viên pháp lý hoặc người tham gia
trợ giúp pháp lý xuất trình văn bản cử người thực hiện trợ giúp pháp lý của tổ
chức thực hiện trợ giúp pháp lý và thẻ trợ giúp viên pháp lý hoặc thẻ luật sư;
c) Công dân Việt Nam có đủ điều kiện quy định
tại điểm c khoản 2 Điều này xuất trình giấy yêu cầu của đương sự và giấy tờ tùy
thân.
5. Sau khi kiểm tra giấy tờ và thấy người đề
nghị có đủ điều kiện làm người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự
quy định tại các khoản 2, 3 và 4 Điều này thì trong thời hạn 03 ngày làm việc
kể từ ngày nhận được đề nghị, Tòa án phải vào sổ đăng ký người bảo vệ quyền và
lợi ích hợp pháp của đương sự và xác nhận vào giấy yêu cầu người bảo vệ quyền
và lợi ích hợp pháp của đương sự. Trường hợp từ chối đăng ký thì Tòa án phải
thông báo bằng văn bản và nêu rõ lý do cho người đề nghị.
6. Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của
đương sự có các quyền, nghĩa vụ sau đây:
a) Tham gia tố tụng từ khi khởi kiện hoặc bất
cứ giai đoạn nào trong quá trình tố tụng hành chính;
b) Thu thập tài liệu, chứng cứ và cung cấp
tài liệu, chứng cứ cho Tòa án, nghiên cứu hồ sơ vụ án và được ghi chép, sao
chụp những tài liệu cần thiết có trong hồ sơ vụ án để thực hiện việc bảo vệ
quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự, trừ tài liệu, chứng cứ không được công
khai theo quy định tại khoản 2 Điều 96 của Luật này;
c) Tham gia phiên tòa, phiên họp hoặc trong
trường hợp không tham gia thì được gửi văn bản bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp
của đương sự cho Tòa án xem xét;
d) Thay mặt đương sự yêu cầu thay đổi người
tiến hành tố tụng, người tham gia tố tụng khác theo quy định của Luật này;
đ) Giúp đương sự về mặt pháp lý liên quan đến
việc bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của họ; thay mặt đương sự nhận giấy tờ,
văn bản tố tụng mà Tòa án tống đạt hoặc thông báo trong trường hợp được đương
sự ủy quyền và có trách nhiệm chuyển cho đương sự;
e) Các quyền, nghĩa vụ quy định tại các khoản 1, 6, 9, 16, 19 và 20 Điều 55 của Luật này;
g) Quyền, nghĩa vụ khác theo quy định của
pháp luật.
1. Người làm chứng là người biết các tình
tiết có liên quan đến nội dung vụ án được đương sự đề nghị và Tòa án triệu tập tham gia tố tụng. Người mất năng lực hành vi dân sự
không thể là người làm chứng.
2. Người làm chứng có các quyền, nghĩa vụ sau
đây:
a) Cung cấp toàn bộ thông tin, tài liệu, đồ
vật mà mình có được liên quan đến việc giải quyết vụ án;
b) Khai báo trung thực những tình tiết mà
mình biết được liên quan đến việc giải quyết vụ án;
c) Chịu trách nhiệm trước pháp luật về khai
báo của mình, bồi thường thiệt hại do khai báo sai sự thật gây thiệt hại cho
đương sự hoặc cho người khác;
d) Phải có mặt tại Tòa án và tại phiên tòa
theo giấy triệu tập của Tòa án nếu việc lấy lời khai của người làm chứng phải
được thực hiện tại Tòa án, tại phiên tòa; trường hợp người làm chứng
không đến phiên tòa mà không có lý do chính đáng và việc vắng mặt của họ cản
trở việc xét xử thì Hội đồng xét xử có thể ra quyết định dẫn giải người làm
chứng đến phiên tòa;
đ) Phải cam đoan trước Tòa án về việc thực
hiện quyền, nghĩa vụ của mình, trừ trường hợp người làm chứng là người chưa
thành niên;
e) Được từ chối khai báo nếu lời khai của
mình liên quan đến bí mật nhà nước, bí mật nghề nghiệp, bí mật kinh doanh, bí
mật cá nhân hoặc việc khai báo đó ảnh hưởng xấu, bất lợi cho
đương sự là người có quan hệ thân thích với mình;
g) Được nghỉ việc trong thời gian Tòa án
triệu tập hoặc lấy lời khai;
h) Được thanh toán các khoản chi phí có liên
quan theo quy định của pháp luật;
i) Yêu cầu Tòa án đã triệu tập, cơ quan nhà
nước có thẩm quyền bảo vệ tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm, tài sản,
quyền và lợi ích hợp pháp khác của mình khi tham gia tố tụng;
k) Khiếu nại hành vi tố tụng, tố cáo hành vi
vi phạm pháp luật của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng.
1. Người giám định là người có kiến thức,
kinh nghiệm cần thiết theo quy định của pháp luật về lĩnh vực có đối tượng cần
được giám định, được các bên đương sự thỏa thuận lựa chọn hoặc được Tòa án
trưng cầu để giám định đối tượng đó theo yêu cầu của một hoặc các bên đương sự.
2. Người giám định có các quyền, nghĩa vụ sau
đây:
a) Được đọc tài liệu có trong hồ sơ vụ án
liên quan đến đối tượng giám định; yêu cầu Tòa án cung cấp tài liệu cần thiết
cho việc giám định;
b) Đặt câu hỏi đối với người tham gia tố tụng
về những vấn đề liên quan đến đối tượng giám định;
c) Có mặt theo giấy triệu tập của Tòa án, trả
lời những vấn đề liên quan đến việc giám định;
d) Thông báo bằng văn bản cho Tòa án biết về
việc không thể giám định được do việc cần giám định vượt quá khả năng chuyên
môn; tài liệu cung cấp phục vụ cho việc giám định không đủ hoặc không sử dụng
được;
đ) Bảo quản tài liệu đã nhận và gửi trả lại
Tòa án cùng với kết luận giám định hoặc cùng với thông báo về việc không thể
giám định được;
e) Không được tự mình thu thập tài liệu là
đối tượng giám định, tiếp xúc với những người tham gia tố tụng khác nếu việc
tiếp xúc đó ảnh hưởng đến kết quả giám định; không được tiết lộ bí mật thông
tin mà mình biết khi tiến hành giám định hoặc thông báo kết quả giám định cho
người khác, trừ người đã quyết định trưng cầu giám định;
g) Độc lập đưa ra kết luận giám định; kết
luận giám định một cách trung thực, có căn cứ;
h) Được thanh toán các khoản chi phí theo quy
định của pháp luật;
i) Cam đoan trước Tòa án về việc thực hiện
quyền, nghĩa vụ của mình.
3. Người giám định phải từ chối hoặc bị thay
đổi trong những trường hợp sau đây:
a) Đồng thời là đương sự, người đại diện,
người thân thích của đương sự;
b) Đã tham gia tố tụng với tư cách là người
bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự, người làm chứng, người phiên
dịch trong cùng vụ án đó;
c) Đã thực hiện việc giám định đối với cùng
một đối tượng cần giám định trong cùng vụ án đó;
d) Đã tiến hành tố tụng trong vụ án đó với tư
cách là Thẩm phán, Hội thẩm nhân dân, Thẩm tra viên Tòa án[30],
Thư ký Tòa án, Kiểm sát viên, Kiểm tra viên;
đ) Có căn cứ rõ ràng khác cho rằng họ có thể
không vô tư trong khi làm nhiệm vụ.
1. Người phiên dịch là người có khả năng dịch
từ một ngôn ngữ khác ra tiếng Việt và ngược lại trong trường hợp có người tham
gia tố tụng không sử dụng được tiếng Việt. Người phiên dịch được một bên đương
sự lựa chọn hoặc các bên đương sự thỏa thuận lựa chọn và được Tòa án
chấp nhận hoặc được Tòa án yêu cầu để phiên dịch.
Người biết chữ của người khuyết tật nhìn hoặc
người biết nghe, nói bằng ngôn ngữ, ký hiệu của người khuyết tật nghe, người
khuyết tật nói cũng được coi là người phiên dịch.
Trường hợp chỉ có người đại diện hoặc người
thân thích của người khuyết tật nhìn hoặc người khuyết tật nghe, người khuyết
tật nói biết được ngôn ngữ, ký hiệu của họ thì người đại diện hoặc người thân
thích có thể được Tòa án chấp nhận làm phiên dịch cho người khuyết tật đó.
2. Người phiên dịch có các quyền, nghĩa vụ
sau đây:
a) Có mặt theo giấy triệu tập của Tòa án;
b) Phiên dịch trung thực, khách quan, đúng
nghĩa;
c) Đề nghị người tiến hành tố tụng, người
tham gia tố tụng giải thích thêm lời nói cần phiên dịch;
d) Không được tiếp xúc với những người tham
gia tố tụng khác nếu việc tiếp xúc đó ảnh hưởng đến tính trung thực, khách
quan, đúng nghĩa khi phiên dịch;
đ) Được thanh toán các khoản chi phí theo quy
định của pháp luật;
e) Cam đoan trước Tòa án về việc thực hiện
quyền, nghĩa vụ của mình.
3. Người phiên dịch phải từ chối hoặc bị thay
đổi trong những trường hợp sau đây:
a) Đồng thời là đương sự, người đại diện,
người thân thích của đương sự;
b) Đã tham gia tố tụng với tư cách là người
bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự, người làm chứng, người giám định
trong cùng vụ án đó;
c) Đã tiến hành tố tụng trong vụ án đó với
tư cách là Thẩm phán, Hội thẩm nhân dân, Thẩm tra viên Tòa án[31],
Thư ký Tòa án, Kiểm sát viên, Kiểm tra viên;
d) Có căn cứ rõ ràng khác cho rằng họ có thể
không vô tư trong khi làm nhiệm vụ.
1. Trước khi mở phiên tòa, việc từ chối người
giám định, người phiên dịch hoặc đề nghị thay đổi người giám định, người phiên
dịch phải được lập thành văn bản và nêu rõ lý do của việc từ chối hoặc đề nghị
thay đổi; việc thay đổi người giám định, người phiên dịch do Chánh án Tòa án
quyết định.
2. Tại phiên tòa, việc từ chối người giám
định, người phiên dịch hoặc đề nghị thay đổi người giám định, người phiên dịch
phải được ghi vào biên bản phiên tòa; việc thay đổi người giám định, người
phiên dịch do Hội đồng xét xử quyết định sau khi nghe ý kiến của người bị yêu
cầu thay đổi.
CÁC BIỆN PHÁP KHẨN CẤP TẠM THỜI
Điều 66. Quyền yêu cầu áp dụng biện pháp khẩn
cấp tạm thời
1. Trong quá trình giải quyết vụ án, đương
sự, người đại diện của đương sự có quyền yêu cầu Tòa án đang giải quyết vụ án
đó áp dụng một hoặc nhiều biện pháp khẩn cấp tạm thời quy định tại Điều 68 của Luật này để tạm thời giải quyết yêu cầu cấp bách
của đương sự, bảo vệ chứng cứ, bảo toàn tình trạng hiện có tránh gây thiệt hại
không thể khắc phục được, bảo đảm việc giải quyết vụ án hoặc việc thi hành án.
2. Trường hợp do tình thế khẩn cấp, cần phải
bảo vệ ngay chứng cứ, ngăn chặn hậu quả nghiêm trọng có thể xảy ra thì cơ quan,
tổ chức, cá nhân có quyền nộp đơn yêu cầu Tòa án có thẩm quyền ra quyết định áp
dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời quy định tại Điều 68 của Luật
này đồng thời với việc nộp đơn khởi kiện cho Tòa án đó.
3. Người yêu cầu áp dụng biện pháp khẩn cấp
tạm thời không phải thực hiện biện pháp bảo đảm.
Điều 67. Thẩm quyền quyết định áp dụng, thay
đổi, hủy bỏ biện pháp khẩn cấp tạm thời
1. Việc áp dụng, thay đổi, hủy bỏ biện pháp
khẩn cấp tạm thời trước khi mở phiên tòa do một Thẩm phán xem xét, quyết định.
2. Việc áp dụng, thay đổi, hủy bỏ biện pháp
khẩn cấp tạm thời tại phiên tòa do Hội đồng xét xử xem xét, quyết định.
Điều 68. Các biện pháp khẩn cấp tạm thời
1.[32] Tạm đình chỉ việc
thi hành quyết định hành chính, quyết định kỷ luật buộc thôi việc, quyết định
xử lý vụ việc cạnh tranh, một phần hoặc toàn bộ kết luận, kiến nghị kiểm toán
của Kiểm toán nhà nước.
2. Tạm dừng việc thực hiện hành vi hành
chính.
3. Cấm hoặc buộc thực hiện hành vi nhất định.
1. Tạm đình chỉ việc thi hành quyết định hành
chính, quyết định kỷ luật buộc thôi việc, quyết định xử lý vụ việc cạnh tranh
được áp dụng nếu trong quá trình giải quyết vụ án có căn cứ cho rằng việc thi
hành quyết định đó sẽ dẫn đến hậu quả nghiêm trọng không thể khắc phục.
2. Tạm đình chỉ việc thi hành một phần hoặc
toàn bộ kết luận, kiến nghị kiểm toán của Kiểm toán nhà nước nếu trong quá
trình giải quyết vụ án có căn cứ cho rằng việc thi hành một phần hoặc toàn bộ
kết luận, kiến nghị kiểm toán đó sẽ dẫn đến hậu quả nghiêm trọng không thể khắc
phục.
Điều 70. Tạm dừng việc thực hiện hành vi hành
chính
Tạm dừng việc thực hiện hành vi hành chính
được áp dụng nếu có căn cứ cho rằng việc tiếp tục thực hiện hành vi hành chính
sẽ dẫn đến hậu quả nghiêm trọng không thể khắc phục.
Điều 71. Cấm hoặc buộc thực hiện hành vi nhất
định
Cấm hoặc buộc thực hiện hành vi nhất định
được áp dụng nếu trong quá trình giải quyết vụ án có căn cứ cho rằng đương sự
thực hiện hoặc không thực hiện hành vi nhất định làm ảnh hưởng đến việc giải
quyết vụ án hoặc quyền, lợi ích hợp pháp của người khác có liên quan trong vụ
án đang được Tòa án giải quyết.
Điều 72. Trách nhiệm trong việc yêu cầu, áp
dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời
1. Đương sự yêu cầu Tòa án ra quyết định áp
dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời phải chịu trách nhiệm trước pháp luật về yêu
cầu của mình, nếu gây thiệt hại thì phải bồi thường theo quy định của pháp
luật.
2. Tòa án áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời
không đúng với yêu cầu của đương sự mà gây thiệt hại cho người bị áp dụng biện
pháp khẩn cấp tạm thời hoặc gây thiệt hại cho người thứ ba thì Tòa án phải bồi
thường.
3. Tòa án áp dụng
biện pháp khẩn cấp tạm thời không đúng thời hạn theo quy định của pháp luật
hoặc không áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời mà không có lý do chính đáng,
gây thiệt hại cho người có yêu cầu áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời thì Tòa
án phải bồi thường.
4. Việc bồi thường
thiệt hại theo quy định tại khoản 2 và khoản 3 Điều này được thực hiện theo quy
định của Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước.
Điều 73. Thủ tục áp dụng biện pháp khẩn cấp
tạm thời
1. Người yêu cầu Tòa án áp dụng biện pháp
khẩn cấp tạm thời phải làm đơn gửi đến Tòa án có thẩm quyền kèm theo tài liệu,
chứng cứ để chứng minh cho sự cần thiết áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời.
2. Đơn yêu cầu áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm
thời phải có các nội dung chính sau đây:
a) Ngày, tháng, năm viết đơn;
b) Tên, địa chỉ; số điện thoại, fax, địa chỉ
thư điện tử (nếu có) của người yêu cầu áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời;
c) Tên, địa chỉ; số điện thoại, fax, địa chỉ
thư điện tử (nếu có) của người bị yêu cầu áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời;
d) Tóm tắt nội dung quyết định hành chính,
quyết định kỷ luật buộc thôi việc, quyết định giải quyết khiếu nại về quyết
định xử lý vụ việc cạnh tranh, quyết định giải quyết khiếu nại trong hoạt động
kiểm toán nhà nước[34] hoặc hành vi hành chính bị khởi kiện;
đ) Lý do cần phải áp dụng biện pháp khẩn cấp
tạm thời;
e) Biện pháp khẩn cấp tạm thời cần được áp
dụng và các yêu cầu cụ thể.
3. Đối với trường hợp yêu cầu áp dụng biện
pháp khẩn cấp tạm thời quy định tại khoản 1 Điều 66 của
Luật này, Thẩm phán được phân công giải quyết vụ án phải xem xét, giải
quyết. Trong thời hạn 48 giờ kể từ thời điểm nhận đơn yêu cầu, Thẩm phán phải
ra quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời; trường hợp không chấp nhận
yêu cầu thì Thẩm phán phải thông báo bằng văn bản và nêu rõ lý do cho người yêu
cầu, Viện kiểm sát cùng cấp.
Trường hợp Hội đồng xét xử nhận đơn yêu cầu
áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời tại phiên tòa thì Hội đồng xét xử xem xét
ra quyết định áp dụng ngay biện pháp khẩn cấp tạm thời; trường hợp không chấp
nhận yêu cầu thì Hội đồng xét xử thông báo, nêu rõ lý do cho người yêu cầu và
ghi vào biên bản phiên tòa.
4. Đối với trường hợp yêu cầu áp dụng biện
pháp khẩn cấp tạm thời quy định tại khoản 2 Điều 66 của Luật
này thì sau khi nhận được đơn yêu cầu cùng với đơn khởi kiện và tài liệu,
chứng cứ kèm theo, Chánh án Tòa án chỉ định ngay một Thẩm phán thụ lý giải
quyết đơn yêu cầu. Trong thời hạn 48 giờ kể từ thời điểm nhận được đơn yêu cầu,
Thẩm phán phải xem xét và ra quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời;
nếu không chấp nhận yêu cầu thì Thẩm phán phải thông báo bằng văn bản và nêu rõ
lý do cho người yêu cầu, Viện kiểm sát cùng cấp.
Điều 74. Thay đổi, hủy bỏ biện pháp khẩn cấp
tạm thời
1. Theo yêu cầu của đương sự, Tòa án xem xét,
quyết định thay đổi biện pháp khẩn cấp tạm thời đang được áp dụng khi xét thấy
không còn phù hợp mà cần thiết phải thay đổi bằng biện pháp khẩn cấp tạm thời
khác.
2. Tòa án ra quyết định hủy bỏ biện pháp khẩn
cấp tạm thời đã được áp dụng khi thuộc một trong các trường hợp sau đây:
a) Người yêu cầu áp dụng biện pháp khẩn cấp
tạm thời đề nghị hủy bỏ biện pháp khẩn cấp tạm thời đã được áp dụng;
b) Căn cứ của việc áp dụng biện pháp khẩn cấp
tạm thời không còn;
c) Vụ án đã được giải quyết bằng bản án,
quyết định của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật;
d) Các trường hợp Tòa án trả lại đơn khởi
kiện theo quy định của Luật này;
đ) Vụ án được đình chỉ theo quy định tại Điều 143 của Luật này.
3. Thủ tục thay đổi, hủy bỏ biện pháp khẩn
cấp tạm thời được thực hiện theo quy định tại Điều 73 của Luật
này.
Điều 75. Hiệu lực của quyết định áp dụng,
thay đổi, hủy bỏ biện pháp khẩn cấp tạm thời
1. Quyết định áp dụng, thay đổi, hủy bỏ biện
pháp khẩn cấp tạm thời có hiệu lực thi hành ngay.
2. Tòa án phải cấp hoặc gửi ngay quyết định
áp dụng, thay đổi, hủy bỏ biện pháp khẩn cấp tạm thời cho đương sự, Viện kiểm
sát cùng cấp và cơ quan thi hành án dân sự có thẩm quyền[35].
Điều 76. Khiếu nại, kiến nghị việc áp dụng,
thay đổi, hủy bỏ biện pháp khẩn cấp tạm thời
1. Đương sự có quyền khiếu nại, Viện kiểm sát
có quyền kiến nghị với Chánh án Tòa án đang giải quyết vụ án về quyết định áp
dụng, thay đổi, hủy bỏ biện pháp khẩn cấp tạm thời hoặc việc Thẩm phán không ra
quyết định áp dụng, thay đổi, hủy bỏ biện pháp khẩn cấp tạm thời. Thời hạn
khiếu nại, kiến nghị là 03 ngày làm việc kể từ ngày nhận được quyết định áp
dụng, thay đổi, hủy bỏ biện pháp khẩn cấp tạm thời hoặc thông báo của Thẩm phán
về việc không quyết định áp dụng, thay đổi, hủy bỏ biện pháp khẩn cấp tạm thời.
2. Tại phiên tòa, đương sự có quyền khiếu
nại, Viện kiểm sát có quyền kiến nghị với Hội đồng xét xử về việc áp dụng, thay
đổi, hủy bỏ biện pháp khẩn cấp tạm thời hoặc không áp dụng, thay đổi, hủy bỏ
biện pháp khẩn cấp tạm thời.
Điều 77. Giải quyết khiếu nại, kiến nghị việc
áp dụng, thay đổi, hủy bỏ biện pháp khẩn cấp tạm thời
1. Chánh án Tòa án phải xem xét, giải quyết
khiếu nại, kiến nghị quy định tại khoản 1 Điều 76 của Luật này
trong thời hạn 03 ngày làm việc kể từ ngày nhận được khiếu nại, kiến nghị.
2. Quyết định giải quyết khiếu nại, kiến nghị
của Chánh án Tòa án là quyết định cuối cùng và phải được cấp hoặc gửi ngay cho
đương sự, Viện kiểm sát cùng cấp và cơ quan thi hành án dân sự có thẩm quyền[36].
3. Việc giải quyết khiếu nại, kiến nghị tại
phiên tòa thuộc thẩm quyền của Hội đồng xét xử. Quyết định giải quyết khiếu
nại, kiến nghị của Hội đồng xét xử là quyết định cuối cùng.
Điều 78. Nghĩa vụ cung cấp chứng cứ, chứng
minh trong tố tụng hành chính
1. Người khởi kiện có nghĩa vụ cung cấp bản
sao quyết định hành chính hoặc quyết định kỷ luật buộc thôi việc, quyết định
giải quyết khiếu nại về quyết định xử lý vụ việc cạnh tranh, quyết định giải
quyết khiếu nại trong hoạt động kiểm toán nhà nước[37], bản
sao quyết định giải quyết khiếu nại (nếu có), cung cấp chứng cứ khác để bảo vệ
quyền, lợi ích hợp pháp của mình; trường hợp không cung cấp được thì phải nêu
rõ lý do.
2. Người bị kiện có nghĩa vụ cung cấp cho Tòa
án hồ sơ giải quyết khiếu nại (nếu có) và bản sao các văn bản, tài liệu mà căn
cứ vào đó để ra quyết định hành chính, quyết định kỷ luật buộc thôi việc, quyết
định giải quyết khiếu nại về quyết định xử lý vụ việc cạnh tranh, quyết định
giải quyết khiếu nại trong hoạt động kiểm toán nhà nước[38]
hoặc có hành vi hành chính.
3. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có
nghĩa vụ cung cấp chứng cứ để bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của mình.
Điều 79. Những tình tiết, sự kiện không phải
chứng minh
1. Những tình tiết, sự kiện sau đây không
phải chứng minh:
a) Những tình tiết, sự kiện rõ ràng mà mọi
người đều biết và được Tòa án thừa nhận;
b) Những tình tiết, sự kiện đã được xác định
trong bản án, quyết định của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật;
c) Những tình tiết, sự kiện đã được ghi trong
văn bản và được công chứng, chứng thực hợp pháp; trường hợp có nghi ngờ về tính
xác thực của tình tiết, sự kiện trong văn bản này thì Thẩm phán có thể yêu cầu
cơ quan, tổ chức, cá nhân đã cung cấp, giao nộp văn bản xuất trình văn bản gốc,
bản chính.
2. Một bên đương sự thừa nhận hoặc không phản
đối những tình tiết, sự kiện, tài liệu, văn bản mà bên đương sự
kia đưa ra thì bên đương sự đưa ra tình tiết, sự kiện, tài liệu,
văn bản đó không phải chứng minh. Đương sự có người đại diện tham gia tố tụng
thì sự thừa nhận hoặc không phản đối của người đại diện được coi là sự thừa
nhận của đương sự nếu không vượt quá phạm vi đại diện.
Chứng cứ trong vụ án hành chính là những gì
có thật được đương sự, cơ quan, tổ chức, cá nhân khác giao nộp, xuất trình cho
Tòa án trong quá trình tố tụng hoặc do Tòa án thu thập được theo trình tự, thủ
tục do Luật này quy định mà Tòa án sử dụng làm căn cứ để xác định các tình tiết
khách quan của vụ án cũng như xác định yêu cầu hay sự phản đối của đương sự là
có căn cứ và hợp pháp.
Chứng cứ được thu thập từ các nguồn sau đây:
1. Tài liệu đọc được, nghe được, nhìn được,
dữ liệu điện tử;
2. Vật chứng;
3. Lời khai của đương sự;
4. Lời khai của người làm chứng;
5. Kết luận giám định;
6. Biên bản ghi kết quả thẩm định tại chỗ;
7. Kết quả định giá, thẩm định giá tài
sản;
8. Văn bản xác nhận sự kiện, hành vi pháp lý
do người có chức năng lập;
9. Văn bản công chứng, chứng thực;
10. Các nguồn khác theo quy định của pháp
luật.
1. Tài liệu đọc được được coi là chứng cứ nếu
là bản chính hoặc bản sao có công chứng, chứng thực hợp pháp hoặc do cơ
quan, tổ chức có thẩm quyền cung cấp, xác nhận.
2. Tài liệu nghe được, nhìn được được coi là
chứng cứ nếu được xuất trình kèm theo văn bản trình bày của người có tài liệu
đó về xuất xứ của tài liệu nếu họ tự thu âm, thu hình hoặc văn bản xác nhận của
người đã cung cấp cho người xuất trình về xuất xứ của tài liệu đó hoặc văn bản
về sự việc liên quan đến việc thu âm, thu hình đó.
3. Thông điệp dữ liệu điện tử được thể hiện
dưới hình thức trao đổi dữ liệu điện tử, chứng từ điện tử, thư điện tử, điện
tín, điện báo, fax và các hình thức tương tự khác theo quy định của pháp luật
về giao dịch điện tử.
4. Vật chứng là chứng cứ phải là hiện vật gốc
liên quan đến vụ việc.
5. Lời khai của đương sự, lời khai của người
làm chứng được coi là chứng cứ nếu được ghi bằng văn bản, băng ghi âm, đĩa ghi
âm, băng ghi hình, đĩa ghi hình, thiết bị khác lưu trữ âm thanh, hình ảnh theo
quy định tại khoản 2 Điều này hoặc khai bằng lời tại phiên tòa.
6. Kết luận giám định được coi là chứng cứ
nếu việc giám định đó được tiến hành theo thủ tục do pháp luật quy định.
7. Biên bản ghi kết quả thẩm định tại chỗ
được coi là chứng cứ nếu việc thẩm định được tiến hành theo thủ tục do pháp
luật quy định.
8. Kết quả định giá, thẩm định giá tài sản
được coi là chứng cứ nếu việc định giá, thẩm định giá được tiến hành theo thủ
tục do pháp luật quy định.
9. Văn bản xác nhận sự kiện, hành vi pháp lý
do người có chức năng lập tại chỗ được coi là chứng cứ nếu việc lập văn bản
xác nhận sự kiện,
hành vi pháp lý được tiến hành theo thủ tục do pháp luật quy định.
10. Các nguồn khác theo quy định của pháp luật được xác định là chứng cứ.
Điều 83. Giao nộp tài liệu, chứng cứ
1. Trong quá trình Tòa án giải quyết vụ án
hành chính, đương sự có quyền và nghĩa vụ giao nộp tài liệu, chứng cứ cho Tòa
án; nếu đương sự không nộp hoặc nộp không đầy đủ tài liệu, chứng cứ do Tòa án
yêu cầu mà không có lý do chính đáng thì Tòa án căn cứ vào tài liệu, chứng cứ
mà đương sự đã giao nộp và Tòa án đã thu thập theo quy định tại khoản
2 Điều 84 của Luật này để giải quyết vụ án.
2. Việc đương sự giao nộp tài liệu, chứng cứ
cho Tòa án phải được lập thành biên bản. Trong biên bản phải ghi rõ tên gọi,
hình thức, nội dung, đặc điểm của tài liệu, chứng cứ; số bản, số trang của tài
liệu, chứng cứ và thời gian nhận; chữ ký hoặc điểm chỉ của người giao nộp, chữ
ký của người nhận và dấu của Tòa án. Biên bản phải lập thành hai bản, một bản
lưu vào hồ sơ vụ án hành chính và một bản giao cho đương sự nộp tài liệu, chứng
cứ giữ.
3. Đương sự giao nộp cho Tòa án tài liệu,
chứng cứ bằng tiếng dân tộc thiểu số, tiếng nước ngoài phải kèm theo bản dịch
sang tiếng Việt được công chứng, chứng thực hợp pháp.
4. Thời gian giao nộp tài liệu, chứng cứ do
Thẩm phán được phân công giải quyết vụ án ấn định nhưng không được quá thời hạn
chuẩn bị xét xử theo thủ tục sơ thẩm quy định tại Điều 130 của
Luật này.
5. Trường hợp tài liệu, chứng cứ đã được giao
nộp chưa bảo đảm đủ cơ sở để giải quyết vụ án thì Thẩm phán yêu cầu đương sự
giao nộp bổ sung tài liệu, chứng cứ.
6. Trường hợp đương sự không thể tự mình thu
thập được tài liệu, chứng cứ và có yêu cầu hoặc xét thấy cần thiết, Tòa án có
thể tự mình hoặc ủy thác tiến hành xác minh, thu thập tài liệu, chứng cứ để làm
rõ các tình tiết của vụ án.
Điều 84. Xác minh, thu thập tài liệu, chứng
cứ
1. Đương sự có quyền tự mình thu thập chứng
cứ bằng những biện pháp sau đây:
a) Thu thập tài liệu đọc được, nghe được,
nhìn được, thông điệp dữ liệu điện tử;
b) Thu thập vật chứng;
c) Xác định người làm chứng và lấy xác nhận
của người làm chứng;
d) Yêu cầu cơ quan, tổ chức, cá nhân cho sao
chép hoặc cung cấp những tài liệu có liên quan đến việc giải quyết vụ án mà cơ
quan, tổ chức, cá nhân đó đang lưu giữ, quản lý;
đ) Yêu cầu Ủy ban nhân dân cấp xã chứng thực
chữ ký của người làm chứng;
e) Yêu cầu Tòa án thu thập tài liệu, chứng cứ
nếu đương sự không thể thu thập tài liệu, chứng cứ;
g) Yêu cầu Tòa án ra quyết định trưng cầu
giám định, định giá tài sản;
h) Yêu cầu cơ quan, tổ chức, cá nhân
thực hiện các công việc khác theo quy định của pháp luật.
2. Trong các trường hợp do Luật này quy định,
Thẩm phán có thể tiến hành một hoặc một số biện pháp sau đây để thu thập
tài liệu, chứng cứ:
a) Lấy lời khai của đương sự, người làm
chứng;
b) Đối chất giữa các đương sự với nhau, giữa
các đương sự với người làm chứng;
c) Xem xét, thẩm định tại chỗ;
d) Trưng cầu giám định;
đ) Quyết định định giá tài sản;
e) Ủy thác thu thập, xác minh tài liệu, chứng
cứ;
g) Yêu cầu cơ quan, tổ chức, cá nhân cung cấp
tài liệu đọc được, nghe được, nhìn được hoặc hiện vật khác liên quan đến việc
giải quyết vụ án;
h) Biện pháp khác theo quy định của Luật này.
3. Khi tiến hành các biện pháp quy định tại
các điểm c, d, đ, e và g khoản 2 Điều này, Thẩm phán phải ra quyết định, trong
đó nêu rõ lý do và yêu cầu của Tòa án.
4. Trong giai đoạn giám đốc thẩm, tái thẩm,
Thẩm tra viên Tòa án[39] có thể tiến hành các biện pháp thu
thập chứng cứ quy định tại điểm a và điểm g khoản 2 Điều này.
Khi Thẩm tra viên Tòa án[40]
tiến hành biện pháp quy định tại điểm g khoản 2 Điều này, Tòa án phải ra quyết
định, trong đó nêu rõ lý do và yêu cầu của Tòa án.
5. Trong thời hạn 03 ngày làm
việc kể từ ngày thu thập được tài liệu, chứng cứ, Tòa án phải thông báo cho các
đương sự để họ thực hiện quyền, nghĩa vụ của mình.
6. Viện kiểm sát có quyền yêu cầu Tòa án xác
minh, thu thập tài liệu, chứng cứ trong quá trình giải quyết vụ án. Trường hợp
kháng nghị bản án hoặc quyết định của Tòa án theo thủ tục phúc thẩm, giám đốc
thẩm, tái thẩm thì Viện kiểm sát có thể xác minh, thu thập tài liệu, chứng cứ
để bảo đảm cho việc kháng nghị.
Điều 85. Lấy lời khai của đương sự
1. Thẩm phán chỉ tiến hành lấy lời khai của
đương sự khi đương sự chưa có bản khai hoặc nội dung bản khai chưa đầy đủ, rõ
ràng. Đương sự phải tự viết bản khai và ký tên của mình. Trường hợp đương sự
không thể tự viết được thì Thẩm phán lấy lời khai của đương sự. Việc lấy lời
khai của đương sự chỉ tập trung vào những tình tiết mà đương sự khai chưa đầy
đủ, rõ ràng. Thẩm phán tự mình hoặc Thư ký Tòa án ghi lại lời khai của đương sự
vào biên bản. Thẩm phán lấy lời khai của đương sự tại trụ sở Tòa án, trong trường
hợp cần thiết có thể lấy lời khai của đương sự ngoài trụ sở Tòa án.
2. Biên bản ghi lời khai của đương sự phải
được người khai tự đọc lại hay nghe đọc lại và ký tên hoặc điểm chỉ. Đương sự
có quyền yêu cầu ghi những sửa đổi, bổ sung vào biên bản ghi lời khai và ký tên
hoặc điểm chỉ xác nhận.
Biên bản phải có chữ ký của người lấy lời
khai, người ghi biên bản và dấu của Tòa án; nếu biên bản được ghi thành nhiều
trang rời nhau thì phải ký vào từng trang và đóng dấu giáp lai. Trường hợp biên
bản ghi lời khai của đương sự được lập ngoài trụ sở Tòa án thì phải có người
làm chứng hoặc xác nhận của Ủy ban nhân dân cấp xã, công an xã, phường, đặc
khu[41] hoặc cơ quan, tổ chức nơi lập biên bản. Trường hợp
đương sự không biết chữ thì phải có người làm chứng do đương sự chọn.
3. Việc lấy lời khai của đương sự chưa
đủ mười tám tuổi, người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự hoặc người có khó
khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi phải được tiến hành với sự có mặt của
người đại diện theo pháp luật hoặc người đang thực hiện việc quản lý, trông nom
người đó.
Điều 86. Lấy lời khai của người làm chứng
1. Theo yêu cầu của đương sự hoặc khi xét
thấy cần thiết, Thẩm phán tiến hành lấy lời khai của người làm chứng.
2. Thủ tục lấy lời khai của người làm chứng
được tiến hành như việc lấy lời khai của đương sự theo quy định tại Điều 85 của Luật này.
1. Theo yêu cầu của đương sự hoặc khi xét
thấy có sự mâu thuẫn trong lời khai của các đương sự, người làm chứng, Thẩm
phán tiến hành đối chất giữa các đương sự với nhau, giữa đương sự với người làm
chứng hoặc giữa những người làm chứng với nhau.
2. Việc đối chất phải được lập thành biên
bản, có chữ ký hoặc điểm chỉ của những người tham gia đối chất.
Điều 88. Xem xét, thẩm định tại chỗ
1. Thẩm phán tiến hành xem xét, thẩm định tại
chỗ với sự có mặt của đại diện Ủy ban nhân dân cấp xã, công an xã, phường,
đặc khu[42] hoặc cơ quan, tổ chức nơi có đối tượng cần xem
xét, thẩm định; phải báo trước việc xem xét, thẩm định tại chỗ để đương sự biết
và chứng kiến việc xem xét, thẩm định đó.
2. Việc xem xét, thẩm định tại chỗ phải được
lập biên bản. Biên bản phải ghi rõ kết quả xem xét, thẩm định, mô tả rõ hiện
trường, có chữ ký của người xem xét, thẩm định và chữ ký hoặc điểm chỉ của
đương sự nếu họ có mặt, của đại diện Ủy ban nhân dân cấp xã, công an xã,
phường, đặc khu[43] hoặc cơ quan, tổ chức nơi có đối tượng
cần xem xét, thẩm định và những người khác được mời tham gia việc xem xét, thẩm
định. Biên bản phải được đại diện Ủy ban nhân dân cấp xã, công an xã, phường,
đặc khu[44] hoặc cơ quan, tổ chức nơi có đối tượng cần xem
xét, thẩm định ký tên và đóng dấu xác nhận.
3. Nghiêm cấm mọi hành vi cản trở việc xem
xét, thẩm định tại chỗ.
4. Thẩm phán có quyền đề nghị Ủy ban nhân dân
cấp xã, công an xã, phường, đặc khu[45] nơi tiến hành xem
xét, thẩm định tại chỗ hỗ trợ trong trường hợp có hành vi cản trở việc xem xét,
thẩm định tại chỗ.
Điều 89. Trưng cầu giám định, yêu cầu giám
định
1. Đương sự có quyền yêu cầu Tòa án trưng cầu
giám định hoặc tự mình yêu cầu giám định sau khi đã đề nghị Tòa án trưng cầu
giám định nhưng Tòa án từ chối yêu cầu của đương sự. Quyền tự yêu cầu giám định
được thực hiện trước khi Tòa án ra quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm.
2. Theo yêu cầu của đương sự hoặc khi
xét thấy cần thiết, Thẩm phán ra quyết định trưng cầu giám định. Trong quyết
định trưng cầu giám định phải ghi rõ tên, địa chỉ của người giám định, đối
tượng cần giám định, những vấn đề cần giám định, các yêu cầu cụ thể cần có kết
luận của người giám định.
3. Trường hợp xét thấy kết luận giám định
chưa rõ ràng thì theo yêu cầu của đương sự hoặc khi xét thấy cần thiết, Tòa án
yêu cầu người giám định giải thích kết luận giám định, triệu tập người giám
định đến phiên tòa để trực tiếp trình bày về nội dung liên quan.
4. Theo yêu cầu của đương sự hoặc khi xét
thấy cần thiết, Tòa án ra quyết định giám định bổ sung trong trường hợp nội
dung kết luận giám định chưa rõ, chưa đầy đủ hoặc khi phát sinh vấn đề mới liên
quan đến tình tiết của vụ án đã được kết luận giám định trước đó.
5. Việc giám định lại được thực hiện trong
trường hợp có căn cứ cho rằng kết luận giám định lần đầu không chính xác, có vi
phạm pháp luật hoặc trong trường hợp đặc biệt theo quyết định của Viện trưởng
Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Chánh án Tòa án nhân dân tối cao theo quy định
của Luật Giám định tư pháp.
Điều 90. Trưng cầu giám định chứng cứ bị tố
cáo là giả mạo
1. Trường hợp chứng cứ bị tố cáo là giả mạo
thì người đưa ra chứng cứ đó có quyền rút lại; nếu không rút lại thì người tố
cáo có quyền yêu cầu Tòa án hoặc Tòa án có quyền quyết định trưng cầu giám định
theo quy định tại Điều 89 của Luật này.
2. Trường hợp việc giả mạo chứng cứ có dấu
hiệu tội phạm thì Tòa án chuyển cho Cơ quan điều tra có thẩm quyền xem xét theo
quy định của pháp luật về tố tụng hình sự.
3. Người đưa ra chứng cứ được kết luận là giả
mạo phải bồi thường thiệt hại theo quy định của pháp luật nếu việc giả mạo
chứng cứ đó gây thiệt hại cho người khác và phải chịu chi phí giám định nếu Tòa
án quyết định trưng cầu giám định.
Điều 91. Định giá tài sản, thẩm định giá tài
sản
1. Đương sự có quyền cung cấp giá tài sản;
thỏa thuận về việc xác định giá tài sản và cung cấp cho Tòa án.
2. Các đương sự có quyền thỏa thuận lựa chọn
tổ chức thẩm định giá tiến hành thẩm định giá tài sản và cung cấp kết
quả thẩm định giá cho Tòa án.
Việc thẩm định giá tài sản được thực hiện
theo quy định của pháp luật về thẩm định giá tài sản.
3. Tòa án ra quyết định định giá tài sản và
thành lập Hội đồng định giá khi thuộc một trong các trường hợp sau đây:
a) Theo yêu cầu của một hoặc các bên đương
sự;
b) Các đương sự đưa ra giá tài sản khác nhau
hoặc không thỏa thuận được giá tài sản;
c) Các đương sự không thỏa thuận lựa chọn tổ
chức thẩm định giá tài sản;
d) Người khởi kiện thỏa thuận với tổ chức thẩm
định giá để thẩm định giá tài sản theo mức giá cao hơn so với giá thị trường
nơi có tài sản định giá tại thời điểm định giá nhằm thu lợi bất chính từ tài
sản của Nhà nước hoặc người bị kiện thỏa thuận với tổ chức thẩm định giá để
thẩm định giá tài sản theo mức giá thấp hơn so với giá thị trường nhằm trốn
tránh trách nhiệm bồi thường cho người bị thiệt hại hoặc có căn cứ cho thấy tổ
chức thẩm định giá có vi phạm pháp luật khi thẩm định giá.
4. Trình tự, thủ tục thành lập Hội
đồng định giá được thực hiện như sau:
a) Hội đồng định giá do Tòa án thành lập gồm
Chủ tịch Hội đồng định giá là đại diện cơ quan tài chính và thành viên là đại
diện các cơ quan chuyên môn có liên quan. Người đã tiến hành tố tụng trong vụ
án đó, người quy định tại Điều 45 của Luật này không được
tham gia Hội đồng định giá.
Hội đồng định giá chỉ tiến hành định giá khi
có mặt đầy đủ các thành viên của Hội đồng. Trường hợp cần thiết, đại diện Ủy
ban nhân dân cấp xã nơi có tài sản định giá được mời chứng kiến việc định giá.
Các đương sự được thông báo trước về thời gian, địa điểm tiến hành định giá, có
quyền tham dự và phát biểu ý kiến về việc định giá. Quyền quyết định về giá đối
với tài sản định giá thuộc Hội đồng định giá;
b) Cơ quan tài chính và các cơ quan chuyên
môn có liên quan có trách nhiệm cử người tham gia Hội đồng định giá và tạo điều
kiện để họ làm nhiệm vụ. Người được cử làm thành viên Hội đồng định giá có
trách nhiệm tham gia đầy đủ vào việc định giá. Trường hợp cơ quan tài chính,
các cơ quan chuyên môn không cử người tham gia Hội đồng định giá thì Tòa
án yêu cầu cơ quan quản lý có thẩm quyền trực tiếp chỉ đạo cơ quan tài chính,
cơ quan chuyên môn thực hiện yêu cầu của Tòa án. Người được cử tham gia
Hội đồng định giá không tham gia mà không có lý do chính đáng thì Tòa án yêu
cầu lãnh đạo cơ quan đã cử người tham gia Hội đồng định giá xem xét trách
nhiệm, cử người khác thay thế và thông báo cho Tòa án biết để tiếp tục tiến
hành định giá;
c) Việc định giá phải được lập thành biên
bản, trong đó ghi rõ ý kiến của từng thành viên, của đương sự nếu họ tham dự.
Quyết định của Hội đồng định giá phải được quá nửa tổng số thành viên biểu
quyết tán thành. Các thành viên Hội đồng định giá, đương sự, người chứng kiến
ký tên vào biên bản.
5. Việc định giá lại tài sản được thực hiện
trong trường hợp có căn cứ cho rằng kết quả định giá lần đầu không chính xác
hoặc không phù hợp với giá thị trường nơi có tài sản định giá tại
thời điểm giải quyết vụ án hành chính.
Điều 92. Ủy thác thu thập tài liệu, chứng cứ
1. Trong quá trình giải quyết vụ án hành
chính, Tòa án có thể ra quyết định ủy thác để Tòa án khác hoặc cơ quan có thẩm
quyền quy định tại khoản 4 Điều này lấy lời khai của đương sự, người làm chứng,
xem xét, thẩm định tại chỗ, định giá tài sản hoặc các biện pháp khác để thu
thập tài liệu, chứng cứ, xác minh tình tiết của vụ án hành chính.
2. Trong quyết định ủy thác phải ghi rõ tên,
địa chỉ của người khởi kiện, người bị kiện và những công việc cụ thể ủy thác để
thu thập tài liệu, chứng cứ.
3. Tòa án nhận được quyết định ủy thác có
trách nhiệm thực hiện công việc cụ thể được ủy thác trong thời hạn 30 ngày kể
từ ngày nhận được quyết định ủy thác và thông báo kết quả bằng văn bản cho Tòa
án đã ra quyết định ủy thác; trường hợp không thực hiện được việc ủy thác thì
phải thông báo bằng văn bản và nêu rõ lý do cho Tòa án đã ra quyết định ủy
thác.
4. Trường hợp việc thu thập tài liệu, chứng
cứ phải tiến hành ở nước ngoài thì Tòa án làm thủ tục ủy thác thông qua cơ quan
có thẩm quyền của Việt Nam hoặc cơ quan có thẩm quyền của nước ngoài mà nước đó
và Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên của điều ước quốc tế có quy
định về vấn đề này hoặc thực hiện trên nguyên tắc có đi có lại nhưng không trái
với pháp luật Việt Nam, phù hợp với pháp luật và tập quán quốc tế.
5. Trường hợp không thực hiện được việc ủy
thác theo quy định tại khoản 3 và khoản 4 Điều này hoặc đã thực hiện việc ủy
thác nhưng không nhận được kết quả trả lời thì Tòa án giải quyết vụ án trên cơ
sở chứng cứ đã có trong hồ sơ vụ án.
Điều 93. Yêu cầu cơ quan, tổ chức, cá nhân
cung cấp tài liệu, chứng cứ
1. Đương sự có quyền yêu cầu cơ quan, tổ
chức, cá nhân cung cấp tài liệu, chứng cứ. Khi yêu cầu cơ quan, tổ chức, cá
nhân cung cấp tài liệu, chứng cứ thì đương sự phải làm đơn ghi rõ tài liệu,
chứng cứ cần cung cấp, lý do yêu cầu cung cấp tài liệu, chứng cứ; họ, tên, địa
chỉ của cá nhân, tên, địa chỉ của cơ quan, tổ chức đang quản lý, lưu giữ tài
liệu, chứng cứ cần cung cấp.
Cơ quan, tổ chức, cá nhân có trách nhiệm cung
cấp tài liệu, chứng cứ cho đương sự trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được
yêu cầu; trường hợp không cung cấp được thì phải trả lời bằng văn bản và nêu rõ
lý do cho người có yêu cầu biết.
2. Trường hợp đương sự đã áp dụng các biện
pháp cần thiết để thu thập chứng cứ mà vẫn không thể tự mình thu thập được thì
có thể đề nghị Tòa án ra quyết định yêu cầu cơ quan, tổ chức, cá nhân đang lưu
giữ, quản lý tài liệu, chứng cứ cung cấp tài liệu, chứng cứ cho mình hoặc tiến
hành thu thập tài liệu, chứng cứ bảo đảm cho việc giải quyết vụ án hành chính.
Đương sự yêu cầu Tòa án tiến hành thu thập
tài liệu, chứng cứ phải làm đơn ghi rõ vấn đề cần chứng minh; chứng cứ cần thu
thập; lý do vì sao tự mình không thu thập được; họ, tên, địa chỉ của cá nhân,
tên, địa chỉ của cơ quan, tổ chức đang quản lý, lưu giữ tài liệu, chứng cứ cần
thu thập.
3. Trường hợp có yêu cầu của đương sự hoặc
xét thấy cần thiết, Tòa án yêu cầu cơ quan, tổ chức, cá nhân đang quản lý, lưu
giữ cung cấp cho mình tài liệu, chứng cứ.
Cơ quan, tổ chức, cá nhân đang quản lý, lưu
giữ tài liệu, chứng cứ có trách nhiệm cung cấp đầy đủ tài liệu, chứng cứ theo
yêu cầu của Tòa án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được yêu cầu; trường
hợp hết thời hạn này mà không cung cấp đầy đủ tài liệu, chứng cứ theo yêu cầu
của Tòa án thì cơ quan, tổ chức, cá nhân được yêu cầu phải trả lời bằng văn bản
và nêu rõ lý do cho Tòa án. Cơ quan, tổ chức, cá nhân không thực hiện yêu cầu
của Tòa án mà không có lý do chính đáng có thể bị xử lý theo quy định của Luật
này và pháp luật có liên quan. Việc xử lý trách nhiệm đối với cơ quan, tổ chức,
cá nhân không phải là lý do miễn nghĩa vụ cung cấp tài liệu, chứng cứ cho Tòa
án.
4. Trường hợp Viện kiểm sát có yêu cầu cung
cấp tài liệu, chứng cứ thì cơ quan, tổ chức, cá nhân có trách nhiệm thực hiện
theo quy định tại khoản 3 Điều này.
Điều 94. Bảo quản tài liệu, chứng cứ
1. Tài liệu, chứng cứ đã được giao nộp tại
Tòa án thì việc bảo quản tài liệu, chứng cứ đó do Tòa án chịu trách nhiệm.
2. Tài liệu, chứng cứ không thể giao nộp được
tại Tòa án thì người đang lưu giữ tài liệu, chứng cứ đó có trách nhiệm bảo
quản.
3. Trường hợp cần giao tài liệu, chứng cứ cho
người thứ ba bảo quản thì Thẩm phán ra quyết định và lập biên bản giao cho
người đó bảo quản. Người nhận bảo quản phải ký tên vào biên bản, được hưởng thù
lao và phải chịu trách nhiệm về việc bảo quản tài liệu, chứng cứ theo quy định
của pháp luật.
4. Nghiêm cấm việc hủy hoại tài liệu, chứng
cứ.
1. Việc đánh giá chứng cứ phải khách quan,
toàn diện, đầy đủ và chính xác.
2. Tòa án phải đánh giá từng chứng cứ, sự
liên quan giữa các chứng cứ và khẳng định tính hợp pháp, tính liên quan, giá
trị chứng minh của từng chứng cứ.
Điều 96. Công bố và sử dụng chứng cứ
1. Mọi chứng cứ được công bố và sử dụng công
khai như nhau, trừ trường hợp quy định tại khoản 2 Điều này.
2. Tòa án không công khai nội dung
chứng cứ có liên quan đến bí mật nhà nước, thuần phong, mỹ tục của dân tộc, bí
mật nghề nghiệp, bí mật kinh doanh, bí mật cá nhân theo yêu cầu chính đáng của
đương sự nhưng phải thông báo cho đương sự biết những chứng cứ không được công
khai.
3. Người tiến hành tố tụng, người tham gia tố
tụng phải giữ bí mật chứng cứ thuộc trường hợp quy định tại khoản 2 Điều này
theo quy định của pháp luật.
1. Trường hợp chứng cứ đang bị tiêu hủy, có
nguy cơ bị tiêu hủy hoặc sau này khó có thể thu thập được thì đương sự có quyền
làm đơn đề nghị Tòa án quyết định áp dụng các biện pháp cần thiết để bảo toàn
chứng cứ. Tòa án có thể quyết định áp dụng một hoặc một số trong các biện pháp
niêm phong, thu giữ, chụp ảnh, ghi âm, ghi hình, phục chế, khám nghiệm, lập
biên bản và biện pháp khác.
2. Trường hợp người làm chứng bị đe dọa,
khống chế hoặc mua chuộc để không cung cấp chứng cứ hoặc cung cấp chứng cứ sai
sự thật thì Tòa án có quyền quyết định buộc người có hành vi đe dọa, khống chế
hoặc mua chuộc phải chấm dứt hành vi đe dọa, khống chế hoặc mua chuộc người làm
chứng. Trường hợp hành vi đó có dấu hiệu tội phạm thì Tòa án yêu cầu Viện kiểm
sát xem xét về trách nhiệm hình sự.
Điều 98. Quyền tiếp cận, trao đổi tài liệu,
chứng cứ
1. Đương sự có quyền được biết, ghi chép, sao
chụp, trao đổi tài liệu, chứng cứ do đương sự khác giao nộp cho Tòa án hoặc do
Tòa án thu thập được, trừ tài liệu, chứng cứ quy định tại khoản
2 Điều 96 của Luật này.
2. Khi đương sự giao nộp tài liệu, chứng cứ
cho Tòa án thì trong thời hạn 05 ngày làm việc họ phải thông báo cho đương sự
khác biết về việc họ đã giao nộp tài liệu, chứng cứ cho Tòa án để đương sự khác
liên hệ với Tòa án thực hiện quyền tiếp cận tài liệu, chứng cứ quy định tại
khoản 1 Điều này.
3. Trong thời hạn 05 ngày làm việc kể từ ngày
Tòa án thu thập được tài liệu, chứng cứ thì Tòa án phải thông báo cho đương sự
biết để họ thực hiện quyền tiếp cận tài liệu, chứng cứ quy định tại khoản 1
Điều này.
CẤP, TỐNG ĐẠT, THÔNG BÁO VĂN BẢN TỐ TỤNG
Điều 99. Nghĩa vụ cấp, tống đạt hoặc thông
báo văn bản tố tụng
Tòa án, Viện kiểm sát, cơ quan thi hành án
dân sự có nghĩa vụ cấp, tống đạt hoặc thông báo văn bản tố tụng cho đương sự,
những người tham gia tố tụng khác và cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan
theo quy định của Luật này và quy định khác của pháp luật có liên quan.
Điều 100. Các văn bản tố tụng phải được cấp,
tống đạt hoặc thông báo
1. Thông báo, giấy báo, giấy triệu tập, giấy
mời trong tố tụng hành chính.
2. Bản án, quyết định của Tòa án.
3. Quyết định kháng nghị của Viện kiểm
sát; văn bản của cơ quan thi hành án dân sự.
4. Văn bản tố tụng khác mà pháp luật có quy
định phải cấp, tống đạt hoặc thông báo.
Điều 101. Những người thực hiện việc cấp,
tống đạt hoặc thông báo văn bản tố tụng
1. Người tiến hành tố tụng, người của cơ quan
ban hành văn bản tố tụng được giao nhiệm vụ thực hiện việc cấp, tống đạt hoặc
thông báo văn bản tố tụng.
2. Người có chức năng tống đạt.
3. Ủy ban nhân dân cấp xã nơi người tham gia
tố tụng cư trú hoặc cơ quan, tổ chức nơi người tham gia tố tụng làm việc khi
Tòa án, Viện kiểm sát hoặc cơ quan thi hành án dân sự có yêu cầu.
4. Đương sự, người đại diện của đương sự hoặc
người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự trong những trường hợp do
Luật này quy định.
5. Nhân viên của tổ chức dịch vụ bưu chính.
6. Những người khác theo quy định của pháp
luật.
Điều 102. Các phương thức cấp, tống đạt hoặc
thông báo văn bản tố tụng
1. Cấp, tống đạt, thông báo trực tiếp; qua
dịch vụ bưu chính hoặc người thứ ba được ủy quyền thực hiện việc cấp, tống đạt,
thông báo.
2. Cấp, tống đạt, thông báo bằng phương tiện
điện tử theo yêu cầu của đương sự hoặc người tham gia tố tụng khác phù hợp với
quy định của pháp luật về giao dịch điện tử.
3. Niêm yết công khai.
4. Thông báo trên phương tiện thông tin đại
chúng.
5. Cấp, tống đạt, thông báo bằng phương thức
khác theo quy định tại Điều 303 của Luật này.
Điều 103. Tính hợp lệ của việc cấp, tống đạt
hoặc thông báo văn bản tố tụng
1. Việc cấp, tống đạt hoặc thông báo văn bản
tố tụng được thực hiện theo quy định của Luật này thì được coi là hợp lệ.
2. Người có nghĩa vụ thực hiện việc cấp, tống
đạt hoặc thông báo văn bản tố tụng phải thực hiện theo quy định của Luật này.
Điều 104. Thủ tục cấp, tống đạt hoặc thông
báo văn bản tố tụng
Người thực hiện việc cấp, tống đạt hoặc thông
báo văn bản tố tụng phải trực tiếp chuyển giao cho người được cấp, tống đạt
hoặc thông báo văn bản tố tụng có liên quan. Người được cấp, tống đạt, thông
báo hoặc được ủy quyền cấp, tống đạt, thông báo văn bản tố tụng phải ký nhận
vào biên bản hoặc sổ giao nhận văn bản tố tụng. Thời điểm để tính thời hạn tố
tụng là ngày họ được cấp, tống đạt hoặc thông báo văn bản tố tụng.
Điều 105. Thủ tục cấp, tống đạt hoặc thông
báo bằng phương tiện điện tử
Việc cấp, tống đạt hoặc thông báo bằng phương
tiện điện tử được thực hiện theo quy định của pháp luật về giao dịch điện tử.
Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn thi hành
Điều này.
Điều 106. Thủ tục cấp, tống đạt hoặc thông
báo trực tiếp cho cá nhân
1. Người được cấp, tống đạt hoặc thông báo là
cá nhân thì văn bản tố tụng phải được giao trực tiếp cho họ.
2. Trường hợp người được cấp, tống đạt hoặc
thông báo đã chuyển đến nơi cư trú mới và đã thông báo cho Tòa án việc thay đổi
nơi cư trú thì phải cấp, tống đạt hoặc thông báo theo nơi cư trú mới của họ.
3. Trường hợp người được cấp, tống đạt hoặc
thông báo từ chối nhận văn bản tố tụng thì người thực hiện việc cấp, tống đạt
hoặc thông báo phải lập biên bản trong đó nêu rõ lý do của việc từ chối, có xác
nhận của tổ trưởng tổ dân phố, trưởng thôn, làng, ấp, bản, buôn, phum, sóc (sau
đây gọi chung là tổ trưởng tổ dân phố) hoặc đại diện công an xã, phường, đặc
khu[46] về việc người đó từ chối nhận văn bản tố tụng.
4. Trường hợp người được cấp, tống đạt hoặc
thông báo vắng mặt thì người thực hiện việc cấp, tống đạt hoặc thông báo giao
cho người thân thích có đủ năng lực hành vi dân sự cùng nơi cư trú với họ hoặc
tổ trưởng tổ dân phố để thực hiện việc ký nhận và yêu cầu người này cam kết
giao lại tận tay ngay cho người được cấp, tống đạt hoặc thông báo.
Trường hợp người được cấp, tống đạt hoặc
thông báo vắng mặt mà không rõ thời điểm trở về hoặc không rõ địa chỉ thì người
thực hiện việc cấp, tống đạt hoặc thông báo phải lập biên bản về việc không
thực hiện được việc cấp, tống đạt hoặc thông báo, có xác nhận của tổ trưởng tổ
dân phố hoặc đại diện công an xã, phường, đặc khu[47]; đồng
thời, thực hiện thủ tục niêm yết công khai văn bản cần tống đạt theo quy định
tại Điều 108 của Luật này.
Điều 107. Thủ tục cấp, tống đạt hoặc thông
báo trực tiếp cho cơ quan, tổ chức
Trường hợp người được cấp, tống đạt hoặc
thông báo là cơ quan, tổ chức thì văn bản tố tụng phải được giao trực tiếp cho
người đại diện theo pháp luật hoặc người chịu trách nhiệm nhận văn bản của cơ
quan, tổ chức đó và phải được những người này ký nhận. Trường hợp cơ quan, tổ
chức được cấp, tống đạt hoặc thông báo có người đại diện tham gia tố tụng hoặc
cử người đại diện nhận văn bản tố tụng thì những người này ký nhận văn bản tố
tụng đó. Ngày ký nhận là ngày được cấp, tống đạt hoặc thông báo.
Điều 108. Thủ tục niêm yết công khai
1. Niêm yết công khai văn bản tố tụng được
thực hiện trong trường hợp không thể cấp, tống đạt hoặc thông báo trực tiếp văn
bản tố tụng theo quy định tại Điều 106 và Điều 107 của Luật này.
2. Việc niêm yết công khai văn bản tố tụng do
Tòa án trực tiếp hoặc ủy quyền cho người có chức năng tống đạt hoặc Ủy ban nhân
dân cấp xã nơi đương sự cư trú thực hiện theo thủ tục sau đây:
a) Niêm yết bản chính tại trụ sở Tòa án, Ủy
ban nhân dân cấp xã nơi cư trú hoặc nơi cư trú cuối cùng của cá nhân, nơi có
trụ sở hoặc trụ sở cuối cùng của cơ quan, tổ chức được cấp, tống đạt hoặc thông
báo;
b) Niêm yết bản sao tại nơi cư trú hoặc nơi
cư trú cuối cùng của cá nhân, nơi có trụ sở hoặc trụ sở cuối cùng của cơ quan,
tổ chức được cấp, tống đạt hoặc thông báo;
c) Lập biên bản về việc thực hiện thủ tục
niêm yết công khai, trong đó ghi rõ ngày, tháng, năm niêm yết.
3. Thời hạn niêm yết công khai văn bản tố
tụng là 15 ngày kể từ ngày niêm yết.
Điều 109. Thủ tục thông báo trên phương tiện
thông tin đại chúng
1. Việc thông báo trên phương tiện thông tin
đại chúng chỉ được thực hiện khi pháp luật có quy định hoặc có căn cứ xác định
là việc niêm yết công khai không bảo đảm cho người được cấp, tống đạt hoặc
thông báo nhận được thông tin về văn bản cần được cấp, tống đạt hoặc thông báo.
2. Việc thông báo trên phương tiện thông tin
đại chúng có thể được thực hiện nếu có yêu cầu của đương sự khác. Trường hợp
này, đương sự có yêu cầu thông báo phải chịu chi phí thông báo trên phương tiện
thông tin đại chúng.
3. Thông báo trên phương tiện thông tin đại
chúng phải được đăng trên Cổng thông tin điện tử của Tòa án (nếu có), trên một
trong các báo hàng ngày của trung ương trong ba số liên tiếp và phát sóng trên
Đài phát thanh hoặc Đài truyền hình của trung ương ba lần trong 03 ngày liên
tiếp.
Điều 110. Thông báo kết quả việc cấp, tống
đạt hoặc thông báo văn bản tố tụng
Trường hợp người thực hiện việc cấp, tống đạt
hoặc thông báo văn bản tố tụng không phải là người tiến hành tố tụng, người của
cơ quan ban hành văn bản tố tụng thì người thực hiện phải thông báo ngay bằng
văn bản kết quả việc cấp, tống đạt hoặc thông báo văn bản tố tụng cho Tòa án
hoặc cơ quan ban hành văn bản tố tụng đó.
Điều 111. Phát hiện và kiến nghị sửa đổi, bổ
sung hoặc bãi bỏ văn bản quy phạm pháp luật
1. Trong quá trình giải quyết vụ án hành
chính, nếu phát hiện văn bản quy phạm pháp luật liên quan đến việc giải quyết
vụ án hành chính có dấu hiệu trái với Hiến pháp, luật, văn bản quy phạm pháp
luật của cơ quan nhà nước cấp trên thì Tòa án thực hiện như sau:
a) Trường hợp chưa có quyết định đưa vụ án ra
xét xử thì Chánh án Tòa án đang giải quyết vụ án đó thực hiện việc kiến nghị
theo thẩm quyền hoặc đề nghị người có thẩm quyền quy định tại Điều
112 của Luật này thực hiện việc kiến nghị;
b) Trường hợp đã có quyết định đưa vụ án ra
xét xử hoặc vụ án đang được xem xét theo trình tự giám đốc thẩm, tái thẩm thì
Hội đồng xét xử đề nghị Chánh án Tòa án đang giải quyết vụ án đó thực hiện việc
kiến nghị hoặc đề nghị người có thẩm quyền quy định tại Điều
112 của Luật này thực hiện việc kiến nghị.
2. Văn bản kiến nghị hoặc đề nghị người có
thẩm quyền kiến nghị sửa đổi, bổ sung hoặc bãi bỏ văn bản quy phạm pháp luật
phải có những nội dung chính sau đây:
a) Tên của Tòa án ra văn bản kiến nghị hoặc
đề nghị;
b) Tóm tắt nội dung vụ án và những vấn đề
pháp lý đặt ra để giải quyết vụ án;
c) Tên, số, ngày, tháng, năm của văn bản quy
phạm pháp luật bị kiến nghị sửa đổi, bổ sung hoặc bãi bỏ có liên quan đến việc
giải quyết vụ án;
d) Phân tích những quy định của văn bản quy
phạm pháp luật có dấu hiệu trái với Hiến pháp, luật, văn bản quy phạm pháp luật
của cơ quan nhà nước cấp trên;
đ) Kiến nghị hoặc đề nghị của Tòa án về việc
sửa đổi, bổ sung, bãi bỏ văn bản quy phạm pháp luật đó.
3. Kèm theo văn bản kiến nghị hoặc đề nghị
người có thẩm quyền kiến nghị là văn bản quy phạm pháp luật bị kiến nghị sửa
đổi, bổ sung hoặc bãi bỏ.
Điều 112. Thẩm quyền kiến nghị sửa đổi, bổ
sung hoặc bãi bỏ văn bản quy phạm pháp luật
1.[48] Chánh án Tòa án nhân
dân khu vực có quyền kiến nghị sửa đổi, bổ sung hoặc bãi bỏ văn bản quy phạm
pháp luật của cơ quan nhà nước từ cấp tỉnh trở xuống; báo cáo Chánh án Tòa án
cấp tỉnh đề nghị Chánh án Tòa án nhân dân tối cao kiến nghị sửa đổi, bổ sung
hoặc bãi bỏ văn bản quy phạm pháp luật của cơ quan nhà nước ở trung ương.
2.[49] Chánh án Tòa án cấp
tỉnh có quyền kiến nghị sửa đổi, bổ sung hoặc bãi bỏ văn bản quy phạm pháp luật
của cơ quan nhà nước từ cấp tỉnh trở xuống; đề nghị Chánh án Tòa án nhân dân
tối cao kiến nghị sửa đổi, bổ sung hoặc bãi bỏ văn bản quy phạm pháp luật của
cơ quan nhà nước ở trung ương.
3. Chánh án Tòa án nhân dân tối cao tự
mình hoặc theo đề nghị của Chánh án Tòa án quy định tại khoản 1 và khoản 2 Điều
này kiến nghị sửa đổi, bổ sung hoặc bãi bỏ văn bản quy phạm pháp luật
của cơ quan nhà nước ở trung ương.
4. Trường hợp tại phiên tòa, Hội đồng xét xử
phát hiện văn bản quy phạm pháp luật có dấu hiệu trái với Hiến pháp, luật, văn
bản quy phạm pháp luật của cơ quan nhà nước cấp trên thì Hội đồng xét xử có văn
bản báo cáo Chánh án Tòa án theo quy định tại các khoản 1, 2 và 3 Điều này để
thực hiện quyền kiến nghị; trường hợp này, Hội đồng xét xử có quyền tạm ngừng
phiên tòa theo quy định tại điểm d khoản 1 Điều 187 của
Luật này để chờ ý kiến của Chánh án Tòa án hoặc tạm đình chỉ giải quyết vụ
án khi có văn bản kiến nghị của Chánh án Tòa án có thẩm quyền theo quy định tại
điểm e khoản 1 Điều 141 của Luật này.
Trong thời hạn 10 ngày kể từ ngày nhận được
văn bản đề nghị quy định tại Điều 111 của Luật này thì
Chánh án Tòa án có thẩm quyền kiến nghị phải xem xét và xử lý như sau:
1. Trường hợp đề nghị có căn cứ thì phải ra
văn bản kiến nghị gửi cơ quan nhà nước có thẩm quyền sửa đổi, bổ sung hoặc bãi
bỏ văn bản quy phạm pháp luật và thông báo cho Tòa án đã đề nghị biết để ra
quyết định tạm đình chỉ giải quyết vụ án;
2. Trường hợp đề nghị không có căn cứ thì
phải ra văn bản trả lời cho Tòa án đã đề nghị biết để tiếp tục giải quyết vụ án
theo đúng quy định của pháp luật.
Điều 114. Trách nhiệm thực hiện kiến nghị sửa
đổi, bổ sung hoặc bãi bỏ văn bản quy phạm pháp luật
Cơ quan nhận được kiến nghị sửa đổi, bổ sung
hoặc bãi bỏ văn bản quy phạm pháp luật của Tòa án có trách nhiệm giải quyết như
sau:
1. Trong thời hạn 30 ngày kể từ ngày nhận
được văn bản kiến nghị của Chánh án Tòa án quy định tại Điều
112 của Luật này đối với văn bản quy phạm pháp luật quy định chi tiết,
hướng dẫn thi hành Hiến pháp, luật, văn bản quy phạm pháp luật của cơ quan nhà
nước cấp trên thì cơ quan đã ban hành văn bản đó phải xem xét và trả lời bằng
văn bản cho Tòa án đã kiến nghị. Nếu quá thời hạn này mà không nhận được văn bản trả lời
thì Tòa án áp dụng văn bản có hiệu lực pháp lý cao hơn để giải quyết vụ án;
2. Trường hợp kiến nghị xem xét sửa đổi, bổ
sung hoặc bãi bỏ luật, nghị quyết của Quốc hội, pháp lệnh, nghị quyết của Ủy
ban Thường vụ Quốc hội thì thực hiện theo quy định của pháp luật.
Điều 115. Quyền khởi kiện vụ án
1. Cơ quan, tổ chức, cá nhân có quyền khởi
kiện vụ án đối với quyết định hành chính, hành vi hành chính, quyết định kỷ
luật buộc thôi việc trong trường hợp không đồng ý với quyết định, hành vi đó
hoặc đã khiếu nại với người có thẩm quyền giải quyết, nhưng hết thời hạn giải
quyết theo quy định của pháp luật mà khiếu nại không được giải quyết hoặc đã
được giải quyết nhưng không đồng ý với việc giải quyết khiếu nại về quyết định,
hành vi đó.
2.[50] Cơ quan, tổ chức, cá
nhân có quyền khởi kiện vụ án đối với quyết định giải quyết khiếu nại về quyết
định xử lý vụ việc cạnh tranh, quyết định giải quyết khiếu nại trong hoạt động
kiểm toán nhà nước trong trường hợp không đồng ý với quyết định đó.
3. Cá nhân có quyền khởi kiện vụ án về danh
sách cử tri trong trường hợp đã khiếu nại với cơ quan có thẩm quyền giải quyết,
nhưng hết thời hạn giải quyết theo quy định của pháp luật mà khiếu nại không
được giải quyết hoặc đã được giải quyết, nhưng không đồng ý với việc giải quyết
khiếu nại đó.
1. Thời hiệu khởi kiện là thời hạn mà cơ
quan, tổ chức, cá nhân được quyền khởi kiện để yêu cầu Tòa án giải quyết vụ án
hành chính bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp bị xâm phạm; nếu thời hạn đó kết
thúc thì mất quyền khởi kiện.
2. Thời hiệu khởi kiện đối với từng trường
hợp được quy định như sau:
a) 01 năm kể từ ngày nhận được hoặc biết được
quyết định hành chính, hành vi hành chính, quyết định kỷ luật buộc thôi việc;
b) 30 ngày kể từ ngày nhận được quyết định
giải quyết khiếu nại về quyết định xử lý vụ việc cạnh tranh, quyết định giải
quyết khiếu nại trong hoạt động kiểm toán nhà nước[51];
c) Từ ngày nhận được thông báo kết quả giải
quyết khiếu nại của cơ quan lập danh sách cử tri hoặc kết thúc thời hạn giải
quyết khiếu nại mà không nhận được thông báo kết quả giải quyết khiếu nại của
cơ quan lập danh sách cử tri đến trước ngày bầu cử 05 ngày.
3. Trường hợp đương sự khiếu nại theo đúng
quy định của pháp luật đến cơ quan nhà nước, người có thẩm quyền giải quyết
khiếu nại thì thời hiệu khởi kiện được quy định như sau:
a) 01 năm kể từ ngày nhận được hoặc biết được
quyết định giải quyết khiếu nại lần đầu hoặc quyết định giải quyết khiếu nại
lần hai;
b) 01 năm kể từ ngày hết thời hạn giải quyết
khiếu nại theo quy định của pháp luật mà cơ quan nhà nước, người có thẩm quyền
không giải quyết và không có văn bản trả lời cho người khiếu nại.
4. Trường hợp vì sự kiện bất khả kháng hoặc
trở ngại khách quan khác làm cho người khởi kiện không khởi kiện được trong
thời hạn quy định tại điểm a và điểm b khoản 2 Điều này thì thời gian có sự
kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan khác không tính vào thời hiệu khởi
kiện.
5. Các quy định của Bộ luật Dân sự về cách
xác định thời hạn, thời hiệu được áp dụng trong tố tụng hành chính.
1. Khi khởi kiện vụ án hành chính thì cơ
quan, tổ chức, cá nhân phải làm đơn khởi kiện theo quy định tại Điều
118 của Luật này.
2. Cá nhân có năng lực hành vi tố tụng hành
chính đầy đủ thì có thể tự mình hoặc nhờ người khác làm hộ đơn khởi kiện vụ án.
Tại mục tên, địa chỉ của người khởi kiện trong đơn phải ghi họ, tên, địa chỉ
của cá nhân; ở phần cuối đơn cá nhân phải ký tên hoặc điểm chỉ.
3. Cá nhân là người chưa thành niên, người
mất năng lực hành vi dân sự, người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự, người có
khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi thì người đại diện hợp pháp của họ có
thể tự mình hoặc nhờ người khác làm hộ đơn khởi kiện vụ án. Tại mục tên, địa
chỉ của người khởi kiện trong đơn phải ghi họ tên, địa chỉ của người đại diện
hợp pháp của cá nhân đó; ở phần cuối đơn, người đại diện hợp pháp đó phải ký
tên hoặc điểm chỉ.
4. Cá nhân thuộc trường hợp quy định tại
khoản 2 và khoản 3 Điều này là người không biết chữ, không nhìn được, không thể
tự mình làm đơn khởi kiện, không thể tự mình ký tên hoặc điểm chỉ thì có thể
nhờ người khác làm hộ đơn khởi kiện và phải có người có năng lực hành vi tố
tụng hành chính đầy đủ làm chứng, ký xác nhận vào đơn khởi kiện.
5. Cơ quan, tổ chức là người khởi kiện thì
người đại diện hợp pháp của cơ quan, tổ chức đó có thể tự mình hoặc nhờ người
khác làm hộ đơn khởi kiện vụ án. Tại mục tên, địa chỉ của người khởi kiện phải
ghi tên, địa chỉ của cơ quan, tổ chức và họ, tên, chức vụ của người đại diện
hợp pháp của cơ quan, tổ chức đó; ở phần cuối đơn, người đại diện hợp pháp của
cơ quan, tổ chức phải ký tên và đóng dấu của cơ quan, tổ chức đó; trường hợp tổ
chức khởi kiện là doanh nghiệp thì việc sử dụng con dấu theo quy định của Luật
Doanh nghiệp.
1. Đơn khởi kiện phải có các nội dung chính
sau đây:
a) Ngày, tháng, năm làm đơn;
b) Tòa án được yêu cầu giải quyết vụ án hành
chính;
c) Tên, địa chỉ; số điện thoại, số fax, địa
chỉ thư điện tử (nếu có) của người khởi kiện, người bị kiện, người có quyền
lợi, nghĩa vụ liên quan;
d) Nội dung quyết định hành chính, quyết định
kỷ luật buộc thôi việc, quyết định giải quyết khiếu nại về quyết định xử lý vụ
việc cạnh tranh, quyết định giải quyết khiếu nại trong hoạt động kiểm toán nhà
nước[52], nội dung giải quyết khiếu nại về danh sách cử tri
hoặc tóm tắt diễn biến của hành vi hành chính;
đ) Nội dung quyết định giải quyết khiếu nại
(nếu có);
e) Yêu cầu đề nghị Tòa án giải quyết;
g) Cam đoan về việc không đồng thời khiếu nại
đến người có thẩm quyền giải quyết khiếu nại.
2. Kèm theo đơn khởi kiện phải có tài liệu,
chứng cứ chứng minh quyền, lợi ích hợp pháp của người khởi kiện bị xâm phạm.
Trường hợp vì lý do khách quan mà người khởi kiện không thể nộp đầy đủ các
tài liệu, chứng cứ kèm theo đơn khởi kiện thì họ phải nộp tài liệu, chứng cứ
hiện có để chứng minh quyền, lợi ích hợp pháp của người khởi kiện bị xâm phạm.
Các tài liệu, chứng cứ khác, người khởi kiện phải tự mình bổ sung hoặc bổ sung
theo yêu cầu của Tòa án trong quá trình giải quyết vụ án.
Điều 119. Gửi đơn khởi kiện đến Tòa án
Người khởi kiện gửi đơn khởi kiện và tài
liệu, chứng cứ kèm theo đến Tòa án có thẩm quyền giải quyết vụ án
bằng một trong các phương thức sau đây:
1. Nộp trực tiếp tại Tòa án;
2. Gửi qua dịch vụ bưu chính;
3. Gửi trực tuyến qua Cổng thông tin điện tử
của Tòa án (nếu có).
Điều 120. Xác định ngày khởi kiện vụ án hành
chính
1. Trường hợp người khởi kiện trực tiếp nộp
đơn tại Tòa án có thẩm quyền thì ngày khởi kiện là ngày nộp đơn.
2. Trường hợp người khởi kiện gửi đơn trực
tuyến thì ngày khởi kiện là ngày gửi đơn.
3. Trường hợp người khởi kiện gửi đơn đến Tòa
án qua dịch vụ bưu chính thì ngày khởi kiện là ngày có dấu của tổ chức
dịch vụ bưu chính nơi gửi. Trường hợp không xác định được ngày, tháng,
năm theo dấu bưu chính nơi gửi thì ngày khởi kiện là ngày đương sự gửi đơn tại
tổ chức dịch vụ bưu chính. Đương sự phải chứng minh ngày mình gửi đơn tại tổ
chức dịch vụ bưu chính; trường hợp đương sự không chứng minh được thì ngày khởi
kiện là ngày Tòa án nhận được đơn khởi kiện do tổ chức dịch vụ bưu chính chuyển
đến.
4. Trường hợp chuyển vụ án cho Tòa án khác
theo quy định tại khoản 1 Điều 34 và khoản 3 Điều 165 của Luật
này thì ngày khởi kiện là ngày gửi đơn khởi kiện đến Tòa án đã thụ lý nhưng
không đúng thẩm quyền và được xác định theo quy định tại các khoản 1, 2 và 3
Điều này.
Điều 121. Nhận và xem xét đơn khởi kiện
1. Tòa án nhận đơn khởi kiện do người khởi
kiện nộp trực tiếp tại bộ phận tiếp nhận đơn của Tòa án
hoặc gửi qua dịch vụ bưu chính
và ghi vào sổ nhận đơn. Trường hợp nhận đơn
trực tuyến thì Tòa án in ra bản giấy và ghi vào sổ nhận đơn.
Việc nhận đơn khởi kiện được ghi vào sổ nhận
đơn và thông báo trên Cổng thông tin điện tử của Tòa án (nếu có).
Khi nhận đơn khởi kiện nộp trực tiếp, Tòa án
có trách nhiệm cấp ngay giấy xác nhận đã nhận đơn cho người khởi kiện. Trường
hợp nhận đơn trực tuyến thì Tòa án trả lời cho người khởi kiện biết qua thư
điện tử. Trường hợp nhận đơn qua dịch vụ bưu chính thì trong thời hạn 02 ngày
làm việc kể từ ngày nhận đơn, Tòa án phải gửi thông báo nhận đơn cho người khởi
kiện.
2. Trong thời hạn 03 ngày làm việc kể từ ngày
nhận được đơn khởi kiện, Chánh án Tòa án phân công một Thẩm phán xem xét đơn
khởi kiện.
3. Trong thời hạn 03 ngày làm việc kể từ ngày
được phân công, Thẩm phán phải xem xét đơn khởi kiện và có một trong các quyết
định sau đây:
a) Yêu cầu sửa đổi, bổ sung đơn khởi kiện;
b) Tiến hành thủ tục thụ lý vụ án theo thủ
tục thông thường hoặc theo thủ tục rút gọn nếu vụ án có đủ điều kiện quy định
tại khoản 1 Điều 246 của Luật này;
c) Chuyển đơn khởi kiện cho Tòa án có thẩm
quyền và thông báo cho người khởi kiện nếu vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết
của Tòa án khác;
d) Trả lại đơn khởi kiện cho người khởi kiện,
nếu thuộc một trong các trường hợp quy định tại khoản 1 Điều
123 của Luật này.
4. Kết quả xử lý đơn của Thẩm phán quy định
tại khoản 3 Điều này phải được thông báo cho người khởi kiện, phải ghi chú vào
sổ nhận đơn và thông báo trên Cổng thông tin điện tử của Tòa án (nếu có).
Điều 122. Yêu cầu sửa đổi, bổ sung đơn khởi
kiện
1. Sau khi nhận được đơn khởi kiện, nếu thấy
đơn khởi kiện không có đủ các nội dung quy định tại khoản 1
Điều 118 của Luật này thì Thẩm phán thông báo bằng văn bản và nêu rõ những vấn đề
cần sửa đổi, bổ sung cho người khởi kiện sửa đổi, bổ sung đơn khởi kiện trong
thời hạn 10 ngày kể từ ngày người khởi kiện nhận được thông báo
của Tòa án.
2. Thời gian thực hiện việc sửa đổi, bổ sung
đơn khởi kiện không tính vào thời hiệu khởi kiện.
3. Trường hợp người khởi kiện đã sửa đổi, bổ
sung đơn khởi kiện theo đúng quy định tại khoản 1 Điều 118 của
Luật này thì Thẩm phán tiếp tục việc thụ lý vụ án; nếu họ không sửa đổi, bổ
sung theo yêu cầu của Thẩm phán thì Thẩm phán trả lại đơn khởi kiện và tài
liệu, chứng cứ kèm theo cho người khởi kiện.
Điều 123. Trả lại đơn khởi kiện
1. Thẩm phán trả lại đơn
khởi kiện trong những trường hợp sau đây:
a) Người khởi kiện không có quyền khởi kiện;
b) Người khởi kiện không có năng lực hành vi
tố tụng hành chính đầy đủ;
c) Trường hợp pháp luật có quy định về điều
kiện khởi kiện nhưng người khởi kiện đã khởi kiện đến Tòa án khi còn thiếu một
trong các điều kiện đó;
d) Sự việc đã được giải quyết bằng bản án
hoặc quyết định của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật;
đ) Sự việc không thuộc thẩm quyền giải quyết
của Tòa án;
e) Người khởi kiện lựa chọn giải quyết vụ
việc theo thủ tục giải quyết khiếu nại trong trường hợp quy định tại Điều 33 của Luật này;
g) Đơn khởi kiện không có đủ nội dung quy
định tại khoản 1 Điều 118 của Luật này mà không được người
khởi kiện sửa đổi, bổ sung theo quy định tại Điều 122 của Luật
này;
h) Hết thời hạn được thông báo quy định tại khoản 1 Điều 125 của Luật này mà người khởi kiện không xuất
trình biên lai nộp tiền tạm ứng án phí cho Tòa án, trừ trường hợp người khởi
kiện được miễn nộp tiền tạm ứng án phí, không phải nộp tiền tạm ứng án phí hoặc
có lý do chính đáng.
2. Khi trả lại đơn khởi kiện và tài liệu,
chứng cứ kèm theo cho người khởi kiện, Thẩm phán phải có văn bản ghi rõ lý do
trả lại đơn khởi kiện. Văn bản trả lại đơn khởi kiện được gửi ngay cho Viện
kiểm sát cùng cấp.
Đơn khởi kiện và tài liệu, chứng cứ mà Thẩm
phán trả lại cho người khởi kiện phải được sao lại và lưu tại Tòa án để làm cơ
sở giải quyết khiếu nại, kiến nghị khi có yêu cầu.
Điều 124. Khiếu nại, kiến nghị và giải quyết
khiếu nại, kiến nghị về việc trả lại đơn khởi kiện
1. Trong thời hạn 07 ngày kể từ ngày nhận
được văn bản trả lại đơn khởi kiện, người khởi kiện có quyền khiếu nại, Viện
kiểm sát có quyền kiến nghị với Tòa án đã trả lại đơn khởi kiện.
2. Ngay sau khi nhận được khiếu nại, kiến
nghị về việc trả lại đơn khởi kiện, Chánh án Tòa án phải phân công một Thẩm
phán xem xét, giải quyết khiếu nại, kiến nghị.
3. Trong thời hạn 05 ngày làm việc kể từ ngày
được phân công, Thẩm phán phải mở phiên họp xem xét, giải quyết khiếu nại, kiến
nghị. Phiên họp xem xét, giải quyết khiếu nại, kiến nghị có sự tham gia của đại
diện Viện kiểm sát cùng cấp và đương sự có khiếu nại. Trường hợp người khởi
kiện, Kiểm sát viên vắng mặt thì Thẩm phán vẫn tiến hành phiên họp.
4. Căn cứ vào tài liệu, chứng cứ có liên quan
đến việc trả lại đơn khởi kiện, ý kiến của đại diện Viện kiểm sát và người khởi
kiện có khiếu nại tại phiên họp, Thẩm phán phải ra một trong các quyết định sau
đây:
a) Giữ nguyên việc trả lại đơn khởi kiện và
thông báo cho người khởi kiện, Viện kiểm sát cùng cấp;
b) Nhận lại đơn khởi kiện và tài liệu, chứng
cứ kèm theo để tiến hành việc thụ lý vụ án.
5. Trong thời hạn 07 ngày kể từ ngày nhận
được quyết định trả lời khiếu nại, kiến nghị về việc trả lại đơn khởi kiện của
Thẩm phán, người khởi kiện có quyền khiếu nại, Viện kiểm sát có quyền kiến nghị
với Chánh án Tòa án trên một cấp trực tiếp xem xét, giải quyết.
6. Trong thời hạn 10 ngày kể từ ngày nhận
được khiếu nại, kiến nghị về việc trả lại đơn khởi kiện, Chánh án Tòa án trên
một cấp trực tiếp phải ra một trong các quyết định sau đây:
a) Giữ nguyên việc trả lại đơn khởi kiện;
b) Yêu cầu Tòa án cấp sơ thẩm nhận lại đơn
khởi kiện và tài liệu, chứng cứ kèm theo để tiến hành việc thụ lý vụ án.
Quyết định giải quyết khiếu nại, kiến nghị
của Chánh án Tòa án trên một cấp trực tiếp là quyết định cuối cùng. Quyết định
này phải được gửi ngay cho người khởi kiện, Viện kiểm sát cùng cấp, Viện kiểm
sát đã kiến nghị và Tòa án đã ra quyết định trả lại đơn khởi kiện.
1. Sau khi nhận đơn khởi kiện và tài liệu,
chứng cứ kèm theo, nếu xét thấy thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án thì Thẩm
phán phải thông báo cho người khởi kiện biết để họ nộp tiền tạm ứng án phí;
trường hợp người khởi kiện được miễn nộp tiền tạm ứng án phí hoặc không phải
nộp tiền tạm ứng án phí thì thông báo cho người khởi kiện biết về việc thụ lý
vụ án.
Trong thời hạn 10 ngày kể từ ngày nhận được
thông báo nộp tiền tạm ứng án phí, người khởi kiện phải nộp tiền tạm ứng án phí
và nộp biên lai cho Tòa án.
2. Thẩm phán thụ lý vụ án vào ngày người khởi
kiện nộp biên lai thu tiền tạm ứng án phí. Trường hợp người khởi kiện được miễn
nộp tiền tạm ứng án phí hoặc không phải nộp tiền tạm ứng án phí thì ngày thụ lý
vụ án là ngày Thẩm phán thông báo cho người khởi kiện biết việc thụ lý. Việc
thụ lý vụ án phải được ghi vào sổ thụ lý.
3. Trường hợp hết thời hạn quy định tại khoản
1 Điều này mà người khởi kiện mới nộp cho Tòa án biên lai thu tiền tạm ứng án
phí thì giải quyết như sau:
a) Trường hợp chưa trả lại đơn khởi kiện thì
Thẩm phán tiến hành thụ lý vụ án;
b) Trường hợp đã trả lại đơn khởi kiện mà
người khởi kiện chứng minh được là họ đã nộp tiền tạm ứng án phí đúng thời hạn
quy định, nhưng vì sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan nên họ nộp
biên lai thu tiền tạm ứng án phí cho Tòa án không đúng hạn thì Thẩm phán yêu
cầu họ nộp lại đơn khởi kiện, tài liệu, chứng cứ kèm theo và tiến hành thụ lý
vụ án; trường hợp này ngày khởi kiện là ngày nộp đơn khởi kiện lần đầu;
c) Trường hợp sau khi Thẩm phán trả
lại đơn khởi kiện, người khởi kiện mới nộp tiền tạm ứng án phí và nộp biên lai
thu tiền tạm ứng án phí cho Tòa án, nếu không vì sự kiện bất khả kháng hoặc trở
ngại khách quan thì Thẩm phán yêu cầu họ nộp lại đơn khởi kiện, tài liệu, chứng
cứ kèm theo để tiến hành thụ lý vụ án; trường hợp này ngày khởi kiện là ngày
nộp lại đơn khởi kiện.
4. Trường hợp hết thời hạn quy định tại khoản
1 Điều này mà người khởi kiện không nộp cho Tòa án biên lai thu tiền tạm ứng án
phí thì Tòa án thông báo cho họ biết về việc không thụ lý vụ án với lý do là họ
không nộp tiền tạm ứng án phí. Trường hợp này, người khởi kiện có quyền nộp đơn
khởi kiện lại nếu thời hiệu khởi kiện vẫn còn.
5. Sau khi Thẩm phán thụ lý vụ án mà
Tòa án nhận được đơn yêu cầu độc lập của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan
theo quy định tại Điều 129 của Luật này để giải quyết trong
cùng một vụ án hành chính thì ngày thụ lý vụ án được xác định như sau:
a) Trường hợp người có quyền lợi, nghĩa vụ
liên quan được miễn hoặc không phải nộp tiền tạm ứng án phí thì ngày thụ lý vụ
án là ngày Tòa án nhận được đơn yêu cầu độc lập của người có quyền lợi, nghĩa
vụ liên quan cùng tài liệu, chứng cứ kèm theo;
b) Trường hợp người có quyền lợi, nghĩa vụ
liên quan phải nộp tiền tạm ứng án phí thì ngày thụ lý vụ án là ngày người có
quyền lợi, nghĩa vụ liên quan nộp cho Tòa án biên lai thu tiền tạm ứng án phí;
c) Trường hợp có nhiều người có quyền lợi,
nghĩa vụ liên quan có yêu cầu độc lập thì ngày thụ lý vụ án là ngày Tòa án nhận
được đơn yêu cầu độc lập cuối cùng, nếu họ đều thuộc trường hợp được miễn hoặc
không phải nộp tiền tạm ứng án phí hoặc là ngày người nộp cuối cùng cho Tòa án
biên lai thu tiền tạm ứng án phí, nếu họ thuộc trường hợp phải nộp tiền tạm ứng
án phí.
6. Khi nhận biên lai thu tiền tạm ứng án phí
của đương sự thì Tòa án phải cấp cho họ giấy xác nhận về việc nhận biên lai thu
tiền tạm ứng án phí.
Điều 126. Thông báo về việc thụ lý vụ án
1. Trong thời hạn 03 ngày làm việc
kể từ ngày thụ lý vụ án, Thẩm phán đã thụ lý vụ án phải thông báo
bằng văn bản cho người bị kiện, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến việc
giải quyết vụ án và Viện kiểm sát cùng cấp về việc Tòa án đã thụ lý vụ án và
công bố trên Cổng thông tin điện tử của Tòa án (nếu có).
2. Văn bản thông báo phải có các nội dung
chính sau đây:
a) Ngày, tháng, năm làm văn bản thông báo;
b) Tên, địa chỉ Tòa án đã thụ lý vụ án;
c) Tên, địa chỉ của người khởi kiện, người bị
kiện;
d) Những vấn đề cụ thể người khởi kiện yêu
cầu Tòa án giải quyết;
đ) Vụ án được thụ lý theo thủ tục thông
thường hoặc thủ tục rút gọn;
e) Danh mục tài liệu, chứng cứ người khởi
kiện nộp kèm theo đơn khởi kiện;
g) Thời hạn người bị kiện, người có quyền
lợi, nghĩa vụ liên quan phải nộp ý kiến bằng văn bản về yêu cầu của người khởi
kiện và tài liệu, chứng cứ kèm theo hoặc yêu cầu độc lập (nếu có) cho Tòa án;
h) Hậu quả pháp lý của việc người bị kiện,
người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không nộp cho Tòa án văn bản ghi ý kiến
của mình về yêu cầu của người khởi kiện.
Điều 127. Phân công Thẩm phán giải quyết vụ
án
1. Trên cơ sở báo cáo thụ lý vụ án của Thẩm
phán được phân công thụ lý vụ án, Chánh án Tòa án quyết định phân công Thẩm
phán giải quyết vụ án bảo đảm đúng nguyên tắc vô tư, khách quan, ngẫu nhiên.
2. Trong thời hạn 03 ngày làm việc kể từ ngày
thụ lý vụ án, Chánh án Tòa án quyết định phân công Thẩm phán giải quyết vụ án.
Đối với vụ án phức tạp, việc giải quyết có
thể phải kéo dài thì Chánh án Tòa án phân công Thẩm phán dự khuyết để bảo đảm
xét xử theo đúng thời hạn quy định của Luật này.
3. Trong quá trình giải quyết vụ án, nếu Thẩm
phán được phân công không thể tiếp tục tiến hành được nhiệm vụ thì Chánh án Tòa
án phân công Thẩm phán khác tiếp tục nhiệm vụ; trường hợp đang xét xử mà không
có Thẩm phán dự khuyết thì vụ án phải được xét xử lại từ đầu và thông báo cho
đương sự, Viện kiểm sát cùng cấp.
Điều 128. Quyền, nghĩa vụ của người được
thông báo
1. Trong thời hạn 10 ngày kể từ ngày nhận
được thông báo, người bị kiện, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan phải nộp
cho Tòa án văn bản ghi ý kiến của mình về yêu cầu của người khởi kiện và tài
liệu, chứng cứ kèm theo hoặc yêu cầu độc lập (nếu có).
Trường hợp cần gia hạn thì người được thông
báo phải có đơn xin gia hạn gửi cho Tòa án nêu rõ lý do; nếu việc xin gia hạn
là có căn cứ thì Tòa án gia hạn một lần, nhưng không quá 07 ngày.
2. Trường hợp người bị kiện, người có quyền
lợi, nghĩa vụ liên quan đã nhận được thông báo, nhưng không nộp ý kiến bằng văn
bản trong thời hạn quy định tại khoản 1 Điều này mà không có lý do chính đáng
thì Tòa án tiếp tục giải quyết vụ án theo quy định của Luật này.
3. Người bị kiện, người có quyền lợi, nghĩa
vụ liên quan có quyền yêu cầu Tòa án cho ghi chép, sao chụp đơn khởi kiện và
tài liệu, chứng cứ kèm theo đơn khởi kiện (nếu có), trừ tài liệu, chứng cứ quy
định tại khoản 2 Điều 96 của Luật này.
4. Trong thời hạn 10 ngày kể từ ngày nhận
được thông báo, Viện kiểm sát phân công Kiểm sát viên, Kiểm sát viên dự khuyết
(nếu có) thực hiện nhiệm vụ và thông báo cho Tòa án.
Điều 129. Quyền yêu cầu độc lập của người có
quyền lợi, nghĩa vụ liên quan
1. Trường hợp người có quyền lợi, nghĩa vụ
liên quan không tham gia tố tụng với người khởi kiện hoặc với người bị kiện thì
họ có quyền yêu cầu độc lập khi có các điều kiện sau đây:
a) Việc giải quyết vụ án có liên quan đến
quyền lợi, nghĩa vụ của họ;
b) Yêu cầu độc lập của họ có liên quan đến vụ
án đang được giải quyết;
c) Yêu cầu độc lập của họ được giải quyết
trong cùng một vụ án làm cho việc giải quyết vụ án được chính xác và nhanh hơn.
2. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có
quyền đưa ra yêu cầu độc lập đến thời điểm mở phiên họp kiểm tra việc giao nộp,
tiếp cận, công khai chứng cứ và đối thoại.
Thủ tục yêu cầu độc lập được thực hiện theo
quy định của Luật này về thủ tục khởi kiện của người khởi kiện.
THỦ
TỤC ĐỐI THOẠI VÀ CHUẨN BỊ XÉT XỬ
Điều 130. Thời hạn chuẩn bị xét xử
Thời hạn chuẩn bị xét xử các vụ án, trừ vụ
án xét xử theo thủ tục rút gọn, vụ án có yếu tố nước ngoài và vụ án khiếu kiện về danh sách
cử tri được quy định như sau:
1. 04 tháng kể từ ngày thụ lý vụ án đối với
trường hợp quy định tại điểm a khoản 2 Điều 116 của Luật này;
2. 02 tháng kể từ ngày thụ lý vụ án đối với
trường hợp quy định tại điểm b khoản 2 Điều 116 của Luật này;
3. Đối với vụ án phức tạp hoặc có trở ngại
khách quan thì Chánh án Tòa án có thể quyết định gia hạn thời hạn chuẩn bị xét
xử một lần, nhưng không quá 02 tháng đối với trường hợp quy định tại khoản 1
Điều này và không quá 01 tháng đối với trường hợp quy định tại khoản 2 Điều
này;
4. Trường hợp có quyết định tạm đình chỉ việc
giải quyết vụ án thì thời hạn chuẩn bị xét xử được tính lại kể từ ngày quyết
định tiếp tục giải quyết vụ án của Tòa án có hiệu lực pháp luật.
Điều 131. Nhiệm vụ, quyền hạn của Thẩm phán
trong giai đoạn chuẩn bị xét xử
1. Lập hồ sơ vụ án.
2. Yêu cầu đương sự nộp bổ sung tài liệu,
chứng cứ, văn bản ghi ý kiến đối với yêu cầu của người khởi kiện cho Tòa án;
yêu cầu người khởi kiện nộp bản sao tài liệu, chứng cứ để Tòa án gửi cho đương
sự.
3. Xác minh, thu thập tài liệu, chứng cứ theo
quy định của Luật này.
4. Quyết định việc áp dụng, thay đổi, hủy bỏ
biện pháp khẩn cấp tạm thời.
5. Tổ chức phiên họp kiểm tra việc giao nộp,
tiếp cận, công khai chứng cứ và đối thoại theo quy định của Luật này; trừ vụ án
theo thủ tục rút gọn và vụ án khiếu kiện về danh sách cử tri.
6. Ra một trong các quyết định sau đây:
a) Đưa vụ án ra xét xử;
b) Tạm đình chỉ việc giải quyết vụ án;
c) Đình chỉ việc giải quyết vụ án.
Điều 132. Lập hồ sơ vụ án hành chính
1. Hồ sơ vụ án hành chính gồm đơn và tài
liệu, chứng cứ của đương sự, người tham gia tố tụng khác; tài liệu, chứng cứ do
Tòa án thu thập liên quan đến vụ án; văn bản tố tụng của Tòa án, Viện kiểm sát
về việc giải quyết vụ án hành chính.
2. Các giấy tờ, tài liệu trong hồ sơ vụ án
hành chính phải được đánh số bút lục, sắp xếp theo thứ tự ngày, tháng, năm và
phải được lưu giữ, quản lý, sử dụng theo quy định của pháp luật.
Điều 133. Giao nộp tài liệu, chứng cứ
1. Thời hạn giao nộp tài liệu, chứng cứ theo
quy định tại khoản 4 Điều 83 của Luật này.
2. Trường hợp sau khi có quyết định đưa vụ án
ra xét xử theo thủ tục sơ thẩm, đương sự mới giao nộp tài liệu, chứng cứ mà Tòa
án đã yêu cầu giao nộp trước đó thì đương sự phải chứng minh lý do của việc
chậm giao nộp tài liệu, chứng cứ. Đối với tài liệu, chứng cứ mà trước đó Tòa án
không yêu cầu đương sự phải giao nộp hoặc tài liệu, chứng cứ mà đương sự không
thể biết được trong quá trình giải quyết vụ án theo thủ tục sơ thẩm thì đương
sự có quyền giao nộp, trình bày tại phiên tòa sơ thẩm.
Điều 134. Nguyên tắc đối thoại
1. Trong thời hạn chuẩn bị xét xử sơ thẩm,
Tòa án tiến hành đối thoại để các đương sự thống nhất với nhau về việc giải
quyết vụ án, trừ những vụ án không tiến hành đối thoại được, vụ án khiếu kiện
về danh sách cử tri, vụ án xét xử theo thủ tục rút gọn được quy định tại các điều 135, 198 và 246 của Luật này.
2. Việc đối thoại phải được tiến hành theo
các nguyên tắc sau đây:
a) Bảo đảm công khai, dân chủ, tôn trọng ý
kiến của đương sự;
b) Không được ép buộc các đương sự thực hiện
việc giải quyết vụ án hành chính trái với ý chí của họ;
c) Nội dung đối thoại, kết quả đối thoại
thành giữa các đương sự không trái pháp luật, trái đạo đức xã hội.
Điều 135. Những vụ án hành chính không tiến
hành đối thoại được
1. Người khởi kiện, người bị kiện, người có
quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai mà
vẫn cố tình vắng mặt.
2. Đương sự không thể tham gia đối thoại được
vì có lý do chính đáng.
3. Các bên đương sự thống nhất đề nghị không
tiến hành đối thoại.
Điều 136. Thông báo về phiên họp kiểm tra
việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và đối thoại
1. Trước khi tiến hành phiên họp kiểm tra
việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và đối thoại giữa các đương sự,
Thẩm phán phải thông báo cho các đương sự, người đại diện hợp pháp của đương
sự, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự về thời gian, địa điểm
tiến hành phiên họp và nội dung của phiên họp.
2. Trường hợp vụ án hành chính không tiến
hành đối thoại được theo quy định tại Điều 135 của Luật này
thì Thẩm phán tiến hành phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai
chứng cứ mà không tiến hành việc đối thoại.
Điều 137. Thành phần phiên họp kiểm tra việc
giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và đối thoại
1. Thành phần tham gia phiên họp gồm có:
a) Thẩm phán chủ trì phiên họp;
b) Thư ký phiên họp ghi biên bản;
c) Đương sự hoặc người đại diện hợp pháp của
đương sự;
d) Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của
đương sự (nếu có);
đ) Người phiên dịch (nếu có).
2. Trường hợp cần thiết, Thẩm phán có quyền
yêu cầu cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan tham gia phiên họp.
3. Trong vụ án có nhiều đương sự, mà có đương
sự vắng mặt, nhưng các đương sự có mặt vẫn đồng ý tiến hành phiên họp và việc
tiến hành phiên họp đó không ảnh hưởng đến quyền, nghĩa vụ của đương sự vắng
mặt thì Thẩm phán tiến hành phiên họp giữa các đương sự có mặt; nếu các đương
sự đề nghị hoãn phiên họp để có mặt tất cả các đương sự trong vụ án thì Thẩm
phán phải hoãn phiên họp và thông báo bằng văn bản việc hoãn phiên họp, mở lại
phiên họp cho các đương sự.
Điều 138. Trình tự phiên họp kiểm tra việc
giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và đối thoại
1. Trước khi khai mạc phiên họp, Thư ký phiên
họp báo cáo Thẩm phán về sự có mặt, vắng mặt của những người tham gia phiên họp
đã được Tòa án thông báo. Thẩm phán chủ trì phiên họp kiểm tra lại sự có mặt và
căn cước của những người tham gia, phổ biến cho đương sự biết quyền và nghĩa vụ
theo quy định của Luật này.
2. Khi tiến hành kiểm tra việc giao nộp, tiếp
cận, công khai chứng cứ, Thẩm phán công bố tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ
án và hỏi đương sự về những vấn đề sau đây:
a) Yêu cầu và phạm vi khởi kiện, sửa đổi, bổ
sung, thay thế, rút yêu cầu khởi kiện; yêu cầu độc lập; những vấn đề đã thống
nhất, những vấn đề chưa thống nhất yêu cầu Tòa án giải quyết;
b) Việc giao nộp tài liệu, chứng cứ cho Tòa
án và việc gửi tài liệu, chứng cứ cho đương sự khác;
c) Việc bổ sung tài liệu, chứng cứ, đề nghị
Tòa án thu thập tài liệu, chứng cứ, triệu tập đương sự khác, người làm chứng và
người tham gia tố tụng khác tại phiên tòa;
d) Vấn đề khác mà đương sự thấy cần thiết.
3. Sau khi các đương sự trình bày xong, Thẩm
phán xem xét các ý kiến, giải quyết các đề nghị của đương sự quy định tại khoản
2 Điều này; trường hợp đương sự vắng mặt thì Tòa án thông báo kết quả phiên họp
cho họ.
4. Sau khi tiến hành xong việc kiểm tra giao
nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ quy định tại khoản 2 Điều này, Thẩm phán tiến
hành thủ tục đối thoại như sau:
a) Thẩm phán phổ biến cho đương sự biết các
quy định của pháp luật có liên quan đến việc giải quyết vụ án để các bên liên
hệ đến quyền, nghĩa vụ của mình, phân tích hậu quả pháp lý của việc đối thoại
để họ tự nguyện thống nhất với nhau về việc giải quyết vụ án;
b) Người khởi kiện trình bày bổ sung về yêu
cầu khởi kiện, những căn cứ để bảo vệ yêu cầu khởi kiện và đề xuất quan điểm
của người khởi kiện về hướng giải quyết vụ án (nếu có);
c) Người bị kiện trình bày bổ sung ý kiến về
yêu cầu của người khởi kiện, những căn cứ ban hành quyết định hành chính, thực
hiện hành vi hành chính bị khởi kiện và đề xuất hướng giải quyết vụ án (nếu
có);
d) Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến
vụ án trình bày bổ sung và đề xuất ý kiến giải quyết phần liên quan đến họ (nếu
có);
đ) Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của
đương sự hoặc người khác tham gia phiên họp đối thoại (nếu có) phát biểu ý
kiến;
e) Tùy từng trường hợp, Thẩm phán yêu cầu
đương sự nêu văn bản quy phạm pháp luật, văn bản hành chính có liên quan để
đánh giá tính hợp pháp của quyết định hành chính, hành vi hành chính bị khởi
kiện, đồng thời kiểm tra hiệu lực pháp luật của văn bản đó. Thẩm phán có thể
phân tích để các đương sự nhận thức đúng về nội dung văn bản quy phạm pháp
luật, văn bản hành chính có liên quan để họ có sự lựa chọn và quyết định việc
giải quyết vụ án;
g) Sau khi các đương sự trình bày hết ý kiến
của mình, Thẩm phán xác định những vấn đề các bên đã thống nhất, những vấn đề
chưa thống nhất và yêu cầu các bên đương sự trình bày bổ sung về những nội dung
chưa rõ, chưa thống nhất;
h) Thẩm phán kết luận về những vấn đề các bên
đương sự đã thống nhất và những vấn đề chưa thống nhất.
5. Thư ký phiên họp ghi biên bản về diễn biến
phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và đối thoại.
1. Biên bản phiên họp kiểm tra việc giao nộp,
tiếp cận, công khai chứng cứ phải có các nội dung sau đây:
a) Ngày, tháng, năm tiến hành phiên họp;
b) Địa điểm tiến hành phiên họp;
c) Thành phần tham gia phiên họp;
d) Ý kiến của đương sự hoặc người đại diện
hợp pháp của đương sự, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự về
các nội dung quy định tại khoản 2 Điều 138 của Luật này;
đ) Các nội dung khác;
e) Kết luận của Thẩm phán về việc chấp nhận,
không chấp nhận các đề nghị của đương sự.
2. Biên bản đối thoại phải có các nội dung
sau đây:
a) Nội dung quy định tại các điểm a, b và c
khoản 1 Điều này;
b) Ý kiến của các đương sự hoặc người đại
diện hợp pháp của đương sự, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương
sự;
c) Nội dung đã được đương sự thống nhất,
không thống nhất.
3. Đối với trường hợp không tiến hành đối
thoại được quy định tại Điều 135 của Luật này thì lập biên
bản theo quy định tại khoản 1 Điều này.
4. Biên bản phải có đầy đủ chữ ký hoặc điểm
chỉ của những người tham gia phiên họp, chữ ký của Thư ký phiên họp ghi biên
bản và của Thẩm phán chủ trì phiên họp. Những người tham gia phiên họp có quyền
được xem biên bản phiên họp ngay sau khi kết thúc phiên họp, yêu cầu ghi những
sửa đổi, bổ sung vào biên bản phiên họp và ký tên hoặc điểm chỉ xác nhận.
Điều 140. Xử lý kết quả đối thoại
1. Trường hợp qua đối thoại mà người khởi
kiện vẫn giữ yêu cầu khởi kiện, người bị kiện giữ nguyên quyết định, hành vi bị
khởi kiện, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có yêu cầu độc lập vẫn giữ
nguyên yêu cầu thì Thẩm phán tiến hành các thủ tục để mở phiên tòa xét xử vụ
án.
2. Trường hợp qua đối thoại mà người khởi
kiện tự nguyện rút đơn khởi kiện thì Thẩm phán lập biên bản về việc người khởi
kiện tự nguyện rút đơn khởi kiện, ra quyết định đình chỉ giải quyết vụ án đối
với yêu cầu của người khởi kiện. Người khởi kiện được quyền khởi kiện lại vụ án
nếu thời hiệu khởi kiện vẫn còn.
3. Trường hợp qua đối thoại mà người bị kiện
cam kết sửa đổi, bổ sung, thay thế, hủy bỏ quyết định bị khởi kiện hoặc chấm
dứt hành vi hành chính bị khởi kiện và người khởi kiện cam kết rút đơn khởi
kiện thì Tòa án lập biên bản về việc cam kết của đương sự. Trong thời hạn 07
ngày kể từ ngày lập biên bản, người bị kiện phải gửi cho Tòa án quyết định hành
chính mới hoặc thông báo về việc chấm dứt hành vi hành chính bị khởi kiện và
người khởi kiện phải gửi cho Tòa án văn bản rút đơn khởi kiện. Hết thời hạn này
mà một trong các đương sự không thực hiện cam kết của mình thì Thẩm phán tiến
hành các thủ tục để mở phiên tòa xét xử vụ án .
Trường hợp nhận được quyết định hành chính
mới hoặc văn bản rút đơn khởi kiện thì Tòa án phải thông báo cho các đương sự
khác biết. Trong thời hạn 07 ngày kể từ ngày nhận được thông báo của Tòa án,
nếu các đương sự không có ý kiến phản đối thì Thẩm phán ra quyết định công nhận
kết quả đối thoại thành, đình chỉ việc giải quyết vụ án và gửi ngay cho đương
sự, Viện kiểm sát cùng cấp. Quyết định này có hiệu lực thi hành ngay và không
bị kháng cáo, kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm; trường hợp có căn cứ cho rằng
nội dung các bên đã thống nhất và cam kết là do bị nhầm lẫn, lừa dối, đe dọa
hoặc trái pháp luật, trái đạo đức xã hội thì quyết định của Tòa án có thể được
xem xét lại theo thủ tục giám đốc thẩm.
Điều 141. Tạm đình chỉ giải quyết vụ án
1. Tòa án quyết định tạm đình chỉ giải quyết
vụ án khi thuộc một trong các trường hợp sau đây:
a) Đương sự là cá nhân đã chết, cơ quan, tổ
chức đã giải thể hoặc tuyên bố phá sản mà chưa có cá nhân, cơ quan, tổ chức kế
thừa quyền, nghĩa vụ tố tụng;
b) Đương sự là người mất năng lực hành vi dân
sự, người chưa thành niên mà chưa xác định được người đại diện theo pháp luật;
c) Đã hết thời hạn chuẩn bị xét xử mà một
trong các đương sự không thể có mặt vì lý do chính đáng, trừ trường hợp có thể
xét xử vắng mặt đương sự;
d) Cần đợi kết quả giải quyết của cơ quan
khác hoặc kết quả giải quyết vụ việc khác có liên quan;
đ) Cần đợi kết quả giám định bổ sung, giám định lại; cần đợi kết quả thực hiện ủy thác tư pháp, ủy thác thu thập chứng cứ hoặc
đợi cơ quan, tổ chức cung cấp tài liệu, chứng cứ theo yêu cầu của Tòa án mới
giải quyết được vụ án;
e) Cần đợi kết quả xử lý văn bản quy
phạm pháp luật liên quan đến việc giải quyết vụ án có dấu hiệu trái với Hiến
pháp, luật, văn bản quy phạm pháp luật của cơ quan nhà nước cấp trên mà Tòa án
đã có văn bản kiến nghị với cơ quan có thẩm quyền xem xét sửa đổi, bổ sung hoặc
bãi bỏ văn bản đó.
2. Quyết định tạm đình chỉ giải quyết vụ án
có thể bị kháng cáo, kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm.
Điều 142. Hậu quả của việc tạm đình chỉ giải
quyết vụ án
1. Tòa án không xoá tên vụ án bị tạm đình chỉ
giải quyết trong sổ thụ lý mà chỉ ghi chú vào sổ thụ lý số và ngày, tháng, năm
của quyết định tạm đình chỉ giải quyết vụ án đó để theo dõi.
2. Khi lý do tạm đình chỉ quy định tại Điều 141 của Luật này không còn thì Tòa án ra quyết định tiếp
tục giải quyết vụ án và hủy bỏ quyết định tạm đình chỉ giải quyết vụ án.
3. Tiền tạm ứng án phí, lệ phí mà đương sự đã
nộp được xử lý khi Tòa án tiếp tục giải quyết vụ án.
4. Trong thời gian tạm đình chỉ giải quyết vụ
án, Thẩm phán được phân công giải quyết vụ án vẫn phải có trách nhiệm về việc
giải quyết vụ án.
Sau khi có quyết định tạm đình chỉ giải quyết
vụ án theo quy định tại khoản 1 Điều 141 của Luật này, Thẩm
phán được phân công giải quyết vụ án có trách nhiệm theo dõi, đôn đốc cơ quan,
tổ chức, cá nhân khắc phục những lý do dẫn tới vụ án bị tạm đình chỉ trong thời
gian ngắn nhất để kịp thời đưa vụ án ra giải quyết.
Điều 143. Đình chỉ giải quyết vụ án
1. Tòa án quyết định đình chỉ giải quyết vụ
án trong các trường hợp sau đây:
a) Người khởi kiện là cá nhân đã chết mà
quyền, nghĩa vụ của họ không được thừa kế; cơ quan, tổ chức đã giải thể hoặc
tuyên bố phá sản mà không có cơ quan, tổ chức, cá nhân kế thừa quyền, nghĩa vụ
tố tụng;
b) Người khởi kiện rút đơn khởi kiện trong
trường hợp không có yêu cầu độc lập của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan.
Trường hợp có yêu cầu độc lập của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan mà
người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vẫn giữ nguyên yêu cầu độc lập của mình
thì Tòa án ra quyết định đình chỉ giải quyết vụ án đối với yêu cầu của người
khởi kiện đã rút;
c) Người khởi kiện rút đơn khởi kiện, người
có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan rút đơn yêu cầu độc lập;
d) Người khởi kiện không nộp tạm ứng chi phí
định giá tài sản và chi phí tố tụng khác theo quy định của pháp luật.
Trường hợp người có quyền lợi, nghĩa vụ liên
quan có yêu cầu độc lập mà không nộp tiền tạm ứng chi phí định giá tài sản và
chi phí tố tụng khác theo quy định của Luật này thì Tòa án đình chỉ việc giải
quyết yêu cầu độc lập của họ;
đ) Người khởi kiện đã được triệu tập hợp lệ
lần thứ hai mà vẫn vắng mặt trừ trường hợp họ đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt
hoặc trường hợp có sự kiện bất khả kháng, trở ngại khách quan;
e) Người bị kiện hủy bỏ quyết định hành
chính, quyết định kỷ luật buộc thôi việc, quyết định giải quyết khiếu nại về
quyết định xử lý vụ việc cạnh tranh, quyết định giải quyết khiếu nại trong hoạt
động kiểm toán nhà nước[53] hoặc chấm dứt hành vi hành chính
bị khởi kiện và người khởi kiện đồng ý rút đơn khởi kiện, người có quyền lợi,
nghĩa vụ liên quan có yêu cầu độc lập đồng ý rút yêu cầu;
g) Thời hiệu khởi kiện đã hết;
h) Các trường hợp quy định tại khoản
1 Điều 123 của Luật này mà Tòa án đã thụ lý.
2. Khi ra quyết định đình chỉ giải quyết vụ
án, Tòa án trả lại đơn khởi kiện, tài liệu, chứng cứ cho đương sự nếu có yêu
cầu.
3. Quyết định đình chỉ giải quyết vụ án có
thể bị kháng cáo, kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm.
Điều 144. Hậu quả của việc đình chỉ giải
quyết vụ án
1. Khi có quyết định đình chỉ giải quyết vụ
án, đương sự không có quyền khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết lại vụ án đó,
nếu việc khởi kiện này không có gì khác với vụ án đã bị đình chỉ về người khởi
kiện, người bị kiện và quan hệ pháp luật có tranh chấp, trừ các trường hợp bị
đình chỉ theo quy định tại các điểm b, c và e khoản 1 Điều 123,
điểm b và điểm đ khoản 1 Điều 143 của Luật này và trường hợp khác theo quy
định của pháp luật.
2. Tiền tạm ứng án phí, lệ phí mà đương sự đã
nộp được xử lý theo quy định của pháp luật về án phí, lệ phí Tòa án.
1. Thẩm phán được phân công giải quyết vụ án
có thẩm quyền ra quyết định tạm đình chỉ, quyết định tiếp tục giải quyết vụ án
hoặc quyết định đình chỉ giải quyết vụ án đó.
2. Trong thời hạn 03 ngày làm việc kể từ ngày
Thẩm phán ra một trong các quyết định quy định tại khoản 1 Điều này, Tòa án
phải gửi quyết định đó cho đương sự và Viện kiểm sát cùng cấp.
Điều 146. Quyết định đưa vụ án ra xét xử
1. Quyết định đưa vụ án ra xét xử phải có các
nội dung chính sau đây:
a) Ngày, tháng, năm, địa điểm mở phiên tòa;
b) Việc xét xử được tiến hành công khai hay
xét xử kín;
c) Tên, địa chỉ của người tham gia tố tụng;
d) Nội dung việc khởi kiện;
đ) Họ, tên của Thẩm phán, Hội thẩm nhân dân,
Thư ký Tòa án, Kiểm sát viên; Thẩm phán, Hội thẩm nhân dân, Thư ký Tòa án, Kiểm
sát viên dự khuyết (nếu có).
2. Quyết định đưa vụ án ra xét xử phải được
gửi cho đương sự, Viện kiểm sát cùng cấp ngay sau khi ra quyết định.
Điều 147. Gửi hồ sơ cho Viện kiểm sát
Tòa án phải gửi hồ sơ vụ án cùng với việc gửi
quyết định đưa vụ án ra xét xử cho Viện kiểm sát cùng cấp nghiên cứu. Trong
thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được hồ sơ vụ án, Viện kiểm sát phải trả lại
hồ sơ vụ án cho Tòa án.
Mục 1. YÊU CẦU CHUNG VỀ PHIÊN TÒA SƠ THẨM
Điều 148. Yêu cầu chung đối với phiên tòa sơ
thẩm
Phiên tòa sơ thẩm phải được tiến hành đúng
thời gian, địa điểm đã được ghi trong quyết định đưa vụ án ra xét xử hoặc trong
giấy báo mở lại phiên tòa trong trường hợp phải hoãn phiên tòa.
Điều 149. Thời hạn mở phiên tòa
Trong thời hạn 20 ngày kể từ ngày có quyết
định đưa vụ án ra xét xử, Tòa án phải mở phiên tòa; trường hợp có lý do chính
đáng thì thời hạn mở phiên tòa có thể kéo dài nhưng không quá 30 ngày.
Điều 150. Địa điểm tổ chức phiên tòa
Phiên tòa được tổ chức tại trụ sở Tòa án hoặc
có thể ngoài trụ sở Tòa án nhưng phải bảo đảm tính trang nghiêm và hình thức
phòng xử án quy định tại Điều 151 của Luật này.
Điều 151. Hình thức bố trí phòng xử án
1. Quốc huy nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa
Việt Nam được treo chính giữa phía trên phòng xử án và phía trên chỗ ngồi của
Hội đồng xét xử.
2. Phòng xử án phải có các khu vực được bố
trí riêng cho Hội đồng xét xử, Kiểm sát viên, Thư ký phiên tòa, đương sự, người
bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự, những người tham gia tố tụng
khác và người tham dự phiên tòa.
Điều 152. Xét xử trực tiếp, bằng lời nói
1. Việc xét xử bằng lời nói và phải được tiến
hành tại phòng xử án.
2. Hội đồng xét xử phải trực tiếp xác định những tình tiết của vụ án tại phiên tòa bằng cách hỏi
và nghe trình bày, tranh luận trực tiếp về tình tiết, chứng cứ
của vụ án của người khởi kiện, người bị kiện, người có
quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án, người đại diện hợp pháp, người bảo vệ
quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự và những người tham gia tố tụng khác, cơ
quan, tổ chức được mời tham dự phiên tòa, nghe Kiểm sát viên phát biểu ý kiến của Viện
kiểm sát.
1. Khi vào phòng xử án, mọi người đều phải
chấp hành việc kiểm tra an ninh của lực lượng có trách nhiệm bảo vệ phiên tòa.
2. Nghiêm cấm mang vũ khí, hung khí, chất nổ,
chất cháy, chất độc, chất phóng xạ, đồ vật cấm lưu hành, truyền đơn, khẩu hiệu
và tài liệu, đồ vật khác ảnh hưởng đến sự tôn nghiêm của phiên tòa vào phòng xử
án, trừ vật chứng của vụ án phục vụ cho công tác xét xử hoặc vũ khí, công cụ hỗ
trợ được người có thẩm quyền mang theo để làm nhiệm vụ bảo vệ phiên tòa.
3. Người tham gia phiên tòa theo yêu cầu của
Tòa án phải xuất trình giấy triệu tập, giấy mời, giấy tờ có liên quan khác cho
Thư ký phiên tòa tại bàn Thư ký chậm nhất là 15 phút, trước giờ khai mạc phiên
tòa và ngồi đúng vị trí trong phòng xử án theo hướng dẫn của Thư ký phiên tòa;
trường hợp đến muộn thì phải xuất trình giấy triệu tập, giấy mời, giấy tờ có
liên quan khác cho Thư ký phiên tòa thông qua lực lượng làm nhiệm vụ bảo vệ
phiên tòa.
4.[54] (được bãi bỏ)
5. Mọi người tham dự phiên tòa phải có trang
phục nghiêm chỉnh; có thái độ tôn trọng Hội đồng xét xử, giữ trật tự và tuân
theo sự điều khiển của Chủ tọa phiên tòa.
6. Không đội mũ, nón, đeo kính màu trong
phòng xử án, trừ trường hợp có lý do chính đáng và được Chủ tọa phiên tòa cho
phép; không sử dụng điện thoại di động trong phòng xử án; không hút thuốc,
không ăn uống trong phòng xử án hoặc có hành vi khác ảnh hưởng đến sự tôn
nghiêm của phiên tòa.
7. Người tham gia phiên tòa theo yêu cầu của
Tòa án phải có mặt tại phiên tòa trong suốt thời gian xét xử vụ án, trừ trường
hợp được Chủ tọa phiên tòa đồng ý cho rời khỏi phòng xử án nếu có lý do chính
đáng.
Người dưới mười sáu tuổi không được vào phòng
xử án, trừ trường hợp được Tòa án triệu tập tham gia phiên tòa.
8. Mọi người trong phòng xử án phải đứng dậy
khi Hội đồng xét xử vào phòng xử án và khi tuyên án, trừ trường hợp được sự
đồng ý của Chủ tọa phiên tòa.
9. Chỉ những người được Hội đồng xét xử đồng
ý mới được hỏi, trả lời hoặc phát biểu. Người hỏi, trả lời hoặc phát biểu phải
đứng dậy, trừ trường hợp vì lý do sức khỏe được Chủ tọa phiên tòa đồng ý cho
ngồi để hỏi, trả lời hoặc phát biểu.
Điều 154. Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm
Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm một Thẩm phán và
02 Hội thẩm nhân dân, trừ trường hợp quy định tại khoản
1 Điều 249 của Luật này. Hội đồng xét xử sơ thẩm có thể gồm 02 Thẩm phán và
03 Hội thẩm nhân dân trong trường hợp sau đây:
1. Khiếu kiện quyết định hành chính, hành vi
hành chính của Ủy ban nhân dân cấp tỉnh, Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh liên
quan đến nhiều đối tượng;
2. Vụ án phức tạp.
Điều 155. Sự có mặt của thành viên Hội đồng
xét xử và Thư ký Tòa án
1. Phiên tòa chỉ được tiến hành khi có đủ
thành viên Hội đồng xét xử và Thư ký phiên tòa án.
2. Trường hợp có Thẩm phán, Hội thẩm nhân dân
vắng mặt hoặc không thể tiếp tục tham gia xét xử vụ án nhưng có Thẩm phán, Hội
thẩm nhân dân dự khuyết tham gia phiên tòa từ đầu thì những người này được thay
thế thành viên Hội đồng xét xử vắng mặt để tham gia xét xử vụ án.
3. Trường hợp không có Thẩm phán, Hội thẩm
nhân dân dự khuyết để thay thế thành viên Hội đồng xét xử theo quy định tại
khoản 2 Điều này thì phải hoãn phiên tòa.
4. Trường hợp Thư ký phiên tòa vắng mặt hoặc
không thể tiếp tục tham gia phiên tòa mà không có người thay thế thì phải hoãn
phiên tòa.
Điều 156. Sự có mặt của Kiểm sát viên
1. Kiểm sát viên được Viện trưởng Viện kiểm
sát cùng cấp phân công có nhiệm vụ tham gia phiên tòa, nếu vắng mặt
thì Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử.
2. Trường hợp Kiểm sát viên bị thay đổi tại
phiên tòa hoặc không thể tiếp tục tham gia phiên tòa xét xử, nhưng có Kiểm sát
viên dự khuyết thì người này được tham gia phiên tòa xét xử tiếp vụ án nếu họ
có mặt tại phiên tòa từ đầu.
1. Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ nhất,
đương sự hoặc người đại diện của họ, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của
đương sự phải có mặt tại phiên tòa; trường hợp có người vắng mặt thì Hội đồng
xét xử hoãn phiên tòa, trừ trường hợp người đó có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.
Tòa án thông báo cho đương sự, người đại
diện, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự biết việc hoãn phiên
tòa.
2. Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai, đương
sự hoặc người đại diện của họ, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương
sự phải có mặt tại phiên tòa, nếu vắng mặt không vì sự kiện bất khả kháng, trở
ngại khách quan thì xử lý như sau:
a) Đối với người khởi kiện, người đại diện
theo pháp luật của người khởi kiện mà không có người đại diện
tham gia phiên tòa thì bị coi là từ bỏ việc khởi kiện và Tòa án ra quyết định
đình chỉ giải quyết vụ án đối với yêu cầu khởi kiện của người đó, trừ trường
hợp họ có đơn đề nghị xét xử vắng mặt. Người khởi kiện có quyền khởi kiện lại,
nếu thời hiệu khởi kiện vẫn còn;
b) Đối với người bị kiện, người có quyền lợi,
nghĩa vụ liên quan không có yêu cầu độc lập mà không có người đại diện tham gia
phiên tòa thì Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt họ;
c) Đối với người có quyền lợi, nghĩa vụ liên
quan có yêu cầu độc lập mà không có người đại diện tham gia phiên tòa
thì bị coi là từ bỏ yêu cầu độc lập của mình và Tòa án ra quyết định đình chỉ
việc giải quyết đối với yêu cầu độc lập của người đó, trừ trường hợp người đó
có đơn đề nghị xét xử vắng mặt. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có yêu
cầu độc lập có quyền khởi kiện lại đối với yêu cầu độc lập đó, nếu thời hiệu
khởi kiện vẫn còn;
d) Đối với người bảo vệ quyền và lợi ích hợp
pháp của đương sự thì Tòa án vẫn tiến hành xét xử vắng mặt họ.
Điều
158. Xét xử trong trường hợp đương sự vắng mặt tại phiên tòa
Tòa án vẫn tiến hành xét
xử vụ án trong các trường hợp sau đây:
1. Người khởi kiện,
người bị kiện, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan và người đại diện của họ
vắng mặt tại phiên tòa có đơn đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt;
2. Người khởi kiện,
người bị kiện hoặc người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên
tòa nhưng có người đại diện tham gia phiên tòa;
3. Trường hợp quy định
tại điểm b và điểm d khoản 2 Điều 157 của Luật này.
Điều 159. Sự có mặt của người làm chứng
1. Người làm chứng có
nghĩa vụ tham gia phiên tòa theo giấy triệu tập của Tòa án để trình bày tình
tiết của vụ án mà họ biết. Trường hợp người làm chứng vắng mặt nhưng trước đó
đã có lời khai trực tiếp với Tòa án hoặc gửi lời khai cho Tòa án thì Chủ tọa phiên
tòa công bố lời khai đó.
2. Trường hợp người làm
chứng vắng mặt thì Hội đồng xét xử quyết định hoãn phiên tòa hoặc vẫn tiến hành
xét xử. Trường hợp người làm chứng vắng mặt tại phiên tòa không có lý do chính
đáng và việc vắng mặt của họ gây trở ngại cho việc xét xử thì có thể bị dẫn
giải đến phiên tòa theo quyết định của Hội đồng xét xử.
Điều 160. Sự có mặt của người giám định
1. Người giám định có
nghĩa vụ tham gia phiên tòa theo giấy triệu tập của Tòa án để làm rõ những vấn
đề liên quan đến việc giám định và kết luận giám định.
2. Trường hợp người giám
định vắng mặt thì Hội đồng xét xử quyết định hoãn phiên tòa hoặc vẫn tiến hành
xét xử.
Điều 161. Sự có mặt của người phiên dịch
1. Người phiên dịch có
nghĩa vụ tham gia phiên tòa theo giấy triệu tập của Tòa án.
2. Trường hợp người
phiên dịch vắng mặt mà không có người khác thay thế thì Hội đồng xét xử quyết
định hoãn phiên tòa.
1. Các trường hợp phải
hoãn phiên tòa:
a) Trường hợp quy định
tại khoản 3 và khoản 4 Điều 155, khoản 1 Điều 157, khoản 2 Điều
161 của Luật này;
b) Thành viên của Hội
đồng xét xử, Thư ký phiên tòa, người phiên dịch bị thay đổi mà không có người
thay thế ngay;
c) Trường hợp phải tiến
hành giám định lại theo quy định tại Điều 170 của
Luật này.
2. Trường hợp hoãn phiên
tòa được quy định tại khoản 2 Điều 159 và khoản 2 Điều 160 của
Luật này.
Điều 163. Thời hạn, quyết định và thẩm quyền
hoãn phiên tòa
1. Thời hạn hoãn phiên
tòa sơ thẩm không quá 30 ngày kể từ ngày Hội đồng xét xử ra quyết định hoãn
phiên tòa, trừ phiên tòa xét xử vụ án theo thủ tục rút gọn thì thời hạn hoãn là
15 ngày.
2. Quyết định hoãn phiên
tòa phải có các nội dung chính sau đây:
a) Ngày, tháng, năm ra
quyết định;
b) Tên Tòa án và họ, tên
những người tiến hành tố tụng;
c) Vụ án được đưa ra xét
xử;
d) Lý do của việc hoãn
phiên tòa;
đ) Thời gian, địa điểm
mở lại phiên tòa.
3. Quyết định hoãn phiên
tòa phải được Chủ tọa phiên tòa thay mặt Hội đồng xét xử ký tên. Trường hợp Chủ
tọa phiên tòa vắng mặt thì Chánh án Tòa án ra quyết định hoãn phiên tòa. Quyết
định hoãn phiên tòa được thông báo ngay cho những người tham gia tố tụng biết;
đối với người vắng mặt thì Tòa án gửi ngay cho họ quyết định đó, đồng thời gửi
cho Viện kiểm sát cùng cấp.
4. Trường hợp sau khi
hoãn phiên tòa mà Tòa án không thể mở lại phiên tòa đúng thời gian, địa điểm mở
lại phiên tòa ghi trong quyết định hoãn phiên tòa thì Tòa án phải thông báo
ngay cho những người tham gia tố tụng và Viện kiểm sát cùng cấp biết về thời
gian, địa điểm mở lại phiên tòa.
Điều 164. Thủ tục ra bản án, quyết định của
Tòa án tại phiên tòa
1. Bản án phải được Hội
đồng xét xử thảo luận và thông qua tại phòng nghị án.
2. Quyết định thay đổi
người tiến hành tố tụng, người giám định, người phiên dịch, chuyển vụ án, tạm
đình chỉ hoặc đình chỉ giải quyết vụ án, hoãn phiên tòa phải được thảo luận,
thông qua tại phòng nghị án và phải được lập thành văn bản.
3. Quyết định về các vấn
đề khác được Hội đồng xét xử thảo luận và thông qua tại phòng xử án, không phải
viết thành văn bản, nhưng phải được ghi vào biên bản phiên tòa.
Điều 165. Tạm đình chỉ, đình chỉ giải quyết
vụ án tại phiên tòa
1. Tại phiên tòa, nếu có
một trong các trường hợp quy định tại các điểm a, b, c, d và e
khoản 1 Điều 141 của Luật này thì Hội đồng xét xử ra quyết định tạm đình
chỉ việc giải quyết vụ án.
2. Tại phiên tòa, nếu có
một trong các trường hợp quy định tại khoản 1 Điều 143 của Luật
này thì Hội đồng xét xử ra quyết định đình chỉ việc giải quyết vụ án.
3. Trường hợp đương sự
xuất trình quyết định hành chính mới mà quyết định hành chính đó liên quan đến
quyết định bị khởi kiện và không thuộc thẩm quyền của Tòa án đang xét xử sơ
thẩm vụ án thì Hội đồng xét xử đình chỉ việc xét xử và chuyển hồ sơ vụ án cho
Tòa án có thẩm quyền.
1. Biên bản phiên tòa
phải ghi đầy đủ các nội dung sau đây:
a) Các nội dung quy định
tại khoản 1 Điều 146 của Luật này;
b) Mọi diễn biến tại
phiên tòa từ khi bắt đầu cho đến khi kết thúc phiên tòa;
c) Các câu hỏi, câu trả
lời và phát biểu tại phiên tòa;
d) Các nội dung khác
phải được ghi vào biên bản phiên tòa theo quy định của Luật này.
2. Ngoài việc ghi biên
bản phiên tòa, Tòa án có thể thực hiện việc ghi âm, ghi hình về diễn biến phiên
tòa.
3. Sau khi kết thúc
phiên tòa, Hội đồng xét xử phải kiểm tra biên bản; Chủ tọa phiên tòa và Thư ký
phiên tòa ký vào biên bản.
4. Kiểm sát viên và
những người tham gia tố tụng có quyền được xem biên bản phiên tòa, yêu cầu ghi
những sửa đổi, bổ sung vào biên bản phiên tòa và ký xác nhận.
Điều 167. Chuẩn bị khai mạc phiên tòa
Trước khi khai mạc phiên
tòa, Thư ký phiên tòa phải tiến hành các công việc sau đây:
1. Phổ biến nội quy
phiên tòa;
2. Kiểm tra, xác định sự
có mặt, vắng mặt của những người tham gia phiên tòa theo giấy triệu tập của Tòa
án; nếu có người vắng mặt thì cần phải làm rõ lý do;
3. Ổn định trật tự trong
phòng xử án;
4. Yêu cầu mọi người
trong phòng xử án đứng dậy khi Hội đồng xét xử vào phòng xử án.
Điều
168. Thủ tục xét xử vắng mặt tất cả những người tham gia tố tụng
1. Tòa án căn cứ vào tài liệu, chứng cứ có
trong hồ sơ để xét xử vắng mặt đương sự, người tham gia tố tụng theo quy định
của Luật này khi có đủ các điều kiện sau đây:
a) Người khởi kiện, người đại diện hợp pháp
của người khởi kiện có đơn đề nghị xét xử vắng mặt;
b) Người bị kiện, người có quyền lợi, nghĩa
vụ liên quan; người đại diện hợp pháp của người bị kiện, người có quyền lợi,
nghĩa vụ liên quan có đơn đề nghị xét xử vắng mặt hoặc đã được triệu tập hợp lệ
lần thứ hai mà vẫn vắng mặt;
c) Người bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của
người khởi kiện, người bị kiện, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có đơn
đề nghị xét xử vắng mặt hoặc đã được triệu tập hợp lệ lần thứ hai mà vẫn vắng
mặt.
2. Chủ tọa phiên tòa công bố lý do đương sự
vắng mặt hoặc đơn của đương sự đề nghị xét xử vắng mặt.
3. Chủ tọa phiên tòa công bố tóm tắt nội dung
vụ án và tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án. Hội đồng xét xử thảo luận về
những vấn đề cần giải quyết trong vụ án.
4. Kiểm sát viên phát biểu ý kiến của Viện
kiểm sát.
5. Hội đồng xét xử tiến hành nghị án và tuyên
án theo quy định của Luật này.
Mục
2. THỦ TỤC BẮT ĐẦU PHIÊN TÒA
1. Chủ tọa phiên tòa khai mạc phiên tòa và
đọc quyết định đưa vụ án ra xét xử.
2. Thư ký phiên tòa báo cáo với Hội đồng xét
xử về sự có mặt, vắng mặt của những người tham gia phiên tòa theo giấy triệu
tập, giấy báo của Tòa án và lý do vắng mặt.
3. Chủ tọa phiên tòa kiểm tra lại sự có mặt
của những người tham gia phiên tòa theo giấy triệu tập, giấy báo của Tòa án và
kiểm tra căn cước của đương sự.
4. Chủ tọa phiên tòa phổ biến quyền, nghĩa vụ
của các đương sự và của những người tham gia tố tụng khác.
5. Chủ tọa phiên tòa giới thiệu họ, tên thành
viên Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa, Kiểm sát viên, người giám định, người
phiên dịch.
6. Chủ tọa phiên tòa hỏi những người có quyền
yêu cầu thay đổi những người tiến hành tố tụng, người phiên dịch xem họ có yêu
cầu thay đổi ai không; hỏi những người có quyền về người giám định có vi phạm
quy định tại khoản 3 Điều 63 của Luật này không.
7. Chủ tọa phiên tòa yêu cầu người làm chứng
phải cam kết khai báo đúng sự thật, nếu khai không đúng phải chịu trách nhiệm
trước pháp luật, trừ trường hợp người làm chứng là người chưa
thành niên.
8. Chủ tọa phiên tòa yêu cầu người giám định,
người phiên dịch cam kết cung cấp kết quả giám định chính xác, phiên dịch đúng
nội dung cần phiên dịch.
Điều 170. Giải quyết yêu cầu thay đổi người
tiến hành tố tụng, người giám định, người phiên dịch
Trường hợp tại phiên tòa có người yêu cầu
thay đổi người tiến hành tố tụng, người giám định, người phiên dịch thì Hội
đồng xét xử phải xem xét, quyết định việc chấp nhận hoặc không chấp nhận yêu
cầu theo quy định của Luật này; nếu không chấp nhận thì phải nêu rõ lý
do và ghi vào biên bản phiên tòa.
Trường hợp có ý kiến về người giám định vi
phạm một trong các quy định tại khoản 3 Điều 63 của Luật này,
Hội đồng xét xử phải xem xét; nếu có căn cứ thì quyết định tiến hành giám định
lại theo quy định của pháp luật.
Điều 171. Bảo đảm tính khách quan của người
làm chứng
1. Trước khi người làm
chứng được hỏi về những vấn đề mà họ biết được có liên quan đến việc giải quyết
vụ án, Chủ tọa phiên tòa có thể quyết định những biện pháp cần thiết để những
người làm chứng không nghe được lời khai của nhau hoặc tiếp xúc với những người
có liên quan.
2. Trường hợp lời khai
của đương sự và người làm chứng có ảnh hưởng lẫn nhau thì Chủ tọa phiên tòa có
thể quyết định cách ly đương sự với người làm chứng trước khi hỏi người làm
chứng.
Điều 172. Hỏi đương sự về việc thay đổi, bổ
sung, rút yêu cầu
1. Chủ tọa phiên tòa hỏi
người khởi kiện về việc thay đổi, bổ sung, rút một phần hoặc toàn bộ yêu cầu
khởi kiện.
2. Chủ tọa phiên tòa hỏi
người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có yêu cầu độc lập về việc thay đổi, bổ
sung, rút một phần hoặc toàn bộ yêu cầu độc lập.
Điều 173. Xem xét việc thay đổi, bổ sung, rút
yêu cầu
1. Hội đồng xét xử chấp
nhận việc thay đổi, bổ sung yêu cầu của đương sự nếu việc thay đổi, bổ sung yêu
cầu của họ không vượt quá phạm vi yêu cầu khởi kiện hoặc yêu cầu độc lập ban
đầu.
2. Trường hợp đương sự
rút một phần hoặc toàn bộ yêu cầu của mình và việc rút yêu cầu của họ là tự
nguyện thì Hội đồng xét xử chấp nhận và đình chỉ xét xử đối với phần yêu cầu
hoặc toàn bộ yêu cầu mà đương sự đã rút.
Điều
174. Thay đổi địa vị tố tụng
Trường hợp người khởi
kiện rút toàn bộ yêu cầu khởi kiện nhưng người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan
vẫn giữ yêu cầu độc lập của mình thì người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trở
thành người khởi kiện.
Mục
3. TRANH TỤNG TẠI PHIÊN TÒA
Điều 175. Nội dung và phương thức tranh tụng
tại phiên tòa
1. Tranh tụng tại phiên tòa bao gồm việc trình bày chứng cứ, hỏi, đối đáp,
trả lời và phát biểu quan điểm, lập luận về đánh giá chứng cứ, tình tiết của vụ
án, quan hệ pháp luật tranh chấp và pháp luật áp dụng để giải quyết yêu cầu của
đương sự trong vụ án.
2. Việc tranh tụng tại
phiên tòa được tiến hành theo sự điều khiển của Chủ tọa phiên tòa.
3. Chủ tọa phiên tòa
không được hạn chế thời gian tranh tụng, tạo điều kiện cho những người tham gia
tranh tụng trình bày hết ý kiến, nhưng có quyền cắt ý kiến không liên quan đến
vụ án.
Điều
176. Trình bày của đương sự
1. Trường hợp đương sự
vẫn giữ yêu cầu, quan điểm của mình và không thống nhất với nhau về việc giải
quyết vụ án thì Hội đồng xét xử tóm tắt nội dung yêu cầu của đương sự, thông
báo kết luận tại phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ
và đối thoại, những vấn đề cần tranh tụng, yêu cầu đương sự trình bày về vấn đề
chưa rõ, còn mâu thuẫn theo trình tự sau đây:
a) Người bảo vệ quyền và
lợi ích hợp pháp của người khởi kiện trình bày về vấn đề chưa rõ, còn mâu thuẫn
và chứng cứ để chứng minh cho yêu cầu của người khởi kiện là có căn cứ và hợp
pháp. Người khởi kiện có quyền bổ sung ý kiến. Trường hợp cơ quan, tổ chức khởi
kiện vụ án thì đại diện cơ quan, tổ chức trình bày về vấn đề chưa rõ, còn mâu
thuẫn và chứng cứ để chứng minh cho yêu cầu khởi kiện là có căn cứ và hợp pháp;
b) Người bảo vệ quyền và
lợi ích hợp pháp của người bị kiện trình bày ý kiến của người bị kiện đối với
yêu cầu của người khởi kiện; yêu cầu, đề nghị của người bị kiện và chứng cứ để
chứng minh cho yêu cầu đó là có căn cứ và hợp pháp. Người bị kiện có quyền bổ
sung ý kiến;
c) Người bảo vệ quyền và
lợi ích hợp pháp của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trình bày ý kiến
của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đối với yêu cầu, đề nghị của người
khởi kiện, người bị kiện; yêu cầu độc lập, đề nghị của người có quyền lợi,
nghĩa vụ liên quan và chứng cứ để chứng minh cho đề nghị đó là có căn cứ và hợp
pháp. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền bổ sung ý kiến.
2. Trường hợp người khởi
kiện, người bị kiện, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không có người bảo
vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho mình thì họ tự trình bày về yêu cầu, đề nghị
của mình và chứng cứ để chứng minh cho yêu cầu, đề nghị đó là có căn cứ và hợp
pháp.
3. Tại phiên tòa, đương
sự, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự chỉ có quyền bổ sung
chứng cứ theo quy định tại khoản 2 Điều 133 của Luật này để
chứng minh cho yêu cầu, đề nghị của mình.
Điều
177. Thứ tự và nguyên tắc hỏi tại phiên tòa
1. Sau khi nghe xong lời trình bày của đương
sự, người bảo vệ quyền và
lợi ích hợp pháp của đương sự theo quy định tại Điều 176 của Luật này, theo sự điều hành của Chủ tọa phiên tòa, thứ tự hỏi của từng người được thực hiện như sau:
a) Người khởi kiện, người bảo vệ quyền và lợi
ích hợp pháp của người khởi kiện hỏi trước, tiếp đến người bị kiện, người bảo
vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người bị kiện, sau đó là người có quyền lợi,
nghĩa vụ liên quan, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người có quyền
lợi, nghĩa vụ liên quan;
b) Người tham gia tố tụng khác;
c) Chủ tọa phiên tòa, Hội thẩm nhân dân;
d) Kiểm sát viên tham gia phiên tòa.
2. Việc đặt câu hỏi phải rõ ràng, nghiêm túc,
không trùng lặp, không lợi dụng việc hỏi và trả lời để xâm phạm danh dự, nhân
phẩm của những người tham gia tố tụng.
1. Trường hợp có nhiều
người khởi kiện thì phải hỏi riêng từng người một.
2. Chỉ hỏi người khởi
kiện về vấn đề mà người khởi kiện, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của
người khởi kiện trình bày chưa rõ, có mâu thuẫn với nhau hoặc mâu thuẫn với lời
khai của họ trước đó, mâu thuẫn với lời trình bày của người bị kiện, người có
quyền lợi, nghĩa vụ liên quan và người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của
những người này.
3. Người khởi kiện có
thể tự mình trả lời hoặc người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người khởi
kiện trả lời thay cho người khởi kiện và sau đó người khởi kiện trả lời bổ
sung.
1. Trường hợp có nhiều
người bị kiện thì phải hỏi riêng từng người một.
2. Chỉ hỏi người bị kiện
về vấn đề mà người bị kiện, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người bị
kiện trình bày chưa rõ, có mâu thuẫn với nhau hoặc mâu thuẫn với lời khai của
họ trước đó, mâu thuẫn với lời trình bày của người khởi kiện, người có quyền
lợi, nghĩa vụ liên quan và người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của những
người này.
3. Người bị kiện có thể
tự mình trả lời hoặc người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người bị kiện
trả lời thay cho người bị kiện và sau đó người bị kiện trả lời bổ sung.
Điều
180. Hỏi người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan
1. Trường hợp có nhiều
người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan thì phải hỏi riêng từng người một.
2. Chỉ hỏi người có
quyền lợi, nghĩa vụ liên quan về vấn đề mà người có quyền lợi, nghĩa vụ liên
quan, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của họ trình bày chưa rõ, có mâu
thuẫn với nhau hoặc mâu thuẫn với lời khai của họ trước đó, mâu thuẫn với lời trình
bày của người khởi kiện, người bị kiện, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp
của những người này.
3. Người có quyền lợi,
nghĩa vụ liên quan có thể tự mình trả lời hoặc người bảo vệ quyền và lợi ích
hợp pháp của họ trả lời thay cho họ và sau đó người có quyền lợi, nghĩa vụ liên
quan trả lời bổ sung.
1. Trường hợp có nhiều
người làm chứng thì phải hỏi riêng từng người một.
2. Trước khi hỏi người
làm chứng, Chủ tọa phiên tòa phải hỏi rõ về quan hệ giữa họ với các đương sự
trong vụ án; nếu người làm chứng là người chưa thành niên thì Chủ tọa phiên tòa
có thể yêu cầu cha, mẹ, người giám hộ hoặc thầy giáo, cô giáo giúp đỡ để hỏi.
3. Chủ tọa phiên tòa yêu
cầu người làm chứng trình bày rõ tình tiết của vụ án mà họ biết. Sau khi người
làm chứng trình bày xong thì chỉ hỏi thêm người làm chứng về vấn đề mà họ trình
bày chưa rõ, chưa đầy đủ hoặc có mâu thuẫn với nhau, mâu thuẫn với những lời
khai của họ trước đó, mâu thuẫn với lời trình bày của đương sự, người bảo vệ
quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự.
4. Sau khi trình bày
xong, người làm chứng ở lại phòng xử án để có thể được hỏi thêm.
5. Trường hợp cần thiết
phải bảo đảm an toàn cho người làm chứng và những người thân thích của họ, Hội
đồng xét xử quyết định không tiết lộ những thông tin về nhân thân của người làm
chứng và không để những người trong phiên tòa nhìn thấy họ.
6. Đương sự, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự hỏi
người làm chứng sau khi được sự đồng ý của Chủ tọa phiên tòa.
Điều
182. Công bố các tài liệu của vụ án
1. Hội đồng xét xử công
bố các tài liệu của vụ án trong các trường hợp sau đây:
a) Người tham gia tố
tụng không có mặt tại phiên tòa mà trong giai đoạn chuẩn bị xét xử đã có lời
khai;
b) Lời khai của người
tham gia tố tụng tại phiên tòa mâu thuẫn với lời khai trước đó;
c) Khi Hội đồng xét xử
thấy cần thiết hoặc khi có yêu cầu của đương sự,
người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự, người tham gia tố tụng khác, Kiểm sát viên.
2. Trường hợp đặc biệt
cần giữ bí mật nhà nước, giữ gìn thuần phong, mỹ tục của dân tộc, giữ bí mật
nghề nghiệp, bí mật kinh doanh, bí mật cá nhân hoặc để bảo vệ
người chưa thành niên theo yêu cầu của đương sự thì Hội đồng xét xử không công
bố các tài liệu có trong hồ sơ vụ án.
Theo yêu cầu của đương sự, người bảo vệ quyền và
lợi ích hợp pháp của đương sự, người tham gia tố tụng khác hoặc của Kiểm sát viên hoặc khi xét thấy cần thiết, Hội đồng xét xử cho nghe băng
ghi âm, đĩa ghi âm, xem băng ghi hình, đĩa ghi hình, thiết bị khác lưu trữ âm thanh, hình ảnh tại phiên tòa, trừ trường hợp quy định tại khoản 2 Điều
182 của Luật này.
1. Vật chứng, ảnh hoặc
biên bản xác nhận vật chứng được đưa ra để xem xét tại phiên tòa.
2. Hội đồng xét xử có
thể cùng với các đương sự đến xem xét tại chỗ vật chứng không thể đưa đến phiên
tòa được nếu xét thấy cần thiết.
1. Chủ tọa phiên tòa yêu
cầu người giám định trình bày kết luận của mình về vấn đề được giao giám định.
Khi trình bày, người giám định có quyền giải thích về kết luận giám định, căn
cứ để đưa ra kết luận giám định.
2. Kiểm sát viên, những
người tham gia tố tụng có mặt tại phiên tòa có quyền nhận xét về kết luận giám
định, được hỏi những vấn đề còn chưa rõ hoặc có mâu thuẫn trong kết luận giám
định hoặc có mâu thuẫn với chứng cứ khác của vụ án.
3. Trường hợp người giám
định không có mặt tại phiên tòa thì Chủ tọa phiên tòa công bố kết luận giám
định.
4. Khi có người tham gia
tố tụng không đồng ý với kết luận giám định được công bố tại phiên tòa và có
yêu cầu giám định bổ sung hoặc giám định lại; trường hợp xét thấy việc giám
định bổ sung, giám định lại không cần thiết thì Hội đồng xét xử vẫn tiếp tục
phiên tòa; trường hợp xét thấy việc giám định bổ sung, giám định lại cần thiết
cho việc giải quyết vụ án thì Hội đồng xét xử quyết định giám định bổ sung,
giám định lại và tạm ngừng phiên tòa để chờ kết quả giám định bổ sung, giám
định lại.
Điều 186. Kết thúc việc hỏi tại phiên tòa
Khi nhận thấy các tình
tiết của vụ án đã được xem xét đầy đủ thì Chủ tọa phiên tòa hỏi Kiểm sát viên,
đương sự, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự và những người
tham gia tố tụng khác xem họ có yêu cầu hỏi vấn đề gì nữa không; trường hợp có
người yêu cầu và xét thấy yêu cầu đó là có căn cứ thì Chủ tọa phiên tòa quyết
định tiếp tục việc hỏi.
1. Trong quá trình xét
xử, Hội đồng xét xử có quyền tạm ngừng phiên tòa khi có một trong các căn cứ
sau đây:
a) Do tình trạng sức khỏe hoặc do sự kiện bất khả kháng, trở ngại khách
quan khác mà người tiến hành tố tụng không thể tiếp tục tiến hành phiên tòa, trừ
trường hợp thay thế được người tiến hành tố tụng;
b) Do tình trạng sức khỏe hoặc do sự kiện bất
khả kháng, trở ngại khách quan khác mà người tham gia tố tụng không thể tiếp
tục tham gia phiên tòa, trừ trường hợp người tham gia tố tụng có yêu cầu xét xử
vắng mặt;
c) Cần phải xác minh, thu thập bổ sung tài
liệu, chứng cứ mà không thực hiện thì không thể giải quyết được vụ án và không
thể thực hiện được ngay tại phiên tòa;
d) Cần phải báo cáo với Chánh án Tòa án có
thẩm quyền để đề nghị, kiến nghị sửa đổi, bổ sung hoặc bãi bỏ văn bản
quy phạm pháp luật theo quy định tại Điều 111 của Luật này;
đ) Các bên đương sự đề nghị Tòa án tạm ngừng
phiên tòa để các bên đương sự tự đối thoại;
e) Chờ kết quả giám định bổ sung, giám định
lại quy định tại khoản 4 Điều 185 của Luật này.
2. Việc tạm ngừng phiên tòa phải được ghi vào
biên bản phiên tòa. Thời hạn tạm ngừng phiên tòa không được quá 30 ngày kể từ
ngày Hội đồng xét xử quyết định tạm ngừng phiên tòa. Hội đồng xét xử tiếp tục
tiến hành phiên tòa, nếu lý do để tạm ngừng phiên tòa không còn. Hết thời hạn
này, nếu lý do tạm ngừng phiên tòa chưa được khắc phục, Hội đồng xét xử ra
quyết định tạm đình chỉ giải quyết vụ án và thông báo bằng văn bản cho những
người tham gia tố tụng và Viện kiểm sát cùng cấp về thời gian tiếp tục phiên
tòa.
Điều 188. Trình tự phát biểu khi tranh luận
1. Sau khi kết thúc việc hỏi, việc tranh luận
tại phiên tòa được thực hiện như sau:
a) Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của
người khởi kiện trình bày. Người khởi kiện có quyền bổ sung ý kiến. Trường hợp
cơ quan, tổ chức khởi kiện thì đại diện cơ quan, tổ chức trình bày ý kiến;
b) Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của
người bị kiện tranh luận, đối đáp. Người bị kiện có quyền bổ sung ý kiến;
c) Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của
người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trình bày. Người có quyền lợi, nghĩa vụ
liên quan có quyền bổ sung ý kiến;
d) Các đương sự đối đáp theo sự điều khiển
của Chủ tọa phiên tòa;
đ) Khi xét thấy cần thiết, Hội đồng xét xử có
thể yêu cầu các bên đương sự tranh luận bổ sung về những vấn đề cụ thể để làm
căn cứ giải quyết vụ án.
2. Trường hợp người khởi kiện, người bị kiện,
người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không có người bảo vệ quyền và lợi ích
hợp pháp của mình thì họ tự trình bày khi tranh luận.
3. Trường hợp vắng mặt một trong các bên
đương sự, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự và người tham gia
tố tụng khác thì Chủ tọa phiên tòa phải công bố lời khai của họ, văn bản bảo vệ
quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự, trên cơ sở đó các đương sự có mặt tại
phiên tòa tranh luận và đối đáp.
Điều 189. Phát biểu khi tranh luận và đối đáp
Khi phát biểu về đánh giá chứng cứ, đề xuất
quan điểm của mình về việc giải quyết vụ án, người tham gia tranh luận phải căn
cứ vào tài liệu, chứng cứ đã thu thập được và đã được xem xét, kiểm tra tại
phiên tòa cũng như kết quả việc hỏi tại phiên tòa. Người tham gia tranh luận có
quyền đáp lại ý kiến của người khác.
Điều 190. Phát biểu của Kiểm sát viên
Sau khi những người tham gia tố tụng tranh
luận và đối đáp xong, Kiểm sát viên phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội thẩm nhân dân, Thư ký phiên tòa và của người
tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án, kể từ khi thụ lý cho đến
trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án và phát biểu ý kiến về việc giải quyết vụ án.
Ngay sau khi kết
thúc phiên tòa, Kiểm sát viên phải gửi văn bản phát biểu ý kiến cho Tòa án để
lưu vào hồ sơ vụ án.
1. Sau khi kết thúc phần tranh luận, Hội đồng
xét xử vào phòng nghị án để nghị án.
2. Chỉ có các thành viên của Hội đồng xét xử
mới có quyền nghị án. Khi nghị án, các thành viên của Hội đồng xét xử phải giải
quyết tất cả các vấn đề của vụ án bằng cách biểu quyết theo đa số về từng vấn
đề. Hội thẩm nhân dân biểu quyết trước, Thẩm phán biểu quyết sau cùng. Trường
hợp Hội đồng xét xử gồm 05 thành viên thì Thẩm phán Chủ tọa phiên tòa là người
biểu quyết sau cùng. Người có ý kiến thiểu số có quyền trình bày ý kiến của
mình bằng văn bản và được đưa vào hồ sơ vụ án.
3. Khi nghị án, Hội đồng xét xử chỉ được căn
cứ vào tài liệu, chứng cứ đã được kiểm tra, xem xét tại phiên tòa, kết quả việc
tranh tụng tại phiên tòa, ý kiến của Kiểm sát viên, các quy định của pháp luật
và nghiên cứu, áp dụng án lệ hành chính (nếu có) liên quan để quyết định về các
vấn đề sau đây:
a) Tính hợp pháp và có căn cứ về hình thức,
nội dung của quyết định hành chính hoặc việc thực hiện hành vi hành chính bị
khởi kiện;
b) Tính hợp pháp về thẩm quyền, trình tự, thủ
tục ban hành quyết định hành chính hoặc việc thực hiện hành vi hành chính;
c) Thời hiệu, thời hạn ban hành quyết định
hành chính hoặc thực hiện hành vi hành chính;
d) Mối liên hệ giữa quyết định hành chính,
hành vi hành chính với quyền và lợi ích hợp pháp của người khởi kiện và những
người có liên quan;
đ) Tính hợp pháp và có căn cứ của văn bản
hành chính có liên quan (nếu có);
e) Vấn đề bồi thường thiệt hại và vấn đề khác
(nếu có).
4. Khi nghị án phải có biên bản ghi lại ý
kiến đã thảo luận và quyết định của Hội đồng xét xử. Biên bản nghị án phải được
các thành viên Hội đồng xét xử ký tên tại phòng nghị án trước khi tuyên án.
5. Trường hợp vụ án có nhiều tình tiết phức
tạp, việc nghị án đòi hỏi phải có thêm thời gian thì Hội đồng xét xử có thể
quyết định kéo dài thời gian nghị án, nhưng không quá 05 ngày làm việc kể từ
khi kết thúc tranh luận tại phiên tòa.
Hội đồng xét xử phải thông báo cho những
người có mặt tại phiên tòa và người tham gia tố tụng vắng mặt tại phiên tòa
biết ngày, giờ và địa điểm tuyên án; nếu Hội đồng xét xử đã thực hiện việc
thông báo mà có người tham gia tố tụng vắng mặt thì Hội đồng xét xử vẫn tiến
hành việc tuyên án theo quy định tại Điều 195 của Luật này.
Điều 192. Trở lại việc hỏi và tranh luận
Qua tranh luận hoặc qua nghị án, nếu xét thấy
có tình tiết của vụ án chưa được xem xét, việc xét hỏi chưa đầy đủ hoặc cần xem
xét thêm chứng cứ thì Hội đồng xét xử quyết định trở lại việc hỏi và tranh
luận.
Điều 193. Thẩm quyền của Hội đồng xét xử
1. Hội đồng xét xử xem xét tính hợp pháp của
quyết định hành chính, hành vi hành chính, quyết định kỷ luật buộc thôi việc,
quyết định giải quyết khiếu nại về quyết định xử lý vụ việc cạnh tranh, quyết
định giải quyết khiếu nại trong hoạt động kiểm toán nhà nước[55],
danh sách cử tri bị khởi kiện, quyết định giải quyết khiếu nại và văn bản quy
phạm pháp luật có liên quan.
2. Hội đồng xét xử có quyền quyết định:
a) Bác yêu cầu khởi kiện, nếu yêu cầu đó
không có căn cứ pháp luật;
b) Chấp nhận một phần hoặc toàn bộ yêu cầu
khởi kiện, tuyên hủy một phần hoặc toàn bộ quyết định hành chính trái pháp luật
và quyết định giải quyết khiếu nại có liên quan (nếu có); buộc cơ quan nhà nước
hoặc người có thẩm quyền trong cơ quan nhà nước thực hiện nhiệm vụ, công vụ
theo quy định của pháp luật; đồng thời kiến nghị cách thức xử lý đối với quyết
định hành chính trái pháp luật đã bị hủy;
c) Chấp nhận một phần hoặc toàn bộ yêu cầu
khởi kiện, tuyên bố hành vi hành chính là trái pháp luật, tuyên hủy một phần
hoặc toàn bộ quyết định giải quyết khiếu nại có liên quan (nếu có); buộc cơ
quan nhà nước hoặc người có thẩm quyền trong cơ quan nhà nước chấm dứt hành vi
hành chính trái pháp luật;
d) Chấp nhận yêu cầu khởi kiện, tuyên hủy
quyết định kỷ luật buộc thôi việc trái pháp luật; buộc người đứng đầu cơ quan,
tổ chức thực hiện nhiệm vụ, công vụ theo quy định của pháp luật;
đ)[56] Chấp nhận một phần
hoặc toàn bộ yêu cầu khởi kiện, tuyên hủy một phần hoặc toàn bộ quyết định giải
quyết khiếu nại về quyết định xử lý vụ việc cạnh tranh, quyết định giải quyết
khiếu nại trong hoạt động kiểm toán nhà nước trái pháp luật; buộc cơ quan,
người có thẩm quyền ra quyết định giải quyết khiếu nại về quyết định xử lý vụ
việc cạnh tranh, quyết định giải quyết khiếu nại trong hoạt động kiểm toán
nhà nước giải quyết lại vụ việc theo quy định của Luật Cạnh tranh, Luật Kiểm
toán nhà nước và quy định khác của pháp luật có liên quan;
e) Chấp nhận một phần hoặc toàn bộ yêu cầu
khởi kiện; buộc cơ quan lập danh sách cử tri sửa đổi, bổ sung danh sách cử tri
theo quy định của pháp luật;
g)[57] Buộc cơ quan, tổ
chức bồi thường thiệt hại, khôi phục quyền, lợi ích hợp pháp của cơ quan, tổ
chức, cá nhân bị xâm phạm do quyết định hành chính, hành vi hành chính, quyết
định kỷ luật buộc thôi việc, quyết định xử lý vụ việc cạnh tranh, hành vi của
Trưởng Đoàn kiểm toán, Tổ trưởng Tổ kiểm toán, thành viên Đoàn kiểm toán, đánh
giá, xác nhận, kết luận, kiến nghị kiểm toán của Kiểm toán nhà nước trái pháp
luật gây ra;
h) Kiến nghị với cơ quan nhà nước có thẩm
quyền, người đứng đầu của cơ quan nhà nước có thẩm quyền xem xét trách nhiệm
của cơ quan nhà nước, người có thẩm quyền của cơ quan nhà nước.
3. Trường hợp cần phải yêu cầu cơ quan, người
có thẩm quyền xem xét, xử lý văn bản hành chính liên quan đến quyết định hành
chính, hành vi hành chính bị khởi kiện quy định tại khoản 1
Điều 6 của Luật này thì Hội đồng xét xử báo cáo Chánh án Tòa án đang giải
quyết vụ án đó có văn bản yêu cầu cơ quan, người có thẩm quyền xem xét, xử lý
văn bản hành chính đó. Trường hợp này, Hội đồng xét xử có quyền tạm ngừng phiên
tòa để chờ kết quả giải quyết của cơ quan, người có thẩm quyền. Trong thời hạn
30 ngày kể từ ngày nhận được quyết định của Tòa án thì cơ quan, người có thẩm
quyền phải trả lời bằng văn bản về kết quả xử lý cho Tòa án biết để làm căn cứ
cho việc giải quyết vụ án. Quá thời hạn này mà không nhận được văn bản trả lời
của cơ quan, người có thẩm quyền thì Hội đồng xét xử có quyền áp dụng văn bản
của cơ quan quản lý nhà nước cấp trên để quyết định theo quy định tại khoản 2
Điều này.
4. Trường hợp phát hiện văn bản quy phạm pháp
luật có liên quan đến việc giải quyết vụ án hành chính mà có dấu hiệu trái với
Hiến pháp, luật, văn bản quy phạm pháp luật của cơ quan nhà nước cấp trên thì
Hội đồng xét xử tạm ngừng phiên tòa theo quy định tại Điều 112
của Luật này.
1. Tòa án ra bản án nhân danh nước Cộng hòa
xã hội chủ nghĩa Việt Nam.
2. Bản án gồm có phần mở đầu, phần nội dung
vụ án và nhận định và phần quyết định của Tòa án, cụ thể như sau:
a) Trong phần mở đầu phải ghi rõ tên Tòa án
xét xử sơ thẩm; số và ngày thụ lý vụ án; số bản án và ngày tuyên án; họ, tên
của thành viên Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa, Kiểm sát viên, người giám
định, người phiên dịch; tên, địa chỉ của người khởi kiện, người bị kiện, người
có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan; cơ quan, tổ chức khởi kiện; người đại diện
hợp pháp, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự; đối tượng khởi
kiện; số, ngày, tháng, năm của quyết định đưa vụ án ra xét xử; xét xử công khai
hoặc xét xử kín; thời gian và địa điểm xét xử;
b) Trong phần nội dung vụ án và nhận định của
Tòa án phải ghi yêu cầu khởi kiện của người khởi kiện, khởi kiện của cơ quan,
tổ chức; đề nghị, yêu cầu độc lập của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan.
Tòa án phải căn cứ vào kết quả tranh tụng,
các chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa để phân tích, đánh giá, nhận định
đầy đủ, khách quan về các tình tiết của vụ án, những căn cứ pháp luật, án lệ
(nếu có) mà Tòa án áp dụng để chấp nhận hoặc không chấp nhận yêu cầu, đề nghị
của đương sự, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự và giải quyết
các vấn đề khác có liên quan;
c) Trong phần quyết định phải ghi rõ các căn
cứ pháp luật, quyết định của Hội đồng xét xử về từng vấn đề phải giải quyết
trong vụ án, về áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời, về án phí, chi phí tố tụng
và quyền kháng cáo đối với bản án; trường hợp có quyết định phải thi hành ngay
thì phải ghi rõ quyết định đó.
3. Khi xét xử lại vụ án mà bản án, quyết định
đã bị hủy một phần hoặc toàn bộ theo quyết định giám đốc thẩm, tái thẩm, Tòa án
phải giải quyết vấn đề tài sản, nghĩa vụ đã được thi hành theo bản án, quyết
định có hiệu lực pháp luật nhưng bị hủy và ghi rõ trong bản án.
Hội đồng xét xử tuyên đọc bản án có mặt các
đương sự. Trường hợp đương sự có mặt tại phiên tòa nhưng vắng mặt khi tuyên án
hoặc vắng mặt theo quy định tại khoản 5 Điều 191 của Luật này
thì Hội đồng xét xử vẫn tuyên đọc bản án. Trường hợp xét xử kín theo quy định
tại khoản 2 Điều 16 của Luật này thì Hội đồng xét xử tuyên
công khai phần mở đầu và phần quyết định của bản án.
Khi tuyên án, mọi người trong phòng xử án
phải đứng dậy, trừ trường hợp đặc biệt có sự đồng ý của Chủ tọa phiên tòa. Chủ
tọa phiên tòa hoặc một thành viên khác của Hội đồng xét xử tuyên đọc bản án và
có thể giải thích thêm về việc thi hành bản án và quyền kháng cáo.
Trường hợp có đương sự không biết tiếng Việt
thì sau khi tuyên án, người phiên dịch phải dịch cho họ nghe toàn bộ bản án
sang ngôn ngữ mà họ biết.
Điều 196. Cấp, gửi trích lục bản án, bản án
1. Trong thời hạn 03 ngày làm việc kể từ ngày
kết thúc phiên tòa, các đương sự được Tòa án cấp trích lục bản án.
2. Trong thời hạn 07 ngày kể từ ngày tuyên
án, Tòa án phải cấp, gửi bản án cho các đương sự và Viện kiểm sát cùng cấp.
3. Trong thời hạn 30 ngày kể từ ngày hết thời
hạn kháng cáo, kháng nghị mà không có kháng cáo, kháng nghị, Tòa án cấp, gửi
bản án đã có hiệu lực pháp luật cho đương sự, Viện kiểm sát cùng cấp, cơ quan
thi hành án dân sự có thẩm quyền[58], cơ quan cấp trên trực
tiếp của người bị kiện.
4. Bản án sơ thẩm có hiệu lực pháp luật của
Tòa án cấp sơ thẩm được công bố trên Cổng thông tin điện tử của Tòa án (nếu
có), trừ bản án của Tòa án có chứa thông tin quy định tại khoản
2 Điều 96 của Luật này.
Điều 197. Sửa chữa, bổ sung bản án, quyết
định của Tòa án
1. Sau khi bản án, quyết định của Tòa án được
ban hành thì không được sửa chữa, bổ sung, trừ trường hợp phát hiện lỗi rõ ràng
về chính tả, về số liệu do nhầm lẫn hoặc tính toán sai. Văn bản sửa chữa, bổ
sung phải được Tòa án gửi ngay cho đương sự và Viện kiểm sát cùng cấp; trường
hợp bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật còn phải gửi cho cơ quan thi
hành án dân sự có thẩm quyền[59], cơ quan cấp trên trực tiếp
của người bị kiện.
2. Việc sửa chữa, bổ sung bản án, quyết định
quy định tại khoản 1 Điều này do Thẩm phán Chủ tọa phiên tòa phối hợp với các
thành viên Hội đồng xét xử vụ án hoặc Thẩm phán Chủ tọa phiên họp thực hiện.
Trường hợp một trong những thành viên của Hội đồng xét xử hoặc Thẩm phán Chủ
tọa phiên họp không thể thực hiện được việc sửa chữa, bổ sung thì việc sửa
chữa, bổ sung do Chánh án Tòa án thực hiện.
Điều 198. Nhận đơn khởi kiện và thụ lý vụ án
Ngay sau khi nhận được đơn khởi kiện về danh
sách cử tri, Chánh án Tòa án phân công một Thẩm phán thụ lý ngay vụ án.
Điều 199. Thời hạn giải quyết vụ án
1. Trong thời hạn 02 ngày kể từ ngày thụ lý
vụ án, Thẩm phán được phân công thụ lý vụ án phải ra một trong các quyết định
sau đây:
a) Quyết định đưa vụ án ra xét xử;
b) Đình chỉ vụ án và trả lại đơn khởi kiện.
2. Sau khi ra quyết định đưa vụ án ra xét xử,
Tòa án phải gửi ngay quyết định đó cho đương sự và Viện kiểm sát cùng cấp.
3. Trong thời hạn 02 ngày kể từ ngày ra quyết
định đưa vụ án ra xét xử, Tòa án phải mở phiên tòa xét xử.
Điều 200. Sự có mặt của đương sự, đại diện
Viện kiểm sát
Đương sự, Kiểm sát viên Viện kiểm sát cùng
cấp phải có mặt tại phiên tòa, nếu vắng mặt thì Hội đồng xét xử vẫn tiến hành
xét xử vụ án.
Điều 201. Áp dụng các quy định khác của Luật
này
Các quy định khác của Luật này được áp dụng
để giải quyết vụ án hành chính đối với khiếu kiện về danh sách cử tri trong
trường hợp Chương này không quy định, trừ các quy định về hoãn phiên tòa, gửi
hồ sơ vụ án cho Viện kiểm sát nghiên cứu trước khi mở phiên tòa và các quy định
về thủ tục phúc thẩm, giám đốc thẩm, tái thẩm.
Điều 202. Hiệu lực của bản án, quyết định
đình chỉ vụ án của Tòa án
1. Bản án, quyết định đình chỉ vụ án giải
quyết khiếu kiện về danh sách cử tri có hiệu lực thi hành ngay. Đương sự không
có quyền kháng cáo, Viện kiểm sát không có quyền kháng nghị.
2. Tòa án phải gửi ngay bản án, quyết định
đình chỉ vụ án cho đương sự và Viện kiểm sát cùng cấp.
Mục 1. QUY ĐỊNH CHUNG VỀ THỦ TỤC PHÚC THẨM
Điều 203. Tính chất của xét xử phúc thẩm
Xét xử phúc thẩm là việc Tòa án cấp phúc thẩm
xét xử lại vụ án mà bản án, quyết định của Tòa án cấp sơ thẩm chưa có hiệu lực
pháp luật bị kháng cáo hoặc kháng nghị.
Điều 204. Người có quyền kháng cáo
Đương sự hoặc người đại diện hợp pháp của
đương sự có quyền kháng cáo bản án, quyết định tạm đình chỉ, đình chỉ việc giải
quyết vụ án của Tòa án cấp sơ thẩm để yêu cầu Tòa án cấp phúc thẩm giải quyết
lại theo thủ tục phúc thẩm.
1. Khi thực hiện quyền kháng cáo, người kháng
cáo phải làm đơn kháng cáo. Đơn kháng cáo phải có các nội dung chính sau đây:
a) Ngày, tháng, năm làm đơn kháng cáo;
b) Tên, địa chỉ; số điện thoại, fax, địa chỉ
thư điện tử (nếu có) của người kháng cáo;
c) Kháng cáo toàn bộ hoặc một phần của bản
án, quyết định của Tòa án cấp sơ thẩm chưa có hiệu lực pháp luật;
d) Lý do của việc kháng cáo và yêu cầu của
người kháng cáo;
đ) Chữ ký hoặc điểm chỉ của người kháng cáo.
2. Người kháng cáo là cá nhân có năng lực
hành vi tố tụng hành chính đầy đủ có thể tự mình làm đơn kháng cáo. Tại mục
tên, địa chỉ của người kháng cáo trong đơn phải ghi họ, tên, địa chỉ của đương
sự có kháng cáo; đồng thời ở phần cuối đơn kháng cáo, đương sự đó phải ký tên
hoặc điểm chỉ.
3. Người kháng cáo quy định tại khoản 2 Điều
này nếu không tự mình kháng cáo thì có thể ủy quyền cho người khác đại diện cho
mình kháng cáo. Tại mục tên, địa chỉ của người kháng cáo trong đơn phải ghi họ,
tên, địa chỉ của người đại diện theo ủy quyền có kháng cáo; họ, tên, địa chỉ
của đương sự ủy quyền kháng cáo và văn bản ủy quyền; đồng thời ở phần cuối đơn
kháng cáo, người đại diện theo ủy quyền phải ký tên hoặc điểm chỉ.
4. Người đại diện theo pháp luật của đương sự
là cơ quan, tổ chức có thể tự mình làm đơn kháng cáo. Tại mục tên, địa chỉ của
người kháng cáo trong đơn phải ghi tên, địa chỉ của đương sự là cơ quan, tổ
chức; họ, tên, chức vụ của người đại diện theo pháp luật của đương sự là cơ
quan, tổ chức; đồng thời ở phần cuối đơn kháng cáo, người đại diện theo pháp
luật phải ký tên và đóng dấu của cơ quan, tổ chức đó, trường hợp tổ chức kháng
cáo là doanh nghiệp thì việc sử dụng con dấu theo quy định của Luật Doanh nghiệp.
Trường hợp người đại diện theo pháp luật của
đương sự là cơ quan, tổ chức ủy quyền cho người khác đại diện cho cơ quan, tổ
chức kháng cáo thì tại mục tên, địa chỉ của người kháng cáo trong đơn phải ghi
họ, tên, địa chỉ của người đại diện theo ủy quyền kháng cáo; tên, địa chỉ của
đương sự là cơ quan, tổ chức ủy quyền; họ, tên, chức vụ của người đại diện theo
pháp luật của đương sự là cơ quan, tổ chức đó và văn bản ủy quyền; đồng thời ở
phần cuối đơn kháng cáo, người đại diện theo ủy quyền phải ký tên hoặc điểm
chỉ.
5. Người đại diện theo pháp luật của đương sự
là người chưa thành niên, người mất năng lực hành vi dân sự có thể tự mình làm
đơn kháng cáo. Tại mục tên, địa chỉ của người kháng cáo trong đơn phải ghi họ,
tên, địa chỉ của người đại diện theo pháp luật; họ, tên, địa chỉ của đương sự
là người chưa thành niên, người mất năng lực hành vi dân sự; đồng thời ở phần
cuối đơn kháng cáo, người kháng cáo phải ký tên hoặc điểm chỉ.
Trường hợp người đại diện theo pháp luật của
đương sự ủy quyền cho người khác đại diện cho mình kháng cáo thì tại mục tên,
địa chỉ của người kháng cáo trong đơn phải ghi họ, tên, địa chỉ của người đại
diện theo ủy quyền và văn bản ủy quyền; họ, tên, địa chỉ của người đại diện
theo pháp luật của đương sự ủy quyền; họ, tên, địa chỉ của đương sự là người
chưa thành niên, người mất năng lực hành vi dân sự; đồng thời ở phần cuối đơn
kháng cáo, người đại diện theo ủy quyền phải ký tên hoặc điểm chỉ.
6. Việc ủy quyền quy định tại các khoản 3, 4
và 5 Điều này phải được lập thành văn bản có công chứng, chứng thực hợp pháp,
trừ trường hợp văn bản ủy quyền đó được lập tại Tòa án có sự chứng kiến của
Thẩm phán hoặc người được Chánh án Tòa án phân công. Trong văn bản ủy quyền
phải có nội dung đương sự ủy quyền cho người đại diện theo ủy quyền kháng cáo
bản án, quyết định tạm đình chỉ, đình chỉ giải quyết vụ án của Tòa án cấp sơ
thẩm.
7. Đơn kháng cáo phải được gửi cho Tòa án cấp
sơ thẩm đã ra bản án, quyết định bị kháng cáo. Kèm theo đơn kháng cáo người
kháng cáo gửi tài liệu, chứng cứ bổ sung (nếu có) để chứng minh cho kháng cáo
của mình là có căn cứ và hợp pháp.
Trường hợp đơn kháng cáo được gửi cho Tòa án
cấp phúc thẩm thì Tòa án đó phải chuyển cho Tòa án cấp sơ thẩm để tiến hành các
thủ tục cần thiết theo quy định tại Điều 216 của Luật này.
1. Thời hạn kháng cáo đối với bản án của Tòa
án cấp sơ thẩm là 15 ngày kể từ ngày tuyên án; đối với đương sự không có mặt
tại phiên tòa hoặc không có mặt khi tuyên án mà có lý do chính đáng thì thời
hạn kháng cáo tính từ ngày bản án được giao cho họ hoặc được niêm yết.
Đối với trường hợp đương sự đã tham gia phiên
tòa nhưng vắng mặt khi Tòa án tuyên án mà không có lý do chính đáng thì thời
hạn kháng cáo kể từ ngày tuyên án.
2. Thời hạn kháng cáo đối với quyết định tạm
đình chỉ, đình chỉ giải quyết vụ án của Tòa án cấp sơ thẩm là 07 ngày kể từ
ngày người có quyền kháng cáo nhận được quyết định hoặc kể từ ngày quyết định
được niêm yết tại trụ sở Ủy ban nhân dân cấp xã nơi họ cư trú hoặc nơi có trụ
sở trong trường hợp người có quyền kháng cáo là cơ quan, tổ chức.
3. Trường hợp đơn kháng cáo gửi qua dịch vụ
bưu chính thì ngày kháng cáo được tính căn cứ vào ngày tổ chức dịch vụ bưu
chính nơi gửi đóng dấu ở phong bì. Trường hợp người kháng cáo đang bị tạm giữ
hoặc bị tạm giam thì ngày kháng cáo là ngày làm đơn kháng cáo theo xác nhận của
người có thẩm quyền của nhà tạm giữ, trại tạm giam.
Điều 207. Kiểm tra đơn kháng cáo
1. Sau khi nhận được đơn kháng cáo, Tòa án
cấp sơ thẩm phải kiểm tra tính hợp lệ của đơn kháng cáo theo quy định tại Điều 205 của Luật này.
2. Trường hợp đơn kháng cáo quá hạn thì Tòa
án cấp sơ thẩm yêu cầu người kháng cáo trình bày rõ lý do và xuất trình tài
liệu, chứng cứ (nếu có) để chứng minh cho lý do nộp đơn kháng cáo quá hạn là
chính đáng.
3. Trường hợp đơn kháng cáo chưa đúng quy
định tại Điều 205 của Luật này thì Tòa án cấp sơ thẩm yêu
cầu người kháng cáo làm lại đơn kháng cáo hoặc sửa đổi, bổ sung trong thời hạn
05 ngày làm việc kể từ ngày nhận được yêu cầu của Tòa án.
4. Tòa án trả lại đơn kháng cáo trong các
trường hợp sau đây:
a) Người kháng cáo không có quyền kháng cáo;
b) Người kháng cáo không làm lại đơn kháng
cáo hoặc không sửa đổi, bổ sung đơn kháng cáo mặc dù đã có yêu cầu của Tòa án
theo quy định tại khoản 3 Điều này;
c) Trường hợp quy định tại khoản
2 Điều 209 của Luật này.
Điều 208. Kháng cáo quá hạn và xem xét kháng
cáo quá hạn
1. Kháng cáo quá thời hạn quy định tại Điều 206 của Luật này là kháng cáo quá hạn. Sau khi nhận được
đơn kháng cáo quá hạn, Tòa án cấp sơ thẩm phải gửi đơn kháng cáo, bản tường
trình của người kháng cáo về lý do kháng cáo quá hạn và tài liệu, chứng cứ (nếu
có) cho Tòa án cấp phúc thẩm.
2. Trong thời hạn 10 ngày kể từ ngày nhận
được đơn kháng cáo quá hạn và tài liệu, chứng cứ kèm theo do Tòa án cấp sơ thẩm
chuyển đến, Tòa án cấp phúc thẩm thành lập Hội đồng gồm 03 Thẩm phán để xem xét
kháng cáo quá hạn. Phiên họp xem xét kháng cáo quá hạn có sự tham gia của Kiểm
sát viên Viện kiểm sát cùng cấp và người kháng cáo quá hạn. Trường hợp Kiểm sát
viên, người kháng cáo quá hạn vắng mặt thì Tòa án vẫn tiến hành phiên họp.
3. Căn cứ vào tài liệu, chứng cứ có liên quan
đến việc kháng cáo quá hạn, ý kiến của đương sự kháng cáo quá hạn, đại diện
Viện kiểm sát tại phiên họp, Hội đồng xét kháng cáo quá hạn quyết định theo đa
số về việc chấp nhận hoặc không chấp nhận việc kháng cáo quá hạn và phải ghi rõ
lý do của việc chấp nhận hoặc không chấp nhận trong quyết định. Tòa án cấp phúc
thẩm phải gửi quyết định cho người kháng cáo quá hạn, Viện kiểm sát cùng cấp và
Tòa án cấp sơ thẩm; nếu Tòa án cấp phúc thẩm chấp nhận việc kháng cáo quá hạn
thì yêu cầu Tòa án cấp sơ thẩm tiến hành các thủ tục quy định tại các điều 209, 210 và 216 của Luật này.
Điều 209. Thông báo nộp tiền tạm ứng án phí
phúc thẩm
1. Sau khi chấp nhận đơn kháng cáo hợp lệ,
Tòa án cấp sơ thẩm phải thông báo cho người kháng cáo biết để họ nộp tiền tạm
ứng án phí phúc thẩm theo quy định của pháp luật, nếu họ không thuộc trường hợp
được miễn hoặc không phải nộp tiền tạm ứng án phí phúc thẩm.
2. Trong thời hạn 10 ngày kể từ ngày nhận
được thông báo của Tòa án về việc nộp tiền tạm ứng án phí phúc thẩm, người
kháng cáo phải nộp tiền tạm ứng án phí và nộp cho Tòa án cấp sơ thẩm biên lai
thu tiền tạm ứng án phí. Hết thời hạn này mà người kháng cáo không nộp tiền tạm
ứng án phí phúc thẩm thì được coi là họ từ bỏ việc kháng cáo.
Khi nhận biên lai thu tiền tạm ứng án phí của
người kháng cáo thì Tòa án phải cấp cho họ giấy xác nhận về việc nhận biên lai
thu tiền tạm ứng án phí.
Trường hợp sau khi hết thời hạn 10 ngày kể từ
ngày nhận được thông báo của Tòa án về việc nộp tiền tạm ứng án phí phúc thẩm,
người kháng cáo mới nộp cho Tòa án biên lai thu tiền tạm ứng án phí phúc thẩm
mà không nêu rõ lý do thì Tòa án cấp sơ thẩm yêu cầu người kháng cáo trong thời
hạn 03 ngày làm việc kể từ ngày nhận được yêu cầu của Tòa án phải có văn bản
trình bày lý do chậm nộp biên lai thu tiền tạm ứng án phí phúc thẩm nộp cho Tòa
án cấp sơ thẩm để đưa vào hồ sơ vụ án. Trường hợp này được xử lý theo thủ tục
xem xét kháng cáo quá hạn.
Điều 210. Thông báo về việc kháng cáo
1. Khi gửi hồ sơ vụ án và đơn kháng cáo cho
Tòa án cấp phúc thẩm, Tòa án cấp sơ thẩm phải thông báo ngay bằng văn bản cho
Viện kiểm sát cùng cấp và đương sự có liên quan đến kháng cáo biết về việc
kháng cáo.
2. Đương sự được thông báo về việc kháng cáo
có quyền gửi văn bản ghi ý kiến của mình về nội dung kháng cáo cho Tòa án cấp
phúc thẩm. Văn bản ghi ý kiến của họ được đưa vào hồ sơ vụ án.
Điều 211. Kháng nghị của Viện kiểm sát
Viện trưởng Viện kiểm sát cùng cấp và cấp
trên trực tiếp có quyền kháng nghị bản án, quyết định tạm đình chỉ, quyết định
đình chỉ giải quyết vụ án của Tòa án cấp sơ thẩm để yêu cầu Tòa án cấp phúc
thẩm giải quyết lại theo thủ tục phúc thẩm.
Điều 212. Quyết định kháng nghị của Viện kiểm
sát
1. Quyết định kháng nghị của Viện kiểm sát
phải bằng văn bản và có các nội dung chính sau đây:
a) Ngày, tháng, năm ra quyết định kháng nghị
và số của quyết định kháng nghị;
b) Tên của Viện kiểm sát ra quyết định kháng
nghị;
c) Kháng nghị toàn bộ hoặc một phần của bản
án, quyết định của Tòa án cấp sơ thẩm chưa có hiệu lực pháp luật;
d) Lý do và căn cứ của việc kháng nghị và yêu
cầu của Viện kiểm sát;
đ) Họ, tên của người ký quyết định kháng nghị
và đóng dấu của Viện kiểm sát ra quyết định kháng nghị.
2. Quyết định kháng nghị phải được gửi ngay
cho Tòa án cấp sơ thẩm đã ra bản án, quyết định bị kháng nghị để Tòa án cấp sơ
thẩm tiến hành các thủ tục quy định tại Điều 216 của Luật này.
Kèm theo quyết định kháng nghị là tài liệu, chứng cứ bổ sung (nếu có) để chứng
minh cho kháng nghị của Viện kiểm sát là có căn cứ và hợp pháp.
1. Thời hạn kháng nghị đối với bản án của Tòa
án cấp sơ thẩm của Viện kiểm sát cùng cấp là 15 ngày, của Viện kiểm sát cấp
trên trực tiếp là 30 ngày kể từ ngày tuyên án.
2. Thời hạn kháng nghị của Viện kiểm sát cùng
cấp đối với quyết định tạm đình chỉ, quyết định đình chỉ giải quyết vụ án của
Tòa án cấp sơ thẩm là 07 ngày, của Viện kiểm sát cấp trên trực tiếp là 10 ngày
kể từ ngày Viện kiểm sát cùng cấp nhận được quyết định.
3. Khi Tòa án nhận được quyết định kháng nghị
của Viện kiểm sát mà quyết định kháng nghị đó đã quá thời hạn quy định tại
khoản 1 và khoản 2 Điều này thì Tòa án cấp sơ thẩm yêu cầu Viện kiểm sát giải
thích bằng văn bản và nêu rõ lý do.
Điều 214. Thông báo về việc kháng nghị
1. Viện kiểm sát ra quyết định kháng nghị
phải gửi ngay quyết định kháng nghị cho đương sự có liên quan đến kháng nghị.
2. Người được thông báo về việc kháng nghị có
quyền gửi văn bản ghi ý kiến của mình về nội dung kháng nghị cho Tòa án cấp
phúc thẩm. Văn bản ghi ý kiến của họ được đưa vào hồ sơ vụ án.
Điều 215. Hậu quả của việc kháng cáo, kháng
nghị
1. Phần của bản án, quyết định của Tòa án cấp
sơ thẩm bị kháng cáo, kháng nghị thì chưa được đưa ra thi hành, trừ trường hợp
pháp luật quy định được thi hành ngay.
2. Bản án, quyết định hoặc phần của bản án,
quyết định của Tòa án cấp sơ thẩm không bị kháng cáo, kháng nghị thì có hiệu
lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Điều 216. Gửi hồ sơ vụ án và kháng cáo, kháng
nghị
Tòa án cấp sơ thẩm phải gửi hồ sơ vụ án,
kháng cáo, kháng nghị và tài liệu, chứng cứ kèm theo cho Tòa án cấp phúc thẩm
trong thời hạn 05 ngày làm việc kể từ ngày hết thời hạn kháng nghị và hết thời
hạn kháng cáo, người kháng cáo nộp cho Tòa án cấp sơ thẩm biên lai thu tiền tạm
ứng án phí phúc thẩm.
Điều 217. Thụ lý vụ án để xét xử phúc thẩm
1. Ngay sau khi nhận được hồ sơ vụ án, đơn
kháng cáo, quyết định kháng nghị và tài liệu, chứng cứ kèm theo, Tòa án cấp
phúc thẩm phải vào sổ thụ lý.
Trong thời hạn 03 ngày làm việc kể từ ngày
thụ lý vụ án, Tòa án phải thông báo bằng văn bản cho các đương sự và Viện kiểm
sát cùng cấp về việc Tòa án đã thụ lý vụ án và thông báo trên Cổng thông tin
điện tử của Tòa án (nếu có).
2. Chánh án Tòa án cấp phúc thẩm thành lập
Hội đồng xét xử phúc thẩm và phân công một Thẩm phán làm Chủ tọa phiên tòa,
phiên họp.
Điều 218. Thay đổi, bổ sung, rút kháng cáo,
kháng nghị
1. Trường hợp chưa hết thời hạn kháng cáo
theo quy định tại Điều 206 của Luật này thì người đã kháng
cáo có quyền thay đổi, bổ sung kháng cáo mà không bị giới hạn bởi phạm vi kháng
cáo ban đầu.
Trường hợp chưa hết thời hạn kháng nghị theo
quy định tại Điều 213 của Luật này thì Viện kiểm sát đã
kháng nghị có quyền thay đổi, bổ sung kháng nghị mà không bị giới hạn bởi phạm
vi kháng nghị ban đầu.
2. Trước khi bắt đầu phiên tòa hoặc tại phiên
tòa phúc thẩm, người kháng cáo có quyền thay đổi, bổ sung kháng cáo, Viện kiểm
sát ra quyết định kháng nghị có quyền thay đổi, bổ sung kháng nghị, nhưng không
được vượt quá phạm vi kháng cáo, kháng nghị ban đầu, nếu thời hạn kháng cáo,
kháng nghị đã hết.
3. Trước khi bắt đầu phiên tòa hoặc tại phiên
tòa phúc thẩm, người kháng cáo có quyền rút kháng cáo, Viện kiểm sát ra quyết
định kháng nghị hoặc Viện kiểm sát cấp trên trực tiếp có quyền rút kháng nghị.
Tòa án cấp phúc thẩm đình chỉ xét xử phúc
thẩm đối với phần của vụ án mà người kháng cáo đã rút kháng cáo hoặc Viện kiểm
sát đã rút kháng nghị.
Việc đình chỉ xét xử phúc thẩm trước khi mở
phiên tòa do Thẩm phán Chủ tọa phiên tòa quyết định, tại phiên tòa do Hội đồng
xét xử quyết định.
4. Việc thay đổi, bổ sung, rút kháng cáo,
kháng nghị trước khi mở phiên tòa phải được lập thành văn bản và gửi cho Tòa án
cấp phúc thẩm. Tòa án cấp phúc thẩm phải thông báo cho các đương sự về việc
thay đổi, bổ sung, rút kháng cáo, kháng nghị; thông báo cho Viện kiểm sát cùng
cấp về việc thay đổi, bổ sung, rút kháng cáo của đương sự.
Việc thay đổi, bổ sung, rút kháng cáo, kháng
nghị tại phiên tòa phải được ghi vào biên bản phiên tòa.
Điều 219. Bổ sung chứng cứ mới
1. Trước khi mở phiên tòa hoặc tại phiên tòa
phúc thẩm, người kháng cáo, Viện kiểm sát kháng nghị, người có quyền lợi, nghĩa
vụ liên quan đến kháng cáo, kháng nghị, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp
của đương sự có quyền bổ sung chứng cứ mới.
2. Tòa án cấp phúc thẩm tự mình hoặc theo yêu
cầu của đương sự tiến hành xác minh chứng cứ mới được bổ sung. Tòa án có thể
thực hiện ủy thác xác minh chứng cứ theo quy định tại Điều 92
của Luật này.
Điều 220. Phạm vi xét xử phúc thẩm
Tòa án cấp phúc thẩm chỉ xem xét lại phần bản
án, quyết định của Tòa án cấp sơ thẩm có kháng cáo, kháng nghị hoặc có liên
quan đến nội dung kháng cáo, kháng nghị.
Điều 221. Thời hạn chuẩn bị xét xử phúc thẩm
Trừ vụ án xét xử phúc thẩm theo thủ tục rút
gọn hoặc vụ án có yếu tố nước ngoài, thời hạn chuẩn bị xét xử phúc thẩm được
quy định như sau:
1. Trong thời hạn 60 ngày kể từ ngày thụ lý
vụ án, Thẩm phán được phân công làm Chủ tọa phiên tòa phải ra một trong các
quyết định sau đây:
a) Tạm đình chỉ xét xử phúc thẩm vụ án;
b) Đình chỉ xét xử phúc thẩm vụ án;
c) Đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm.
2. Đối với vụ án có tính chất phức tạp hoặc
do trở ngại khách quan thì Chánh án Tòa án cấp phúc thẩm có thể quyết định kéo
dài thời hạn chuẩn bị xét xử quy định tại khoản 1 Điều này, nhưng không được
quá 30 ngày.
3. Trong thời hạn 30 ngày kể từ ngày có quyết
định đưa vụ án ra xét xử, Tòa án phải mở phiên tòa phúc thẩm; trường hợp có lý
do chính đáng thì thời hạn này là 60 ngày.
4. Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm
phải được gửi cho Viện kiểm sát cùng cấp và những người có liên quan đến kháng
cáo, kháng nghị.
5. Trường hợp có quyết định tạm đình chỉ xét
xử phúc thẩm vụ án thì thời hạn chuẩn bị xét xử phúc thẩm được tính lại kể từ
ngày quyết định tiếp tục giải quyết vụ án của Tòa án có hiệu lực pháp luật.
Điều 222. Thành phần Hội đồng xét xử phúc
thẩm
Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm 03 Thẩm phán,
trừ trường hợp quy định tại khoản 1 Điều 253 của Luật này.
Điều 223. Sự có mặt của thành viên Hội đồng
xét xử phúc thẩm và Thư ký phiên tòa
1. Phiên tòa chỉ được tiến hành khi có đủ
thành viên Hội đồng xét xử và Thư ký phiên tòa.
2. Trường hợp có Thẩm phán vắng mặt hoặc
không thể tiếp tục tham gia xét xử vụ án nhưng có Thẩm phán dự khuyết tham gia
phiên tòa từ đầu thì người này được thay thế Thẩm phán vắng mặt hoặc không thể
tiếp tục tham gia xét xử vụ án.
3. Trường hợp không có Thẩm phán dự khuyết để
thay thế thành viên Hội đồng xét xử theo quy định tại khoản 2 Điều này thì phải
hoãn phiên tòa.
4. Trường hợp Thư ký phiên tòa vắng mặt hoặc
không thể tiếp tục tham gia phiên tòa mà không có người thay thế thì phải hoãn
phiên tòa.
Điều 224. Sự có mặt của Kiểm sát viên
1. Kiểm sát viên được Viện trưởng Viện kiểm
sát cùng cấp phân công có nhiệm vụ tham gia phiên tòa. Hội đồng xét xử quyết
định hoãn phiên tòa khi Kiểm sát viên vắng mặt trong trường hợp Viện kiểm sát
có kháng nghị.
2. Trường hợp Kiểm sát viên vắng mặt hoặc
không thể tiếp tục tham gia phiên tòa, nhưng có Kiểm sát viên dự khuyết tham
gia phiên tòa từ đầu thì người này được thay thế Kiểm sát viên vắng mặt tham
gia phiên tòa xét xử vụ án.
1. Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ nhất,
người kháng cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến việc kháng cáo,
kháng nghị, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của họ phải có mặt; trường
hợp có người vắng mặt thì Hội đồng xét xử hoãn phiên tòa.
Tòa án thông báo cho người kháng cáo, người
có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến việc kháng cáo, kháng nghị và người bảo vệ
quyền và lợi ích hợp pháp của họ biết về việc hoãn phiên tòa.
2. Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai, người
kháng cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến việc kháng cáo, kháng
nghị, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của họ phải có mặt tại phiên tòa,
nếu vắng mặt không vì sự kiện bất khả kháng, trở ngại khách quan thì xử lý như
sau:
a) Đối với người kháng cáo mà không có người
đại diện tham gia phiên tòa thì bị coi là từ bỏ việc kháng cáo và Tòa án ra
quyết định đình chỉ việc xét xử phúc thẩm đối với bản án, quyết định hoặc phần
bản án, quyết định của Tòa án cấp sơ thẩm có kháng cáo của người kháng cáo vắng
mặt;
b) Đối với người có quyền lợi, nghĩa vụ liên
quan đến kháng cáo, kháng nghị, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của
đương sự thì Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt họ.
3. Sự có mặt của người làm chứng, người giám
định, người phiên dịch trong phiên tòa phúc thẩm được thực hiện theo quy định
tại các điều 159, 160 và 161 của Luật này.
4. Trường hợp người tham gia tố tụng có đơn
đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt thì Tòa án tiến hành phiên tòa phúc thẩm xét xử
vắng mặt họ.
1. Hội đồng xét xử phúc thẩm không phải mở
phiên tòa trong các trường hợp sau đây:
a) Xét kháng cáo, kháng nghị quá hạn;
b) Trường hợp quy định tại khoản
2 Điều 209 của Luật này; xét kháng cáo, kháng nghị về phần án phí;
c) Xét kháng cáo, kháng nghị những quyết định
của Tòa án cấp sơ thẩm.
2. Trường hợp quy định tại khoản 1 Điều này,
Hội đồng xét xử không phải triệu tập đương sự, trừ trường hợp xét kháng cáo quá
hạn quy định tại khoản 2 Điều 208 của Luật này hoặc cần
nghe ý kiến của họ. Nếu người được triệu tập vắng mặt thì Tòa án vẫn tiến hành
phiên họp.
Điều
227. Giao nộp tài liệu, chứng cứ tại Tòa án cấp phúc thẩm
1. Đương sự được quyền giao nộp bổ sung tài
liệu, chứng cứ trong giai đoạn chuẩn bị xét xử phúc thẩm trong những trường hợp
sau đây:
a) Những tài liệu, chứng cứ mà Tòa án cấp sơ
thẩm đã yêu cầu giao nộp nhưng đương sự không giao nộp được vì có lý do chính
đáng;
b) Những tài liệu, chứng cứ mà Tòa án cấp sơ
thẩm không yêu cầu đương sự giao nộp hoặc đương sự không thể biết được trong
quá trình giải quyết vụ án theo thủ tục sơ thẩm.
2. Thủ tục giao nộp tài liệu, chứng cứ được
thực hiện theo quy định tại Điều 83 của Luật này.
Điều
228. Tạm đình chỉ xét xử phúc thẩm vụ án
1. Tòa án cấp phúc thẩm
ra quyết định tạm đình chỉ xét xử phúc thẩm vụ án, hậu quả của việc tạm đình
chỉ xét xử phúc thẩm vụ án và tiếp tục xét xử phúc thẩm vụ án được thực hiện
theo quy định tại Điều 141 và Điều 142 của Luật này.
2. Quyết định tạm đình
chỉ xét xử phúc thẩm vụ án có hiệu lực thi
hành ngay.
3. Quyết định tạm đình
chỉ phải được gửi ngay cho đương sự và Viện kiểm sát cùng cấp.
Điều 229. Đình chỉ xét xử phúc thẩm vụ án
1. Tòa án cấp phúc thẩm
ra quyết định đình chỉ xét xử phúc thẩm vụ án trong các trường hợp sau đây:
a) Trường hợp quy định
tại điểm a khoản 1 Điều 143 của Luật này;
b) Trường hợp trả lại
đơn kháng cáo theo quy định của Luật này mà Tòa án cấp phúc thẩm đã thụ lý hồ
sơ vụ án;
c) Người kháng cáo rút
toàn bộ kháng cáo hoặc Viện kiểm sát rút toàn bộ
kháng nghị;
d) Người kháng cáo được triệu tập hợp lệ lần
thứ hai mà vẫn vắng mặt, trừ trường hợp họ đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt hoặc
trường hợp có sự kiện bất khả kháng, trở ngại khách quan;
đ) Các trường hợp khác mà pháp luật có quy
định.
2. Trường hợp người kháng cáo rút toàn bộ
kháng cáo hoặc Viện kiểm sát rút toàn bộ kháng nghị trước khi Tòa án cấp phúc
thẩm ra quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm thì Thẩm phán được phân công
làm Chủ tọa phiên tòa ra quyết định đình chỉ xét xử phúc thẩm; trong trường hợp
người kháng cáo rút toàn bộ kháng cáo, Viện kiểm sát rút toàn bộ kháng nghị sau
khi Tòa án cấp phúc thẩm ra quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm thì Hội
đồng xét xử phúc thẩm ra quyết định đình chỉ xét xử phúc thẩm.
Trong các trường hợp này, bản án, quyết định
sơ thẩm có hiệu lực pháp luật từ ngày Tòa án cấp phúc thẩm ra quyết định đình
chỉ xét xử phúc thẩm.
3. Trường hợp người kháng cáo rút một phần
kháng cáo hoặc Viện kiểm sát rút một phần kháng nghị thì Hội đồng xét xử phúc
thẩm nhận định về việc người kháng cáo rút một phần kháng cáo, Viện kiểm sát
rút một phần kháng nghị và quyết định đình chỉ xét xử phần kháng cáo, kháng
nghị đó trong bản án phúc thẩm.
4. Trường hợp Hội đồng xét xử đình chỉ việc
xét xử phúc thẩm theo quy định tại khoản 2 Điều này mà phát hiện bản án, quyết
định của Tòa án cấp sơ thẩm thuộc một trong các trường hợp quy định tại khoản 1 Điều 255 của Luật này thì phải kiến nghị với Chánh án
Tòa án có thẩm quyền để xem xét theo thủ tục giám đốc thẩm.
5. Quyết định đình chỉ
phải được gửi ngay cho đương sự và Viện kiểm sát cùng cấp.
Điều
230. Quyết định áp dụng, thay đổi, hủy bỏ biện pháp khẩn cấp tạm thời
Trong quá trình giải
quyết vụ án, Tòa án cấp phúc thẩm có quyền quyết định áp dụng, thay đổi, hủy bỏ
biện pháp khẩn cấp tạm thời theo quy định tại Chương V của Luật này.
Điều
231. Chuyển hồ sơ vụ án cho Viện kiểm sát
1. Tòa án cấp phúc thẩm
phải chuyển hồ sơ vụ án cùng với quyết định đưa vụ án ra xét xử cho Viện kiểm
sát cùng cấp.
2. Thời hạn nghiên cứu
hồ sơ của Viện kiểm sát cùng cấp là 15 ngày kể từ ngày nhận được hồ sơ vụ án;
hết thời hạn đó, Viện kiểm sát phải trả hồ sơ vụ án cho Tòa án.
Điều
232. Hoãn phiên tòa phúc thẩm
1. Các trường hợp phải
hoãn phiên tòa:
a) Các trường hợp quy
định tại khoản 2 Điều 161, khoản 3 và khoản 4 Điều 223, khoản
1 Điều 225 của Luật này;
b) Thành viên Hội đồng
xét xử, Kiểm sát viên, Thư ký phiên tòa, người phiên dịch bị thay đổi mà không
có người thay thế ngay;
c) Người giám định bị
thay đổi;
d) Cần phải xác minh,
thu thập bổ sung tài liệu, chứng cứ mà không thể thực
hiện được ngay tại phiên tòa.
2. Trường hợp hoãn phiên tòa được quy định
tại khoản 2 Điều 159 và khoản 2 Điều 160 của Luật này.
3. Thời hạn hoãn phiên
tòa và quyết định hoãn phiên tòa phúc thẩm được thực hiện theo quy định tại Điều 163 của Luật này.
Mục
2. THỦ TỤC BẮT ĐẦU PHIÊN TÒA PHÚC THẨM
Điều
233. Thủ tục xét xử phúc thẩm
1. Chuẩn bị khai mạc
phiên tòa, thủ tục bắt đầu phiên tòa phúc thẩm, thủ tục công bố tài liệu, xem
xét vật chứng tại phiên tòa phúc thẩm, nghị án và tuyên án, sửa chữa, bổ sung
bản án phúc thẩm được thực hiện tương tự thủ tục xét xử sơ thẩm theo quy định
của Luật này.
2. Sau khi kết thúc thủ tục bắt đầu phiên tòa phúc thẩm thì một thành
viên của Hội đồng xét xử phúc thẩm công bố nội dung vụ án, quyết định của bản
án sơ thẩm và nội dung kháng cáo, kháng nghị.
3. Chủ tọa phiên tòa hỏi về vấn đề sau đây:
a) Hỏi người khởi kiện có rút đơn khởi kiện
hay không;
b) Hỏi người kháng cáo, Kiểm sát viên có thay
đổi, bổ sung, rút kháng cáo, kháng nghị hay không;
c) Hỏi đương sự có thống nhất được với nhau
về việc giải quyết vụ án hay không.
4. Trường hợp người kháng cáo rút một phần
kháng cáo, Kiểm sát viên rút một phần kháng nghị thì Tòa án chấp nhận
việc rút kháng cáo, kháng nghị. Trường hợp người kháng cáo, Kiểm sát viên bổ
sung nội dung mới không thuộc phạm vi kháng cáo, kháng nghị ban đầu thì Tòa án
không xem xét nội dung đó.
5. Việc hỏi đương sự,
Kiểm sát viên về việc thay đổi, bổ sung, rút kháng cáo, kháng nghị tại phiên
tòa được Chủ tọa phiên tòa thực hiện như sau:
a) Hỏi người khởi kiện
có rút đơn khởi kiện hay không;
b) Hỏi người kháng cáo,
Kiểm sát viên có thay đổi, bổ sung, rút kháng cáo, kháng nghị hay không.
6. Trường hợp Viện kiểm
sát kháng nghị thì Kiểm sát viên phát biểu quan điểm kháng nghị của Viện kiểm
sát đối với quyết định của bản án sơ thẩm bị kháng nghị.
Điều
234. Người khởi kiện rút đơn khởi kiện trước khi mở phiên tòa hoặc tại phiên
tòa phúc thẩm
1. Trước khi mở phiên
tòa hoặc tại phiên tòa phúc thẩm mà người khởi kiện rút đơn khởi kiện thì Hội
đồng xét xử phúc thẩm phải hỏi người bị kiện có đồng ý hay không và tùy từng
trường hợp mà giải quyết như sau:
a) Người bị kiện không
đồng ý thì không chấp nhận việc rút đơn khởi kiện của người khởi kiện;
b) Đương sự đồng ý thì
chấp nhận việc rút đơn khởi kiện của người khởi kiện. Hội đồng xét xử phúc thẩm
ra quyết định hủy bản án sơ thẩm và đình chỉ giải quyết vụ án. Trường hợp này,
đương sự vẫn phải chịu án phí sơ thẩm theo quyết định của Tòa án cấp sơ thẩm và
phải chịu một nửa án phí phúc thẩm theo quy định của pháp luật.
2. Trường hợp Hội đồng
xét xử phúc thẩm ra quyết định đình chỉ giải quyết vụ án thì người khởi kiện có
quyền khởi kiện lại vụ án theo thủ tục do Luật này quy định nếu thời hiệu khởi
kiện vẫn còn.
Điều
235. Người bị kiện sửa đổi hoặc hủy bỏ quyết định hành chính, quyết định kỷ
luật buộc thôi việc, quyết định giải quyết khiếu nại về quyết định xử lý vụ
việc cạnh tranh, quyết định giải quyết khiếu nại trong hoạt động kiểm toán nhà
nước[60], dừng, khắc
phục hành vi hành chính bị khởi kiện
1. Trường hợp người bị
kiện sửa đổi, hủy bỏ quyết định hành chính, quyết định kỷ luật buộc thôi việc,
quyết định giải quyết khiếu nại về quyết định xử lý vụ việc cạnh tranh, quyết định giải quyết khiếu nại trong hoạt động kiểm toán nhà nước[61] hoặc dừng, khắc phục hành vi hành
chính bị khởi kiện liên quan đến quyền, nghĩa vụ của cơ quan, tổ chức, cá nhân
và người khởi kiện đồng ý rút đơn khởi kiện, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên
quan có yêu cầu độc lập đồng ý rút yêu cầu thì Hội đồng xét xử phúc thẩm hủy
bản án, quyết định sơ thẩm và đình chỉ giải quyết vụ án; trong quyết định của
bản án phải ghi rõ cam kết của đương sự để bảo đảm thi hành án hành chính.
2. Trường hợp người bị
kiện sửa đổi, hủy bỏ quyết định hành chính, quyết định kỷ luật buộc thôi việc,
quyết định giải quyết khiếu nại về quyết định xử lý vụ việc cạnh tranh, quyết định giải quyết khiếu nại trong hoạt động kiểm toán nhà nước[62] hoặc dừng, khắc phục hành vi hành
chính bị khởi kiện mà việc sửa đổi, hủy bỏ quyết định hành chính, dừng, khắc
phục hành vi hành chính đó liên quan đến quyền, nghĩa vụ của cơ quan, tổ chức,
cá nhân khác và họ chưa được tham gia tố tụng tại cấp sơ thẩm thì:
a) Nếu người khởi kiện
rút đơn khởi kiện và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có yêu cầu độc lập
rút yêu cầu thì Hội đồng xét xử phúc thẩm hủy bản án, quyết định sơ thẩm và
đình chỉ giải quyết vụ án. Trường hợp này cơ quan, tổ chức, cá nhân có quyền,
nghĩa vụ liên quan đến việc sửa đổi, hủy bỏ quyết định hành chính, quyết định kỷ luật buộc thôi việc, quyết định giải quyết khiếu nại về quyết định xử
lý vụ việc cạnh tranh, quyết định giải quyết khiếu nại trong hoạt động kiểm
toán nhà nước[63] hoặc dừng, khắc phục hành vi hành chính bị
khởi kiện có quyền khởi kiện vụ án hành chính theo thủ tục chung;
b) Nếu người khởi kiện không rút đơn khởi
kiện và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có yêu cầu độc lập không rút yêu
cầu thì Hội đồng xét xử phúc thẩm hủy bản án, quyết định sơ thẩm để xét xử sơ
thẩm lại. Trường hợp này, Tòa án cấp sơ thẩm phải đưa cơ quan, tổ chức, cá nhân
có quyền, nghĩa vụ liên quan đến việc sửa đổi, hủy bỏ quyết định hành chính,
quyết định kỷ luật buộc thôi việc, quyết định giải quyết khiếu nại về quyết
định xử lý vụ việc cạnh tranh, quyết định giải quyết khiếu nại trong hoạt
động kiểm toán nhà nước[64] hoặc dừng, khắc phục hành vi hành chính bị khởi
kiện vào tham gia tố tụng với tư cách là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên
quan.
Mục
3. TRANH TỤNG TẠI PHIÊN TÒA PHÚC THẨM
Điều
236. Nội dung và phương thức tranh tụng tại phiên tòa phúc thẩm
Nội dung và phương thức
tranh tụng tại phiên tòa phúc thẩm được thực hiện như quy định tại Điều 175 của Luật này.
Điều
237. Trình bày của đương sự, Kiểm sát viên tại phiên tòa phúc thẩm
1. Trường hợp có đương
sự vẫn giữ kháng cáo hoặc Viện kiểm sát vẫn giữ kháng nghị thì việc trình bày
tại phiên tòa phúc thẩm được tiến hành như sau:
a) Người bảo vệ quyền và
lợi ích hợp pháp của người kháng cáo trình bày về nội dung kháng cáo và các căn
cứ của việc kháng cáo. Người kháng cáo có quyền bổ sung ý kiến.
Trường hợp tất cả đương
sự đều kháng cáo thì việc trình bày được thực hiện theo thứ tự người bảo vệ
quyền và lợi ích hợp pháp của người khởi kiện kháng cáo và người khởi kiện;
người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người bị kiện kháng cáo và người bị
kiện; người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người có quyền lợi, nghĩa vụ
liên quan kháng cáo và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan;
b) Trường hợp chỉ có
Viện kiểm sát kháng nghị thì Kiểm sát viên trình bày về nội dung kháng nghị và
các căn cứ của việc kháng nghị. Trường hợp vừa có kháng cáo, vừa có kháng nghị
thì đương sự trình bày về nội dung kháng cáo và các căn cứ của việc kháng cáo
trước, sau đó Kiểm sát viên trình bày về nội dung kháng nghị và các căn
cứ của việc kháng nghị;
c) Người bảo vệ quyền và
lợi ích hợp pháp của đương sự khác có liên quan đến kháng cáo, kháng nghị trình
bày ý kiến về nội dung kháng cáo, kháng nghị. Đương sự có quyền bổ sung ý kiến.
2. Trường hợp đương sự
không có người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình thì họ tự trình bày ý
kiến về nội dung kháng cáo, kháng nghị và đề nghị của mình.
3. Tại phiên tòa phúc thẩm, đương sự, Kiểm
sát viên có quyền xuất trình bổ sung tài liệu, chứng cứ.
Điều
238. Tạm ngừng phiên tòa phúc thẩm
Việc tạm ngừng phiên tòa
phúc thẩm được thực hiện theo quy định tại Điều 187 của Luật
này.
Điều 239. Tranh luận tại phiên tòa phúc thẩm
1. Tại phiên tòa phúc
thẩm, đương sự, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự chỉ được
tranh luận về những vấn đề thuộc phạm vi xét xử phúc thẩm và đã được hỏi tại
phiên tòa phúc thẩm.
2. Trình tự phát biểu
khi tranh luận được thực hiện như sau:
a) Người bảo vệ quyền và
lợi ích hợp pháp của người kháng cáo trình bày. Người kháng cáo có quyền bổ
sung ý kiến;
b) Người bảo vệ quyền và
lợi ích hợp pháp của đương sự tranh luận, đối đáp. Đương sự có quyền bổ sung ý
kiến;
c) Các đương sự đối đáp
theo sự điều khiển của Chủ tọa phiên tòa;
d) Khi xét thấy cần
thiết, Hội đồng xét xử có thể yêu cầu các bên đương sự tranh luận bổ sung về
những vấn đề cụ thể để làm căn cứ giải quyết vụ án.
3. Trình tự tranh luận đối với kháng nghị của Viện kiểm sát được thực
hiện như sau:
a) Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của
đương sự phát biểu về tính hợp pháp, tính có căn cứ đối với kháng nghị của Viện
kiểm sát. Đương sự có quyền bổ sung ý kiến;
b) Kiểm sát viên phát biểu ý kiến về những
vấn đề mà người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự, đương sự đã nêu.
4. Trường hợp đương sự
không có người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình thì họ tự mình tranh
luận.
5. Trường hợp vắng mặt
một trong các bên đương sự và người tham gia tố tụng khác thì Chủ tọa phiên tòa
phải công bố lời khai của họ để trên cơ sở đó các đương sự có mặt tại phiên tòa
tranh luận và đối đáp.
Điều
240. Phát biểu của Kiểm sát viên tại phiên tòa phúc thẩm
Sau khi những người tham
gia tố tụng phát biểu tranh luận và đối đáp xong, Kiểm sát viên phát biểu ý
kiến của Viện kiểm sát về việc tuân theo pháp luật trong quá trình giải quyết
vụ án hành chính ở giai đoạn phúc thẩm.
Ngay sau khi kết
thúc phiên tòa, Kiểm sát viên phải gửi văn bản phát biểu ý kiến cho Tòa án để
lưu vào hồ sơ vụ án.
Điều
241. Thẩm quyền của Hội đồng xét xử phúc thẩm
1. Bác kháng cáo, kháng
nghị và giữ nguyên quyết định của bản án sơ thẩm.
2. Sửa một phần hoặc
toàn bộ bản án sơ thẩm nếu Tòa án cấp sơ thẩm quyết định không đúng pháp luật
trong các trường hợp sau đây:
a) Việc chứng minh, thu
thập chứng cứ đã thực hiện đầy đủ và theo đúng quy định tại Chương VI của Luật
này;
b) Việc chứng minh, thu
thập chứng cứ chưa thực hiện đầy đủ ở cấp sơ thẩm nhưng tại phiên tòa phúc thẩm
đã được bổ sung đầy đủ.
3. Hủy bản án sơ thẩm và
chuyển hồ sơ vụ án cho Tòa án cấp sơ thẩm xét xử lại trong trường hợp có vi
phạm nghiêm trọng về thủ tục tố tụng hoặc phải thu thập chứng cứ mới quan trọng
mà Tòa án cấp phúc thẩm không thể bổ sung ngay được.
4. Hủy bản án sơ thẩm và
đình chỉ việc giải quyết vụ án nếu trong quá trình xét xử sơ thẩm có một trong
các trường hợp quy định tại khoản 1 Điều 143 của Luật này.
5. Đình chỉ xét xử phúc
thẩm, nếu việc xét xử phúc thẩm vụ án cần phải có mặt người kháng cáo và họ đã
được triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai mà vẫn vắng mặt. Trường hợp này bản án sơ
thẩm có hiệu lực pháp luật.
6. Trường hợp cần phải
yêu cầu cơ quan, người có thẩm quyền xem xét, xử lý văn bản hành chính quy định
tại khoản 1 Điều 6 của Luật này thì Hội đồng xét xử có
quyền tạm ngừng phiên tòa để chờ kết quả giải quyết của cơ quan, người có thẩm
quyền và báo cáo Chánh án Tòa án có văn bản yêu cầu cơ quan, người có thẩm
quyền xem xét, xử lý văn bản hành chính đó. Trong thời hạn 30 ngày kể từ ngày
nhận được văn bản của Tòa án thì cơ quan, người có thẩm quyền phải trả lời bằng
văn bản về kết quả xử lý cho Tòa án biết để làm căn cứ cho việc giải quyết vụ
án. Quá thời hạn này mà không nhận được văn bản trả lời của cơ quan, người có
thẩm quyền thì Hội đồng xét xử có quyền áp dụng văn bản của cơ quan quản lý nhà
nước cấp trên để giải quyết vụ án.
7. Trường hợp phát hiện văn bản quy phạm pháp luật có liên quan đến việc
giải quyết vụ án hành chính có dấu hiệu trái với Hiến
pháp, luật, văn bản quy phạm pháp
luật của cơ quan nhà nước cấp trên thì Hội
đồng xét xử đề nghị Chánh
án Tòa án đang giải quyết vụ án đó thực hiện việc kiến nghị hoặc đề nghị người có thẩm quyền theo quy định tại Điều 112 của Luật
này thực hiện việc kiến nghị. Trường hợp này, Hội đồng xét xử tạm ngừng phiên tòa để chờ ý kiến của Chánh
án Tòa án hoặc tạm đình chỉ giải quyết vụ án khi có văn bản kiến nghị của Chánh
án Tòa án có thẩm quyền.
1. Hội đồng xét xử phúc thẩm ra bản án phúc
thẩm nhân danh nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam.
2. Bản án phúc thẩm gồm có:
a) Phần mở đầu;
b) Phần nội dung vụ án, kháng cáo, kháng nghị
và nhận định;
c) Phần quyết định.
3. Trong phần mở đầu phải ghi rõ tên của Tòa
án xét xử phúc thẩm; số và ngày thụ lý vụ án; số bản án và ngày tuyên án; họ,
tên của các thành viên Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa, Kiểm sát viên, người
giám định, người phiên dịch; tên, địa chỉ của người khởi kiện, người bị kiện,
người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, cơ quan, tổ chức khởi kiện; người đại
diện hợp pháp, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của họ; người kháng cáo,
Viện kiểm sát kháng nghị; xét xử công khai hoặc xét xử kín; thời gian và địa
điểm xét xử.
4. Trong phần nội dung vụ án, kháng cáo,
kháng nghị và nhận định phải tóm tắt nội dung vụ án, quyết định của Tòa án cấp
sơ thẩm; nội dung kháng cáo, kháng nghị.
Tòa án phải căn cứ vào kết quả tranh tụng,
các chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa để phân tích, đánh giá, nhận định về
kháng cáo, kháng nghị, các tình tiết của vụ án, việc giải quyết, xét xử của Tòa
án cấp sơ thẩm, những căn cứ pháp luật, án lệ (nếu có) mà Tòa án áp dụng để
chấp nhận hoặc không chấp nhận kháng cáo, kháng nghị và giải quyết các vấn đề
khác có liên quan.
5. Trong phần quyết định phải ghi rõ các căn
cứ pháp luật, quyết định của Hội đồng xét xử về từng vấn đề phải giải quyết
trong vụ án, về áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời, về án phí sơ thẩm, phúc
thẩm, chi phí tố tụng (nếu có).
6. Khi xét xử lại vụ án mà bản án, quyết định
đã bị hủy một phần hoặc toàn bộ theo quyết định giám đốc thẩm, tái thẩm, Tòa án
phải giải quyết vấn đề tài sản, nghĩa vụ đã được thi hành theo bản án, quyết
định có hiệu lực pháp luật nhưng bị hủy.
7. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể
từ ngày tuyên án.
Điều 243. Thủ tục phúc thẩm đối với quyết
định của Tòa án cấp sơ thẩm bị kháng cáo, kháng nghị
1. Tòa án cấp phúc thẩm
phải tổ chức phiên họp và ra quyết định giải quyết việc kháng cáo, kháng nghị
trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được kháng cáo, kháng nghị.
2. Một thành viên Hội
đồng xét xử phúc thẩm xét quyết định bị kháng cáo, kháng nghị trình bày tóm tắt
nội dung quyết định sơ thẩm bị kháng cáo, kháng nghị, nội dung của kháng cáo,
kháng nghị và tài liệu, chứng cứ kèm theo (nếu có).
3. Đương sự kháng cáo
được mời tham gia phiên họp trình bày ý kiến về việc kháng cáo, nếu vắng mặt
thì Hội đồng xét xử vẫn tiến hành phiên họp.
4. Kiểm sát viên Viện
kiểm sát cùng cấp tham gia phiên họp phúc thẩm và phát biểu ý kiến về việc giải
quyết kháng cáo, kháng nghị trước khi Hội đồng xét xử phúc thẩm ra quyết định.
Hội đồng xét xử quyết định hoãn phiên họp khi Kiểm sát viên vắng mặt trong
trường hợp Viện kiểm sát có kháng nghị.
5. Khi xem xét quyết
định của Tòa án cấp sơ thẩm bị kháng cáo, kháng nghị, Hội đồng xét xử phúc thẩm
có quyền:
a) Giữ nguyên quyết định
của Tòa án cấp sơ thẩm;
b) Sửa quyết định của
Tòa án cấp sơ thẩm;
c) Hủy quyết định của
Tòa án cấp sơ thẩm và chuyển hồ sơ vụ án cho Tòa án cấp sơ thẩm để tiếp tục
giải quyết vụ án.
6. Quyết định phúc thẩm
có hiệu lực pháp luật kể từ ngày ra quyết định.
Điều 244. Gửi bản án, quyết định phúc thẩm
1. Trong thời hạn 30
ngày kể từ ngày ra bản án, quyết định phúc thẩm, Tòa án cấp phúc thẩm phải gửi
bản án, quyết định phúc thẩm cho các đương sự, Viện kiểm sát và Tòa án đã giải
quyết vụ án ở cấp sơ thẩm, Viện kiểm sát cùng cấp, cơ quan thi hành án dân sự
có thẩm quyền và cơ quan cấp trên trực tiếp của người bị kiện.
2. Bản án phúc thẩm được
Tòa án cấp phúc thẩm công bố trên Cổng thông tin điện tử của Tòa án (nếu có),
trừ bản án của Tòa án có chứa thông tin quy định tại khoản 2
Điều 96 của Luật này.
GIẢI
QUYẾT VỤ ÁN HÀNH CHÍNH THEO THỦ TỤC RÚT GỌN TẠI TÒA ÁN
Mục 1. GIẢI QUYẾT VỤ ÁN HÀNH CHÍNH THEO THỦ
TỤC RÚT GỌN TẠI TÒA ÁN CẤP SƠ THẨM
Điều
245. Phạm vi áp dụng thủ tục rút gọn
1. Thủ tục rút gọn trong
tố tụng hành chính là thủ tục giải quyết vụ án hành chính khi có các điều kiện
theo quy định của Luật này nhằm rút ngắn về thời gian và thủ tục so với thủ tục
giải quyết vụ án hành chính thông thường nhưng vẫn bảo đảm giải quyết vụ án
đúng pháp luật.
2. Tòa án áp dụng những
quy định của Chương này, đồng thời áp dụng những quy định khác của Luật này
không trái với những quy định của Chương này để giải quyết vụ án theo thủ tục
rút gọn.
3. Trường hợp luật khác
có quy định về khiếu kiện hành chính áp dụng thủ tục rút gọn thì thực hiện theo
quy định của Luật này.
Điều
246. Điều kiện áp dụng thủ tục rút gọn
1. Vụ án được giải quyết theo thủ tục rút gọn khi có đủ các điều kiện
sau đây:
a) Vụ án có tình tiết đơn giản, tài liệu,
chứng cứ đầy đủ, rõ ràng, bảo đảm đủ căn cứ giải quyết vụ án và Tòa án không
phải thu thập tài liệu, chứng cứ;
b) Các đương sự đều có địa chỉ nơi cư trú,
trụ sở rõ ràng;
c) Không có đương sự cư trú ở nước ngoài, trừ
trường hợp đương sự ở nước ngoài có thỏa thuận với đương sự ở Việt Nam đề nghị
Tòa án giải quyết theo thủ tục rút gọn.
2. Trong quá trình giải quyết vụ án theo thủ
tục rút gọn, Tòa án ra quyết định chuyển vụ án sang giải quyết theo thủ tục
thông thường nếu thuộc một trong những trường hợp sau đây:
a) Phát sinh các tình tiết mới mà các đương
sự không thống nhất và cần phải xác minh, thu thập thêm tài liệu, chứng cứ hoặc
cần phải tiến hành giám định;
b) Cần phải định giá tài sản nếu các đương sự
không thống nhất về giá;
c) Cần phải áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm
thời;
d) Phát sinh người có quyền lợi, nghĩa vụ
liên quan;
đ) Phát sinh yêu cầu độc lập;
e) Phát sinh đương sự cư trú ở nước ngoài mà
cần phải thực hiện ủy thác tư pháp, trừ trường hợp quy định tại điểm c khoản 1
Điều này.
3. Trường hợp chuyển vụ án sang giải quyết
theo thủ tục thông thường thì thời hạn chuẩn bị xét xử vụ án được tính lại kể
từ ngày ra quyết định chuyển vụ án sang giải quyết theo thủ tục thông thường.
Điều
247. Quyết định đưa vụ án ra giải quyết theo thủ tục rút gọn
1. Trong thời hạn 30
ngày kể từ ngày thụ lý vụ án theo quy định tại Điều 125 của
Luật này thì Thẩm phán được phân công giải quyết vụ án phải ra quyết
định đưa vụ án ra giải quyết theo thủ tục rút gọn và mở phiên tòa xét xử trong
thời hạn 10 ngày kể từ ngày ra quyết định.
2. Quyết định đưa vụ án
ra giải quyết theo thủ tục rút gọn phải có các nội dung chính sau đây:
a) Ngày, tháng, năm ra
quyết định;
b) Tên Tòa án ra quyết
định;
c) Vụ án được đưa ra
giải quyết theo thủ tục rút gọn;
d) Tên, địa chỉ; số
fax, thư điện tử (nếu có) của người khởi kiện, người bị kiện, người có
quyền lợi, nghĩa vụ liên quan;
đ) Họ, tên Thẩm phán,
Thư ký phiên tòa, Kiểm sát viên; họ, tên Thẩm phán, Kiểm sát viên dự khuyết
(nếu có);
e) Ngày, giờ, tháng,
năm, địa điểm mở phiên tòa;
g) Xét xử công khai hoặc
xét xử kín;
h) Họ, tên những người
được triệu tập tham gia phiên tòa.
3. Quyết định đưa vụ án
ra giải quyết theo thủ tục rút gọn phải được gửi cho đương sự và Viện kiểm sát
cùng cấp cùng hồ sơ vụ án ngay sau khi ra quyết định. Trong thời hạn 03 ngày
làm việc kể từ ngày nhận được hồ sơ vụ án, Viện kiểm sát nghiên cứu và trả lại
hồ sơ vụ án cho Tòa án.
1. Trong thời hạn 03 ngày làm việc kể từ ngày
nhận được quyết định đưa vụ án ra
giải quyết theo thủ tục rút gọn của Tòa án, đương sự có quyền khiếu nại, Viện kiểm sát cùng cấp có quyền kiến nghị với
Chánh án Tòa án đã ra
quyết định.
2. Trong thời hạn 03 ngày làm việc kể từ ngày
nhận được khiếu nại, kiến nghị về quyết định đưa vụ án ra giải quyết theo thủ tục rút gọn, Chánh án Tòa án phải ra một trong các quyết định sau đây:
a) Giữ nguyên quyết định đưa vụ án ra giải quyết theo thủ tục rút
gọn;
b) Hủy quyết định đưa vụ án ra giải quyết theo thủ tục rút gọn
và chuyển vụ án sang giải quyết theo thủ tục thông thường.
3. Quyết định giải quyết khiếu nại, kiến nghị
của Chánh án Tòa án là quyết định cuối cùng và phải được gửi ngay cho đương sự,
Viện kiểm sát cùng cấp.
Điều
249. Phiên tòa theo thủ tục rút gọn
1. Việc xét xử sơ thẩm
vụ án hành chính theo thủ tục rút gọn do một Thẩm phán thực hiện.
2. Thẩm phán tiến hành
thủ tục khai mạc phiên tòa theo quy định tại
Điều 169 của Luật này.
3. Sau khi khai mạc
phiên tòa, Thẩm phán tiến hành đối thoại, trừ trường hợp không tiến hành đối
thoại được theo quy định tại Điều 135 của Luật này. Trường
hợp đương sự thống nhất được với nhau về việc giải quyết vụ án thì Thẩm phán
lập biên bản đối thoại thành và ra quyết định công nhận kết quả đối thoại thành theo quy định tại Điều 140 của Luật này. Trường hợp
đương sự không thống nhất được với nhau về việc giải quyết vụ án thì Thẩm phán
tiến hành xét xử.
Việc trình bày, tranh
luận, đối đáp, đề xuất quan điểm về việc giải quyết vụ án được thực hiện theo
quy định tại Mục 3 Chương XI của Luật này.
4. Trường hợp tại phiên
tòa mà phát sinh tình tiết mới quy định tại khoản 2 Điều 246
của Luật này làm cho vụ án không còn đủ điều kiện để áp dụng thủ tục rút gọn thì Thẩm phán xem xét, quyết định chuyển vụ án sang giải
quyết theo thủ tục thông thường và thời hạn chuẩn bị xét xử được tính lại theo quy định tại khoản
3 Điều 246 của Luật này.
Điều
250. Hiệu lực của bản án, quyết định theo thủ tục rút gọn
1. Bản án, quyết định sơ
thẩm của Tòa án theo thủ tục rút gọn có thể bị kháng cáo, kháng nghị để yêu cầu
Tòa án cấp phúc thẩm giải quyết lại theo thủ tục rút gọn phúc thẩm.
2. Bản án, quyết định
theo thủ tục rút gọn có thể bị kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm, tái thẩm
theo quy định của Luật này.
Mục 2. GIẢI QUYẾT VỤ ÁN HÀNH CHÍNH THEO THỦ
TỤC RÚT GỌN TẠI TÒA ÁN CẤP PHÚC THẨM
Điều
251. Thời hạn kháng cáo, kháng nghị đối với bản án, quyết định theo thủ tục rút
gọn
1. Thời hạn kháng cáo
đối với bản án, quyết định của Tòa án cấp sơ thẩm theo thủ tục rút gọn là 07
ngày kể từ ngày tuyên án. Trường hợp đương sự không có mặt tại phiên tòa thì
thời hạn kháng cáo tính từ ngày bản án, quyết định được giao cho họ hoặc được niêm
yết.
2. Thời hạn kháng nghị
đối với bản án, quyết định của Tòa án cấp sơ thẩm theo thủ tục rút gọn của Viện
kiểm sát cùng cấp là 07 ngày, của Viện kiểm sát cấp trên trực tiếp là 10 ngày
kể từ ngày nhận được bản án, quyết định.
Điều
252. Thời hạn chuẩn bị xét xử phúc thẩm
1. Trong thời hạn 30
ngày kể từ ngày thụ lý vụ án, tùy từng trường hợp, Tòa án cấp phúc thẩm ra một
trong các quyết định sau đây:
a) Tạm đình chỉ xét xử
phúc thẩm vụ án;
b) Đình chỉ xét xử phúc
thẩm vụ án;
c) Đưa vụ án ra xét xử
phúc thẩm.
2. Quyết định đưa vụ án
ra xét xử phúc thẩm phải có nội dung quy định tại khoản 2 Điều
247 của Luật này.
3. Quyết định đưa vụ án
ra xét xử phúc thẩm phải được gửi cho những người có liên quan đến kháng cáo,
kháng nghị và Viện kiểm sát cùng cấp kèm theo hồ sơ vụ án. Trong thời hạn 05
ngày làm việc kể từ ngày nhận được hồ sơ vụ án, Viện kiểm sát nghiên cứu và trả
lại hồ sơ vụ án cho Tòa án.
Trường hợp Tòa án ra quyết định chuyển vụ án
sang giải quyết theo thủ tục thông thường theo quy định tại khoản
2 Điều 246 của Luật này thì thời hạn chuẩn bị xét xử vụ án được tính theo
quy định tại khoản 3 Điều 246 của Luật này.
4. Trường hợp có quyết
định tạm đình chỉ xét xử phúc thẩm vụ án thì thời hạn chuẩn bị xét xử phúc thẩm
được tính lại kể từ ngày quyết định hủy bỏ, quyết định tạm đình chỉ vụ
án của Tòa án có hiệu lực pháp luật.
1. Việc xét xử phúc thẩm vụ án hành chính theo thủ tục rút
gọn do một Thẩm phán thực hiện. Trong thời hạn
15 ngày kể từ ngày có quyết định đưa vụ án ra xét xử, Thẩm phán phải mở
phiên tòa phúc thẩm.
2. Phiên tòa có mặt các đương sự, Kiểm sát
viên Viện kiểm sát cùng cấp. Trường hợp Kiểm sát viên vắng mặt thì Hội đồng xét
xử vẫn tiến hành xét xử, trừ trường hợp Viện kiểm sát có kháng nghị phúc thẩm.
Trường hợp đương sự đã được triệu tập hợp lệ
mà vắng mặt không có lý do chính đáng hoặc đã có đơn xin xét xử vắng mặt thì
Thẩm phán vẫn tiến hành phiên tòa.
3. Thẩm phán trình bày tóm tắt nội dung bản
án, quyết định sơ thẩm bị kháng cáo, kháng nghị, nội dung của kháng cáo, kháng
nghị và tài liệu, chứng cứ kèm theo (nếu có).
4. Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của
đương sự trình bày, đương sự bổ sung ý kiến về nội dung kháng cáo, kháng nghị,
tranh luận, đối đáp, đề xuất quan điểm của mình về việc giải quyết vụ án.
5. Sau khi kết thúc việc tranh luận và đối
đáp, Kiểm sát viên phát biểu ý kiến của Viện kiểm sát về việc tuân theo pháp
luật trong quá trình giải quyết vụ án hành chính ở giai đoạn phúc thẩm.
6. Khi xem xét bản án, quyết định của Tòa án
cấp sơ thẩm bị kháng cáo, kháng nghị, Thẩm phán có các quyền sau đây:
a) Giữ nguyên bản án, quyết định của Tòa án
cấp sơ thẩm;
b) Sửa bản án, quyết định của Tòa án cấp sơ
thẩm;
c) Hủy bản án, quyết định của Tòa án cấp sơ
thẩm và chuyển hồ sơ vụ án cho Tòa án cấp sơ thẩm để giải quyết lại vụ án theo
thủ tục rút gọn hoặc theo thủ tục thông thường nếu không còn đủ các điều kiện
giải quyết theo thủ tục rút gọn;
d) Hủy bản án sơ thẩm và đình chỉ giải quyết
vụ án;
đ) Đình chỉ xét xử phúc thẩm và giữ nguyên
bản án sơ thẩm.
7. Bản án, quyết định phúc thẩm có hiệu lực
pháp luật kể từ ngày ra bản án, quyết định.
Điều
254. Tính chất của giám đốc thẩm
Giám đốc thẩm là xét lại
bản án, quyết định của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật nhưng bị kháng nghị giám
đốc thẩm khi có căn cứ quy định tại Điều 255 của Luật này.
Điều 255. Căn cứ, điều kiện để kháng nghị
theo thủ tục giám đốc thẩm
1. Bản án, quyết định của Tòa án đã có hiệu
lực pháp luật bị kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm khi có một trong những
căn cứ sau đây:
a) Kết luận trong bản án, quyết định không
phù hợp với những tình tiết khách quan của vụ án gây thiệt hại đến quyền, lợi
ích hợp pháp của đương sự;
b) Có vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng
làm cho đương sự không thực hiện được quyền, nghĩa vụ tố tụng của mình, dẫn đến
quyền, lợi ích hợp pháp của họ không được bảo vệ theo đúng quy định của pháp
luật;
c) Có sai lầm trong việc áp dụng pháp luật
dẫn đến việc ra bản án, quyết định không đúng gây thiệt hại đến quyền, lợi ích
hợp pháp của đương sự, lợi ích công cộng, lợi ích của Nhà nước, quyền, lợi ích
hợp pháp của người thứ ba.
2. Người có thẩm quyền kháng nghị quy định
tại Điều 260 của Luật này kháng nghị bản án, quyết định
của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật khi có một trong các căn cứ quy định tại
khoản 1 Điều này và có đơn của người đề nghị theo quy định tại Điều
257 và Điều 258 của Luật này, trừ trường hợp xâm phạm đến lợi ích công
cộng, lợi ích của Nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của người thứ ba thì không
cần thiết phải có đơn đề nghị.
1. Trong thời hạn 01 năm
kể từ ngày bản án, quyết định của Tòa án có hiệu lực pháp
luật, nếu phát hiện có một trong các căn cứ quy định tại khoản
1 Điều 255 của Luật này thì đương sự có quyền đề nghị bằng văn bản với
những người có thẩm quyền kháng nghị quy định tại Điều 260 của
Luật này để xem xét kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm.
2. Trường hợp Tòa án, Viện kiểm sát hoặc cơ
quan, tổ chức, cá nhân khác phát hiện có một trong các căn cứ quy định tại khoản 1 Điều 255 của Luật này thì phải thông báo bằng văn bản
cho những người có thẩm quyền kháng nghị quy định tại Điều 260
của Luật này.
3.[65] Chánh án Tòa án nhân dân khu vực
kiến nghị với Chánh án Tòa án cấp tỉnh hoặc Chánh án
Tòa án nhân dân tối cao, Chánh án Tòa án cấp tỉnh kiến nghị với
Chánh án Tòa án nhân dân tối cao xem xét kháng nghị theo thủ
tục giám đốc thẩm bản án, quyết định của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật nếu
phát hiện có một trong các căn cứ quy định tại khoản 1 Điều
255 của Luật này.
1. Đơn đề nghị phải có các nội dung chính sau
đây:
a) Ngày, tháng, năm làm đơn đề nghị;
b) Tên, địa chỉ của người đề nghị;
c) Tên bản án, quyết định của Tòa án đã có
hiệu lực pháp luật đề nghị xem xét theo thủ tục giám đốc thẩm;
d) Lý do và căn cứ đề nghị, yêu cầu của người
đề nghị;
đ) Người đề nghị là cá nhân phải ký tên hoặc
điểm chỉ; người đề nghị là cơ quan, tổ chức thì người đại diện hợp pháp của cơ
quan, tổ chức đó phải ký tên và đóng dấu vào phần cuối đơn. Trường hợp tổ chức
đề nghị là doanh nghiệp thì việc sử dụng con dấu được thực hiện theo quy định
của Luật Doanh nghiệp.
2. Người đề nghị phải gửi đơn kèm theo bản
án, quyết định của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật; tài liệu, chứng cứ (nếu có)
để chứng minh cho những yêu cầu của mình là có căn cứ.
3. Đơn đề nghị và tài liệu, chứng cứ được gửi
cho người có thẩm quyền kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm quy định tại Điều 260 của Luật này.
1. Tòa án, Viện kiểm sát nhận đơn đề nghị do
đương sự nộp trực tiếp tại Tòa án, Viện kiểm sát hoặc gửi qua dịch vụ bưu chính
và phải ghi vào sổ nhận đơn, cấp giấy xác nhận đã nhận đơn cho đương sự. Ngày
gửi đơn được tính từ ngày đương sự nộp đơn tại Tòa án, Viện kiểm sát hoặc ngày
có dấu của tổ chức dịch vụ bưu chính nơi gửi.
Trường hợp nhận được thông báo, kiến nghị của
cơ quan, tổ chức, cá nhân quy định tại khoản 2 và khoản 3 Điều
256 của Luật này thì Tòa án, Viện kiểm sát phải vào sổ thụ lý để giải
quyết.
2. Tòa án, Viện kiểm sát thụ lý đơn đề nghị
khi có đủ nội dung và tài liệu kèm theo quy định tại Điều 257
của Luật này. Tòa án, Viện kiểm sát có thể yêu cầu đương sự bổ sung nội
dung đơn và tài liệu trong trường hợp chưa đầy đủ. Trường hợp đương sự không
thực hiện theo yêu cầu bổ sung thì Tòa án, Viện kiểm sát thông báo bằng văn bản
trả lại đơn đề nghị cho đương sự và ghi chú vào sổ nhận đơn.
3. Người có thẩm quyền kháng nghị theo thủ
tục giám đốc thẩm phân công người có trách nhiệm tiến hành nghiên cứu đơn,
thông báo, kiến nghị, hồ sơ vụ án và báo cáo người có thẩm quyền kháng nghị xem
xét, quyết định. Trường hợp không kháng nghị thì thông báo bằng văn bản cho
đương sự, cơ quan, tổ chức, cá nhân có văn bản thông báo, kiến nghị.
Chánh án Tòa án nhân dân tối cao phân công
Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao
phân công Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân tối cao nghiên cứu đơn, thông
báo, kiến nghị, hồ sơ vụ án và báo cáo Chánh án Tòa án nhân dân tối cao, Viện
trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao xem xét, quyết định kháng nghị. Trường
hợp không kháng nghị thì Chánh án Tòa án nhân dân tối cao, Viện trưởng Viện
kiểm sát nhân dân tối cao tự mình hoặc ủy quyền cho Thẩm phán Tòa án nhân dân tối
cao, Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân tối cao thông báo bằng văn bản cho
đương sự, cơ quan, tổ chức, cá nhân có văn bản thông báo, kiến nghị.
Điều 259. Bổ sung, xác minh tài liệu, chứng
cứ trong thủ tục giám đốc thẩm
1. Đương sự được quyền cung cấp tài liệu,
chứng cứ cho Tòa án, Viện kiểm sát có thẩm quyền xem xét theo thủ tục giám đốc
thẩm, nếu những tài liệu, chứng cứ đó chưa được Tòa án cấp sơ thẩm, Tòa án cấp
phúc thẩm yêu cầu đương sự giao nộp hoặc đã yêu cầu giao nộp nhưng đương sự
không giao nộp được vì có lý do chính đáng hoặc những tài liệu, chứng cứ mà
đương sự không thể biết được trong quá trình giải quyết vụ án.
2. Trong quá trình giải quyết đơn đề nghị
giám đốc thẩm, Tòa án, Viện kiểm sát có quyền yêu cầu người có đơn bổ sung tài
liệu, chứng cứ hoặc tự mình kiểm tra, xác minh tài liệu, chứng cứ cần thiết.
Điều 260. Người có thẩm quyền kháng nghị theo
thủ tục giám đốc thẩm[66]
1. Chánh án Tòa án nhân dân tối cao, Viện
trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao có thẩm quyền kháng nghị theo thủ tục
giám đốc thẩm bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật của Tòa án cấp tỉnh;
những bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật của Tòa án khác khi xét thấy
cần thiết, trừ quyết định của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao.
2. Chánh án Tòa án cấp tỉnh, Viện trưởng Viện
kiểm sát cấp tỉnh có thẩm quyền kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm bản án,
quyết định đã có hiệu lực pháp luật của Tòa án nhân dân khu vực thuộc phạm vi
thẩm quyền theo lãnh thổ.
Điều 261. Hoãn, tạm đình chỉ thi hành bản án,
quyết định đã có hiệu lực pháp luật
1. Người có thẩm quyền kháng nghị bản án,
quyết định đã có hiệu lực pháp luật của Tòa án có quyền hoãn thi hành bản án,
quyết định để xem xét việc kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm. Thời hạn hoãn
không quá 03 tháng.
Đối với quyết định về phần dân sự trong bản
án, quyết định hành chính của Tòa án thì
người có thẩm quyền kháng nghị có quyền yêu cầu cơ quan thi hành án dân sự hoãn
thi hành án theo quy định của pháp luật về thi hành án dân sự.
2. Người đã kháng nghị theo thủ tục giám đốc
thẩm bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật có quyền quyết định tạm đình
chỉ thi hành bản án, quyết định đó cho đến khi có quyết định giám đốc thẩm.
Điều 262. Quyết định kháng nghị giám đốc thẩm
Quyết định kháng nghị giám đốc thẩm phải có
các nội dung chính sau đây:
1. Số, ngày, tháng, năm của quyết định kháng
nghị;
2. Chức vụ của người ra quyết định kháng
nghị;
3. Số, ngày, tháng, năm của bản án, quyết
định đã có hiệu lực pháp luật bị kháng nghị;
4. Phần quyết định của bản án, quyết định đã
có hiệu lực pháp luật bị kháng nghị;
5. Nhận xét, phân tích những vi phạm, sai lầm
của bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật bị kháng nghị;
6. Căn cứ pháp luật để quyết định kháng nghị;
7. Quyết định kháng nghị một phần hoặc toàn
bộ bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật;
8. Tên của Tòa án có thẩm quyền giám đốc thẩm
vụ án đó;
9. Đề nghị của người kháng nghị.
Điều 263. Thời hạn kháng nghị theo thủ tục
giám đốc thẩm
1. Người có thẩm quyền kháng nghị theo thủ
tục giám đốc thẩm được quyền kháng nghị trong thời hạn 03 năm kể từ ngày bản
án, quyết định của Tòa án có hiệu lực pháp luật.
2. Thời hạn kháng nghị phần dân sự trong bản
án, quyết định hành chính của Tòa án được thực hiện theo quy định của pháp luật
về tố tụng dân sự.
Điều 264. Gửi quyết định kháng nghị giám đốc
thẩm
1. Quyết định kháng nghị giám đốc thẩm phải
được gửi ngay cho Tòa án đã ra bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật bị
kháng nghị, đương sự, cơ quan thi hành án dân sự có thẩm quyền và những người
khác có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến nội dung kháng nghị.
2.[67] Trường hợp Chánh án
Tòa án nhân dân tối cao hoặc Chánh án Tòa án cấp tỉnh kháng nghị thì quyết định
kháng nghị cùng hồ sơ vụ án phải được gửi ngay cho Viện kiểm sát cùng cấp.
Trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được hồ sơ vụ án, Viện kiểm sát nghiên
cứu và chuyển hồ sơ vụ án cho Tòa án có thẩm quyền giám đốc thẩm.
3.[68] Trường hợp Viện
trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao hoặc Viện trưởng Viện kiểm sát cấp tỉnh
kháng nghị thì quyết định kháng nghị cùng hồ sơ vụ án phải được gửi ngay cho
Tòa án có thẩm quyền giám đốc thẩm.
4.[69] Trường hợp Chánh án
Tòa án nhân dân tối cao kháng nghị bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật
của Tòa án khác theo quy định tại khoản 1 Điều 260 của
Luật này thì có quyền giao cho Tòa án cấp tỉnh xét xử theo thủ tục
giám đốc thẩm.
Điều 265. Thay đổi, bổ sung, rút kháng nghị
1. Người đã kháng nghị giám đốc thẩm có quyền
thay đổi, bổ sung quyết định kháng nghị, nếu chưa hết thời hạn kháng nghị quy
định tại Điều 263 của Luật này.
2. Trước khi mở phiên tòa hoặc tại phiên tòa,
người kháng nghị có quyền rút kháng nghị. Việc rút kháng nghị trước khi mở
phiên tòa phải được lập thành văn bản và được gửi theo quy định tại Điều 264 của Luật này. Việc rút kháng nghị tại phiên tòa phải
được ghi vào biên bản phiên tòa và Hội đồng xét xử giám đốc thẩm ra quyết định
đình chỉ xét xử giám đốc thẩm.
Điều 266. Thẩm quyền giám đốc thẩm[70]
1. Ủy ban Thẩm phán Tòa án nhân dân cấp tỉnh
giám đốc thẩm bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật của Tòa án nhân dân
khu vực trong phạm vi thẩm quyền theo lãnh thổ bị kháng nghị.
2. Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao
giám đốc thẩm bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật của Tòa án cấp tỉnh
bị kháng nghị như sau:
a) Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao
xét xử giám đốc thẩm bằng Hội đồng xét xử gồm 05 Thẩm phán đối với bản án,
quyết định của Tòa án cấp tỉnh bị kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm;
b) Toàn thể Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân
dân tối cao xét xử giám đốc thẩm đối với bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp
luật quy định tại điểm a khoản này nhưng có tính chất phức tạp hoặc bản án,
quyết định đã được Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao xét xử giám đốc
thẩm bằng Hội đồng xét xử gồm 05 Thẩm phán nhưng không đạt được sự thống nhất
khi biểu quyết thông qua quyết định về việc giải quyết vụ án.
3. Những vụ án phức tạp quy định tại điểm b
khoản 2 Điều này là những vụ án thuộc một trong các trường hợp sau đây:
a) Quy định của pháp luật về vấn đề cần giải
quyết trong vụ án chưa rõ ràng, chưa được hướng dẫn áp dụng thống nhất;
b) Việc đánh giá chứng cứ, áp dụng pháp luật
có nhiều ý kiến khác nhau;
c) Việc giải quyết vụ án liên quan đến lợi
ích công cộng, lợi ích của Nhà nước, bảo vệ quyền con người, quyền công dân
được dư luận xã hội đặc biệt quan tâm.
4. Chánh án Tòa án cấp tỉnh xem xét, quyết
định việc tổ chức xét xử giám đốc thẩm theo quy định tại khoản 1 Điều này.
Chánh án Tòa án nhân dân tối cao xem xét, quyết định việc tổ chức xét xử giám
đốc thẩm trong các trường hợp quy định tại khoản 2 Điều này.
5. Trường hợp những bản án, quyết định đã có
hiệu lực pháp luật về cùng một vụ án hành chính cùng thuộc thẩm quyền giám đốc
thẩm của Tòa án cấp tỉnh và Tòa án nhân dân tối cao thì Tòa án nhân dân tối cao
có thẩm quyền giám đốc thẩm toàn bộ vụ án.
Điều 267. Những người tham gia phiên tòa giám
đốc thẩm
1. Phiên tòa giám đốc thẩm phải có sự tham
gia của Viện kiểm sát cùng cấp.
2. Khi xét thấy cần thiết, Tòa án triệu tập
đương sự, người đại diện hợp pháp, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của
đương sự, người tham gia tố tụng khác có liên quan đến việc kháng nghị
tham gia phiên tòa giám đốc thẩm. Trường hợp họ vắng mặt tại phiên tòa thì Hội
đồng xét xử giám đốc thẩm vẫn tiến hành phiên tòa.
Điều 268. Thời hạn mở phiên tòa giám đốc thẩm
Trong thời hạn 60 ngày kể từ ngày nhận được
kháng nghị kèm theo hồ sơ vụ án, Tòa án có thẩm quyền giám đốc thẩm phải mở
phiên tòa.
Điều 269. Chuẩn bị phiên tòa giám đốc thẩm
Chánh án Tòa án phân công một Thẩm phán làm
bản thuyết trình về vụ án tại phiên tòa. Bản thuyết trình tóm tắt nội dung vụ
án và các bản án, quyết định của các cấp Tòa án, nội dung của kháng nghị. Bản
thuyết trình phải được gửi cho các thành viên Hội đồng xét xử giám đốc thẩm
chậm nhất là 07 ngày trước ngày mở phiên tòa giám đốc thẩm.
Điều 270. Thủ tục phiên tòa giám đốc thẩm
1. Sau khi chủ tọa khai mạc phiên tòa, một
thành viên của Hội đồng xét xử giám đốc thẩm trình bày tóm tắt nội dung vụ án,
quá trình xét xử vụ án, quyết định của bản án, quyết định của Tòa án đã có hiệu
lực pháp luật bị kháng nghị, các căn cứ, nhận định của kháng nghị và đề nghị
của người kháng nghị. Trường hợp Viện kiểm sát kháng nghị thì đại diện Viện
kiểm sát trình bày nội dung kháng nghị.
2. Đương sự, người đại diện hợp pháp, người
bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự, người tham gia tố tụng khác được
Tòa án triệu tập đến phiên tòa giám đốc thẩm trình bày ý kiến về những vấn đề
mà Hội đồng xét xử giám đốc thẩm yêu cầu. Trường hợp họ vắng mặt nhưng có văn
bản trình bày ý kiến thì Hội đồng xét xử giám đốc thẩm công bố ý kiến của họ.
3. Đại diện Viện kiểm sát phát biểu ý kiến về
quyết định kháng nghị và việc giải quyết vụ án.
Ngay sau khi kết
thúc phiên tòa, Kiểm sát viên phải gửi văn bản phát biểu ý kiến cho Tòa án để
lưu vào hồ sơ vụ án.
4. Các thành viên của Hội đồng xét xử giám
đốc thẩm phát biểu ý kiến và thảo luận. Hội đồng xét xử giám đốc thẩm nghị án,
biểu quyết về việc giải quyết vụ án và công bố nội dung quyết định về việc giải
quyết vụ án tại phiên tòa. Việc nghị án phải được thực hiện theo các nguyên tắc
quy định tại Điều 191 của Luật này.
5.[71] Ủy ban Thẩm phán Tòa
án nhân dân cấp tỉnh xét xử theo quy định tại khoản 1
Điều 266 của Luật này thì phiên tòa xét xử phải có ít nhất hai
phần ba tổng số thành viên tham gia; quyết định của Ủy ban Thẩm phán phải được
quá nửa tổng số thành viên Ủy ban Thẩm phán biểu quyết tán thành.
6.[72] Hội đồng Thẩm phán
Tòa án nhân dân tối cao xét xử theo quy định tại điểm a khoản
2 Điều 266 của Luật này thì quyết định của Hội đồng xét xử phải được tất cả
thành viên tham gia Hội đồng biểu quyết tán thành.
Trường hợp xét xử theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 266 của Luật này thì phiên tòa xét xử của
toàn thể Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao phải có ít nhất hai phần ba
tổng số thành viên tham gia; quyết định của Hội đồng Thẩm phán phải được quá
nửa tổng số thành viên Hội đồng Thẩm phán biểu quyết tán thành.
Điều 271. Phạm vi giám đốc thẩm
1. Hội đồng xét xử giám đốc thẩm chỉ xem xét
phần quyết định của bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật bị kháng nghị
hoặc có liên quan đến việc xem xét nội dung kháng nghị.
2. Hội đồng xét xử giám đốc thẩm có quyền xem
xét phần quyết định của bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật không bị
kháng nghị hoặc không có liên quan đến nội dung kháng nghị, nếu phần quyết định
đó xâm phạm đến lợi ích công cộng, lợi ích của Nhà nước, quyền, lợi ích hợp
pháp của người thứ ba không phải là đương sự trong vụ án.
Điều 272. Thẩm quyền của Hội đồng giám đốc
thẩm
1. Không chấp nhận kháng nghị và giữ nguyên
bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật.
2. Hủy bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp
luật bị kháng nghị và giữ nguyên bản án, quyết định đúng pháp luật của Tòa án
cấp dưới đã bị hủy hoặc bị sửa.
3. Hủy bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp
luật bị kháng nghị để xét xử sơ thẩm hoặc phúc thẩm lại.
4. Hủy bản án, quyết định của Tòa án đã giải
quyết vụ án và đình chỉ việc giải quyết vụ án.
5. Sửa một phần hoặc toàn bộ bản án, quyết
định của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật.
Hội đồng xét xử giám đốc thẩm ra quyết định
hủy bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật bị kháng nghị và giữ nguyên bản
án, quyết định của Tòa án cấp dưới xét xử đúng pháp luật, nhưng đã bị bản án,
quyết định đã có hiệu lực pháp luật bị kháng nghị hủy bỏ, sửa đổi một phần hoặc
toàn bộ.
Trường hợp bản án, quyết định của Tòa án đã
thi hành được một phần hoặc toàn bộ thì Hội đồng xét xử giám đốc thẩm phải giải
quyết hậu quả của việc thi hành án.
Hội đồng xét xử giám đốc thẩm ra quyết định
hủy bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật bị kháng nghị để xét xử sơ thẩm
lại hoặc xét xử phúc thẩm lại trong các trường hợp sau đây:
1. Việc thu thập chứng cứ và chứng minh chưa
thực hiện đầy đủ hoặc không đúng quy định tại Chương VI của Luật này;
2. Kết luận trong bản án, quyết định không
phù hợp với những tình tiết khách quan của vụ án hoặc có sai lầm nghiêm trọng
trong việc áp dụng pháp luật;
3. Thành phần của Hội đồng xét xử sơ thẩm
hoặc phúc thẩm không đúng quy định của Luật này hoặc có vi phạm nghiêm trọng
khác về thủ tục tố tụng.
Điều 275. Hủy bản án, quyết định của Tòa án
đã giải quyết vụ án và đình chỉ việc giải quyết vụ án
Hội đồng xét xử giám đốc thẩm ra quyết định
hủy bản án, quyết định của Tòa án đã giải quyết vụ án và đình chỉ việc giải
quyết vụ án, nếu trong quá trình xét xử sơ thẩm, xét xử phúc thẩm có một trong
các trường hợp quy định tại khoản 1 Điều 143 của Luật này.
Tòa án cấp giám đốc thẩm giao lại hồ sơ vụ án cho Tòa án đã xét xử sơ thẩm để
trả lại đơn khởi kiện cùng tài liệu, chứng cứ kèm theo cho người khởi kiện, nếu
có yêu cầu.
Trường hợp bản án, quyết định của Tòa án đã
thi hành được một phần hoặc toàn bộ thì Hội đồng xét xử giám đốc thẩm phải giải
quyết hậu quả của việc thi hành án.
Điều 276. Sửa một phần hoặc toàn bộ bản án,
quyết định của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật
1. Hội đồng xét xử giám đốc thẩm ra quyết
định sửa một phần hoặc toàn bộ bản án, quyết định của Tòa án đã có hiệu lực
pháp luật khi có đủ các điều kiện sau đây:
a) Tài liệu, chứng cứ trong hồ sơ vụ án đã
đầy đủ, rõ ràng; có đủ căn cứ để làm rõ các tình tiết trong vụ án;
b) Việc sửa bản án, quyết định bị kháng nghị
không ảnh hưởng đến quyền, nghĩa vụ của cơ quan, tổ chức, cá nhân khác.
2. Trường hợp bản án, quyết định của Tòa án
đã thi hành được một phần hoặc toàn bộ thì Hội đồng xét xử giám đốc thẩm phải
giải quyết hậu quả của việc thi hành án.
Điều 277. Quyết định giám đốc thẩm
1. Hội đồng xét xử giám đốc thẩm ra quyết
định giám đốc thẩm nhân danh nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam.
2. Quyết định giám đốc thẩm phải có các nội
dung sau đây:
a) Ngày, tháng, năm và địa điểm mở phiên tòa;
b)[73] Họ, tên các thành
viên Hội đồng xét xử giám đốc thẩm. Trường hợp Hội đồng xét xử giám đốc thẩm là
Ủy ban Thẩm phán Tòa án nhân dân cấp tỉnh hoặc Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân
dân tối cao thì ghi họ, tên, chức vụ của Chủ tọa phiên tòa và số lượng thành viên
tham gia xét xử;
c) Họ, tên Thư ký phiên tòa, Kiểm sát viên
tham gia phiên tòa;
d) Tên vụ án mà Hội đồng đưa ra xét xử giám
đốc thẩm;
đ) Tên, địa chỉ của đương sự trong vụ án;
e) Tóm tắt nội dung vụ án, phần quyết định
của bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật bị kháng nghị;
g) Quyết định kháng nghị, lý do kháng nghị;
h) Nhận định của Hội đồng xét xử giám đốc
thẩm trong đó phải phân tích những căn cứ để chấp nhận hoặc không chấp nhận
kháng nghị; lập luận của Hội đồng xử giám đốc thẩm về các vấn đề pháp lý đặt ra
và được giải quyết trong vụ án (nếu có);
i) Điểm, khoản, điều của Luật Tố tụng hành
chính mà Hội đồng xét xử giám đốc thẩm căn cứ để ra quyết định;
k) Quyết định của Hội đồng xét xử giám đốc
thẩm.
3. Quyết định của Hội đồng xét xử giám đốc
thẩm của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao cần có lập luận để làm rõ
quy định của pháp luật còn có cách hiểu khác nhau; phân tích, giải thích các
vấn đề, sự kiện pháp lý và chỉ ra nguyên nhân, đường lối xử lý, quy phạm pháp
luật cần áp dụng (nếu có).
Điều 278. Hiệu lực của quyết định giám đốc
thẩm
Quyết định giám đốc thẩm có hiệu lực pháp
luật kể từ ngày Hội đồng xét xử giám đốc thẩm ra quyết định.
Điều 279. Gửi quyết định giám đốc thẩm
Trong thời hạn 05 ngày làm việc kể từ ngày ra
quyết định, Hội đồng xét xử giám đốc thẩm phải gửi quyết định giám đốc thẩm cho
các cơ quan, tổ chức, cá nhân sau đây:
1. Đương sự;
2. Tòa án ra bản án, quyết định đã có hiệu
lực pháp luật bị kháng nghị, bị hủy, bị sửa;
3. Viện kiểm sát cùng cấp và Viện kiểm sát có
thẩm quyền kiểm sát thi hành án;
4. Cơ quan thi hành án dân sự có thẩm quyền;
5. Cơ quan cấp trên trực tiếp của người bị
kiện.
6. Quyết định giám đốc thẩm được Tòa án cấp giám
đốc thẩm công bố trên Cổng thông tin điện tử của Tòa án (nếu có), trừ quyết
định của Tòa án có chứa thông tin quy định tại khoản 2 Điều 96
của Luật này.
Điều 280. Tính chất của tái thẩm
Tái thẩm là xét lại bản án, quyết định đã có
hiệu lực pháp luật nhưng bị kháng nghị vì có những tình tiết mới được phát hiện
có thể làm thay đổi cơ bản nội dung của bản án, quyết định mà Tòa án, đương sự
không biết được khi Tòa án ra bản án, quyết định đó.
Điều 281. Căn cứ để kháng nghị theo thủ tục
tái thẩm
Bản án, quyết định của Tòa án đã có hiệu lực
pháp luật bị kháng nghị theo thủ tục tái thẩm khi có một trong những căn cứ sau
đây:
1. Mới phát hiện được tình tiết quan trọng
của vụ án mà Tòa án, đương sự đã không thể biết được trong quá trình giải quyết
vụ án;
2. Có cơ sở chứng minh kết luận của người
giám định, lời dịch của người phiên dịch không đúng sự thật hoặc có giả mạo
chứng cứ;
3. Thẩm phán, Hội thẩm nhân dân, Kiểm sát
viên cố ý làm sai lệch hồ sơ vụ án hoặc cố ý kết luận trái pháp luật;
4. Bản án, quyết định của Tòa án hoặc quyết
định của cơ quan nhà nước mà Tòa án căn cứ vào đó để giải quyết vụ án đã bị hủy
bỏ.
Điều 282. Thông báo và xác minh những tình
tiết mới được phát hiện
1. Đương sự hoặc cơ quan, tổ chức, cá nhân
khác khi phát hiện tình tiết mới của vụ án thì có quyền đề nghị bằng văn bản
với người có thẩm quyền kháng nghị quy định tại Điều 283 của
Luật này để xem xét kháng nghị theo thủ tục tái thẩm.
2. Trường hợp phát hiện tình tiết mới của vụ
án, Viện kiểm sát, Tòa án phải thông báo bằng văn bản cho những người có thẩm
quyền kháng nghị quy định tại Điều 283 của Luật này.
3.[74] Trường hợp phát hiện
tình tiết mới của vụ án, Chánh án Tòa án nhân dân khu vực kiến nghị với Chánh
án Tòa án cấp tỉnh hoặc với Chánh án Tòa án nhân dân tối cao, Chánh án Tòa
án cấp tỉnh kiến nghị với Chánh án Tòa án nhân dân tối cao để xem xét kháng
nghị theo thủ tục tái thẩm.
Điều 283. Người có thẩm quyền kháng nghị theo
thủ tục tái thẩm
1.[75] Chánh án Tòa án nhân
dân tối cao, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao có thẩm quyền kháng
nghị theo thủ tục tái thẩm bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật của Tòa
án cấp tỉnh; bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật của Tòa án khác khi xét
thấy cần thiết, trừ quyết định của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao.
2.[76] Chánh án Tòa án cấp
tỉnh, Viện trưởng Viện kiểm sát cấp tỉnh có thẩm quyền kháng nghị theo thủ tục
tái thẩm bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật của Tòa án nhân dân khu
vực trong phạm vi thẩm quyền theo lãnh thổ.
3. Người đã kháng nghị bản án, quyết định đã
có hiệu lực pháp luật có quyền quyết định tạm đình chỉ thi hành bản án, quyết
định đó cho đến khi có quyết định tái thẩm.
Điều 284. Thời hạn kháng nghị theo thủ tục
tái thẩm
Thời hạn kháng nghị theo thủ tục tái thẩm là
01 năm kể từ ngày người có thẩm quyền kháng nghị biết được căn cứ để kháng nghị
theo thủ tục tái thẩm quy định tại Điều 281 của Luật này.
Điều 285. Thẩm quyền của Hội đồng tái thẩm
1. Không chấp nhận kháng nghị và giữ nguyên
bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật.
2. Hủy bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp
luật để xét xử sơ thẩm lại theo thủ tục do Luật này quy định.
3. Hủy bản án, quyết định của Tòa án đã xét
xử vụ án và đình chỉ giải quyết vụ án.
Điều 286. Áp dụng các quy định của thủ tục
giám đốc thẩm
Các quy định khác về thẩm quyền, thủ tục tái
thẩm được thực hiện như các quy định về thủ tục giám đốc thẩm theo quy định của
Luật này.
THỦ TỤC ĐẶC BIỆT XEM XÉT LẠI QUYẾT ĐỊNH CỦA
HỘI ĐỒNG THẨM PHÁN TÒA ÁN NHÂN DÂN TỐI CAO
1. Quyết định của
Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao khi có căn cứ xác định có vi phạm
pháp luật nghiêm trọng hoặc phát hiện tình tiết quan trọng mới có thể làm thay
đổi cơ bản nội dung quyết định mà Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao,
đương sự không biết được khi ra quyết định đó thì được xem xét lại nếu thuộc
một trong các trường hợp sau đây:
a) Theo yêu cầu của
Ủy ban Thường vụ Quốc hội;
b) Theo kiến nghị
của Ủy ban Pháp luật và Tư pháp của Quốc hội[77];
c) Theo kiến nghị
của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao;
d) Theo đề nghị của
Chánh án Tòa án nhân dân tối cao.
2. Trường hợp có yêu
cầu của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, Chánh án Tòa án nhân dân tối cao có trách
nhiệm báo cáo Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao để xem xét lại quyết
định của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao.
3. Trường hợp có
kiến nghị của Ủy ban Pháp luật và Tư pháp của Quốc hội[78], kiến nghị của Viện trưởng Viện
kiểm sát nhân dân tối cao hoặc đề nghị của Chánh án Tòa án nhân dân tối cao
phát hiện vi phạm, tình tiết quan trọng mới thì Chánh án Tòa án nhân dân tối
cao có trách nhiệm báo cáo Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao xem xét
kiến nghị, đề nghị đó.
Trường hợp nhất trí
với kiến nghị của Ủy ban Pháp luật và Tư pháp của Quốc hội[79], kiến nghị của Viện trưởng Viện
kiểm sát nhân dân tối cao hoặc đề nghị của Chánh án Tòa án nhân dân tối cao thì
Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao ra quyết định giao Chánh án Tòa án
nhân dân tối cao tổ chức nghiên cứu hồ sơ vụ án, báo cáo Hội đồng Thẩm phán Tòa
án nhân dân tối cao xem xét, quyết định. Trường hợp Hội đồng Thẩm phán Tòa án
nhân dân tối cao không nhất trí với kiến nghị, đề nghị thì phải thông báo bằng
văn bản và nêu rõ lý do.
4. Phiên họp của Hội
đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao xem xét kiến nghị, đề nghị quy định tại
khoản 3 Điều này phải có sự tham dự của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối
cao.
Sau khi nhận được yêu cầu của Ủy ban Thường
vụ Quốc hội, kiến nghị của Ủy ban Pháp luật và Tư pháp của Quốc hội[80]
hoặc sau khi Chánh án Tòa án nhân dân tối cao có văn bản đề nghị xem xét lại
quyết định của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao theo quy định tại khoản 1 Điều 287 của Luật này, Tòa án nhân dân tối cao gửi
cho Viện kiểm sát nhân dân tối cao bản sao văn bản yêu cầu, kiến nghị hoặc đề
nghị đó kèm theo hồ sơ vụ án để Viện kiểm sát nhân dân tối cao nghiên cứu và
chuẩn bị ý kiến phát biểu tại phiên họp xem xét kiến nghị, đề nghị theo quy định tại Điều 291 của Luật này. Trong thời hạn 15 ngày
kể từ ngày nhận được hồ sơ vụ án, Viện kiểm sát nhân dân tối cao phải trả lại
hồ sơ vụ án cho Tòa án nhân dân tối cao.
Điều 289. Thời hạn mở phiên họp và thông báo
mở phiên họp xem xét kiến nghị, đề nghị
1. Trong thời hạn 30 ngày kể từ ngày nhận
được kiến nghị của Ủy ban Pháp luật và Tư pháp của Quốc hội[81],
kiến nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao hoặc kể từ ngày Chánh
án Tòa án nhân dân tối cao có văn bản đề nghị thì Hội đồng Thẩm phán Tòa án
nhân dân tối cao phải mở phiên họp xem xét kiến nghị của Ủy ban Pháp luật và Tư
pháp của Quốc hội[82], kiến nghị của Viện trưởng Viện kiểm
sát nhân dân tối cao hoặc đề nghị của Chánh án Tòa án nhân dân tối cao theo quy
định tại khoản 3 Điều 287 của Luật này.
2. Tòa án nhân dân tối cao thông báo bằng văn
bản cho Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao về thời gian mở phiên họp để
xem xét kiến nghị, đề nghị quy định tại khoản 3 Điều 287 của
Luật này.
1. Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao
tham dự phiên họp của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao để xem xét
kiến nghị của Ủy ban Pháp luật và Tư pháp của Quốc hội[83],
kiến nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao hoặc đề nghị của Chánh
án Tòa án nhân dân tối cao theo quy định tại khoản 4 Điều 287
của Luật này.
2. Đại diện Ủy ban Pháp luật và Tư pháp của
Quốc hội[84] được mời tham dự phiên họp của Hội đồng Thẩm
phán Tòa án nhân dân tối cao để xem xét kiến nghị của Ủy ban Pháp luật và Tư
pháp của Quốc hội[85].
1. Chánh án Tòa án nhân dân tối cao tự mình
hoặc phân công một thành viên Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao trình
bày tóm tắt nội dung vụ án và quá trình giải quyết vụ án.
2. Đại diện Ủy ban Pháp luật và Tư pháp của
Quốc hội[86], Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao,
Chánh án Tòa án nhân dân tối cao có kiến nghị, đề nghị xem xét lại quyết định
của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao trình bày về các vấn đề sau đây:
a) Nội dung, căn cứ của việc kiến nghị, đề
nghị;
b) Phân tích đánh giá các tình tiết của vụ
án, chứng cứ cũ và chứng cứ mới bổ sung (nếu có) để làm rõ việc vi phạm pháp
luật nghiêm trọng trong quyết định của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối
cao hoặc có tình tiết quan trọng mới có thể làm thay đổi cơ bản nội dung quyết
định của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao.
3. Trường hợp xem xét kiến nghị của Ủy ban
Pháp luật và Tư pháp của Quốc hội[87] hoặc xem xét đề nghị
của Chánh án Tòa án nhân dân tối cao thì Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối
cao phát biểu quan điểm và lý do nhất trí hoặc không nhất trí với kiến nghị, đề
nghị đó.
Ý kiến phát biểu của Viện trưởng Viện kiểm
sát nhân dân tối cao phải thể hiện bằng văn bản, có chữ ký của Viện trưởng Viện
kiểm sát nhân dân tối cao và phải được gửi cho Tòa án nhân dân tối cao trong
thời hạn 05 ngày làm việc kể từ ngày kết thúc phiên họp.
4. Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao
thảo luận và biểu quyết theo đa số về việc nhất trí hoặc không nhất trí với
kiến nghị, đề nghị xem xét lại quyết định của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân
dân tối cao.
5. Trường hợp nhất trí kiến nghị của Ủy ban
Pháp luật và Tư pháp của Quốc hội[88], kiến nghị của Viện
trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao hoặc đề nghị của Chánh án Tòa án nhân dân
tối cao thì Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao quyết định việc mở phiên
họp để xem xét lại quyết định của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao,
đồng thời giao cho Chánh án Tòa án nhân dân tối cao tổ chức nghiên cứu hồ sơ
báo cáo Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao xem xét, quyết định tại
phiên họp xem xét lại quyết định của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối
cao.
6. Trường hợp không nhất trí kiến nghị, đề
nghị thì Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao phải thông báo bằng văn bản
cho cơ quan, cá nhân quy định tại Điều 292 của Luật này và
nêu rõ lý do.
7. Mọi diễn biến tại phiên họp xem xét kiến
nghị, đề nghị và các quyết định được thông qua tại phiên họp phải được ghi vào
biên bản phiên họp và lưu hồ sơ xem xét kiến nghị, đề nghị.
Trong thời hạn 05 ngày làm việc kể từ ngày
kết thúc phiên họp xem xét kiến nghị, đề nghị xem xét lại quyết định của Hội
đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao, Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối
cao gửi cho Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Ủy ban Pháp luật và Tư
pháp của Quốc hội[89] văn bản thông báo việc Hội đồng Thẩm
phán Tòa án nhân dân tối cao nhất trí hoặc không nhất trí với kiến nghị, đề
nghị xem xét lại quyết định của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao.
Điều 293. Tổ chức nghiên cứu hồ sơ vụ án
1. Trường hợp có yêu cầu của Ủy ban Thường vụ
Quốc hội hoặc có quyết định của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao theo
quy định tại khoản 5 Điều 291 của Luật này thì Chánh án
Tòa án nhân dân tối cao tổ chức việc nghiên cứu hồ sơ vụ án, xác minh, thu thập
tài liệu, chứng cứ trong trường hợp cần thiết.
2. Việc nghiên cứu hồ sơ vụ án, xác minh, thu
thập tài liệu, chứng cứ phải làm rõ có hay không có vi phạm pháp luật nghiêm
trọng hoặc tình tiết quan trọng mới có thể làm thay đổi cơ bản nội dung quyết
định của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao.
Điều 294. Mở phiên họp xem xét lại quyết định
của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao
1. Trong thời hạn 04 tháng kể từ ngày nhận
được yêu cầu của Ủy ban Thường vụ Quốc hội theo quy định tại khoản
2 Điều 287 của Luật này hoặc kể từ ngày có quyết định của Hội đồng Thẩm
phán Tòa án nhân dân tối cao theo quy định tại khoản 5 Điều
291 của Luật này, Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao phải mở phiên
họp với sự tham gia của toàn thể Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao để xem xét
lại quyết định của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao.
2. Tòa án nhân dân tối cao gửi cho Viện kiểm
sát nhân dân tối cao văn bản thông báo về thời gian mở phiên họp xem xét lại
quyết định của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao kèm theo hồ sơ vụ án.
Trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được hồ sơ vụ án, Viện kiểm sát nhân dân
tối cao phải trả lại hồ sơ vụ án cho Tòa án nhân dân tối cao.
1. Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao
phải tham dự phiên họp xem xét lại quyết định của Hội đồng Thẩm phán Tòa án
nhân dân tối cao theo quy định tại khoản 4 Điều 287 của Luật
này và phát biểu quan điểm về việc có hay không có vi phạm pháp luật nghiêm
trọng hoặc tình tiết quan trọng mới làm thay đổi cơ bản nội dung quyết định của
Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao và quan điểm về việc giải quyết vụ
án.
2. Ý kiến phát biểu của Viện trưởng Viện kiểm
sát nhân dân tối cao phải thể hiện bằng văn bản, có chữ ký của Viện trưởng Viện
kiểm sát nhân dân tối cao và phải được gửi cho Tòa án nhân dân tối cao trong
thời hạn 05 ngày làm việc kể từ ngày kết thúc phiên họp.
Điều 296. Thẩm quyền xem xét lại quyết định của Hội đồng Thẩm phán Tòa
án nhân dân tối cao
1. Sau khi nghe
Chánh án Tòa án nhân dân tối cao báo cáo, nghe ý kiến của Viện trưởng Viện kiểm
sát nhân dân tối cao, của cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan được mời tham
dự (nếu có), Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao ra quyết định hủy quyết
định của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao có vi phạm pháp luật nghiêm
trọng hoặc có tình tiết quan trọng mới làm thay đổi cơ bản nội dung quyết định
của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao; hủy bản án, quyết định đã có
hiệu lực của Tòa án cấp dưới có vi phạm pháp luật nghiêm trọng hoặc có tình
tiết quan trọng mới làm thay đổi cơ bản nội dung bản án, quyết định và tùy từng
trường hợp mà quyết định như sau:
a) Bác yêu cầu khởi
kiện, nếu yêu cầu đó không có căn cứ pháp luật;
b) Chấp nhận một
phần hoặc toàn bộ yêu cầu khởi kiện, tuyên hủy một phần hoặc toàn bộ quyết định
hành chính trái pháp luật; buộc cơ quan nhà nước hoặc người có thẩm quyền trong
cơ quan nhà nước thực hiện nhiệm vụ, công vụ theo quy định của pháp luật;
c) Chấp nhận một
phần hoặc toàn bộ yêu cầu khởi kiện, tuyên bố hành vi hành chính là trái pháp
luật; buộc cơ quan nhà nước hoặc người có thẩm quyền trong cơ quan nhà nước
chấm dứt hành vi hành chính trái pháp luật;
d) Chấp nhận yêu cầu
khởi kiện, tuyên hủy quyết định kỷ luật buộc thôi việc trái pháp luật; buộc
người đứng đầu cơ quan, tổ chức thực hiện nhiệm vụ, công vụ theo quy định của
pháp luật;
đ)[90] Chấp nhận một phần
hoặc toàn bộ yêu cầu khởi kiện, tuyên hủy một phần hoặc toàn bộ quyết định giải
quyết khiếu nại về quyết định xử lý vụ việc cạnh tranh, quyết định giải quyết
khiếu nại trong hoạt động kiểm toán nhà nước trái pháp luật; buộc cơ quan,
người có thẩm quyền ra quyết định giải quyết khiếu nại về quyết định xử lý vụ
việc cạnh tranh, quyết định giải quyết khiếu nại trong hoạt động kiểm toán
nhà nước giải quyết lại vụ việc theo quy định của Luật Cạnh tranh, Luật Kiểm
toán nhà nước và quy định khác của pháp luật có liên quan;
e)[91]
Xác định trách nhiệm bồi thường đối với các trường hợp quy định tại các điểm b,
c, d và đ khoản 1 Điều này, buộc cơ quan, tổ chức bồi thường thiệt hại, khôi
phục quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân, lợi ích công cộng, lợi ích
của Nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của người thứ ba bị xâm phạm do quyết
định hành chính, hành vi hành chính, quyết định kỷ luật buộc thôi việc, quyết
định xử lý vụ việc cạnh tranh, hành vi của Trưởng Đoàn
kiểm toán, Tổ trưởng Tổ kiểm toán, thành viên Đoàn kiểm toán, đánh giá, xác nhận, kết luận, kiến nghị kiểm toán của Kiểm toán nhà nước trái pháp luật gây ra; xác định
trách nhiệm bồi thường thiệt hại của Tòa án nhân dân tối cao có quyết định vi
phạm pháp luật nghiêm trọng bị hủy do lỗi vô ý hoặc cố ý và gây thiệt hại cho
đương sự hoặc xác định trách nhiệm bồi hoàn giá trị tài sản theo quy định của
pháp luật;
g) Kiến nghị với cơ
quan nhà nước có thẩm quyền, người đứng đầu của cơ quan nhà nước có thẩm quyền
xem xét trách nhiệm của cơ quan nhà nước, người có thẩm quyền của cơ quan nhà
nước trong trường hợp cố ý vi phạm pháp luật, gây hậu quả nghiêm trọng cho cơ
quan, tổ chức, cá nhân.
2. Quyết định của
Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao phải được ít nhất ba phần tư tổng số
thành viên của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao biểu quyết tán thành.
Trong thời hạn 30
ngày kể từ ngày Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân
dân tối cao ra quyết
định quy định tại khoản 1 Điều 296 của Luật này thì Tòa án
nhân dân tối cao gửi quyết định cho Ủy ban Thường vụ Quốc hội, Ủy ban Pháp luật và Tư pháp của Quốc hội[92], Viện kiểm sát nhân dân tối
cao, Tòa án đã giải quyết vụ án và các đương sự.
THỦ
TỤC GIẢI QUYẾT VỤ ÁN HÀNH CHÍNH CÓ YẾU TỐ NƯỚC NGOÀI
1. Chương này quy
định thủ tục giải quyết vụ án hành chính có yếu tố nước ngoài. Trường hợp trong
Chương này không có quy định thì được áp dụng các quy định khác có liên quan
của Luật này để giải quyết.
2. Vụ án hành chính
có yếu tố nước ngoài là vụ án hành chính thuộc một trong các trường hợp sau
đây:
a) Có đương sự là
người nước ngoài, cơ quan, tổ chức nước ngoài, chi nhánh, văn phòng đại diện
của cơ quan, tổ chức nước ngoài, tổ chức quốc tế, cơ quan đại diện của tổ chức
quốc tế tại Việt Nam;
b) Có đương sự là
công dân Việt Nam cư trú ở nước ngoài;
c) Việc xác lập,
thay đổi hoặc chấm dứt quan hệ pháp luật hành chính đó xảy ra ở nước ngoài;
d) Có liên quan đến
tài sản ở nước ngoài.
1. Người nước ngoài,
cơ quan, tổ chức nước ngoài, chi nhánh, văn phòng đại diện của cơ quan, tổ chức
nước ngoài, tổ chức quốc tế, cơ quan đại diện của tổ chức quốc tế tại Việt Nam
có quyền khởi kiện đến Tòa án Việt Nam để yêu cầu xem xét lại quyết định hành
chính, hành vi hành chính khi có căn cứ cho rằng quyết định, hành vi đó là trái
pháp luật và xâm phạm đến quyền và lợi ích hợp pháp của mình.
2. Khi tham gia tố
tụng hành chính, cơ quan, tổ chức, cá nhân nước ngoài, chi nhánh, văn phòng đại
diện của cơ quan, tổ chức nước ngoài, tổ chức quốc tế, cơ quan đại diện của tổ
chức quốc tế tại Việt Nam có quyền, nghĩa vụ tố tụng như công dân, cơ quan, tổ
chức Việt Nam.
3. Nhà nước Việt Nam
có thể áp dụng nguyên tắc có đi có lại để hạn chế quyền tố tụng hành chính
tương ứng của người nước ngoài, cơ quan, tổ chức nước ngoài, chi nhánh, văn
phòng đại diện của cơ quan, tổ chức nước ngoài, cơ quan đại diện của tổ chức
quốc tế tại Việt Nam mà Tòa án của nước đó đã hạn chế quyền tố tụng hành chính
đối với công dân Việt Nam, cơ quan, tổ chức Việt Nam, chi nhánh, văn phòng đại
diện của cơ quan, tổ chức Việt Nam tại nước ngoài.
1. Năng lực pháp luật tố tụng hành chính và
năng lực hành vi tố tụng hành chính của người nước ngoài được xác định như sau:
a) Theo pháp luật của nước mà người nước
ngoài có quốc tịch. Trường hợp người nước ngoài là người không quốc tịch thì
theo pháp luật của nước nơi người đó cư trú. Nếu người không quốc tịch thường
trú tại Việt Nam thì theo pháp luật Việt Nam;
b) Theo pháp luật của nước nơi người nước
ngoài có quốc tịch và cư trú tại một trong các nước mà họ có quốc tịch nếu họ
có nhiều quốc tịch nước ngoài.
Trường hợp người nước ngoài có nhiều quốc
tịch và cư trú ở nước mà không cùng với quốc tịch của nước đó thì theo pháp
luật của nước nơi người nước ngoài có thời gian mang quốc tịch dài nhất;
c) Theo pháp luật Việt Nam nếu người nước
ngoài có nhiều quốc tịch và một trong các quốc tịch đó là quốc tịch Việt Nam
hoặc người nước ngoài có thẻ thường trú hoặc thẻ tạm trú tại Việt Nam.
2. Người nước ngoài có thể được công nhận có
năng lực hành vi tố tụng hành chính tại Tòa án Việt Nam, nếu theo quy định của
pháp luật nước ngoài thì họ không có năng lực hành vi tố tụng hành chính, nhưng
theo quy định của pháp luật Việt Nam thì họ có năng lực hành vi tố tụng hành
chính.
1. Năng lực pháp luật tố tụng hành chính của cơ quan,
tổ chức nước ngoài được xác định theo pháp luật của nước nơi cơ quan, tổ chức
đó được thành lập.
Năng lực pháp luật tố tụng hành chính của chi nhánh, văn phòng đại diện của cơ quan, tổ chức nước ngoài tại
Việt Nam được xác định theo pháp luật Việt Nam.
2. Năng lực pháp
luật tố tụng hành chính của tổ chức quốc tế, cơ quan đại diện của tổ
chức quốc tế được xác định trên cơ sở điều ước quốc tế là
căn cứ để thành lập tổ chức đó, quy chế hoạt động của tổ chức quốc tế hoặc điều ước quốc tế mà Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam và tổ
chức quốc tế đó cùng là thành viên.
Trường hợp tổ chức
quốc tế tuyên bố từ bỏ quyền ưu đãi, quyền miễn trừ thì năng lực pháp luật tố
tụng hành chính của tổ chức quốc tế đó được xác định theo quy định của pháp
luật Việt Nam.
Đương sự là người nước ngoài, cơ quan, tổ chức nước ngoài, chi nhánh, văn phòng
đại diện của cơ quan, tổ chức nước ngoài, tổ chức quốc tế, cơ quan
đại diện của tổ chức quốc tế tại Việt Nam tham gia tố tụng tại Tòa án Việt Nam
có quyền nhờ luật sư bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho mình theo quy định của pháp luật Việt
Nam.
Điều 303. Các phương thức tống đạt, thông báo văn bản tố tụng của Tòa
án cho đương sự ở nước ngoài
1. Tòa án thực hiện
việc tống đạt, thông báo văn bản tố tụng của Tòa án theo một trong các phương
thức sau đây:
a) Theo phương thức
được quy định tại điều ước quốc tế mà Cộng hòa xã
hội chủ nghĩa Việt
Nam là thành viên;
b) Theo đường ngoại
giao đối với đương sự cư trú ở nước mà nước đó và Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam chưa cùng là thành viên của điều ước quốc
tế;
c) Theo đường dịch vụ bưu chính đến địa chỉ của đương sự đang cư trú ở nước ngoài với điều kiện pháp
luật nước đó đồng ý với phương thức tống đạt này;
d) Theo đường dịch vụ bưu chính đến cơ quan đại diện nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam ở nước
ngoài để tống đạt cho đương sự là công dân Việt Nam ở nước ngoài;
đ) Đối với cơ quan,
tổ chức nước ngoài có văn phòng đại diện, chi nhánh tại Việt Nam thì việc tống
đạt có thể được thực hiện qua văn phòng đại diện, chi nhánh của họ tại Việt Nam
theo quy định của Luật này;
e) Theo đường dịch vụ bưu chính cho người đại diện theo pháp luật hoặc đại diện theo ủy quyền tại Việt
Nam của đương sự ở nước ngoài.
2. Các phương thức
tống đạt quy định tại điểm a và điểm b khoản 1 Điều này được thực hiện theo
pháp luật về tương trợ tư pháp.
3. Trường hợp các phương thức tống đạt quy định tại khoản 1 Điều này thực hiện không có kết quả thì Tòa án tiến hành niêm yết công khai tại trụ sở cơ quan đại diện nước Cộng hòa
xã hội chủ nghĩa Việt Nam ở nước ngoài, Tòa án đang giải quyết vụ việc hoặc tại nơi cư trú cuối cùng của đương sự tại Việt Nam trong thời hạn 30 ngày và thông báo trên Cổng thông tin điện tử của Tòa án (nếu có), Cổng thông tin điện
tử của cơ quan đại diện nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam ở nước ngoài;
trường hợp cần thiết, Tòa án có thể thông báo qua kênh dành cho người nước
ngoài của Đài phát thanh hoặc Đài truyền hình của
trung ương ba lần trong 03 ngày liên tiếp.
Điều 304. Thông báo về việc thụ lý, ngày mở phiên họp, phiên tòa
1. Tòa án phải gửi thông báo thụ lý vụ án, trong đó nêu rõ thời gian, địa điểm mở phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công
khai chứng cứ và đối thoại (gọi tắt là phiên họp), mở lại phiên họp, mở phiên
tòa và mở lại phiên tòa trong văn bản thông báo thụ lý vụ việc cho đương sự ở
nước ngoài.
2. Thời hạn mở phiên họp, phiên tòa được xác
định như sau:
a) Phiên họp phải được mở sớm nhất là 04
tháng và chậm nhất là 06 tháng kể từ ngày ra văn bản thông báo thụ lý vụ án.
Ngày mở lại phiên họp (nếu có) được ấn định cách ngày mở phiên họp chậm nhất là
30 ngày.
b) Phiên tòa phải được mở sớm nhất là 06
tháng và chậm nhất là 08 tháng kể từ ngày ra văn bản thông báo thụ lý vụ án.
Ngày mở lại phiên tòa (nếu có) được ấn định cách ngày mở phiên tòa chậm nhất là
30 ngày, trừ trường hợp quy
định tại khoản 4 Điều 305 của Luật này.
Điều 305. Xử lý kết quả tống đạt văn bản tố tụng của Tòa án cho đương
sự ở nước ngoài
Khi nhận được kết quả tống đạt và kết quả thu
thập chứng cứ ở nước ngoài, tùy từng trường hợp cụ thể mà Tòa án xử lý như sau:
1. Không mở phiên họp khi đã nhận được kết
quả tống đạt theo một trong các phương thức tống đạt quy định tại khoản 1 Điều 303 của Luật này và đương sự đã cung cấp đầy đủ
lời khai, tài liệu, chứng cứ và vụ án hành chính thuộc trường hợp không đối
thoại được quy định tại Điều 135 của Luật này.
2. Hoãn phiên họp nếu đã nhận được thông báo
về việc tống đạt đã hoàn thành nhưng đến ngày mở phiên họp mà Tòa án vẫn không
nhận được lời khai, tài liệu, chứng cứ của đương sự và họ không đề nghị được
vắng mặt tại phiên họp. Nếu đến ngày mở lại phiên họp mà đương sự ở nước ngoài
vẫn vắng mặt thì Tòa án xác định đây là trường hợp không tiến hành đối thoại
được.
3. Tòa án hoãn phiên tòa trong các trường hợp
sau đây:
a) Đương sự ở nước ngoài có đơn đề nghị hoãn
phiên tòa lần thứ nhất;
b) Đương sự ở nước ngoài vắng mặt tại phiên
tòa lần thứ nhất, trừ trường hợp họ có đơn xin xét xử vắng mặt.
4. Tòa án không nhận được văn bản thông báo
về kết quả tống đạt cũng như lời khai, tài liệu, chứng cứ của đương sự ở nước
ngoài và đến ngày mở phiên tòa đương sự ở nước ngoài không có mặt, không có đơn
đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt họ thì Tòa án hoãn phiên tòa.
Ngay sau khi hoãn phiên tòa thì Tòa án có văn
bản đề nghị Bộ Tư pháp hoặc cơ quan đại diện của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa
Việt Nam ở nước ngoài thông báo về việc thực hiện tống đạt văn bản tố tụng của
Tòa án cho đương sự ở nước ngoài trong trường hợp Tòa án thực hiện việc tống
đạt thông qua các cơ quan này theo một trong các phương thức quy định tại các điểm a, b và d khoản 1 Điều 303 của Luật này.
Trong thời hạn 30 ngày kể từ ngày nhận được
văn bản của Tòa án, cơ quan đại diện của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt
Nam ở nước ngoài phải thông báo cho Tòa án về kết quả thực hiện việc tống đạt
văn bản tố tụng cho đương sự ở nước ngoài.
Trong thời hạn 10 ngày kể từ ngày Bộ Tư pháp
nhận được văn bản của Tòa án, Bộ Tư pháp phải có văn bản đề nghị cơ quan có
thẩm quyền ở nước ngoài trả lời về kết quả thực hiện ủy thác tư pháp.
Trong thời hạn 05 ngày làm việc kể từ ngày
nhận được văn bản của cơ quan có thẩm quyền ở nước ngoài gửi về thì Bộ Tư pháp
phải trả lời cho Tòa án.
Hết thời hạn 03 tháng kể từ ngày chuyển văn
bản của Tòa án cho cơ quan có thẩm quyền ở nước ngoài mà không nhận được văn
bản trả lời thì Bộ Tư pháp phải thông báo cho Tòa án biết để làm căn cứ giải
quyết vụ án.
5. Tòa án xét xử vắng mặt đương sự ở nước
ngoài trong các trường hợp sau đây:
a) Tòa án đã nhận được kết quả tống đạt theo
một trong các phương thức tống đạt quy định tại khoản 1 Điều
303 của Luật này, đương sự đã cung cấp đầy đủ lời khai, tài liệu, chứng cứ
và đương sự đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt họ;
b) Tòa án không nhận được thông báo của cơ
quan có thẩm quyền theo quy định tại khoản 4 Điều này về kết quả thực hiện việc
tống đạt cho đương sự ở nước ngoài;
c) Tòa án đã thực hiện các biện pháp quy định
tại khoản 3 Điều 303 của Luật này.
1. Tòa án Việt Nam công nhận giấy tờ, tài
liệu do cơ quan, tổ chức có thẩm quyền nước ngoài lập, cấp hoặc xác nhận trong
những trường hợp sau đây:
a) Giấy tờ, tài liệu và bản dịch tiếng Việt
có công chứng, chứng thực đã được hợp pháp hoá lãnh sự;
b) Giấy tờ, tài liệu đó được miễn hợp pháp
hóa lãnh sự theo quy định của pháp luật Việt Nam hoặc điều ước quốc tế mà Cộng
hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên.
2. Tòa án Việt Nam công nhận những giấy tờ,
tài liệu do cá nhân cư trú ở nước ngoài lập trong các trường hợp sau đây:
a) Giấy tờ, tài liệu được lập bằng tiếng nước
ngoài đã được dịch ra tiếng Việt có công chứng, chứng thực hợp pháp theo quy
định của pháp luật Việt Nam;
b) Giấy tờ, tài liệu được lập ở nước ngoài
được công chứng, chứng thực theo quy định của pháp luật nước ngoài và đã được
hợp pháp hóa lãnh sự;
c) Giấy tờ tài liệu do công dân Việt Nam ở
nước ngoài lập bằng tiếng Việt có chữ ký của người lập giấy tờ, tài liệu đó đã
được chứng thực theo quy định của pháp luật của Việt Nam.
1. Đương sự có mặt tại Việt Nam có quyền
kháng cáo bản án, quyết định của Tòa án trong thời hạn quy định tại Điều 206 của Luật này.
2. Đương sự cư trú ở nước ngoài không có mặt
tại phiên tòa thì thời hạn kháng cáo bản án, quyết định của Tòa án là 30 ngày
kể từ ngày bản án, quyết định được tống đạt hợp lệ hoặc kể từ ngày bản án,
quyết định được niêm yết hợp lệ theo quy định của pháp luật.
3. Trường hợp Tòa án xét xử vắng mặt đương sự
ở nước ngoài theo quy định tại điểm b khoản 5 Điều 305 của
Luật này thì thời hạn kháng cáo là 12 tháng kể từ ngày tuyên án.
Tòa án cấp phúc thẩm thực hiện việc tống đạt,
thông báo văn bản tố tụng và xử lý kết quả tống đạt, thông báo văn bản tố tụng
cho đương sự ở nước ngoài theo quy định tại các điều 303, 304
và 305 của Luật này.
THỦ TỤC THI HÀNH BẢN ÁN, QUYẾT ĐỊNH CỦA TÒA
ÁN VỀ VỤ ÁN HÀNH CHÍNH
Điều 309. Những bản án, quyết định của Tòa án
về vụ án hành chính được thi hành
1. Bản án, quyết định hoặc phần bản án, quyết
định của Tòa án cấp sơ thẩm không bị kháng cáo, kháng nghị theo thủ tục phúc
thẩm đã có hiệu lực pháp luật.
2. Bản án, quyết định của Tòa án cấp phúc
thẩm.
3. Quyết định giám đốc thẩm hoặc tái thẩm của
Tòa án.
4. Quyết định theo thủ tục đặc biệt của Hội
đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao quy định tại Điều 296
của Luật này.
5. Quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời của Tòa án mặc dù có
khiếu nại, kiến nghị.
Điều 310. Giải thích bản án, quyết định của
Tòa án
1. Người được thi hành án, người phải thi
hành án, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến việc thi hành bản án, quyết
định của Tòa án và cơ quan thi hành án dân sự có quyền yêu cầu bằng văn bản với
Tòa án đã ra bản án, quyết định quy định tại các khoản 1, 2, 3
và 4 Điều 309 của Luật này giải thích những điểm chưa rõ trong bản án,
quyết định để thi hành.
2. Thẩm phán là Chủ tọa phiên tòa, phiên họp
có trách nhiệm giải thích bản án, quyết định của Tòa án. Trường hợp họ không
còn là Thẩm phán của Tòa án thì Chánh án Tòa án đó có trách nhiệm giải thích
bản án, quyết định của Tòa án.
3. Việc giải thích bản án, quyết định của Tòa
án phải căn cứ vào bản án, quyết định, biên bản phiên tòa, phiên họp và biên
bản nghị án.
4. Trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận
được văn bản yêu cầu, Tòa án phải có văn bản giải thích và gửi cho cơ quan, tổ
chức, cá nhân, đã được cấp, gửi bản án, quyết định theo quy định của Luật này.
Điều 311. Thi hành bản án, quyết định của Tòa
án
1. Việc thi hành bản án, quyết định của Tòa
án về vụ án hành chính quy định tại Điều 309 của Luật này
được thực hiện như sau:
a) Trường hợp bản án, quyết định của Tòa án
về việc không chấp nhận yêu cầu khởi kiện quyết định hành chính, quyết định kỷ
luật buộc thôi việc, quyết định giải quyết khiếu nại về quyết định xử lý vụ
việc cạnh tranh, quyết định giải quyết khiếu nại trong hoạt động kiểm toán nhà
nước[93], danh sách cử tri thì các bên đương sự phải tiếp tục
thi hành quyết định hành chính, quyết định kỷ luật buộc thôi việc, quyết định
giải quyết khiếu nại về quyết định xử lý vụ việc cạnh tranh, danh sách cử tri
theo quy định của pháp luật;
b) Trường hợp bản án, quyết định của Tòa án
đã hủy toàn bộ hoặc một phần quyết định hành chính, quyết định giải quyết khiếu
nại về quyết định xử lý vụ việc cạnh tranh, quyết định giải quyết khiếu nại
trong hoạt động kiểm toán nhà nước[94] thì quyết định hoặc
phần quyết định bị hủy không còn hiệu lực. Các bên đương sự căn cứ vào quyền và
nghĩa vụ đã được xác định trong bản án, quyết định của Tòa án để thi hành;
c) Trường hợp bản án, quyết định của Tòa án
đã hủy quyết định kỷ luật buộc thôi việc thì quyết định kỷ luật buộc thôi việc
bị hủy không còn hiệu lực. Người đứng đầu cơ quan, tổ chức đã ra quyết định kỷ
luật buộc thôi việc phải thực hiện bản án, quyết định của Tòa án;
d) Trường hợp bản án, quyết định của Tòa án
đã tuyên bố hành vi hành chính đã thực hiện là trái pháp luật thì người phải
thi hành án phải đình chỉ thực hiện hành vi hành chính đó kể từ ngày nhận được
bản án, quyết định của Tòa án;
đ) Trường hợp bản án, quyết định của Tòa án
tuyên bố hành vi không thực hiện nhiệm vụ, công vụ là trái pháp luật thì người
phải thi hành án phải thực hiện nhiệm vụ, công vụ theo quy định của pháp luật
kể từ ngày nhận được bản án, quyết định của Tòa án;
e) Trường hợp bản án, quyết định của Tòa án
buộc cơ quan lập danh sách cử tri sửa đổi, bổ sung danh sách cử tri thì người
phải thi hành án phải thực hiện ngay việc sửa đổi, bổ sung đó khi nhận được bản
án, quyết định của Tòa án;
g) Trường hợp Tòa án ra quyết định áp dụng
biện pháp khẩn cấp tạm thời thì người bị áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời
phải thi hành ngay khi nhận được quyết định;
h) Quyết định về phần tài sản trong bản án,
quyết định của Tòa án được thi hành theo quy định của pháp luật về thi hành án
dân sự.
2. Thời hạn tự nguyện thi hành án được xác
định như sau:
a) Người phải thi hành án phải thi hành ngay
bản án, quyết định quy định tại điểm e và điểm g khoản 1 Điều này kể từ ngày
nhận được bản án, quyết định của Tòa án;
b) Người phải thi hành án phải thi hành bản
án, quyết định của Tòa án quy định tại các điểm a, b, c, d và đ khoản 1 Điều
này trong thời hạn 30 ngày kể từ ngày nhận được bản án, quyết định của Tòa án.
Cơ quan phải thi hành bản án, quyết định của
Tòa án phải thông báo kết quả thi hành án quy định tại khoản này bằng văn bản
cho Tòa án đã xét xử sơ thẩm và cơ quan thi hành án dân sự có thẩm quyền[95].
3. Quá thời hạn quy định tại khoản 2 Điều này
mà người phải thi hành án không thi hành thì người được thi hành án có quyền
gửi đơn đến Tòa án đã xét xử sơ thẩm ra quyết định buộc thi hành bản án, quyết
định của Tòa án theo quy định tại khoản 1 Điều 312 của Luật
này.
Điều 312. Yêu cầu, quyết định buộc thi hành
bản án, quyết định của Tòa án
1. Trong thời hạn 01 năm kể từ ngày hết thời
hạn quy định tại điểm b khoản 2 Điều 311 của Luật này mà
người phải thi hành án không tự nguyện thi hành thì người được thi hành án có
quyền gửi đơn kèm theo bản sao bản án, quyết định của Tòa án, tài liệu khác có
liên quan đề nghị Tòa án đã xét xử sơ thẩm ra quyết định buộc thi hành bản án,
quyết định của Tòa án.
Trường hợp người yêu cầu thi hành án chứng
minh được do trở ngại khách quan hoặc do sự kiện bất khả kháng mà không thể yêu
cầu thi hành án đúng thời hạn thì thời gian có trở ngại khách quan hoặc sự kiện
bất khả kháng không tính vào thời hạn yêu cầu thi hành án.
2. Trong thời hạn 05 ngày làm việc kể từ ngày
nhận được đơn yêu cầu của người được thi hành án, Tòa án đã xét xử sơ thẩm phải
ra quyết định buộc thi hành án hành chính. Quyết định buộc thi hành án phải
được gửi cho người phải thi hành án, người được thi hành án, thủ trưởng cơ quan
cấp trên trực tiếp của người phải thi hành án và Viện kiểm sát cùng cấp. Thủ
trưởng cơ quan cấp trên trực tiếp của người phải thi hành án có trách nhiệm
kiểm tra, đôn đốc và xử lý trách nhiệm của người phải thi hành án theo quy định
của pháp luật. Quyết định buộc thi hành án cũng phải gửi cho cơ quan thi hành
án dân sự nơi Tòa án đã xét xử sơ thẩm để theo dõi việc thi hành án hành chính
theo quyết định của Tòa án.
3. Chính phủ quy định cụ thể về thời hạn,
trình tự, thủ tục thi hành án hành chính và xử lý trách nhiệm đối với người
không thi hành bản án, quyết định của Tòa án.
Điều 313. Quản lý nhà nước về thi hành án
hành chính
1. Chính phủ thống nhất quản lý nhà nước về
công tác thi hành án hành chính trong phạm vi cả nước; phối hợp với Tòa án nhân
dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao trong công tác quản lý nhà nước về
thi hành án hành chính; định kỳ hằng năm báo cáo Quốc hội về công tác thi hành
án hành chính.
2. Bộ Tư pháp chịu trách nhiệm trước Chính
phủ thực hiện quản lý nhà nước về thi hành án hành chính và có những nhiệm vụ,
quyền hạn sau đây:
a) Ban hành hoặc trình cơ quan có thẩm quyền
ban hành văn bản quy phạm pháp luật về thi hành án hành chính;
b) Bảo đảm biên chế, cơ sở vật chất, phương
tiện cho công tác quản lý nhà nước về thi hành án hành chính;
c) Hướng dẫn, chỉ đạo, bồi dưỡng nghiệp vụ về
quản lý thi hành án hành chính; phổ biến, giáo dục pháp luật về thi hành án
hành chính;
d) Kiểm tra, thanh tra, giải quyết khiếu nại,
tố cáo về quản lý thi hành án hành chính;
đ) Báo cáo Chính phủ về công tác thi hành án
hành chính;
e) Xây dựng và tổ chức thực hiện kế hoạch
thống kê, theo dõi, tổng kết công tác thi hành án hành chính.
Điều 314. Xử lý vi phạm trong thi hành án
hành chính
1. Cơ quan, tổ chức, cá nhân phải thi hành án
cố ý không chấp hành bản án, quyết định của Tòa án, quyết định buộc thi hành án
của Tòa án thì tùy từng trường hợp mà bị xử lý kỷ luật, xử phạt vi phạm hành
chính hoặc bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo quy định của luật.
2. Người lợi dụng chức vụ, quyền hạn cố ý cản
trở việc thi hành án thì tùy từng trường hợp mà bị xử lý kỷ luật, xử phạt vi
phạm hành chính hoặc bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo quy định của
luật; nếu gây thiệt hại thì phải bồi thường theo quy định của pháp luật.
Điều 315. Kiểm sát việc thi hành bản án,
quyết định của Tòa án
Viện kiểm sát kiểm sát việc tuân theo pháp
luật của đương sự, cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan đến việc thi hành bản
án, quyết định của Tòa án bảo đảm việc thi hành bản án, quyết định kịp thời,
đầy đủ, đúng pháp luật.
Viện kiểm sát có quyền kiến nghị với cơ quan,
tổ chức, cá nhân có nghĩa vụ thi hành án hành chính và cơ quan, tổ chức
cấp trên trực tiếp của cơ quan, tổ chức phải chấp hành bản án, quyết định của
Tòa án để có biện pháp tổ chức thi hành nghiêm chỉnh bản án, quyết định của Tòa
án.
XỬ LÝ CÁC HÀNH VI CẢN TRỞ HOẠT ĐỘNG TỐ TỤNG
HÀNH CHÍNH
Điều 316. Xử lý hành vi vi phạm nội quy phiên
tòa
1. Người có hành vi vi phạm nội quy phiên tòa
quy định tại Điều 153 của Luật này thì tùy theo tính chất,
mức độ vi phạm mà có thể bị Chủ tọa phiên tòa quyết định xử phạt vi phạm hành
chính theo quy định của pháp luật.
2. Chủ tọa phiên tòa có quyền ra quyết định
buộc người vi phạm quy định tại khoản 1 Điều này rời khỏi phòng xử án. Cơ quan
công an có nhiệm vụ bảo vệ phiên tòa hoặc người có nhiệm vụ bảo vệ trật tự
phiên tòa thi hành quyết định của Chủ tọa phiên tòa về việc buộc rời khỏi phòng
xử án hoặc tạm giữ hành chính người gây rối trật tự tại phiên tòa.
3.[96] Trường hợp người vi
phạm nội quy phiên tòa có dấu hiệu tội phạm thì Tòa án yêu cầu, kiến nghị
khởi tố theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự.
4. Quy định tại Điều này cũng được áp dụng
đối với người có hành vi vi phạm tại phiên họp của Tòa án.
Người có hành vi xúc phạm uy tín của Tòa án,
danh dự, nhân phẩm của những người tiến hành tố tụng hoặc những người khác thực
hiện nhiệm vụ theo yêu cầu của Tòa án thì tùy theo tính chất, mức độ vi phạm mà
bị xử phạt vi phạm hành chính hoặc bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo quy
định của pháp luật.
Điều 318. Xử lý hành vi cản trở hoạt động xác
minh, thu thập chứng cứ của Tòa án
Người nào có một trong các hành vi sau đây
thì tùy theo tính chất, mức độ vi phạm mà có thể bị xử lý kỷ luật, xử phạt vi
phạm hành chính hoặc bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo quy định của pháp
luật:
1. Làm giả, hủy hoại chứng cứ quan trọng gây
trở ngại cho việc giải quyết vụ án của Tòa án;
2. Từ chối khai báo, khai báo gian dối hoặc
cung cấp tài liệu sai sự thật khi làm chứng;
3. Từ chối kết luận giám định hoặc từ chối
cung cấp tài liệu mà không có lý do chính đáng, kết luận giám định sai sự thật;
4. Lừa dối, đe dọa, cưỡng ép, mua chuộc, sử
dụng vũ lực nhằm ngăn cản người làm chứng ra làm chứng hoặc buộc người khác ra
làm chứng gian dối;
5. Lừa dối, đe dọa, cưỡng ép, mua chuộc, sử
dụng vũ lực nhằm ngăn cản người giám định thực hiện nhiệm vụ hoặc buộc người
giám định kết luận sai với sự thật khách quan;
6. Lừa dối, đe dọa, cưỡng ép, mua chuộc, sử
dụng vũ lực nhằm ngăn cản người phiên dịch thực hiện nhiệm vụ hoặc buộc người
phiên dịch dịch không trung thực, không khách quan, không đúng nghĩa;
7. Cản trở người tiến hành tố tụng xem xét,
thẩm định tại chỗ, quyết định định giá, quyết định trưng cầu giám định hoặc xác
minh, thu thập chứng cứ khác theo quy định của Luật này;
8. Cố ý dịch sai sự thật;
9. Không cử người tham gia Hội đồng định giá
theo yêu cầu của Tòa án mà không có lý do chính đáng; không tham gia thực hiện
nhiệm vụ của Hội đồng định giá mà không có lý do chính đáng.
Điều 319. Xử lý hành vi cố ý không có mặt
theo giấy triệu tập của Tòa án
1. Người làm chứng, người phiên dịch, người
giám định đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng cố ý không đến Tòa án hoặc
không có mặt tại phiên tòa, phiên họp mà không có lý do chính đáng và nếu sự
vắng mặt của họ gây trở ngại cho việc thu thập, xác minh chứng cứ hoặc giải
quyết vụ án thì bị xử phạt vi phạm hành chính theo quy định của pháp luật.
2. Trường hợp quy định tại khoản 1 Điều này,
Tòa án có quyền ra quyết định dẫn giải người làm chứng đến phiên tòa, phiên
họp, trừ trường hợp người làm chứng là người chưa thành niên. Quyết định dẫn
giải người làm chứng phải ghi rõ thời gian, địa điểm ra quyết định; họ, tên,
chức vụ người ra quyết định; họ, tên, ngày, tháng, năm sinh, nơi cư trú của
người làm chứng; thời gian, địa điểm người làm chứng phải có mặt.
3. Cơ quan công an có nhiệm vụ thi hành quyết
định của Tòa án dẫn giải người làm chứng. Người thi hành quyết định dẫn giải
người làm chứng phải đọc, giải thích quyết định dẫn giải cho người bị dẫn giải
biết và lập biên bản về việc dẫn giải.
Điều 320. Xử lý hành vi can thiệp vào việc
giải quyết vụ án
Người nào bằng ảnh hưởng của mình có hành vi
tác động dưới bất kỳ hình thức nào đối với Thẩm phán, thành viên Hội đồng xét
xử nhằm làm cho việc giải quyết vụ án không khách quan, không đúng pháp luật
thì tùy theo tính chất, mức độ vi phạm mà bị xử lý kỷ luật, xử phạt vi phạm
hành chính hoặc bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo quy định của pháp luật.
Người có một trong các hành vi sau đây thì
tùy theo tính chất, mức độ vi phạm mà bị xử lý kỷ luật, xử phạt vi phạm hành
chính hoặc bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo quy định của pháp luật:
1. Không thực hiện việc cấp, giao, tống đạt
hoặc thông báo văn bản tố tụng của Tòa án theo yêu cầu của Tòa án mà không có
lý do chính đáng;
2. Hủy hoại văn bản tố tụng của Tòa án mà
mình được giao để cấp, tống đạt hoặc thông báo theo yêu cầu của Tòa án;
3. Giả mạo kết quả thực hiện việc tống đạt,
thông báo văn bản tố tụng của Tòa án mà mình được giao thực hiện;
4. Ngăn cản việc cấp, giao, nhận, tống đạt
hoặc thông báo văn bản tố tụng của Tòa án.
Người có hành vi đe dọa, hành hung hoặc lợi
dụng sự lệ thuộc nhằm cản trở đại diện của cơ quan, tổ chức, cá nhân đến
phiên tòa, phiên họp theo triệu tập của Tòa án thì tùy theo tính chất, mức độ
vi phạm mà bị xử phạt vi phạm hành chính hoặc bị truy cứu trách nhiệm hình sự
theo quy định của pháp luật.
Điều 324. Xử lý hành vi đưa tin sai sự thật
nhằm cản trở việc giải quyết vụ án của Tòa án
Người có hành vi đưa tin sai sự thật nhằm cản
trở Tòa án giải quyết vụ án thì tùy theo tính chất, mức độ vi phạm mà bị
xử phạt vi phạm hành chính hoặc bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo quy định
của pháp luật.
1. Cơ quan, tổ chức, cá nhân không thi hành
quyết định của Tòa án về việc cung cấp tài liệu, chứng cứ mà cơ quan, tổ chức,
cá nhân đó đang quản lý, lưu giữ thì bị xử phạt vi phạm hành chính theo quy
định của pháp luật.
2. Cá nhân, người đứng đầu cơ quan, tổ chức
quy định tại khoản 1 Điều này tùy theo mức độ vi phạm mà có thể bị xử lý kỷ
luật hoặc bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo quy định của pháp luật.
Điều 326. Hình thức xử phạt, thẩm quyền,
trình tự, thủ tục, xử phạt
Hình thức xử phạt, thẩm quyền, trình tự, thủ
tục xử phạt vi phạm hành chính đối với các hành vi cản trở hoạt động tố tụng
hành chính được thực hiện theo quy định của Luật Xử lý vi phạm hành chính và
quy định khác của pháp luật có liên quan.
KHIẾU NẠI, TỐ CÁO TRONG TỐ TỤNG HÀNH CHÍNH
Điều 327. Quyết định, hành vi trong tố tụng
hành chính có thể bị khiếu nại
1. Cơ quan, tổ chức, cá nhân có quyền khiếu
nại quyết định, hành vi trong tố tụng hành chính của cơ quan, người tiến hành
tố tụng hành chính khi có căn cứ cho rằng quyết định, hành vi đó là trái pháp
luật, xâm phạm quyền và lợi ích hợp pháp của mình.
2. Đối với bản án, quyết định sơ thẩm, phúc
thẩm, giám đốc thẩm, tái thẩm của Tòa án nếu có kháng cáo, kháng nghị và các
quyết định tố tụng khác do người tiến hành tố tụng hành chính ban hành nếu có
khiếu nại, kiến nghị thì không giải quyết theo quy định của Chương này mà được
giải quyết theo quy định của các chương tương ứng của Luật này.
Điều 328. Quyền, nghĩa vụ của người khiếu nại
1. Người khiếu nại có các quyền sau đây:
a) Tự mình hoặc thông qua người đại diện hợp
pháp khiếu nại;
b) Khiếu nại trong bất kỳ giai đoạn nào của
quá trình giải quyết vụ án;
c) Rút khiếu nại trong bất kỳ giai đoạn nào
của quá trình giải quyết
khiếu nại;
d) Được nhận văn bản trả lời về việc thụ lý
để giải quyết khiếu nại; nhận quyết định giải quyết khiếu nại;
đ) Được khôi phục quyền, lợi ích hợp pháp đã
bị xâm phạm, được bồi thường thiệt hại theo quy định của pháp luật.
2. Người khiếu nại có các nghĩa vụ sau đây:
a) Khiếu nại đến đúng người có thẩm quyền
giải quyết;
b) Trình bày trung thực sự việc, cung cấp
thông tin, tài liệu cho người giải quyết khiếu nại; chịu trách nhiệm trước pháp
luật về nội dung trình bày và việc cung cấp thông tin, tài liệu đó;
c) Không được lạm dụng quyền khiếu nại để cản
trở hoạt động tố tụng của Tòa án;
d) Chấp hành quyết định, hành vi của người
tiến hành tố tụng mà mình đang khiếu nại trong thời gian khiếu nại;
đ) Chấp hành quyết định giải quyết khiếu nại
có hiệu lực pháp luật.
Điều 329. Quyền, nghĩa vụ của người bị khiếu
nại
1. Người bị khiếu nại có các quyền sau đây:
a) Được biết các căn cứ khiếu nại của người
khiếu nại; đưa ra bằng chứng về tính hợp pháp của quyết định, hành vi trong tố
tụng bị khiếu nại;
b) Được nhận quyết định giải quyết khiếu nại
về quyết định, hành vi trong tố tụng của mình.
2. Người bị khiếu nại có các nghĩa vụ sau
đây:
a) Giải trình về quyết định, hành vi trong tố
tụng hành chính bị khiếu nại; cung cấp thông tin, tài liệu liên quan khi cơ
quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền yêu cầu;
b) Chấp hành quyết định giải quyết khiếu nại
có hiệu lực pháp luật;
c) Bồi thường thiệt hại, bồi hoàn hoặc khắc
phục hậu quả do quyết định, hành vi trong tố tụng hành chính trái pháp luật của
mình gây ra theo quy định của pháp luật.
Thời hiệu khiếu nại là 10 ngày kể từ ngày
người khiếu nại nhận được hoặc biết được quyết định, hành vi tố tụng mà người
đó cho rằng có vi phạm pháp luật.
Trường hợp có sự kiện bất khả kháng hoặc trở
ngại khách quan mà người khiếu nại không thực hiện được quyền khiếu nại theo
đúng thời hạn quy định tại Điều này thì thời gian có sự kiện bất khả kháng hoặc
trở ngại khách quan đó không tính vào thời hiệu khiếu nại.
Việc khiếu nại phải được thực hiện bằng đơn.
Trong đơn khiếu nại phải ghi rõ ngày, tháng, năm; họ, tên, địa chỉ của người
khiếu nại; nội dung, lý do khiếu nại, yêu cầu của người khiếu nại, có chữ ký
hoặc điểm chỉ của người khiếu nại.
Điều 332. Thẩm quyền giải quyết khiếu nại đối
với quyết định, hành vi của người tiến hành tố tụng
1. Khiếu nại quyết định, hành vi của người
tiến hành tố tụng là Thẩm phán, Phó Chánh án, Thẩm tra viên Tòa án[98],
Thư ký Tòa án, Hội thẩm nhân dân do Chánh án Tòa án đang giải quyết vụ án hành
chính có thẩm quyền giải quyết.
Đối với khiếu nại quyết định, hành vi tố tụng
của Chánh án Tòa án thì Chánh án Tòa án trên một cấp trực tiếp có thẩm quyền
giải quyết.
2. Khiếu nại quyết định, hành vi của người
tiến hành tố tụng là Kiểm sát viên, Phó Viện trưởng Viện kiểm sát, Kiểm tra
viên do Viện trưởng Viện kiểm sát giải quyết.
Đối với khiếu nại quyết định, hành vi tố tụng
của Viện trưởng Viện kiểm sát thì Viện trưởng Viện kiểm sát cấp trên trực tiếp
có thẩm quyền giải quyết.
3. Khiếu nại quyết định giải quyết khiếu nại
lần đầu của Chánh án Tòa án, Viện trưởng Viện kiểm sát quy định tại khoản 1 và
khoản 2 Điều này do Chánh án Tòa án trên một cấp trực tiếp, Viện trưởng Viện
kiểm sát cấp trên trực tiếp giải quyết.
Điều 333. Thời hạn giải quyết khiếu nại
Thời hạn giải quyết khiếu nại lần đầu là 15
ngày kể từ ngày Tòa án, Viện kiểm sát nhận được khiếu nại. Trường hợp cần
thiết, đối với vụ việc có tính chất phức tạp thì thời hạn giải quyết khiếu nại
có thể được kéo dài nhưng không quá 15 ngày kể từ ngày hết thời hạn giải quyết
khiếu nại.
Điều 334. Nội dung quyết định giải quyết
khiếu nại lần đầu
1. Người giải quyết khiếu nại lần đầu phải ra
quyết định giải quyết khiếu nại bằng văn bản. Quyết định giải quyết khiếu nại
phải có các nội dung sau đây:
a) Ngày, tháng, năm ra quyết định;
b) Tên, địa chỉ của người khiếu nại, người bị
khiếu nại;
c) Nội dung khiếu nại;
d) Kết quả xác minh nội
dung khiếu nại;
đ) Căn cứ pháp luật để
giải quyết khiếu nại;
e) Nội dung quyết định
giải quyết khiếu nại.
2. Quyết định giải quyết
khiếu nại lần đầu phải được gửi cho người khiếu nại, cơ quan, tổ chức, cá nhân
có liên quan; trường hợp là quyết định của Chánh án Tòa án thì còn phải gửi cho
Viện kiểm sát cùng cấp.
Điều
335. Thủ tục giải quyết khiếu nại lần hai
1. Trong thời hạn 05
ngày làm việc kể từ ngày người khiếu nại nhận được quyết định giải quyết khiếu
nại lần đầu, nếu không đồng ý với quyết định đó hoặc quá thời hạn quy định tại Điều 333 của Luật này mà khiếu nại không được giải quyết thì
người khiếu nại có quyền khiếu nại đến người có thẩm quyền giải quyết khiếu nại
lần hai.
2. Đơn khiếu nại phải
kèm theo bản sao quyết định giải quyết khiếu nại lần đầu và các tài liệu kèm
theo.
3. Quyết định giải quyết
khiếu nại lần hai phải có các nội dung sau đây:
a) Nội dung quy
định tại các điểm a, b, c, d và đ khoản 1 Điều 334 của Luật
này;
b) Kết quả giải quyết
khiếu nại của người giải quyết khiếu nại lần đầu;
c) Kết luận về từng vấn
đề cụ thể trong nội dung khiếu nại của người khiếu nại và việc giải quyết của
người giải quyết khiếu nại lần hai.
4. Quyết định giải quyết
khiếu nại lần hai phải được gửi cho người khiếu nại, cơ quan, tổ chức, cá nhân
có liên quan; trường hợp là quyết định của Chánh án Tòa án thì còn phải gửi cho
Viện kiểm sát cùng cấp.
5. Quyết định giải quyết
khiếu nại lần hai có hiệu lực thi hành.
Điều 336. Giải quyết khiếu nại về hoạt động
giám định trong tố tụng hành chính
Việc giải quyết khiếu nại về hoạt động giám
định trong tố tụng hành chính được thực hiện theo quy định của pháp luật về
giám định tư pháp và quy định khác của pháp luật có liên quan.
Điều 337. Người có quyền tố cáo
Cá nhân có quyền tố cáo với cơ quan, tổ chức,
cá nhân có thẩm quyền về hành vi vi phạm pháp luật của người có thẩm quyền tiến
hành tố tụng gây thiệt hại hoặc đe dọa gây thiệt hại đến lợi ích công cộng, lợi
ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của cơ quan, tổ chức, cá nhân.
Điều 338. Quyền, nghĩa vụ của người tố cáo
1. Người tố cáo có các quyền sau đây:
a) Gửi đơn hoặc trực tiếp tố cáo với cơ quan,
tổ chức, cá nhân có thẩm quyền;
b) Yêu cầu giữ bí mật họ, tên, địa chỉ, bút
tích của mình;
c) Yêu cầu được thông báo kết quả giải quyết
tố cáo;
d) Yêu cầu cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm
quyền bảo vệ khi bị đe dọa, trù dập, trả thù.
2. Người tố cáo có các nghĩa vụ sau đây:
a) Trình bày trung thực về nội dung tố cáo;
b) Nêu rõ họ, tên, địa chỉ của mình;
c) Chịu trách nhiệm trước pháp luật về việc
tố cáo sai sự thật.
Điều 339. Quyền, nghĩa vụ của người bị tố cáo
1. Người bị tố cáo các có quyền sau đây:
a) Được thông báo về nội dung tố cáo;
b) Đưa ra bằng chứng để chứng minh nội dung
tố cáo là không đúng sự thật;
c) Được khôi phục quyền, lợi ích hợp pháp bị
xâm phạm; được phục hồi danh dự, được bồi thường thiệt hại do việc tố cáo không
đúng gây ra;
d) Yêu cầu cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm
quyền xử lý người tố cáo sai sự thật.
2. Người bị tố cáo có các nghĩa vụ sau đây:
a) Giải trình về hành vi bị tố cáo; cung cấp
thông tin, tài liệu liên quan khi cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền yêu
cầu;
b) Chấp hành quyết định xử lý của cơ quan, tổ
chức, cá nhân có thẩm quyền;
c) Bồi thường thiệt hại, bồi hoàn hoặc khắc
phục hậu quả do hành vi tố tụng hành chính trái pháp luật của mình gây ra theo
quy định của pháp luật.
Điều 340. Thẩm quyền và thời hạn giải quyết
tố cáo
1. Tố cáo hành vi vi phạm pháp luật của người
có thẩm quyền tiến hành tố tụng thuộc cơ quan có thẩm quyền nào thì người đứng
đầu cơ quan đó có trách nhiệm giải quyết.
Trường hợp người bị tố cáo là Chánh án, Phó
Chánh án Tòa án, Viện trưởng, Phó Viện trưởng Viện kiểm sát thì Chánh án Tòa án
trên một cấp trực tiếp, Viện trưởng Viện kiểm sát cấp trên trực tiếp có trách
nhiệm giải quyết.
Thời hạn giải quyết tố cáo là 60 ngày kể từ
ngày nhận được tố cáo; đối với vụ việc phức tạp thì thời hạn giải quyết tố cáo
có thể dài hơn, nhưng không quá 90 ngày.
2. Tố cáo về hành vi vi phạm pháp luật có dấu
hiệu tội phạm được giải quyết theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự.
Điều 341. Thủ tục giải quyết tố cáo
Thủ tục giải quyết tố cáo được thực hiện theo
quy định của pháp luật về tố cáo.
Điều 342. Trách nhiệm của người có thẩm quyền
giải quyết khiếu nại, tố cáo
1. Cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền
trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình có trách nhiệm tiếp nhận và giải
quyết kịp thời, đúng pháp luật; xử lý nghiêm minh người vi phạm; áp dụng biện
pháp cần thiết nhằm ngăn chặn thiệt hại có thể xảy ra; bảo đảm cho quyết định
giải quyết được thi hành nghiêm chỉnh và phải chịu trách nhiệm trước pháp luật
về quyết định của mình.
2. Người có thẩm quyền giải quyết khiếu nại,
tố cáo mà không giải quyết, thiếu trách nhiệm trong việc giải quyết, giải quyết
trái pháp luật thì tùy theo tính chất, mức độ vi phạm mà bị xử lý kỷ luật hoặc
bị truy cứu trách nhiệm hình sự; nếu gây thiệt hại thì phải bồi thường theo quy
định của pháp luật.
Viện kiểm sát kiểm sát việc tuân theo pháp
luật trong việc giải quyết khiếu nại, tố cáo trong tố tụng hành chính theo quy
định của pháp luật. Viện kiểm sát có quyền yêu cầu, kiến nghị đối với Tòa án
cùng cấp, Tòa án cấp dưới, cơ quan, tổ chức và cá nhân có trách nhiệm bảo đảm
việc giải quyết khiếu nại, tố cáo có căn cứ, đúng pháp luật.
Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao
chủ trì phối hợp với Chánh án Tòa án nhân dân tối cao quy định chi tiết Điều
này.
ÁN PHÍ, LỆ PHÍ VÀ CÁC CHI PHÍ TỐ TỤNG KHÁC
Điều 344. Tiền tạm ứng án phí, án phí, lệ phí
1. Tiền tạm ứng án phí bao gồm tiền tạm ứng
án phí sơ thẩm và tiền tạm ứng án phí phúc thẩm.
2. Án phí bao gồm án phí sơ thẩm và án phí
phúc thẩm.
3. Lệ phí bao gồm lệ phí cấp bản sao bản án,
quyết định, giấy tờ khác của Tòa án và khoản lệ phí khác mà luật có quy định.
Điều 345. Xử lý tiền tạm ứng án phí, án phí,
lệ phí thu được
1. Toàn bộ án phí, lệ phí thu được phải nộp
đầy đủ, kịp thời vào ngân sách nhà nước tại kho bạc nhà nước.
2. Tiền tạm ứng án phí được nộp cho cơ quan
thi hành án có thẩm quyền để gửi vào tài khoản tạm giữ mở tại kho bạc nhà nước
và được rút ra để thi hành án theo quyết định của Tòa án.
3. Người đã nộp tiền tạm ứng án phí thì ngay
sau khi bản án, quyết định của Tòa án có hiệu lực thi hành, số tiền tạm ứng đã
thu được phải được nộp vào ngân sách nhà nước.
Trường hợp người đã nộp tiền tạm ứng án phí
được hoàn trả một phần hoặc toàn bộ số tiền đã nộp theo bản án, quyết định của
Tòa án thì cơ quan thi hành án đã thu tiền tạm ứng án phí phải làm thủ tục trả
lại tiền cho họ.
4. Trường hợp việc giải quyết vụ án hành
chính bị tạm đình chỉ thì tiền tạm ứng án phí đã nộp được xử lý khi vụ án được
tiếp tục giải quyết.
Điều 346. Chế độ thu, chi trả tiền tạm ứng án
phí, án phí, lệ phí
Việc thu tiền tạm ứng án phí và án phí, việc
chi trả tiền tạm ứng án phí, việc thu tiền lệ phí được thực hiện theo quy định
của pháp luật.
Điều 347. Nghĩa vụ nộp tiền tạm ứng án phí
Người khởi kiện và người có quyền lợi, nghĩa
vụ liên quan có yêu cầu độc lập trong vụ án hành chính phải nộp tiền tạm ứng án
phí sơ thẩm, người kháng cáo theo thủ tục phúc thẩm phải nộp tiền tạm ứng án
phí phúc thẩm, trừ trường hợp được miễn hoặc không phải nộp tiền tạm ứng án
phí.
Điều 348. Nghĩa vụ nộp án phí sơ thẩm
1. Đương sự phải chịu án phí sơ thẩm nếu yêu
cầu của họ không được Tòa án chấp nhận, trừ trường hợp được miễn nộp án phí
hoặc không phải chịu án phí sơ thẩm.
2. Trước khi mở phiên tòa, Tòa án tiến hành
đối thoại nếu các bên đương sự đối thoại thành về việc giải quyết vụ án thì họ
chỉ phải chịu 50% mức án phí sơ thẩm quy định tại khoản 1 Điều này.
3. Trong vụ án có đương sự được miễn nộp án
phí sơ thẩm thì đương sự khác vẫn phải nộp án phí sơ thẩm mà mình phải chịu
theo quy định tại khoản 1 và khoản 2 Điều này.
4. Trường hợp vụ án bị tạm đình chỉ giải
quyết thì nghĩa vụ nộp án phí sơ thẩm được quyết định khi vụ án được tiếp tục
giải quyết theo quy định tại Điều này.
Điều 349. Nghĩa vụ chịu án phí phúc thẩm
1. Đương sự kháng cáo phải nộp án phí phúc
thẩm, nếu Tòa án cấp phúc thẩm giữ nguyên bản án, quyết định sơ thẩm bị kháng
cáo, trừ trường hợp được miễn hoặc không phải chịu án phí phúc thẩm.
2. Trường hợp Tòa án cấp phúc thẩm sửa bản
án, quyết định sơ thẩm bị kháng cáo thì đương sự kháng cáo không phải nộp án
phí phúc thẩm; Tòa án cấp phúc thẩm phải xác định lại nghĩa vụ nộp án phí sơ
thẩm theo quy định tại Điều 348 của Luật này.
3. Trường hợp Tòa án cấp phúc thẩm hủy bản
án, quyết định sơ thẩm bị kháng cáo để xét xử sơ thẩm lại thì đương sự kháng
cáo không phải nộp án phí phúc thẩm; nghĩa vụ nộp án phí được xác định lại khi
giải quyết sơ thẩm lại vụ án.
Nghĩa vụ nộp lệ phí được xác định tùy theo
từng loại việc cụ thể và do luật quy định.
Điều 351. Quy định cụ thể về án phí, lệ phí
Căn cứ vào quy định của Luật phí và lệ phí và
Luật này, Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định cụ thể về án phí, lệ phí Tòa án;
mức thu án phí, lệ phí Tòa án đối với mỗi loại vụ án; các trường hợp được miễn,
giảm hoặc không phải nộp án phí và các vấn đề cụ thể khác liên quan đến án phí,
lệ phí Tòa án.
Mục 2. CÁC CHI PHÍ TỐ TỤNG KHÁC
Điều 352. Tiền tạm ứng chi phí ủy thác tư
pháp, chi phí ủy thác tư pháp ra nước ngoài
1. Tiền tạm ứng chi phí ủy thác tư pháp ra
nước ngoài là số tiền mà Tòa án tạm tính để chi trả cho việc ủy thác tư pháp
khi tiến hành thu thập, cung cấp chứng cứ, tống đạt giấy tờ, hồ sơ, tài liệu,
triệu tập người làm chứng, người giám định và các yêu cầu tương trợ tư pháp có
liên quan đến việc giải quyết vụ án hành chính.
2. Chi phí ủy thác tư pháp là số tiền cần
thiết và hợp lý phải chi trả cho việc thực hiện ủy thác tư pháp theo quy định
của pháp luật Việt Nam và của nước được yêu cầu ủy thác tư pháp.
Điều 353. Nghĩa vụ nộp tiền tạm ứng chi phí
ủy thác tư pháp ra nước ngoài
Người khởi kiện, người kháng cáo theo thủ tục
phúc thẩm hoặc đương sự khác trong vụ án phải nộp tiền tạm ứng chi phí ủy thác
tư pháp ra nước ngoài khi yêu cầu của họ làm phát sinh việc ủy thác tư pháp ra
nước ngoài.
Điều 354. Nghĩa vụ chịu chi phí ủy thác tư
pháp ra nước ngoài
Trường hợp các đương sự không có thỏa thuận
khác hoặc pháp luật không có quy định khác thì nghĩa vụ chịu chi phí ủy thác tư
pháp ra nước ngoài được xác định như sau:
1. Đương sự phải chịu chi phí ủy thác tư pháp
ra nước ngoài nếu yêu cầu giải quyết vụ án của họ không được Tòa án chấp nhận;
2. Trường hợp đình chỉ giải quyết vụ án quy
định tại điểm c khoản 1 Điều 143, khoản 1 Điều 234 của Luật
này thì người khởi kiện phải chịu chi phí ủy thác tư pháp ra nước ngoài.
Trường hợp đình chỉ giải quyết việc xét xử
phúc thẩm quy định tại điểm a khoản 2 Điều 225, điểm c khoản 1
Điều 229 của Luật này thì người kháng cáo theo thủ tục phúc thẩm phải chịu
chi phí ủy thác tư pháp ra nước ngoài;
3. Đối với các trường hợp đình chỉ giải quyết
vụ án khác theo quy định của Luật này thì người yêu cầu phải chịu chi phí ủy
thác tư pháp ra nước ngoài.
Điều 355. Xử lý tiền tạm ứng chi phí ủy thác
tư pháp ra nước ngoài
1. Trường hợp người đã nộp tiền tạm ứng chi
phí ủy thác tư pháp không phải chịu chi phí ủy thác tư pháp thì người phải chịu
chi phí ủy thác tư pháp theo quyết định của Tòa án phải hoàn trả cho người đã
nộp tiền tạm ứng chi phí ủy thác tư pháp.
2. Trường hợp người đã nộp tiền tạm ứng chi
phí ủy thác tư pháp phải chịu chi phí ủy thác tư pháp, nếu số tiền tạm ứng đã
nộp chưa đủ cho chi phí ủy thác tư pháp thực tế thì họ phải nộp thêm phần tiền
còn thiếu; nếu số tiền tạm ứng đã nộp nhiều hơn chi phí ủy thác tư pháp thực tế
thì họ được trả lại phần tiền còn thừa theo quyết định của Tòa án.
Điều 356. Tiền tạm ứng chi phí xem xét, thẩm
định tại chỗ và chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ
1. Tiền tạm ứng chi phí xem xét, thẩm định
tại chỗ là số tiền mà Tòa án tạm tính để tiến hành việc xem xét, thẩm định tại
chỗ.
2. Chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ là số
tiền cần thiết và hợp lý phải chi trả cho công việc xem xét, thẩm định tại chỗ
căn cứ vào quy định của pháp luật.
Điều 357. Nghĩa vụ nộp tiền tạm ứng chi phí
xem xét, thẩm định tại chỗ
1. Người yêu cầu Tòa án xem xét, thẩm định
tại chỗ phải nộp tiền tạm ứng chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ theo yêu cầu
của Tòa án.
2. Trường hợp Tòa án xét thấy cần thiết và
quyết định xem xét, thẩm định tại chỗ thì người khởi kiện, người kháng cáo theo
thủ tục phúc thẩm phải nộp tiền tạm ứng chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ.
Điều 358. Nghĩa vụ chịu chi phí xem xét, thẩm
định tại chỗ
Trường hợp các bên đương sự không có thỏa
thuận khác hoặc pháp luật không có quy định khác thì nghĩa vụ chịu chi phí xem
xét, thẩm định tại chỗ được xác định như sau:
1. Đương sự phải chịu chi phí xem xét, thẩm
định tại chỗ nếu yêu cầu của họ không được Tòa án chấp nhận;
2. Trường hợp đình chỉ giải quyết vụ án quy
định tại điểm c khoản 1 Điều 143, khoản 1 Điều 234 của Luật
này thì đương sự phải chịu chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ.
Trường hợp đình chỉ giải quyết việc xét xử
phúc thẩm quy định tại điểm a khoản 2 Điều 225, điểm c khoản 1
Điều 229 của Luật này thì người kháng cáo theo thủ tục phúc thẩm phải chịu
chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ;
3. Đối với các trường hợp đình chỉ giải quyết
vụ án khác theo quy định của Luật này thì người yêu cầu xem xét, thẩm định phải
chịu chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ.
Điều 359. Xử lý tiền tạm ứng chi phí xem xét,
thẩm định tại chỗ
1. Trường hợp người đã nộp tiền tạm ứng chi
phí xem xét, thẩm định tại chỗ không phải chịu chi phí xem xét, thẩm định tại
chỗ thì người phải chịu chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ theo quyết định của
Tòa án phải hoàn trả cho người đã nộp tiền tạm ứng chi phí xem xét, thẩm định
tại chỗ.
2. Trường hợp người đã nộp tiền tạm ứng chi
phí xem xét, thẩm định tại chỗ phải chịu chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ,
nếu số tiền tạm ứng đã nộp chưa đủ cho chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ thực
tế thì họ phải nộp thêm phần tiền còn thiếu; nếu số tiền tạm ứng đã nộp nhiều
hơn chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ thực tế thì họ được trả lại phần tiền
còn thừa theo quyết định của Tòa án.
Điều 360. Tiền tạm ứng chi phí giám định, chi
phí giám định
1. Tiền tạm ứng chi phí giám định là số tiền
mà người giám định tạm tính để tiến hành việc giám định theo quyết định của Tòa
án hoặc theo yêu cầu giám định của đương sự.
2. Chi phí giám định là số tiền cần thiết và
hợp lý phải chi trả cho việc giám định và do người giám định tính căn cứ vào
quy định của pháp luật.
Điều 361. Nghĩa vụ nộp tiền tạm ứng chi phí
giám định
Trường hợp các đương sự không có thỏa thuận
khác hoặc pháp luật không có quy định khác thì nghĩa vụ nộp tiền tạm ứng chi
phí giám định được xác định như sau:
1. Người yêu cầu Tòa án trưng cầu giám định
phải nộp tiền tạm ứng chi phí giám định.
Trường hợp các đương sự yêu cầu Tòa án trưng
cầu giám định về cùng một đối tượng thì mỗi bên đương sự phải nộp một nửa số
tiền tạm ứng chi phí giám định;
2. Trường hợp Tòa án xét thấy cần thiết và
quyết định trưng cầu giám định thì người khởi kiện, người kháng cáo theo thủ
tục phúc thẩm phải nộp tiền tạm ứng chi phí giám định;
3. Đương sự, người kháng cáo đã yêu cầu Tòa
án trưng cầu giám định mà không được chấp nhận và tự mình yêu cầu tổ chức, cá
nhân thực hiện giám định thì việc nộp tiền tạm ứng chi phí giám định được thực
hiện theo quy định của Luật Giám định tư pháp.
Điều 362. Nghĩa vụ chịu chi phí giám định
Trường hợp các bên đương sự không có thỏa
thuận khác hoặc pháp luật không có quy định khác thì nghĩa vụ chịu chi phí giám
định được xác định như sau:
1. Người yêu cầu Tòa án trưng cầu giám định
phải chịu chi phí giám định, nếu kết quả giám định chứng minh yêu cầu của người
đó là không có căn cứ. Trường hợp kết quả giám định chứng minh yêu cầu của họ
chỉ có căn cứ một phần thì họ phải nộp chi phí giám định đối với phần yêu cầu
của họ đã được chứng minh là không có căn cứ;
2. Người không chấp nhận yêu cầu trưng cầu
giám định của đương sự khác trong vụ án phải nộp chi phí giám định, nếu kết quả
giám định chứng minh yêu cầu của người yêu cầu trưng cầu giám định là có căn
cứ. Trường hợp kết quả giám định chứng minh yêu cầu trưng cầu giám định chỉ có
căn cứ một phần thì người không chấp nhận yêu cầu trưng cầu giám định phải chịu
chi phí giám định tương ứng với phần yêu cầu đã được chứng minh là có căn cứ;
3. Trường hợp đình chỉ giải quyết vụ án theo
quy định tại điểm c khoản 1 Điều 143, khoản 1 Điều 234 của
Luật này thì người khởi kiện phải chịu chi phí giám định.
Trường hợp đình chỉ giải quyết việc xét xử
phúc thẩm theo quy định tại điểm a khoản 2 Điều 225, điểm c
khoản 1 Điều 229 của Luật này thì người kháng cáo theo thủ tục phúc thẩm
phải chịu chi phí giám định;
4. Trường hợp người tự mình yêu cầu giám định
theo quy định tại khoản 3 Điều 361 của Luật này, nếu kết
quả giám định chứng minh yêu cầu của người đó là có căn cứ thì người thua kiện
phải chịu chi phí giám định. Trường hợp kết quả giám định chứng minh yêu cầu
giám định của họ chỉ có căn cứ một phần thì họ phải nộp chi phí giám định đối
với phần yêu cầu của họ đã được chứng minh là không có căn cứ;
5. Đối với các trường hợp đình chỉ giải quyết
vụ án khác theo quy định của Luật này thì người yêu cầu trưng cầu giám định
phải chịu chi phí giám định.
Điều 363. Xử lý tiền tạm ứng chi phí giám
định đã nộp
1. Trường hợp người đã nộp tiền tạm ứng chi
phí giám định không phải chịu chi phí giám định thì người phải chịu chi phí
giám định theo quyết định của Tòa án phải hoàn trả cho người đã nộp tiền tạm
ứng chi phí giám định.
2. Trường hợp người đã nộp tiền tạm ứng chi
phí giám định phải chịu chi phí giám định, nếu số tiền tạm ứng đã nộp chưa đủ
cho chi phí giám định thực tế thì họ phải nộp thêm phần tiền còn thiếu; nếu số
tiền tạm ứng đã nộp nhiều hơn chi phí giám định thực tế thì họ được trả lại
phần tiền còn thừa theo quyết định của Tòa án.
Điều 364. Tiền tạm ứng chi phí định giá tài
sản, chi phí định giá tài sản
1. Tiền tạm ứng chi phí định giá tài sản là
số tiền mà Hội đồng định giá tạm tính để tiến hành việc định giá theo quyết
định của Tòa án.
2. Chi phí định giá tài sản là số tiền cần
thiết, hợp lý phải chi trả cho việc định giá tài sản và do Hội đồng định giá
tính căn cứ vào quy định của pháp luật.
Điều 365. Nghĩa vụ nộp tiền tạm ứng chi phí
định giá tài sản
Trường hợp các đương sự không có thỏa thuận
khác hoặc pháp luật không có quy định khác thì nghĩa vụ chịu chi phí định giá
tài sản được xác định như sau:
1. Người yêu cầu định giá tài sản phải nộp
tiền tạm ứng chi phí định giá tài sản;
2. Trường hợp các đương sự không thống nhất
được về giá và cùng yêu cầu Tòa án định giá tài sản thì mỗi bên đương sự phải
nộp một nửa tiền tạm ứng chí phí định giá tài sản. Trường hợp có nhiều đương
sự, thì các bên đương sự cùng phải nộp tiền tạm ứng chi phí định giá tài sản
theo mức mà Tòa án quyết định;
3. Trường hợp quy định tại khoản
3 Điều 91 của Luật này thì người khởi kiện, người kháng cáo phải nộp tiền
tạm ứng chi phí định giá tài sản.
Điều 366. Nghĩa vụ chịu chi phí định giá tài
sản, thẩm định giá tài sản
Trường hợp các đương sự không có thỏa thuận
khác hoặc pháp luật không có quy định khác thì nghĩa vụ chịu chi phí định giá
tài sản, thẩm định giá tài sản được xác định như sau:
1. Đương sự phải chịu chi phí định giá tài
sản nếu yêu cầu của họ không được Tòa án chấp nhận;
2. Trường hợp Tòa án ra quyết định định giá
quy định tại điểm d khoản 3 Điều 91 của Luật này thì:
a) Đương sự phải chịu chi phí định giá tài
sản quy định tại khoản 1 Điều này nếu kết quả định giá chứng minh quyết định
định giá tài sản của Tòa án là có căn cứ;
b) Tòa án trả chi phí định giá tài sản nếu
kết quả định giá chứng minh quyết định định giá tài sản của Tòa án là không có
căn cứ;
3. Trường hợp đình chỉ giải quyết vụ án theo
quy định tại điểm c khoản 1 Điều 143, khoản 1 Điều 234 của
Luật này và Hội đồng định giá đã tiến hành định giá thì người khởi kiện
phải chịu chi phí định giá tài sản.
Trường hợp đình chỉ giải quyết việc xét xử
phúc thẩm theo quy định tại điểm a khoản 2 Điều 225, điểm c
khoản 1 Điều 229 của Luật này và Hội đồng định giá đã tiến hành định giá
thì người kháng cáo theo thủ tục phúc thẩm phải chịu chi phí định giá tài sản;
4. Các trường hợp đình chỉ giải quyết vụ án
khác theo quy định của Luật này và Hội đồng định giá đã tiến hành định giá thì
người yêu cầu định giá phải chịu chi phí định giá tài sản;
5. Nghĩa vụ chịu chi phí thẩm định giá tài
sản của đương sự được thực hiện như nghĩa vụ chịu chi phí định giá tài sản quy
định tại các khoản 1, 3 và 4 Điều này.
Điều 367. Xử lý tiền tạm ứng chi phí định giá
tài sản
1. Trường hợp người đã nộp tiền tạm ứng chi
phí định giá tài sản không phải chịu chi phí định giá tài sản thì người phải
chịu chi phí định giá tài sản theo quyết định của Tòa án phải hoàn trả cho
người đã nộp tiền tạm ứng chi phí định giá tài sản.
2. Trường hợp người đã nộp tiền tạm ứng chi
phí định giá tài sản phải chịu chi phí định giá tài sản, nếu số tiền tạm ứng đã
nộp chưa đủ cho chi phí định giá thực tế thì họ phải nộp thêm phần tiền còn
thiếu; nếu số tiền tạm ứng đã nộp nhiều hơn chi phí định giá thực tế thì họ
được trả lại phần tiền còn thừa.
Điều 368. Chi phí cho người làm chứng
1. Chi phí hợp lý và thực tế cho người làm
chứng do đương sự chịu.
2. Người đề nghị Tòa án triệu tập người làm
chứng phải chịu tiền chi phí cho người làm chứng nếu lời làm chứng phù hợp với
sự thật nhưng không đúng với yêu cầu của người đề nghị. Trường hợp lời làm
chứng phù hợp với sự thật và đúng với yêu cầu của người đề nghị triệu tập người
làm chứng thì chi phí này do đương sự có yêu cầu độc lập với yêu cầu của người
đề nghị chịu.
Điều 369. Chi phí cho người phiên dịch, luật
sư
1. Chi phí cho người phiên dịch là khoản tiền
phải trả cho người phiên dịch trong quá trình giải quyết vụ án hành chính theo
thỏa thuận của đương sự với người phiên dịch hoặc theo quy định của pháp luật.
2. Chi phí cho luật sư là khoản tiền phải trả
cho luật sư theo thỏa thuận của đương sự với luật sư trong phạm vi quy định của
tổ chức hành nghề luật sư và theo quy định của pháp luật.
3. Chi phí cho người phiên dịch, luật sư do
người có yêu cầu chịu, trừ trường hợp các đương sự có thỏa thuận khác.
4. Trường hợp Tòa án yêu cầu người phiên dịch
thì chi phí cho người phiên dịch do Tòa án trả.
Điều 370. Quy định cụ thể về các chi phí tố
tụng khác
Căn cứ vào quy định của Luật này, Ủy ban
Thường vụ Quốc hội quy định cụ thể về chi phí ủy thác tư pháp ra nước ngoài,
chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ, chi phí giám định, định giá tài sản; chi
phí cho người làm chứng, người phiên dịch; chi phí tố tụng khác do luật khác
quy định và việc miễn, giảm chi phí tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án.
Điều 370a. Tương trợ tư pháp trong tố tụng
hành chính[100]
Các yêu cầu tương trợ tư pháp trong tố tụng
hành chính được thực hiện theo pháp luật tương trợ tư pháp về dân sự.
1. Luật này có hiệu lực thi hành từ ngày 01
tháng 7 năm 2016, trừ các quy định sau đây của Luật này có liên quan đến quy
định của Bộ luật Dân sự số 91/2015/QH13 thì có hiệu lực thi hành từ ngày 01
tháng 01 năm 2017:
a) Quy định liên quan đến người có khó khăn
trong nhận thức, làm chủ hành vi;
b) Quy định liên quan đến pháp nhân là người
đại diện, người giám hộ;
c) Quy định liên quan đến hộ gia đình, tổ hợp
tác, tổ chức không có tư cách pháp nhân.
2. Luật Tố tụng hành chính số 64/2010/QH12
hết hiệu lực kể từ ngày Luật này có hiệu lực.
Ủy ban Thường vụ Quốc hội, Chính phủ, Tòa án
nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao trong phạm vi nhiệm vụ, quyền
hạn của mình quy định chi tiết các điều, khoản được giao trong
Luật.
|
VĂN PHÒNG QUỐC HỘI Số:
13/VBHN-VPQH |
XÁC THỰC VĂN BẢN HỢP NHẤT Hà Nội, ngày 06 tháng 02 năm 2026 CHỦ NHIỆM |
_______________________________
[1] Luật số
55/2019/QH14 sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Kiểm toán nhà nước có căn cứ
ban hành như sau:
“Căn cứ Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ
nghĩa Việt Nam;
Quốc hội ban hành Luật sửa đổi, bổ
sung một số điều của Luật Kiểm toán nhà nước số 81/2015/QH13.”.
Luật Tổ chức Tòa án nhân dân số 34/2024/QH15
có căn cứ ban hành như sau:
“Căn cứ Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ
nghĩa Việt Nam;
Quốc hội ban hành Luật Tổ chức Tòa án nhân
dân.”.
Luật số 85/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số
điều của Bộ luật Tố tụng dân sự, Luật Tố tụng hành chính, Luật Tư pháp người
chưa thành niên, Luật Phá sản và Luật Hòa giải, đối thoại tại Tòa án có căn cứ
ban hành như sau:
“Căn cứ Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ
nghĩa Việt Nam đã được sửa đổi, bổ sung một số điều theo Nghị quyết số
203/2025/QH15;
Quốc hội ban hành Luật sửa đổi, bổ sung một
số điều của Bộ luật Tố
tụng dân sự số 92/2015/QH13 đã được sửa đổi, bổ sung một số điều theo Bộ luật
số 45/2019/QH14, Luật số 59/2020/QH14, Luật số 13/2022/QH15, Luật số
19/2023/QH15, Luật số 34/2024/QH15 và Luật số 46/2024/QH15; Luật Tố tụng hành chính số 93/2015/QH13 đã
được sửa đổi, bổ sung một số điều theo Luật số 55/2019/QH14 và Luật số
34/2024/QH15; Luật Tư pháp người chưa thành niên số 59/2024/QH15; Luật Phá sản
số 51/2014/QH13 và Luật Hòa giải, đối thoại tại Tòa án số 58/2020/QH14.”.
Luật Tương trợ tư pháp về dân sự số
102/2025/QH15 có căn cứ ban hành như sau:
“Căn cứ Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ
nghĩa Việt Nam đã được sửa đổi, bổ sung một số điều theo Nghị quyết số
203/2025/QH15;
Quốc hội ban hành Luật Tương trợ tư pháp về
dân sự.”.
[2] Cụm từ “,
quyết định giải quyết khiếu nại trong hoạt động kiểm toán nhà nước” được bổ
sung theo quy định tại khoản 7 Điều 2 của Luật số 55/2019/QH14 sửa đổi, bổ sung
một số điều của Luật Kiểm toán nhà nước, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm
2020.
[3] Cụm từ “,
quyết định giải quyết khiếu nại trong hoạt động kiểm toán nhà nước” được bổ
sung theo quy định tại khoản 7 Điều 2 của Luật số 55/2019/QH14 sửa đổi, bổ sung
một số điều của Luật Kiểm toán nhà nước, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm
2020.
[4] Cụm từ “,
quyết định giải quyết khiếu nại trong hoạt động kiểm toán nhà nước” được bổ
sung theo quy định tại khoản 7 Điều 2 của Luật số 55/2019/QH14 sửa đổi, bổ sung
một số điều của Luật Kiểm toán nhà nước, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm
2020.
[5] Cụm từ “Thẩm
tra viên” được thay thế bằng cụm từ “Thẩm tra viên Tòa án” theo quy định tại
khoản 22 Điều 2 của Luật số 85/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ
luật Tố tụng dân sự, Luật Tố tụng hành chính, Luật Tư pháp người chưa thành
niên, Luật Phá sản và Luật Hòa giải, đối thoại tại Tòa án, có hiệu lực kể từ
ngày 01 tháng 7 năm 2025.
[6] Điều này được
sửa đổi, bổ sung theo quy định tại khoản 1 Điều 2 của Luật số 85/2025/QH15 sửa
đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Tố tụng dân sự, Luật Tố tụng hành chính,
Luật Tư pháp người chưa thành niên, Luật Phá sản và Luật Hòa giải, đối thoại
tại Tòa án, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2025.
[7] Khoản này
được sửa đổi, bổ sung theo quy định tại khoản 2 Điều 2 của Luật số 85/2025/QH15
sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Tố tụng dân sự, Luật Tố tụng hành
chính, Luật Tư pháp người chưa thành niên, Luật Phá sản và Luật Hòa giải, đối
thoại tại Tòa án, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2025.
[8] Cụm từ “,
quyết định giải quyết khiếu nại trong hoạt động kiểm toán nhà nước” được bổ
sung theo quy định tại khoản 7 Điều 2 của Luật số 55/2019/QH14 sửa đổi, bổ sung
một số điều của Luật Kiểm toán nhà nước, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm
2020.
[9] Điều này được
sửa đổi, bổ sung theo quy định tại khoản 3 Điều 2 của Luật số 85/2025/QH15 sửa
đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Tố tụng dân sự, Luật Tố tụng hành chính,
Luật Tư pháp người chưa thành niên, Luật Phá sản và Luật Hòa giải, đối thoại
tại Tòa án, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2025.
[10] Điều này được
bổ sung theo quy định tại khoản 4 Điều 2 của Luật số 85/2025/QH15 sửa đổi, bổ
sung một số điều của Bộ luật Tố tụng dân sự, Luật Tố tụng hành chính, Luật Tư
pháp người chưa thành niên, Luật Phá sản và Luật Hòa giải, đối thoại tại Tòa
án, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2025.
[11] Điều này được
sửa đổi, bổ sung theo quy định tại khoản 5 Điều 2 của Luật số 85/2025/QH15 sửa
đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Tố tụng dân sự, Luật Tố tụng hành chính,
Luật Tư pháp người chưa thành niên, Luật Phá sản và Luật Hòa giải, đối thoại
tại Tòa án, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2025.
[12] Điều này được
bổ sung theo quy định tại khoản 6 Điều 2 của Luật số 85/2025/QH15 sửa đổi, bổ
sung một số điều của Bộ luật Tố tụng dân sự, Luật Tố tụng hành chính, Luật Tư
pháp người chưa thành niên, Luật Phá sản và Luật Hòa giải, đối thoại tại Tòa
án, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2025.
[13] Khoản này
được sửa đổi, bổ sung theo quy định tại khoản 7 Điều 2 của Luật số 85/2025/QH15
sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Tố tụng dân sự, Luật Tố tụng hành
chính, Luật Tư pháp người chưa thành niên, Luật Phá sản và Luật Hòa giải, đối
thoại tại Tòa án, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2025.
[14] Cụm từ “Thẩm
tra viên” được thay thế bằng cụm từ “Thẩm tra viên Tòa án” theo quy định tại
khoản 22 Điều 2 của Luật số 85/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ
luật Tố tụng dân sự, Luật Tố tụng hành chính, Luật Tư pháp người chưa thành
niên, Luật Phá sản và Luật Hòa giải, đối thoại tại Tòa án, có hiệu lực kể từ
ngày 01 tháng 7 năm 2025.
[15] Cụm từ “Thẩm
tra viên” được thay thế bằng cụm từ “Thẩm tra viên Tòa án” theo quy định tại
khoản 22 Điều 2 của Luật số 85/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ
luật Tố tụng dân sự, Luật Tố tụng hành chính, Luật Tư pháp người chưa thành
niên, Luật Phá sản và Luật Hòa giải, đối thoại tại Tòa án, có hiệu lực kể từ
ngày 01 tháng 7 năm 2025.
[16] Cụm từ “Thẩm
tra viên” được thay thế bằng cụm từ “Thẩm tra viên Tòa án” theo quy định tại
khoản 22 Điều 2 của Luật số 85/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ
luật Tố tụng dân sự, Luật Tố tụng hành chính, Luật Tư pháp người chưa thành
niên, Luật Phá sản và Luật Hòa giải, đối thoại tại Tòa án, có hiệu lực kể từ
ngày 01 tháng 7 năm 2025.
[17] Cụm từ “Thẩm
tra viên” được thay thế bằng cụm từ “Thẩm tra viên Tòa án” theo quy định tại
khoản 22 Điều 2 của Luật số 85/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ
luật Tố tụng dân sự, Luật Tố tụng hành chính, Luật Tư pháp người chưa thành
niên, Luật Phá sản và Luật Hòa giải, đối thoại tại Tòa án, có hiệu lực kể từ
ngày 01 tháng 7 năm 2025.
[18] Khoản này
được bổ sung theo quy định tại khoản 1 Điều 2 của Luật số 55/2019/QH14 sửa đổi,
bổ sung một số điều của Luật Kiểm toán nhà nước, có hiệu lực kể từ ngày 01
tháng 7 năm 2020.
[19] Khoản này
được sửa đổi, bổ sung theo quy định tại khoản 8 Điều 2 của Luật số 85/2025/QH15
sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Tố tụng dân sự, Luật Tố tụng hành
chính, Luật Tư pháp người chưa thành niên, Luật Phá sản và Luật Hòa giải, đối
thoại tại Tòa án, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2025.
[20] Khoản này
được sửa đổi, bổ sung theo quy định tại khoản 8 Điều 2 của Luật số 85/2025/QH15
sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Tố tụng dân sự, Luật Tố tụng hành
chính, Luật Tư pháp người chưa thành niên, Luật Phá sản và Luật Hòa giải, đối
thoại tại Tòa án, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2025.
[21] Cụm từ “Thẩm
tra viên” được thay thế bằng cụm từ “Thẩm tra viên Tòa án” theo quy định tại
khoản 22 Điều 2 của Luật số 85/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ
luật Tố tụng dân sự, Luật Tố tụng hành chính, Luật Tư pháp người chưa thành
niên, Luật Phá sản và Luật Hòa giải, đối thoại tại Tòa án, có hiệu lực kể từ
ngày 01 tháng 7 năm 2025.
[22] Cụm từ “Thẩm
tra viên” được thay thế bằng cụm từ “Thẩm tra viên Tòa án” theo quy định tại
khoản 22 Điều 2 của Luật số 85/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ
luật Tố tụng dân sự, Luật Tố tụng hành chính, Luật Tư pháp người chưa thành
niên, Luật Phá sản và Luật Hòa giải, đối thoại tại Tòa án, có hiệu lực kể từ
ngày 01 tháng 7 năm 2025.
[23] Cụm từ “Thẩm
tra viên” được thay thế bằng cụm từ “Thẩm tra viên Tòa án” theo quy định tại
khoản 22 Điều 2 của Luật số 85/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ
luật Tố tụng dân sự, Luật Tố tụng hành chính, Luật Tư pháp người chưa thành
niên, Luật Phá sản và Luật Hòa giải, đối thoại tại Tòa án, có hiệu lực kể từ
ngày 01 tháng 7 năm 2025.
[24] Cụm từ “Thẩm
tra viên” được thay thế bằng cụm từ “Thẩm tra viên Tòa án” theo quy định tại
khoản 22 Điều 2 của Luật số 85/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ
luật Tố tụng dân sự, Luật Tố tụng hành chính, Luật Tư pháp người chưa thành
niên, Luật Phá sản và Luật Hòa giải, đối thoại tại Tòa án, có hiệu lực kể từ
ngày 01 tháng 7 năm 2025.
[25] Cụm từ “Thẩm
tra viên” được thay thế bằng cụm từ “Thẩm tra viên Tòa án” theo quy định tại
khoản 22 Điều 2 của Luật số 85/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ
luật Tố tụng dân sự, Luật Tố tụng hành chính, Luật Tư pháp người chưa thành
niên, Luật Phá sản và Luật Hòa giải, đối thoại tại Tòa án, có hiệu lực kể từ
ngày 01 tháng 7 năm 2025.
[26] Tên Điều này
được sửa đổi, bổ sung theo quy định tại điểm a khoản 9 Điều 2 của Luật số
85/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Tố tụng dân sự, Luật Tố
tụng hành chính, Luật Tư pháp người chưa thành niên, Luật Phá sản và Luật Hòa
giải, đối thoại tại Tòa án, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2025.
[27] Khoản này
được sửa đổi, bổ sung theo quy định tại điểm b khoản 9 Điều 2 của Luật số
85/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Tố tụng dân sự, Luật Tố
tụng hành chính, Luật Tư pháp người chưa thành niên, Luật Phá sản và Luật Hòa
giải, đối thoại tại Tòa án, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2025.
[28] Cụm từ “Thẩm
tra viên” được thay thế bằng cụm từ “Thẩm tra viên Tòa án” theo quy định tại
khoản 22 Điều 2 của Luật số 85/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ
luật Tố tụng dân sự, Luật Tố tụng hành chính, Luật Tư pháp người chưa thành
niên, Luật Phá sản và Luật Hòa giải, đối thoại tại Tòa án, có hiệu lực kể từ
ngày 01 tháng 7 năm 2025.
[29] Cụm từ “,
quyết định giải quyết khiếu nại trong hoạt động kiểm toán nhà nước” được bổ
sung theo quy định tại khoản 7 Điều 2 của Luật số 55/2019/QH14 sửa đổi, bổ sung
một số điều của Luật Kiểm toán nhà nước, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm
2020.
[30] Cụm từ “Thẩm
tra viên” được thay thế bằng cụm từ “Thẩm tra viên Tòa án” theo quy định tại
khoản 22 Điều 2 của Luật số 85/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ
luật Tố tụng dân sự, Luật Tố tụng hành chính, Luật Tư pháp người chưa thành
niên, Luật Phá sản và Luật Hòa giải, đối thoại tại Tòa án, có hiệu lực kể từ
ngày 01 tháng 7 năm 2025.
[31] Cụm từ “Thẩm
tra viên” được thay thế bằng cụm từ “Thẩm tra viên Tòa án” theo quy định tại
khoản 22 Điều 2 của Luật số 85/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ
luật Tố tụng dân sự, Luật Tố tụng hành chính, Luật Tư pháp người chưa thành
niên, Luật Phá sản và Luật Hòa giải, đối thoại tại Tòa án, có hiệu lực kể từ
ngày 01 tháng 7 năm 2025.
[32] Khoản này
được sửa đổi, bổ sung theo quy định tại khoản 2 Điều 2 của Luật số 55/2019/QH14
sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Kiểm toán nhà nước, có hiệu lực kể từ
ngày 01 tháng 7 năm 2020.
[33] Điều này được
sửa đổi, bổ sung theo quy định tại khoản 3 Điều 2 của Luật số 55/2019/QH14 sửa
đổi, bổ sung một số điều của Luật Kiểm toán nhà nước, có hiệu lực kể từ ngày 01
tháng 7 năm 2020.
[34] Cụm từ “,
quyết định giải quyết khiếu nại trong hoạt động kiểm toán nhà nước” được bổ
sung theo quy định tại khoản 7 Điều 2 của Luật số 55/2019/QH14 sửa đổi, bổ sung
một số điều của Luật Kiểm toán nhà nước, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm
2020.
[35] Cụm từ “cơ
quan thi hành án dân sự cùng cấp” được thay thế bằng cụm từ “cơ quan thi hành
án dân sự có thẩm quyền” theo quy định tại khoản 19 Điều 2 của Luật số
85/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Tố tụng dân sự, Luật Tố
tụng hành chính, Luật Tư pháp người chưa thành niên, Luật Phá sản và Luật Hòa
giải, đối thoại tại Tòa án, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2025.
[36] Cụm từ “cơ
quan thi hành án dân sự cùng cấp” được thay thế bằng cụm từ “cơ quan thi hành
án dân sự có thẩm quyền” theo quy định tại khoản 19 Điều 2 của Luật số
85/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Tố tụng dân sự, Luật Tố
tụng hành chính, Luật Tư pháp người chưa thành niên, Luật Phá sản và Luật Hòa
giải, đối thoại tại Tòa án, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2025.
[37] Cụm từ “,
quyết định giải quyết khiếu nại trong hoạt động kiểm toán nhà nước” được bổ
sung theo quy định tại khoản 7 Điều 2 của Luật số 55/2019/QH14 sửa đổi, bổ sung
một số điều của Luật Kiểm toán nhà nước, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm
2020.
[38] Cụm từ “,
quyết định giải quyết khiếu nại trong hoạt động kiểm toán nhà nước” được bổ
sung theo quy định tại khoản 7 Điều 2 của Luật số 55/2019/QH14 sửa đổi, bổ sung
một số điều của Luật Kiểm toán nhà nước, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm
2020.
[39] Cụm từ “Thẩm
tra viên” được thay thế bằng cụm từ “Thẩm tra viên Tòa án” theo quy định tại
khoản 22 Điều 2 của Luật số 85/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ
luật Tố tụng dân sự, Luật Tố tụng hành chính, Luật Tư pháp người chưa thành
niên, Luật Phá sản và Luật Hòa giải, đối thoại tại Tòa án, có hiệu lực kể từ
ngày 01 tháng 7 năm 2025.
[40] Cụm từ “Thẩm
tra viên” được thay thế bằng cụm từ “Thẩm tra viên Tòa án” theo quy định tại
khoản 22 Điều 2 của Luật số 85/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ
luật Tố tụng dân sự, Luật Tố tụng hành chính, Luật Tư pháp người chưa thành
niên, Luật Phá sản và Luật Hòa giải, đối thoại tại Tòa án, có hiệu lực kể từ
ngày 01 tháng 7 năm 2025.
[41] Cụm từ “công
an xã, phường, thị trấn” được thay thế bằng cụm từ “công an xã, phường, đặc
khu” theo quy định tại khoản 23 Điều 2 của Luật số 85/2025/QH15 sửa đổi, bổ
sung một số điều của Bộ luật Tố tụng dân sự, Luật Tố tụng hành chính, Luật Tư
pháp người chưa thành niên, Luật Phá sản và Luật Hòa giải, đối thoại tại Tòa
án, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2025.
[42] Cụm từ “công
an xã, phường, thị trấn” được thay thế bằng cụm từ “công an xã, phường, đặc
khu” theo quy định tại khoản 23 Điều 2 của Luật số 85/2025/QH15 sửa đổi, bổ
sung một số điều của Bộ luật Tố tụng dân sự, Luật Tố tụng hành chính, Luật Tư
pháp người chưa thành niên, Luật Phá sản và Luật Hòa giải, đối thoại tại Tòa
án, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2025.
[43] Cụm từ “công
an xã, phường, thị trấn” được thay thế bằng cụm từ “công an xã, phường, đặc
khu” theo quy định tại khoản 23 Điều 2 của Luật số 85/2025/QH15 sửa đổi, bổ
sung một số điều của Bộ luật Tố tụng dân sự, Luật Tố tụng hành chính, Luật Tư
pháp người chưa thành niên, Luật Phá sản và Luật Hòa giải, đối thoại tại Tòa
án, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2025.
[44] Cụm từ “công
an xã, phường, thị trấn” được thay thế bằng cụm từ “công an xã, phường, đặc
khu” theo quy định tại khoản 23 Điều 2 của Luật số 85/2025/QH15 sửa đổi, bổ
sung một số điều của Bộ luật Tố tụng dân sự, Luật Tố tụng hành chính, Luật Tư
pháp người chưa thành niên, Luật Phá sản và Luật Hòa giải, đối thoại tại Tòa
án, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2025.
[45] Cụm từ “công
an xã, phường, thị trấn” được thay thế bằng cụm từ “công an xã, phường, đặc
khu” theo quy định tại khoản 23 Điều 2 của Luật số 85/2025/QH15 sửa đổi, bổ
sung một số điều của Bộ luật Tố tụng dân sự, Luật Tố tụng hành chính, Luật Tư
pháp người chưa thành niên, Luật Phá sản và Luật Hòa giải, đối thoại tại Tòa
án, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2025.
[46] Cụm từ “công
an xã, phường, thị trấn” được thay thế bằng cụm từ “công an xã, phường, đặc
khu” theo quy định tại khoản 23 Điều 2 của Luật số 85/2025/QH15 sửa đổi, bổ
sung một số điều của Bộ luật Tố tụng dân sự, Luật Tố tụng hành chính, Luật Tư
pháp người chưa thành niên, Luật Phá sản và Luật Hòa giải, đối thoại tại Tòa
án, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2025.
[47] Cụm từ “công
an xã, phường, thị trấn” được thay thế bằng cụm từ “công an xã, phường, đặc
khu” theo quy định tại khoản 23 Điều 2 của Luật số 85/2025/QH15 sửa đổi, bổ
sung một số điều của Bộ luật Tố tụng dân sự, Luật Tố tụng hành chính, Luật Tư
pháp người chưa thành niên, Luật Phá sản và Luật Hòa giải, đối thoại tại Tòa
án, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2025.
[48] Khoản này
được sửa đổi, bổ sung theo quy định tại khoản 10 Điều 2 của Luật số
85/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Tố tụng dân sự, Luật Tố
tụng hành chính, Luật Tư pháp người chưa thành niên, Luật Phá sản và Luật Hòa
giải, đối thoại tại Tòa án, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2025.
[49] Khoản này
được sửa đổi, bổ sung theo quy định tại khoản 10 Điều 2 của Luật số
85/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Tố tụng dân sự, Luật Tố
tụng hành chính, Luật Tư pháp người chưa thành niên, Luật Phá sản và Luật Hòa
giải, đối thoại tại Tòa án, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2025.
[50] Khoản này
được sửa đổi, bổ sung theo quy định tại khoản 4 Điều 2 của Luật số 55/2019/QH14
sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Kiểm toán nhà nước, có hiệu lực kể từ
ngày 01 tháng 7 năm 2020.
[51] Cụm từ “,
quyết định giải quyết khiếu nại trong hoạt động kiểm toán nhà nước” được bổ
sung theo quy định tại khoản 7 Điều 2 của Luật số 55/2019/QH14 sửa đổi, bổ sung
một số điều của Luật Kiểm toán nhà nước, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm
2020.
[52] Cụm từ “,
quyết định giải quyết khiếu nại trong hoạt động kiểm toán nhà nước” được bổ
sung theo quy định tại khoản 7 Điều 2 của Luật số 55/2019/QH14 sửa đổi, bổ sung
một số điều của Luật Kiểm toán nhà nước, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm
2020.
[53] Cụm từ “,
quyết định giải quyết khiếu nại trong hoạt động kiểm toán nhà nước” được bổ
sung theo quy định tại khoản 7 Điều 2 của Luật số 55/2019/QH14 sửa đổi, bổ sung
một số điều của Luật Kiểm toán nhà nước, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm
2020.
[54] Khoản này
được bãi bỏ theo quy định tại điểm a khoản 3 Điều 150 của Luật Tổ chức Tòa án
nhân dân số 34/2024/QH15, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 01 năm 2025.
[55] Cụm từ “,
quyết định giải quyết khiếu nại trong hoạt động kiểm toán nhà nước” được bổ
sung theo quy định tại khoản 7 Điều 2 của Luật số 55/2019/QH14 sửa đổi, bổ sung
một số điều của Luật Kiểm toán nhà nước, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm
2020.
[56] Điểm này được
sửa đổi, bổ sung theo quy định tại điểm a khoản 5 Điều 2 của Luật số
55/2019/QH14 sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Kiểm toán nhà nước, có hiệu
lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2020.
[57] Điểm này được
sửa đổi, bổ sung theo quy định tại điểm b khoản 5 Điều 2 của Luật số
55/2019/QH14 sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Kiểm toán nhà nước, có hiệu
lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2020.
[58] Cụm từ “cơ
quan thi hành án dân sự cùng cấp” được thay thế bằng cụm từ “cơ quan thi hành
án dân sự có thẩm quyền” theo quy định tại khoản 19 Điều 2 của Luật số
85/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Tố tụng dân sự, Luật Tố
tụng hành chính, Luật Tư pháp người chưa thành niên, Luật Phá sản và Luật Hòa
giải, đối thoại tại Tòa án, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2025.
[59] Cụm từ “cơ
quan thi hành án dân sự cùng cấp” được thay thế bằng cụm từ “cơ quan thi hành
án dân sự có thẩm quyền” theo quy định tại khoản 19 Điều 2 của Luật số
85/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Tố tụng dân sự, Luật Tố
tụng hành chính, Luật Tư pháp người chưa thành niên, Luật Phá sản và Luật Hòa
giải, đối thoại tại Tòa án, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2025.
[60] Cụm từ “,
quyết định giải quyết khiếu nại trong hoạt động kiểm toán nhà nước” được bổ
sung theo quy định tại khoản 7 Điều 2 của Luật số 55/2019/QH14 sửa đổi, bổ sung
một số điều của Luật Kiểm toán nhà nước, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm
2020.
[61] Cụm từ “,
quyết định giải quyết khiếu nại trong hoạt động kiểm toán nhà nước” được bổ
sung theo quy định tại khoản 7 Điều 2 của Luật số 55/2019/QH14 sửa đổi, bổ sung
một số điều của Luật Kiểm toán nhà nước, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm
2020.
[62] Cụm từ “,
quyết định giải quyết khiếu nại trong hoạt động kiểm toán nhà nước” được bổ
sung theo quy định tại khoản 7 Điều 2 của Luật số 55/2019/QH14 sửa đổi, bổ sung
một số điều của Luật Kiểm toán nhà nước, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm
2020.
[63] Cụm từ “,
quyết định giải quyết khiếu nại trong hoạt động kiểm toán nhà nước” được bổ
sung theo quy định tại khoản 7 Điều 2 của Luật số 55/2019/QH14 sửa đổi, bổ sung
một số điều của Luật Kiểm toán nhà nước, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm
2020.
[64] Cụm từ “,
quyết định giải quyết khiếu nại trong hoạt động kiểm toán nhà nước” được bổ
sung theo quy định tại khoản 7 Điều 2 của Luật số 55/2019/QH14 sửa đổi, bổ sung
một số điều của Luật Kiểm toán nhà nước, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm
2020.
[65] Khoản này
được sửa đổi, bổ sung theo quy định tại khoản 11 Điều 2 của Luật số
85/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Tố tụng dân sự, Luật Tố
tụng hành chính, Luật Tư pháp người chưa thành niên, Luật Phá sản và Luật Hòa
giải, đối thoại tại Tòa án, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2025.
[66] Điều này được
sửa đổi, bổ sung theo quy định tại khoản 12 Điều 2 của Luật số 85/2025/QH15 sửa
đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Tố tụng dân sự, Luật Tố tụng hành chính,
Luật Tư pháp người chưa thành niên, Luật Phá sản và Luật Hòa giải, đối thoại
tại Tòa án, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2025.
[67] Khoản này
được sửa đổi, bổ sung theo quy định tại khoản 13 Điều 2 của Luật số
85/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Tố tụng dân sự, Luật Tố
tụng hành chính, Luật Tư pháp người chưa thành niên, Luật Phá sản và Luật Hòa
giải, đối thoại tại Tòa án, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2025.
[68] Khoản này
được sửa đổi, bổ sung theo quy định tại khoản 13 Điều 2 của Luật số
85/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Tố tụng dân sự, Luật Tố
tụng hành chính, Luật Tư pháp người chưa thành niên, Luật Phá sản và Luật Hòa
giải, đối thoại tại Tòa án, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2025.
[69] Khoản này
được sửa đổi, bổ sung theo quy định tại khoản 13 Điều 2 của Luật số
85/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Tố tụng dân sự, Luật Tố
tụng hành chính, Luật Tư pháp người chưa thành niên, Luật Phá sản và Luật Hòa
giải, đối thoại tại Tòa án, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2025.
[70] Điều này được
sửa đổi, bổ sung theo quy định tại khoản 14 Điều 2 của Luật số 85/2025/QH15 sửa
đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Tố tụng dân sự, Luật Tố tụng hành chính,
Luật Tư pháp người chưa thành niên, Luật Phá sản và Luật Hòa giải, đối thoại
tại Tòa án, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2025.
[71] Khoản này
được sửa đổi, bổ sung theo quy định tại khoản 15 Điều 2 của Luật số
85/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Tố tụng dân sự, Luật Tố
tụng hành chính, Luật Tư pháp người chưa thành niên, Luật Phá sản và Luật Hòa
giải, đối thoại tại Tòa án, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2025.
[72] Khoản này
được sửa đổi, bổ sung theo quy định tại khoản 15 Điều 2 của Luật số
85/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Tố tụng dân sự, Luật Tố
tụng hành chính, Luật Tư pháp người chưa thành niên, Luật Phá sản và Luật Hòa
giải, đối thoại tại Tòa án, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2025.
[73] Điểm này được
sửa đổi, bổ sung theo quy định tại khoản 16 Điều 2 của Luật số 85/2025/QH15 sửa
đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Tố tụng dân sự, Luật Tố tụng hành chính,
Luật Tư pháp người chưa thành niên, Luật Phá sản và Luật Hòa giải, đối thoại
tại Tòa án, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2025.
[74] Khoản này
được sửa đổi, bổ sung theo quy định tại khoản 17 Điều 2 của Luật số
85/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Tố tụng dân sự, Luật Tố
tụng hành chính, Luật Tư pháp người chưa thành niên, Luật Phá sản và Luật Hòa
giải, đối thoại tại Tòa án, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2025.
[75] Khoản này
được sửa đổi, bổ sung theo quy định tại khoản 18 Điều 2 của Luật số
85/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Tố tụng dân sự, Luật Tố
tụng hành chính, Luật Tư pháp người chưa thành niên, Luật Phá sản và Luật Hòa
giải, đối thoại tại Tòa án, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2025.
[76] Khoản này
được sửa đổi, bổ sung theo quy định tại khoản 18 Điều 2 của Luật số
85/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Tố tụng dân sự, Luật Tố
tụng hành chính, Luật Tư pháp người chưa thành niên, Luật Phá sản và Luật Hòa
giải, đối thoại tại Tòa án, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2025.
[77] Cụm từ “Ủy
ban Tư pháp của Quốc hội” được thay thế bằng cụm từ “Ủy ban Pháp luật và Tư
pháp của Quốc hội” theo quy định tại khoản 21 Điều 2 của Luật số 85/2025/QH15
sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Tố tụng dân sự, Luật Tố tụng hành
chính, Luật Tư pháp người chưa thành niên, Luật Phá sản và Luật Hòa giải, đối
thoại tại Tòa án, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2025.
[78] Cụm từ “Ủy
ban Tư pháp của Quốc hội” được thay thế bằng cụm từ “Ủy ban Pháp luật và Tư
pháp của Quốc hội” theo quy định tại khoản 21 Điều 2 của Luật số 85/2025/QH15
sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Tố tụng dân sự, Luật Tố tụng hành
chính, Luật Tư pháp người chưa thành niên, Luật Phá sản và Luật Hòa giải, đối
thoại tại Tòa án, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2025.
[79] Cụm từ “Ủy
ban Tư pháp của Quốc hội” được thay thế bằng cụm từ “Ủy ban Pháp luật và Tư
pháp của Quốc hội” theo quy định tại khoản 21 Điều 2 của Luật số 85/2025/QH15
sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Tố tụng dân sự, Luật Tố tụng hành
chính, Luật Tư pháp người chưa thành niên, Luật Phá sản và Luật Hòa giải, đối
thoại tại Tòa án, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2025.
[80] Cụm từ “Ủy
ban Tư pháp của Quốc hội” được thay thế bằng cụm từ “Ủy ban Pháp luật và Tư
pháp của Quốc hội” theo quy định tại khoản 21 Điều 2 của Luật số 85/2025/QH15
sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Tố tụng dân sự, Luật Tố tụng hành
chính, Luật Tư pháp người chưa thành niên, Luật Phá sản và Luật Hòa giải, đối
thoại tại Tòa án, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2025.
[81] Cụm từ “Ủy
ban Tư pháp của Quốc hội” được thay thế bằng cụm từ “Ủy ban Pháp luật và Tư
pháp của Quốc hội” theo quy định tại khoản 21 Điều 2 của Luật số 85/2025/QH15
sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Tố tụng dân sự, Luật Tố tụng hành
chính, Luật Tư pháp người chưa thành niên, Luật Phá sản và Luật Hòa giải, đối
thoại tại Tòa án, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2025.
[82] Cụm từ “Ủy
ban Tư pháp của Quốc hội” được thay thế bằng cụm từ “Ủy ban Pháp luật và Tư
pháp của Quốc hội” theo quy định tại khoản 21 Điều 2 của Luật số 85/2025/QH15
sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Tố tụng dân sự, Luật Tố tụng hành
chính, Luật Tư pháp người chưa thành niên, Luật Phá sản và Luật Hòa giải, đối
thoại tại Tòa án, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2025.
[83] Cụm từ “Ủy
ban Tư pháp của Quốc hội” được thay thế bằng cụm từ “Ủy ban Pháp luật và Tư
pháp của Quốc hội” theo quy định tại khoản 21 Điều 2 của Luật số 85/2025/QH15
sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Tố tụng dân sự, Luật Tố tụng hành
chính, Luật Tư pháp người chưa thành niên, Luật Phá sản và Luật Hòa giải, đối
thoại tại Tòa án, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2025.
[84] Cụm từ “Ủy
ban Tư pháp của Quốc hội” được thay thế bằng cụm từ “Ủy ban Pháp luật và Tư
pháp của Quốc hội” theo quy định tại khoản 21 Điều 2 của Luật số 85/2025/QH15
sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Tố tụng dân sự, Luật Tố tụng hành
chính, Luật Tư pháp người chưa thành niên, Luật Phá sản và Luật Hòa giải, đối
thoại tại Tòa án, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2025.
[85] Cụm từ “Ủy
ban Tư pháp của Quốc hội” được thay thế bằng cụm từ “Ủy ban Pháp luật và Tư
pháp của Quốc hội” theo quy định tại khoản 21 Điều 2 của Luật số 85/2025/QH15
sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Tố tụng dân sự, Luật Tố tụng hành
chính, Luật Tư pháp người chưa thành niên, Luật Phá sản và Luật Hòa giải, đối
thoại tại Tòa án, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2025.
[86] Cụm từ “Ủy
ban Tư pháp của Quốc hội” được thay thế bằng cụm từ “Ủy ban Pháp luật và Tư
pháp của Quốc hội” theo quy định tại khoản 21 Điều 2 của Luật số 85/2025/QH15
sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Tố tụng dân sự, Luật Tố tụng hành
chính, Luật Tư pháp người chưa thành niên, Luật Phá sản và Luật Hòa giải, đối
thoại tại Tòa án, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2025.
[87] Cụm từ “Ủy
ban Tư pháp của Quốc hội” được thay thế bằng cụm từ “Ủy ban Pháp luật và Tư
pháp của Quốc hội” theo quy định tại khoản 21 Điều 2 của Luật số 85/2025/QH15
sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Tố tụng dân sự, Luật Tố tụng hành
chính, Luật Tư pháp người chưa thành niên, Luật Phá sản và Luật Hòa giải, đối
thoại tại Tòa án, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2025.
[88] Cụm từ “Ủy
ban Tư pháp của Quốc hội” được thay thế bằng cụm từ “Ủy ban Pháp luật và Tư
pháp của Quốc hội” theo quy định tại khoản 21 Điều 2 của Luật số 85/2025/QH15
sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Tố tụng dân sự, Luật Tố tụng hành
chính, Luật Tư pháp người chưa thành niên, Luật Phá sản và Luật Hòa giải, đối
thoại tại Tòa án, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2025.
[89] Cụm từ “Ủy
ban Tư pháp của Quốc hội” được thay thế bằng cụm từ “Ủy ban Pháp luật và Tư
pháp của Quốc hội” theo quy định tại khoản 21 Điều 2 của Luật số 85/2025/QH15
sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Tố tụng dân sự, Luật Tố tụng hành
chính, Luật Tư pháp người chưa thành niên, Luật Phá sản và Luật Hòa giải, đối
thoại tại Tòa án, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2025.
[90] Điểm này được
sửa đổi, bổ sung theo quy định tại khoản 6 Điều 2 của Luật số 55/2019/QH14 sửa
đổi, bổ sung một số điều của Luật Kiểm toán nhà nước, có hiệu lực kể từ ngày 01
tháng 7 năm 2020.
[91] Điểm này được
sửa đổi, bổ sung theo quy định tại khoản 6 Điều 2 của Luật số 55/2019/QH14 sửa
đổi, bổ sung một số điều của Luật Kiểm toán nhà nước, có hiệu lực kể từ ngày 01
tháng 7 năm 2020.
[92] Cụm từ “Ủy
ban Tư pháp của Quốc hội” được thay thế bằng cụm từ “Ủy ban Pháp luật và Tư
pháp của Quốc hội” theo quy định tại khoản 21 Điều 2 của Luật số 85/2025/QH15
sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Tố tụng dân sự, Luật Tố tụng hành
chính, Luật Tư pháp người chưa thành niên, Luật Phá sản và Luật Hòa giải, đối
thoại tại Tòa án, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2025.
[93] Cụm từ “,
quyết định giải quyết khiếu nại trong hoạt động kiểm toán nhà nước” được bổ
sung theo quy định tại khoản 7 Điều 2 của Luật số 55/2019/QH14 sửa đổi, bổ sung
một số điều của Luật Kiểm toán nhà nước, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm
2020.
[94] Cụm từ “,
quyết định giải quyết khiếu nại trong hoạt động kiểm toán nhà nước” được bổ
sung theo quy định tại khoản 7 Điều 2 của Luật số 55/2019/QH14 sửa đổi, bổ sung
một số điều của Luật Kiểm toán nhà nước, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm
2020.
[95] Cụm từ “cơ
quan thi hành án dân sự cùng cấp với Tòa án đã xét xử sơ thẩm vụ án đó” được
thay thế bằng cụm từ “cơ quan thi hành án dân sự có thẩm quyền” theo quy định
tại khoản 20 Điều 2 của Luật số 85/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều của
Bộ luật Tố tụng dân sự, Luật Tố tụng hành chính, Luật Tư pháp người chưa thành
niên, Luật Phá sản và Luật Hòa giải, đối thoại tại Tòa án, có hiệu lực kể từ
ngày 01 tháng 7 năm 2025.
[96] Khoản này
được sửa đổi, bổ sung theo quy định tại điểm b khoản 3 Điều 150 của Luật Tổ
chức Tòa án nhân dân số 34/2024/QH15, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 01 năm
2025.
[97] Điều này được
bãi bỏ theo quy định tại điểm c khoản 3 Điều 150 của Luật Tổ chức Tòa án nhân
dân số 34/2024/QH15, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 01 năm 2025.
[98] Cụm từ “Thẩm
tra viên” được thay thế bằng cụm từ “Thẩm tra viên Tòa án” theo quy định tại
khoản 22 Điều 2 của Luật số 85/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ
luật Tố tụng dân sự, Luật Tố tụng hành chính, Luật Tư pháp người chưa thành
niên, Luật Phá sản và Luật Hòa giải, đối thoại tại Tòa án, có hiệu lực kể từ
ngày 01 tháng 7 năm 2025.
[99] Điều 3 của
Luật số 55/2019/QH14 sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Kiểm toán nhà nước,
có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2020 quy định như sau:
“Điều 3. Hiệu lực thi hành
Luật này có hiệu lực thi hành từ ngày 01
tháng 7 năm 2020.”.
Điều 151 của Luật Tổ chức Tòa án nhân dân số
34/2024/QH15, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 01 năm 2025 quy định như sau:
“Điều 151. Hiệu lực thi hành
1. Luật này có hiệu lực thi hành từ ngày 01
tháng 01 năm 2025.
2. Luật Tổ chức Tòa án nhân dân số
62/2014/QH13 hết hiệu lực từ ngày Luật này có hiệu lực thi hành, trừ trường hợp
quy định tại khoản 1 và khoản 2 Điều 152 của Luật này.”.
Điều 6 của Luật số 85/2025/QH15 sửa đổi, bổ
sung một số điều của Bộ luật Tố tụng dân sự, Luật Tố tụng hành chính, Luật Tư
pháp người chưa thành niên, Luật Phá sản và Luật Hòa giải, đối thoại tại Tòa
án, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2025 quy định như sau:
“Điều 6. Hiệu lực thi
hành
Luật này có hiệu lực thi hành từ ngày 01
tháng 7 năm 2025, trừ trường hợp Luật Tư pháp người chưa thành niên có quy định
khác.”.
Việc thi hành Luật số 85/2025/QH15 sửa đổi,
bổ sung một số điều của Bộ luật Tố tụng dân sự, Luật Tố tụng hành chính, Luật
Tư pháp người chưa thành niên, Luật Phá sản và Luật Hòa giải, đối thoại tại Tòa
án được thực hiện theo Nghị quyết số 225/2025/QH15 ngày 27 tháng 6 năm 2025 của
Quốc hội về việc thi hành Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Tổ chức
Tòa án nhân dân, Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Tổ chức Viện kiểm
sát nhân dân, các luật tố tụng và luật khác có liên quan, có hiệu lực kể từ
ngày 01 tháng 7 năm 2025.
Điều 37 và Điều 38 của Luật Tương trợ tư pháp
về dân sự số 102/2025/QH15, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2026 quy định
như sau:
“Điều 37. Hiệu lực thi hành
1. Luật này có hiệu lực thi hành từ ngày 01
tháng 7 năm 2026.
2. Luật Tương trợ tư pháp số 08/2007/QH12 đã
được sửa đổi, bổ sung một số điều theo Luật số 81/2025/QH15 hết hiệu lực kể từ
ngày Luật này có hiệu lực thi hành, trừ trường hợp chuyển tiếp quy định tại
khoản 1 Điều 38 của Luật này, Điều 45 của Luật Dẫn độ, Điều 48 của Luật Chuyển
giao người đang chấp hành án phạt tù và khoản 1 Điều 42 của Luật Tương trợ tư
pháp về hình sự.
Điều 38. Điều khoản chuyển tiếp
1. Các yêu cầu tương trợ tư pháp về dân sự mà
Bộ Tư pháp tiếp nhận trước ngày Luật này có hiệu lực thi hành thì tiếp tục được
xem xét, giải quyết theo quy định của Luật Tương trợ tư pháp số 08/2007/QH12 đã
được sửa đổi, bổ sung một số điều theo Luật số 81/2025/QH15.
2. Quy định “ủy thác tư pháp” trong lĩnh vực
dân sự theo khoản 1 Điều 6 của Luật Tương trợ tư pháp số 08/2007/QH12 đã được
sửa đổi, bổ sung một số điều theo Luật số 81/2025/QH15 tại các văn bản quy phạm
pháp luật hiện hành được sử dụng tương đương quy định “yêu cầu tương trợ tư
pháp về dân sự” quy định tại Luật này.”.
[100] Điều này được
bổ sung theo quy định tại Điều 36 của Luật Tương trợ tư pháp về dân sự số
102/2025/QH15, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2026.
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét