|
|
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM |
NGHỊ ĐỊNH
Quy định về bồi thường,
hỗ trợ, tái định cư khi nhà nước thu hồi đất
Nghị định số
88/2024/NĐ-CP ngày 15 tháng 7 năm 2024 của Chính phủ quy định về bồi thường, hỗ
trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 8
năm 2024, được sửa đổi, bổ sung bởi:
Nghị định số
151/2025/NĐ-CP ngày 12 tháng 6 năm 2025 của Chính phủ quy định về phân định
thẩm quyền của chính quyền địa phương 2 cấp, phân quyền, phân cấp trong lĩnh
vực đất đai, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2025.
Nghị định số
226/2025/NĐ-CP ngày 15 tháng 8 năm 2025 của Chính phủ sửa đổi, bổ sung một số
điều của các nghị định quy định chi tiết thi hành Luật Đất đai, có hiệu lực kể
từ ngày 15 tháng 8 năm 2025.
Nghị định số
49/2026/NĐ-CP ngày 31 tháng 01 năm 2026 của Chính phủ quy định chi tiết và
hướng dẫn một số điều của Nghị quyết số 254/2025/QH15 của Quốc hội quy định một
số cơ chế, chính sách tháo gỡ khó khăn, vướng mắc trong tổ chức thi hành Luật
Đất đai, có hiệu lực kể từ ngày 31 tháng 01 năm 2026.
Căn cứ Luật Tổ
chức Chính phủ ngày 19 tháng 6 năm 2015; Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của
Luật Tổ chức Chính phủ và Luật Tổ chức chính quyền địa phương ngày 22 tháng 11
năm 2019;
Căn cứ Luật Đất
đai ngày 18 tháng 01 năm 2024; Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Đất
đai, Luật Nhà ở, Luật Kinh doanh bất động sản và Luật Các tổ chức tín dụng ngày
29 tháng 6 năm 2024;
Theo đề nghị
của Bộ trưởng Bộ Tài nguyên và Môi trường;
Chính phủ ban
hành Nghị định quy định về bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước
thu hồi đất.[1]
Chương I
QUY ĐỊNH CHUNG
chươ
Điều 1. Phạm vi
điều chỉnh
Nghị định này
quy định chi tiết, hướng dẫn thi hành khoản 3 Điều 87, Điều 92, Điều 94, Điều
95, Điều 96, Điều 98, Điều 99, Điều 100, Điều 102, Điều 106, Điều 107, Điều
108, Điều 109 và Điều 111 của Luật Đất đai về bồi thường, hỗ trợ, tái định cư
khi Nhà nước thu hồi đất.
Việc bồi
thường, hỗ trợ, tái định cư khi thực hiện dự án đầu tư cải tạo, xây dựng lại
nhà chung cư theo quy định của pháp luật về nhà ở.
Điều 2. Đối
tượng áp dụng
1. Cơ quan nhà
nước thực hiện quyền hạn và trách nhiệm đại diện chủ sở hữu toàn dân về đất đai,
thực hiện nhiệm vụ thống nhất quản lý nhà nước về đất đai[2];
đơn vị, tổ chức thực hiện nhiệm vụ bồi thường, hỗ trợ, tái định cư.
2. Người có đất
thu hồi và chủ sở hữu tài sản gắn liền với đất thu hồi.
3. Các đối
tượng khác có liên quan đến việc bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước
thu hồi đất.
Điều 3. Lập,
thẩm định, phê duyệt phương án bồi thường, hỗ trợ, tái định cư
1. Nội dung
phương án bồi thường, hỗ trợ, tái định cư gồm:
a) Tổng diện
tích đất thu hồi (tổng hợp các phương án chi tiết tại khoản 2 Điều này), diện
tích từng loại đất thu hồi;
b) Tổng số
người có đất thu hồi;
c) Phương án
đào tạo, chuyển đổi nghề và tìm kiếm việc làm (nếu có);
d) Phương án bố
trí tái định cư: số hộ gia đình, cá nhân được bố trí tái định cư, các khu tái
định cư, địa điểm khu tái định cư, hình thức tái định cư (bằng đất, bằng nhà ở)
(nếu có);
đ) Phương án di
dời mồ mả trong phạm vi đất thu hồi (nếu có);
e) Phương án di
chuyển các công trình hạ tầng trong phạm vi đất thu hồi (nếu có);
g) Kinh phí bồi
thường, hỗ trợ, tái định cư bao gồm: tiền bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi
Nhà nước thu hồi đất; chi phí bảo đảm cho việc tổ chức thực hiện bồi thường, hỗ
trợ, tái định cư và chi phí khác;
h) Tiến độ thực
hiện phương án bồi thường, hỗ trợ, tái định cư;
i) Phương án
chi tiết về bồi thường, hỗ trợ, tái định cư đối với từng người có đất thu hồi,
chủ sở hữu tài sản;
k) Các nội dung
khác liên quan đến bồi thường, hỗ trợ, tái định cư (nếu có).
2. Phương án
chi tiết về bồi thường, hỗ trợ, tái định cư đối với từng người có đất thu hồi,
chủ sở hữu tài sản quy định tại điểm i khoản 1 Điều này gồm các nội dung sau:
a) Họ và tên,
số định danh cá nhân, địa chỉ (nơi thường trú và nơi ở hiện nay), số điện thoại
của người có đất thu hồi, chủ sở hữu tài sản (nếu có);
b) Vị trí, diện
tích, loại đất, nguồn gốc đất thu hồi;
c) Loại tài
sản, số lượng, khối lượng tài sản; chất lượng còn lại của nhà, công trình xây
dựng bị thiệt hại;
d) Giá đất và
tài sản tính bồi thường;
đ) Các khoản hỗ
trợ: hỗ trợ ổn định đời sống (số nhân khẩu được hỗ trợ, mức hỗ trợ, thời gian
hỗ trợ); hỗ trợ ổn định sản xuất kinh doanh; hỗ trợ di dời vật nuôi; hỗ trợ đào
tạo, chuyển đổi nghề và tìm kiếm việc làm (diện tích đất hỗ trợ, giá đất hỗ
trợ); hỗ trợ tái định cư; hỗ trợ để tháo dỡ, phá dỡ, di dời; các khoản hỗ trợ
khác (nếu có);
e) Tổng số tiền
bồi thường, hỗ trợ: tiền bồi thường về đất, tiền bồi thường tài sản, tiền bồi
thường chi phí di chuyển tài sản, tiền bồi thường chi phí đầu tư vào đất còn
lại, tiền hỗ trợ;
g) Vị trí, diện
tích, tiền sử dụng đất khi giao đất tái định cư, giá bán nhà ở tái định cư cho
người được bố trí tái định cư hoặc giao đất khác cho hộ gia đình, cá nhân (nếu
có);
h) Vị trí, diện
tích đất khi giao đất, cho thuê đất có cùng mục đích sử dụng với loại đất thu
hồi cho tổ chức; cho thuê đất có cùng mục đích sử dụng với loại đất thu hồi cho
hộ gia đình, cá nhân (nếu có);
i) Vị trí, diện
tích, tiền sử dụng đất khi bồi thường bằng đất có mục đích sử dụng khác với
loại đất thu hồi hoặc bằng nhà ở cho hộ gia đình, cá nhân (nếu có);
k) Số tiền chưa
thực hiện nghĩa vụ tài chính về đất đai (nếu có);
l) Tổng số tiền
bồi thường, hỗ trợ được nhận sau khi đã trừ đi tiền sử dụng đất, tiền thuê đất
phải nộp vào số tiền được bồi thường về đất (nếu có);
m) Số tiền được
ghi nợ tiền sử dụng đất khi được giao đất tái định cư (nếu có);
n)[3] Việc bố trí tạm cư, thời gian và kinh
phí tạm cư (nếu có).
3. Trong thời
hạn không quá 30 ngày kể từ ngày nhận đủ hồ sơ theo quy định, cơ quan có chức
năng quản lý đất đai ở địa phương có trách nhiệm chủ trì, phối hợp với các cơ
quan có liên quan thẩm định phương án bồi thường, hỗ trợ, tái định cư trình Ủy
ban nhân dân cùng cấp phê duyệt. Việc thẩm định phương án bồi thường, hỗ trợ,
tái định cư cụ thể như sau:
a) Đơn vị, tổ
chức thực hiện nhiệm vụ bồi thường, hỗ trợ, tái định cư gửi hồ sơ thẩm định
theo quy định tại điểm b khoản này đến cơ quan thẩm định phương án bồi thường,
hỗ trợ, tái định cư;
b) Hồ sơ gửi
thẩm định phương án bồi thường, hỗ trợ, tái định cư bao gồm: văn bản đề nghị
thẩm định; dự thảo phương án bồi thường, hỗ trợ, tái định cư; thông báo thu hồi
đất; văn bản kiểm đếm, thống kê, phân loại diện tích đất thu hồi và tài sản;
trích lục bản đồ địa chính hoặc trích đo địa chính thửa đất thu hồi; văn bản
xác định nguồn gốc thửa đất thu hồi và tài sản gắn liền với đất; biên bản tổ
chức lấy ý kiến về phương án bồi thường, hỗ trợ, tái định cư; các giấy tờ khác
có liên quan (nếu có);
c) Nội dung
thẩm định bao gồm: việc tuân thủ quy định pháp luật về bồi thường, hỗ trợ, tái
định cư; trình tự, thủ tục bồi thường, hỗ trợ, tái định cư và các nội dung khác
có liên quan đến phương án bồi thường, hỗ trợ, tái định cư.
4. Cơ quan, tổ
chức, người có thẩm quyền lập, thẩm định, quyết định phê duyệt phương án bồi
thường, hỗ trợ, tái định cư chịu trách nhiệm thực hiện đúng thẩm quyền theo quy
định của pháp luật, không chịu trách nhiệm về những nội dung trong các văn bản,
giấy tờ có trong hồ sơ đã được cơ quan, tổ chức, người có thẩm quyền khác chấp
thuận, quyết định hoặc giải quyết trước đó.[4]
Điều 4. Bồi
thường bằng đất có mục đích sử dụng khác với loại đất thu hồi hoặc bằng nhà ở
khi Nhà nước thu hồi đất quy định tại khoản 1 Điều 96, khoản 1
Điều 98, khoản 1 Điều 99 của Luật Đất đai
1.[5] Giá đất tính tiền sử dụng đất, tiền
thuê đất khi bồi thường bằng đất có mục đích sử dụng khác với loại đất thu hồi
là giá đất theo loại đất được giao, được cho thuê tại thời điểm phê duyệt
phương án bồi thường, hỗ trợ, tái định cư.
2. Người có đất
thu hồi được bồi thường bằng đất có mục đích sử dụng khác với loại đất thu hồi
hoặc bằng nhà ở mà có chênh lệch giá trị giữa tiền bồi thường, hỗ trợ về đất
với tiền sử dụng đất, tiền thuê đất phải nộp khi được giao đất, thuê đất khác
hoặc tiền mua nhà ở thì xử lý như sau:
a) Trường hợp
tiền bồi thường, hỗ trợ về đất lớn hơn tiền sử dụng đất, tiền thuê đất phải nộp
khi được giao đất, thuê đất có mục đích sử dụng khác với loại đất thu hồi hoặc
tiền mua nhà ở thì người có đất thu hồi được nhận phần chênh lệch;
b) Trường hợp
tiền bồi thường, hỗ trợ về đất nhỏ hơn tiền sử dụng đất, tiền thuê đất phải nộp
khi được giao đất, thuê đất có mục đích sử dụng khác với loại đất thu hồi hoặc
tiền mua nhà ở thì người có đất thu hồi phải nộp phần chênh lệch.
3. Ủy ban nhân
dân cấp tỉnh căn cứ quỹ đất, quỹ nhà và tình hình thực tế tại địa phương quy
định tỷ lệ quy đổi, điều kiện bồi thường bằng đất có mục đích sử dụng khác với
loại đất thu hồi hoặc bằng nhà ở để bồi thường cho người có đất thu hồi quy
định tại Điều này.
Điều 5. Các
trường hợp khác được bồi thường về đất và điều kiện được bồi thường về đất quy
định tại khoản 3 Điều 95 của Luật Đất đai
1. Hộ gia đình,
cá nhân đang sử dụng đất không có giấy tờ về quyền sử dụng đất mà đủ điều kiện
cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu tài sản gắn liền với đất
(sau đây gọi là Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất) theo quy định tại các khoản
1, 2, 3, 4, 5 và 6 Điều 138 của Luật Đất đai.
2.[6] Hộ gia đình, cá nhân đang sử dụng đất
có vi phạm pháp luật về đất đai trước ngày 01 tháng 7 năm 2014 mà đã sử dụng
đất ổn định, thuộc các trường hợp được xem xét cấp Giấy chứng nhận quyền sử
dụng đất theo quy định tại khoản 1, điểm a và điểm c khoản 2, khoản 3, khoản 4
Điều 139 của Luật Đất đai mà không phải đáp ứng điều kiện phù hợp với quy
hoạch.
3. Hộ gia đình,
cá nhân đang sử dụng đất được giao không đúng thẩm quyền theo quy định của pháp
luật về đất đai tại thời điểm được giao hoặc sử dụng đất do mua, nhận thanh lý,
hóa giá, phân phối nhà ở, công trình xây dựng gắn liền với đất không đúng quy định
của pháp luật nhưng đã sử dụng đất ổn định trước ngày ngày 01 tháng 7 năm 2014.
Đối với trường
hợp đất được giao không đúng thẩm quyền từ ngày 01 tháng 7 năm 2014 đến trước
ngày Luật Đất đai có hiệu lực thi hành có giấy tờ chứng minh đã nộp tiền để
được sử dụng đất.
4. Hộ gia đình,
cá nhân đang sử dụng đất có giấy tờ về quyền sử dụng đất mà loại đất xác định
trên giấy tờ đã cấp khác với phân loại đất theo quy định tại Điều 9 của Luật
Đất đai hoặc khác với hiện trạng sử dụng đất thì bồi thường theo loại đất sau
khi được xác định lại theo quy định tại khoản 2 Điều 10 của Luật Đất đai.
5. Hộ gia đình,
cá nhân trực tiếp sản xuất nông nghiệp đang sử dụng đất nông nghiệp mà đất đó
đã sử dụng ổn định trước ngày 01 tháng 7 năm 2004 nhưng không đủ điều kiện cấp
Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.
Điều 6. Bồi
thường về đất khi Nhà nước thu hồi đất đối với trường hợp diện tích đo đạc thực
tế khác với diện tích ghi trên giấy tờ về quyền sử dụng đất
Hộ gia đình, cá
nhân đang sử dụng đất khi Nhà nước thu hồi đất mà diện tích đo đạc thực tế khác
với diện tích ghi trên Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, Giấy chứng nhận quyền
sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất ở, Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở
hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất, Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất,
quyền sở hữu tài sản gắn liền với đất đã cấp (sau đây gọi chung là Giấy chứng
nhận) hoặc giấy tờ quy định tại Điều 137 của Luật Đất đai thì bồi thường về đất
như sau:
1. Nếu diện
tích đo đạc thực tế nhỏ hơn diện tích ghi trên Giấy chứng nhận hoặc giấy tờ quy
định tại Điều 137 của Luật Đất đai thì bồi thường về đất theo diện tích đo đạc
thực tế theo quy định tại khoản 6 Điều 135 của Luật Đất đai.
Trường hợp đã
hoàn thành việc đo đạc thực tế phục vụ cho việc thu hồi đất mà sau đó do thiên
tai, sạt lở, sụt lún dẫn đến tại thời điểm lập phương án bồi thường, hỗ trợ,
tái định cư diện tích của thửa đất đã đo đạc bị thay đổi thì sử dụng số liệu đã
đo đạc để lập phương án bồi thường, hỗ trợ, tái định cư.
2. Trường hợp
có sự chênh lệch diện tích đất mà số liệu đo đạc thực tế lớn hơn số liệu ghi
trên Giấy chứng nhận hoặc giấy tờ quy định tại Điều 137 của Luật Đất đai, không
có tranh chấp với những người sử dụng đất liền kề thì diện tích bồi thường được
xác định theo số liệu đo đạc thực tế theo quy định tại khoản 6 Điều 135 của
Luật Đất đai.
3. Trường hợp
Giấy chứng nhận hoặc giấy tờ quy định tại Điều 137 của Luật Đất đai mà vị trí,
tọa độ không chính xác thì xem xét bồi thường theo đúng vị trí, tọa độ khi đo
đạc thực tế.
Điều 7. Bồi
thường, hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất đối với các trường hợp đặc
biệt
1. Đối với dự
án đầu tư quy định tại khoản 1 Điều 92 của Luật Đất đai mà cần có chính sách
đặc thù về bồi thường, hỗ trợ, tái định cư, căn cứ vào dự án đầu tư đã được
Quốc hội quyết định, chấp thuận chủ trương đầu tư, Thủ tướng Chính phủ quyết
định, chấp thuận chủ trương đầu tư thì Ủy ban nhân dân cấp tỉnh xem xét, trình
Hội đồng nhân dân cùng cấp quyết định chính sách đặc thù về bồi thường, hỗ trợ,
tái định cư phù hợp với từng dự án và điều kiện thực tế của địa phương.
2. Khi Nhà nước
thu hồi đất của đơn vị vũ trang nhân dân đang sử dụng đất quy định tại điểm b
khoản 3 Điều 92 của Luật Đất đai thì được bố trí vị trí mới hoặc chuyển đổi vị
trí đất phù hợp với quy hoạch sử dụng đất quốc phòng, quy hoạch sử dụng đất an
ninh hoặc quy định tại khoản 2 Điều 84 của Luật Đất đai.
Đơn vị vũ trang
nhân dân bị thiệt hại về tài sản do Nhà nước giao quản lý, sử dụng và phải di
dời đến cơ sở mới thì được bồi thường tài sản và được sử dụng tiền bồi thường
tài sản để đầu tư tại cơ sở mới theo dự án, nhiệm vụ được cấp có thẩm quyền phê
duyệt.
3. Đối với
trường hợp thu hồi đất do có nguy cơ đe dọa tính mạng con người hoặc không còn
khả năng tiếp tục sử dụng quy định tại khoản 3 Điều 82 của Luật Đất đai thì hộ
gia đình, cá nhân được bồi thường theo quy định tại các Điều 8, 9, 10, 11, 12,
13, 14, 15, 16 và 17 của Nghị định này.
4. Kinh phí bồi
thường, hỗ trợ đối với các trường hợp tại khoản 3 Điều này được thực hiện như
sau:
a) Ngân sách
nhà nước chi trả trong trường hợp thu hồi đất ở có nguy cơ sạt lở, sụt lún, bị
ảnh hưởng bởi hiện tượng thiên tai khác đe dọa tính mạng con người; đất khác bị
sạt lở, sụt lún, bị ảnh hưởng bởi hiện tượng thiên tai khác mà không còn khả
năng tiếp tục sử dụng quy định tại điểm b khoản 3 Điều 82 của Luật Đất đai;
b) Tổ chức, cá
nhân gây ra ô nhiễm môi trường chi trả trong trường hợp thu hồi đất ở trong khu
vực bị ô nhiễm môi trường có nguy cơ đe dọa tính mạng con người, đất khác trong
khu vực bị ô nhiễm môi trường không còn khả năng tiếp tục sử dụng theo mục đích
đã xác định. Trường hợp tổ chức đã giải thể, phá sản thì tiền bồi thường, hỗ
trợ do ngân sách nhà nước chi trả.
Điều 7a. Xử lý
trường hợp đã có quyết định thu hồi đất để thực hiện dự án mà có sự thay đổi về
quy hoạch, mốc giới, hướng tuyến[7]
Trong thời gian
xây dựng mà đã ban hành quyết định thu hồi đất theo quy định của Luật Đất đai
đối với thửa đất hoặc một phần diện tích của thửa đất nhưng có sự thay đổi về
quy hoạch, mốc giới, hướng tuyến nên chỉ sử dụng một phần diện tích đất đã thu
hồi để xây dựng dự án, công trình và hành lang bảo vệ an toàn dự án, công trình
thì Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã quyết định điều chỉnh quyết định thu hồi
đất, quyết định phê duyệt phương án bồi thường, hỗ trợ, tái định cư cho phù hợp
với tình hình thực tế theo đề nghị của chủ đầu tư hoặc của người sử dụng đất.
Chương II
QUY ĐỊNH CHI TIẾT VỀ
BỒI THƯỜNG, HỖ TRỢ, TÁI ĐỊNH CƯ KHI NHÀ NƯỚC THU HỒI ĐẤT
Mục 1. BỒI THƯỜNG
VỀ ĐẤT Ở, ĐẤT KHÁC TRONG THỬA ĐẤT CÓ NHÀ Ở, NHÀ Ở VÀ CÔNG TRÌNH PHỤC VỤ ĐỜI
SỐNG
Điều 8. Bồi
thường về đất đối với hộ gia đình, cá nhân đang sử dụng đất có nhà ở, nhà ở và
công trình phục vụ đời sống, hộ gia đình, cá nhân đang sử dụng đất ở thuộc vùng
có điều kiện kinh tế - xã hội khó khăn, vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc
biệt khó khăn trước ngày 01 tháng 7 năm 2014 mà không có giấy tờ về quyền sử
dụng đất
1. Hộ gia đình,
cá nhân đang sử dụng đất có nhà ở, nhà ở và công trình phục vụ đời sống trước
ngày 18 tháng 12 năm 1980 mà không có giấy tờ về quyền sử dụng đất nếu đủ điều
kiện được bồi thường quy định tại khoản 1 Điều 5 của Nghị định này thì việc bồi
thường về đất thực hiện theo quy định như sau:
a) Trường hợp
thu hồi toàn bộ hoặc một phần thửa đất có nhà ở, nhà ở và công trình phục vụ
đời sống mà diện tích thu hồi của thửa đất bằng hoặc lớn hơn hạn mức công nhận
đất ở quy định tại khoản 5 Điều 141 của Luật Đất đai thì được bồi thường bằng
hạn mức công nhận đất ở.
Đối với diện
tích đất đã xây dựng nhà ở, nhà ở và công trình phục vụ đời sống lớn hơn diện
tích đất ở được công nhận quy định tại khoản 5 Điều 141 của Luật Đất đai thì
được bồi thường về đất ở theo diện tích đất thực tế xây dựng nhà ở, nhà ở và
công trình phục vụ đời sống đó sau khi đã trừ tiền sử dụng đất phải nộp như khi
được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với phần diện tích đất vượt hạn
mức tại thời điểm phê duyệt phương án bồi thường, hỗ trợ, tái định cư;
b) Trường hợp
thu hồi toàn bộ hoặc một phần thửa đất có nhà ở, nhà ở và công trình phục vụ
đời sống mà diện tích thửa đất nhỏ hơn hạn mức công nhận đất ở quy định tại
khoản 5 Điều 141 của Luật Đất đai thì được bồi thường về đất ở đối với toàn bộ
diện tích đất thu hồi;
c) Trường hợp
thu hồi diện tích đất sử dụng vào mục đích sản xuất, kinh doanh phi nông
nghiệp, thương mại, dịch vụ thì bồi thường theo diện tích thực tế đã sử dụng bị
thu hồi; loại đất tính bồi thường được áp dụng như đất được Nhà nước giao đất
có thu tiền sử dụng đất, thời hạn sử dụng đất ổn định lâu dài;
d) Đối với phần
diện tích đất còn lại của thửa đất không được bồi thường đất ở và đất cơ sở sản
xuất phi nông nghiệp, đất thương mại, dịch vụ theo quy định tại điểm a và điểm
c khoản này thì được bồi thường theo loại đất nông nghiệp.
2. Hộ gia đình,
cá nhân đang sử dụng đất có nhà ở, nhà ở và công trình phục vụ đời sống từ ngày
18 tháng 12 năm 1980 đến trước ngày 15 tháng 10 năm 1993 mà không có giấy tờ về
quyền sử dụng đất nếu đủ điều kiện được bồi thường quy định tại khoản 1 Điều 5
của Nghị định này thì việc bồi thường về đất thực hiện theo quy định như sau:
a) Trường hợp
thu hồi toàn bộ hoặc một phần thửa đất có nhà ở, nhà ở và công trình phục vụ
đời sống nếu diện tích thu hồi của thửa đất bằng hoặc lớn hơn hạn mức công nhận
đất ở quy định tại khoản 5 Điều 141 của Luật Đất đai thì được bồi thường bằng
hạn mức công nhận đất ở.
Đối với diện
tích đất đã xây dựng nhà ở, nhà ở và công trình phục vụ đời sống lớn hơn diện
tích đất ở được công nhận quy định tại khoản 5 Điều 141 của Luật Đất đai thì
được bồi thường về đất ở theo diện tích đất thực tế xây dựng nhà ở, nhà ở và
công trình phục vụ đời sống đó sau khi đã trừ tiền sử dụng đất phải nộp như khi
được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với phần diện tích đất vượt hạn
mức tại thời điểm phê duyệt phương án bồi thường, hỗ trợ, tái định cư;
b) Trường hợp
thu hồi toàn bộ hoặc một phần thửa đất có nhà ở, nhà ở và công trình phục vụ
đời sống nếu diện tích thu hồi của thửa đất nhỏ hơn hạn mức công nhận đất ở quy
định tại khoản 5 Điều 141 của Luật Đất đai thì được bồi thường về đất ở đối với
toàn bộ diện tích đất thu hồi;
c) Trường hợp
thu hồi diện tích đất sử dụng vào mục đích sản xuất, kinh doanh phi nông
nghiệp, thương mại, dịch vụ thì bồi thường theo diện tích đất thực tế đã sử
dụng bị thu hồi; loại đất tính bồi thường được áp dụng như đối với trường hợp
đất được Nhà nước giao đất có thu tiền sử dụng đất, thời hạn sử dụng đất ổn
định lâu dài;
d) Đối với phần
diện tích đất còn lại của thửa đất không được bồi thường đất ở và đất cơ sở sản
xuất phi nông nghiệp, đất thương mại, dịch vụ theo quy định tại điểm a và điểm
c khoản này thì được bồi thường theo loại đất nông nghiệp.
3. Hộ gia đình,
cá nhân đang sử dụng đất có nhà ở, nhà ở và công trình phục vụ đời sống từ ngày
15 tháng 10 năm 1993 đến trước ngày 01 tháng 7 năm 2014 mà không có giấy tờ về
quyền sử dụng đất nếu đủ điều kiện được bồi thường quy định tại khoản 1 Điều 5 của
Nghị định này thì việc bồi thường về đất thực hiện theo quy định như sau:
a) Trường hợp
thu hồi toàn bộ hoặc một phần thửa đất có nhà ở, nhà ở và công trình phục vụ
đời sống nếu diện tích thu hồi của thửa đất bằng hoặc lớn hơn hạn mức giao đất
ở quy định tại khoản 2 Điều 195 và khoản 2 Điều 196 của Luật Đất đai thì được
bồi thường về đất ở bằng hạn mức giao đất ở.
Đối với diện
tích đất đã xây dựng nhà ở, nhà ở và công trình phục vụ đời sống lớn hơn hạn
mức giao đất ở thì được bồi thường về đất ở đối với diện tích thực tế đã xây
dựng nhà ở, nhà ở và công trình phục vụ đời sống đó;
b) Trường hợp
thu hồi toàn bộ hoặc một phần thửa đất có nhà ở, nhà ở và công trình phục vụ
đời sống nếu diện tích thu hồi của thửa đất nhỏ hơn hạn mức giao đất ở quy định
tại khoản 2 Điều 195 và khoản 2 Điều 196 của Luật Đất đai thì được bồi thường
về đất ở đối với toàn bộ diện tích đất thu hồi;
c) Trường hợp
thu hồi diện tích đất sử dụng vào mục đích sản xuất, kinh doanh phi nông
nghiệp, thương mại, dịch vụ thì bồi thường theo diện tích thực tế đã sử dụng bị
thu hồi; loại đất tính bồi thường được áp dụng như đối với trường hợp đất được
Nhà nước giao đất có thu tiền sử dụng đất, thời hạn sử dụng đất ổn định lâu
dài;
d) Đối với phần
diện tích đất còn lại của thửa đất không được bồi thường đất ở và đất cơ sở sản
xuất phi nông nghiệp, đất thương mại, dịch vụ theo quy định tại điểm a và điểm
c khoản này thì được bồi thường theo loại đất nông nghiệp.
4. Hộ gia đình,
cá nhân thuộc đối tượng được giao đất nông nghiệp theo quy định tại khoản 1
Điều 118 của Luật Đất đai đã sử dụng đất ở ổn định trước ngày 01 tháng 7 năm
2014 mà không có giấy tờ về quyền sử dụng đất, có đăng ký thường trú tại địa
phương thuộc vùng có điều kiện kinh tế - xã hội khó khăn, vùng có điều kiện
kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn nếu đủ điều kiện được bồi thường quy định
tại khoản 1 Điều 5 của Nghị định này thì được bồi thường về đất ở; diện tích
đất ở bồi thường xác định theo quy định tại khoản 1, 2 và 3 Điều này.
5. Vùng có điều
kiện kinh tế - xã hội khó khăn, vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó
khăn là đơn vị hành chính cấp xã[8] hoặc
thôn, làng, ấp, bản, bon, buôn, phum, sóc, tổ dân phố và điểm dân cư tương tự
theo quy định hoặc quyết định của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ hoặc người
được Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ giao, phân cấp, ủy quyền.
Điều 9. Bồi
thường về đất đối với hộ gia đình, cá nhân đang sử dụng đất làm nhà ở
có vi phạm pháp luật về đất đai trước ngày 01 tháng 7 năm 2014
Hộ gia đình, cá
nhân đang sử dụng đất làm nhà ở có vi phạm pháp luật về đất đai trước ngày 01
tháng 7 năm 2014 theo quy định tại khoản 1, điểm a và điểm c khoản 2, khoản 3
Điều 139 của Luật Đất đai nếu đủ điều kiện được bồi thường quy định tại khoản 2
Điều 5 của Nghị định này thì việc bồi thường về đất thực hiện theo quy định như
sau:
1. Trường hợp
thửa đất có nhà ở nếu đã sử dụng đất ổn định trước ngày 15 tháng 10 năm 1993
thì diện tích đất được bồi thường bằng diện tích thực tế bị thu hồi nhưng không
vượt quá hạn mức công nhận đất ở tại địa phương.
2. Trường hợp
thửa đất có nhà ở nếu đã sử dụng đất ổn định từ ngày 15 tháng 10 năm 1993 đến
trước ngày 01 tháng 7 năm 2014 thì diện tích đất được bồi thường bằng diện tích
thực tế bị thu hồi nhưng không vượt quá hạn mức giao đất ở tại địa phương.
3. Trường hợp
thửa đất có nhà ở mà diện tích đất đã làm nhà ở lớn hơn hạn mức công nhận đất ở
hoặc hạn mức giao đất ở theo quy định tại khoản 1 và khoản
2
Điều này thì bồi thường diện tích đất theo diện tích thực tế bị thu hồi đã làm
nhà ở.
4. Trường hợp
hộ gia đình, cá nhân sử dụng đất làm nhà ở có vi phạm pháp luật về đất đai do
lấn đất, chiếm đất kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2014 trở về sau thì Nhà nước không
bồi thường về đất.
Điều 10. Bồi
thường về đất ở đối với hộ gia đình, cá nhân đang sử dụng đất được giao không
đúng thẩm quyền trước ngày Luật Đất đai có hiệu lực thi hành
Hộ gia đình, cá
nhân đang sử dụng đất ở được giao không đúng thẩm quyền hoặc sử dụng đất do
mua, nhận thanh lý, hóa giá, phân phối nhà ở, công trình xây dựng gắn liền với
đất không đúng quy định trước ngày Luật Đất đai có hiệu lực thi hành nếu đủ
điều kiện được bồi thường quy định tại khoản 3 Điều 5 của Nghị định này thì
việc bồi thường về đất thực hiện theo quy định như sau:
1. Đất đã được
sử dụng ổn định trước ngày 15 tháng 10 năm 1993 thì được bồi thường về đất theo
quy định tại khoản 2 Điều 8 của Nghị định này.
2. Đất đã được
sử dụng ổn định từ ngày 15 tháng 10 năm 1993 đến trước ngày 01 tháng 7 năm 2004
thì được bồi thường về đất theo quy định tại khoản 3 Điều 8 của Nghị định này.
3. Đất đã được
sử dụng ổn định từ ngày 01 tháng 7 năm 2004 đến trước ngày 01 tháng 7 năm 2014
thì được bồi thường về đất như sau:
a) Đối với
trường hợp sử dụng đất quy định tại điểm a và điểm b khoản 3 Điều 140 của Luật
Đất đai thì việc bồi thường về đất thực hiện theo quy định tại điểm a và b
khoản 3 Điều 8 của Nghị định này;
b) Phần diện
tích đất thu hồi còn lại (nếu có) mà không được bồi thường theo quy định tại
điểm a khoản 3 Điều 8 của Nghị định này thì được bồi thường theo hiện trạng sử
dụng đất.
4. Trường hợp
đất được giao từ ngày 01 tháng 7 năm 2014 đến trước ngày Luật Đất đai có hiệu
lực thi hành, có giấy tờ chứng minh đã nộp tiền để được sử dụng đất thì được
bồi thường về đất theo quy định tại khoản 3 Điều 8 của Nghị định này.
Điều 11. Bồi
thường về đất khi Nhà nước thu hồi đất ở quy định tại Điều 98 của Luật
Đất đai
1. Hộ gia đình,
cá nhân, người gốc Việt Nam định cư ở nước ngoài, tổ chức kinh tế đang sử dụng
đất ở, đang sở hữu nhà ở gắn liền với quyền sử dụng đất tại Việt Nam khi Nhà
nước thu hồi đất, nếu có đủ điều kiện được bồi thường quy định tại khoản 1 và
khoản 2 Điều 95 của Luật Đất đai hoặc Điều 5 của Nghị định này thì được bồi
thường bằng đất ở hoặc bằng nhà ở hoặc bằng tiền hoặc bằng đất có mục đích sử
dụng khác với loại đất thu hồi.
2. Hộ gia đình,
cá nhân, người gốc Việt Nam định cư ở nước ngoài đang sử dụng đất ở, đang sở
hữu nhà ở gắn liền với quyền sử dụng đất tại Việt Nam khi Nhà nước thu hồi đất
ở đủ điều kiện được bồi thường về đất thì thực hiện như sau:
a) Trường hợp
thu hồi hết đất ở hoặc phần diện tích đất ở còn lại của thửa đất sau khi thu
hồi nhỏ hơn diện tích tối thiểu theo quy định của Ủy ban nhân dân cấp tỉnh về
diện tích tối thiểu tại khoản 2 Điều 220 của Luật Đất đai mà hộ gia đình, cá
nhân không còn đất ở, nhà ở nào khác trên địa bàn cấp xã nơi có đất thu hồi[9] thì được bồi thường bằng đất ở hoặc
bằng nhà ở tái định cư;
b) Trường hợp
thu hồi hết đất ở hoặc phần diện tích đất ở còn lại của thửa đất sau khi thu
hồi nhỏ hơn diện tích tối thiểu theo quy định của Ủy ban nhân dân cấp tỉnh về
diện tích tối thiểu tại khoản 2 Điều 220 của Luật Đất đai mà hộ gia đình, cá
nhân còn đất ở, nhà ở khác trên địa bàn cấp xã nơi có đất thu hồi[10] thì được bồi thường bằng tiền hoặc
bằng đất ở hoặc bằng nhà ở hoặc bằng đất khác nếu địa phương có điều kiện về
quỹ đất, quỹ nhà ở.
Mục 2. BỒI
THƯỜNG VỀ ĐẤT NÔNG NGHIỆP, ĐẤT
PHI NÔNG NGHIỆP KHÔNG PHẢI ĐẤT Ở
Điều 12. Bồi
thường về đất đối với hộ gia đình, cá nhân đang sử dụng đất vào mục đích thuộc
nhóm đất nông nghiệp
1. Trường hợp
sử dụng đất không có giấy tờ về quyền sử dụng đất nếu đủ điều kiện được bồi
thường quy định tại khoản 1 Điều 5 của Nghị định này thì được bồi thường về đất
đối với diện tích đất bị thu hồi nhưng không vượt quá hạn mức giao đất nông
nghiệp cho cá nhân quy định tại Điều 176 của Luật Đất đai.
2. Trường hợp
sử dụng đất có vi phạm pháp luật về đất đai trước ngày 01 tháng 7 năm 2014 nếu
đủ điều kiện được bồi thường quy định tại khoản 2 Điều 5 của Nghị định này thì
được bồi thường đối với diện tích bị thu hồi nhưng không vượt quá hạn mức giao
đất nông nghiệp cho cá nhân quy định tại Điều 176 của Luật Đất đai.
Đối với đất
nông nghiệp đã sử dụng ổn định do tự khai hoang thì được bồi thường về đất theo
hạn mức giao đất nông nghiệp do Ủy ban nhân dân cấp tỉnh quy định.
3. Trường hợp
sử dụng đất được giao không đúng thẩm quyền trước ngày 01 tháng 7 năm 2014 nếu
đủ điều kiện được bồi thường quy định tại khoản 3 Điều 5 của Nghị định này thì
được bồi thường đối với diện tích đất bị thu hồi nhưng không vượt quá hạn mức
giao đất nông nghiệp cho cá nhân quy định tại Điều 176 của Luật Đất đai.
4. Đối với diện
tích đất nông nghiệp đã sử dụng ổn định trước ngày 01 tháng 7 năm 2004 mà người
sử dụng đất là hộ gia đình, cá nhân trực tiếp sản xuất nông nghiệp nhưng không
đủ điều kiện cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thì xử lý như sau:
a) Trường hợp
sử dụng đất không có giấy tờ về quyền sử dụng đất nếu diện tích thu hồi vượt
quá diện tích được bồi thường quy định tại khoản 1 Điều này thì diện tích đất
được bồi thường bằng diện tích đất thực tế bị thu hồi;
b) Trường hợp
sử dụng đất có vi phạm pháp luật về đất đai nếu diện tích thu hồi vượt quá diện
tích được bồi thường quy định tại khoản 2 Điều này thì phần diện tích còn lại
được xem xét hỗ trợ theo quy định tại khoản 7 Điều này;
c) Trường hợp
sử dụng đất được giao không đúng thẩm quyền nếu diện tích thu hồi vượt quá diện
tích được bồi thường quy định tại khoản 3 Điều này thì phần diện tích còn lại
được xem xét hỗ trợ theo quy định tại khoản 7 Điều này.
5. Đối với diện
tích đất nông nghiệp do nhận chuyển quyền sử dụng đất vượt hạn mức trước ngày
01 tháng 7 năm 2014 thì việc bồi thường, hỗ trợ được thực hiện như sau:
a) Trường hợp
nhận chuyển quyền sử dụng đất của người sử dụng đất thuộc các trường hợp quy
định tại khoản 2 Điều 95 của Luật Đất đai thì được bồi thường theo diện tích
thực tế thu hồi;
b) Trường hợp
nhận chuyển quyền sử dụng đất của người sử dụng đất không thuộc các trường hợp
quy định tại khoản 2 Điều 95 của Luật Đất đai thì căn cứ vào nguồn gốc sử dụng
đất của bên chuyển quyền để xem xét bồi thường, hỗ trợ đối với từng trường hợp
cụ thể theo quy định tại khoản 1, 2, 3 và 4 Điều này.
6. Khi bồi
thường đối với đất nông nghiệp do hộ gia đình, cá nhân đang sử dụng do được Nhà
nước giao đất, công nhận quyền sử dụng đất, nhận chuyển quyền sử dụng đất theo
quy định của pháp luật thì thời hạn sử dụng đất để tính bồi thường áp dụng theo
thời hạn sử dụng đất quy định tại điểm a khoản 1 Điều 172 của Luật Đất đai mà
không trừ đi thời gian đã sử dụng đất trước đó.
7. Đối với phần
diện tích thu hồi còn lại của thửa đất nhưng không được bồi thường về đất theo
quy định tại khoản 1, 2, 3, 4 và 5 Điều này thì Ủy ban nhân dân cấp tỉnh căn cứ
tình hình thực tế tại địa phương quyết định hỗ trợ khác đối với từng dự án cụ thể.
Điều 13. Bồi
thường về đất phi nông nghiệp không phải là đất ở khi Nhà nước thu hồi
đất
1. Hộ gia đình,
cá nhân đang sử dụng đất vào mục đích sản xuất, kinh doanh phi nông nghiệp,
thương mại, dịch vụ trước ngày 01 tháng 7 năm 2014, không có giấy tờ về quyền
sử dụng đất nếu đủ điều kiện được bồi thường quy định tại khoản 1 Điều 5 của
Nghị định này thì được bồi thường theo diện tích đã sử dụng bị thu hồi; loại
đất tính bồi thường được áp dụng như đối với trường hợp đất được Nhà nước giao
đất có thu tiền sử dụng đất, thời hạn sử dụng đất ổn định lâu dài.
2. Hộ gia đình,
cá nhân đang sử dụng đất phi nông nghiệp không phải là đất ở trước ngày 01
tháng 7 năm 2014, có vi phạm pháp luật về đất đai nếu đủ điều kiện được bồi
thường quy định tại khoản 2 Điều 5 của Nghị định này thì được bồi thường về đất
theo diện tích đã sử dụng bị thu hồi; loại đất tính bồi thường được áp dụng như
đối với trường hợp đất được Nhà nước giao đất có thu tiền sử dụng đất, thời hạn
sử dụng đất ổn định lâu dài.
3. Hộ gia đình,
cá nhân đang sử dụng đất phi nông nghiệp không phải là đất ở do được giao không
đúng thẩm quyền hoặc sử dụng đất do mua, nhận thanh lý, hóa giá, phân phối nhà
ở, công trình xây dựng gắn liền với đất không đúng quy định trước ngày Luật Đất
đai có hiệu lực thi hành, nếu đủ điều kiện được bồi thường quy định tại khoản 3
Điều 5 của Nghị định này thì việc bồi thường về đất thực hiện theo quy định như
sau:
a) Đất đã được
sử dụng ổn định trước ngày 15 tháng 10 năm 1993 thì được bồi thường về đất theo
quy định tại điểm c khoản 2 Điều 8 của Nghị định này;
b) Đất đã được
sử dụng ổn định từ ngày 15 tháng 10 năm 1993 đến trước ngày 01 tháng 7 năm 2014
thì được bồi thường về đất theo quy định tại điểm c khoản 3 Điều 8 của Nghị
định này;
c) Trường hợp
đất được giao từ ngày 01 tháng 7 năm 2014 đến trước ngày Luật Đất đai có hiệu
lực thi hành, có giấy tờ chứng minh đã nộp tiền để được sử dụng đất thì được
bồi thường về đất theo quy định tại điểm c khoản 3 Điều 8 của Nghị định này.
4. Việc bồi
thường về đất đối với hộ gia đình, cá nhân đang sử dụng đất phi nông nghiệp
không phải là đất ở thuộc đất sử dụng có thời hạn quy định tại khoản 1 Điều 99
của Luật Đất đai được thực hiện như sau:
a) Trường hợp
được bồi thường bằng đất có cùng mục đích sử dụng với loại đất thu hồi thì thời
hạn sử dụng đất được bồi thường là thời hạn sử dụng còn lại của đất thu hồi.
Trường hợp người sử dụng đất có nhu cầu tăng thời hạn sử dụng đất thì thời hạn
sử dụng đất được xác định theo quy định tại Điều 172 của Luật Đất đai và người
sử dụng đất phải nộp tiền sử dụng đất, tiền thuê đất đối với thời hạn được tăng
thêm so với thời hạn sử dụng đất còn lại của đất thu hồi;
b) Trường hợp
bồi thường bằng tiền thì việc xác định theo quy định tại khoản 7 Điều này;
c) Trường hợp
bồi thường bằng đất có mục đích sử dụng khác với loại đất thu hồi hoặc bằng nhà
ở thì thực hiện theo quy định tại Điều 4 của Nghị định này.
5. Trường hợp
hộ gia đình, cá nhân được bồi thường về đất theo quy định tại khoản 2 Điều 99
của Luật Đất đai thì việc bồi thường được thực hiện theo quy định tại khoản 4
Điều này.
6. Trường hợp
người sử dụng đất được bồi thường về đất theo quy định tại Điều 100 của Luật
Đất đai thì thực hiện như sau:
a) Việc bồi
thường bằng đất được thực hiện đối với trường hợp thu hồi toàn bộ diện tích đất
của dự án hoặc diện tích còn lại sau khi thu hồi không đủ điều kiện để dự án
tiếp tục và được thực hiện theo quy định tại điểm a khoản 4 Điều này;
b) Trường hợp
được bồi thường bằng tiền thì việc xác định số tiền bồi thường thực hiện theo
quy định tại khoản 7 Điều này.
7. Trường hợp
người đang sử dụng đất phi nông nghiệp không phải là đất ở thuộc đất sử dụng có
thời hạn mà được bồi thường bằng tiền theo quy định tại Điều này thì được xác
định như sau:
Trong đó:
Tbt: Số tiền
được bồi thường;
G: Giá đất tính
theo bảng giá đất và hệ số điều chỉnh giá đất đối với trường hợp quy định tại
khoản 3 Điều 5 của Nghị quyết số 254/2025/QH15 hoặc tính theo giá đất cụ thể
đối với trường hợp quy định tại khoản 5 Điều 7 của Nghị quyết số 254/2025/QH15
tại thời điểm phê duyệt phương án bồi thường, hỗ trợ, tái định cư;[11]
S: Diện tích
đất thu hồi;
T1: Thời hạn sử
dụng đất;
T2: Thời hạn sử
dụng đất còn lại: bằng (=) thời hạn sử dụng đất trừ (-) thời hạn đã sử dụng đất
tính đến thời điểm phê duyệt phương án bồi thường, hỗ trợ, tái định cư.
8. Hộ gia đình,
cá nhân đang sử dụng đất thương mại, dịch vụ, đất cơ sở sản xuất phi nông
nghiệp, đất phi nông nghiệp khác có thời hạn sử dụng ổn định lâu dài mà có đủ
điều kiện được bồi thường theo quy định khi Nhà nước thu hồi đất thì được bồi
thường theo loại đất thu hồi quy định tại khoản 4 Điều 171 của Luật Đất đai.
9. Đối với phần
diện tích thu hồi còn lại của thửa đất nhưng không được bồi thường về đất theo
quy định tại khoản 1, 2 và 3 Điều này thì Ủy ban nhân dân cấp tỉnh căn cứ tình
hình thực tế tại địa phương quyết định hỗ trợ khác đối với từng dự án cụ thể.
Mục 3. BỒI THƯỜNG
THIỆT HẠI VỀ TÀI SẢN, CHI PHÍ ĐẦU TƯ VÀO ĐẤT CÒN LẠI
Điều 14. Bồi
thường thiệt hại về nhà, công trình xây dựng gắn liền với đất khi Nhà
nước thu hồi đất
1. Việc bồi
thường đối với nhà, công trình xây dựng khác quy định tại điểm b khoản 2 Điều
102 của Luật Đất đai được thực hiện theo quy định như sau:
a) Mức bồi
thường nhà, công trình xây dựng bằng tổng giá trị hiện có của nhà, công trình
xây dựng bị thiệt hại và khoản tiền tính bằng tỷ lệ phần trăm theo giá trị hiện
có của nhà, công trình xây dựng đó.
Giá trị hiện có
của nhà, công trình xây dựng bị thiệt hại được xác định theo quy định tại điểm
b khoản này.
Khoản tiền tính
bằng tỷ lệ phần trăm theo giá trị hiện có của nhà, công trình xây dựng do Ủy
ban nhân dân cấp tỉnh quy định, nhưng mức bồi thường không quá 100% giá trị xây
dựng mới của nhà, công trình xây dựng có tiêu chuẩn kỹ thuật tương đương với
nhà, công trình xây dựng bị thiệt hại;
b) Giá trị hiện
có của nhà, công trình xây dựng bị thiệt hại được xác định theo công thức sau:
Trong đó:
Tgt: Giá trị
hiện có của nhà, công trình xây dựng bị thiệt hại;
G1: Giá trị xây
mới nhà, công trình xây dựng bị thiệt hại có tiêu chuẩn kỹ thuật tương đương
theo quy định của pháp luật về xây dựng;
T: Thời gian
khấu hao áp dụng đối với nhà, công trình xây dựng bị thiệt hại;
T1: Thời gian
mà nhà, công trình xây dựng bị thiệt hại đã qua sử dụng.
c) Trường hợp
nhà, công trình xây dựng khác bị tháo dỡ hoặc phá dỡ một phần nhưng vẫn tồn tại
và sử dụng được phần còn lại thì bồi thường phần giá trị nhà, công trình xây
dựng bị phá dỡ và chi phí để sửa chữa, hoàn thiện phần còn lại theo tiêu chuẩn
kỹ thuật tương đương của nhà, công trình xây dựng trước khi bị tháo dỡ hoặc phá
dỡ;
d) Đối với nhà,
công trình xây dựng không đủ tiêu chuẩn kỹ thuật theo quy định của pháp luật
chuyên ngành thì Ủy ban nhân dân cấp tỉnh quy định mức bồi thường cụ thể cho
phù hợp với điều kiện thực tế tại địa phương.
2. Trường hợp
nhà, công trình xây dựng khác, công trình hạ tầng kỹ thuật, hạ tầng xã hội, tài
sản khác là tài sản công thì sau khi tháo dỡ hoặc phá dỡ nhà, công trình, tài
sản quy định tại khoản 2, khoản 3 Điều 102 của Luật Đất đai nếu có vật tư, vật
liệu, tài sản thu hồi còn sử dụng được thì xử lý bán.
Đơn vị, tổ chức
thực hiện nhiệm vụ bồi thường, hỗ trợ, tái định cư thực hiện việc bán vật tư,
vật liệu, tài sản thu hồi quy định tại khoản này; việc bán thực hiện như việc
bán vật tư, vật liệu thu hồi từ thanh lý tài sản công tại cơ quan nhà nước theo
quy định của pháp luật về quản lý, sử dụng tài sản công. Số tiền thu được từ
việc bán vật tư, vật liệu, tài sản thu hồi sau khi trừ đi các chi phí liên quan
đến việc bán được nộp vào ngân sách nhà nước tại địa phương.
3.[12] Trường hợp cần thiết, đơn vị, tổ
chức thực hiện nhiệm vụ bồi thường, hỗ trợ, tái định cư được thuê đơn vị tư vấn
để xác định mức độ thiệt hại của nhà, nhà ở, công trình xây dựng, tài sản gắn
liền với đất. Kinh phí thuê đơn vị tư vấn được tính vào chi phí bảo đảm cho
việc tổ chức thực hiện bồi thường, hỗ trợ, tái định cư.
Điều 14a. Bồi
thường đối với cây trồng, vật nuôi[13]
1. Trường hợp
bồi thường đối với cây lâu năm là loại cho thu hoạch nhiều lần quy định tại
khoản 2 Điều 103 Luật Đất đai mà không xác định được sản lượng vườn cây còn
chưa thu hoạch tương ứng với số năm còn lại trong chu kỳ thu hoạch thì mức bồi
thường được tính bằng giá trị thiệt hại thực tế của vườn cây.
2. Trường hợp
khi Ủy ban nhân dân cấp tỉnh xem xét ban hành đơn giá bồi thường thiệt hại về
cây trồng, vật nuôi quy định tại khoản 6 Điều 103 Luật Đất đai mà chưa có quy
trình sản xuất cây trồng, vật nuôi được cấp có thẩm quyền ban hành thì căn cứ
vào tình hình thực tế của địa phương để ban hành.
Điều 15. Bồi
thường, hỗ trợ do phải di dời mồ mả khi Nhà nước thu hồi đất
1. Ủy ban nhân
dân cấp tỉnh, Ủy ban nhân dân cấp xã[14]
có trách nhiệm bố trí quỹ đất trong các nghĩa trang theo quy hoạch để di dời mồ
mả khi thu hồi đất.
2. Đối với mồ
mả trong phạm vi đất thu hồi phải di dời thì được bồi thường các chi phí bao
gồm: chi phí đào, bốc, di dời, xây dựng mới và các chi phí hợp lý khác có liên
quan trực tiếp để di dời mồ mả đến vị trí mới trong nghĩa trang theo quy hoạch
của địa phương; trường hợp tự thu xếp việc di chuyển mồ mả ngoài khu vực được
bố trí thì được hỗ trợ tiền.
Trường hợp cấp
xã nơi có đất thu hồi[15]
không còn quỹ đất trong các nghĩa trang thì Ủy ban nhân dân cấp tỉnh có trách
nhiệm rà soát quỹ đất tại địa bàn các đơn vị hành chính cấp xã[16] khác để bố trí di dời mồ mả, quy
định chính sách hỗ trợ để khuyến khích hình thức hoả táng, lưu giữ tro cốt tại
các cơ sở lưu giữ tro cốt nhằm thực hiện nếp sống văn minh, đảm bảo sử dụng đất
tiết kiệm, hiệu quả, bền vững, góp phần bảo vệ môi trường.
Ủy ban nhân dân
cấp tỉnh quy định mức bồi thường, hỗ trợ tại khoản này phù hợp với tập quán và
thực tế tại địa phương.
3. Trường hợp
mồ mả trong phạm vi đất thu hồi phải di dời mà không có người thân thực hiện
việc di dời thì đơn vị, tổ chức thực hiện nhiệm vụ bồi thường, hỗ trợ, tái định
cư phối hợp với Ủy ban nhân dân cấp xã nơi có mồ mả phải di dời tiến hành các
thủ tục di dời mồ mả theo phong tục, tập quán tại địa phương; kinh phí di dời
được tính trong kinh phí bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi thu hồi đất.
Điều 16. Bồi
thường chi phí tự cải tạo, sửa chữa nhà ở cho người đang sử dụng nhà ở thuộc sở
hữu nhà nước nằm trong phạm vi thu hồi đất phải phá dỡ
Người đang sử
dụng nhà ở thuộc sở hữu nhà nước (nhà thuê hoặc nhà do tổ chức tự quản) nằm
trong phạm vi thu hồi đất phải phá dỡ thì người đang thuê nhà không được bồi
thường đối với diện tích nhà ở thuộc sở hữu nhà nước và diện tích cơi nới trái
phép, nhưng được bồi thường chi phí tự cải tạo, sửa chữa, nâng cấp; mức bồi
thường do Ủy ban nhân dân cấp tỉnh quy định.
Điều 17. Bồi
thường chi phí đầu tư vào đất còn lại khi Nhà nước thu hồi đất
1. Chi phí đầu
tư vào đất còn lại quy định tại khoản 2 Điều 107 của Luật Đất đai là các chi
phí mà người sử dụng đất đã đầu tư vào đất theo quy định tại khoản 7 Điều 3 của
Luật Đất đai.
2. Điều kiện
xác định chi phí đầu tư vào đất còn lại:
a) Có hồ sơ,
chứng từ chứng minh đã đầu tư vào đất;
b) Trường hợp
chi phí đầu tư vào đất còn lại không có hồ sơ, chứng từ chứng minh thì Ủy ban
nhân dân cấp tỉnh căn cứ tình hình thực tế tại địa phương quy định việc xác
định chi phí đầu tư vào đất còn lại.
3. Hồ sơ, chứng
từ chứng minh đã đầu tư vào đất quy định tại điểm a khoản
2
Điều này gồm một trong các giấy tờ sau đây:
a) Văn bản, hợp
đồng thuê, khoán san lấp mặt bằng, tôn tạo đất đối với đất được Nhà nước giao
hoặc cho thuê, cải tạo đất, chống xói mòn, chống xâm thực, xây dựng, gia cố nền
đất làm mặt bằng sản xuất, kinh doanh;
b) Văn bản,
thanh lý hợp đồng; hóa đơn, chứng từ thanh toán đối với từng khoản chi phí đã
đầu tư vào đất quy định tại điểm a khoản này;
c) Văn bản, hợp
đồng khác có liên quan đến việc đầu tư vào đất được xác lập tại thời điểm đầu
tư.
4.[17] Chi phí đầu tư vào đất còn lại trừ
trường hợp quy định tại khoản 6 Điều này được xác định như sau:
Trong đó:
P: Chi phí đầu
tư vào đất còn lại;
P1: Chi phí san
lấp mặt bằng;
P2: Chi phí cải
tạo làm tăng độ màu mỡ của đất, thau chua rửa mặn, chống xói mòn, xâm thực đối
với đất sử dụng vào mục đích sản xuất nông nghiệp;
P3: Chi phí gia
cố khả năng chịu lực chống rung, sụt lún đất đối với đất làm mặt bằng sản xuất,
kinh doanh;
P4: Chi phí
khác có liên quan đã đầu tư vào đất phù hợp với mục đích sử dụng đất;
Các chi phí P1,
P2, P3 và P4 nêu trên phải quy đổi phù hợp với giá thị trường tại thời điểm có
quyết định phê duyệt phương án bồi thường, hỗ trợ, tái định cư.
T1: Thời hạn sử
dụng đất;
T2: Thời hạn sử
dụng đất còn lại.
Đối với trường
hợp thời điểm đầu tư vào đất sau thời điểm được Nhà nước giao đất, cho thuê đất
thì thời hạn sử dụng đất (T1) được tính từ thời điểm đầu tư vào đất.
5. Người có đất
thu hồi không có một trong các loại giấy tờ quy định tại khoản 3 Điều này nhưng
thực tế đã có đầu tư vào đất thì được bồi thường chi phí đầu tư vào đất còn lại
theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều này.
6. Việc xác
định chi phí đầu tư vào đất còn lại đối với trường hợp ứng trước kinh phí bồi
thường, hỗ trợ, tái định cư mà chưa khấu trừ hết vào tiền sử dụng đất, tiền
thuê đất phải nộp quy định tại điểm d khoản 2 Điều 107 của Luật Đất đai và
trường hợp thuê đất trả tiền thuê đất hằng năm mà đã trả trước cho nhiều năm
nhưng chưa sử dụng thời gian đã trả trước tiền thuê đất thực hiện theo quy định
của pháp luật về thu tiền sử dụng đất, tiền thuê đất.
Điều 18. Bồi
thường, hỗ trợ thiệt hại đối với đất thuộc hành lang bảo vệ an toàn công trình,
khu vực bảo vệ, vành đai an toàn khi xây dựng công trình, khu vực có hành lang
bảo vệ an toàn
1. Bồi thường
thiệt hại do hạn chế khả năng sử dụng đất thuộc phạm vi hành lang bảo vệ an
toàn công trình, khu vực bảo vệ, vành đai an toàn quy định tại Điều 106 của
Luật Đất đai được thực hiện như sau:
a) Làm thay đổi
mục đích sử dụng đất từ đất ở sang đất phi nông nghiệp không phải là đất ở hoặc
từ đất ở sang đất nông nghiệp thì mức bồi thường thiệt hại được xác định như
sau:
Trong đó:
Tbt = (G1 – G2)
x S
Tbt: Tiền bồi
thường thiệt hại;
G1: Giá đất ở
tính bình quân mỗi m²;
G2: Giá đất phi
nông nghiệp không phải đất ở hoặc giá đất nông nghiệp tính bình quân cho mỗi
m²;
S: Diện tích
đất bị thay đổi mục đích sử dụng đất;
b) Làm thay đổi
mục đích sử dụng đất từ đất phi nông nghiệp không phải là đất ở sang đất nông
nghiệp thì mức bồi thường thiệt hại được xác định như sau:
Tbt = (G3 – G4)
x S
Trong đó:
Tbt: Tiền bồi
thường thiệt hại;
G3: Giá đất phi
nông nghiệp không phải đất ở tính bình quân mỗi m²;
G4: Giá đất
nông nghiệp tính bình quân cho mỗi m²;
S: Diện tích
đất bị thay đổi mục đích sử dụng đất.
c) Trường hợp
không làm thay đổi mục đích sử dụng đất nhưng làm hạn chế khả năng sử dụng đất
thì việc xác định mức bồi thường thiệt hại do Ủy ban nhân dân cấp tỉnh căn cứ
tình hình thực tế tại địa phương quy định cụ thể.
2. Nhà ở, công
trình xây dựng khác và các tài sản khác gắn liền với đất nằm trong phạm vi hành
lang bảo vệ an toàn công trình, khu vực bảo vệ, vành đai an toàn bị thiệt hại
do phải giải tỏa thì được bồi thường theo mức thiệt hại theo quy định.
3. Khi hành
lang bảo vệ an toàn công trình, khu vực bảo vệ, vành đai an toàn chiếm dụng
khoảng không trên 70% diện tích thửa đất có nhà ở, công trình xây dựng thì phần
diện tích đất còn lại cũng được bồi thường theo quy định tại khoản 1 và khoản 2
Điều này nếu phần diện tích đất còn lại này nhỏ hơn diện tích tối thiểu theo
quy định của Ủy ban nhân dân cấp tỉnh về diện tích tối thiểu tại khoản 2 Điều
220 của Luật Đất đai đối với trường hợp thửa đất ở hoặc không đủ điều kiện xây
dựng công trình theo quy định của pháp luật chuyên ngành đối với trường hợp
thửa đất có công trình xây dựng.
4. Đất ở có nhà
ở gắn liền với đất nằm trong phạm vi hành lang bảo vệ an toàn công trình, khu
vực bảo vệ, vành đai an toàn khi xây dựng công trình, khu vực có hành lang bảo
vệ an toàn phải di chuyển chỗ ở theo quyết định của cơ quan nhà nước có thẩm
quyền thì người sử dụng đất, chủ sở hữu nhà ở gắn liền với đất ngoài việc được
bồi thường theo quy định tại khoản 1 Điều này, nếu có nhu cầu thì được bố trí
tái định cư, được bồi thường chi phí di chuyển và được hỗ trợ ổn định đời sống,
sản xuất.
Mục 4. HỖ TRỢ, BỐ
TRÍ TÁI ĐỊNH CƯ
Điều 19. Hỗ trợ
ổn định đời sống khi Nhà nước thu hồi đất
1. Hộ gia đình,
cá nhân đang sử dụng đất nông nghiệp nếu đủ điều kiện được bồi thường về đất
thì được hỗ trợ ổn định đời sống như sau:
a) Thu hồi từ
30% đến 70% diện tích đất nông nghiệp đang sử dụng thì được hỗ trợ trong thời
gian 6 tháng nếu không phải di chuyển chỗ ở và trong thời gian 12 tháng nếu
phải di chuyển chỗ ở; trường hợp phải di chuyển đến vùng có điều kiện kinh tế -
xã hội khó khăn hoặc có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn thì thời
gian hỗ trợ tối đa là 24 tháng. Đối với trường hợp thu hồi trên 70% diện tích
đất nông nghiệp đang sử dụng thì được hỗ trợ trong thời gian 12 tháng nếu không
phải di chuyển chỗ ở và trong thời gian 24 tháng nếu phải di chuyển chỗ ở;
trường hợp phải di chuyển đến vùng có điều kiện kinh tế - xã hội khó khăn hoặc
có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn thì thời gian hỗ trợ tối đa là 36
tháng;
b) Diện tích
đất nông nghiệp thu hồi để tính hỗ trợ ổn định đời sống quy định tại điểm a
khoản này là diện tích trong phạm vi cấp xã nơi có đất thu hồi[18] tại thời điểm có quyết định phê
duyệt phương án bồi thường, hỗ trợ, tái định cư và được xác định theo từng dự
án phải thu hồi đất của cơ quan có thẩm quyền[19],
không cộng dồn diện tích đất nông nghiệp thu hồi của các dự án thu hồi đất
trước đó;
c) Mức hỗ trợ
cho một nhân khẩu quy định tại điểm a và điểm b khoản này được tính bằng tiền
tương đương 30 kg gạo trong 01 tháng theo thời giá trung bình tại thời điểm hỗ
trợ của địa phương.
d)[20] Số nhân khẩu trong hộ gia đình được
hỗ trợ tại khoản này là những người có chung quyền sử dụng đất tại thời điểm
phê duyệt phương án bồi thường, hỗ trợ, tái định cư và nhân khẩu là thành viên
hộ gia đình phát sinh sau thời điểm giao đất nông nghiệp cho hộ gia đình đó
(nếu có); việc xác định số nhân khẩu có chung quyền sử dụng đất do các thành
viên trong hộ gia đình tự thỏa thuận và chịu trách nhiệm trước pháp luật.
2. Trường hợp
hộ gia đình, cá nhân đang sử dụng đất quy định tại khoản 1
Điều
này bị thu hồi dưới 30% diện tích đất nông nghiệp đang sử dụng; hộ gia đình, cá
nhân đang sử dụng đất không đủ điều kiện bồi thường về đất hoặc do nhận giao
khoán đất để sử dụng vào mục đích nông nghiệp, lâm nghiệp, nuôi trồng thuỷ sản,
làm muối từ các nông, lâm trường quốc doanh hoặc công ty nông, lâm nghiệp được
chuyển đổi từ các nông, lâm trường quốc doanh, tập đoàn sản xuất nông nghiệp,
hợp tác xã nông nghiệp và có hợp đồng giao khoán sử dụng đất thì Ủy ban nhân
dân cấp tỉnh quyết định mức hỗ trợ, thời gian hỗ trợ, định kỳ chi trả tiền hỗ
trợ cho phù hợp với từng trường hợp cụ thể nhưng không vượt quá mức hỗ trợ quy
định tại khoản 1 Điều này.
3[21]. Căn cứ tình hình thực tế tại địa
phương, Ủy ban nhân dân cấp tỉnh được quy định khác về mức hỗ trợ ổn định đời
sống, về hình thức hỗ trợ ổn định đời sống nhưng không thấp hơn so với quy định
tại khoản 1 và khoản 2 Điều này.
Điều 20. Hỗ trợ
ổn định sản xuất, kinh doanh khi Nhà nước thu hồi đất
Việc hỗ trợ ổn
định sản xuất, kinh doanh khi Nhà nước thu hồi đất quy định tại điểm b khoản 1
Điều 108 của Luật Đất đai được thực hiện theo quy định sau đây:
1. Đối tượng
được hỗ trợ ổn định sản xuất, kinh doanh
a) Tổ chức kinh
tế, hộ gia đình, cá nhân sản xuất, kinh doanh, tổ chức kinh tế có vốn đầu tư
nước ngoài bị ngừng sản xuất, kinh doanh mà có đủ điều kiện được bồi thường về
đất thì được hỗ trợ ổn định sản xuất, kinh doanh;
b) Hộ gia đình,
cá nhân đang sử dụng đất do nhận giao khoán đất sử dụng vào mục đích nông
nghiệp, lâm nghiệp, nuôi trồng thuỷ sản, làm muối thuộc đối tượng quy định
khoản 2 Điều 19 của Nghị định này thì được hỗ trợ ổn định sản xuất.
2. Điều kiện để
được hỗ trợ ổn định sản xuất, kinh doanh
a) Đối với hộ
gia đình, cá nhân, tổ chức kinh tế, tổ chức kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài
được bồi thường về đất;
b) Đối với hộ
gia đình, cá nhân đang sử dụng đất do nhận giao khoán đất quy định tại khoản 2
Điều 19 của Nghị định này thì phải có hợp đồng giao khoán sử dụng đất.
3. Việc hỗ trợ
ổn định sản xuất, kinh doanh thực hiện theo quy định sau:
a) Hộ gia đình,
cá nhân bị thu hồi đất nông nghiệp thì được hỗ trợ ổn định sản xuất, kinh doanh
bao gồm: hỗ trợ giống cây trồng, giống vật nuôi cho sản xuất nông nghiệp, các
dịch vụ khuyến nông, khuyến lâm, dịch vụ bảo vệ thực vật, thú y, kỹ thuật trồng
trọt, chăn nuôi và kỹ thuật nghiệp vụ đối với sản xuất, kinh doanh dịch vụ công
thương nghiệp;
b) Đối với tổ
chức kinh tế, hộ gia đình, cá nhân sản xuất, kinh doanh, tổ chức kinh tế có vốn
đầu tư nước ngoài thuộc đối tượng quy định tại khoản 1 Điều này thì được hỗ trợ
ổn định sản xuất, kinh doanh bằng tiền với mức cao nhất bằng 30% một năm thu
nhập sau thuế, theo mức thu nhập bình quân của 03 năm liền kề trước đó.
Thu nhập sau
thuế được xác định là thu nhập sau khi đã nộp thuế thu nhập cá nhân, thuế thu
nhập doanh nghiệp theo quy định của pháp luật về thuế thu nhập cá nhân, pháp
luật về thuế thu nhập doanh nghiệp.
4. Người lao
động do tổ chức kinh tế, hộ gia đình, cá nhân sản xuất, kinh doanh, tổ chức
kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài thuộc đối tượng quy định tại khoản 1 Điều này
thuê lao động theo hợp đồng lao động thì được áp dụng hỗ trợ chế độ trợ cấp
ngừng việc theo quy định của pháp luật về lao động nhưng thời gian trợ cấp
không quá 06 tháng.
5. Trường hợp
hộ gia đình, cá nhân đang sử dụng đất do nhận giao khoán đất để sử dụng vào mục
đích nông nghiệp, lâm nghiệp, nuôi trồng thuỷ sản, làm muối từ các nông, lâm
trường quốc doanh hoặc công ty nông, lâm nghiệp được chuyển đổi từ các nông,
lâm trường quốc doanh, tập đoàn sản xuất nông nghiệp, hợp tác xã nông nghiệp và
có hợp đồng giao khoán sử dụng đất thì Ủy ban nhân dân cấp tỉnh quyết định mức
hỗ trợ ổn định sản xuất cho phù hợp với từng dự án.
6. Ủy ban nhân
dân cấp tỉnh quyết định mức hỗ trợ, thời gian hỗ trợ, định kỳ chi trả tiền hỗ
trợ cho phù hợp với thực tế tại địa phương.
Điều 21. Hỗ trợ
di dời vật nuôi; hỗ trợ để tháo dỡ, phá dỡ, di dời tài sản gắn liền với
đất là phần công trình xây dựng theo giấy phép xây dựng có thời hạn theo pháp
luật về xây dựng mà đến thời điểm thu hồi đất giấy phép đã hết thời hạn
1. Ủy ban nhân
dân cấp tỉnh căn cứ tình hình thực tế tại địa phương quy định các trường hợp,
biện pháp, mức hỗ trợ di dời đối với từng loại vật nuôi khi Nhà nước thu hồi
đất để hỗ trợ cho chủ sở hữu vật nuôi khi phải di dời.
2. Đối
với tài sản gắn liền với đất là phần công trình xây dựng theo giấy phép xây
dựng có thời hạn theo pháp luật về xây dựng mà đến thời điểm thu hồi đất giấy
phép đã hết thời hạn thì chủ sở hữu tài sản không được bồi thường mà được hỗ
trợ để tháo dỡ, phá dỡ, di dời.
Ủy ban nhân dân
cấp tỉnh căn cứ tình hình thực tế tại địa phương quy định các trường hợp, biện
pháp, mức hỗ trợ tháo dỡ, phá dỡ, di dời cho chủ sở hữu công trình cho phù hợp
với từng trường hợp cụ thể.
Điều 22. Hỗ trợ
đào tạo, chuyển đổi nghề và tìm kiếm việc làm cho hộ gia đình, cá nhân khi Nhà
nước thu hồi đất
1. Cá nhân trực
tiếp sản xuất nông nghiệp được hỗ trợ đào tạo, chuyển đổi nghề và tìm kiếm việc
làm quy định tại điểm a khoản 1 Điều 109 của Luật Đất đai là cá nhân đang sử
dụng đất nông nghiệp mà tại thời điểm phê duyệt phương án bồi thường, hỗ trợ,
tái định cư có thu nhập từ sản xuất nông nghiệp trên đất đó và không thuộc các
trường hợp sau đây:
a) Cán bộ, công
chức, viên chức, sĩ quan tại ngũ, quân nhân chuyên nghiệp, công chức quốc
phòng, công nhân và viên chức quốc phòng, sĩ quan, hạ sĩ quan, công nhân công
an, người làm công tác cơ yếu và người làm công tác khác trong tổ chức cơ yếu
hưởng lương từ ngân sách nhà nước;
b) Người hưởng
lương hưu;
c) Người nghỉ
mất sức lao động, thôi việc được hưởng trợ cấp bảo hiểm xã hội hằng tháng;
d) Người lao
động có hợp đồng lao động không xác định thời hạn.
2. Hộ gia đình
trực tiếp sản xuất nông nghiệp được hỗ trợ đào tạo, chuyển đổi nghề và tìm kiếm
việc làm quy định tại điểm a khoản 1 Điều 109 của Luật Đất đai là hộ đang sử
dụng đất nông nghiệp có ít nhất một thành viên có thu nhập từ sản xuất nông
nghiệp trên đất đó (bao gồm cả thành viên phát sinh sau thời điểm sử dụng đất
nông nghiệp) tại thời điểm phê duyệt phương án bồi thường, hỗ trợ, tái định cư
và không thuộc các trường hợp quy định tại điểm a, b, c và d khoản 1 Điều này.
3. Mức hỗ trợ
đào tạo, chuyển đổi nghề và tìm kiếm việc làm quy định tại Điều 109 của Luật
Đất đai do Ủy ban nhân dân cấp tỉnh quy định căn cứ vào tình hình thực tế tại
địa phương nhưng không quá 05 lần giá đất nông nghiệp cùng loại trong bảng giá
đất của địa phương đối với toàn bộ diện tích đất nông nghiệp thu hồi nhưng
không vượt quá hạn mức giao đất nông nghiệp tại địa phương theo quy định tại
Điều 176 của Luật Đất đai.
4. Đối với hộ
gia đình, cá nhân sử dụng đất do nhận giao khoán đất, hộ gia đình, cá nhân nhận
giao khoán vườn cây sử dụng đất để trồng mới, chăm sóc vườn cây, thu hoạch
thuộc đối tượng được hỗ trợ đào tạo, chuyển đổi nghề và tìm kiếm việc làm quy
định tại điểm c và điểm d khoản 1 Điều 109 của Luật Đất đai thì phải có hợp
đồng giao khoán.
5.[22] Hộ gia đình, cá nhân trực tiếp sản
xuất nông nghiệp được hỗ trợ đào tạo, chuyển đổi nghề và tìm kiếm việc làm quy
định tại điểm a khoản 1 Điều 109 Luật Đất đai bao gồm cả trường hợp đủ điều
kiện được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu tài sản gắn liền
với đất.
Điều 23. Hỗ trợ
tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất
1. Trường hợp
hộ gia đình, cá nhân, người gốc Việt Nam định cư ở nước ngoài đủ điều kiện được
hỗ trợ tái định cư theo quy định tại khoản 8 Điều 111 của Luật Đất đai mà có
nhu cầu tự lo chỗ ở thì ngoài việc được bồi thường về đất bằng tiền còn được
nhận tiền hỗ trợ để tự lo chỗ ở.
2. Ủy ban nhân
dân cấp tỉnh căn cứ quy mô diện tích đất ở thu hồi, số nhân khẩu của hộ gia
đình và điều kiện cụ thể tại địa phương quy định mức hỗ trợ tại khoản 1 Điều
này cho phù hợp.
Điều 24. Bố trí
tái định cư
1. Suất tái
định cư tối thiểu quy định tại khoản 8 Điều 111 của Luật Đất đai thực hiện như
sau:
a) Suất tái
định cư tối thiểu được quy định bằng đất ở, nhà ở hoặc bằng nhà ở hoặc bằng
tiền để phù hợp với việc lựa chọn của người được bố trí tái định cư;
b) Trường hợp
suất tái định cư tối thiểu được quy định bằng đất ở, nhà ở thì diện tích đất ở
tái định cư không nhỏ hơn diện tích tối thiểu theo quy định của Ủy ban nhân dân
cấp tỉnh về diện tích tối thiểu tại khoản 2 Điều 220 của Luật Đất đai và diện
tích nhà ở tái định cư không nhỏ hơn diện tích căn hộ tối thiểu theo quy định
của pháp luật về nhà ở.
Trường hợp suất
tái định cư tối thiểu được quy định bằng nhà ở thì diện tích nhà ở tái định cư
không nhỏ hơn diện tích căn hộ tối thiểu theo quy định của pháp luật về nhà ở.
Trường hợp suất
tái định cư tối thiểu được tính bằng tiền thì khoản tiền cho suất tái định cư
tối thiểu tương đương với giá trị một suất tái định cư tối thiểu bằng đất ở,
nhà ở tại nơi bố trí tái định cư;
c) Căn cứ quy
định tại điểm a và điểm b khoản này và tình hình cụ thể của địa phương, Ủy ban
nhân dân cấp tỉnh quy định suất tái định cư tối thiểu bằng đất ở, nhà ở, bằng
nhà ở và bằng tiền.
2. Người đang
sử dụng nhà ở thuộc sở hữu nhà nước nằm trong phạm vi thu hồi đất phải phá dỡ
nhà mà không còn chỗ ở nào khác trong địa bàn cấp xã[23] nơi có đất thu hồi thì được hỗ trợ
thuê nhà ở tại nơi tái định cư; giá thuê nhà là giá thuê nhà ở thuộc sở hữu nhà
nước; nhà thuê tại nơi tái định cư được Nhà nước bán cho người đang thuê theo
quy định của pháp luật về nhà ở về bán nhà ở thuộc sở hữu nhà nước cho người
đang thuê; trường hợp người đang sử dụng nhà ở bị thu hồi có nhu cầu và địa
phương có quỹ đất ở, quỹ nhà ở tái định cư, nhà ở thương mại, nhà ở xã hội thì
được xem xét giao đất ở có thu tiền sử dụng đất, bán nhà ở; trường hợp tự lo
chỗ ở mới thì được hỗ trợ bằng tiền.
Ủy ban nhân dân
cấp tỉnh quy định việc hỗ trợ thuê nhà ở, giao đất ở, bán nhà ở, hỗ trợ bằng
tiền để tự lo chỗ ở quy định tại khoản này.
3. Trường hợp
thực hiện các dự án, mục đích quốc phòng, an ninh, giao thông, thủy lợi, hạ
tầng kỹ thuật, hạ tầng xã hội phải thu hồi đất ở trong thửa đất có nhà ở mà
người có đất thu hồi có nhu cầu tái định cư tại chỗ thông qua hoán đổi vị trí
đất ở về phía sau trong phần diện tích đất nông nghiệp còn lại của thửa đất sau
thu hồi thì việc bố trí tái định cư trong trường hợp này được thực hiện như
sau:
a) Bố trí tái
định cư tại chỗ bằng hình thức cho phép chuyển mục đích sử dụng đất đối với
phần diện tích đất nông nghiệp sang đất ở trong hạn mức giao đất ở quy định tại
khoản 2 Điều 195 và khoản 2 Điều 196 của Luật Đất đai;
b) Miễn tiền sử
dụng đất khi chuyển mục đích sử dụng đất từ đất nông nghiệp sang đất ở khi bố
trí tái định cư quy định tại điểm a khoản này bằng diện tích đất ở thu hồi
trong trường hợp người có đất thu hồi đồng ý phương án bồi thường về đất nông
nghiệp đối với phần diện tích đất bị thu hồi.
4. Về quỹ đất,
quỹ nhà để bố trí tái định cư thực hiện theo quy định sau đây:
a) Đơn vị, tổ
chức thực hiện nhiệm vụ bồi thường, hỗ trợ, tái định cư thực hiện các dự án tái
định cư hoặc nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất ở, nhà ở thương mại, nhà ở xã
hội để bố trí tái định cư cho các trường hợp quy định tại Điều 111 của Luật Đất
đai;
b) Kinh phí
thực hiện dự án tái định cư hoặc nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất ở, nhà ở
thương mại, nhà ở xã hội quy định tại điểm a khoản này được ứng vốn từ ngân
sách nhà nước, Quỹ phát triển đất hoặc Quỹ đầu tư phát triển, quỹ tài chính
khác được ủy thác hoặc từ chủ đầu tư tự nguyện ứng trước tiền bồi thường, hỗ
trợ, tái định cư;
c) Việc lập,
thẩm định, phê duyệt, nghiệm thu, quyết toán dự án tái định cư; thẩm định, phê
duyệt thiết kế xây dựng dự án tái định cư thực hiện theo quy định của pháp luật
về nhà ở, pháp luật về xây dựng, pháp luật về đầu tư công và pháp luật khác có
liên quan;
d) Việc mua nhà
ở thương mại, nhà ở xã hội để phục vụ tái định cư thực hiện theo quy định của
pháp luật về nhà ở và pháp luật khác có liên quan.
5.[24] Hộ gia đình, cá nhân khi Nhà nước
thu hồi đất gắn liền với nhà ở phải di chuyển chỗ ở mà không đủ điều kiện được
bồi thường về đất ở, nếu không có chỗ ở nào khác trong địa bàn cấp xã nơi có
đất thu hồi thì được Nhà nước giao đất ở có thu tiền sử dụng đất hoặc bán, cho
thuê, cho thuê mua nhà ở.
6.[25] Địa điểm tái định cư được lựa chọn
theo thứ tự ưu tiên sau đây:
a) Tại địa bàn
đơn vị hành chính cấp xã nơi có đất bị thu hồi;
b) Tại địa bàn
đơn vị hành chính cấp xã khác có điều kiện tương đương trong trường hợp tại địa
bàn đơn vị hành chính cấp xã nơi có đất thu hồi không có đất để bố trí tái định
cư;
c) Ưu tiên lựa
chọn khu đất có vị trí thuận lợi để hình thành khu tái định cư.
Mục 5. BỐ TRÍ
KINH PHÍ VÀ CHI TRẢ BỒI THƯỜNG, HỖ TRỢ, TÁI ĐỊNH CƯ
Điều 25. Chi
trả tiền bồi thường, hỗ trợ, tái định cư
1. Việc trừ
khoản tiền chưa thực hiện nghĩa vụ tài chính về đất đai vào số tiền được bồi
thường quy định tại khoản 6 Điều 94 của Luật Đất đai được thực hiện theo quy
định sau đây:
a) Khoản tiền
chưa thực hiện nghĩa vụ tài chính về đất đai bao gồm tiền sử dụng đất, tiền
thuê đất phải nộp cho Nhà nước và tiền chậm nộp (nếu có) nhưng đến thời điểm
phê duyệt phương án bồi thường, hỗ trợ, tái định cư vẫn chưa nộp;
b) Số tiền chưa
thực hiện nghĩa vụ tài chính quy định tại điểm a khoản này được xác định theo
quy định của pháp luật về thu tiền sử dụng đất, tiền thuê đất.
Trường hợp số
tiền chưa thực hiện nghĩa vụ tài chính đến thời điểm có quyết định phê duyệt
phương án bồi thường, hỗ trợ, tái định cư lớn hơn số tiền được bồi thường thì
hộ gia đình, cá nhân tiếp tục được ghi nợ số tiền chênh lệch đó; nếu hộ gia
đình, cá nhân được bố trí tái định cư thì sau khi trừ số tiền bồi thường vào số
tiền để được giao đất ở, mua nhà ở tại nơi tái định cư mà số tiền còn lại nhỏ
hơn số tiền chưa thực hiện nghĩa vụ tài chính thì hộ gia đình, cá nhân tiếp tục
được ghi nợ số tiền chênh lệch đó;
c) Tiền được
bồi thường để trừ vào số tiền chưa thực hiện nghĩa vụ tài chính gồm tiền được
bồi thường về đất, tiền được bồi thường chi phí đầu tư vào đất còn lại (nếu
có).
Không trừ các
khoản tiền được bồi thường chi phí di chuyển, bồi thường thiệt hại về tài sản,
bồi thường do ngừng sản xuất kinh doanh và các khoản tiền được hỗ trợ vào khoản
tiền chưa thực hiện nghĩa vụ tài chính về đất đai.
2. Đối với
trường hợp bồi thường bằng việc giao đất mới hoặc giao đất ở, nhà ở tái định cư
hoặc nhà ở tái định cư, nếu có chênh lệch về giá trị thì phần chênh lệch đó
được thanh toán bằng tiền theo quy định sau:
a) Trường hợp
tiền bồi thường về đất lớn hơn tiền đất ở, nhà ở hoặc tiền nhà ở tại khu tái
định cư thì người tái định cư được nhận phần chênh lệch đó;
b) Trường hợp
tiền bồi thường về đất nhỏ hơn tiền đất ở, nhà ở hoặc tiền nhà ở tái định cư
thì người được bố trí tái định cư phải nộp phần chênh lệch, trừ trường hợp quy
định tại khoản 1 Điều 24 của Nghị định này.
3. Khi
xác định khoản tiền bồi thường về đất mà người có đất thu hồi được nhận theo
quy định tại Nghị định này thì phải trừ khoản tiền sử dụng đất, tiền thuê đất
phải nộp như khi được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất tại thời điểm phê
duyệt phương án bồi thường, hỗ trợ, tái định cư.
4. Việc phân
chia tiền bồi thường, hỗ trợ cho người có chung quyền sử dụng đất, tài sản gắn
liền với đất khi Nhà nước thu hồi đất thực hiện theo thỏa thuận của những người
có chung quyền sử dụng đất, tài sản gắn liền với đất theo quy định của pháp
luật về dân sự.
5. Trường hợp
đất thu hồi, tài sản đang có tranh chấp mà chưa giải quyết xong thì tiền bồi
thường, hỗ trợ được gửi vào tài khoản tiền gửi của đơn vị, tổ chức thực hiện
nhiệm vụ bồi thường, hỗ trợ, tái định cư mở tại ngân hàng thương mại do Nhà
nước nắm giữ cổ phần chi phối theo lãi suất không kỳ hạn, sau khi cơ quan nhà
nước có thẩm quyền giải quyết xong thì trả cho người có quyền sử dụng đất, chủ
sở hữu tài sản.
Điều 26. Ghi nợ
tiền sử dụng đất khi được giao đất tái định cư
1. Đối tượng
được ghi nợ tiền sử dụng đất quy định tại khoản 3 Điều 111 của Luật Đất đai là
người được bố trí tái định cư mà tiền được bồi thường về đất nhỏ hơn tiền sử
dụng đất phải nộp khi được giao đất tái định cư, nếu có nhu cầu ghi nợ tiền sử
dụng đất và cam kết thực hiện bàn giao mặt bằng theo đúng tiến độ.
2.[26] Giá đất để tính ghi nợ tiền sử dụng
đất tại nơi tái định cư là giá đất tính theo bảng giá đất và hệ số điều chỉnh
giá đất đối với trường hợp quy định tại khoản 3 Điều 5 của Nghị quyết số
254/2025/QH15 hoặc giá đất trong bảng giá đất đối với trường hợp quy định tại
khoản 5 Điều 7 của Nghị quyết số 254/2025/QH15 tại thời điểm phê duyệt phương
án bồi thường, hỗ trợ, tái định cư.
Khi thanh toán
nợ tiền sử dụng đất thì người sử dụng đất trả nợ theo số tiền sử dụng đất đã
được ghi nợ.
3. Mức tiền sử
dụng đất ghi nợ đối với hộ gia đình, cá nhân quy định tại khoản 1 Điều này được
xác định bằng chênh lệch giữa tiền sử dụng đất phải nộp khi hộ gia đình, cá
nhân được giao đất tái định cư trừ (-) giá trị được bồi thường về đất.
Trường hợp
thuộc đối tượng được hỗ trợ tái định cư, nếu số tiền sử dụng đất phải nộp lớn
hơn giá trị suất tái định cư tối thiểu thì được ghi nợ số tiền sử dụng đất lớn
hơn phải nộp.
4. Hộ gia đình,
cá nhân được ghi nợ tiền sử dụng đất quy định tại khoản 1 Điều này phải nộp đủ
tiền sử dụng đất còn nợ trước khi chuyển đổi, chuyển nhượng, tặng cho quyền sử
dụng đất, thế chấp, góp vốn bằng quyền sử dụng đất. Đối với trường hợp thừa kế
hoặc tặng cho quyền sử dụng đất theo quy định của pháp luật mà chưa trả hết nợ
tiền sử dụng đất thì người nhận thừa kế, nhận tặng cho được Ủy ban nhân dân cấp
xã xác nhận thuộc hộ nghèo, hộ cận nghèo thì tiếp tục được ghi nợ.
5. Về trình tự,
thủ tục ghi nợ, thanh toán, xóa nợ tiền sử dụng đất cho hộ gia đình, cá nhân
được ghi nợ tiền sử dụng đất quy định tại khoản 1 Điều này thực hiện theo quy
định của pháp luật về thu tiền sử dụng đất, tiền thuê đất.
Điều 27. Chi
phí bảo đảm cho việc tổ chức thực hiện bồi thường, hỗ trợ, tái định cư
1. Đơn vị, tổ
chức thực hiện nhiệm vụ bồi thường, hỗ trợ, tái định cư có trách nhiệm lập dự
toán chi phí bảo đảm cho việc tổ chức thực hiện bồi thường, hỗ trợ, tái định cư
của từng dự án theo quy định sau đây:
a) Đối với các
khoản chi đã có định mức, tiêu chuẩn, đơn giá do cơ quan nhà nước có thẩm quyền
quy định thì thực hiện theo quy định hiện hành;
b) Đối với các
khoản chi chưa có định mức, tiêu chuẩn, đơn giá thì lập dự toán theo thực tế
cho phù hợp với đặc điểm của từng dự án và thực tế ở địa phương;
c) Chi in ấn
tài liệu, văn phòng phẩm, xăng xe, hậu cần phục vụ và các khoản phục vụ cho bộ
máy quản lý được tính theo nhu cầu thực tế của từng dự án.
2.[27] Cơ quan có thẩm quyền phê duyệt
phương án bồi thường, hỗ trợ, tái định cư quyết định phê duyệt chi phí bảo đảm
cho việc tổ chức thực hiện bồi thường, hỗ trợ, tái định cư, cưỡng chế kiểm đếm,
cưỡng chế thu hồi đất.
3. Trường hợp
phải thực hiện cưỡng chế thu hồi đất thì đơn vị, tổ chức thực hiện nhiệm vụ bồi
thường, hỗ trợ, tái định cư lập dự toán kinh phí tổ chức thực hiện cưỡng chế
trình cơ quan nhà nước có thẩm quyền phê duyệt phương án bồi thường, hỗ trợ,
tái định cư quyết định. Việc bố trí kinh phí tổ chức thực hiện cưỡng chế thu
hồi đất như sau:
a) Đối với
trường hợp giao đất không thu tiền sử dụng đất, giao đất, cho thuê đất nhưng
được miễn nộp tiền sử dụng đất, tiền thuê đất thì khoản kinh phí này được bố
trí và hạch toán vào vốn đầu tư của dự án;
b) Đối với
trường hợp Nhà nước thực hiện thu hồi đất tạo quỹ đất sạch để giao, cho thuê
thông qua hình thức đấu giá thì khoản kinh phí này được ứng từ Quỹ phát triển
đất;
c) Đối với
trường hợp nhà đầu tư tự nguyện ứng trước tiền bồi thường, hỗ trợ, tái định cư
thì khoản kinh phí này được trừ vào số tiền sử dụng đất, tiền thuê đất phải
nộp.
4. Nội dung chi
phí bảo đảm cho việc tổ chức thực hiện bồi thường, hỗ trợ, tái định cư quy định
tại khoản 1 Điều này gồm:
a) Chi tổ chức
họp với người có đất, chủ sở hữu tài sản trong khu vực thu hồi để phổ biến,
tuyên truyền các chính sách, pháp luật về bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi
Nhà nước thu hồi đất và tiếp nhận ý kiến, tổ chức vận động người có đất thu
hồi, chủ sở hữu tài sản liên quan thực hiện quyết định thu hồi đất thực hiện dự
án;
b) Chi điều
tra, khảo sát, ghi nhận hiện trạng, đo đạc, kiểm đếm, thống kê, phân loại diện
tích đất và xác định nguồn gốc đất và tài sản gắn liền với đất thu hồi gồm:
Phát tờ khai, hướng dẫn người có đất, chủ sở hữu tài sản kê khai; trích đo địa
chính thửa đất đối với thửa đất tại nơi chưa có bản đồ địa chính phục vụ bồi
thường, giải phóng mặt bằng; đo đạc xác định diện tích thực tế các thửa đất nằm
trong ranh giới khu đất thu hồi để thực hiện dự án (nếu có) của từng người có
đất thu hồi làm căn cứ thực hiện việc bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi Nhà
nước thu hồi đất trong trường hợp phải đo đạc lại; kiểm kê số lượng nhà, công
trình, cây trồng, vật nuôi và tài sản khác bị thiệt hại khi Nhà nước thu hồi
đất của từng chủ sở hữu tài sản; kiểm tra, đối chiếu giữa tờ khai với kết quả
kiểm kê, xác định mức độ thiệt hại với từng người có đất thu hồi, chủ sở hữu
tài sản cụ thể; tính toán giá trị thiệt hại về đất, nhà, công trình, cây trồng,
vật nuôi và tài sản khác, chi phí đăng báo và phát sóng trên đài phát thanh
hoặc truyền hình;
c) Chi phí lập,
thẩm định, phê duyệt, công khai phương án bồi thường, hỗ trợ, tái định cư từ
khâu tính toán, xác định mức bồi thường, hỗ trợ đến khâu phê duyệt phương án,
thông báo công khai phương án bồi thường, hỗ trợ, tái định cư;
d) Chi tổ chức
chi trả tiền bồi thường, hỗ trợ, tái định cư theo phương án bồi thường, hỗ trợ,
tái định cư đã được cơ quan nhà nước có thẩm quyền phê duyệt theo quy định;
đ) Chi phục vụ
việc hướng dẫn thực hiện, giải quyết những vướng mắc trong tổ chức thực hiện
phương án bồi thường, hỗ trợ, tái định cư đã được cơ quan nhà nước có thẩm
quyền phê duyệt theo quy định;
e) Chi thuê nhà
làm việc, thuê và mua sắm máy móc, thiết bị để thực hiện công tác bồi thường,
hỗ trợ, tái định cư của đơn vị, tổ chức thực hiện nhiệm vụ bồi thường và cơ
quan thẩm định;
g) Chi in ấn,
phô tô tài liệu, văn phòng phẩm, thông tin liên lạc (bưu chính, điện thoại),
xăng xe;
h) Chi thuê
nhân công thực hiện công tác bồi thường, hỗ trợ, tái định cư (nếu có). Việc
thuê nhân công do người đứng đầu đơn vị, tổ chức thực hiện nhiệm vụ bồi thường,
hỗ trợ, tái định cư quyết định, quy định tại quy chế chi tiêu nội bộ và chỉ
được thực hiện khi đơn vị, tổ chức thực hiện nhiệm vụ bồi thường, hỗ trợ, tái
định cư không có đủ nhân sự để thực hiện và không được thực hiện nhiệm vụ trùng
lắp với nhân sự của đơn vị, tổ chức thực hiện nhiệm vụ bồi thường, hỗ trợ, tái
định cư;
i) Các nội dung
chi khác có liên quan trực tiếp đến việc tổ chức thực hiện bồi thường, hỗ trợ,
tái định cư.
5. Nội dung chi
tổ chức thực hiện cưỡng chế kiểm đếm, cưỡng chế thu hồi đất:
a) Chi thông
báo, tuyên truyền vận động các đối tượng thực hiện quyết định cưỡng chế kiểm
đếm, quyết định cưỡng chế thu hồi đất;
b) Chi mua
nguyên liệu, nhiên liệu, thuê phương tiện, thiết bị bảo vệ, y tế, phòng chống
cháy nổ, các thiết bị, phương tiện cần thiết khác phục vụ cho việc thực hiện
cưỡng chế kiểm đếm, cưỡng chế thu hồi đất;
c) Chi phục vụ
công tác tổ chức thi hành quyết định cưỡng chế kiểm đếm, cưỡng chế thu hồi đất;
d) Chi phí niêm
phong, phá, tháo dỡ, vận chuyển tài sản; di chuyển người bị cưỡng chế và người
có liên quan ra khỏi khu đất cưỡng chế, chi thuê địa điểm, nhân công, phương
tiện bảo quản tài sản và các khoản chi phí thực tế hợp pháp khác phục vụ trực
tiếp cho việc thực hiện bảo quản tài sản khi thực hiện cưỡng chế thu hồi đất
trong trường hợp chủ sở hữu tài sản không thanh toán;
đ) Chi cho công
tác quay phim, chụp ảnh phục vụ cho việc thực hiện cưỡng chế kiểm đếm, cưỡng
chế thu hồi đất;
e) Chi phí bảo
vệ, chống tái chiếm đất sau khi tổ chức thực hiện cưỡng chế thu hồi đất của
thửa đất cưỡng chế thu hồi đến thời điểm hoàn thành việc giải phóng mặt bằng;
g) Các nội dung
chi khác có liên quan trực tiếp đến việc tổ chức thực hiện cưỡng chế kiểm đếm,
cưỡng chế thu hồi đất.
6. Chi tiền
lương, các khoản đóng góp theo tiền lương và các khoản phụ cấp lương theo chế
độ quy định của đơn vị, tổ chức thực hiện nhiệm vụ bồi thường, hỗ trợ, tái định
cư liên quan đến việc tổ chức thực hiện bồi thường, hỗ trợ, tái định cư và
cưỡng chế kiểm đếm, cưỡng chế thu hồi đất theo cơ chế tài chính áp dụng đối với
tổ chức đó.
Chi tiền lương
và các khoản đóng góp theo tiền lương được xác định theo quy định hiện hành của
pháp luật.
7.[28] Việc lập, phê duyệt dự toán, sử dụng
và thanh quyết toán chi phí đảm bảo cho việc tổ chức thực hiện bồi thường, hỗ
trợ, tái định cư, cưỡng chế kiểm đếm, cưỡng chế thu hồi đất thực hiện theo quy
định của pháp luật về ngân sách, pháp luật về đầu tư công và pháp luật khác có
liên quan.
8. Ủy ban nhân
dân cấp tỉnh căn cứ tình hình thực tế tại địa phương quy định mức chi đảm bảo
cho việc tổ chức thực hiện bồi thường, hỗ trợ, tái định cư; trường hợp địa
phương chưa quy định mức chi đảm bảo cho việc tổ chức thực hiện bồi thường, hỗ
trợ, tái định cư thì đơn vị, tổ chức thực hiện nhiệm vụ bồi thường, hỗ trợ, tái
định cư lập dự toán, thanh quyết toán chi phí bảo đảm cho việc tổ chức thực
hiện bồi thường, hỗ trợ, tái định cư cho từng dự án theo định mức, tiêu chuẩn,
đơn giá do cơ quan nhà nước có thẩm quyền quy định, trình cơ quan có thẩm quyền
phê duyệt phương án bồi thường, hỗ trợ, tái định cư quyết định.
Điều 28. Kinh
phí thực hiện bồi thường, hỗ trợ, tái định cư
1. Kinh phí bồi
thường, hỗ trợ, tái định cư được quy định tại khoản 1 Điều 94 của Luật Đất đai.
Việc xác định kinh phí bồi thường, hỗ trợ, tái định cư phải theo phương án bồi
thường, hỗ trợ, tái định cư đã được cấp có thẩm quyền phê duyệt.
2. Kinh phí bồi
thường, hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất để thực hiện các dự án
được quy định như sau:
a) Kinh phí
thực hiện bồi thường, hỗ trợ, tái định cư được tính vào tổng mức đầu tư dự án;
b) Bộ, ngành có
trách nhiệm bảo đảm kinh phí bồi thường, hỗ trợ, tái định cư đối với các dự án
đầu tư do bộ, ngành thực hiện thuộc thẩm quyền quyết định chủ trương đầu tư của
Quốc hội, chấp thuận, quyết định đầu tư của Thủ tướng Chính phủ và các dự án do
bộ, ngành làm chủ đầu tư hoặc quyết định đầu tư;
c) Ủy ban nhân
dân cấp tỉnh có trách nhiệm bảo đảm kinh phí bồi thường, hỗ trợ, tái định cư
đối với các dự án thuộc thẩm quyền quyết định của Hội đồng nhân dân cấp tỉnh và
các dự án quy định tại điểm b khoản này nhưng giao trách nhiệm cho Ủy ban nhân
dân cấp tỉnh bố trí kinh phí bồi thường, hỗ trợ, tái định cư theo quy định của
pháp luật;
d)[29] Trường hợp chủ đầu tư tự nguyện ứng
trước tiền bồi thường, hỗ trợ, tái định cư cho đơn vị, tổ chức thực hiện nhiệm
vụ bồi thường, hỗ trợ, tái định cư thì có trách nhiệm bảo đảm kinh phí bồi
thường, hỗ trợ, tái định cư.
Trường hợp chủ
đầu tư chậm ứng trước tiền bồi thường, hỗ trợ, tái định cư thì phải trả khoản
kinh phí chi trả bồi thường chậm quy định tại điểm b khoản 3 Điều 94 của Luật
Đất đai, được tính vào chi phí đầu tư của dự án mà không được khấu trừ vào tiền
sử dụng đất, tiền thuê đất phải nộp.
Chương III
ĐIỀU KHOẢN THI HÀNH[30
]
Điều 29. Trách
nhiệm tổ chức thực hiện bồi thường, hỗ trợ, tái định cư
1. Các bộ, cơ
quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, Tập đoàn kinh tế, Tổng công ty, đơn vị
sự nghiệp công lập có dự án đầu tư phải thu hồi đất có trách nhiệm phối hợp với
Ủy ban nhân dân các cấp và đơn vị, tổ chức thực hiện nhiệm vụ bồi thường, hỗ
trợ, tái định cư trong quá trình tổ chức thực hiện; bảo đảm kinh phí cho việc
bồi thường, hỗ trợ, tái định cư theo quy định của Nghị định này.
2. Ủy ban nhân
dân cấp tỉnh có trách nhiệm chỉ đạo tổ chức bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi
Nhà nước thu hồi đất theo quy định tại Nghị định này.
3. Bộ Nông
nghiệp và Môi trường[31] có
trách nhiệm kiểm tra, thanh tra việc thực hiện việc bồi thường, hỗ trợ, tái
định cư khi Nhà nước thu hồi đất theo quy định tại Nghị định này.
Điều 30. Hiệu
lực thi hành
1. Nghị định
này có hiệu lực thi hành từ ngày 01 tháng 8 năm 2024.
2. Các nghị
định sau đây hết hiệu lực kể từ ngày Nghị định này có hiệu lực thi hành:
a) Nghị định số
47/2014/NĐ-CP ngày 15 tháng 5 năm 2014 của Chính phủ quy định về bồi thường, hỗ
trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất;
b) Nghị định số
06/2020/NĐ-CP ngày 03 tháng 01 năm 2020 của Chính phủ sửa đổi, bổ sung Điều 17
của Nghị định số 47/2014/NĐ-CP ngày 15 tháng 5 năm 2014 của Chính phủ quy định
về bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất.
3. Bãi bỏ một
số điều của các Nghị định có liên quan
a) Bãi bỏ Điều
4 Nghị định số 01/2017/NĐ-CP ngày 06 tháng 01 năm 2017 của Chính phủ sửa đổi,
bổ sung một số nghị định quy định chi tiết thi hành Luật Đất đai;
b) Bãi bỏ Điều
2 Nghị định số 148/2020/NĐ-CP ngày 18 tháng 12 năm 2020 của Chính phủ sửa đổi,
bổ sung một số nghị định quy định chi tiết thi hành Luật Đất đai.
Điều 31. Quy
định chuyển tiếp
1. Đối với
trường hợp đã có quyết định thu hồi đất theo quy định của pháp luật về đất đai
trước ngày Nghị định này có hiệu lực thi hành nhưng chưa có quyết định phê
duyệt phương án bồi thường, hỗ trợ, tái định cư của cơ quan nhà nước có thẩm
quyền thì tiếp tục thực hiện việc bồi thường, hỗ trợ, tái định cư theo quy định
của Nghị định này.
2. Đối với
trường hợp đã có quyết định thu hồi đất và quyết định phê duyệt phương án bồi
thường, hỗ trợ, tái định cư theo quy định của pháp luật về đất đai trước ngày
Nghị định này có hiệu lực thi hành nhưng chưa thực hiện thì tiếp tục thực hiện
phương án bồi thường, hỗ trợ, tái định cư đã phê duyệt; việc xử lý chi trả bồi
thường chậm được thực hiện theo quy định của pháp luật tại thời điểm Nhà nước
ban hành quyết định thu hồi đất.
3. Đối với dự
án đầu tư đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Khung chính sách bồi thường, hỗ
trợ, tái định cư trước ngày Nghị định này có hiệu lực thi hành nhưng địa phương
chưa phê duyệt phương án bồi thường, hỗ trợ, tái định cư thì được áp dụng các
chính sách có lợi hơn cho người có đất thu hồi đã được xác định tại Khung chính
sách bồi thường, hỗ trợ, tái định cư và quy định của Nghị định này.
4. Đối với dự
án đầu tư đã được Thủ tướng Chính phủ quyết định, quy định chính sách đặc thù
về bồi thường, hỗ trợ, tái định cư trước ngày Nghị định này có hiệu lực thi
hành nhưng địa phương chưa phê duyệt phương án bồi thường, hỗ trợ, tái định cư
thì được áp dụng các chính sách có lợi hơn cho người có đất thu hồi đã được xác
định tại quyết định, quy định chính sách đặc thù của Thủ tướng Chính phủ và các
quy định có lợi hơn của Nghị định này khi thực hiện công tác bồi thường, hỗ
trợ, tái định cư.
5. Đối với
trường hợp đã được cơ quan nhà nước có thẩm quyền phê duyệt dự toán chi phí bảo
đảm cho việc tổ chức thực hiện bồi thường, hỗ trợ, tái định cư, chi phí cưỡng
chế kiểm đếm, cưỡng chế thu hồi đất trước ngày Nghị định này có hiệu lực thi
hành thì tiếp tục thực hiện theo quy định của pháp luật hướng dẫn thi hành Luật
Đất đai năm 2013 về lập dự toán, sử dụng và thanh, quyết toán kinh phí tổ chức
thực hiện bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất.
6.[32] Đối với trường hợp được tiếp tục sử
dụng đất để thực hiện dự án đầu tư quy định tại khoản 9, khoản 10 Điều 255 Luật
Đất đai, được sửa đổi, bổ sung tại khoản 3 Điều 1 Luật số 43/2024/QH15 ngày 29
tháng 6 năm 2024 sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Đất đai số 31/2024/QH15,
Luật Nhà ở số 27/2023/QH15, Luật Kinh doanh bất động sản số 29/2023/QH15 và
Luật Các tổ chức tín dụng số 32/2024/QH15 và tại thời điểm có văn bản chấp
thuận chủ trương đầu tư hoặc lựa chọn nhà đầu tư, chủ đầu tư của cơ quan có
thẩm quyền hoặc đã lựa chọn được nhà đầu tư, chủ đầu tư theo đúng quy định của
pháp luật về đầu tư, pháp luật về nhà ở, pháp luật về đấu thầu mà thuộc trường
hợp Nhà nước thu hồi đất nhưng đến nay chưa hoàn thành việc thu hồi đất và nhà
đầu tư, chủ đầu tư đã ứng trước tiền bồi thường, hỗ trợ, tái định cư hoặc đã
chi trả bồi thường, hỗ trợ tái định cư một phần diện tích của dự án thì được
tiếp tục thực hiện thu hồi đất, bồi thường, hỗ trợ, tái định cư để giao đất,
cho thuê đất theo quy định tại khoản 9, khoản 10 Điều 255 Luật Đất đai, khoản 3
Điều 1 Luật số 43/2024/QH15.
Điều 32. Trách
nhiệm thi hành
1. Các bộ, Ủy
ban nhân dân cấp tỉnh có trách nhiệm hướng dẫn thi hành các điều, khoản được
giao trong Nghị định này và rà soát các văn bản đã ban hành để sửa đổi, bổ sung
hoặc thay thế cho phù hợp với quy định tại Nghị định này để có hiệu lực đồng
thời với Nghị định này.
2. Các Bộ
trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ, Thủ trưởng cơ quan thuộc Chính phủ, Chủ
tịch Ủy ban nhân dân các cấp, tổ chức và cá nhân khác có liên quan chịu trách
nhiệm thi hành Nghị định này./.
|
BỘ NÔNG NGHIỆP VÀ Số:
53/VBHN-BNNMT Nơi nhận: |
XÁC THỰC VĂN BẢN HỢP
NHẤT Hà Nội, ngày 05 tháng 5 năm 2026 KT. BỘ TRƯỞNG |
Phụ lục[33]
[1] Nghị định số
151/2025/NĐ-CP ngày 12 tháng 6 năm 2025 của Chính phủ quy định về phân định
thẩm quyền của chính quyền địa phương 2 cấp, phân quyền, phân cấp trong lĩnh
vực đất đai có căn cứ ban hành như sau:
“Căn cứ Luật Tổ chức
Chính phủ năm 2025;
Căn cứ Luật Tổ chức
chính quyền địa phương năm 2025;
Căn cứ Nghị quyết số
190/2025/QH15 ngày 19 tháng 02 năm 2025 của Quốc hội quy định về xử lý một số
vấn đề liên quan đến sắp xếp tổ chức bộ máy nhà nước;
Theo đề nghị của Bộ
trưởng Bộ Nông nghiệp và Môi trường;
Chính phủ ban hành Nghị
định quy định về phân định thẩm quyền của chính quyền địa phương 02 cấp, phân
quyền, phân cấp trong lĩnh vực đất đai.”.
Nghị định số
226/2025/NĐ-CP ngày 15 tháng 8 năm 2025 của Chính phủ sửa đổi, bổ sung một số
điều của các nghị định quy định chi tiết thi hành Luật Đất đai có căn cứ ban
hành như sau:
“Căn cứ Luật Tổ chức
Chính phủ số 63/2025/QH15;
Căn cứ Luật Tổ chức
chính quyền địa phương số 72/2025/QH15;
Căn cứ Luật Đất đai số
31/2024/QH15 được sửa đổi, bổ sung một số điều bởi các Luật số 43/2024/QH15, số
47/2024/QH15, số 58/2024/QH15, Luật số 71/2025/QH15, số 84/2025/QH15, số
93/2025/QH15 và số 95/2025/QH15;
Căn cứ Nghị quyết số
190/2025/QH15 của Quốc hội quy định về xử lý một số vấn đề liên quan đến sắp
xếp tổ chức bộ máy nhà nước;
Căn cứ Nghị quyết số
198/2025/QH15 của Quốc hội quy định về một số cơ chế, chính sách đặc biệt phát
triển kinh tế tư nhân;
Căn cứ Nghị quyết số
206/2025/QH15 của Quốc hội về cơ chế đặc biệt xử lý khó khăn, vướng mắc do quy
định của pháp luật;
Theo đề nghị của Bộ
trưởng Bộ Nông nghiệp và Môi trường;
Chính phủ ban hành Nghị
định sửa đổi, bổ sung một số điều của các nghị định quy định chi tiết thi hành Luật Đất
đai.”
Nghị định số
49/2026/NĐ-CP ngày 31 tháng 01 năm 2026 của Chính phủ quy định chi tiết và
hướng dẫn một số điều của Nghị quyết số 254/2025/QH15 của Quốc hội quy định một
số cơ chế, chính sách tháo gỡ khó khăn, vướng mắc trong tổ chức thi hành Luật
Đất đai có căn cứ ban hành như sau:
Căn cứ Luật Tổ chức
Chính phủ số 63/2025/QH15;
Căn cứ Luật Tổ chức
chính quyền địa phương số 72/2025/QH15;
Căn cứ Luật Đất đai số
31/2024/QH15 được sửa đổi, bổ sung một số điều bởi các Luật số 43/2024/QH15, số
47/2024/QH15, số 58/2024/QH15, số 71/2025/QH15, số 84/2025/QH15, số
93/2025/QH15, số 95/2025/QH15, số 146/2025/QH15 và số 147/2025/QH15 (sau đây
gọi là Luật Đất đai);
Căn cứ Nghị quyết số
190/2025/QH15 của Quốc hội quy định về việc xử lý một số vấn đề liên quan đến
sắp xếp tổ chức bộ máy nhà nước;
Căn cứ Nghị quyết số
254/2025/QH15 của Quốc hội quy định một số cơ chế, chính sách tháo gỡ khó khăn,
vướng mắc trong tổ chức thi hành Luật Đất đai;
Theo đề nghị của Bộ
trưởng Bộ Nông nghiệp và Môi trường;
Chính phủ ban hành Nghị định quy
định chi tiết và hướng dẫn một số điều của Nghị quyết số 254/2025/QH15 của Quốc hội
quy định một số cơ chế, chính sách tháo gỡ khó khăn, vướng mắc trong tổ chức
thi hành Luật Đất đai”
[2] Cụm từ “và công chức làm
công tác địa chính ở cấp xã” được bãi bỏ theo quy định tại điểm b khoản 2
Điều 7 Nghị định số 226/2025/NĐ-CP ngày 15 tháng 8 năm 2025 của Chính phủ sửa
đổi, bổ sung một số điều của các nghị định quy định chi tiết thi hành Luật Đất
đai, có hiệu lực kể từ ngày 15 tháng 8 năm 2025.
[3] Điểm này được bổ sung theo quy
định tại khoản 1 Điều 11 Nghị định số 49/2026/NĐ-CP ngày 31 tháng 01 năm 2026
của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn một số điều của Nghị quyết số
254/2025/QH15 của Quốc hội quy định một số cơ chế, chính sách tháo gỡ khó khăn,
vướng mắc trong tổ chức thi hành Luật Đất đai, có hiệu lực kể từ ngày 31 tháng
01 năm 2026.
[4] Cụm từ “Mẫu
quyết định phê duyệt phương án bồi thường, hỗ trợ, tái định cư tại Phụ lục ban
hành kèm theo Nghị định này” được thay thế bởi cụm từ “Mẫu quyết định
phê duyệt phương án bồi thường, hỗ trợ, tái định cư tại Phụ lục ban hành kèm
theo Nghị định số 151/2025/NĐ-CP” theo quy định tại gạch đầu dòng thứ 1
điểm a khoản 2 Điều 7 Nghị định số 226/2025/NĐ-CP ngày 15 tháng 8 năm 2025 của
Chính phủ sửa đổi, bổ sung một số điều của các nghị định quy định chi tiết thi
hành Luật Đất đai, có hiệu lực kể từ ngày 15 tháng 8 năm 2025.
Gạch đầu dòng thứ 1 điểm a khoản
2 Điều 7 Nghị định số 226/2025/NĐ-CP được bãi bỏ theo quy định tại tiết g1 điểm
g khoản 3 Điều 16 Nghị định số 49/2026/NĐ-CP ngày 31 tháng 01 năm 2026 của
Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn một số điều của Nghị quyết số
254/2025/QH15 của Quốc hội quy định một số cơ chế, chính sách tháo gỡ khó khăn,
vướng mắc trong tổ chức thi hành Luật Đất đai, có hiệu lực kể từ ngày 31 tháng
01 năm 2026.
[5] Khoản này được sửa đổi, bổ sung
theo quy định tại khoản 2 Điều 11 Nghị định số 49/2026/NĐ-CP ngày 31 tháng 01
năm 2026 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn một số điều của Nghị
quyết số 254/2025/QH15 của Quốc hội quy định một số cơ chế, chính sách tháo gỡ
khó khăn, vướng mắc trong tổ chức thi hành Luật Đất đai, có hiệu lực kể từ ngày
31 tháng 01 năm 2026.
[6] Khoản này được sửa đổi, bổ sung
theo quy định tại khoản 3 Điều 11 Nghị định số 49/2026/NĐ-CP ngày 31 tháng 01
năm 2026 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn một số điều của Nghị
quyết số 254/2025/QH15 của Quốc hội quy định một số cơ chế, chính sách tháo gỡ
khó khăn, vướng mắc trong tổ chức thi hà nh Luật Đất đai, có hiệu lực kể từ
ngày 31 tháng 01 năm 2026.
[7] Điều này được bổ sung theo quy
định tại khoản 1 Điều 2 Nghị định số 226/2025/NĐ-CP ngày 15 tháng 8 năm 2025
của Chính phủ sửa đổi, bổ sung một số điều của các nghị định quy định chi tiết
thi hành Luật Đất đai, có hiệu lực kể từ ngày 15 tháng 8 năm 2025
[8] Cụm từ “cấp huyện, xã” được
thay thế bởi cụm từ “cấp xã” theo quy định tại điểm a khoản 2 Điều 7 Nghị định
số 226/2025/NĐ-CP ngày 15 tháng 8 năm 2025 của Chính phủ sửa đổi, bổ sung một
số điều của các nghị định quy định chi tiết thi hành Luật Đất đai, có hiệu lực
kể từ ngày 15 tháng 8 năm 2025.
[9] Cụm từ “xã, phường, thị trấn
nơi có đất thu hồi” được thay thế bởi cụm từ “cấp xã nơi có đất thu hồi” theo
quy định tại điểm a khoản 2 Điều 7 Nghị định số 226/2025/NĐ-CP ngày 15 tháng 8
năm 2025 của Chính phủ sửa đổi, bổ sung một số điều của các nghị định quy định
chi tiết thi hành Luật Đất đai, có hiệu lực kể từ ngày 15 tháng 8 năm 2025.
[10] Cụm từ “xã, phường, thị trấn
nơi có đất thu hồi” được thay thế bởi cụm từ “cấp xã nơi có đất thu hồi” theo
quy định tại điểm a khoản 2 Điều 7 Nghị định số 226/2025/NĐ-CP ngày 15 tháng 8
năm 2025 của Chính phủ sửa đổi, bổ sung một số điều của các nghị định quy định
chi tiết thi hành Luật Đất đai, có hiệu lực kể từ ngày 15 tháng 8 năm 2025.
[11] Đoạn “G: Giá đất cụ thể tại
thời điểm phê duyệt phương án bồi thường, hỗ trợ, tái định cư;” được thay thế
bởi đoạn “G: Giá đất tính theo bảng giá đất và hệ số điều chỉnh giá đất đối với
trường hợp quy định tại khoản 3 Điều 5 của Nghị quyết số 254/2025/QH15 hoặc
tính theo giá đất cụ thể đối với trường hợp quy định tại khoản 5 Điều 7 của
Nghị quyết số 254/2025/QH15 tại thời điểm phê duyệt phương án bồi thường, hỗ
trợ, tái định cư;” theo quy định tại khoản 4 Điều 11 Nghị định số 49/2026/NĐ-CP
ngày 31 tháng 01 năm 2026 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn một số
điều của Nghị quyết số 254/2025/QH15 của Quốc hội quy định một số cơ chế, chính
sách tháo gỡ khó khăn, vướng mắc trong tổ chức thi hành Luật Đất đai, có hiệu
kể từ ngày 31 tháng 01 năm 2026
[12] Khoản này được bổ sung theo quy
định tại khoản 5 Điều 11 Nghị định số 49/2026/NĐ-CP ngày 31 tháng 01 năm 2026
của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn một số điều của Nghị quyết số
254/2025/QH15 của Quốc hội quy định một số cơ chế, chính sách tháo gỡ khó khăn,
vướng mắc trong tổ chức thi hành Luật Đất đai, có hiệu kể từ ngày 31 tháng 01
năm 2026.
[13] Điều này được bổ sung theo quy
định tại khoản 2 Điều 2 Nghị định số 226/2025/NĐ-CP ngày 15 tháng 8 năm 2025
của Chính phủ quy định sửa đổi, bổ sung một số điều của các nghị định quy định
chi tiết thi hành Luật Đất đai, có hiệu kể từ ngày 15 tháng 8 năm 2025.
[14] Cụm từ “cấp huyện” được thay
thay thế bởi cụm từ “cấp xã” theo quy định tại theo quy định tại điểm a khoản 2
Điều 7 Nghị định số 226/2025/NĐ-CP ngày 15 tháng 8 năm 2025 của Chính phủ sửa
đổi, bổ sung một số điều của các nghị định quy định chi tiết thi hành Luật Đất
đai, có hiệu lực kể từ ngày 15 tháng 8 năm 2025.
[15] Cụm từ “Trường hợp quận, thành
phố, thị xã thuộc thành phố trực thuộc trung ương, thị xã, thành phố thuộc tỉnh
nơi có đất thu hồi” được thay thế bởi cụm từ “Trường hợp cấp xã nơi có đất thu
hồi” theo quy định tại điểm a khoản 2 Điều 7 Nghị định số 226/2025/NĐ-CP ngày
15 tháng 8 năm 2025 của Chính phủ sửa đổi, bổ sung một số điều của các nghị
định quy định chi tiết thi hành Luật Đất đai, có hiệu lực kể từ ngày 15 tháng 8
năm 2025.
[16] Cụm từ “cấp huyện” được thay
thế bởi cụm từ “cấp xã” theo quy định tại điểm a khoản 2 Điều 7 Nghị định số
226/2025/NĐ-CP ngày 15 tháng 8 năm 2025 của Chính phủ sửa đổi, bổ sung một số
điều của các nghị định quy định chi tiết thi hành Luật Đất đai, có hiệu lực kể
từ ngày 15 tháng 8 năm 2025.
[17] Khoản này được sửa đổi, bổ sung
theo quy định tại khoản 3 Điều 2 Nghị định số 226/2025/NĐ-CP ngày 15 tháng 8
năm 2025 của Chính phủ sửa đổi, bổ sung một số điều của các nghị định quy định
chi tiết thi hành Luật Đất đai, có hiệu lực kể từ ngày 15 tháng 8 năm 2025.
[18] Cụm từ “xã, phường, thị trấn
nơi có đất thu hồi” được thay thế bởi cụm từ “cấp xã nơi có đất thu hồi” theo
quy định tại điểm a khoản 2 Điều 7 Nghị định số 226/2025/NĐ-CP ngày 15 tháng 8
năm 2025 của Chính phủ sửa đổi, bổ sung một số điều của các nghị định quy định
chi tiết thi hành Luật Đất đai, có hiệu lực kể từ ngày 15 tháng 8 năm 2025.
[19] Cụm từ “Ủy ban nhân dân cấp có
thẩm quyền” được thay thế bởi cụm từ “cơ quan có thẩm quyền” theo quy định tại
điểm a khoản 2 Điều 7 Nghị định số 226/2025/NĐ-CP ngày 15 tháng 8 năm 2025 của
Chính phủ sửa đổi, bổ sung một số điều của các nghị định quy định chi tiết thi
hành Luật Đất đai, có hiệu lực kể từ ngày 15 tháng 8 năm 2025.
[20] Điểm này được bổ sung theo quy
định tại khoản 4 Điều 2 Nghị định số 226/2025/NĐ-CP ngày 15 tháng 8 năm 2025
của Chính phủ sửa đổi, bổ sung một số điều của các nghị định quy định chi tiết
thi hành Luật Đất đai, có hiệu lực kể từ ngày 15 tháng 8 năm 2025”
[21] Khoản này được bổ sung theo quy
định tại khoản 6 Điều 11 Nghị định số 49/2026/NĐ-CP ngày 31 tháng 01 năm 2026
của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn một số điều của Nghị quyết số
254/2025/QH15 của Quốc hội quy định một số cơ chế, chính sách tháo gỡ khó khăn,
vướng mắc trong tổ chức thi hành Luật Đất đai, có hiệu lực kể từ ngày 31 tháng
01 năm 2026.
[22] Khoản này được bổ sung theo quy
định tại khoản 5 Điều 2 Nghị định số 226/2025/NĐ-CP ngày 15 tháng 8 năm 2025
của Chính phủ sửa đổi, bổ sung một số điều của các nghị định quy định chi tiết
thi hành Luật Đất đai, có hiệu lực kể từ ngày 15 tháng 8 năm 2025.
[23] Cụm từ “cấp huyện” được thay
thế bởi cụm từ “cấp xã” theo quy định tại điểm a khoản 2 Điều 7 Nghị định số
226/2025/NĐ-CP ngày 15 tháng 8 năm 2025 của Chính phủ sửa đổi, bổ sung một số
điều của các nghị định quy định chi tiết thi hành Luật Đất đai, có hiệu lực kể
từ ngày 15 tháng 8 năm 2025.
[24] Khoản này được bổ sung theo quy
định tại khoản 6 Điều 2 Nghị định số 226/2025/NĐ-CP ngày 15 tháng 8 năm 2025
của Chính phủ sửa đổi, bổ sung một số điều của các nghị định quy định chi tiết
thi hành Luật Đất đai, có hiệu lực kể từ ngày 15 tháng 8 năm 2025.
[25] Khoản này được bổ sung theo quy
định tại khoản 6 Điều 2 Nghị định số 226/2025/NĐ-CP ngày 15 tháng 8 năm 2025
của Chính phủ sửa đổi, bổ sung một số điều của các nghị định quy định chi tiết
thi hành Luật Đất đai, có hiệu lực kể từ ngày 15 tháng 8 năm 2025”
[26] Khoản này được sửa đổi, bổ sung
theo quy định tại khoản 7 Điều 11 Nghị định số 49/2026/NĐ-CP ngày 31 tháng 01
năm 2026 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn một số điều của Nghị
quyết số 254/2025/QH15 của Quốc hội quy định một số cơ chế, chính sách tháo gỡ
khó khăn, vướng mắc trong tổ chức thi hành Luật Đất đai, có hiệu lực kể từ ngày
31 tháng 01 năm 2026.
[27] Khoản này được sửa đổi, bổ sung
theo quy định tại điểm a khoản 7 Điều 2 Nghị định số 226/2025/NĐ- CP ngày 15
tháng 8 năm 2025 của Chính phủ sửa đổi, bổ sung một số điều của các nghị định
quy định chi tiết thi hành Luật Đất đai, có hiệu lực kể từ ngày 15 tháng 8 năm
2025”
[28] Khoản này được sửa đổi, bổ sung
theo quy định tại điểm b khoản 7 Điều 2 Nghị định số 226/2025/NĐ- CP ngày 15
tháng 8 năm 2025 của Chính phủ sửa đổi, bổ sung một số điều của các nghị định
quy định chi tiết thi hành Luật Đất đai, có hiệu lực kể từ ngày 15 tháng 8 năm
2025.
[29] Khoản này được sửa đổi, bổ sung
theo quy định tại khoản 8 Điều 11 Nghị định số 49/2026/NĐ-CP ngày 31 tháng 01
năm 2026 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn một số điều của Nghị
quyết số 254/2025/QH15 của Quốc hội quy định một số cơ chế, chính sách tháo gỡ
khó khăn, vướng mắc trong tổ chức thi hành Luật Đất đai, có hiệu lực kể từ ngày
31 tháng 01 năm 2026.
[30] Các điều 21, 22 và 23 Nghị định số
151/2025/NĐ-CP ngày 12 tháng 6 năm 2025 của Chính phủ quy định về phân định
thẩm quyền của chính quyền địa phương 02 cấp, phân quyền, phân cấp trong lĩnh
vực đất đai, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2025 quy định như sau:
“Điều 21. Hiệu lực
thi hành
1. Nghị định này có
hiệu lực thi hành từ ngày 01 tháng 7 năm 2025.
2. Nghị định này được
thực hiện đến trước ngày 01 tháng 3 năm 2027. Trường hợp các văn bản quy phạm
pháp luật có liên quan đã được sửa đổi, bổ sung, ban hành mới để phù hợp với
việc tổ chức chính quyền 02 cấp thì thực hiện theo các văn bản quy phạm pháp luật
mới được ban hành.
3. Ban hành kèm theo
Nghị định này Phụ lục trình tự, thủ tục trong lĩnh vực đất đai đã được sửa đổi,
bổ sung theo thẩm quyền được phân quyền, phân cấp, phân định tại Chương II của
Nghị định này.
4. Các quy định sau đây
hết hiệu lực kể từ ngày Nghị định này có hiệu lực thi hành
a) Khoản 1 và khoản 2
Điều 22 Nghị định số 71/2024/NĐ-CP;
b) Khoản 5 và khoản 11
Điều 9; khoản 1 Điều 19; khoản 3 Điều 20; các Điều 21, 22, 28, 29, 30, 31, 32, 33, 34, 35,
36, 37, 38, 39, 40, 41, 42, 43, 44, 45, 46, 47, 48, 49, 60; các Mẫu số 01/ĐK,
02/ĐK, 03/ĐK, 04/ĐK, 05/ĐK, 06/ĐK, 07/ĐK, 08/ĐK, 09/ĐK, 10/ĐK, 11/ĐK,
12/ĐK, 14/ĐK Nghị định số 101/2024/NĐ-CP;
c) Khoản 1 Điều 14;
khoản 1 và khoản 5 Điều 54; điểm c khoản 2 và điểm a khoản 3 Điều 94; khoản 4
và khoản 6 Điều 99; khoản 3 Điều 100; điểm b khoản 6 Điều 101; các Điều 20, 21,
23, 44, 45, 48, 49, 51, 52, 53, 60, 64, 66, 68, 73, 106, 107 Nghị định
số 102/2024/NĐ-CP;
d) Các Điều 11, 12 và
13 Nghị định số 112/2024/NĐ-CP ngày 11 tháng 9 năm 2024 của Chính phủ quy định
chi tiết về đất trồng lúa.
Điều 22. Điều khoản
chuyển tiếp
1. Các nhiệm vụ quản lý
nhà nước về đất đai đang thực hiện theo quy định của Luật Đất đai và các văn
bản quy định chi tiết một số điều của Luật Đất đai trước ngày 01 tháng 7 năm
2025 nhưng chưa kết thúc nhiệm vụ thì Ủy ban nhân dân cấp tỉnh quyết định việc
tiếp tục thực hiện nhiệm vụ này cho phù hợp với từng trường hợp cụ thể.
2. Các đơn vị hành
chính cấp xã sau sắp xếp được tiếp tục sử dụng quy hoạch sử dụng đất cấp huyện,
kế hoạch sử dụng đất hằng năm cấp huyện hoặc quy hoạch được lập theo quy định
của pháp luật về quy hoạch đô thị và nông thôn đã được cơ quan nhà nước có thẩm
quyền phê duyệt theo quy định của pháp luật trước ngày 01 tháng 7 năm 2025 trên
địa bàn hoặc chỉ tiêu sử dụng đất trong phương án phân bổ và khoanh vùng đất
đai của quy hoạch tỉnh được phân bổ đến đơn vị hành chính cấp xã sau sắp xếp để
làm căn cứ thực hiện các nhiệm vụ quản lý nhà nước về đất đai cho đến khi hoàn
thành công tác rà soát, lập quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất theo các đơn vị
hành chính mới.
3. Quy định chuyển tiếp
đối với thu hồi đất, bồi thường, hỗ trợ, tái định cư:
a) Trường hợp Ủy ban
nhân dân cấp huyện đã ban hành quyết định phê duyệt phương án bồi thường, hỗ
trợ, tái định cư theo quy định của Luật Đất đai trước ngày 01 tháng 7 năm 2025
nhưng chưa ban hành quyết định thu hồi đất thì Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã
tiếp tục thực hiện các thủ tục theo thẩm quyền quy định của Luật Đất đai và
Nghị định này đối với phần diện tích trên địa bàn cấp xã;
b) Trường hợp đang thực
hiện trình tự, thủ tục bồi thường, hỗ trợ, tái định cư, thu hồi đất theo quy
định tại
Điều 87 Luật Đất đai trước ngày 01 tháng 7 năm 2025 nhưng chưa ban hành
quyết định phê duyệt phương án bồi thường, hỗ trợ, tái định cư thì Chủ
tịch Ủy ban nhân dân cấp xã tiếp tục thực hiện các bước theo quy định của Luật
Đất đai và Nghị định này đối với phần diện tích trên địa bàn cấp xã;
c) Trường hợp đã có
quyết định cưỡng chế thực hiện quyết định thu hồi đất theo quy định của Luật
Đất đai trước ngày 01 tháng 7 năm 2025 nhưng chưa tổ chức thực hiện cưỡng chế
thì Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã thực hiện việc cưỡng chế theo quy định của Luật
Đất đai và Nghị định này;
d) Trường hợp tổ chức
thực hiện định giá đất, tổ chức làm nhiệm vụ bồi thường, hỗ trợ, tái định cư
đang thực hiện nhiệm vụ theo quy định của Luật Đất đai trước ngày 01 tháng 7
năm 2025 nhưng chưa kết thúc nhiệm vụ thì Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh quyết
định việc tiếp tục thực hiện nhiệm vụ này cho phù hợp với từng trường hợp cụ
thể.
4. Trường hợp dự án có
một phần diện tích đất đã phê duyệt phương án bồi thường, hỗ trợ, tái định cư
theo quy định do Ủy ban nhân dân cấp tỉnh ban hành theo thẩm quyền được giao
tại Luật Đất đai năm 2024 và các văn bản hướng dẫn thi hành Luật Đất đai nhưng
đến trước ngày 01 tháng 7 năm 2025 còn diện tích đất chưa phê duyệt phương án
thì Ủy ban nhân dân cấp tỉnh sau sắp xếp quyết định lựa chọn quy định về bồi th
ường, hỗ trợ, tái định cư đã ban hành để tổ chức thực hiện.
5. Trường hợp đã nộp hồ
sơ đề nghị giao đất, cho thuê đất, chuyển mục đích sử dụng đất trước ngày 01
tháng 7 năm 2025 nhưng chưa được cơ quan có thẩm quyền giải quyết thì thực hiện
như sau:
a) Trường hợp thuộc
thẩm quyền của Ủy ban nhân dân cấp tỉnh theo quy định của pháp luật trước ngày
01 tháng 7 năm 2025 thì nay Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh giải quyết theo
trình tự, thủ tục quy định của pháp luật đất đai trước ngày Nghị định này có hiệu
lực thi hành;
b) Trường hợp thuộc
thẩm quyền của Ủy ban nhân dân cấp huyện theo quy định của pháp luật trước ngày 01 tháng 7
năm 2025 thì nay Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã giải quyết theo trình tự, thủ
tục quy định tại Nghị định này;
c) Các hợp đồng thuê
đất đã được ký trước ngày Nghị định này có hiệu lực thi hành thì được tiếp tục
có hiệu lực cho đến khi hết thời hạn ghi trong hợp đồng.
6. Hồ sơ đăng ký đất
đai, tài sản gắn liền với đất, cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở
hữu tài sản gắn liền với đất đã được tiếp nhận trước ngày 01 tháng 7 năm 2025
nhưng chưa được cơ quan có thẩm quyền giải quyết thì thực hiện như sau:
a) Trường hợp thuộc
thẩm quyền của Ủy ban nhân dân cấp tỉnh theo quy định của pháp luật trước ngày
01 tháng 7 năm 2025 thì nay giải quyết theo trình tự, thủ tục quy định của pháp
luật đất đai trước ngày Nghị định này có hiệu lực thi hành;
b) Trường hợp thuộc
thẩm quyền của Ủy ban nhân dân cấp huyện theo quy định của pháp luật trước ngày 01 tháng 7
năm 2025 thì nay Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã giải quyết theo trình tự, thủ
tục quy định tại Nghị định này.
7. Đối với trường hợp
các địa phương đang thực hiện xây dựng bảng giá đất để công bố và áp dụng từ
ngày 01 tháng 01 năm 2026, nay thực hiện theo mô hình chính quyền địa phương 02
cấp thì Ủy ban nhân dân cấp tỉnh của đơn vị hành chính mới tiếp tục thực hiện
nhiệm vụ xây dựng bảng giá đất để kịp thời công bố và áp dụng từ ngày 01 tháng
01 năm 2026 theo quy định pháp luật.
Điều 23. Trách nhiệm
thi hành
1. Cơ quan, người có
thẩm quyền được phân quyền, phân cấp, phân định thẩm quyền khi tiếp nhận thực
hiện chức năng, nhiệm vụ quản lý nhà nước trong lĩnh vực đất đai có trách nhiệm
sau đây:
a) Rà soát các nhiệm vụ
được phân quyền, phân cấp, phân định thẩm quyền quy định tại Nghị định này để
chỉnh sửa, bổ sung và công bố Quyết định danh mục thủ tục hành chính thuộc thẩm
quyền giải quyết; bảo đảm giải quyết thủ tục hành chính sau phân quyền, phân
cấp, phân định thẩm quyền được thông suốt, không bị gián đoạn;
b) Kế thừa toàn bộ hồ
sơ, tài liệu, các bước thực hiện và kết quả giải quyết của cơ quan, người có
thẩm quyền đã thực hiện trước ngày Nghị định này có hiệu lực thi hành. Không
được yêu cầu cá nhân, tổ chức nộp lại hồ sơ đã nộp; không thực hiện lại các bước
trong thủ tục hành chính đã thực hiện trước khi phân quyền, phân cấp, phân định
thẩm quyền;
c) Tiếp nhận và thực
hiện quản lý nhà nước đối với các nhiệm vụ đã được phân quyền, phân cấp, phân
định thẩm quyền do cơ quan, người có thẩm quyền thực hiện trước ngày Nghị định
này có hiệu lực th i hành.
2. Các Bộ trưởng, Thủ
trưởng cơ quan ngang bộ, Thủ trưởng cơ quan thuộc Chính phủ, Chủ tịch Ủy ban
nhân dân các cấp và các tổ chức, cá nhân có liên quan chịu trách nhiệm thi hành
Nghị định này./.”
Các điều 8, 9 và 10 của
Nghị định số 226/2025/NĐ-CP ngày 15 tháng 8 năm 2025 của Chính phủ sửa đổi, bổ
sung một số điều của các nghị định quy định chi tiết thi hành Luật Đất đai, có
hiệu lực kể từ ngày 15 tháng 8 năm 2025 quy định như sau:
“Điều 8. Điều khoản
chuyển tiếp
1. Đối với trường hợp
bồi thường, hỗ trợ, tái định cư đã được triển khai nhưng chưa có quyết định phê
duyệt phương án bồi thường, hỗ trợ, tái định cư của cơ quan nhà nước có thẩm
quyền trước ngày Nghị định này có hiệu lực thi hành thì tiếp tục thực hiện việc
bồi thường, hỗ trợ, tái định cư theo quy định của Nghị định này.
2. Các trường hợp đã
triển khai thực hiện xác định giá đất cụ thể trước ngày Nghị định này có hiệu
lực thi hành nhưng chưa ban hành quyết định giá đất cụ thể thì Chủ tịch Ủy ban
nhân dân cấp có thẩm quyền quyết định việc tiếp tục thực hiện và ban hành quyết
định giá đất cụ thể theo quy định của pháp luật trước ngày Nghị định này có
hiệu lực thi hành hoặc áp dụng quy định tại Nghị định này.
3. Trường hợp đã được
cấp có thẩm quyền giao đất, cho thuê đất trước ngày Nghị định này có hiệu lực
thi hành nhưng chưa được giao rừng, cho thuê rừng thì thực hiện giao rừng, cho
thuê rừng theo quy định của pháp luật về lâm nghiệp và các quy định liên quan
tại Nghị định này.
Trường hợp đã giao
rừng, cho thuê rừng trước ngày Nghị định này có hiệu lực thi hành mà chưa có
quyết định giao đất, cho thuê đất thì trình tự, thủ tục giao đất, cho thuê đất
thực hiện theo quy định tại Nghị định này.
4. Các dự án phải
chuyển mục đích sử dụng đất trồng lúa, đất rừng đặc dụng, đất rừng phòng hộ,
đất rừng sản xuất đã được Hội đồng nhân dân cấp tỉnh thông qua trước ngày Nghị
định này có hiệu lực thi hành thì tiếp tục thực hiện việc giao đất, cho thuê
đất, cho phép chuyển mục đích sử dụng đất theo quy định.
5. Các biểu mẫu quy
định trong Nghị định này và Nghị định số 151/2025/NĐ-CP thay thế các biểu mẫu
quy định trong các nghị định quy định chi tiết thi hành Luật Đất đai. Trường
hợp các biểu mẫu quy định trong các nghị định quy định chi tiết thi hành Luật Đất
đai không sửa đổi, bổ sung, thay thế, bãi bỏ tại Nghị định này và Nghị định số
151/2025/NĐ-CP thì tiếp tục thực hiện.
6. Trường hợp các nội
dung, trình tự, thủ tục tại Nghị định số 151/2025/NĐ-CP có sự khác biệt so với
Nghị định này thì thực hiện theo quy định tại Nghị định này.
Điều 9. Hiệu lực thi
hành
1. Nghị định này có
hiệu lực thi hành từ ngày 15 tháng 8 năm 2025.
2. Các quy định sau đây
hết hiệu lực kể từ ngày Nghị định này có hiệu lực thi hành:
a) Nghị định số
96/2019/NĐ-CP ngày 19 tháng 12 năm 2019 của Chính phủ quy định về khung giá
đất;
b) Nghị định số
26/2021/NĐ-CP ngày 25 tháng 3 năm 2021 của Chính phủ về việc quy định chi tiết
một số điều của Nghị quyết số 132/2020/QH14 ngày 17 tháng 11 năm 2020 của Quốc
hội thí điểm một số chính sách để tháo gỡ vướng mắc, tồn đọng trong quản lý, sử
dụng đất quốc phòng, an ninh kết hợp với hoạt động lao động sản xuất, xây dựng
kinh tế.
Điều 10. Trách nhiệm
thi hành
Các Bộ trưởng, Thủ
trưởng cơ quan ngang bộ, Thủ trưởng cơ quan thuộc Chính phủ, Chủ tịch Ủy ban
nhân dân các cấp, tổ chức và cá nhân có liên quan chịu trách nhiệm thi hành
Nghị định này./.”
Các điều 16, 19 và 22
của Nghị định số 49/2026/NĐ-CP ngày 31 tháng 01 năm 2026 của Chính phủ quy định
chi tiết và hướng dẫn một số điều của Nghị quyết số 254/2025/QH15 của Quốc hội
quy định một số cơ chế, chính sách tháo gỡ khó khăn, vướng mắc trong tổ chức
thi hành Luật Đất đai, có hiệu lực kể từ ngày 31 tháng 01 năm 2026 quy định như
sau:
“Điều 16. Hiệu lực
thi hành
1. Nghị định này có
hiệu lực thi hành từ ngày 31 tháng 01 năm 2026.
2. Chương IV Nghị định
này được thực hiện đến trước ngày 01 tháng 3 năm 2027. Trường hợp các văn bản
quy phạm pháp luật có liên quan đã được sửa đổi, bổ sung, ban hành mới để phù
hợp với việc tổ chức chính quyền 02 cấp thì thực hiện theo các văn bản quy
phạm pháp luật mới được ban hành.
Các quy định về giá
đất, về giá bán nhà ở tái định cư, về trưng dụng đất không quy định tại Nghị
định này thì tiếp tục thực hiện theo Nghị định số 151/2025/NĐ-CP (được sửa đổi,
bổ sung bởi Nghị định số 226/2025/NĐ- CP).
3. Các quy định sau đây
hết hiệu lực kể từ ngày Nghị định này có hiệu lực thi hành:
a) Điều 11; khoản 1
Điều 12; các Điều 16, 17, 24, 25, 26, 27, 28, 29 và 37; điểm a khoản 1 Điều 38
của
Nghị định số 71/2024/NĐ-CP;
b) Khoản 3 Điều 18;
điểm d khoản 1 và điểm d khoản 2 Điều 24; khoản 3 và khoản 4 Điều 65 của Nghị
định số 101/2024/NĐ-CP;
c) Khoản 2 Điều 30;
Điều 32; Điều 33; Điều 34; Điều 50; khoản 5 Điều 54 và Điều 65 của Nghị định số 102/2024/NĐ-CP;
d) Khoản 4 Điều 77 của
Nghị định số 102/2024/NĐ-CP (đã được sửa đổi, bổ sung tại khoản 12 Điều 4 của Nghị định
số 226/2025/NĐ-CP);
đ) Các điều, khoản,
điểm của Nghị định số 151/2025/NĐ-CP, bao gồm:
đ1) Điều 4; khoản 3 và
điểm c khoản 4 Điều 7; khoản 3 Điều 8; Điều 10, Điều 11; khoản 3 và khoản 5 Điều 12;
các điểm b, c, d và e khoản 1, điểm đ khoản 2 Điều 14; điểm b khoản 1 và điểm
e, g khoản 2 Điều 17; Điều 19; Điều 20;
đ2) Điều 5, trừ các
điểm i khoản 1, điểm g khoản 2 và điểm d khoản 5;
đ3) Điều 9, trừ khoản
3, điểm i và điểm m khoản 4;
e) Các Phụ lục của Nghị
định số 151/2025/NĐ-CP, bao gồm:
e1) Phụ lục I, trừ các
nội dung sau: Khoản 6 Mục I Phần III; Phần IV; Phần VI; Phần VIII; Điểm b và
điểm c khoản 3 Mục II, điểm b và điểm c khoản 4 Mục III, điểm b khoản 3 Mục VI,
khoản 1 Mục VII, khoản 1 và nội dung tại tên khoản 2 Mục XI, khoản 1 Mục
XIII, khoản 1 Mục XVI nội dung C Phần V;
e2) Phụ lục II, trừ các
mẫu số: 14, 14a, 14b, 14c, 14d, 14đ, 28, 29, 30, 31, 32, 33, 34, 35, 36, 37,
38, 39,
40, 41, 42 và 43;
g) Các điều, khoản,
điểm và Phụ lục của Nghị định số 226/2025/NĐ-CP, bao gồm:
g1) Khoản 12 Điều 1;
khoản 1 Điều 3; các khoản 3, 4, 7, 8 và điểm b khoản 9, khoản 11, 13 và 15 Điều
4; các khoản 1, 2 và 3, điểm a và điểm b khoản 4, khoản 5 Điều 6; gạch đầu dòng
thứ 1, gạch đầu dòng thứ 7 điểm a khoản 2, điểm a khoản 4 Điều 7; các gạch đầu
dòng thứ 4, 6, 8, 11 và 12 điểm a khoản 3, khoản 6 Điều 7;
g2) Phụ lục IV.
4. Thay thế các cụm từ
sau đây:
a) Cụm từ “quy định tại
Mục 7 Phần XV của “Phần C. TRÌNH TỰ, THỦ TỤC ĐĂNG KÝ ĐẤT ĐAI, TÀI SẢN GẮN LIỀN
VỚI ĐẤT” này” bằng cụm từ “đối với trường hợp giấy chứng nhận cấp cho nhiều
thửa đất mà có một hoặc một số thửa đất bị thu hồi giấy chứng nhận theo quy
định” tại khoản 1 Mục VII nội dung C Phần V Phụ lục I của Nghị định số
151/2025/NĐ-CP;
b) Cụm từ “điểm d Mục 1
Phần I của “Phần B. HỒ SƠ THỰC HIỆN THỦ TỤC ĐĂNG KÝ ĐẤT ĐAI, TÀI SẢN GẮN LIỀN
VỚI ĐẤT” bằng cụm từ “khoản 4 Điều 45 của Luật Đất đai” tại khoản 1 Mục XI nội
dung C Phần V Phụ lục I của Nghị định số 151/2025/NĐ-CP.
Điều 19. Quy định
chuyển tiếp về thu hồi đất, bồi thường, hỗ trợ, tái định cư
1. Trường hợp đã có
quyết định thu hồi đất và quyết định phê duyệt phương án bồi thường, hỗ trợ,
tái định cư trước ngày Nghị định này có hiệu lực thi hành thì tiếp tục thực
hiện theo phương án bồi thường, hỗ trợ, tái định cư đã phê duyệt.
2. Trường hợp trước
ngày Nghị định này có hiệu lực thi hành mà chưa có quyết định phê duyệt phương
án bồi thường, hỗ trợ, tái định cư thì thực hiện việc bồi thường, hỗ trợ, tái
định cư, thu hồi đất theo quy định của Luật Đất đai, Nghị quyết số 254/2025/QH15
và Nghị định này.
Đối với dự án còn một
phần diện tích đất chưa phê duyệt phương án bồi thường, hỗ trợ, tái định cư
trước ngày Nghị định này có hiệu lực thi hành thì trong trường hợp cần thiết,
Ủy ban nhân dân cấp tỉnh xem xét, quyết định lựa chọn áp dụng một trong các quy
định của pháp luật sau đây để phê duyệt phương án bồi thường, hỗ trợ, tái định
cư:
a) Quy định của pháp
luật tại thời điểm đã phê duyệt phương án bồi thường, hỗ trợ, tái định cư;
b) Quy định của pháp
luật tại thời điểm Luật Đất đai có hiệu lực thi hành;
c) Quy định của pháp
luật có hiệu lực từ ngày Nghị định này có hiệu lực thi hành.
3. Trường hợp thông báo
thu hồi đất ban hành theo quy định của Luật Đất đai còn hiệu lực sau ngày Nghị
định này có hiệu lực thi hành thì tiếp tục thực hiện theo thông báo thu hồi đất
đã ban hành.
Điều 22. Trách nhiệm
thi hành
1. Các Bộ trưởng, Thủ
trưởng cơ quan ngang bộ, Thủ trưởng cơ quan thuộc Chính phủ, Chủ tịch Ủy ban
nhân dân các cấp và các tổ chức, cá nhân có liên quan chịu trách nhiệm thi hành
Nghị định này.
2. Trường hợp Ủy ban
nhân dân cấp tỉnh quy định trách nhiệm của các cơ quan, người có thẩm quyền khi
tổ chức thực hiện theo quy định của Nghị định này mà khác với quy định về trách
nhiệm tại Nghị định số 151/2025/NĐ-CP và Nghị định số
226/2025/NĐ-CP thì thực hiện theo quy định của Ủy ban nhân dân cấp tỉnh.
3. Trường hợp Nghị định này và
Nghị định khác có quy định khác nhau về cùng một vấn đề thì thực hiện theo quy
định của Nghị định này.”
[31] Cụm từ “Bộ Tài nguyên và Môi
trường” được thay thế bởi cụm từ “Bộ Nông nghiệp và Môi trường” theo quy định
tại khoản 1 Điều 3 Nghị quyết số 190/2025/QH15 ngày 19 tháng 02 năm 2025 của
Quốc hội quy định về xử lý một số vấn đề liên quan đến sắp xếp tổ chức bộ máy
nhà nước, có hiệu lực kể từ ngày 19 tháng 02 năm 2025.
[32] Khoản này được bổ sung theo quy
định tại khoản 8 Điều 2 Nghị định số 226/2025/NĐ-CP ngày 15 tháng 8 năm 2025
của Chính phủ sửa đổi, bổ sung một số điều của các nghị định quy định chi tiết
thi hành Luật Đất đai, có hiệu lực kể từ ngày 15 tháng 8 năm 2025.
[33] Mẫu quyết định phê duyệt phương án bồi thường,
hỗ trợ, tái định cư tại Phụ lục ban hành kèm theo Nghị định số 88/2024/NĐ-CP
được thay thế bởi Mẫu số 44 Phụ lục II ban hành kèm theo Nghị định số
151/2025/NĐ- CP theo quy định tại gạch đầu dòng thứ 1 điểm a khoản 2 Điều 7
Nghị định số 226/2025/NĐ-CP ngày 15 tháng 8 năm 2025 của Chính phủ sửa đổi, bổ
sung một số điều của các nghị định quy định chi tiết thi hành Luật Đất đai, có
hiệu lực kể từ ngày 15 tháng 8 năm 2025.
Gạch đầu dòng thứ 1 điểm a khoản
2 Điều 7 Nghị định số 226/2025/NĐ-CP được bãi bỏ theo quy định tại tiết g1 điểm
g khoản 3 Điều 16 Nghị định số 49/2026/NĐ-CP ngày 31 tháng 01 năm 2026 của
Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn một số điều của Nghị quyết số
254/2025/QH15 của Quốc hội quy định một số cơ chế, chính sách tháo gỡ khó khăn,
vướng mắc trong tổ chức thi hành Luật Đất đai, có hiệu lực kể từ ngày 31 tháng
01 năm 2026.
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét