|
|
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ
NGHĨA VIỆT NAM |
LUẬT
XỬ LÝ VI
PHẠM HÀNH CHÍNH
Luật Xử
lý vi phạm hành chính số 15/2012/QH13 ngày 20 tháng 6 năm 2012 của Quốc hội, có
hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2013, được sửa đổi, bổ sung bởi:
1. Luật
Hải quan số 54/2014/QH13 ngày 23 tháng 6 năm 2014 của Quốc hội, có hiệu lực kể
từ ngày 01 tháng 01 năm 2015;
2. Luật
Thủy sản số 18/2017/QH14 ngày 21 tháng 11 năm 2017 của Quốc hội, có hiệu lực kể
từ ngày 01 tháng 01 năm 2019;
3. Luật
số 67/2020/QH14 ngày 13 tháng 11 năm 2020 của Quốc hội sửa đổi, bổ sung một số
điều của Luật Xử lý vi phạm hành chính, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 01 năm
2022;
4. Luật
số 09/2022/QH15 ngày 09 tháng 11 năm 2022 của Quốc hội sửa đổi, bổ sung một số
điều của Luật Tần số vô tuyến điện, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2023;
5. Luật
Thanh tra số 11/2022/QH15 ngày 14 tháng 11 năm 2022 của Quốc hội, có hiệu lực
kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2023;
6. Luật
số 56/2024/QH15 ngày 29 tháng 11 năm 2024 của Quốc hội sửa đổi, bổ sung một số
điều của Luật Chứng khoán, Luật Kế toán, Luật Kiểm toán độc lập, Luật Ngân sách
nhà nước, Luật Quản lý, sử dụng tài sản công, Luật Quản lý thuế, Luật Thuế thu
nhập cá nhân, Luật Dự trữ quốc gia, Luật Xử lý vi phạm hành chính, có hiệu lực
kể từ ngày 01 tháng 01 năm 2025;
7. Luật
số 88/2025/QH15 ngày 25 tháng 6 năm 2025 của Quốc hội sửa đổi, bổ sung một số
điều của Luật Xử lý vi phạm hành chính, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm
2025;
8. Luật
An ninh mạng số 116/2025/QH15 ngày 10 tháng 12 năm 2025 của Quốc hội, có hiệu
lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2026;
9. Luật
Phòng, chống ma túy số 120/2025/QH15 ngày 10 tháng 12 năm 2025 của Quốc hội, có
hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2026.
Căn cứ
Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 1992 đã được sửa đổi, bổ
sung một số điều theo Nghị quyết số 51/2001/QH10;
Quốc
hội ban hành Luật Xử lý vi phạm hành chính[1].
Phần thứ nhất
NHỮNG QUY ĐỊNH CHUNG
Điều
1. Phạm vi điều chỉnh
Luật này
quy định về xử phạt vi phạm hành chính và các biện pháp xử lý hành chính.
Điều
2. Giải thích từ ngữ
Trong
Luật này, các từ ngữ dưới đây được hiểu như sau:
1. Vi
phạm hành chính là hành vi có lỗi do cá nhân, tổ chức thực hiện, vi phạm
quy định của pháp luật về quản lý nhà nước mà không phải là tội phạm và theo
quy định của pháp luật phải bị xử phạt vi phạm hành chính.
2. Xử
phạt vi phạm hành chính là việc người có thẩm quyền xử phạt áp dụng hình
thức xử phạt, biện pháp khắc phục hậu quả đối với cá nhân, tổ chức thực hiện
hành vi vi phạm hành chính theo quy định của pháp luật về xử phạt vi phạm hành
chính.
3. Biện
pháp xử lý hành chính là biện pháp được áp dụng đối với cá nhân vi phạm
pháp luật về an ninh, trật tự, an toàn xã hội mà không phải là tội phạm, bao
gồm biện pháp giáo dục tại xã, phường, đặc khu[2]; đưa vào trường giáo
dưỡng; đưa vào cơ sở giáo dục bắt buộc và đưa đi cai nghiện bắt buộc[3].
4. Biện
pháp thay thế xử lý vi phạm hành chính là biện pháp mang tính giáo dục được
áp dụng để thay thế cho hình thức xử phạt vi phạm hành chính hoặc biện pháp xử
lý hành chính đối với người chưa thành niên vi phạm hành chính, bao gồm biện
pháp nhắc nhở, biện pháp giáo dục dựa vào cộng đồng[4] và biện pháp quản lý tại
gia đình.
5.[5] Tái
phạm là việc cá nhân, tổ chức đã bị ra quyết định xử phạt vi phạm hành
chính nhưng chưa hết thời hạn được coi là chưa bị xử phạt vi phạm hành chính mà
lại thực hiện hành vi vi phạm hành chính đã bị xử phạt; cá nhân đã bị ra quyết
định áp dụng biện pháp xử lý hành chính nhưng chưa hết thời hạn được coi là
chưa bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính mà lại thực hiện hành vi thuộc đối
tượng bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đó.
6. Vi
phạm hành chính nhiều lần là trường hợp cá nhân, tổ chức thực hiện hành vi
vi phạm hành chính mà trước đó đã thực hiện hành vi vi phạm hành chính này
nhưng chưa bị xử lý và chưa hết thời hiệu xử lý.
7. Vi
phạm hành chính có tổ chức là trường hợp cá nhân, tổ chức câu kết với cá
nhân, tổ chức khác để cùng thực hiện hành vi vi phạm hành chính.
8. Giấy
phép, chứng chỉ hành nghề là giấy tờ do cơ quan nhà nước, người có thẩm
quyền cấp cho cá nhân, tổ chức theo quy định của pháp luật để cá nhân, tổ chức
đó kinh doanh, hoạt động, hành nghề hoặc sử dụng công cụ, phương tiện. Giấy
phép, chứng chỉ hành nghề không bao gồm giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh,
chứng chỉ gắn với nhân thân người được cấp không có mục đích cho phép hành
nghề.
9. Chỗ
ở là nhà ở, phương tiện hoặc nhà khác mà công dân sử dụng để cư trú. Chỗ ở
thuộc quyền sở hữu của công dân hoặc được cơ quan, tổ chức, cá nhân cho thuê,
cho mượn, cho ở nhờ theo quy định của pháp luật.
10. Tổ
chức là cơ quan nhà nước, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội, tổ
chức chính trị xã hội nghề nghiệp, tổ chức xã hội, tổ chức xã hội nghề nghiệp,
tổ chức kinh tế, đơn vị vũ trang nhân dân và tổ chức khác được thành lập theo
quy định của pháp luật.
11. Tình
thế cấp thiết là tình thế của cá nhân, tổ chức vì muốn tránh một nguy cơ
đang thực tế đe dọa lợi ích của Nhà nước, của tổ chức, quyền, lợi ích chính
đáng của mình hoặc của người khác mà không còn cách nào khác là phải gây một
thiệt hại nhỏ hơn thiệt hại cần ngăn ngừa.
12. Phòng
vệ chính đáng là hành vi của cá nhân vì bảo vệ lợi ích của Nhà nước, của tổ
chức, bảo vệ quyền, lợi ích chính đáng của mình hoặc của người khác mà chống
trả lại một cách cần thiết người đang có hành vi xâm phạm quyền, lợi ích nói
trên.
13. Sự
kiện bất ngờ là sự kiện mà cá nhân, tổ chức không thể thấy trước hoặc không
buộc phải thấy trước hậu quả của hành vi nguy hại cho xã hội do mình gây ra.
14. Sự
kiện bất khả kháng là sự kiện xảy ra một cách khách quan không thể lường
trước được và không thể khắc phục được mặc dù đã áp dụng mọi biện pháp cần
thiết và khả năng cho phép.
15. Người
không có năng lực trách nhiệm hành chính là người thực hiện hành vi vi phạm
hành chính trong khi đang mắc bệnh tâm thần hoặc một bệnh khác làm mất khả năng
nhận thức hoặc khả năng điều khiển hành vi của mình.
16.[6] (được
bãi bỏ)
17. Người
đại diện hợp pháp bao gồm cha mẹ hoặc người giám hộ, luật sư, trợ giúp viên
pháp lý.
Điều
3. Nguyên tắc xử lý vi phạm hành chính
1. Nguyên
tắc xử phạt vi phạm hành chính bao gồm:
a) Mọi vi
phạm hành chính phải được phát hiện, ngăn chặn kịp thời và phải bị xử lý nghiêm
minh, mọi hậu quả do vi phạm hành chính gây ra phải được khắc phục theo đúng
quy định của pháp luật;
b) Việc
xử phạt vi phạm hành chính được tiến hành nhanh chóng, công khai, khách quan,
đúng thẩm quyền, bảo đảm công bằng, đúng quy định của pháp luật;
c) Việc
xử phạt vi phạm hành chính phải căn cứ vào tính chất, mức độ, hậu quả vi phạm,
đối tượng vi phạm và tình tiết giảm nhẹ, tình tiết tăng nặng;
d)[7]
Chỉ xử phạt vi phạm hành chính khi có hành vi vi phạm hành chính do pháp luật
quy định.
Một hành
vi vi phạm hành chính chỉ bị xử phạt một lần.
Nhiều
người cùng thực hiện một hành vi vi phạm hành chính thì mỗi người vi phạm đều
bị xử phạt về hành vi vi phạm hành chính đó.
Một người
thực hiện nhiều hành vi vi phạm hành chính hoặc vi phạm hành chính nhiều lần
thì bị xử phạt về từng hành vi vi phạm, trừ trường hợp hành vi vi phạm hành
chính nhiều lần được Chính phủ quy định là tình tiết tăng nặng;
đ) Người
có thẩm quyền xử phạt có trách nhiệm chứng minh vi phạm hành chính. Cá nhân, tổ
chức bị xử phạt có quyền tự mình hoặc thông qua người đại diện hợp pháp chứng
minh mình không vi phạm hành chính;
e) Đối
với cùng một hành vi vi phạm hành chính thì mức phạt tiền đối với tổ chức bằng
02 lần mức phạt tiền đối với cá nhân.
2. Nguyên
tắc áp dụng các biện pháp xử lý hành chính bao gồm:
a) Cá
nhân chỉ bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính nếu thuộc một trong các đối
tượng quy định tại các điều 90, 92, 94 và 96 của Luật này;
b) Việc
áp dụng các biện pháp xử lý hành chính phải được tiến hành theo quy định tại
điểm b khoản 1 Điều này;
c) Việc
quyết định thời hạn áp dụng biện pháp xử lý hành chính phải căn cứ vào tính
chất, mức độ, hậu quả vi phạm, nhân thân người vi phạm và tình tiết giảm nhẹ,
tình tiết tăng nặng;
d) Người
có thẩm quyền áp dụng biện pháp xử lý hành chính có trách nhiệm chứng minh vi
phạm hành chính. Cá nhân bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính có quyền tự mình
hoặc thông qua người đại diện hợp pháp chứng minh mình không vi phạm hành
chính.
Điều
4. Thẩm quyền quy định về xử phạt vi phạm hành chính và chế độ áp dụng các biện
pháp xử lý hành chính[8]
1. Căn cứ
quy định của Luật này, Chính phủ quy định các nội dung sau đây:
a) Hành
vi vi phạm hành chính; hành vi vi phạm hành chính đã kết thúc và hành vi vi
phạm hành chính đang thực hiện; hình thức xử phạt, mức xử phạt, biện pháp khắc
phục hậu quả đối với từng hành vi vi phạm hành chính; đối tượng bị xử phạt;
thẩm quyền xử phạt, mức phạt tiền cụ thể theo từng chức danh và thẩm quyền lập
biên bản đối với vi phạm hành chính; việc thi hành các hình thức xử phạt vi
phạm hành chính, các biện pháp khắc phục hậu quả trong từng lĩnh vực quản lý
nhà nước;
b) Chế độ
áp dụng các biện pháp xử lý hành chính.
2. Biểu
mẫu sử dụng trong xử lý vi phạm hành chính được thực hiện theo quy định của
Chính phủ.
3. Căn cứ
quy định của Luật này, Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về xử phạt vi phạm
hành chính trong hoạt động kiểm toán nhà nước và đối với hành vi cản trở hoạt
động tố tụng.
Điều
5. Đối tượng bị xử lý vi phạm hành chính
1. Các
đối tượng bị xử phạt vi phạm hành chính bao gồm:
a) Người
từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi bị xử phạt vi phạm hành chính về vi phạm hành
chính do cố ý; người từ đủ 16 tuổi trở lên bị xử phạt vi phạm hành chính về mọi
vi phạm hành chính.
Người
thuộc lực lượng Quân đội nhân dân, Công an nhân dân vi phạm hành chính thì bị
xử lý như đối với công dân khác; trường hợp cần áp dụng hình thức phạt tước
quyền sử dụng giấy phép, chứng chỉ hành nghề hoặc đình chỉ hoạt động có thời
hạn liên quan đến quốc phòng, an ninh thì người xử phạt đề nghị cơ quan, đơn vị
Quân đội nhân dân, Công an nhân dân có thẩm quyền xử lý;
b) Tổ
chức bị xử phạt vi phạm hành chính về mọi vi phạm hành chính do mình gây ra;
c) Cá
nhân, tổ chức nước ngoài vi phạm hành chính trong phạm vi lãnh thổ, vùng tiếp
giáp lãnh hải, vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa của nước Cộng hoà xã hội
chủ nghĩa Việt Nam; trên tàu bay mang quốc tịch Việt Nam, tàu biển mang cờ quốc
tịch Việt Nam thì bị xử phạt vi phạm hành chính theo quy định của pháp luật
Việt Nam, trừ trường hợp điều ước quốc tế mà nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa
Việt Nam là thành viên có quy định khác.
2. Đối
tượng bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính là cá nhân được quy định tại các
điều 90, 92, 94 và 96 của Luật này.
Các biện
pháp xử lý hành chính không áp dụng đối với người nước ngoài.
Điều
6. Thời hiệu xử lý vi phạm hành chính
1. Thời
hiệu xử phạt vi phạm hành chính được quy định như sau:
a)[9]
Thời hiệu xử phạt vi phạm hành chính là 01 năm, trừ các trường hợp sau đây:
Vi phạm
hành chính về kế toán; hóa đơn; phí, lệ phí; kinh doanh bảo hiểm; quản lý giá;
chứng khoán; sở hữu trí tuệ; xây dựng; thủy sản; lâm nghiệp; điều tra, quy
hoạch, thăm dò, khai thác, sử dụng nguồn tài nguyên nước; hoạt động dầu khí và
hoạt động khoáng sản khác; bảo vệ môi trường; năng lượng nguyên tử; quản lý,
phát triển nhà và công sở; đất đai; đê điều; báo chí; xuất bản; sản xuất, xuất
khẩu, nhập khẩu, kinh doanh hàng hóa; sản xuất, buôn bán hàng cấm, hàng giả;
quản lý lao động ngoài nước; khiếu nại, tố cáo, kiến nghị, phản ánh thì thời
hiệu xử phạt vi phạm hành chính là 02 năm.
Vi phạm
hành chính về thuế, kiểm toán độc lập thì thời hiệu xử phạt vi phạm hành chính
theo quy định của pháp luật về quản lý thuế, pháp luật về kiểm toán độc lập.
b) Thời
điểm để tính thời hiệu xử phạt vi phạm hành chính quy định tại điểm a khoản 1
Điều này được quy định như sau:
Đối với
vi phạm hành chính đã kết thúc thì thời hiệu được tính từ thời điểm chấm dứt
hành vi vi phạm.
Đối với
vi phạm hành chính đang được thực hiện thì thời hiệu được tính từ thời điểm
phát hiện hành vi vi phạm;
c)[10]
Trường hợp xử phạt vi phạm hành chính đối với cá nhân, tổ chức do cơ quan tiến
hành tố tụng chuyển đến thì thời hiệu xử phạt áp dụng theo quy định tại điểm a
khoản này được kéo dài thêm 01 năm. Thời gian cơ quan tiến hành tố tụng thụ lý,
xem xét được tính vào thời hiệu xử phạt vi phạm hành chính;
d) Trong
thời hạn được quy định tại điểm a và điểm b khoản này mà cá nhân, tổ chức cố
tình trốn tránh, cản trở việc xử phạt thì thời hiệu xử phạt vi phạm hành chính
được tính lại kể từ thời điểm chấm dứt hành vi trốn tránh, cản trở việc xử
phạt.
2. Thời
hiệu áp dụng biện pháp xử lý hành chính được quy định như sau:
a)[11]
Thời hiệu áp dụng biện pháp giáo dục tại xã, phường, đặc khu là 01 năm kể từ
ngày cá nhân thực hiện hành vi vi phạm quy định tại khoản 1 Điều 90; 06 tháng
kể từ ngày cá nhân thực hiện hành vi vi phạm quy định tại khoản 2 Điều 90; 06
tháng kể từ ngày cá nhân thực hiện lần cuối một trong các hành vi vi phạm quy
định tại các khoản 3, 4 và 6 Điều 90 của Luật này;
b)[12]
Thời hiệu áp dụng biện pháp đưa vào trường giáo dưỡng là 01 năm, kể từ ngày cá
nhân thực hiện hành vi vi phạm quy định tại khoản 1 và khoản 2 Điều 92; 06
tháng, kể từ ngày cá nhân thực hiện một trong các hành vi vi phạm quy định tại
khoản 3 và khoản 4 Điều 92 của Luật này;
c) Thời
hiệu áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở giáo dục bắt buộc là 01 năm, kể từ ngày cá
nhân thực hiện lần cuối một trong các hành vi vi phạm quy định tại khoản 1 Điều
94 của Luật này;
d)[13]
(được bãi bỏ)
đ)[14]
Trong thời hạn được quy định tại các điểm a, b, c và d khoản này mà cá nhân cố
tình trốn tránh, cản trở việc áp dụng biện pháp xử lý hành chính thì thời hiệu
được tính lại kể từ thời điểm chấm dứt hành vi trốn tránh, cản trở việc áp dụng
biện pháp xử lý hành chính.
Điều
7. Thời hạn được coi là chưa bị xử lý vi phạm hành chính
1. Cá
nhân, tổ chức bị xử phạt vi phạm hành chính, nếu trong thời hạn 06 tháng, kể từ
ngày chấp hành xong quyết định xử phạt cảnh cáo hoặc 01 năm, kể từ ngày chấp
hành xong quyết định xử phạt hành chính khác hoặc từ ngày hết thời hiệu thi
hành quyết định xử phạt vi phạm hành chính mà không tái phạm thì được coi là
chưa bị xử phạt vi phạm hành chính.
2. Cá
nhân bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính, nếu trong thời hạn 02 năm, kể từ
ngày chấp hành xong quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính hoặc 01 năm
kể từ ngày hết thời hiệu thi hành quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính
mà không tái phạm thì được coi là chưa bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính.
Điều
8. Cách tính thời gian, thời hạn, thời hiệu trong xử lý vi phạm hành chính
1. Cách
tính thời hạn, thời hiệu trong xử lý vi phạm hành chính được áp dụng theo quy
định của Bộ luật Dân sự, trừ trường hợp trong Luật này có quy định cụ thể thời
gian theo ngày làm việc.
2. Thời
gian ban đêm được tính từ 22 giờ ngày hôm trước đến 06 giờ ngày hôm sau.
Điều
9. Tình tiết giảm nhẹ
Những
tình tiết sau đây là tình tiết giảm nhẹ:
1. Người
vi phạm hành chính đã có hành vi ngăn chặn, làm giảm bớt hậu quả của vi phạm
hoặc tự nguyện khắc phục hậu quả, bồi thường thiệt hại;
2. Người
vi phạm hành chính đã tự nguyện khai báo, thành thật hối lỗi; tích cực giúp đỡ
cơ quan chức năng phát hiện vi phạm hành chính, xử lý vi phạm hành chính;
3. Vi
phạm hành chính trong tình trạng bị kích động về tinh thần do hành vi trái pháp
luật của người khác gây ra; vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng; vượt quá yêu
cầu của tình thế cấp thiết;
4. Vi
phạm hành chính do bị ép buộc hoặc bị lệ thuộc về vật chất hoặc tinh thần;
5. Người
vi phạm hành chính là phụ nữ mang thai, người già yếu, người có bệnh hoặc
khuyết tật làm hạn chế khả năng nhận thức hoặc khả năng điều khiển hành vi của
mình;
6. Vi
phạm hành chính vì hoàn cảnh đặc biệt khó khăn mà không do mình gây ra;
7. Vi
phạm hành chính do trình độ lạc hậu;
8. Những
tình tiết giảm nhẹ khác do Chính phủ quy định.
Điều
10. Tình tiết tăng nặng
1. Những
tình tiết sau đây là tình tiết tăng nặng:
a) Vi
phạm hành chính có tổ chức;
b) Vi
phạm hành chính nhiều lần; tái phạm;
c) Xúi
giục, lôi kéo, sử dụng người chưa thành niên vi phạm; ép buộc người bị lệ thuộc
vào mình về vật chất, tinh thần thực hiện hành vi vi phạm hành chính;
d) Sử
dụng người biết rõ là đang bị tâm thần hoặc bệnh khác làm mất khả năng nhận
thức hoặc khả năng điều khiển hành vi để vi phạm hành chính;
đ) Lăng
mạ, phỉ báng người đang thi hành công vụ; vi phạm hành chính có tính chất côn
đồ;
e) Lợi
dụng chức vụ, quyền hạn để vi phạm hành chính;
g) Lợi
dụng hoàn cảnh chiến tranh, thiên tai, thảm họa, dịch bệnh hoặc những khó khăn
đặc biệt khác của xã hội để vi phạm hành chính;
h) Vi
phạm trong thời gian đang chấp hành hình phạt của bản án hình sự hoặc đang chấp
hành quyết định áp dụng biện pháp xử lý vi phạm hành chính;
i) Tiếp
tục thực hiện hành vi vi phạm hành chính mặc dù người có thẩm quyền đã yêu cầu
chấm dứt hành vi đó;
k) Sau
khi vi phạm đã có hành vi trốn tránh, che giấu vi phạm hành chính;
l) Vi
phạm hành chính có quy mô lớn, số lượng hoặc trị giá hàng hóa lớn;
m) Vi
phạm hành chính đối với nhiều người, trẻ em, người già, người khuyết tật, phụ
nữ mang thai.
2. Tình
tiết quy định tại khoản 1 Điều này đã được quy định là hành vi vi phạm hành
chính thì không được coi là tình tiết tăng nặng.
Điều
11. Những trường hợp không xử phạt vi phạm hành chính
Không xử
phạt vi phạm hành chính đối với các trường hợp sau đây:
1. Thực
hiện hành vi vi phạm hành chính trong tình thế cấp thiết;
2. Thực
hiện hành vi vi phạm hành chính do phòng vệ chính đáng;
3. Thực
hiện hành vi vi phạm hành chính do sự kiện bất ngờ;
4. Thực
hiện hành vi vi phạm hành chính do sự kiện bất khả kháng;
5. Người
thực hiện hành vi vi phạm hành chính không có năng lực trách nhiệm hành chính;
người thực hiện hành vi vi phạm hành chính chưa đủ tuổi bị xử phạt vi phạm hành
chính theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 5 của Luật này.
Điều
12. Những hành vi bị nghiêm cấm
1. Giữ
lại vụ vi phạm có dấu hiệu tội phạm để xử lý vi phạm hành chính.
2. Lợi
dụng chức vụ, quyền hạn để sách nhiễu, đòi, nhận tiền, tài sản của người vi
phạm; dung túng, bao che, hạn chế quyền của người vi phạm hành chính khi xử
phạt vi phạm hành chính hoặc áp dụng biện pháp xử lý hành chính.
3. Ban
hành trái thẩm quyền văn bản quy định về hành vi vi phạm hành chính, thẩm
quyền, hình thức xử phạt, biện pháp khắc phục hậu quả đối với từng hành vi vi
phạm hành chính trong lĩnh vực quản lý nhà nước và biện pháp xử lý hành chính.
4. Không
xử phạt vi phạm hành chính, không áp dụng biện pháp khắc phục hậu quả hoặc
không áp dụng biện pháp xử lý hành chính.
5. Xử
phạt vi phạm hành chính, áp dụng biện pháp khắc phục hậu quả hoặc áp dụng các
biện pháp xử lý hành chính không kịp thời, không nghiêm minh, không đúng thẩm
quyền, thủ tục, đối tượng quy định tại Luật này.
6.[15]
Xác định hành vi vi phạm hành chính không đúng; áp dụng hình thức xử phạt, mức
xử phạt, biện pháp khắc phục hậu quả không đúng, không đầy đủ đối với hành vi
vi phạm hành chính.
7. Can
thiệp trái pháp luật vào việc xử lý vi phạm hành chính.
8. Kéo
dài thời hạn áp dụng biện pháp xử lý hành chính.
8a.[16]
Không theo dõi, đôn đốc, kiểm tra, tổ chức cưỡng chế thi hành quyết định xử
phạt, biện pháp khắc phục hậu quả.
9. Sử
dụng tiền thu được từ tiền nộp phạt vi phạm hành chính, tiền nộp do chậm thi
hành quyết định xử phạt tiền, tiền bán, thanh lý tang vật, phương tiện vi phạm
hành chính bị tịch thu và các khoản tiền khác thu được từ xử phạt vi phạm hành
chính trái quy định của pháp luật về ngân sách nhà nước.
10. Giả
mạo, làm sai lệch hồ sơ xử phạt vi phạm hành chính, hồ sơ áp dụng biện pháp xử
lý hành chính.
11. Xâm
phạm tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm của người bị xử phạt vi phạm hành
chính, người bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính, người bị áp dụng biện pháp
ngăn chặn và bảo đảm xử lý vi phạm hành chính, người bị áp dụng các biện pháp
cưỡng chế thi hành quyết định xử lý vi phạm hành chính.
12. Chống
đối, trốn tránh, trì hoãn hoặc cản trở chấp hành quyết định xử phạt vi phạm
hành chính, quyết định áp dụng biện pháp ngăn chặn và bảo đảm xử lý vi phạm
hành chính, quyết định cưỡng chế thi hành quyết định xử phạt vi phạm hành
chính, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính.
Điều
13. Bồi thường thiệt hại
1. Người
vi phạm hành chính nếu gây ra thiệt hại thì phải bồi thường. Việc bồi thường
thiệt hại được thực hiện theo quy định của pháp luật về dân sự.
2. Người
có thẩm quyền xử lý vi phạm hành chính, cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan
trong việc xử lý vi phạm hành chính gây thiệt hại thì phải bồi thường theo quy
định của pháp luật.
Điều
14. Trách nhiệm đấu tranh phòng, chống vi phạm hành chính
1. Cá
nhân, tổ chức phải nghiêm chỉnh chấp hành quy định của pháp luật về xử lý vi
phạm hành chính. Các tổ chức có nhiệm vụ giáo dục thành viên thuộc tổ chức mình
về ý thức bảo vệ và tuân theo pháp luật, quy tắc của cuộc sống xã hội, kịp thời
có biện pháp loại trừ nguyên nhân, điều kiện gây ra vi phạm hành chính trong tổ
chức mình.
2. Khi
phát hiện vi phạm hành chính, người có thẩm quyền xử lý vi phạm hành chính có
trách nhiệm xử lý vi phạm theo quy định của pháp luật.
3. Cá
nhân, tổ chức có trách nhiệm phát hiện, tố cáo và đấu tranh phòng, chống vi
phạm hành chính.
Điều
15. Khiếu nại, tố cáo và khởi kiện trong xử lý vi phạm hành chính
1. Cá
nhân, tổ chức bị xử lý vi phạm hành chính có quyền khiếu nại, khởi kiện đối với
quyết định xử lý vi phạm hành chính theo quy định của pháp luật.
2. Cá
nhân có quyền tố cáo đối với hành vi vi phạm pháp luật trong việc xử lý vi phạm
hành chính theo quy định của pháp luật.
3. Trong
quá trình giải quyết khiếu nại, khởi kiện nếu xét thấy việc thi hành quyết định
xử lý vi phạm hành chính bị khiếu nại, khởi kiện sẽ gây hậu quả khó khắc phục
thì người giải quyết khiếu nại, khởi kiện phải ra quyết định tạm đình chỉ việc
thi hành quyết định đó theo quy định của pháp luật.
Điều
16. Trách nhiệm của người có thẩm quyền xử lý vi phạm hành chính
1. Trong
quá trình xử lý vi phạm hành chính, người có thẩm quyền xử lý vi phạm hành
chính phải tuân thủ quy định của Luật này và quy định khác của pháp luật có
liên quan.
2. Người
có thẩm quyền xử lý vi phạm hành chính mà sách nhiễu, đòi, nhận tiền, tài sản
khác của người vi phạm, dung túng, bao che, không xử lý hoặc xử lý không kịp
thời, không đúng tính chất, mức độ vi phạm, không đúng thẩm quyền hoặc vi phạm
quy định khác tại Điều 12 của Luật này và quy định khác của pháp luật thì tuỳ
theo tính chất, mức độ vi phạm mà bị xử lý kỷ luật hoặc bị truy cứu trách nhiệm
hình sự.
Điều
17. Trách nhiệm quản lý công tác thi hành pháp luật về xử lý vi phạm hành chính
1. Chính
phủ thống nhất quản lý công tác thi hành pháp luật về xử lý vi phạm hành chính
trong phạm vi cả nước.
2. Bộ Tư
pháp chịu trách nhiệm trước Chính phủ thực hiện quản lý công tác thi hành pháp
luật về xử lý vi phạm hành chính, có nhiệm vụ, quyền hạn sau đây:
a) Chủ
trì hoặc phối hợp trong việc đề xuất, xây dựng và trình cơ quan có thẩm quyền
ban hành hoặc ban hành theo thẩm quyền văn bản quy phạm pháp luật về xử lý vi
phạm hành chính;
b) Theo
dõi chung và báo cáo công tác thi hành pháp luật về xử lý vi phạm hành chính;
thống kê, xây dựng, quản lý cơ sở dữ liệu quốc gia về xử lý vi phạm hành chính;
c) Chủ
trì, phối hợp hướng dẫn, tập huấn, bồi dưỡng nghiệp vụ trong việc thực hiện
pháp luật về xử lý vi phạm hành chính;
d) Kiểm
tra, phối hợp với các bộ, ngành hữu quan tiến hành thanh tra việc thi hành pháp
luật về xử lý vi phạm hành chính;
đ)[17]
Quy định chế độ báo cáo, biểu mẫu thống kê số liệu trong xử lý vi phạm hành
chính.
3. Trong
phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình, các bộ, ngành có trách nhiệm thực hiện
hoặc phối hợp với Bộ Tư pháp thực hiện nhiệm vụ quy định tại khoản 2 Điều này;
kịp thời cung cấp thông tin cho Bộ Tư pháp về xử lý vi phạm hành chính để xây
dựng cơ sở dữ liệu quốc gia; định kỳ[18] hằng năm báo cáo Bộ Tư pháp về công tác xử
lý vi phạm hành chính trong phạm vi quản lý của cơ quan mình.
4.[19]
Trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình, Tòa án nhân dân tối cao, Kiểm toán
nhà nước thực hiện quy định tại khoản 2 Điều này và định kỳ hằng năm gửi báo
cáo đến Bộ Tư pháp về công tác xử lý vi phạm hành chính trong phạm vi quản lý
của cơ quan mình; chỉ đạo Tòa án nhân dân các cấp, cơ quan thuộc Kiểm toán nhà
nước thực hiện việc báo cáo, cung cấp thông tin về xử lý vi phạm hành chính.
5. Trong
phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình, Ủy ban nhân dân các cấp quản lý công tác
thi hành pháp luật về xử lý vi phạm hành chính tại địa phương, có trách nhiệm
sau đây:
a) Chỉ
đạo việc tổ chức thực hiện văn bản quy phạm pháp luật về xử lý vi phạm hành
chính; tổ chức phổ biến, giáo dục pháp luật về xử lý vi phạm hành chính;
b) Kiểm
tra, thanh tra, xử lý vi phạm và giải quyết theo thẩm quyền khiếu nại, tố cáo
trong việc thực hiện pháp luật về xử lý vi phạm hành chính;
c) Kịp
thời cung cấp thông tin cho Bộ Tư pháp về xử lý vi phạm hành chính để xây dựng
cơ sở dữ liệu quốc gia; định kỳ[20] hằng năm báo cáo Bộ Tư pháp về công tác xử
lý vi phạm hành chính trên địa bàn.
6.[21]
Cơ quan của người có thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính, Tòa án nhân dân có
thẩm quyền quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính, cơ quan thi hành
quyết định xử phạt, thi hành quyết định cưỡng chế thi hành quyết định xử phạt,
cơ quan thi hành quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính có trách nhiệm
cung cấp, cập nhật thông tin, kết quả xử lý vi phạm hành chính thuộc thẩm
quyền, phạm vi quản lý đến Cơ sở dữ liệu quốc gia về xử lý vi phạm hành chính.
7. Chính
phủ quy định chi tiết Điều này.
Điều
18. Trách nhiệm của thủ trưởng cơ quan, đơn vị trong công tác xử lý vi phạm
hành chính
1. Trong
phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình, thủ trưởng cơ quan, đơn vị có thẩm quyền
xử lý vi phạm hành chính có trách nhiệm sau đây:
a) Thường
xuyên kiểm tra, thanh tra và kịp thời xử lý đối với vi phạm của người có thẩm
quyền xử lý vi phạm hành chính thuộc phạm vi quản lý của mình; giải quyết khiếu
nại, tố cáo trong xử lý vi phạm hành chính theo quy định của pháp luật;
b) Không
được can thiệp trái pháp luật vào việc xử lý vi phạm hành chính và phải chịu
trách nhiệm liên đới về hành vi vi phạm của người có thẩm quyền xử lý vi phạm
hành chính thuộc quyền quản lý trực tiếp của mình theo quy định của pháp luật;
c) Không
được để xảy ra hành vi tham nhũng của người có thẩm quyền xử lý vi phạm hành
chính do mình quản lý, phụ trách;
d) Trách
nhiệm khác theo quy định của pháp luật.
2. Trong
phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình, Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ,
Chánh án Tòa án nhân dân tối cao, Tổng Kiểm toán nhà nước,[22] Chủ tịch Ủy ban nhân
dân các cấp có trách nhiệm sau đây:
a) Thường
xuyên chỉ đạo, kiểm tra việc xử lý vi phạm hành chính của người có thẩm quyền
xử lý vi phạm hành chính thuộc phạm vi quản lý của mình;
b) Xử lý
kỷ luật đối với người có sai phạm trong xử lý vi phạm hành chính thuộc phạm vi
quản lý của mình;
c) Giải
quyết kịp thời khiếu nại, tố cáo về xử lý vi phạm hành chính trong ngành, lĩnh
vực do mình phụ trách theo quy định của pháp luật;
d) Trách
nhiệm khác theo quy định của pháp luật.
3.[23]
Trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình, Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang
bộ, Chủ tịch Ủy ban nhân dân các cấp, thủ trưởng cơ quan, đơn vị của người có
thẩm quyền xử lý vi phạm hành chính có trách nhiệm phát hiện quyết định về xử
lý vi phạm hành chính do mình hoặc cấp dưới ban hành có sai sót và kịp thời
đính chính, sửa đổi, bổ sung hoặc hủy bỏ, ban hành quyết định mới theo thẩm
quyền.
Chính phủ
quy định chi tiết khoản này.
Điều
18a. Xử lý vi phạm hành chính trên môi trường điện tử[24]
1. Việc
xử lý vi phạm hành chính trên môi trường điện tử được thực hiện khi bảo đảm
điều kiện về cơ sở hạ tầng, kỹ thuật, thông tin.
2. Việc
xử lý vi phạm hành chính trên môi trường điện tử phải bảo đảm các yêu cầu sau
đây:
a) Tuân
thủ quy định của pháp luật về xử lý vi phạm hành chính, pháp luật về giao dịch
điện tử và pháp luật có liên quan;
b) Việc
thu thập, lưu trữ, khai thác, sử dụng dữ liệu phải bảo đảm tính toàn vẹn, xác
thực, an toàn, đúng mục đích, phạm vi theo quy định của pháp luật;
c) Kết
nối hệ thống, chia sẻ dữ liệu, cung cấp thông tin chính xác, kịp thời phục vụ
quản lý nhà nước và giám sát của cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền.
3. Chính
phủ quy định chi tiết Điều này.
Điều
19. Giám sát công tác xử lý vi phạm hành chính
Quốc hội,
các cơ quan của Quốc hội, Hội đồng nhân dân các cấp, đại biểu Quốc hội, đại
biểu Hội đồng nhân dân, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các tổ chức thành viên của
Mặt trận và mọi công dân giám sát hoạt động của cơ quan, người có thẩm quyền xử
lý vi phạm hành chính; khi phát hiện hành vi trái pháp luật của cơ quan, người
có thẩm quyền xử lý vi phạm hành chính thì có quyền yêu cầu, kiến nghị với cơ
quan, người có thẩm quyền xem xét, giải quyết, xử lý theo quy định của pháp
luật.
Cơ quan,
người có thẩm quyền xử lý vi phạm hành chính phải xem xét, giải quyết và trả
lời yêu cầu, kiến nghị đó theo quy định của pháp luật.
Điều
20. Áp dụng Luật xử lý vi phạm hành chính đối với hành vi vi phạm hành chính ở
ngoài lãnh thổ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam
Công dân,
tổ chức Việt Nam vi phạm pháp luật hành chính của nước Cộng hòa xã hội chủ
nghĩa Việt Nam ngoài lãnh thổ Việt Nam có thể bị xử phạt vi phạm hành chính
theo quy định của Luật này.
Phần thứ hai
XỬ PHẠT VI PHẠM HÀNH
CHÍNH
Chương I
CÁC HÌNH THỨC XỬ PHẠT
VÀ BIỆN PHÁP KHẮC PHỤC HẬU QUẢ
Mục 1.
CÁC HÌNH THỨC XỬ PHẠT
Điều
21. Nguyên tắc quy định các hình thức xử phạt[25]
1. Các
hình thức xử phạt vi phạm hành chính bao gồm:
a) Cảnh
cáo;
b) Phạt
tiền;
c) Tước
quyền sử dụng giấy phép, chứng chỉ hành nghề có thời hạn hoặc đình chỉ hoạt
động có thời hạn;
d) Tịch
thu tang vật vi phạm hành chính, phương tiện được sử dụng để vi phạm hành chính
(sau đây gọi chung là tang vật, phương tiện vi phạm hành chính);
đ) Trục
xuất.
2. Hình
thức xử phạt quy định tại điểm a và điểm b khoản 1 Điều này chỉ được quy định
và áp dụng là hình thức xử phạt chính.
Hình thức
xử phạt quy định tại các điểm c, d và đ khoản 1 Điều này có thể được quy định
là hình thức xử phạt bổ sung hoặc hình thức xử phạt chính.
3.[26]
Mỗi vi phạm hành chính được quy định một hình thức xử phạt chính, có thể quy
định một hoặc nhiều hình thức xử phạt bổ sung kèm theo.
Hình thức
xử phạt bổ sung được áp dụng kèm theo hình thức xử phạt chính, trừ trường hợp
quy định tại khoản 2 Điều 65 của Luật này.
Điều
22. Cảnh cáo
Cảnh cáo
được áp dụng đối với cá nhân, tổ chức vi phạm hành chính không nghiêm trọng, có
tình tiết giảm nhẹ và theo quy định thì bị áp dụng hình thức xử phạt cảnh cáo
hoặc đối với mọi hành vi vi phạm hành chính do người chưa thành niên từ đủ 14
tuổi đến dưới 16 tuổi thực hiện. Cảnh cáo được quyết định bằng văn bản.
Điều
23. Phạt tiền
1. Mức
phạt tiền trong xử phạt vi phạm hành chính từ 50.000 đồng đến 1.000.000.000
đồng đối với cá nhân, từ 100.000 đồng đến 2.000.000.000 đồng đối với tổ chức,
trừ trường hợp quy định tại khoản 3 Điều 24 của Luật này.
Đối với
khu vực nội thành của thành phố[27] thì mức phạt tiền có thể cao hơn, nhưng tối
đa không quá 02 lần mức phạt chung áp dụng đối với cùng hành vi vi phạm trong
các lĩnh vực giao thông đường bộ; bảo vệ môi trường; an ninh trật tự, an toàn
xã hội.
2. Chính
phủ quy định khung tiền phạt hoặc mức tiền phạt đối với hành vi vi phạm hành
chính cụ thể theo một trong các phương thức sau đây, nhưng khung tiền phạt cao
nhất không vượt quá mức tiền phạt tối đa quy định tại Điều 24 của Luật này:
a) Xác
định số tiền phạt tối thiểu, tối đa;
b) Xác
định số lần, tỷ lệ phần trăm của giá trị, số lượng hàng hóa, tang vật vi phạm,
đối tượng bị vi phạm hoặc doanh thu, số lợi thu được từ vi phạm hành chính.
3.[28]
Căn cứ vào hành vi, khung tiền phạt hoặc mức tiền phạt được quy định tại nghị
định của Chính phủ và yêu cầu quản lý kinh tế - xã hội đặc thù của địa phương,
Hội đồng nhân dân thành phố[29] có quyền quyết định khung tiền phạt hoặc mức
tiền phạt cụ thể đối với hành vi vi phạm trong các lĩnh vực quy định tại khoản
1 Điều này nhưng không vượt quá mức tiền phạt tối đa đối với lĩnh vực tương ứng
quy định tại Điều 24 của Luật này.
4.[30]
Mức tiền phạt cụ thể đối với một hành vi vi phạm hành chính là mức trung bình
của khung tiền phạt được quy định đối với hành vi đó; nếu có tình tiết giảm nhẹ
thì mức tiền phạt có thể giảm xuống nhưng không được thấp hơn mức tối thiểu của
khung tiền phạt; nếu có tình tiết tăng nặng thì mức tiền phạt có thể tăng lên
nhưng không được vượt quá mức tối đa của khung tiền phạt.
Chính phủ
quy định chi tiết khoản này.
Điều
24. Mức phạt tiền tối đa trong các lĩnh vực
1.[31]
Mức phạt tiền tối đa trong các lĩnh vực quản lý nhà nước đối với cá nhân được
quy định như sau:
a)[32]
Phạt tiền đến 30.000.000 đồng: hôn nhân và gia đình; bình đẳng giới; bạo lực
gia đình; lưu trữ; tín ngưỡng, tôn giáo; thi đua, khen thưởng; hành chính tư
pháp; dân số; vệ sinh môi trường; thống kê; đối ngoại; khiếu nại, tố cáo, kiến
nghị, phản ánh;
b) Phạt
tiền đến 40.000.000 đồng: an ninh trật tự, an toàn xã hội; cản trở hoạt động tố
tụng; thi hành án dân sự; phá sản doanh nghiệp, hợp tác xã; giao dịch điện tử;
bưu chính;
c) Phạt
tiền đến 50.000.000 đồng: phòng cháy, chữa cháy; cứu nạn, cứu hộ; bổ trợ tư
pháp; y tế dự phòng; phòng, chống HIV/AIDS; văn hóa; thể thao; du lịch; quản lý
khoa học, công nghệ; chuyển giao công nghệ; bảo vệ, chăm sóc trẻ em; bảo trợ,
cứu trợ xã hội; phòng, chống thiên tai; bảo vệ và kiểm dịch thực vật; quản lý
và bảo tồn nguồn gen (trừ nguồn gen giống vật nuôi); trồng trọt (trừ phân bón);
thú y; kế toán;[33] phí, lệ phí; quản lý tài sản công; hóa đơn;
dự trữ quốc gia; hóa chất; khí tượng thủy văn; đo đạc và bản đồ; đăng ký doanh
nghiệp; kiểm toán nhà nước;
d) Phạt
tiền đến 75.000.000 đồng: cơ yếu; quản lý và bảo vệ biên giới quốc gia; quốc
phòng, an ninh quốc gia; lao động; giáo dục; giáo dục nghề nghiệp; giao thông
đường bộ; giao thông đường sắt; giao thông đường thủy nội địa; bảo hiểm y tế;
bảo hiểm xã hội; bảo hiểm thất nghiệp; phòng, chống tệ nạn xã hội;
đ)[34]
Phạt tiền đến 100.000.000 đồng: đê điều; khám bệnh, chữa bệnh; mỹ phẩm; dược,
trang thiết bị y tế; chăn nuôi; phân bón; quảng cáo; đặt cược và trò chơi có
thưởng; quản lý lao động ngoài nước; giao thông hàng hải; hoạt động hàng không
dân dụng; quản lý và bảo vệ công trình giao thông; công nghệ thông tin; viễn
thông; tần số vô tuyến điện; an ninh mạng;[35] dữ liệu; công nghiệp
công nghệ số; xuất bản; in; thương mại; hải quan, thủ tục thuế; kinh doanh xổ
số; kinh doanh bảo hiểm; thực hành tiết kiệm, chống lãng phí; quản lý vật liệu
nổ; điện lực;
e) Phạt
tiền đến 150.000.000 đồng: quản lý giá; khai thác, sản xuất, kinh doanh vật
liệu xây dựng; quản lý công trình hạ tầng kỹ thuật; quản lý, phát triển nhà và
công sở; đấu thầu; đầu tư;
g) Phạt
tiền đến 200.000.000 đồng: sản xuất, buôn bán hàng cấm, hàng giả; bảo vệ quyền
lợi người tiêu dùng;
h) Phạt
tiền đến 250.000.000 đồng: điều tra, quy hoạch, thăm dò, khai thác, sử dụng
nguồn tài nguyên nước; thủy lợi; sở hữu trí tuệ; báo chí;
i)[36]
Phạt tiền đến 500.000.000 đồng: xây dựng; lâm nghiệp; đất đai; quản lý tổng hợp
tài nguyên và bảo vệ môi trường biển và hải đảo; kinh doanh bất động sản;
k) Phạt
tiền đến 1.000.000.000 đồng: quản lý các vùng biển, đảo và thềm lục địa của
nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam; quản lý hạt nhân và chất phóng xạ,
năng lượng nguyên tử; tiền tệ, kim loại quý, đá quý, ngân hàng, tín dụng; hoạt
động dầu khí và hoạt động khoáng sản khác; bảo vệ môi trường; thủy sản.
2. Mức
phạt tiền tối đa trong lĩnh vực quản lý nhà nước quy định tại khoản 1 Điều này
đối với tổ chức bằng 02 lần mức phạt tiền đối với cá nhân.
3.[37]
Mức phạt tiền tối đa trong các lĩnh vực: thuế; đo lường; an toàn thực phẩm;
chất lượng sản phẩm, hàng hóa; chứng khoán; cạnh tranh; kiểm toán độc lập; bảo
vệ dữ liệu cá nhân được thực hiện theo quy định tại các luật tương ứng.
4. Mức
phạt tiền tối đa đối với lĩnh vực mới chưa được quy định tại khoản 1 Điều này
do Chính phủ quy định sau khi được sự đồng ý của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.
Điều
25. Tước quyền sử dụng giấy phép, chứng chỉ hành nghề có thời hạn hoặc đình chỉ
hoạt động có thời hạn
1. Tước
quyền sử dụng giấy phép, chứng chỉ hành nghề có thời hạn là hình thức xử phạt
được áp dụng đối với cá nhân, tổ chức vi phạm nghiêm trọng các hoạt động được
ghi trong giấy phép, chứng chỉ hành nghề. Trong thời gian bị tước quyền sử dụng
giấy phép, chứng chỉ hành nghề, cá nhân, tổ chức không được tiến hành các hoạt
động ghi trong giấy phép, chứng chỉ hành nghề.
2. Đình
chỉ hoạt động có thời hạn là hình thức xử phạt được áp dụng đối với cá nhân, tổ
chức vi phạm hành chính trong các trường hợp sau:
a) Đình
chỉ một phần hoạt động gây hậu quả nghiêm trọng hoặc có khả năng thực tế gây
hậu quả nghiêm trọng đối với tính mạng, sức khỏe con người, môi trường của cơ
sở sản xuất, kinh doanh, dịch vụ mà theo quy định của pháp luật phải có giấy
phép;
b) Đình
chỉ một phần hoặc toàn bộ hoạt động sản xuất, kinh doanh, dịch vụ hoặc hoạt
động khác mà theo quy định của pháp luật không phải có giấy phép và hoạt động
đó gây hậu quả nghiêm trọng hoặc có khả năng thực tế gây hậu quả nghiêm trọng
đối với tính mạng, sức khỏe con người, môi trường và trật tự, an toàn xã hội.
3.[38]
Thời hạn tước quyền sử dụng giấy phép, chứng chỉ hành nghề, đình chỉ hoạt động
quy định tại khoản 1 và khoản 2 Điều này từ 01 tháng đến 24 tháng, kể từ ngày
quyết định xử phạt có hiệu lực thi hành. Người có thẩm quyền xử phạt giữ giấy
phép, chứng chỉ hành nghề trong thời hạn tước quyền sử dụng giấy phép, chứng
chỉ hành nghề.
Thời hạn
tước quyền sử dụng giấy phép, chứng chỉ hành nghề, đình chỉ hoạt động cụ thể
đối với một hành vi vi phạm hành chính là mức trung bình của khung thời gian
tước, đình chỉ được quy định đối với hành vi đó; nếu có tình tiết giảm nhẹ thì
thời hạn tước, đình chỉ có thể giảm xuống nhưng không được thấp hơn mức tối
thiểu của khung thời gian tước, đình chỉ; nếu có tình tiết tăng nặng thì thời
hạn tước, đình chỉ có thể tăng lên nhưng không được vượt quá mức tối đa của
khung thời gian tước, đình chỉ.
Chính phủ
quy định chi tiết khoản này.
Điều
26. Tịch thu tang vật, phương tiện vi phạm hành chính
Tịch thu
tang vật, phương tiện vi phạm hành chính là việc sung vào ngân sách nhà nước
vật, tiền, hàng hóa, phương tiện có liên quan trực tiếp đến vi phạm hành chính,
được áp dụng đối với vi phạm hành chính nghiêm trọng do lỗi cố ý của cá nhân,
tổ chức.[39]
Điều
27. Trục xuất
1. Trục
xuất là hình thức xử phạt buộc người nước ngoài có hành vi vi phạm hành chính
tại Việt Nam phải rời khỏi lãnh thổ nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam.
2. Chính
phủ quy định chi tiết việc áp dụng hình thức xử phạt trục xuất.
Mục 2. CÁC BIỆN PHÁP KHẮC PHỤC HẬU QUẢ
Điều
28. Các biện pháp khắc phục hậu quả và nguyên tắc áp dụng
1. Các
biện pháp khắc phục hậu quả bao gồm:
a) Buộc
khôi phục lại tình trạng ban đầu;
b) Buộc
phá dỡ[40]
công trình, phần công trình xây dựng không có giấy phép hoặc xây dựng không
đúng với giấy phép;
c) Buộc
thực hiện biện pháp khắc phục tình trạng ô nhiễm môi trường, lây lan dịch bệnh;
d) Buộc
đưa ra khỏi lãnh thổ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam hoặc tái xuất hàng
hóa, vật phẩm, phương tiện;
đ) Buộc
tiêu hủy hàng hóa, vật phẩm gây hại cho sức khỏe con người, vật nuôi, cây trồng
và môi trường, văn hóa phẩm có nội dung độc hại;
e) Buộc
cải chính thông tin sai sự thật hoặc gây nhầm lẫn;
g) Buộc
loại bỏ yếu tố vi phạm trên hàng hóa, bao bì hàng hóa, phương tiện kinh doanh,
vật phẩm;
h) Buộc
thu hồi sản phẩm, hàng hóa không bảo đảm chất lượng;
i) Buộc
nộp lại số lợi bất hợp pháp có được do thực hiện vi phạm hành chính hoặc buộc
nộp lại số tiền bằng trị giá tang vật, phương tiện vi phạm hành chính đã bị
tiêu thụ, tẩu tán, tiêu hủy trái quy định của pháp luật;
k) Các
biện pháp khắc phục hậu quả khác do Chính phủ quy định.
2. Nguyên
tắc áp dụng biện pháp khắc phục hậu quả:
a) Đối
với mỗi vi phạm hành chính, ngoài việc bị áp dụng hình thức xử phạt, cá nhân,
tổ chức vi phạm hành chính có thể bị áp dụng một hoặc nhiều biện pháp khắc phục
hậu quả quy định tại khoản 1 Điều này;
b) Biện
pháp khắc phục hậu quả được áp dụng độc lập trong trường hợp quy định tại khoản
2 Điều 65 của Luật này.
Điều
29. Buộc khôi phục lại tình trạng ban đầu
Cá nhân,
tổ chức vi phạm hành chính phải khôi phục lại tình trạng ban đầu đã bị thay đổi
do vi phạm hành chính của mình gây ra; nếu cá nhân, tổ chức vi phạm hành chính
không tự nguyện thực hiện thì bị cưỡng chế thực hiện.
Điều
30. Buộc phá dỡ[41] công trình, phần công trình xây dựng không
có giấy phép hoặc xây dựng không đúng với giấy phép
Cá nhân,
tổ chức vi phạm hành chính phải phá dỡ[42] công trình, phần công trình xây dựng không
có giấy phép hoặc xây dựng không đúng với giấy phép; nếu cá nhân, tổ chức vi
phạm hành chính không tự nguyện thực hiện thì bị cưỡng chế thực hiện.
Điều
31. Buộc khắc phục tình trạng ô nhiễm môi trường, lây lan dịch bệnh
Cá nhân,
tổ chức vi phạm hành chính phải thực hiện biện pháp để khắc phục tình trạng ô
nhiễm môi trường, lây lan dịch bệnh; nếu cá nhân, tổ chức vi phạm hành chính
không tự nguyện thực hiện thì bị cưỡng chế thực hiện.
Điều
32. Buộc đưa ra khỏi lãnh thổ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam hoặc tái
xuất hàng hóa, vật phẩm, phương tiện
Cá nhân,
tổ chức vi phạm hành chính phải đưa ra khỏi lãnh thổ nước Cộng hòa xã hội chủ
nghĩa Việt Nam hoặc tái xuất hàng hóa, vật phẩm, phương tiện được đưa vào lãnh
thổ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, nhập khẩu trái với quy định của
pháp luật hoặc được tạm nhập, tái xuất nhưng không tái xuất theo đúng quy định
của pháp luật.
Biện pháp
khắc phục hậu quả này cũng được áp dụng đối với hàng hóa nhập khẩu, quá cảnh
xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ, hàng hóa giả mạo quyền sở hữu trí tuệ, phương
tiện, nguyên liệu, vật liệu nhập khẩu được sử dụng chủ yếu để sản xuất, kinh
doanh hàng hóa giả mạo về sở hữu trí tuệ sau khi đã loại bỏ yếu tố vi phạm; nếu
cá nhân, tổ chức vi phạm hành chính không tự nguyện thực hiện thì bị cưỡng chế
thực hiện.
Điều
33. Buộc tiêu hủy hàng hóa, vật phẩm gây hại cho sức khỏe con người, vật nuôi,
cây trồng và môi trường, văn hóa phẩm có nội dung độc hại
Cá nhân,
tổ chức vi phạm hành chính phải tiêu hủy hàng hóa, vật phẩm gây hại cho sức
khoẻ con người, vật nuôi, cây trồng và môi trường, văn hóa phẩm có nội dung độc
hại hoặc tang vật khác thuộc đối tượng bị tiêu hủy theo quy định của pháp luật;
nếu cá nhân, tổ chức vi phạm hành chính không tự nguyện thực hiện thì bị cưỡng
chế thực hiện.
Điều
34. Buộc cải chính thông tin sai sự thật hoặc gây nhầm lẫn
Cá nhân,
tổ chức vi phạm hành chính phải cải chính thông tin sai sự thật hoặc gây nhầm
lẫn đã được công bố, đưa tin trên chính phương tiện thông tin đại chúng, trang
thông tin điện tử đã công bố, đưa tin; nếu cá nhân, tổ chức vi phạm hành chính
không tự nguyện thực hiện thì bị cưỡng chế thực hiện.
Điều
35. Buộc loại bỏ yếu tố vi phạm trên hàng hóa, bao bì hàng hóa, phương tiện
kinh doanh, vật phẩm
Cá nhân,
tổ chức sản xuất, kinh doanh hàng hóa hoặc sử dụng phương tiện kinh doanh, vật
phẩm chứa yếu tố vi phạm trên hàng hóa, bao bì hàng hóa, phương tiện kinh
doanh, vật phẩm thì phải loại bỏ các yếu tố vi phạm đó; nếu cá nhân, tổ chức vi
phạm hành chính không tự nguyện thực hiện thì bị cưỡng chế thực hiện.
Điều
36. Buộc thu hồi sản phẩm, hàng hóa không bảo đảm chất lượng
Cá nhân,
tổ chức sản xuất, kinh doanh sản phẩm, hàng hóa không bảo đảm chất lượng đã
đăng ký hoặc công bố và hàng hóa khác không bảo đảm chất lượng, điều kiện lưu
thông thì phải thu hồi các sản phẩm, hàng hóa vi phạm đang lưu thông trên thị
trường; nếu cá nhân, tổ chức vi phạm hành chính không tự nguyện thực hiện thì
bị cưỡng chế thực hiện.
Điều
37. Buộc nộp lại số lợi bất hợp pháp có được do thực hiện vi phạm hành chính
hoặc buộc nộp lại số tiền bằng trị giá tang vật, phương tiện vi phạm hành chính
đã bị tiêu thụ, tẩu tán, tiêu hủy trái quy định của pháp luật
Cá nhân,
tổ chức vi phạm phải nộp lại số lợi bất hợp pháp là tiền, tài sản, giấy tờ và
vật có giá có được từ vi phạm hành chính mà cá nhân, tổ chức đó đã thực hiện để
sung vào ngân sách nhà nước hoặc hoàn trả cho đối tượng bị chiếm đoạt; phải nộp
lại số tiền bằng với giá trị tang vật, phương tiện vi phạm hành chính nếu tang
vật, phương tiện đó đã bị tiêu thụ, tẩu tán, tiêu hủy trái quy định của pháp
luật; nếu cá nhân, tổ chức vi phạm hành chính không tự nguyện thực hiện thì bị
cưỡng chế thực hiện.
Chương II
THẨM QUYỀN XỬ PHẠT VI
PHẠM HÀNH CHÍNH VÀ ÁP DỤNG BIỆN PHÁP KHẮC PHỤC HẬU QUẢ
Điều
37a. Thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính[43]
1. Người
có thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính theo quy định của Luật này bao gồm:
a) Chủ
tịch Ủy ban nhân dân các cấp;
b) Thủ
trưởng tổ chức thuộc Bộ, cơ quan ngang Bộ giúp Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan
ngang Bộ thực hiện nhiệm vụ quản lý nhà nước theo ngành, lĩnh vực; Thủ trưởng
tổ chức thuộc Bộ, cơ quan ngang Bộ được giao chức năng, nhiệm vụ kiểm tra trong
phạm vi quản lý nhà nước của Bộ, cơ quan ngang Bộ, trừ trường hợp Bộ, cơ quan
ngang Bộ có các chức danh quy định tại điểm đ khoản này;
c) Thủ
trưởng cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân cấp tỉnh; Thủ trưởng Chi cục
thuộc Cục thuộc Bộ và tương đương; Thủ trưởng Chi cục thuộc cơ quan chuyên môn
thuộc Ủy ban nhân dân cấp tỉnh và tương đương;
d) Thanh
tra viên; Trưởng đoàn Thanh tra trong thời hạn thanh tra;
đ) Chánh
Thanh tra của cơ quan thanh tra trong Quân đội nhân dân, Công an nhân dân, Ngân
hàng Nhà nước Việt Nam;
e) Chánh
Thanh tra của cơ quan thanh tra Cơ yếu; Thủ trưởng cơ quan Thanh tra được thành
lập theo điều ước quốc tế mà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành
viên;
g) Trưởng
đoàn kiểm tra của Bộ, cơ quan ngang Bộ trong thời hạn kiểm tra;
h) Người
có thẩm quyền thuộc các cơ quan, lực lượng: Công an nhân dân; Bộ đội Biên
phòng; Cảnh sát biển; Hải quan; Thuế; Quản lý thị trường; Lâm nghiệp và Kiểm
lâm; Thủy sản và Kiểm ngư; Thi hành án dân sự;
i) Giám
đốc, Trưởng đại diện Cảng vụ Hàng hải, Cảng vụ Đường thủy nội địa, Cảng vụ Hàng
không; Giám đốc Trung tâm Tần số vô tuyến điện khu vực; Giám đốc Bảo hiểm xã
hội khu vực, Giám đốc Bảo hiểm xã hội Việt Nam; Giám đốc Kho bạc Nhà nước, Giám
đốc Kho bạc Nhà nước khu vực;
k) Chủ
tịch Ủy ban Tiêu chuẩn Đo lường Chất lượng Quốc gia; Chủ tịch Ủy ban Chứng
khoán Nhà nước; Trưởng Ban cơ yếu Chính phủ; người đứng đầu cơ quan đại diện
ngoại giao, cơ quan lãnh sự, cơ quan khác được ủy quyền thực hiện chức năng
lãnh sự của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam ở nước ngoài;
l) Chủ
tịch Ủy ban Cạnh tranh Quốc gia, trừ trường hợp Luật Cạnh tranh có quy định
khác về thẩm quyền xử phạt đối với hành vi thỏa thuận hạn chế cạnh tranh, lạm
dụng vị trí thống lĩnh thị trường, lạm dụng vị trí độc quyền, tập trung kinh
tế, cạnh tranh không lành mạnh;
m) Người
có thẩm quyền thuộc Tòa án nhân dân;
n) Người
có thẩm quyền thuộc Viện kiểm sát nhân dân;
o) Trưởng
đoàn kiểm toán trong thời hạn kiểm toán, Kiểm toán trưởng Kiểm toán nhà nước.
2. Căn cứ
quy định tại các điểm a, b, c, d, đ, e, g, h, i, k và l khoản 1 Điều này, Chính
phủ quy định chi tiết các chức danh có thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính;
thẩm quyền áp dụng các hình thức xử phạt, biện pháp khắc phục hậu quả của từng
chức danh.
3. Căn cứ
quy định tại các điểm m, n và o khoản 1 Điều này, Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy
định chi tiết các chức danh có thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính; thẩm
quyền áp dụng các hình thức xử phạt, biện pháp khắc phục hậu quả của từng chức
danh.
4. Trường
hợp thành lập mới các cơ quan, lực lượng chưa được quy định tại các điểm a, b,
c, d, đ, e, g, h, i, k và l khoản 1 Điều này, mà không thuộc trường hợp quy
định tại Điều 53 của Luật này, thì thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính của
các chức danh thuộc các cơ quan, lực lượng được thành lập mới do Chính phủ quy
định sau khi được sự đồng ý của Ủy ban Thường vụ Quốc hội. Chính phủ có trách
nhiệm báo cáo Quốc hội tại kỳ họp gần nhất.
Điều
38.[44] (được bãi bỏ)
Điều
39.[45] (được bãi bỏ)
Điều
40.[46] (được bãi bỏ)
Điều
41.[47] (được bãi bỏ)
Điều
42.[48] (được bãi bỏ)
Điều
43.[49] (được bãi bỏ)
Điều
43a.[50] (được bãi bỏ)
Điều
44.[51] (được bãi bỏ)
Điều
45.[52] (được bãi bỏ)
Điều
45a.[53] (được bãi bỏ)
Điều
46.[54] (được bãi bỏ)
Điều
47.[55] (được bãi bỏ)
Điều
48.[56] (được bãi bỏ)
Điều
48a.[57] (được bãi bỏ)
Điều
49.[58] (được bãi bỏ)
Điều
50.[59] (được bãi bỏ)
Điều
51.[60] (được bãi bỏ)
Điều
52. Nguyên tắc xác định và phân định thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính và
áp dụng biện pháp khắc phục hậu quả
1.[61]
Thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính của một chức danh là thẩm quyền áp dụng
đối với một hành vi vi phạm hành chính; trong trường hợp phạt tiền, thẩm quyền
xử phạt đối với tổ chức gấp 02 lần thẩm quyền xử phạt đối với cá nhân.
Trong
trường hợp phạt tiền đối với vi phạm hành chính trong khu vực nội thành của
thành phố thuộc các lĩnh vực quy định tại khoản 1 Điều 23 của Luật này, thì các
chức danh có thẩm quyền phạt tiền đối với các hành vi vi phạm hành chính do
Chính phủ quy định cũng có thẩm quyền xử phạt tương ứng với mức tiền phạt cao
hơn đối với các hành vi vi phạm hành chính do Hội đồng nhân dân thành phố quy
định.
2. Thẩm
quyền phạt tiền quy định tại khoản 1 Điều này được xác định căn cứ vào mức tối
đa của khung tiền phạt quy định đối với từng hành vi vi phạm cụ thể.
3.[62]
Chủ tịch Ủy ban nhân dân các cấp có thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính trong
các lĩnh vực quản lý nhà nước ở địa phương.
Người có
thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính quy định tại các điểm b, c, d, đ, e, g,
h, i, k và l khoản 1 Điều 37a của Luật này có thẩm quyền xử phạt vi phạm hành
chính thuộc lĩnh vực, ngành mình quản lý.
Trong
trường hợp hành vi vi phạm hành chính thuộc thẩm quyền xử phạt của nhiều người,
thì việc xử phạt vi phạm hành chính do người thụ lý đầu tiên thực hiện.
4. Trường
hợp vụ việc vi phạm hành chính có nhiều hành vi vi phạm thì thẩm quyền xử phạt
vi phạm hành chính được xác định theo nguyên tắc sau đây:[63]
a) Nếu
hình thức, mức xử phạt, trị giá tang vật, phương tiện vi phạm hành chính bị
tịch thu, biện pháp khắc phục hậu quả được quy định đối với từng hành vi đều
thuộc thẩm quyền của người xử phạt vi phạm hành chính thì thẩm quyền xử phạt
vẫn thuộc người đó;
b) Nếu
hình thức, mức xử phạt, trị giá tang vật, phương tiện vi phạm hành chính bị
tịch thu, biện pháp khắc phục hậu quả được quy định đối với một trong các hành
vi vượt quá thẩm quyền của người xử phạt vi phạm hành chính thì người đó phải
chuyển vụ vi phạm đến cấp có thẩm quyền xử phạt;
c) Nếu
hành vi thuộc thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính của nhiều người thuộc các
ngành khác nhau, thì thẩm quyền xử phạt thuộc Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp có
thẩm quyền xử phạt nơi xảy ra vi phạm.
Điều
53. Thay đổi tên gọi, nhiệm vụ, quyền hạn của chức danh có thẩm quyền xử phạt
vi phạm hành chính[64]
1. Trường
hợp chức danh có thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính theo quy định của Chính
phủ có sự thay đổi về tên gọi nhưng không thay đổi về nhiệm vụ, quyền hạn, thì
thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính của chức danh đó được giữ nguyên.
2. Trường
hợp chức danh có thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính theo quy định của Chính
phủ có sự thay đổi về nhiệm vụ, quyền hạn do sắp xếp tổ chức bộ máy nhà nước,
thì thẩm quyền xử phạt được tiếp tục thực hiện bởi chức danh tiếp nhận chức
năng, nhiệm vụ, quyền hạn đó tương ứng với từng lĩnh vực quản lý nhà nước.
Điều
54. Giao quyền xử phạt[65]
1.[66]
Người có thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính là cấp trưởng, người đứng đầu cơ
quan, đơn vị được quy định tại Điều 37a của Luật này có thể giao cho cấp phó
thực hiện thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính.
2. Việc
giao quyền xử phạt vi phạm hành chính được thực hiện thường xuyên hoặc theo vụ
việc, đồng thời với việc giao quyền áp dụng biện pháp ngăn chặn và bảo đảm xử
lý vi phạm hành chính quy định tại các khoản 2, 3, 4, 5, 6 và 7 Điều 119 của
Luật này. Việc giao quyền phải được thể hiện bằng quyết định, trong đó xác định
rõ phạm vi, nội dung, thời hạn giao quyền.
3. Cấp
phó được giao quyền xử phạt vi phạm hành chính phải chịu trách nhiệm trước cấp
trưởng và trước pháp luật về việc thực hiện quyền được giao. Người được giao
quyền không được giao quyền cho người khác.
4. Chính
phủ quy định chi tiết Điều này.
Chương III
THỦ TỤC XỬ PHẠT, THI
HÀNH QUYẾT ĐỊNH XỬ PHẠT VÀ CƯỠNG CHẾ THI HÀNH QUYẾT ĐỊNH XỬ PHẠT
Mục 1.
THỦ TỤC XỬ PHẠT
Điều
55. Buộc chấm dứt hành vi vi phạm hành chính
Buộc chấm
dứt hành vi vi phạm hành chính được người có thẩm quyền đang thi hành công vụ
áp dụng đối với hành vi vi phạm hành chính đang diễn ra nhằm chấm dứt ngay hành
vi vi phạm. Buộc chấm dứt hành vi vi phạm hành chính được thực hiện bằng lời
nói, còi, hiệu lệnh, văn bản hoặc hình thức khác theo quy định của pháp luật.
Điều
56. Xử phạt vi phạm hành chính không lập biên bản[67]
1. Xử
phạt vi phạm hành chính không lập biên bản được áp dụng đối với các trường hợp
sau:
a) Xử
phạt cảnh cáo hoặc phạt tiền đến 500.000 đồng đối với cá nhân, 1.000.000 đồng
đối với tổ chức;
b) Hành
vi vi phạm do cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng hình sự chuyển đến theo
quy định tại khoản 1 Điều 63 của Luật này.
2. Trường
hợp vi phạm hành chính được phát hiện bằng phương tiện, thiết bị kỹ thuật,
nghiệp vụ, thì phải lập biên bản.
3. Trường
hợp xử phạt vi phạm hành chính không lập biên bản quy định tại điểm a khoản 1
Điều này, thì người có thẩm quyền xử phạt ra quyết định xử phạt tại chỗ.
Điều
57. Xử phạt vi phạm hành chính có lập biên bản, hồ sơ xử phạt vi phạm hành
chính
1. Xử
phạt vi phạm hành chính có lập biên bản được áp dụng đối với hành vi vi phạm
hành chính của cá nhân, tổ chức vi phạm hành chính không thuộc trường hợp quy
định tại[68]
khoản 1 Điều 56 của Luật này.
2. Việc
xử phạt vi phạm hành chính có lập biên bản phải được người có thẩm quyền xử
phạt lập thành hồ sơ xử phạt vi phạm hành chính. Hồ sơ bao gồm biên bản vi phạm
hành chính, quyết định xử phạt hành chính, các tài liệu, giấy tờ có liên quan
và phải được đánh bút lục.
Hồ sơ
phải được lưu trữ theo quy định của pháp luật về lưu trữ.
Điều
58. Lập biên bản vi phạm hành chính[69]
1.[70]
Khi phát hiện hành vi vi phạm hành chính thuộc lĩnh vực quản lý của mình, người
có thẩm quyền đang thi hành công vụ phải kịp thời lập biên bản vi phạm hành
chính, trừ trường hợp xử phạt không lập biên bản theo quy định tại khoản 1 Điều
56 của Luật này.
Vi phạm
hành chính xảy ra trên biển, đường thủy nội địa hoặc tàu bay, tàu biển, phương
tiện thủy nội địa, tàu hỏa, thì người có thẩm quyền hoặc chỉ huy tàu bay,
thuyền trưởng, trưởng tàu có trách nhiệm tổ chức lập biên bản và chuyển cho
người có thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính khi tàu bay, tàu biển, phương
tiện thủy nội địa, tàu hỏa về đến sân bay, bến cảng, nhà ga.
2. Biên
bản vi phạm hành chính phải được lập tại nơi xảy ra hành vi vi phạm hành chính.
Trường hợp biên bản vi phạm hành chính được lập tại trụ sở cơ quan của người có
thẩm quyền lập biên bản hoặc địa điểm khác thì phải ghi rõ lý do vào biên bản.
3. Biên
bản vi phạm hành chính có nội dung chủ yếu sau đây:
a) Thời
gian, địa điểm lập biên bản;
b)[71]
Thông tin về người lập biên bản, cá nhân, tổ chức vi phạm và cơ quan, tổ chức,
cá nhân có liên quan.
Trường
hợp không xác định được chủ thể thực hiện hành vi vi phạm, thì ghi không xác
định được cá nhân, tổ chức vi phạm;
c) Thời
gian, địa điểm xảy ra vi phạm; mô tả vụ việc, hành vi vi phạm;
d) Lời
khai của người vi phạm hoặc đại diện tổ chức vi phạm, người chứng kiến, người
bị thiệt hại hoặc đại diện tổ chức bị thiệt hại;
đ) Biện
pháp ngăn chặn và bảo đảm xử lý vi phạm hành chính;
e) Quyền
và thời hạn giải trình.
4. Biên
bản vi phạm hành chính phải được lập thành ít nhất 02 bản, phải được người lập
biên bản và người vi phạm hoặc đại diện tổ chức vi phạm ký, trừ trường hợp biên
bản được lập theo quy định tại khoản 7 Điều này.
Trường
hợp người vi phạm, đại diện tổ chức vi phạm không ký vào biên bản thì biên bản
phải có chữ ký của đại diện chính quyền cấp xã nơi xảy ra vi phạm hoặc của ít
nhất 01 người chứng kiến xác nhận việc cá nhân, tổ chức vi phạm không ký vào
biên bản; trường hợp không có chữ ký của đại diện chính quyền cấp xã hoặc của
người chứng kiến thì phải ghi rõ lý do vào biên bản.
5.[72]
Biên bản vi phạm hành chính lập xong phải được giao cho cá nhân, tổ chức vi
phạm hành chính 01 bản; trường hợp vi phạm hành chính không thuộc thẩm quyền xử
phạt của người lập biên bản thì biên bản và các tài liệu khác phải được chuyển
kịp thời cho người có thẩm quyền xử phạt, trừ trường hợp vi phạm hành chính xảy
ra trên biển, đường thủy nội địa hoặc tàu bay, tàu biển, phương tiện thủy nội
địa, tàu hỏa.
6. Trường
hợp biên bản vi phạm hành chính có sai sót hoặc không thể hiện đầy đủ, chính
xác các nội dung quy định tại khoản 3 và khoản 4 Điều này thì phải tiến hành
xác minh tình tiết của vụ việc vi phạm hành chính theo quy định tại Điều 59 của
Luật này để làm căn cứ ra quyết định xử phạt. Việc xác minh tình tiết của vụ
việc vi phạm hành chính được lập thành biên bản xác minh. Biên bản xác minh là
tài liệu gắn liền với biên bản vi phạm hành chính và được lưu trong hồ sơ xử
phạt.
7. Biên
bản vi phạm hành chính có thể được lập, gửi bằng phương thức điện tử đối với
trường hợp cơ quan của người có thẩm quyền xử phạt, cá nhân, tổ chức vi phạm
đáp ứng điều kiện về cơ sở hạ tầng, kỹ thuật, thông tin.
8. Biên
bản vi phạm hành chính phải được lập đúng nội dung, hình thức, thủ tục theo quy
định của Luật này và là căn cứ ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính, trừ
trường hợp xử phạt vi phạm hành chính không lập biên bản quy định tại khoản 1
Điều 56, khoản 2 Điều 63 của Luật này và trường hợp Luật Quản lý thuế có quy
định khác.
9. Chính
phủ quy định chi tiết Điều này.
Điều
59. Xác minh tình tiết của vụ việc vi phạm hành chính
1. Khi
xem xét ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính, trong trường hợp cần thiết
người có thẩm quyền lập biên bản vi phạm hành chính hoặc[73] người có thẩm quyền xử
phạt có trách nhiệm xác minh các tình tiết sau đây:
a) Có hay
không có vi phạm hành chính;
b) Cá
nhân, tổ chức thực hiện hành vi vi phạm hành chính, lỗi, nhân thân của cá nhân
vi phạm hành chính;
c) Tình
tiết tăng nặng, giảm nhẹ;
d) Tính
chất, mức độ thiệt hại do vi phạm hành chính gây ra;
đ) Trường
hợp không ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính theo quy định tại khoản 1
Điều 65 của Luật này;
e) Tình
tiết khác có ý nghĩa đối với việc xem xét, quyết định xử phạt.
Trong quá
trình xem xét, ra quyết định xử phạt, người có thẩm quyền xử phạt có thể trưng
cầu giám định. Việc trưng cầu giám định được thực hiện theo quy định của pháp
luật về giám định.
2. Việc
xác minh tình tiết của vụ việc vi phạm hành chính phải được thể hiện bằng văn
bản.
3.[74]
Người có thẩm quyền quy định tại khoản 1 Điều này tự mình hoặc phân công, phối
hợp thực hiện xác minh và phải chịu trách nhiệm trước pháp luật về kết quả xác
minh.
Điều
60. Xác định giá trị tang vật, phương tiện[75] vi phạm hành chính để
làm căn cứ xác định khung tiền phạt, thẩm quyền xử phạt
1. Trong
trường hợp cần xác định giá trị tang vật, phương tiện[76] vi phạm hành chính để
làm căn cứ xác định khung tiền phạt, thẩm quyền xử phạt, người có thẩm quyền
đang giải quyết vụ việc phải xác định giá trị tang vật, phương tiện[77]
và phải chịu trách nhiệm về việc xác định đó.
2. Tùy
theo loại tang vật, phương tiện[78] cụ thể, việc xác định giá trị dựa trên một
trong các căn cứ theo thứ tự ưu tiên sau đây:
a) Giá
niêm yết hoặc giá ghi trên hợp đồng hoặc hóa đơn mua bán hoặc tờ khai nhập
khẩu;
b) Giá
theo thông báo của cơ quan tài chính địa phương; trường hợp không có thông báo
giá thì theo giá thị trường của địa phương tại thời điểm xảy ra vi phạm hành
chính;
c) Giá
thành của tang vật, phương tiện[79] nếu là hàng hóa chưa xuất bán;
d) Đối
với tang vật, phương tiện[80] là hàng giả thì giá của tang vật, phương
tiện[81]
đó là giá thị trường của hàng hóa thật hoặc hàng hóa có cùng tính năng, kỹ
thuật, công dụng tại thời điểm nơi phát hiện vi phạm hành chính.
3.[82]
Trường hợp không thể áp dụng quy định tại khoản 2 Điều này làm căn cứ xác định
giá trị tang vật, phương tiện vi phạm hành chính để xác định khung tiền phạt,
thẩm quyền xử phạt, thì người có thẩm quyền đang giải quyết vụ việc có thể ra
quyết định tạm giữ tang vật, phương tiện vi phạm và thành lập Hội đồng định
giá. Hội đồng định giá gồm có người ra quyết định tạm giữ tang vật, phương tiện
vi phạm hành chính là Chủ tịch Hội đồng, đại diện cơ quan tài chính cùng cấp và
đại diện cơ quan chuyên môn có liên quan là thành viên.
Thời hạn
tạm giữ để xác định giá trị tang vật, phương tiện vi phạm hành chính không quá
05 ngày làm việc, kể từ ngày ra quyết định tạm giữ. Mọi chi phí liên quan đến
việc tạm giữ, định giá và thiệt hại do việc tạm giữ gây ra do cơ quan của người
có thẩm quyền ra quyết định tạm giữ chi trả.
4. Căn cứ
để xác định giá trị và các tài liệu liên quan đến việc xác định giá trị tang
vật, phương tiện[83] vi phạm hành chính phải thể hiện trong hồ sơ
xử phạt vi phạm hành chính.
Điều
61. Giải trình[84]
1. Đối
với hành vi vi phạm hành chính mà pháp luật có quy định hình thức xử phạt tước
quyền sử dụng giấy phép, chứng chỉ hành nghề có thời hạn hoặc đình chỉ hoạt
động có thời hạn hoặc quy định mức tối đa của khung tiền phạt đối với hành vi
đó từ 15.000.000 đồng trở lên đối với cá nhân, từ 30.000.000 đồng trở lên đối
với tổ chức thì cá nhân, tổ chức vi phạm có quyền giải trình trực tiếp hoặc
bằng văn bản với người có thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính. Người có thẩm
quyền xử phạt có trách nhiệm xem xét ý kiến giải trình của cá nhân, tổ chức vi
phạm hành chính để ra quyết định xử phạt, trừ trường hợp cá nhân, tổ chức không
yêu cầu giải trình.
2. Đối
với trường hợp giải trình bằng văn bản, cá nhân, tổ chức vi phạm hành chính
phải gửi văn bản giải trình cho người có thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính
trong thời hạn 05 ngày làm việc, kể từ ngày lập biên bản vi phạm hành chính.
Trường
hợp vụ việc có nhiều tình tiết phức tạp thì người có thẩm quyền xử phạt có thể
gia hạn nhưng không quá 05 ngày làm việc theo đề nghị của cá nhân, tổ chức vi
phạm. Việc gia hạn của người có thẩm quyền xử phạt phải bằng văn bản.
Cá nhân,
tổ chức vi phạm hành chính tự mình hoặc ủy quyền cho người đại diện hợp pháp
của mình thực hiện việc giải trình bằng văn bản.
3. Đối
với trường hợp giải trình trực tiếp, cá nhân, tổ chức vi phạm hành chính phải
gửi văn bản yêu cầu được giải trình trực tiếp đến người có thẩm quyền xử phạt
vi phạm hành chính trong thời hạn 02 ngày làm việc, kể từ ngày lập biên bản vi
phạm hành chính.
Người có
thẩm quyền xử phạt phải thông báo bằng văn bản cho người vi phạm về thời gian
và địa điểm tổ chức phiên giải trình trực tiếp trong thời hạn 05 ngày làm việc,
kể từ ngày nhận được yêu cầu của người vi phạm.
Người có
thẩm quyền xử phạt tổ chức phiên giải trình trực tiếp và có trách nhiệm nêu căn
cứ pháp lý, tình tiết, chứng cứ liên quan đến hành vi vi phạm hành chính, hình
thức xử phạt, biện pháp khắc phục hậu quả dự kiến áp dụng đối với hành vi vi
phạm. Cá nhân, tổ chức vi phạm hành chính, người đại diện hợp pháp của họ có
quyền tham gia phiên giải trình và đưa ra ý kiến, chứng cứ để bảo vệ quyền, lợi
ích hợp pháp của mình.
Việc giải
trình trực tiếp được lập thành biên bản và phải có chữ ký của các bên liên
quan; trường hợp biên bản gồm nhiều trang thì các bên phải ký vào từng trang
biên bản. Biên bản phải được lưu trong hồ sơ xử phạt vi phạm hành chính và giao
cho cá nhân, tổ chức vi phạm hoặc người đại diện hợp pháp của họ 01 bản.
4. Trường
hợp cá nhân, tổ chức vi phạm hành chính không yêu cầu giải trình nhưng trước
khi hết thời hạn quy định tại khoản 2 hoặc khoản 3 Điều này lại có yêu cầu giải
trình thì người có thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính có trách nhiệm xem xét
ý kiến giải trình của cá nhân, tổ chức vi phạm.
5. Chính
phủ quy định chi tiết Điều này.
Điều
62. Chuyển hồ sơ vụ vi phạm có dấu hiệu tội phạm để truy cứu trách nhiệm hình
sự
1.[85]
Trong quá trình xem xét, xử lý vụ vi phạm, nếu xét thấy hành vi vi phạm có dấu
hiệu tội phạm, thì người có thẩm quyền đang giải quyết vụ việc phải chuyển hồ
sơ liên quan đến hành vi có dấu hiệu tội phạm cho cơ quan có thẩm quyền tiến
hành tố tụng hình sự.
Việc
chuyển tang vật, phương tiện vi phạm hành chính liên quan đến hành vi có dấu
hiệu tội phạm thực hiện theo quy định của Chính phủ.
2. Trong
quá trình thi hành quyết định xử phạt vi phạm hành chính, nếu hành vi vi phạm
được phát hiện có dấu hiệu tội phạm mà chưa hết thời hiệu truy cứu trách nhiệm
hình sự thì người đã ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính phải ra quyết
định tạm đình chỉ thi hành quyết định đó và trong thời hạn 05 ngày làm việc[86],
kể từ ngày tạm đình chỉ phải chuyển hồ sơ vụ vi phạm cho cơ quan có thẩm quyền
tiến hành tố tụng[87] hình sự; trường hợp đã thi hành xong quyết
định xử phạt thì người đã ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính phải chuyển
hồ sơ vụ vi phạm cho cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng[88] hình sự.
3. Cơ
quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng[89] hình sự có trách nhiệm xem xét, kết luận vụ
việc và trả lời kết quả giải quyết bằng văn bản cho người có thẩm quyền đã
chuyển hồ sơ trong thời hạn theo quy định của pháp luật tố tụng hình sự; trường
hợp không khởi tố vụ án hình sự thì trong thời hạn 05 ngày làm việc[90],
kể từ ngày quyết định không khởi tố vụ án hình sự có hiệu lực[91], cơ quan có thẩm quyền
tiến hành tố tụng[92] phải trả hồ sơ vụ việc cho người có thẩm
quyền xử phạt đã chuyển hồ sơ đến.
Trường
hợp quy định tại khoản 2 Điều này, nếu cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng[93]
hình sự có quyết định khởi tố vụ án thì người có thẩm quyền xử phạt vi phạm
hành chính phải hủy bỏ quyết định xử phạt vi phạm hành chính và chuyển toàn bộ
tang vật, phương tiện vi phạm hành chính và tài liệu về việc thi hành quyết
định xử phạt cho cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng[94] hình sự.
4. Việc
chuyển hồ sơ vụ vi phạm có dấu hiệu tội phạm để truy cứu trách nhiệm hình sự
phải được thông báo bằng văn bản cho cá nhân, tổ chức[95] vi phạm.
Điều
63. Chuyển hồ sơ vụ vi phạm để xử phạt hành chính
1.[96]
Đối với vụ việc do cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng hình sự thụ lý, giải
quyết, nhưng sau đó ban hành một trong các quyết định không khởi tố vụ án hình
sự, quyết định hủy bỏ quyết định khởi tố vụ án hình sự, quyết định đình chỉ
điều tra, quyết định đình chỉ vụ án, quyết định đình chỉ vụ án đối với bị can,
miễn trách nhiệm hình sự theo bản án, nếu hành vi có dấu hiệu vi phạm hành
chính thì người có thẩm quyền của cơ quan đang thụ lý vụ án phải xử phạt vi
phạm hành chính theo thẩm quyền. Trường hợp không có thẩm quyền xử phạt, thì
phải chuyển quyết định kèm theo hồ sơ (bản sao y), tang vật, phương tiện
vi phạm liên quan đến hành vi vi phạm hành chính trong vụ việc, trừ trường hợp
tang vật, phương tiện là vật chứng và văn bản đề nghị xử phạt vi phạm hành
chính cho người có thẩm quyền xử phạt trong thời hạn 05 ngày làm việc, kể từ ngày
quyết định có hiệu lực.
2.[97]
Việc xử phạt vi phạm hành chính được căn cứ vào hồ sơ vụ vi phạm do cơ quan quy
định tại khoản 1 Điều này chuyển đến. Trường hợp cần thiết phải xác minh thêm
tình tiết để có căn cứ ra quyết định xử phạt, người có thẩm quyền xử phạt có
thể lập biên bản xác minh tình tiết của vụ việc vi phạm hành chính theo quy
định tại Điều 59 của Luật này.
3. Thời
hạn ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính là 30 ngày, kể từ ngày nhận được
các quyết định quy định tại khoản 1 Điều này kèm theo hồ sơ vụ vi phạm. Trong
trường hợp cần xác minh thêm quy định tại khoản 2 Điều này thì thời hạn tối đa
không quá 45 ngày.
Điều
64. Phát hiện vi phạm hành chính bằng phương tiện, thiết bị kỹ thuật nghiệp vụ[98]
1. Cơ
quan, người có thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính, cá nhân, tổ chức được
giao quản lý phương tiện, thiết bị kỹ thuật nghiệp vụ được sử dụng phương tiện,
thiết bị kỹ thuật nghiệp vụ để phát hiện vi phạm hành chính về trật tự, an toàn
giao thông, bảo vệ môi trường, phòng cháy, chữa cháy, cứu nạn, cứu hộ, phòng,
chống ma túy, phòng, chống tác hại của rượu, bia, tần số vô tuyến điện[99]
và lĩnh vực khác do Chính phủ quy định sau khi được sự đồng ý của Ủy ban Thường
vụ Quốc hội.
2. Việc
quản lý, sử dụng và quy định danh mục phương tiện, thiết bị kỹ thuật nghiệp vụ
phải bảo đảm các yêu cầu, điều kiện sau đây:
a) Tôn
trọng quyền tự do, danh dự, nhân phẩm, bí mật đời tư của công dân, các quyền và
lợi ích hợp pháp khác của cá nhân và tổ chức;
b) Tuân
thủ đúng quy trình, quy tắc về sử dụng phương tiện, thiết bị kỹ thuật nghiệp
vụ;
c) Kết
quả thu thập được bằng phương tiện, thiết bị kỹ thuật nghiệp vụ phải được ghi
nhận bằng văn bản và chỉ được sử dụng trong xử phạt vi phạm hành chính;
d) Phương
tiện, thiết bị kỹ thuật nghiệp vụ phải bảo đảm đúng tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ
thuật và đã được kiểm định, hiệu chuẩn, thử nghiệm theo quy định của
pháp luật; tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật phải được duy trì trong suốt quá
trình sử dụng và giữa hai kỳ kiểm định, hiệu chuẩn, thử nghiệm.
3. Việc
sử dụng, bảo quản kết quả thu thập được bằng phương tiện, thiết bị kỹ thuật
nghiệp vụ phải bảo đảm các yêu cầu, điều kiện sau đây:
a) Kết
quả thu thập được bằng phương tiện, thiết bị kỹ thuật nghiệp vụ là bản ảnh,
hình ảnh, phiếu in, chỉ số đo, dữ liệu lưu trong bộ nhớ của phương tiện, thiết
bị kỹ thuật nghiệp vụ theo quy định của Luật này;
b) Kết
quả thu thập được bằng phương tiện, thiết bị kỹ thuật nghiệp vụ chỉ được sử
dụng để xử phạt vi phạm hành chính khi bảo đảm các yêu cầu, điều kiện quy định
tại khoản 2 Điều này;
c) Khi có
kết quả thu được bằng phương tiện, thiết bị kỹ thuật nghiệp vụ, người có thẩm
quyền xử phạt vi phạm hành chính phải nhanh chóng xác định tổ chức, cá nhân vi
phạm hành chính và thông báo bằng văn bản đến tổ chức, cá nhân vi phạm.
Trường
hợp xác định được tổ chức, cá nhân vi phạm, người có thẩm quyền phải tiến hành
lập biên bản vi phạm hành chính theo quy định tại Điều 58 của Luật này và kết
quả thu được bằng phương tiện, thiết bị kỹ thuật nghiệp vụ được lưu theo biên
bản vi phạm hành chính;
d) Kết
quả thu được bằng phương tiện, thiết bị kỹ thuật nghiệp vụ phải được bảo quản
chặt chẽ, lưu vào hồ sơ xử phạt vi phạm hành chính.
4. Cơ
quan nhà nước có thẩm quyền sử dụng phương tiện, thiết bị kỹ thuật nghiệp vụ và
các biện pháp nghiệp vụ khác nhằm xác định thông tin, dữ liệu được thu thập từ
phương tiện, thiết bị kỹ thuật do cá nhân, tổ chức cung cấp để phát hiện vi
phạm hành chính.
5. Chính
phủ quy định việc quản lý, sử dụng, đối tượng được trang bị phương tiện, thiết
bị kỹ thuật nghiệp vụ, danh mục phương tiện, thiết bị kỹ thuật nghiệp vụ được
sử dụng để phát hiện vi phạm hành chính và việc sử dụng, bảo quản kết quả thu
thập được bằng phương tiện, thiết bị kỹ thuật nghiệp vụ; quy trình thu thập, sử
dụng dữ liệu thu được từ phương tiện, thiết bị kỹ thuật do cá nhân, tổ chức
cung cấp.
Điều
65. Những trường hợp không ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính
1. Không
ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính trong những trường hợp sau đây:
a) Trường
hợp quy định tại Điều 11 của Luật này;
b) Không
xác định được đối tượng vi phạm hành chính;
c) Hết
thời hiệu xử phạt vi phạm hành chính quy định tại Điều 6 hoặc hết thời hạn ra
quyết định xử phạt quy định tại khoản 3 Điều 63 hoặc khoản 1 Điều 66 của Luật
này;
d) Cá
nhân vi phạm hành chính chết, mất tích, tổ chức vi phạm hành chính đã giải thể,
phá sản trong thời gian xem xét ra quyết định xử phạt;
đ) Chuyển
hồ sơ vụ vi phạm có dấu hiệu tội phạm theo quy định tại Điều 62 của Luật này.
2.[100]
Đối với trường hợp quy định tại các điểm a, b, c và d khoản 1 Điều này, người
có thẩm quyền không ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính nhưng vẫn phải ra
quyết định tịch thu tang vật, phương tiện vi phạm hành chính nếu tang vật,
phương tiện vi phạm hành chính thuộc loại cấm tàng trữ, cấm lưu hành hoặc tang
vật, phương tiện mà pháp luật có quy định hình thức xử phạt tịch thu và áp dụng
biện pháp khắc phục hậu quả được quy định đối với hành vi vi phạm hành chính
đó.
Quyết
định phải ghi rõ lý do không ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính; tang
vật, phương tiện vi phạm hành chính bị tịch thu; biện pháp khắc phục hậu quả
được áp dụng, trách nhiệm và thời hạn thực hiện.
Việc tịch
thu tang vật, phương tiện vi phạm hành chính, áp dụng biện pháp khắc phục hậu
quả quy định tại khoản này không bị coi là đã bị xử phạt vi phạm hành chính.
Điều
66. Thời hạn ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính[101]
1. Thời
hạn ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính được quy định như sau:
a) Đối
với vụ việc không thuộc trường hợp quy định tại điểm b và điểm c khoản này,
thời hạn ra quyết định xử phạt là 07 ngày làm việc, kể từ ngày lập biên bản vi
phạm hành chính; vụ việc thuộc trường hợp phải chuyển hồ sơ đến người có thẩm
quyền xử phạt thì thời hạn ra quyết định xử phạt là 10 ngày làm việc, kể từ
ngày lập biên bản vi phạm hành chính, trừ trường hợp quy định tại khoản 3 Điều
63 của Luật này;
b) Đối
với vụ việc mà cá nhân, tổ chức có yêu cầu giải trình hoặc phải xác minh các
tình tiết có liên quan quy định tại Điều 59 của Luật này thì thời hạn ra quyết
định xử phạt là 01 tháng, kể từ ngày lập biên bản vi phạm hành chính;
c) Đối
với vụ việc thuộc trường hợp quy định tại điểm b khoản này mà đặc biệt nghiêm
trọng, có nhiều tình tiết phức tạp, cần có thêm thời gian để xác minh, thu thập
chứng cứ thì thời hạn ra quyết định xử phạt là 02 tháng, kể từ ngày lập biên
bản vi phạm hành chính.
2. Người
có thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính, cá nhân, tổ chức liên quan nếu có lỗi
trong việc để quá thời hạn mà không ra quyết định xử phạt thì bị xử lý theo quy
định của pháp luật.
Điều
67. Ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính
1. Trường
hợp một cá nhân, tổ chức thực hiện nhiều hành vi vi phạm hành chính mà bị xử
phạt trong cùng một lần thì chỉ ra 01 quyết định xử phạt, trong đó quyết định
hình thức, mức xử phạt đối với từng hành vi vi phạm hành chính.
2. Trường
hợp nhiều cá nhân, tổ chức cùng thực hiện một hành vi vi phạm hành chính thì có
thể ra 01 hoặc nhiều quyết định xử phạt để quyết định hình thức, mức xử phạt
đối với từng cá nhân, tổ chức.
3. Trường
hợp nhiều cá nhân, tổ chức thực hiện nhiều hành vi vi phạm hành chính khác nhau
trong cùng một vụ vi phạm thì có thể ra 01 hoặc nhiều quyết định xử phạt để
quyết định hình thức, mức xử phạt đối với từng hành vi vi phạm của từng cá
nhân, tổ chức.
4. Quyết
định xử phạt có hiệu lực kể từ ngày ký, trừ trường hợp trong quyết định quy
định ngày có hiệu lực khác.
Điều
68. Nội dung quyết định xử phạt vi phạm hành chính
1. Quyết
định xử phạt vi phạm hành chính phải bao gồm các nội dung chính sau đây:
a) Địa
danh, ngày, tháng, năm ra quyết định;
b) Căn cứ
pháp lý để ban hành quyết định;
c) Biên
bản vi phạm hành chính, kết quả xác minh, văn bản giải trình của cá nhân, tổ
chức vi phạm hoặc biên bản họp giải trình và tài liệu khác (nếu có);
d) Họ,
tên, chức vụ của người ra quyết định;
đ) Họ,
tên, địa chỉ, nghề nghiệp của người vi phạm hoặc tên, địa chỉ và họ tên, chức
vụ của người đại diện theo pháp luật[102] của tổ chức vi phạm;
e) Hành
vi vi phạm hành chính; tình tiết giảm nhẹ, tình tiết tăng nặng;
g) Điều,
khoản của văn bản pháp luật được áp dụng;
h) Hình
thức xử phạt chính; hình thức xử phạt bổ sung, biện pháp khắc phục hậu quả (nếu
có);
i) Quyền
khiếu nại, khởi kiện đối với quyết định xử phạt vi phạm hành chính;
k) Hiệu
lực của quyết định, thời hạn và nơi thi hành quyết định xử phạt vi phạm hành
chính, nơi nộp tiền phạt;
l) Họ
tên, chữ ký của người ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính;
m) Trách
nhiệm thi hành quyết định xử phạt vi phạm hành chính và việc cưỡng chế trong
trường hợp cá nhân, tổ chức bị xử phạt vi phạm hành chính không tự nguyện chấp
hành.
2. Thời
hạn thi hành quyết định là 10 ngày, kể từ ngày nhận quyết định xử phạt; trường
hợp quyết định xử phạt có ghi thời hạn thi hành nhiều hơn 10 ngày thì thực hiện
theo thời hạn đó.
3. Trường
hợp ban hành một quyết định xử phạt vi phạm hành chính chung đối với nhiều cá
nhân, tổ chức cùng thực hiện một hành vi vi phạm hoặc nhiều cá nhân, tổ chức
thực hiện nhiều hành vi vi phạm hành chính khác nhau trong cùng một vụ vi phạm
thì nội dung hành vi vi phạm, hình thức, mức xử phạt đối với từng cá nhân, tổ
chức phải xác định cụ thể, rõ ràng.
Mục 2.
THI HÀNH QUYẾT ĐỊNH XỬ PHẠT VI PHẠM HÀNH CHÍNH
Điều
69. Thi hành quyết định xử phạt không lập biên bản
1. Quyết
định xử phạt vi phạm hành chính không lập biên bản phải được giao cho cá nhân,
tổ chức bị xử phạt 01 bản. Trường hợp người chưa thành niên bị xử phạt cảnh cáo
thì quyết định xử phạt còn được gửi cho cha mẹ hoặc người giám hộ của người đó.
2. Cá
nhân, tổ chức vi phạm nộp tiền phạt tại chỗ cho người có thẩm quyền xử phạt.
Người thu tiền phạt có trách nhiệm giao chứng từ thu tiền phạt cho cá nhân, tổ
chức nộp tiền phạt và phải nộp tiền phạt trực tiếp tại Kho bạc Nhà nước hoặc
nộp vào tài khoản của Kho bạc Nhà nước trong thời hạn 02 ngày làm việc, kể từ
ngày thu tiền phạt.
Trường
hợp cá nhân, tổ chức vi phạm không có khả năng nộp tiền phạt tại chỗ thì nộp
tại Kho bạc Nhà nước hoặc nộp vào tài khoản của Kho bạc Nhà nước ghi trong
quyết định xử phạt trong thời hạn quy định tại khoản 1 Điều 78 của Luật này.
Điều
70. Gửi quyết định xử phạt vi phạm hành chính để thi hành[103]
1. Trong
thời hạn 03 ngày làm việc, kể từ ngày ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính,
người đã ra quyết định xử phạt phải gửi cho cá nhân, tổ chức bị xử phạt, cơ
quan thu tiền phạt, cơ quan liên quan khác (nếu có) để thi hành.
2. Việc
gửi quyết định xử phạt có thể thực hiện bằng một trong các hình thức sau đây:
a) Giao
trực tiếp cho cá nhân, tổ chức bị xử phạt;
b) Gửi
qua dịch vụ bưu chính bằng hình thức bảo đảm;
c) Gửi
bằng phương thức điện tử;
d) Trường
hợp không thể thực hiện được các hình thức quy định tại các điểm a, b và c
khoản này, thì niêm yết công khai quyết định xử phạt tại nơi cư trú của cá nhân
hoặc nơi đặt trụ sở của tổ chức bị xử phạt hoặc gửi quyết định xử phạt đến Ủy
ban nhân dân cấp xã nơi cư trú của cá nhân hoặc nơi đặt trụ sở của tổ chức bị
xử phạt để thực hiện niêm yết.
3. Việc
gửi quyết định xử phạt vi phạm hành chính để thi hành được thực hiện theo quy
định của Chính phủ.
Điều
71. Chuyển quyết định xử phạt để tổ chức thi hành
1.[104]
Trường hợp cá nhân, tổ chức bị xử phạt vi phạm hành chính không có điều kiện
chấp hành quyết định xử phạt tại nơi cơ quan của người ra quyết định xử phạt
đóng trụ sở, thì quyết định được chuyển đến cơ quan cùng cấp nơi cá nhân cư
trú, tổ chức đóng trụ sở để tổ chức thi hành; nếu nơi cá nhân cư trú, tổ chức
đóng trụ sở không có cơ quan cùng cấp thì quyết định xử phạt được chuyển đến Ủy
ban nhân dân cấp xã để tổ chức thi hành.
2.[105]
(được bãi bỏ)
3.[106]
Cơ quan của người đã ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với các
trường hợp quy định tại khoản 1 và khoản 2 Điều này có trách nhiệm chuyển toàn
bộ bản gốc hồ sơ, giấy tờ liên quan đến cơ quan tiếp nhận quyết định xử phạt để
thi hành theo quy định của Luật này. Tang vật, phương tiện vi phạm hành chính
bị tạm giữ, tịch thu (nếu có) được chuyển đến cơ quan tiếp nhận quyết định xử
phạt để thi hành, trừ trường hợp tang vật là động vật, thực vật sống, hàng hóa,
vật phẩm dễ bị hư hỏng, khó bảo quản theo quy định của pháp luật và một số loại
tài sản khác do Chính phủ quy định.
Cá nhân,
tổ chức vi phạm phải trả chi phí chuyển hồ sơ, tang vật, phương tiện vi phạm
hành chính.
Điều
72. Công bố công khai trên các phương tiện thông tin đại chúng việc xử phạt đối
với cá nhân, tổ chức vi phạm hành chính
1. Trường
hợp vi phạm hành chính về an toàn thực phẩm; chất lượng sản phẩm, hàng hóa;
dược; khám bệnh, chữa bệnh; lao động; xây dựng; bảo hiểm xã hội; bảo hiểm y tế;
bảo vệ môi trường; thuế; chứng khoán; sở hữu trí tuệ; đo lường; sản xuất, buôn
bán hàng giả mà gây hậu quả lớn hoặc gây ảnh hưởng xấu về dư luận xã hội thì cơ
quan của người có thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính có trách nhiệm công bố
công khai về việc xử phạt.
2. Nội
dung công bố công khai bao gồm cá nhân, tổ chức vi phạm hành chính, hành vi vi
phạm, hình thức xử phạt và biện pháp khắc phục hậu quả.
3. Việc
công bố công khai được thực hiện trên trang thông tin điện tử hoặc báo của cơ
quan quản lý cấp bộ, cấp sở hoặc của Ủy ban nhân dân cấp tỉnh nơi xảy ra vi
phạm hành chính.
Điều
73. Thi hành quyết định xử phạt vi phạm hành chính
1. Cá
nhân, tổ chức bị xử phạt vi phạm hành chính phải chấp hành quyết định xử phạt
trong thời hạn 10 ngày, kể từ ngày nhận quyết định xử phạt vi phạm hành chính;
trường hợp quyết định xử phạt vi phạm hành chính có ghi thời hạn thi hành nhiều
hơn 10 ngày thì thực hiện theo thời hạn đó.
Trường
hợp cá nhân, tổ chức bị xử phạt khiếu nại, khởi kiện đối với quyết định xử phạt
vi phạm hành chính thì vẫn phải chấp hành quyết định xử phạt, trừ trường hợp
quy định tại khoản 3 Điều 15 của Luật này. Việc khiếu nại, khởi kiện được giải
quyết theo quy định của pháp luật.
2. Người
có thẩm quyền xử phạt đã ra quyết định xử phạt có trách nhiệm theo dõi, kiểm
tra việc chấp hành quyết định xử phạt của cá nhân, tổ chức bị xử phạt và thông
báo kết quả thi hành xong quyết định cho cơ quan quản lý cơ sở dữ liệu về xử lý
vi phạm hành chính của Bộ Tư pháp, cơ quan tư pháp địa phương.
Điều
74. Thời hiệu thi hành quyết định xử phạt vi phạm hành chính
1.[107]
Thời hiệu thi hành quyết định xử phạt vi phạm hành chính là 01 năm, kể từ ngày
ra quyết định, quá thời hạn này thì không thi hành quyết định đó nữa, trừ
trường hợp quyết định xử phạt có áp dụng hình thức xử phạt tịch thu tang vật,
phương tiện vi phạm hành chính, biện pháp khắc phục hậu quả thì vẫn phải tịch
thu tang vật, phương tiện, áp dụng biện pháp khắc phục hậu quả.
2. Trong
trường hợp cá nhân, tổ chức bị xử phạt cố tình trốn tránh, trì hoãn thì thời
hiệu nói trên được tính kể từ thời điểm chấm dứt hành vi trốn tránh, trì hoãn.
Điều
75. Thi hành quyết định xử phạt vi phạm hành chính trong trường hợp người bị xử
phạt chết, mất tích, tổ chức bị xử phạt giải thể, phá sản
Trường
hợp người bị xử phạt chết, mất tích, tổ chức bị xử phạt giải thể, phá sản thì
không thi hành quyết định phạt tiền nhưng vẫn thi hành hình thức xử phạt tịch
thu tang vật, phương tiện vi phạm hành chính và biện pháp khắc phục hậu quả
được ghi trong quyết định.
Chính phủ
quy định chi tiết Điều này.
Điều
76. Hoãn thi hành quyết định phạt tiền[108]
1. Việc
hoãn thi hành quyết định phạt tiền được áp dụng khi có đủ các điều kiện sau
đây:
a) Cá
nhân bị phạt tiền từ 2.000.000 đồng trở lên, tổ chức bị phạt tiền từ
100.000.000 đồng trở lên;
b) Cá
nhân đang gặp khó khăn về kinh tế do thiên tai, thảm họa, hỏa hoạn, dịch bệnh,
mắc bệnh hiểm nghèo, tai nạn; tổ chức đang gặp khó khăn đặc biệt hoặc đột xuất
về kinh tế do thiên tai, thảm họa, hỏa hoạn, dịch bệnh.
Trường
hợp cá nhân gặp khó khăn về kinh tế do thiên tai, thảm họa, hỏa hoạn, dịch
bệnh, mắc bệnh hiểm nghèo, tai nạn thì phải có xác nhận của Ủy ban nhân dân cấp
xã nơi người đó cư trú hoặc cơ quan, tổ chức nơi người đó học tập, làm việc;
trường hợp cá nhân gặp khó khăn về kinh tế do mắc bệnh hiểm nghèo, tai nạn thì
phải có thêm xác nhận của cơ sở khám bệnh, chữa bệnh cấp cơ bản[109]
trở lên.
Trường
hợp tổ chức đang gặp khó khăn về kinh tế do thiên tai, thảm họa, hỏa hoạn, dịch
bệnh thì phải có xác nhận của Ủy ban nhân dân cấp xã, Ban quản lý khu công
nghiệp, khu chế xuất, khu công nghệ cao, khu kinh tế, cơ quan Thuế quản lý trực
tiếp hoặc cơ quan cấp trên trực tiếp.
2. Cá
nhân, tổ chức phải có đơn đề nghị hoãn chấp hành quyết định xử phạt vi phạm
hành chính kèm theo văn bản xác nhận của cơ quan, tổ chức có thẩm quyền theo
quy định tại khoản 1 Điều này gửi người đã ra quyết định xử phạt trong thời hạn
quy định tại khoản 2 Điều 68 của Luật này. Trong thời hạn 05 ngày làm việc, kể
từ ngày nhận được đơn, người đã ra quyết định xử phạt xem xét, quyết định hoãn
thi hành quyết định xử phạt đó.
Thời hạn
hoãn thi hành quyết định xử phạt không quá 03 tháng, kể từ ngày có quyết định
hoãn.
3. Cá
nhân, tổ chức được hoãn chấp hành quyết định xử phạt được nhận lại giấy tờ,
tang vật, phương tiện vi phạm hành chính đang bị tạm giữ theo quy định tại
khoản 6 Điều 125 của Luật này.
Điều
77. Giảm, miễn tiền phạt[110]
1. Việc
giảm một phần tiền phạt ghi trong quyết định xử phạt đối với cá nhân, tổ chức
đã được hoãn thi hành quyết định phạt tiền theo quy định tại Điều 76 của Luật
này được quy định như sau:
a) Cá
nhân tiếp tục gặp khó khăn về kinh tế do thiên tai, thảm họa, hỏa hoạn, dịch
bệnh, mắc bệnh hiểm nghèo, tai nạn và có xác nhận của Ủy ban nhân dân cấp xã
nơi người đó cư trú hoặc cơ quan, tổ chức nơi người đó học tập, làm việc;
b) Tổ
chức tiếp tục gặp khó khăn đặc biệt hoặc đột xuất về kinh tế do thiên tai, thảm
họa, hỏa hoạn, dịch bệnh và có xác nhận của Ủy ban nhân dân cấp xã, Ban quản lý
khu công nghiệp, khu chế xuất, khu công nghệ cao, khu kinh tế, cơ quan Thuế
quản lý trực tiếp hoặc cơ quan cấp trên trực tiếp.
2. Cá
nhân được miễn phần tiền phạt còn lại ghi trong quyết định xử phạt do không có
khả năng thi hành quyết định nếu thuộc một trong các trường hợp sau đây:
a) Đã
được giảm một phần tiền phạt theo quy định tại khoản 1 Điều này mà tiếp tục gặp
khó khăn về kinh tế do thiên tai, thảm họa, hỏa hoạn, dịch bệnh, mắc bệnh hiểm
nghèo, tai nạn và có xác nhận của Ủy ban nhân dân cấp xã nơi người đó cư trú
hoặc cơ quan, tổ chức nơi người đó học tập, làm việc;
b) Đã nộp
tiền phạt lần thứ nhất hoặc lần thứ hai trong trường hợp được nộp tiền phạt
nhiều lần theo quy định tại Điều 79 của Luật này nhưng gặp khó khăn đặc biệt
hoặc đột xuất về kinh tế do thiên tai, thảm họa, hỏa hoạn, dịch bệnh, mắc bệnh
hiểm nghèo, tai nạn và có xác nhận của Ủy ban nhân dân cấp xã nơi người đó cư
trú hoặc cơ quan, tổ chức nơi người đó học tập, làm việc; trường hợp gặp khó
khăn đột xuất về kinh tế do mắc bệnh hiểm nghèo, tai nạn phải có thêm xác nhận
của cơ sở khám bệnh, chữa bệnh cấp cơ bản[111] trở lên.
3. Tổ
chức được miễn phần tiền phạt còn lại ghi trong quyết định xử phạt khi đáp ứng
đủ điều kiện sau đây:
a) Đã
được giảm một phần tiền phạt theo quy định tại khoản 1 Điều này hoặc đã nộp
tiền phạt lần thứ nhất hoặc lần thứ hai trong trường hợp được nộp tiền phạt
nhiều lần theo quy định tại Điều 79 của Luật này;
b) Đã thi
hành xong hình thức xử phạt bổ sung, biện pháp khắc phục hậu quả được ghi trong
quyết định xử phạt;
c) Tiếp
tục gặp khó khăn đặc biệt hoặc đột xuất về kinh tế do thiên tai, thảm họa, hỏa
hoạn, dịch bệnh và có xác nhận của Ủy ban nhân dân cấp xã, Ban quản lý khu công
nghiệp, khu chế xuất, khu công nghệ cao, khu kinh tế, cơ quan Thuế quản lý trực
tiếp hoặc cơ quan cấp trên trực tiếp.
4. Cá
nhân không có khả năng thi hành quyết định được miễn toàn bộ tiền phạt ghi
trong quyết định xử phạt nếu thuộc một trong các trường hợp sau đây:
a) Đã
được hoãn thi hành quyết định phạt tiền theo quy định tại Điều 76 của Luật này
mà tiếp tục gặp khó khăn về kinh tế do thiên tai, thảm họa, hỏa hoạn, dịch
bệnh, mắc bệnh hiểm nghèo, tai nạn và có xác nhận của Ủy ban nhân dân cấp xã
nơi người đó cư trú hoặc cơ quan, tổ chức nơi người đó học tập, làm việc;
b) Bị
phạt tiền từ 2.000.000 đồng trở lên, đang gặp khó khăn đặc biệt hoặc đột xuất
về kinh tế do thiên tai, thảm họa, hỏa hoạn, dịch bệnh, mắc bệnh hiểm nghèo,
tai nạn và có xác nhận của Ủy ban nhân dân cấp xã nơi người đó cư trú hoặc cơ
quan, tổ chức nơi người đó học tập, làm việc; trường hợp gặp khó khăn đột xuất
về kinh tế do mắc bệnh hiểm nghèo, tai nạn phải có thêm xác nhận của cơ sở khám
bệnh, chữa bệnh cấp cơ bản[112] trở lên.
5. Tổ
chức được miễn toàn bộ tiền phạt ghi trong quyết định xử phạt khi đáp ứng đủ
điều kiện sau đây:
a) Đã
được hoãn thi hành quyết định phạt tiền theo quy định tại Điều 76 của Luật này;
b) Đã thi
hành xong hình thức xử phạt bổ sung, biện pháp khắc phục hậu quả được ghi trong
quyết định xử phạt;
c) Tiếp
tục gặp khó khăn đặc biệt hoặc đột xuất về kinh tế do thiên tai, thảm họa, hỏa
hoạn, dịch bệnh và có xác nhận của Ủy ban nhân dân cấp xã, Ban quản lý khu công
nghiệp, khu chế xuất, khu công nghệ cao, khu kinh tế, cơ quan Thuế quản lý trực
tiếp hoặc cơ quan cấp trên trực tiếp.
6. Cá
nhân, tổ chức phải có đơn đề nghị giảm, miễn tiền phạt kèm theo xác nhận của cơ
quan, tổ chức có thẩm quyền theo quy định tại các khoản 1, 2, 3, 4 và 5 Điều
này gửi người đã ra quyết định xử phạt. Trong thời hạn 05 ngày làm việc, kể từ
ngày nhận được đơn, người đã ra quyết định xử phạt xem xét, quyết định việc
giảm, miễn và thông báo cho người có đơn đề nghị giảm, miễn biết; nếu không
đồng ý với việc giảm, miễn thì phải nêu rõ lý do.
7. Cá
nhân, tổ chức được giảm, miễn tiền phạt được nhận lại giấy tờ, tang vật, phương
tiện đang bị tạm giữ theo quy định tại khoản 6 Điều 125 của Luật này.
Điều
78. Thủ tục nộp tiền phạt
1.[113]
Trong thời hạn thi hành quyết định xử phạt theo quy định tại khoản 2 Điều 68
hoặc khoản 2 Điều 79 của Luật này, cá nhân, tổ chức bị xử phạt phải nộp tiền
phạt tại Kho bạc Nhà nước hoặc nộp vào tài khoản của Kho bạc Nhà nước được ghi
trong quyết định xử phạt, trừ trường hợp đã nộp tiền phạt theo quy định tại
khoản 2 Điều này. Nếu quá thời hạn nêu trên sẽ bị cưỡng chế thi hành quyết định
xử phạt và cứ mỗi ngày chậm nộp tiền phạt thì cá nhân, tổ chức vi phạm phải nộp
thêm 0,05% tính trên tổng số tiền phạt chưa nộp.
2. Tại
vùng sâu, vùng xa, biên giới, miền núi mà việc đi lại gặp khó khăn thì cá nhân,
tổ chức bị xử phạt có thể nộp tiền phạt cho người có thẩm quyền xử phạt. Người
có thẩm quyền xử phạt có trách nhiệm thu tiền phạt tại chỗ và nộp tại Kho bạc
Nhà nước hoặc nộp vào tài khoản của Kho bạc Nhà nước trong thời hạn không quá
07 ngày, kể từ ngày thu tiền phạt.
Trường
hợp xử phạt trên biển hoặc ngoài giờ hành chính, người có thẩm quyền xử phạt
được thu tiền phạt trực tiếp và phải nộp tại Kho bạc Nhà nước hoặc nộp vào tài
khoản của Kho bạc Nhà nước trong thời hạn 02 ngày làm việc, kể từ ngày vào đến
bờ hoặc ngày thu tiền phạt.
3. Cá
nhân, tổ chức vi phạm hành chính bị phạt tiền phải nộp tiền phạt một lần, trừ
trường hợp quy định tại Điều 79 của Luật này.
Mọi
trường hợp thu tiền phạt, người thu tiền phạt có trách nhiệm giao chứng từ thu
tiền phạt cho cá nhân, tổ chức nộp tiền phạt.
4. Chính
phủ quy định chi tiết Điều này.
Điều
79. Nộp tiền phạt nhiều lần
1.[114]
Việc nộp tiền phạt nhiều lần được áp dụng khi có đủ các điều kiện sau đây:
a) Bị
phạt tiền từ 15.000.000 đồng trở lên đối với cá nhân và từ 150.000.000 đồng trở
lên đối với tổ chức;
b) Đang
gặp khó khăn đặc biệt về kinh tế và có đơn đề nghị nộp tiền phạt nhiều lần. Đơn
đề nghị của cá nhân phải được Ủy ban nhân dân cấp xã nơi người đó cư trú hoặc
cơ quan, tổ chức nơi người đó học tập, làm việc xác nhận hoàn cảnh khó khăn đặc
biệt về kinh tế. Đơn đề nghị của tổ chức phải được Ủy ban nhân dân cấp xã, Ban
quản lý khu công nghiệp, khu chế xuất, khu công nghệ cao, khu kinh tế, cơ quan
Thuế quản lý trực tiếp hoặc cơ quan cấp trên trực tiếp xác nhận hoàn cảnh khó
khăn đặc biệt về kinh tế.
2. Thời
hạn nộp tiền phạt nhiều lần không quá 06 tháng, kể từ ngày quyết định xử phạt
có hiệu lực; số lần nộp tiền phạt tối đa không quá 03 lần.
Mức nộp
phạt lần thứ nhất tối thiểu là 40% tổng số tiền phạt.
3. Người
đã ra quyết định phạt tiền có quyền quyết định việc nộp tiền phạt nhiều lần.
Quyết định về việc nộp tiền phạt nhiều lần phải bằng văn bản.
Điều
80. Thủ tục tước quyền sử dụng giấy phép, chứng chỉ hành nghề có thời hạn hoặc
đình chỉ hoạt động có thời hạn
1. Trường
hợp tước quyền sử dụng giấy phép, chứng chỉ hành nghề có thời hạn được ghi
trong quyết định xử phạt, người có thẩm quyền xử phạt thu giữ, bảo quản giấy
phép, chứng chỉ hành nghề và thông báo ngay cho cơ quan đã cấp giấy phép, chứng
chỉ hành nghề đó biết. Khi hết thời hạn tước quyền sử dụng giấy phép, chứng chỉ
hành nghề ghi trong quyết định xử phạt, người có thẩm quyền xử phạt giao lại
giấy phép, chứng chỉ hành nghề cho cá nhân, tổ chức đã bị tước giấy phép, chứng
chỉ hành nghề đó.
2. Trường
hợp đình chỉ hoạt động có thời hạn, cá nhân, tổ chức vi phạm phải đình chỉ ngay
một phần hoặc toàn bộ hoạt động sản xuất, kinh doanh, dịch vụ hoặc các hoạt
động khác được ghi trong quyết định xử phạt.
3. Trong
thời gian bị tước quyền sử dụng giấy phép, chứng chỉ hành nghề hoặc đình chỉ
hoạt động có thời hạn, cơ sở sản xuất, kinh doanh, dịch vụ không được tiến hành
các hoạt động ghi trong quyết định xử phạt.
4. Đối
với các trường hợp quy định tại khoản 1 và khoản 2 Điều này, nếu cơ sở sản
xuất, kinh doanh, dịch vụ có khả năng thực tế gây hậu quả tới tính mạng, sức
khỏe con người, môi trường thì người có thẩm quyền phải thông báo bằng văn bản
việc tước giấy phép, chứng chỉ hành nghề có thời hạn hoặc đình chỉ hoạt động có
thời hạn cho các cơ quan có liên quan.
5.[115]
Trường hợp phát hiện giấy phép, chứng chỉ hành nghề được cấp không đúng thẩm
quyền hoặc có nội dung trái pháp luật thì người có thẩm quyền xử phạt phải tạm
giữ và ra quyết định thu hồi ngay theo thẩm quyền; trường hợp không thuộc thẩm
quyền thu hồi thì tạm giữ và trong thời hạn 02 ngày làm việc, kể từ ngày phát
hiện, phải chuyển giấy phép, chứng chỉ hành nghề đó cho cơ quan, người có thẩm
quyền đã cấp để xử lý theo quy định của pháp luật và thông báo cho cá nhân, tổ
chức vi phạm biết.
Điều
81. Thủ tục tịch thu tang vật, phương tiện vi phạm hành chính
1. Khi
tịch thu tang vật, phương tiện vi phạm hành chính theo quy định tại Điều 26 của
Luật này, người có thẩm quyền xử phạt phải lập biên bản. Trong biên bản phải
ghi rõ tên, số lượng, chủng loại, số đăng ký (nếu có), tình trạng, chất lượng
của vật, tiền, hàng hóa, phương tiện vi phạm hành chính bị tịch thu và phải có
chữ ký của người tiến hành tịch thu, người bị xử phạt hoặc đại diện tổ chức bị
xử phạt và người chứng kiến; trường hợp người bị xử phạt hoặc đại diện tổ chức
bị xử phạt vắng mặt thì phải có hai người chứng kiến. Đối với tang vật, phương
tiện vi phạm hành chính cần được niêm phong thì phải niêm phong ngay trước mặt
người bị xử phạt, đại diện tổ chức bị xử phạt hoặc người chứng kiến. Việc niêm
phong phải được ghi nhận vào biên bản.
Đối với
tang vật, phương tiện vi phạm hành chính đang bị tạm giữ, người có thẩm quyền
xử phạt thấy tình trạng tang vật, phương tiện có thay đổi so với thời điểm ra
quyết định tạm giữ thì phải lập biên bản về những thay đổi này; biên bản phải
có chữ ký của người lập biên bản, người có trách nhiệm tạm giữ và người chứng
kiến.
2. Tang
vật, phương tiện vi phạm hành chính bị tịch thu phải được quản lý và bảo quản
theo quy định của Chính phủ.
3.[116]
Tang vật, phương tiện vi phạm hành chính đã có quyết định tịch thu được xử lý
theo quy định của pháp luật về quản lý, sử dụng tài sản công.
Điều
82.[117] (được bãi bỏ)
Điều
83. Quản lý tiền thu từ xử phạt vi phạm hành chính, chứng từ thu, nộp tiền phạt
1. Tiền
thu từ xử phạt vi phạm hành chính gồm tiền nộp phạt vi phạm hành chính; tiền
nộp do chậm thi hành quyết định xử phạt tiền; tiền bán, thanh lý tang vật,
phương tiện vi phạm hành chính bị tịch thu và các khoản tiền khác.
2. Tiền
thu từ xử phạt vi phạm hành chính phải nộp toàn bộ vào ngân sách nhà nước và
được quản lý, sử dụng theo đúng quy định của pháp luật về ngân sách nhà nước.
Chứng từ
thu, nộp tiền phạt được quản lý theo quy định của Chính phủ.
Điều
84. Thủ tục trục xuất
1. Quyết
định trục xuất phải được thông báo trước khi thi hành cho Bộ Ngoại giao, cơ
quan đại diện ngoại giao, cơ quan lãnh sự của nước mà người bị trục xuất là
công dân hoặc nước mà người đó cư trú trước khi đến Việt Nam.
2. Cơ
quan Công an có thẩm quyền có trách nhiệm tổ chức thi hành quyết định trục
xuất, áp dụng biện pháp ngăn chặn và bảo đảm xử lý vi phạm hành chính quy định
tại Chương I Phần thứ tư của Luật này.
Điều
85. Thi hành biện pháp khắc phục hậu quả
1. Thời
hạn thi hành biện pháp khắc phục hậu quả được thực hiện theo quyết định xử phạt
vi phạm hành chính hoặc trong quyết định áp dụng biện pháp khắc phục hậu quả
theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 28 của Luật này.
2. Cá
nhân, tổ chức vi phạm hành chính có trách nhiệm thực hiện biện pháp khắc phục
hậu quả được ghi trong quyết định theo quy định của pháp luật và phải chịu mọi
chi phí cho việc thực hiện biện pháp khắc phục hậu quả đó.
3. Người
có thẩm quyền ra quyết định có trách nhiệm theo dõi, đôn đốc và kiểm tra việc
thi hành biện pháp khắc phục hậu quả do cá nhân, tổ chức thực hiện.
4. Trường
hợp không xác định được đối tượng vi phạm hành chính theo quy định tại khoản 2
Điều 65 của Luật này hoặc cá nhân chết, mất tích hoặc tổ chức bị giải thể, phá
sản mà không có tổ chức nào tiếp nhận chuyển giao quyền và nghĩa vụ theo quy
định tại Điều 75 của Luật này thì cơ quan nơi người có thẩm quyền xử phạt đang
thụ lý hồ sơ vụ vi phạm hành chính phải tổ chức thực hiện các biện pháp khắc
phục hậu quả quy định tại khoản 1 Điều 28 của Luật này.
Chi phí
cho việc tổ chức thi hành biện pháp khắc phục hậu quả do cơ quan của người có
thẩm quyền xử phạt ra quyết định thực hiện được lấy từ nguồn ngân sách dự phòng
cấp cho cơ quan đó.
5. Trong
trường hợp khẩn cấp, cần khắc phục ngay hậu quả để kịp thời bảo vệ môi trường,
bảo đảm giao thông thì cơ quan nơi người có thẩm quyền xử phạt đang thụ lý hồ
sơ vụ vi phạm hành chính tổ chức thi hành biện pháp khắc phục hậu quả. Cá nhân,
tổ chức vi phạm hành chính phải hoàn trả kinh phí cho cơ quan đã thực hiện biện
pháp khắc phục hậu quả, nếu không hoàn trả thì bị cưỡng chế thực hiện.
Mục 3.
CƯỠNG CHẾ THI HÀNH QUYẾT ĐỊNH XỬ PHẠT VI PHẠM HÀNH CHÍNH
Điều
86. Cưỡng chế thi hành quyết định xử phạt vi phạm hành chính
1.[118]
Cưỡng chế thi hành quyết định xử phạt được áp dụng trong các trường hợp sau
đây:
a) Cá
nhân, tổ chức bị xử phạt vi phạm hành chính không tự nguyện chấp hành quyết
định xử phạt theo quy định tại Điều 73 của Luật này;
b) Cá
nhân, tổ chức vi phạm hành chính không tự nguyện hoàn trả kinh phí cho cơ quan
đã thực hiện biện pháp khắc phục hậu quả theo quy định tại khoản 5 Điều 85 của
Luật này.
2. Các
biện pháp cưỡng chế bao gồm:
a) Khấu
trừ một phần lương hoặc một phần thu nhập, khấu trừ tiền từ tài khoản của cá
nhân, tổ chức vi phạm;
b) Kê
biên tài sản có giá trị tương ứng với số tiền phạt để bán đấu giá;
c) Thu
tiền, tài sản khác của đối tượng bị cưỡng chế thi hành quyết định xử phạt vi
phạm hành chính do cá nhân, tổ chức khác đang giữ trong trường hợp cá nhân, tổ
chức sau khi vi phạm cố tình tẩu tán tài sản.
d) Buộc
thực hiện biện pháp khắc phục hậu quả quy định tại khoản 1 Điều 28 của Luật
này.
3. Chính
phủ quy định cụ thể về cưỡng chế thi hành quyết định xử phạt vi phạm hành
chính.
Điều
87. Thẩm quyền quyết định cưỡng chế[119]
1. Những
người sau đây có thẩm quyền ra quyết định cưỡng chế:
a) Người
có thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính là cấp trưởng hoặc người đứng đầu cơ
quan, đơn vị được quy định tại các điểm a, b, c, đ, e, h, i, k, l, m và n khoản
1 Điều 37a của Luật này và Kiểm toán trưởng Kiểm toán nhà nước có thẩm quyền
cưỡng chế đối với quyết định xử phạt vi phạm hành chính của mình hoặc của cấp
dưới ban hành.
Thẩm
quyền cưỡng chế đối với quyết định xử phạt vi phạm hành chính của Trưởng đoàn
kiểm toán được thực hiện theo quy định của Ủy ban Thường vụ Quốc hội;
b) Người
có thẩm quyền thuộc cơ quan tiếp nhận quyết định xử phạt để tổ chức thi hành ra
quyết định cưỡng chế hoặc báo cáo cấp trên của mình ra quyết định cưỡng chế thi
hành quyết định xử phạt vi phạm hành chính.
2. Người
có thẩm quyền cưỡng chế quy định tại khoản 1 Điều này có thể giao quyền cho cấp
phó. Việc giao quyền được thể hiện bằng quyết định, trong đó xác định rõ phạm
vi, nội dung, thời hạn giao quyền. Cấp phó được giao quyền phải chịu trách
nhiệm trước cấp trưởng và trước pháp luật về việc thực hiện quyền được giao.
Người được giao quyền không được giao quyền cho người khác.
Điều
88. Thi hành quyết định cưỡng chế
1.[120]
Trong thời hạn 02 ngày làm việc, kể từ ngày ra quyết định cưỡng chế thi hành
quyết định xử phạt vi phạm hành chính, người ra quyết định phải gửi quyết định
cho cá nhân, tổ chức bị cưỡng chế, cơ quan, tổ chức thực hiện việc cưỡng chế và
cá nhân, tổ chức có liên quan.
Người ra
quyết định cưỡng chế tổ chức thực hiện việc cưỡng chế thi hành quyết định xử
phạt của mình và của cấp dưới.
Việc gửi
quyết định cưỡng chế cho các cá nhân, tổ chức liên quan được thực hiện theo quy
định tại Điều 70 của Luật này.
Quyết
định cưỡng chế phải được thi hành ngay khi cá nhân, tổ chức bị cưỡng chế nhận
được quyết định cưỡng chế.
2. Cá
nhân, tổ chức nhận được quyết định cưỡng chế phải nghiêm chỉnh chấp hành quyết
định cưỡng chế và phải chịu mọi chi phí về việc tổ chức thực hiện các biện pháp
cưỡng chế.
2a.[121]
Thời hiệu thi hành quyết định cưỡng chế được tính kể từ ngày ra quyết định
cưỡng chế cho đến thời điểm chấm dứt hiệu lực thi hành của quyết định xử phạt
vi phạm hành chính quy định tại khoản 1 Điều 74 của Luật này; quá thời hạn này
thì không thi hành quyết định cưỡng chế đó, trừ trường hợp quyết định xử phạt
có áp dụng hình thức xử phạt tịch thu tang vật, phương tiện vi phạm hành chính,
áp dụng biện pháp khắc phục hậu quả thì vẫn phải cưỡng chế tịch thu tang vật,
phương tiện, áp dụng biện pháp khắc phục hậu quả đó.
3. Trách
nhiệm của cơ quan, tổ chức trong việc phối hợp thi hành quyết định cưỡng chế:
a) Cá
nhân, tổ chức liên quan có nghĩa vụ phối hợp với người có thẩm quyền ra quyết
định cưỡng chế triển khai các biện pháp nhằm thực hiện các quyết định cưỡng
chế;
b) Lực
lượng Cảnh sát nhân dân có trách nhiệm bảo đảm trật tự, an toàn trong quá trình
thi hành quyết định cưỡng chế của Chủ tịch Ủy ban nhân dân cùng cấp hoặc quyết
định cưỡng chế của các cơ quan nhà nước khác khi được yêu cầu;
c)[122]
Tổ chức tín dụng, Kho bạc Nhà nước, chi nhánh ngân hàng nước ngoài nơi cá nhân,
tổ chức bị cưỡng chế thi hành mở tài khoản có trách nhiệm cung cấp thông tin về
điều kiện thi hành quyết định xử phạt vi phạm hành chính của cá nhân, tổ chức
bị cưỡng chế trong thời hạn 02 ngày làm việc, kể từ khi nhận được yêu cầu bằng
văn bản của người có thẩm quyền cưỡng chế; tiến hành phong tỏa số tiền trong
tài khoản tương đương với số tiền mà cá nhân, tổ chức bị cưỡng chế phải nộp
hoặc phong tỏa toàn bộ số tiền trong tài khoản trong trường hợp số dư trong tài
khoản tiền gửi ít hơn số tiền mà cá nhân, tổ chức bị cưỡng chế phải nộp; thực
hiện việc trích chuyển số tiền phải nộp theo yêu cầu của người có thẩm quyền ra
quyết định cưỡng chế. Trong thời hạn 05 ngày làm việc trước khi trích chuyển,
tổ chức tín dụng, Kho bạc Nhà nước, chi nhánh ngân hàng nước ngoài có trách
nhiệm thông báo cho cá nhân, tổ chức bị cưỡng chế biết việc trích chuyển; việc
trích chuyển không cần sự đồng ý của cá nhân, tổ chức bị cưỡng chế.
Chính phủ
quy định chi tiết điểm này.
Phần thứ ba
ÁP DỤNG CÁC BIỆN PHÁP
XỬ LÝ HÀNH CHÍNH
Chương I
CÁC BIỆN PHÁP XỬ LÝ
HÀNH CHÍNH
Điều
89. Biện pháp giáo dục tại xã, phường, đặc khu[123]
1. Giáo
dục tại xã, phường, đặc khu[124] là biện pháp xử lý hành chính áp dụng đối
với các đối tượng quy định tại Điều 90 của Luật này để giáo dục, quản lý họ tại
nơi cư trú trong trường hợp nhận thấy không cần thiết phải cách ly họ khỏi cộng
đồng.
2. Thời
hạn áp dụng biện pháp giáo dục tại xã, phường, đặc khu[125] từ 03 tháng đến 06
tháng.
Điều
90. Đối tượng bị áp dụng biện pháp giáo dục tại xã, phường, đặc khu[126]
1. Người
từ đủ 12 tuổi đến dưới 14 tuổi thực hiện hành vi có dấu hiệu của một tội phạm
rất nghiêm trọng do cố ý quy định tại Bộ luật Hình sự.
2. Người
từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi thực hiện hành vi có dấu hiệu của một tội phạm
nghiêm trọng do cố ý quy định tại Bộ luật Hình sự.
3. Người
từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi đã 02 lần bị xử phạt vi phạm hành chính và bị
lập biên bản vi phạm hành chính tại lần vi phạm thứ ba trong thời hạn 06 tháng
về một trong các hành vi gây rối trật tự công cộng, trộm cắp tài sản, đánh bạc,
lừa đảo, đua xe trái phép.
4. Người
từ đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi đã 02 lần bị xử phạt vi phạm hành chính và bị
lập biên bản vi phạm hành chính tại lần vi phạm thứ ba trong thời hạn 06 tháng
về một trong các hành vi xúc phạm nhân phẩm, danh dự của người khác, gây thương
tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác, chiếm giữ trái phép tài sản,
hủy hoại hoặc cố ý làm hư hỏng tài sản của người khác, gây rối trật tự công
cộng, trộm cắp tài sản, đánh bạc, lừa đảo, đua xe trái phép nhưng không phải là
tội phạm.
5.[127]
(được bãi bỏ)
6. Người
từ đủ 18 tuổi trở lên đã 02 lần bị xử phạt vi phạm hành chính và bị lập biên
bản vi phạm hành chính tại lần vi phạm thứ ba trong thời hạn 06 tháng về một
trong các hành vi xúc phạm nhân phẩm, danh dự của người khác, gây thương tích
hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác, chiếm giữ trái phép tài sản, hủy
hoại hoặc cố ý làm hư hỏng tài sản của người khác, gây rối trật tự công cộng,
trộm cắp tài sản, đánh bạc, lừa đảo, đua xe trái phép, ngược đãi hoặc hành hạ
ông bà, cha mẹ, vợ chồng, con, cháu hoặc người có công nuôi dưỡng mình nhưng
không phải là tội phạm.
7.[128]
Người quy định tại các khoản 1, 2, 3 và 4 Điều này mà không có nơi cư trú ổn
định thì được giao cho cơ sở bảo trợ xã hội hoặc cơ sở trợ giúp trẻ em để quản
lý, giáo dục trong thời gian chấp hành biện pháp giáo dục tại xã, phường, đặc
khu.
Điều
91. Biện pháp đưa vào trường giáo dưỡng
1. Đưa
vào trường giáo dưỡng là biện pháp xử lý hành chính áp dụng đối với người có
hành vi vi phạm pháp luật quy định tại Điều 92 của Luật này nhằm mục đích giúp
họ học văn hóa, học nghề, lao động, sinh hoạt dưới sự quản lý, giáo dục của nhà
trường.
2. Thời
hạn áp dụng biện pháp đưa vào trường giáo dưỡng từ 06 tháng đến 24 tháng.
Điều
92. Đối tượng bị áp dụng biện pháp đưa vào trường giáo dưỡng[129]
1. Người
từ đủ 12 tuổi đến dưới 14 tuổi thực hiện hành vi có dấu hiệu của một tội phạm
đặc biệt nghiêm trọng quy định tại Bộ luật Hình sự.
2. Người
từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi thực hiện hành vi có dấu hiệu của một tội phạm
rất nghiêm trọng hoặc một tội phạm đặc biệt nghiêm trọng quy định tại Bộ luật
Hình sự, trừ những tội phạm quy định tại khoản 2 Điều 12 của Bộ luật Hình sự.
3. Người
từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi thực hiện một trong các hành vi quy định tại
khoản 2, khoản 3 Điều 90 của Luật này và trước đó đã bị áp dụng biện pháp giáo
dục tại xã, phường, đặc khu[130].
4. Người
từ đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi thực hiện một trong các hành vi quy định tại
khoản 4 Điều 90 của Luật này nhưng không phải là tội phạm và trước đó đã bị áp
dụng biện pháp giáo dục tại xã, phường, đặc khu[131].
5. Không
áp dụng biện pháp đưa vào trường giáo dưỡng đối với các trường hợp sau đây:
a) Người
không có năng lực trách nhiệm hành chính;
b) Người
đang mang thai có chứng nhận của cơ sở khám bệnh, chữa bệnh từ cấp cơ bản[132]
trở lên;
c) Phụ nữ
hoặc người duy nhất đang nuôi con nhỏ dưới 36 tháng tuổi được Ủy ban nhân dân
cấp xã nơi người đó cư trú xác nhận.
Điều
93. Biện pháp đưa vào cơ sở giáo dục bắt buộc
1. Đưa
vào cơ sở giáo dục bắt buộc là biện pháp xử lý hành chính áp dụng đối với người
có hành vi vi phạm pháp luật quy định tại Điều 94 của Luật này để lao động, học
văn hóa, học nghề, sinh hoạt dưới sự quản lý của cơ sở giáo dục bắt buộc.
2. Thời
hạn áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở giáo dục bắt buộc từ 06 tháng đến 24 tháng.
Điều
94. Đối tượng áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở giáo dục bắt buộc
1.[133]
Đối tượng bị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở giáo dục bắt buộc bao gồm:
a) Người
từ đủ 18 tuổi trở lên đã 02 lần bị xử phạt vi phạm hành chính và bị lập biên
bản vi phạm hành chính tại lần vi phạm thứ ba trong thời hạn 06 tháng về một
trong các hành vi quy định tại khoản 6 Điều 90 của Luật này nhưng không phải là
tội phạm và không có nơi cư trú ổn định;
b) Người
từ đủ 18 tuổi trở lên thực hiện một trong các hành vi quy định tại khoản 6 Điều
90 của Luật này nhưng không phải là tội phạm và trước đó đã bị áp dụng biện
pháp giáo dục tại xã, phường, đặc khu[134].
2. Không
áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở giáo dục bắt buộc đối với các trường hợp sau
đây:
a) Người
không có năng lực trách nhiệm hành chính;
b) Người
chưa đủ 18 tuổi;
c) Nữ
trên 55 tuổi, nam trên 60 tuổi;
d) Người
đang mang thai có chứng nhận của cơ sở khám bệnh, chữa bệnh từ cấp cơ bản[135]
trở lên[136];
đ) Phụ nữ
hoặc người duy nhất đang nuôi con nhỏ dưới 36 tháng tuổi được Ủy ban nhân dân
cấp xã nơi người đó cư trú xác nhận.
Điều
95. Biện pháp đưa đi cai nghiện bắt buộc[137]
Đưa đi
cai nghiện bắt buộc là biện pháp xử lý hành chính áp dụng đối với người có hành
vi vi phạm quy định tại Luật Phòng, chống ma túy để cai nghiện ma túy, lao
động, học văn hóa, học nghề dưới sự quản lý của cơ sở cai nghiện ma túy công
lập.
Điều
96.[138] (được bãi bỏ)
Chương II
THỦ TỤC LẬP HỒ SƠ ĐỀ
NGHỊ ÁP DỤNG CÁC BIỆN PHÁP XỬ LÝ HÀNH CHÍNH
Điều
97. Lập hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp giáo dục tại xã, phường, đặc khu[139]
1. Trưởng
Công an cấp xã nơi người vi phạm thuộc đối tượng quy định tại Điều 90 của Luật
này cư trú hoặc nơi họ có hành vi vi phạm pháp luật tự mình hoặc theo đề nghị
của Chủ tịch Ủy ban Mặt trận Tổ quốc cấp xã hoặc đại diện cơ quan, tổ chức, đơn
vị dân cư ở cơ sở lập hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp giáo dục tại xã, phường,
đặc khu[140].
2. Trong
trường hợp người vi phạm do cơ quan[141] Công an cấp tỉnh trực tiếp phát hiện, điều
tra, thụ lý trong các vụ vi phạm pháp luật, nhưng chưa đến mức truy cứu trách
nhiệm hình sự mà thuộc đối tượng quy định tại Điều 90 của Luật này thì cơ quan
Công an đang thụ lý vụ việc tiến hành xác minh, thu thập tài liệu và lập hồ sơ
đề nghị áp dụng biện pháp giáo dục tại xã, phường, đặc khu[142] đối với người đó.
3. Hồ sơ
đề nghị gồm có bản tóm tắt lý lịch, tài liệu về các hành vi vi phạm pháp luật
của người đó, bệnh án (nếu có), bản tường trình của người vi phạm và các tài
liệu khác có liên quan.
Đối với
người chưa thành niên bị xem xét áp dụng biện pháp giáo dục tại xã, phường, đặc
khu[143]
thì hồ sơ phải có nhận xét của nhà trường, cơ quan, tổ chức nơi người chưa
thành niên đang học tập, làm việc (nếu có), ý kiến của cha mẹ hoặc người giám
hộ.
4.[144]
Cơ quan lập hồ sơ đề nghị quy định tại khoản 1 và khoản 2 Điều này phải chịu
trách nhiệm về tính pháp lý của hồ sơ đề nghị. Sau khi hoàn thành việc lập hồ
sơ đề nghị, cơ quan lập hồ sơ phải thông báo bằng văn bản cho người bị đề nghị
áp dụng hoặc người đại diện hợp pháp của họ về việc lập hồ sơ; đối với người
chưa thành niên thì còn phải thông báo cho cha mẹ hoặc người giám hộ về việc
lập hồ sơ. Những người này có quyền đọc hồ sơ và ghi chép các nội dung cần
thiết trong thời hạn 03 ngày làm việc, kể từ ngày nhận được thông báo.
Điều
98. Quyết định áp dụng biện pháp giáo dục tại xã, phường, đặc khu[145]
1.[146]
Trong thời hạn 01 ngày làm việc, kể từ ngày hết thời hạn đọc hồ sơ theo quy
định tại khoản 4 Điều 97 của Luật này, cơ quan lập hồ sơ đề nghị quy định tại
khoản 1 và khoản 2 Điều 97 của Luật này gửi hồ sơ cho Chủ tịch Ủy ban nhân dân
cấp xã.
Trong
thời hạn 07 ngày làm việc, kể từ ngày nhận được hồ sơ, Chủ tịch Ủy ban nhân dân
cấp xã tổ chức và chủ trì cuộc họp tư vấn với sự tham gia của Trưởng Công an
cấp xã, công chức tư pháp - hộ tịch, đại diện Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam
và một số tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức xã hội cùng cấp có liên quan, đại
diện dân cư ở cơ sở. Người bị đề nghị áp dụng biện pháp giáo dục tại xã,
phường, đặc khu[147], người đại diện hợp pháp của họ, cha mẹ,
người giám hộ của người chưa thành niên phải được mời tham gia cuộc họp và phát
biểu ý kiến của mình về việc áp dụng biện pháp.
2. Trong
thời hạn 02 ngày làm việc[148], kể từ ngày kết thúc cuộc họp tư vấn quy
định tại khoản 1 Điều này, Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã xem xét, quyết định
áp dụng biện pháp giáo dục tại xã, phường, đặc khu[149]. Tùy từng đối tượng
mà Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã quyết định giao người được giáo dục cho cơ
quan, tổ chức, gia đình quản lý, giáo dục; nếu đối tượng không có nơi cư trú ổn
định thì giao cho cơ sở bảo trợ xã hội, cơ sở trợ giúp trẻ em để quản lý, giáo
dục.
3. Quyết
định áp dụng biện pháp giáo dục tại xã, phường, đặc khu[150] phải ghi rõ ngày,
tháng, năm ra quyết định; họ, tên, chức vụ của người ra quyết định; họ, tên,
ngày, tháng, năm sinh, nơi cư trú của người được giáo dục; hành vi vi phạm pháp
luật của người đó; điều, khoản của văn bản pháp luật được áp dụng; thời hạn áp
dụng; ngày thi hành quyết định; trách nhiệm của cơ quan, tổ chức, gia đình được
giao giáo dục, quản lý người được giáo dục; quyền khiếu nại, khởi kiện theo quy
định của pháp luật.
4. Quyết
định áp dụng biện pháp giáo dục tại xã, phường, đặc khu[151] có hiệu lực kể từ
ngày ký và phải được gửi ngay cho người được giáo dục, gia đình người đó, Hội
đồng nhân dân cấp xã và các cơ quan, tổ chức có liên quan.
5. Hồ sơ
về việc áp dụng biện pháp giáo dục tại xã, phường, đặc khu[152] phải được đánh bút
lục và được lưu trữ theo quy định của pháp luật về lưu trữ.
Điều
99. Lập hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp đưa vào trường giáo dưỡng[153]
1. Việc
lập hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp đưa vào trường giáo dưỡng đối với đối tượng
quy định tại Điều 92 của Luật này được thực hiện như sau:
a) Đối
với người dưới 18 tuổi vi phạm có nơi cư trú ổn định thì Trưởng Công an cấp xã
nơi người đó cư trú lập hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp đưa vào trường giáo
dưỡng.
Hồ sơ đề
nghị gồm có: bản tóm tắt lý lịch; tài liệu về các hành vi vi phạm pháp luật của
người vi phạm; biện pháp giáo dục đã áp dụng; bản tường trình của người vi
phạm, ý kiến của cha mẹ hoặc người đại diện hợp pháp khác của họ, ý kiến của
nhà trường, cơ quan, tổ chức nơi người dưới 18 tuổi đang học tập hoặc làm việc
(nếu có) và các tài liệu khác có liên quan;
b) Đối
với người dưới 18 tuổi vi phạm không có nơi cư trú ổn định thì Trưởng Công an
cấp xã nơi người đó có hành vi vi phạm pháp luật lập hồ sơ đề nghị áp dụng biện
pháp đưa vào trường giáo dưỡng.
Hồ sơ đề
nghị gồm có: biên bản vi phạm; bản tóm tắt lý lịch; tài liệu về các hành vi vi
phạm pháp luật của người đó; kết quả xác minh tiền án, tiền sự; biện pháp giáo
dục đã áp dụng (nếu có); bản tường trình của người vi phạm, ý kiến của cha mẹ
hoặc người đại diện hợp pháp khác của họ.
2. Trường
hợp hồ sơ do cơ quan, đơn vị thuộc Công an cấp tỉnh trực tiếp phát hiện, điều
tra, thụ lý vụ vi phạm pháp luật, nhưng người vi phạm dưới 18 tuổi chưa đến mức
truy cứu trách nhiệm hình sự, mà thuộc đối tượng đưa vào trường giáo dưỡng theo
quy định tại Điều 92 của Luật này thì cơ quan, đơn vị đang thụ lý vụ việc, vụ
án hoàn thiện hồ sơ vi phạm và chuyển hồ sơ cho Công an cấp xã có thẩm quyền để
lập hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp đưa vào trường giáo dưỡng đối với người đó.
Trường
hợp hồ sơ vi phạm do cơ quan, đơn vị thuộc Công an cấp tỉnh chuyển chưa đầy đủ
thì Trưởng Công an cấp xã chuyển lại hồ sơ cho cơ quan, đơn vị đó bổ sung; thời
hạn bổ sung là 02 ngày làm việc, kể từ ngày nhận lại hồ sơ. Trong thời hạn 02
ngày làm việc, kể từ ngày nhận đầy đủ hồ sơ, Trưởng Công an cấp xã hoàn thiện
hồ sơ đề nghị Tòa án nhân dân khu vực áp dụng biện pháp đưa vào trường giáo
dưỡng.
Hồ sơ đề
nghị gồm có: bản tóm tắt lý lịch; tài liệu về các hành vi vi phạm pháp luật của
người đó; biện pháp giáo dục đã áp dụng; bản tường trình của người vi phạm, ý
kiến của cha mẹ, người giám hộ hoặc người đại diện hợp pháp khác của họ.
3. Cơ
quan, đơn vị thuộc Công an cấp tỉnh và Công an cấp xã có thẩm quyền lập hồ sơ
đề nghị áp dụng biện pháp đưa vào trường giáo dưỡng phải chịu trách nhiệm về
tính pháp lý của tài liệu, hồ sơ đề nghị. Sau khi hoàn thành việc lập hồ sơ đề
nghị, Công an cấp xã lập hồ sơ phải thông báo bằng văn bản cho người bị đề nghị
áp dụng, cha mẹ hoặc người đại diện hợp pháp khác của họ về việc lập hồ sơ.
Những người này có quyền đọc hồ sơ và ghi chép các nội dung cần thiết trong
thời hạn 03 ngày làm việc, kể từ ngày nhận được thông báo.
Điều
100. Xem xét, quyết định việc chuyển hồ sơ đề nghị Tòa án nhân dân khu vực áp
dụng biện pháp đưa vào trường giáo dưỡng[154]
1. Trong
thời hạn 03 ngày làm việc, kể từ ngày hết thời hạn đọc hồ sơ quy định tại khoản
3 Điều 99 của Luật này, Trưởng Công an cấp xã quyết định việc chuyển hồ sơ đề
nghị Tòa án nhân dân khu vực để quyết định áp dụng biện pháp đưa vào trường
giáo dưỡng.
2. Hồ sơ
đề nghị Tòa án nhân dân khu vực xem xét, quyết định áp dụng biện pháp đưa vào
trường giáo dưỡng bao gồm:
a) Hồ sơ
đề nghị áp dụng biện pháp đưa vào trường giáo dưỡng quy định tại Điều 99 của
Luật này;
b) Văn
bản của Trưởng Công an cấp xã về việc đề nghị xem xét áp dụng biện pháp đưa vào
trường giáo dưỡng.
3. Hồ sơ
đề nghị áp dụng biện pháp đưa vào trường giáo dưỡng phải được đánh bút lục và
được lưu trữ theo quy định của pháp luật về lưu trữ.
Điều
101. Lập hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở giáo dục bắt buộc[155]
1. Việc
lập hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở giáo dục bắt buộc đối với đối
tượng quy định tại Điều 94 của Luật này được thực hiện như sau:
a) Đối
với người vi phạm có nơi cư trú ổn định thì Trưởng Công an cấp xã nơi người đó
cư trú lập hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở giáo dục bắt buộc.
Hồ sơ đề
nghị gồm có: bản tóm tắt lý lịch; tài liệu về các hành vi vi phạm pháp luật của
người đó; biện pháp giáo dục đã áp dụng; bản tường trình của người vi phạm hoặc
người đại diện hợp pháp của họ; các tài liệu khác có liên quan;
b) Đối
với người không cư trú tại nơi có hành vi vi phạm pháp luật thì Trưởng Công an
cấp xã phải xác minh; trường hợp xác định được nơi cư trú thì có trách nhiệm
chuyển người đó kèm theo biên bản vi phạm về địa phương để xử lý; trường hợp
không xác định được nơi cư trú thì Trưởng Công an cấp xã nơi người đó có hành
vi vi phạm pháp luật lập hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở giáo dục
bắt buộc.
Hồ sơ đề
nghị gồm có: biên bản vi phạm; bản tóm tắt lý lịch; tài liệu về các hành vi vi
phạm pháp luật của người đó; kết quả xác minh tiền án, tiền sự; biện pháp giáo
dục đã áp dụng (nếu có); bản tường trình của người vi phạm hoặc người đại diện
hợp pháp của họ.
2.[156]
(được bãi bỏ)
3. Trường
hợp người vi phạm do cơ quan, đơn vị thuộc Công an cấp tỉnh trực tiếp phát
hiện, điều tra, thụ lý trong các vụ vi phạm pháp luật, nhưng chưa đến mức truy
cứu trách nhiệm hình sự mà thuộc đối tượng đưa vào cơ sở giáo dục bắt buộc theo
quy định tại Điều 94 của Luật này thì cơ quan, đơn vị đang thụ lý vụ việc, vụ
án hoàn thiện hồ sơ vi phạm và chuyển hồ sơ cho Công an cấp xã có thẩm quyền
lập hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở giáo dục bắt buộc đối với
người đó. Trường hợp hồ sơ vi phạm do cơ quan, đơn vị thuộc Công an cấp tỉnh
chuyển chưa đầy đủ thì Công an cấp xã chuyển lại hồ sơ cho cơ quan, đơn vị đó
bổ sung; thời hạn bổ sung là 02 ngày làm việc, kể từ ngày nhận lại hồ sơ. Trong
thời hạn 02 ngày làm việc, kể từ ngày nhận đầy đủ hồ sơ, Công an cấp xã hoàn
thiện hồ sơ đề nghị Tòa án nhân dân khu vực áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở
giáo dục bắt buộc.
Hồ sơ đề
nghị gồm có: bản tóm tắt lý lịch; tài liệu về các hành vi vi phạm pháp luật của
người đó; biện pháp giáo dục đã áp dụng; bản tường trình của người vi phạm hoặc
người đại diện hợp pháp của họ.
4. Cơ
quan, đơn vị[157] thuộc Công an cấp tỉnh quy định tại khoản 3 Điều này và
Công an cấp xã lập hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở giáo dục bắt
buộc phải chịu trách nhiệm về tính pháp lý của tài liệu, hồ sơ đề nghị. Sau khi
hoàn thành việc lập hồ sơ đề nghị, Công an cấp xã lập hồ sơ phải thông báo bằng
văn bản cho người bị đề nghị áp dụng hoặc người đại diện hợp pháp của họ về
việc lập hồ sơ. Những người này có quyền đọc hồ sơ và ghi chép các nội dung cần
thiết trong thời hạn 03 ngày làm việc, kể từ ngày nhận được thông báo.
Điều
102. Xem xét, quyết định việc chuyển hồ sơ đề nghị Tòa án nhân dân khu vực áp
dụng biện pháp đưa vào cơ sở giáo dục bắt buộc[158]
1. Trong
thời hạn 03 ngày làm việc, kể từ ngày hết thời hạn đọc hồ sơ quy định tại khoản
4 Điều 101 của Luật này, Trưởng Công an cấp xã quyết định việc chuyển hồ sơ đề
nghị Tòa án nhân dân khu vực áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở giáo dục bắt buộc.
2. Hồ sơ
đề nghị Tòa án nhân dân khu vực xem xét, quyết định áp dụng biện pháp đưa vào
cơ sở giáo dục bắt buộc gồm có:
a) Hồ sơ
đề nghị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở giáo dục bắt buộc quy định tại Điều 101[159]
của Luật này;
b) Văn
bản của Trưởng Công an cấp xã về việc đề nghị xem xét áp dụng biện pháp đưa vào
cơ sở giáo dục bắt buộc.
3. Hồ sơ
đề nghị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở giáo dục bắt buộc phải được đánh bút
lục và được lưu trữ theo quy định của pháp luật về lưu trữ.
Điều
103.[160] (được bãi bỏ)
Điều
104.[161] (được bãi bỏ)
Chương III
THẨM QUYỀN, THỦ TỤC XEM
XÉT, QUYẾT ĐỊNH ÁP DỤNG BIỆN PHÁP XỬ LÝ HÀNH CHÍNH
Điều
105. Thẩm quyền quyết định áp dụng các biện pháp xử lý hành chính
1. Chủ
tịch Ủy ban nhân dân cấp xã có thẩm quyền quyết định áp dụng biện pháp giáo dục
tại xã, phường, đặc khu[162].
2. Tòa án
nhân dân khu vực[163] có thẩm quyền quyết định áp dụng các biện
pháp đưa vào trường giáo dưỡng, đưa vào cơ sở giáo dục bắt buộc[164].
Điều
106. Trình tự, thủ tục xem xét, quyết định áp dụng các biện pháp xử lý hành
chính
Ủy ban
thường vụ Quốc hội quy định trình tự, thủ tục Tòa án nhân dân xem xét, quyết
định việc áp dụng các biện pháp đưa vào trường giáo dưỡng, đưa vào cơ sở giáo
dục bắt buộc[165].
Chương IV
THI HÀNH QUYẾT ĐỊNH ÁP
DỤNG BIỆN PHÁP XỬ LÝ HÀNH CHÍNH
Điều
107. Gửi quyết định áp dụng biện pháp đưa vào trường giáo dưỡng, đưa vào cơ sở
giáo dục bắt buộc để thi hành[166]
Trong
thời hạn 03 ngày, kể từ ngày quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính có
hiệu lực, Tòa án nhân dân đã ra quyết định phải gửi quyết định cho người bị áp
dụng, cơ quan đã gửi hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp xử lý hành chính[167],
Ủy ban nhân dân cấp xã nơi người đó cư trú và các cơ quan hữu quan để thi hành
theo quy định của pháp luật; quyết định áp dụng biện pháp đưa vào trường giáo
dưỡng còn được gửi cho cha mẹ hoặc người đại diện hợp pháp của họ.
Điều
108. Thời hiệu thi hành quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính
1. Quyết
định áp dụng biện pháp giáo dục tại xã, phường, đặc khu[168] và quyết định áp dụng
biện pháp đưa vào trường giáo dưỡng hết thời hiệu thi hành sau 06 tháng, kể từ
ngày quyết định có hiệu lực pháp luật.
2. Quyết
định áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở giáo dục bắt buộc[169] hết thời hiệu thi
hành sau 01 năm, kể từ ngày quyết định có hiệu lực pháp luật.
3. Trong
trường hợp người phải chấp hành quyết định cố tình trốn tránh việc thi hành,
thì thời hiệu quy định tại khoản 1 và khoản 2 Điều này được tính kể từ thời
điểm hành vi trốn tránh chấm dứt.
Điều
109. Thi hành quyết định áp dụng biện pháp giáo dục tại xã, phường, đặc khu[170]
1. Sau
khi nhận được quyết định áp dụng biện pháp giáo dục tại xã, phường, đặc khu[171],
cơ quan, tổ chức được giao giáo dục, quản lý có trách nhiệm:
a) Tổ
chức việc thực hiện biện pháp giáo dục tại xã, phường, đặc khu[172]
đối với người được giáo dục;
b) Phân
công người trực tiếp giúp đỡ người được giáo dục;
c) Ghi sổ
theo dõi và định kỳ báo cáo Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã về việc thực hiện
quyết định giáo dục tại xã, phường, đặc khu[173];
d) Giúp
đỡ, động viên người được giáo dục, đề xuất với Ủy ban nhân dân cấp xã tạo điều
kiện cho họ tìm kiếm việc làm.
2. Người
được phân công giúp đỡ phải có kế hoạch quản lý, giáo dục, giúp đỡ người được
giáo dục và được hưởng khoản kinh phí hỗ trợ cho việc quản lý, giáo dục, giúp
đỡ theo quy định của pháp luật.
3. Người
được giáo dục phải cam kết bằng văn bản về việc chấp hành quyết định giáo dục
tại xã, phường, đặc khu[174].
4. Gia
đình có người được giáo dục có trách nhiệm phối hợp chặt chẽ với người được
phân công giúp đỡ trong việc quản lý, giáo dục người được giáo dục.
Điều
110. Thi hành quyết định đưa vào trường giáo dưỡng, quyết định đưa vào cơ sở
giáo dục bắt buộc[175]
1.[176]
Trong thời hạn 05 ngày, kể từ ngày nhận được quyết định đưa vào trường giáo
dưỡng, quyết định đưa vào cơ sở giáo dục bắt buộc[177], cơ quan Công an lập
đề nghị đưa người phải chấp hành quyết định vào trường giáo dưỡng, cơ sở giáo
dục bắt buộc[178].
2. Thời
hạn chấp hành quyết định được tính từ ngày người phải chấp hành quyết định bị
tạm giữ để đưa đi trường giáo dưỡng, cơ sở giáo dục bắt buộc[179].
3. Chính
phủ quy định chi tiết việc thi hành quyết định đưa vào trường giáo dưỡng, quyết
định đưa vào cơ sở giáo dục bắt buộc[180].
Điều
111. Hoãn hoặc miễn chấp hành quyết định đưa vào trường giáo dưỡng, cơ sở giáo
dục bắt buộc[181]
1. Người
phải chấp hành quyết định nhưng chưa đưa vào trường giáo dưỡng, cơ sở giáo dục
bắt buộc[182]
được hoãn chấp hành quyết định trong các trường hợp sau đây:
a) Đang
ốm nặng có chứng nhận của cơ sở khám bệnh, chữa bệnh từ cấp cơ bản[183]
trở lên[184];
b) Gia
đình đang có khó khăn đặc biệt được Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã nơi người
đó cư trú xác nhận.
Khi điều
kiện hoãn chấp hành quyết định không còn thì quyết định được tiếp tục thi hành.
2. Người
phải chấp hành quyết định nhưng chưa đưa vào trường giáo dưỡng, cơ sở giáo dục
bắt buộc[185]
được miễn chấp hành quyết định trong các trường hợp sau đây:
a) Mắc
bệnh hiểm nghèo có chứng nhận của cơ sở khám bệnh, chữa bệnh từ tuyến huyện trở
lên[186];
b) Trong
thời gian hoãn chấp hành quyết định quy định tại khoản 1 Điều này mà người đó
có tiến bộ rõ rệt trong việc chấp hành pháp luật hoặc lập công hoặc không còn
nghiện ma túy;
c) Đang
mang thai có chứng nhận của cơ sở khám bệnh, chữa bệnh từ tuyến huyện trở lên[187].
3. Tòa án
nhân dân[188]
nơi đã ra quyết định áp dụng biện pháp đưa vào trường giáo dưỡng, đưa vào cơ sở
giáo dục bắt buộc[189] xem xét, quyết định việc hoãn hoặc miễn
chấp hành trên cơ sở đơn đề nghị của người phải chấp hành quyết định hoặc người
đại diện hợp pháp của họ; trong trường hợp cần thiết thì đề nghị cơ quan đã gửi
hồ sơ đề nghị có ý kiến trước khi quyết định.
Quyết
định miễn hoặc hoãn chấp hành phải được gửi cho cơ quan thi hành quyết định,
người phải chấp hành quyết định; trường hợp người chưa thành niên được hoãn,
miễn chấp hành quyết định đưa vào trường giáo dưỡng thì quyết định được gửi cho
cha mẹ hoặc người đại diện hợp pháp của họ.
Điều
112. Giảm thời hạn, tạm đình chỉ hoặc miễn chấp hành phần thời gian còn lại tại
trường giáo dưỡng, cơ sở giáo dục bắt buộc[190]
1. Người
đang chấp hành quyết định tại trường giáo dưỡng, cơ sở giáo dục bắt buộc, cơ sở
cai nghiện bắt buộc đã chấp hành một nửa thời hạn, nếu có tiến bộ rõ rệt hoặc
lập công, thì được xét giảm một phần hoặc miễn chấp hành phần thời gian còn
lại.
2. Trong
trường hợp người đang chấp hành quyết định tại trường giáo dưỡng, cơ sở giáo
dục bắt buộc[191] bị ốm nặng mà được đưa về gia đình điều trị thì được tạm
đình chỉ chấp hành quyết định; thời gian điều trị được tính vào thời hạn chấp
hành quyết định; nếu sau khi sức khoẻ được phục hồi mà thời hạn chấp hành còn
lại từ 03 tháng trở lên thì người đó phải tiếp tục chấp hành; nếu trong thời
gian tạm đình chỉ mà người đó có tiến bộ rõ rệt hoặc lập công thì được miễn
chấp hành phần thời gian còn lại. Đối với người mắc bệnh hiểm nghèo, phụ nữ
mang thai thì được miễn chấp hành phần thời gian còn lại.
3. Tòa án
nhân dân khu vực[192] nơi có trường giáo dưỡng, cơ sở giáo dục
bắt buộc[193]
quyết định việc giảm thời hạn tạm đình chỉ hoặc miễn chấp hành quy định tại
khoản 1 và khoản 2 Điều này trên cơ sở đề nghị của Hiệu trưởng trường giáo
dưỡng, Giám đốc cơ sở giáo dục bắt buộc[194].
Quyết
định tạm đình chỉ hoặc miễn chấp hành quyết định áp dụng biện pháp đưa vào
trường giáo dưỡng, đưa vào cơ sở giáo dục bắt buộc[195] được gửi cho Tòa án
nhân dân nơi ra quyết định, cơ quan đã gửi hồ sơ đề nghị, Ủy ban nhân dân cấp
xã nơi người đó cư trú, trường giáo dưỡng, cơ sở giáo dục bắt buộc[196],
người được tạm đình chỉ hoặc miễn và gia đình người đó.
4. Đối
tượng ốm nặng, mắc bệnh hiểm nghèo mà không xác định được nơi cư trú thuộc
trường hợp được tạm đình chỉ chấp hành quyết định hoặc được miễn chấp hành phần
thời gian còn lại quy định tại khoản 2 Điều này thì được đưa về cơ sở y tế tại
địa phương nơi trường giáo dưỡng, cơ sở giáo dục bắt buộc[197] đóng trụ sở để điều
trị.
Điều
113. Quản lý người được hoãn hoặc được tạm đình chỉ chấp hành quyết định áp
dụng biện pháp đưa vào trường giáo dưỡng, đưa vào cơ sở giáo dục bắt buộc[198]
1. Người
được hoãn hoặc được tạm đình chỉ chấp hành quyết định đưa vào trường giáo
dưỡng, đưa vào cơ sở giáo dục bắt buộc[199] có trách nhiệm trình
diện với Ủy ban nhân dân cấp xã[200] nơi họ cư trú.
2.[201]
Trong thời gian được hoãn hoặc được tạm đình chỉ chấp hành quyết định đưa vào
trường giáo dưỡng, đưa vào cơ sở giáo dục bắt buộc mà người đó tiếp tục có hành
vi vi phạm đã bị xử lý hoặc có căn cứ cho rằng người đó bỏ trốn thì Tòa án nhân
dân khu vực đã ra quyết định hoãn hoặc tạm đình chỉ hủy bỏ quyết định đó và ra
quyết định buộc chấp hành quyết định đưa vào trường giáo dưỡng, quyết định đưa
vào cơ sở giáo dục bắt buộc.
3. Quyết
định buộc chấp hành quyết định đưa vào trường giáo dưỡng, đưa vào cơ sở giáo
dục bắt buộc[202] được gửi cho cơ quan Công an[203] nơi Tòa án đã ra
quyết định. Ngay sau khi nhận được quyết định, cơ quan Công an phải tổ chức áp
giải đối tượng.
Điều
114. Hết thời hạn chấp hành quyết định áp dụng các biện pháp xử lý hành chính
1. Khi
người vi phạm đã chấp hành xong quyết định giáo dục tại xã, phường, đặc khu[204]
thì Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã cấp giấy chứng nhận cho người đã chấp hành
xong và gửi bản sao cho gia đình người đó.
2. Khi
người vi phạm đã chấp hành xong quyết định đưa vào trường giáo dưỡng, đưa vào
cơ sở giáo dục bắt buộc[205] thì Hiệu trưởng trường giáo dưỡng, Giám đốc
cơ sở giáo dục bắt buộc[206] cấp giấy chứng nhận cho người đã chấp hành
xong và gửi bản sao cho gia đình người đó, Tòa án nhân dân[207] nơi đã ra quyết định,
cơ quan quản lý trường giáo dưỡng, cơ sở giáo dục bắt buộc[208], Ủy ban nhân dân cấp
xã nơi người đó cư trú.
3. Đối
tượng không xác định được nơi cư trú là người chưa thành niên hoặc người ốm yếu
không còn khả năng lao động thì sau khi hết hạn chấp hành biện pháp đưa vào
trường giáo dưỡng, cơ sở giáo dục bắt buộc[209] được đưa về cơ sở bảo
trợ xã hội tại địa phương nơi trường giáo dưỡng, cơ sở giáo dục bắt buộc[210]
đóng trụ sở.
Chương V
CÁC QUY ĐỊNH KHÁC LIÊN
QUAN ĐẾN VIỆC ÁP DỤNG CÁC BIỆN PHÁP XỬ LÝ HÀNH CHÍNH
Điều
115. Tạm thời đưa người đang chấp hành biện pháp đưa vào trường giáo dưỡng, đưa
vào cơ sở giáo dục bắt buộc, đưa đi cai nghiện bắt buộc[211] ra khỏi nơi chấp
hành biện pháp xử lý hành chính theo yêu cầu của cơ quan tiến hành tố tụng hình
sự
1. Theo
yêu cầu của cơ quan tiến hành tố tụng hình sự có thẩm quyền, Hiệu trưởng trường
giáo dưỡng, Giám đốc cơ sở giáo dục bắt buộc, Trưởng cơ sở cai nghiện ma túy
công lập[212]
quyết định tạm thời đưa người đang chấp hành biện pháp xử lý hành chính ra khỏi
nơi chấp hành biện pháp đó để tham gia tố tụng trong các vụ án có liên quan đến
người đó.
2. Thời
gian tạm thời đưa ra khỏi nơi chấp hành biện pháp xử lý hành chính được tính
vào thời hạn chấp hành biện pháp đó.
Điều
116. Chuyển hồ sơ của đối tượng bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính có dấu
hiệu tội phạm để truy cứu trách nhiệm hình sự
1. Khi
xem xét hồ sơ của đối tượng để quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính,
nếu xét thấy hành vi vi phạm của người đó có dấu hiệu tội phạm thì người có
thẩm quyền phải chuyển ngay hồ sơ cho cơ quan tiến hành tố tụng hình sự có thẩm
quyền.
2. Đối
với trường hợp đã ra quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính, nếu sau đó
phát hiện hành vi vi phạm của người bị áp dụng biện pháp này có dấu hiệu tội
phạm mà chưa hết thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự, thì Chủ tịch Ủy ban
nhân dân hoặc Tòa án nhân dân đã ra quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành
chính phải hủy quyết định đó và trong thời hạn 03 ngày, kể từ ngày hủy quyết
định phải chuyển hồ sơ của đối tượng cho cơ quan tiến hành tố tụng hình sự có
thẩm quyền.
Trường
hợp bị Tòa án xử phạt tù thì thời hạn đối tượng đã chấp hành biện pháp đưa vào
trường giáo dưỡng, đưa vào cơ sở giáo dục bắt buộc, đưa đi cai nghiện bắt buộc[213]
được tính vào thời hạn chấp hành hình phạt tù; 1,5 ngày chấp hành biện pháp đưa
vào trường giáo dưỡng, đưa vào cơ sở giáo dục bắt buộc, đưa đi cai nghiện bắt
buộc[214]
được tính bằng 01 ngày chấp hành hình phạt tù.
Điều
117. Truy cứu trách nhiệm hình sự đối với hành vi phạm tội được thực hiện trước
hoặc trong thời gian chấp hành biện pháp xử lý hành chính
Trường
hợp phát hiện người bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đã thực hiện hành vi
phạm tội trước hoặc trong thời gian chấp hành quyết định, thì theo yêu cầu của
cơ quan tiến hành tố tụng hình sự có thẩm quyền, Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp
xã nơi đang thi hành biện pháp giáo dục tại xã, phường, đặc khu[215]
hoặc Hiệu trưởng trường giáo dưỡng, Giám đốc cơ sở giáo dục bắt buộc[216]
phải ra quyết định tạm đình chỉ thi hành quyết định đối với người đó và chuyển
hồ sơ của đối tượng cho cơ quan tiến hành tố tụng hình sự; trường hợp bị Tòa án
xử phạt tù thì người đó được miễn chấp hành phần thời gian còn lại trong quyết
định áp dụng biện pháp xử lý hành chính; nếu hình phạt được áp dụng không phải
là hình phạt tù thì người đó có thể phải tiếp tục chấp hành quyết định áp dụng
biện pháp xử lý hành chính.
Điều
118.[217] (được bãi bỏ)
Phần thứ tư
CÁC BIỆN PHÁP NGĂN CHẶN
VÀ BẢO ĐẢM XỬ LÝ VI PHẠM HÀNH CHÍNH
Chương I
QUY ĐỊNH CHUNG VỀ CÁC
BIỆN PHÁP NGĂN CHẶN VÀ BẢO ĐẢM XỬ LÝ VI PHẠM HÀNH CHÍNH
Điều
119. Các biện pháp ngăn chặn và bảo đảm xử lý vi phạm hành chính
Trong
trường hợp cần ngăn chặn kịp thời vi phạm hành chính hoặc để bảo đảm việc xử lý
vi phạm hành chính, người có thẩm quyền có thể áp dụng các biện pháp sau đây
theo thủ tục hành chính:
1. Tạm
giữ người;
2. Áp
giải người vi phạm;
3. Tạm
giữ tang vật, phương tiện vi phạm hành chính, giấy phép, chứng chỉ hành nghề;
4. Khám
người;
5. Khám
phương tiện vận tải, đồ vật;
6. Khám
nơi cất giấu tang vật, phương tiện vi phạm hành chính;
7. Quản
lý người nước ngoài vi phạm pháp luật Việt Nam trong thời gian làm thủ tục trục
xuất;
8. Giao
cho gia đình, tổ chức quản lý người bị đề nghị áp dụng biện pháp xử lý hành
chính trong thời gian làm thủ tục áp dụng biện pháp xử lý hành chính;
9. Truy
tìm đối tượng phải chấp hành quyết định đưa vào trường giáo dưỡng, đưa vào cơ
sở giáo dục bắt buộc, đưa đi cai nghiện bắt buộc[218] trong trường hợp bỏ
trốn.
Điều
120. Nguyên tắc áp dụng biện pháp ngăn chặn và bảo đảm xử lý vi phạm hành chính
1. Khi áp
dụng biện pháp ngăn chặn và bảo đảm xử lý vi phạm hành chính, người có thẩm
quyền phải tuân thủ nghiêm ngặt quy định tại các điều từ 120 đến 132 của Luật
này, nếu vi phạm thì bị xử lý theo quy định của pháp luật.
2. Chỉ áp
dụng biện pháp ngăn chặn và bảo đảm xử lý vi phạm hành chính trong trường hợp
cần thiết theo quy định tại Chương II của Phần này.
3. Người
ra quyết định áp dụng biện pháp ngăn chặn và bảo đảm xử lý vi phạm hành chính
phải chịu trách nhiệm đối với quyết định của mình.
4. Việc
sử dụng vũ khí, công cụ hỗ trợ trong việc áp dụng biện pháp ngăn chặn và bảo
đảm xử lý vi phạm hành chính phải được thực hiện theo quy định của pháp luật.
Điều
121. Hủy bỏ hoặc thay thế biện pháp ngăn chặn và bảo đảm xử lý vi phạm hành
chính
1. Trường
hợp việc áp dụng biện pháp ngăn chặn và bảo đảm xử lý vi phạm hành chính không
còn phù hợp với mục đích và điều kiện áp dụng theo quy định của Luật này thì
quyết định áp dụng biện pháp đó phải được hủy bỏ.
2. Người
có thẩm quyền quyết định áp dụng biện pháp ngăn chặn và bảo đảm xử lý vi phạm
hành chính quyết định hủy bỏ biện pháp ngăn chặn khi thấy không còn cần thiết
hoặc thay thế bằng một biện pháp ngăn chặn khác.
Chương II
THẨM QUYỀN, THỦ TỤC ÁP
DỤNG CÁC BIỆN PHÁP NGĂN CHẶN VÀ BẢO ĐẢM XỬ LÝ VI PHẠM HÀNH CHÍNH
Điều
122. Tạm giữ người theo thủ tục hành chính
1.[219]
Việc tạm giữ người theo thủ tục hành chính chỉ được áp dụng trong các trường
hợp sau đây:
a) Cần
ngăn chặn, đình chỉ ngay hành vi gây rối trật tự công cộng, gây thương tích cho
người khác;
b) Cần
ngăn chặn, đình chỉ ngay hành vi buôn lậu, vận chuyển trái phép hàng hóa qua
biên giới;
c) Để thi
hành quyết định đưa vào trường giáo dưỡng, cơ sở giáo dục bắt buộc, đưa đi cai
nghiện bắt buộc[220];
d) Người
có hành vi bạo lực gia đình vi phạm quyết định cấm tiếp xúc theo quy định của
pháp luật về phòng, chống bạo lực gia đình;
đ) Để xác
định tình trạng nghiện ma túy đối với người sử dụng trái phép chất ma túy.
2. Mọi
trường hợp tạm giữ người đều phải có quyết định bằng văn bản và phải giao cho
người bị tạm giữ một bản.
3.[221]
Thời hạn tạm giữ người theo thủ tục hành chính không quá 12 giờ; trong trường
hợp cần thiết, thời hạn tạm giữ có thể kéo dài hơn nhưng không quá 24 giờ, kể
từ thời điểm bắt đầu giữ người vi phạm; trường hợp tạm giữ người vi phạm hành
chính ở khu vực biên giới hoặc vùng rừng núi xa xôi, hẻo lánh, hải đảo thì thời
hạn tạm giữ được tính từ thời điểm người vi phạm được áp giải đến nơi tạm giữ.
Đối với
trường hợp tạm giữ để xác định tình trạng nghiện ma túy theo quy định tại điểm
đ khoản 1 Điều này thì thời hạn tạm giữ có thể kéo dài hơn nhưng không quá 05
ngày, kể từ thời điểm bắt đầu giữ người vi phạm.
Đối với
người bị tạm giữ trên tàu bay, tàu biển thì phải chuyển ngay cho cơ quan có
thẩm quyền khi tàu bay đến sân bay, tàu biển cập cảng.
4. Theo
yêu cầu của người bị tạm giữ, người ra quyết định tạm giữ phải thông báo cho
gia đình, tổ chức nơi làm việc hoặc học tập của họ biết. Trong trường hợp tạm
giữ người chưa thành niên vi phạm hành chính vào ban đêm hoặc giữ trên 06 giờ,
thì người ra quyết định tạm giữ phải thông báo ngay cho cha mẹ hoặc người giám
hộ của họ biết.
5.[222]
Nơi tạm giữ người theo thủ tục hành chính là nhà tạm giữ hành chính hoặc buồng
tạm giữ hành chính được bố trí tại trụ sở cơ quan, đơn vị nơi làm việc của
người có thẩm quyền ra quyết định tạm giữ người vi phạm hành chính. Trường hợp
không có nhà tạm giữ hành chính hoặc buồng tạm giữ hành chính thì tạm giữ tại
phòng trực ban hoặc phòng khác tại nơi làm việc, nhưng phải bảo đảm các quy
định chung.
Cơ quan
có chức năng phòng, chống vi phạm pháp luật mà thường xuyên phải tạm giữ người
vi phạm hành chính cần bố trí, thiết kế, xây dựng nhà tạm giữ hành chính hoặc
buồng tạm giữ hành chính riêng, trong đó cần có nơi tạm giữ riêng cho người
chưa thành niên, phụ nữ hoặc người nước ngoài và phải có cán bộ chuyên trách
quản lý, bảo vệ.
Đối với
trường hợp tạm giữ người quy định tại điểm đ khoản 1 Điều này thì nơi tạm giữ
là khu lưu giữ tạm thời tại cơ sở cai nghiện ma túy công lập[223] của tỉnh, thành phố[224]
hoặc nhà tạm giữ, buồng tạm giữ hành chính.
Đối với
tàu bay, tàu biển, tàu hỏa đã rời sân bay, bến cảng, nhà ga thì tùy theo điều
kiện và đối tượng vi phạm cụ thể, người chỉ huy tàu bay, thuyền trưởng, trưởng
tàu quyết định nơi tạm giữ và phân công người thực hiện việc tạm giữ.
6. Nghiêm
cấm việc giữ người vi phạm hành chính trong các phòng tạm giữ, phòng tạm giam
hình sự hoặc những nơi không bảo đảm vệ sinh, an toàn cho người bị tạm giữ.
7. Chính
phủ quy định việc tạm giữ người theo thủ tục hành chính.
Điều
123. Thẩm quyền tạm giữ người theo thủ tục hành chính[225]
1.[226]
Trong trường hợp quy định tại khoản 1 Điều 122 của Luật này, thì những người có
thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính sau đây có quyền quyết định tạm giữ người
theo thủ tục hành chính:
a) Chủ
tịch Ủy ban nhân dân các cấp;
b) Trưởng
Công an cấp xã; Trưởng phòng nghiệp vụ thuộc Cục nghiệp vụ thuộc Bộ Công an;
Trưởng phòng nghiệp vụ thuộc Công an cấp tỉnh hoặc chức danh tương đương thuộc
lực lượng Công an nhân dân;
c) Đồn
trưởng, Chỉ huy trưởng Ban Chỉ huy Biên phòng cửa khẩu cảng, Hải đội trưởng,
Hải đoàn trưởng, Đoàn trưởng Đoàn Đặc nhiệm Phòng, chống ma túy và tội phạm,
Chỉ huy trưởng Ban chỉ huy Bộ đội Biên phòng;
d) Hải
đội trưởng, Hải đoàn trưởng, Tư lệnh Vùng, Đoàn trưởng thuộc lực lượng Cảnh sát
biển;
đ) Hạt
trưởng, Đội trưởng, Chi cục trưởng, Trạm trưởng thuộc cơ quan, đơn vị quản lý
về lâm nghiệp, kiểm lâm, thủy sản, kiểm ngư;
e) Đội
trưởng Hải quan cửa khẩu; Đội trưởng Hải quan ngoài cửa khẩu; Đội trưởng Đội
kiểm soát hải quan thuộc Chi cục Hải quan khu vực; Đội trưởng Đội Kiểm soát
chống buôn lậu thuộc Chi cục Điều tra chống buôn lậu;
g) Đội
trưởng Đội quản lý thị trường thuộc Chi cục Quản lý thị trường thuộc Sở Công
Thương; Trưởng phòng nghiệp vụ quản lý thị trường thuộc Cục Quản lý và Phát
triển thị trường trong nước;
h) Thẩm
phán chủ tọa phiên tòa.
2. Người
có thẩm quyền tạm giữ người quy định tại các điểm từ a đến i khoản 1 Điều này
có thể giao quyền cho cấp phó thực hiện thẩm quyền tạm giữ người theo thủ tục
hành chính khi vắng mặt. Việc giao quyền phải được thể hiện bằng quyết định,
trong đó xác định rõ phạm vi, nội dung, thời hạn giao quyền. Cấp phó được giao
quyền phải chịu trách nhiệm trước cấp trưởng và trước pháp luật về việc thực
hiện quyền được giao. Người được giao quyền không được giao quyền cho người
khác.
Điều
124. Áp giải người vi phạm
1. Người
vi phạm không tự nguyện chấp hành yêu cầu của người có thẩm quyền thì bị áp
giải trong các trường hợp sau đây:
a) Bị tạm
giữ người theo thủ tục hành chính;
b)[227]
Đưa vào hoặc đưa trở lại trường giáo dưỡng, cơ sở giáo dục bắt buộc[228]
đối với đối tượng quy định tại khoản 1 Điều 111, khoản 2 Điều 112 không tự giác
chấp hành khi điều kiện hoãn, tạm đình chỉ không còn và đối tượng quy định tại
khoản 2 Điều 132 của Luật này;
c)[229]
Bị yêu cầu xét nghiệm chất ma túy trong cơ thể.
2. Người
có thẩm quyền đang thi hành công vụ thực hiện việc áp giải người vi phạm.
3. Chính
phủ quy định chi tiết việc áp giải người vi phạm.
Điều
125. Tạm giữ tang vật, phương tiện, giấy phép, chứng chỉ hành nghề theo thủ tục
hành chính
1. Việc
tạm giữ tang vật, phương tiện, giấy phép, chứng chỉ hành nghề theo thủ tục hành
chính chỉ được áp dụng trong trường hợp thật cần thiết sau đây:
a)[230]
Để xác định vi phạm hành chính hoặc để làm rõ các tình tiết trong vụ việc vi
phạm mà nếu không tạm giữ thì không có căn cứ lập biên bản vi phạm hành chính
hoặc ra quyết định xử phạt, bao gồm cả trường hợp tạm giữ để định giá tang vật
vi phạm hành chính làm căn cứ xác định khung tiền phạt, thẩm quyền xử phạt theo
quy định tại Điều 60 của Luật này;
b) Để
ngăn chặn ngay hành vi vi phạm hành chính mà nếu không tạm giữ thì sẽ gây hậu
quả nghiêm trọng cho xã hội;
c)[231]
Để bảo đảm thi hành quyết định xử phạt theo quy định tại khoản 6 và khoản 7
Điều này.
2. Việc
tạm giữ tang vật, phương tiện quy định tại khoản 1 Điều này phải được chấm dứt
ngay sau khi xác minh được tình tiết làm căn cứ quyết định xử phạt, hành vi vi
phạm không còn gây nguy hiểm cho xã hội hoặc quyết định xử phạt được thi hành.
Trường
hợp được nộp tiền phạt nhiều lần theo quy định tại Điều 79 của Luật này, sau
khi nộp tiền phạt lần đầu thì người vi phạm được nhận lại tang vật, phương tiện
bị tạm giữ.
3.[232]
Người có thẩm quyền áp dụng hình thức xử phạt tịch thu tang vật, phương tiện vi
phạm hành chính quy định tại Chương II Phần thứ hai của Luật này thì có thẩm
quyền ra quyết định tạm giữ tang vật, phương tiện vi phạm hành chính, giấy
phép, chứng chỉ hành nghề. Thẩm quyền tạm giữ không phụ thuộc vào giá trị của
tang vật, phương tiện vi phạm hành chính.
4.[233]
Việc tạm giữ tang vật, phương tiện vi phạm hành chính, giấy phép, chứng chỉ
hành nghề khi có một trong các căn cứ quy định tại khoản 1 Điều này và được
thực hiện như sau:
a) Người
có thẩm quyền đang giải quyết vụ việc lập biên bản tạm giữ tang vật, phương
tiện vi phạm hành chính, giấy phép, chứng chỉ hành nghề theo quy định tại khoản
9 Điều này;
b) Trường
hợp người có thẩm quyền lập biên bản vi phạm hành chính thực hiện tạm giữ cùng
thời điểm lập biên bản vi phạm hành chính thì không phải lập biên bản tạm giữ.
Biên bản vi phạm hành chính trong trường hợp này phải thể hiện rõ tên, số
lượng, chủng loại, tình trạng của tang vật, phương tiện vi phạm hành chính,
giấy phép, chứng chỉ hành nghề bị tạm giữ;
c) Trong
thời hạn 24 giờ, kể từ khi lập biên bản, người lập biên bản phải báo cáo người
có thẩm quyền tạm giữ về tang vật, phương tiện vi phạm hành chính, giấy phép,
chứng chỉ hành nghề đã tạm giữ để xem xét ra quyết định tạm giữ; quyết định tạm
giữ phải được giao cho người vi phạm, đại diện tổ chức vi phạm 01 bản;
d) Trường
hợp không ra quyết định tạm giữ thì phải trả lại ngay tang vật, phương tiện vi
phạm hành chính, giấy phép, chứng chỉ hành nghề;
đ) Đối
với trường hợp tang vật là hàng hóa dễ hư hỏng thì người tạm giữ phải báo cáo
ngay thủ trưởng trực tiếp để xử lý, nếu để hư hỏng hoặc thất thoát thì phải bồi
thường theo quy định của pháp luật.
5.[234]
Người lập biên bản tạm giữ, người ra quyết định tạm giữ có trách nhiệm bảo quản
tang vật, phương tiện vi phạm hành chính, giấy phép, chứng chỉ hành nghề. Trong
trường hợp tang vật, phương tiện vi phạm hành chính, giấy phép, chứng chỉ hành
nghề bị mất, bán trái quy định, đánh tráo hoặc hư hỏng, mất linh kiện, thay thế
thì người ra quyết định tạm giữ phải chịu trách nhiệm bồi thường và bị xử lý
theo quy định của pháp luật.
5a.[235]
Khi thực hiện việc tạm giữ, người lập biên bản, người có thẩm quyền tạm giữ
phải niêm phong tang vật, phương tiện vi phạm hành chính bị tạm giữ, trừ các
trường hợp sau đây:
a) Động
vật, thực vật sống;
b) Hàng
hóa, vật phẩm dễ hư hỏng, khó bảo quản theo quy định của pháp luật.
c)[236]
Hàng siêu trường, siêu trọng theo quy định của pháp luật;
d)[237]
Hàng hóa khác không thể niêm phong theo quy định của pháp luật.
5b.[238]
Trong trường hợp tang vật, phương tiện vi phạm hành chính bị tạm giữ được niêm
phong thì phải tiến hành ngay trước mặt người vi phạm; nếu người vi phạm vắng
mặt thì phải tiến hành niêm phong trước mặt đại diện gia đình người vi phạm,
đại diện tổ chức hoặc đại diện chính quyền cấp xã hoặc ít nhất 01 người chứng
kiến.
5c.[239]
Biên bản, quyết định tạm giữ tang vật, phương tiện vi phạm hành chính, giấy
phép, chứng chỉ hành nghề có thể được lập, gửi bằng phương thức điện tử.
6. Trong
trường hợp chỉ áp dụng hình thức phạt tiền đối với cá nhân, tổ chức vi phạm
hành chính thì người có thẩm quyền xử phạt có quyền tạm giữ một trong các loại
giấy tờ theo thứ tự: giấy phép lái xe hoặc giấy phép lưu hành phương tiện hoặc
giấy tờ cần thiết khác có liên quan đến tang vật, phương tiện cho đến khi cá
nhân, tổ chức đó chấp hành xong quyết định xử phạt. Nếu cá nhân, tổ chức vi
phạm không có giấy tờ nói trên, thì người có thẩm quyền xử phạt có thể tạm giữ
tang vật, phương tiện vi phạm hành chính, trừ trường hợp quy định tại khoản 10
Điều này.
7. Cá
nhân, tổ chức vi phạm hành chính thuộc trường hợp bị áp dụng hình thức xử phạt
tước quyền sử dụng giấy phép, chứng chỉ hành nghề thì có thể bị tạm giữ giấy
phép, chứng chỉ hành nghề để bảo đảm thi hành quyết định xử phạt. Việc tạm giữ
giấy phép, chứng chỉ hành nghề trong thời gian chờ ra quyết định không làm ảnh
hưởng quyền sử dụng giấy phép, chứng chỉ hành nghề của cá nhân, tổ chức đó.
8.[240]
Thời hạn tạm giữ tang vật, phương tiện vi phạm hành chính, giấy phép, chứng chỉ
hành nghề không quá 07 ngày làm việc, kể từ ngày tạm giữ; trường hợp vụ việc
phải chuyển hồ sơ đến người có thẩm quyền xử phạt thì thời hạn tạm giữ không
quá 10 ngày làm việc, kể từ ngày tạm giữ.
Thời hạn
tạm giữ có thể được kéo dài đối với những vụ việc thuộc trường hợp quy định tại
điểm b khoản 1 Điều 66 của Luật này nhưng không quá 01 tháng, kể từ ngày tạm
giữ. Đối với vụ việc thuộc trường hợp quy định tại điểm c khoản 1 Điều 66 của
Luật này thì thời hạn tạm giữ có thể được tiếp tục kéo dài nhưng không quá 02
tháng, kể từ ngày tạm giữ.
Thời hạn
tạm giữ tang vật, phương tiện vi phạm hành chính, giấy phép, chứng chỉ hành
nghề được tính từ thời điểm tang vật, phương tiện vi phạm hành chính, giấy
phép, chứng chỉ hành nghề bị tạm giữ thực tế.
Thời hạn
tạm giữ tang vật, phương tiện vi phạm hành chính, giấy phép, chứng chỉ hành
nghề không vượt quá thời hạn ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính quy định
tại Điều 66 của Luật này. Trường hợp tạm giữ để bảo đảm thi hành quyết định xử
phạt quy định tại điểm c khoản 1 Điều này thì thời hạn tạm giữ kết thúc khi
quyết định xử phạt được thi hành xong.
Người có
thẩm quyền tạm giữ phải ra quyết định tạm giữ, kéo dài thời hạn tạm giữ tang
vật, phương tiện vi phạm hành chính, giấy phép, chứng chỉ hành nghề.
9.[241]
Biên bản tạm giữ tang vật, phương tiện vi phạm hành chính, giấy phép, chứng chỉ
hành nghề phải ghi rõ tên, số lượng, chủng loại, tình trạng của tang vật,
phương tiện vi phạm hành chính, giấy phép, chứng chỉ hành nghề bị tạm giữ và
phải có chữ ký của người thực hiện việc tạm giữ, người vi phạm, đại diện tổ
chức vi phạm; trường hợp không có chữ ký của người vi phạm thì phải có chữ ký
của ít nhất 01 người chứng kiến. Biên bản phải được lập thành 02 bản, giao cho
người vi phạm, đại diện tổ chức vi phạm 01 bản.
10.[242]
Đối với phương tiện giao thông vi phạm hành chính thuộc trường hợp bị tạm giữ
để bảo đảm thi hành quyết định xử phạt vi phạm hành chính, nếu tổ chức, cá nhân
vi phạm có địa chỉ rõ ràng, có điều kiện bến bãi, bảo quản phương tiện hoặc khả
năng tài chính đặt tiền bảo lãnh thì có thể được giữ phương tiện vi phạm dưới
sự quản lý của cơ quan nhà nước có thẩm quyền.
11.[243]
Chính phủ quy định chi tiết Điều này.
Điều
126. Xử lý tang vật, phương tiện, giấy phép, chứng chỉ hành nghề bị tạm giữ
theo thủ tục hành chính
1.[244]
Người ra quyết định tạm giữ phải xử lý tang vật, phương tiện vi phạm hành
chính, giấy phép, chứng chỉ hành nghề bị tạm giữ theo biện pháp ghi trong quyết
định xử phạt hoặc trả lại cho cá nhân, tổ chức nếu không áp dụng hình thức xử
phạt tịch thu đối với tang vật, phương tiện bị tạm giữ, tước quyền sử dụng giấy
phép, chứng chỉ hành nghề.
Đối với
tang vật, phương tiện đang bị tạm giữ do bị chiếm đoạt, sử dụng trái phép để vi
phạm hành chính thuộc trường hợp bị tịch thu thì trả lại cho chủ sở hữu, người
quản lý hoặc người sử dụng hợp pháp; cá nhân, tổ chức vi phạm phải nộp một
khoản tiền tương đương trị giá tang vật, phương tiện vi phạm hành chính vào
ngân sách nhà nước. Trường hợp chủ sở hữu, người quản lý hoặc người sử dụng hợp
pháp có lỗi cố ý trong việc để người vi phạm sử dụng tang vật, phương tiện vi
phạm hành chính theo quy định tại Điều 26 của Luật này thì tang vật, phương
tiện đó bị tịch thu sung vào ngân sách nhà nước.
Đối với
tang vật, phương tiện thuộc trường hợp bị tịch thu nhưng đã đăng ký biện pháp
bảo đảm thế chấp tài sản theo quy định của pháp luật về dân sự thì bên nhận thế
chấp được nhận lại tang vật, phương tiện hoặc trị giá tương ứng với nghĩa vụ
được bảo đảm; cá nhân, tổ chức vi phạm phải nộp một khoản tiền tương đương trị
giá tang vật, phương tiện vi phạm hành chính vào ngân sách nhà nước.
Đối với
tang vật, phương tiện vi phạm hành chính bị tạm giữ là tài sản bảo đảm của
khoản nợ xấu, sau khi chấm dứt việc tạm giữ theo quy định và không thuộc trường
hợp bị áp dụng hình thức xử phạt tịch thu, người ra quyết định tạm giữ trả lại
tang vật, phương tiện theo đề nghị của bên nhận bảo đảm là tổ chức tín dụng,
chi nhánh Ngân hàng nước ngoài, tổ chức mua bán, xử lý nợ.
2. Đối
với tang vật, phương tiện, giấy phép, chứng chỉ hành nghề bị tạm giữ để bảo đảm
thi hành quyết định xử phạt theo khoản 6 Điều 125 của Luật này phải được trả
ngay cho người bị xử phạt sau khi thi hành xong quyết định xử phạt.
3. Đối
với tang vật vi phạm hành chính là hàng hóa, vật phẩm dễ bị hư hỏng thì người
ra quyết định tạm giữ phải tổ chức bán ngay theo giá thị trường và việc bán
phải được lập thành biên bản. Tiền thu được phải gửi vào tài khoản tạm giữ[245]
mở tại Kho bạc Nhà nước. Nếu sau đó theo quyết định của người có thẩm quyền,
tang vật đó bị tịch thu thì tiền thu được phải nộp vào ngân sách nhà nước;
trường hợp tang vật đó không bị tịch thu thì tiền thu được phải trả cho chủ sở
hữu, người quản lý hoặc người sử dụng hợp pháp.
4.[246]
Đối với tang vật, phương tiện vi phạm hành chính bị tạm giữ theo quy định tại
điểm a và điểm b khoản 1 Điều 125 của Luật này khi hết thời hạn tạm giữ mà
người vi phạm, chủ sở hữu, người quản lý hoặc người sử dụng hợp pháp không đến
nhận mà không có lý do chính đáng thì được xử lý như sau:
a) Trường
hợp xác định được người vi phạm, chủ sở hữu, người quản lý hoặc người sử dụng
hợp pháp của tang vật, phương tiện thì người ra quyết định tạm giữ phải thông
báo cho họ 02 lần. Lần thông báo thứ nhất phải được thực hiện trong thời hạn 03
ngày làm việc, kể từ ngày hết thời hạn tạm giữ tang vật, phương tiện. Lần thông
báo thứ hai được thực hiện trong thời hạn 07 ngày làm việc, kể từ ngày thông
báo thứ nhất. Hết thời hạn 01 tháng, kể từ ngày thông báo lần thứ hai nếu người
vi phạm, chủ sở hữu, người quản lý hoặc người sử dụng hợp pháp không đến nhận
thì trong thời hạn 05 ngày làm việc, người có thẩm quyền phải ra quyết định
tịch thu tang vật, phương tiện vi phạm hành chính;
b) Trường
hợp không xác định được người vi phạm, chủ sở hữu, người quản lý hoặc người sử
dụng hợp pháp của tang vật, phương tiện thì người ra quyết định tạm giữ phải
thông báo 02 lần trên phương tiện thông tin đại chúng của trung ương hoặc địa
phương nơi tạm giữ tang vật, phương tiện. Lần thông báo thứ nhất phải được thực
hiện trong thời hạn 03 ngày làm việc, kể từ ngày hết thời hạn tạm giữ tang vật,
phương tiện. Lần thông báo thứ hai được thực hiện trong thời hạn 07 ngày làm
việc, kể từ ngày thông báo thứ nhất. Hết thời hạn 01 năm, kể từ ngày thông báo
lần thứ hai nếu người vi phạm, chủ sở hữu, người quản lý hoặc người sử dụng hợp
pháp không đến nhận thì trong thời hạn 05 ngày làm việc, người có thẩm quyền
phải ra quyết định tịch thu tang vật, phương tiện vi phạm hành chính.
c)[247]
Sau thời gian thông báo lần thứ hai quy định tại điểm b khoản này, người có
thẩm quyền ra quyết định tạm giữ: xử lý theo quy định tại điểm đ khoản 4 Điều
125 của Luật này trong trường hợp tang vật, phương tiện vi phạm hành chính có
khả năng bị hư hỏng, suy giảm chất lượng trong quá trình quản lý, bảo quản; xử
lý theo quy định tại khoản 5 Điều này trong trường hợp tang vật, phương tiện vi
phạm hành chính có nguy cơ gây cháy nổ, ô nhiễm môi trường hoặc ảnh hưởng đến
sức khỏe cộng đồng trong quá trình quản lý, bảo quản.
Tiền thu
được từ việc bán tang vật, phương tiện phải gửi vào tài khoản tạm giữ mở tại
Kho bạc Nhà nước. Nếu hết thời hạn quy định tại điểm b khoản này mà người vi
phạm, chủ sở hữu, người quản lý hoặc người sử dụng hợp pháp tang vật, phương
tiện không đến nhận thì nộp tiền thu được vào ngân sách nhà nước.
Việc xử
lý tang vật, phương tiện vi phạm hành chính trong trường hợp không xác định
được người vi phạm, chủ sở hữu, người quản lý hoặc người sử dụng hợp pháp được
thực hiện theo quy định của Chính phủ.
4a.[248]
Đối với tang vật, phương tiện vi phạm hành chính bị tạm giữ theo quy định tại
điểm c khoản 1 Điều 125 của Luật này khi hết thời hạn thi hành quyết định xử
phạt mà cá nhân, tổ chức bị xử phạt vi phạm hành chính không thi hành quyết
định xử phạt thì trong thời hạn 05 ngày làm việc, kể từ ngày hết thời hạn thi
hành quyết định xử phạt, người có thẩm quyền tạm giữ phải chuyển tang vật,
phương tiện vi phạm hành chính cho người có thẩm quyền cưỡng chế thi hành quyết
định xử phạt để quyết định việc kê biên, bán đấu giá theo quy định của pháp
luật để bảo đảm thi hành quyết định xử phạt.
4b.[249]
Đối với giấy phép, chứng chỉ hành nghề đã quá thời hạn tạm giữ hoặc hết thời
hiệu thi hành quyết định xử phạt nếu người vi phạm không đến nhận mà không có
lý do chính đáng thì trong thời hạn 10 ngày làm việc, kể từ ngày hết thời hạn
tạm giữ hoặc hết thời hiệu thi hành quyết định xử phạt, người có thẩm quyền tạm
giữ phải chuyển cho cơ quan đã cấp các loại giấy tờ đó để tiến hành việc thu
hồi theo quy định của pháp luật và thông báo cho người vi phạm biết.
5. Đối
với tang vật, phương tiện vi phạm hành chính là hàng hóa, vật phẩm gây hại cho
sức khoẻ con người, vật nuôi, cây trồng và môi trường, văn hóa phẩm độc hại thì
phải tiến hành tiêu hủy theo quy định tại Điều 33 của Luật này.
6.[250]
Đối với các chất ma túy và những vật thuộc loại cấm tàng trữ, cấm lưu hành thì
tịch thu hoặc tiêu hủy theo quy định của Luật này.
7. Người
có tang vật, phương tiện vi phạm hành chính bị tạm giữ chỉ phải trả chi phí lưu
kho, phí bến bãi, phí bảo quản tang vật, phương tiện và các khoản chi phí khác
trong thời gian tang vật, phương tiện bị tạm giữ theo quy định tại khoản 8 Điều
125 của Luật này.
Không thu
phí lưu kho, phí bến bãi và phí bảo quản trong thời gian tang vật, phương tiện
vi phạm hành chính bị tạm giữ nếu chủ tang vật, phương tiện không có lỗi trong
việc vi phạm hành chính hoặc áp dụng biện pháp tịch thu đối với tang vật,
phương tiện.
Chính phủ
quy định chi tiết về mức phí tạm giữ tang vật, phương tiện quy định tại Điều
125 của Luật này.
Điều
127. Khám người theo thủ tục hành chính
1. Việc
khám người theo thủ tục hành chính chỉ được tiến hành khi có căn cứ cho rằng
người đó cất giấu trong người đồ vật, tài liệu, phương tiện được sử dụng để vi
phạm hành chính.
2. Những
người được quy định tại khoản 1 Điều 123 của Luật này có quyền quyết định khám
người theo thủ tục hành chính.
Trong
trường hợp có căn cứ để cho rằng nếu không tiến hành khám ngay thì đồ vật, tài
liệu, phương tiện được sử dụng để vi phạm hành chính bị tẩu tán, tiêu hủy, thì
ngoài những người được quy định tại khoản 1 Điều 123 của Luật này, chiến sĩ
cảnh sát nhân dân, cảnh sát viên cảnh sát biển, chiến sĩ bộ đội biên phòng,
kiểm lâm viên, công chức hải quan, kiểm soát viên thị trường đang thi hành công
vụ được khám người theo thủ tục hành chính và báo cáo ngay bằng văn bản cho thủ
trưởng của mình là một trong những người được quy định tại khoản 1 Điều 123 của
Luật này và phải chịu trách nhiệm trước pháp luật về việc khám người.
3. Việc
khám người phải có quyết định bằng văn bản, trừ trường hợp cần khám ngay theo
quy định tại đoạn 2 khoản 2 Điều này.
4. Trước
khi tiến hành khám người, người khám phải thông báo quyết định cho người bị khám
biết. Khi khám người, nam khám nam, nữ khám nữ và phải có người cùng giới chứng
kiến.
5. Mọi
trường hợp khám người đều phải lập biên bản. Quyết định khám người và biên bản
khám người phải được giao cho người bị khám 01 bản.
Điều
128. Khám phương tiện vận tải, đồ vật theo thủ tục hành chính
1. Việc
khám phương tiện vận tải, đồ vật theo thủ tục hành chính chỉ được tiến hành khi
có căn cứ cho rằng trong phương tiện vận tải, đồ vật đó có cất giấu tang vật vi
phạm hành chính.
2. Những
người được quy định tại khoản 1 Điều 123 của Luật này có quyền khám phương tiện
vận tải, đồ vật theo thủ tục hành chính.
3. Trong
trường hợp có căn cứ để cho rằng nếu không tiến hành khám ngay thì tang vật vi
phạm hành chính sẽ bị tẩu tán, tiêu hủy, thì ngoài những người quy định tại
khoản 2 Điều này, chiến sĩ cảnh sát nhân dân, cảnh sát viên cảnh sát biển,
chiến sĩ bộ đội biên phòng, kiểm lâm viên, công chức thuế, công chức hải quan,
kiểm soát viên thị trường, thanh tra viên đang thi hành công vụ được khám
phương tiện vận tải, đồ vật theo thủ tục hành chính và phải báo cáo ngay cho
thủ trưởng trực tiếp của mình và phải chịu trách nhiệm về việc khám.
4. Việc
khám phương tiện vận tải, đồ vật phải có quyết định bằng văn bản, trừ trường
hợp quy định tại khoản 3 Điều này.
Khi tiến
hành khám phương tiện vận tải, đồ vật phải có mặt chủ phương tiện vận tải, đồ
vật hoặc người điều khiển phương tiện vận tải và 01 người chứng kiến; trong
trường hợp chủ phương tiện, đồ vật hoặc người điều khiển phương tiện vắng mặt
thì phải có ít nhất 01 người chứng kiến[251].
5. Mọi
trường hợp khám phương tiện vận tải, đồ vật đều phải lập biên bản. Quyết định
khám và biên bản phải giao cho chủ phương tiện vận tải, đồ vật hoặc người điều
khiển phương tiện vận tải 01 bản.
Điều
129. Khám nơi cất giấu tang vật, phương tiện vi phạm hành chính
1. Khám
nơi cất giấu tang vật, phương tiện vi phạm hành chính chỉ được tiến hành khi có
căn cứ cho rằng ở nơi đó có cất giấu tang vật, phương tiện vi phạm hành chính.
2. Những
người được quy định tại khoản 1 Điều 123 của Luật này có quyền quyết định khám
nơi cất giấu tang vật, phương tiện vi phạm hành chính; trong trường hợp nơi cất
giấu tang vật, phương tiện vi phạm hành chính là chỗ ở thì đề nghị Chủ tịch Ủy
ban nhân dân cấp xã nơi cư trú của cá nhân[252] xem xét, quyết định.
3. Khi
khám nơi cất giấu tang vật, phương tiện vi phạm hành chính phải có mặt người
chủ nơi bị khám hoặc người thành niên trong gia đình họ và người chứng kiến.
Trong trường hợp người chủ nơi bị khám, người thành niên trong gia đình họ vắng
mặt mà việc khám không thể trì hoãn thì phải có đại diện chính quyền và ít nhất
01 người chứng kiến[253].
4. Không
được khám nơi cất giấu tang vật, phương tiện vi phạm hành chính vào ban đêm,
trừ trường hợp khẩn cấp hoặc việc khám đang được thực hiện mà chưa kết thúc
nhưng phải ghi rõ lý do vào biên bản.
5. Mọi
trường hợp khám nơi cất giấu tang vật, phương tiện vi phạm hành chính phải có
quyết định bằng văn bản và phải lập biên bản. Quyết định và biên bản khám nơi
cất giấu tang vật, phương tiện vi phạm hành chính phải được giao cho người chủ
nơi bị khám 01 bản.
Điều
130. Quản lý đối với người nước ngoài vi phạm pháp luật Việt Nam trong thời
gian làm thủ tục trục xuất
1. Quản
lý đối với người nước ngoài vi phạm pháp luật Việt Nam trong thời gian làm thủ
tục trục xuất được áp dụng khi có căn cứ cho rằng nếu không áp dụng biện pháp
này thì người đó sẽ trốn tránh hoặc cản trở việc thi hành quyết định xử phạt
trục xuất hoặc để ngăn chặn người đó tiếp tục thực hiện hành vi vi phạm pháp
luật.
2. Thủ
trưởng Cơ quan quản lý xuất cảnh, nhập cảnh hoặc Giám đốc Công an cấp tỉnh nơi
lập hồ sơ đề nghị trục xuất ra quyết định quản lý đối với người nước ngoài vi
phạm pháp luật trong thời gian làm thủ tục trục xuất bằng các biện pháp sau:
a) Hạn
chế việc đi lại của người bị quản lý;
b) Chỉ
định chỗ ở của người bị quản lý;
c) Tạm
giữ hộ chiếu hoặc giấy tờ tùy thân khác thay hộ chiếu.
3. Chính
phủ quy định chi tiết Điều này.
Điều
131. Quản lý người bị đề nghị áp dụng biện pháp xử lý hành chính trong thời
gian làm thủ tục áp dụng biện pháp xử lý hành chính[254]
1. Đối
với người bị đề nghị áp dụng biện pháp đưa vào trường giáo dưỡng, đưa vào cơ sở
giáo dục bắt buộc[255] có nơi cư trú ổn định, cơ quan, người có
thẩm quyền lập hồ sơ quyết định giao cho gia đình quản lý đối tượng trong thời
gian làm thủ tục xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính.
2.[256]
Đối với người không có nơi cư trú ổn định hoặc có nơi cư trú ổn định nhưng gia
đình không đồng ý quản lý, việc quản lý trong thời gian làm thủ tục xem xét,
quyết định áp dụng biện pháp đưa vào trường giáo dưỡng, đưa vào cơ sở giáo dục
bắt buộc được cơ quan, người có thẩm quyền lập hồ sơ giao cho cơ quan Công an
cấp xã nơi người bị đề nghị áp dụng biện pháp đưa vào trường giáo dưỡng, đưa
vào cơ sở giáo dục bắt buộc cư trú hoặc có hành vi vi phạm tổ chức quản lý.
3.[257]
Thời hạn quản lý được tính từ khi lập hồ sơ cho đến khi người có thẩm quyền đưa
đối tượng đi áp dụng biện pháp xử lý hành chính theo quyết định của Tòa án.
Thời gian
quản lý tại trung tâm, cơ sở đối với đối tượng theo quy định tại điểm a khoản 2
Điều này được trừ vào thời hạn áp dụng biện pháp xử lý hành chính.
4. Quyết
định giao cho gia đình hoặc cơ quan, tổ chức quản lý phải ghi rõ: ngày, tháng,
năm quyết định; họ, tên, chức vụ của người quyết định; họ, tên, ngày, tháng,
năm sinh, nơi cư trú của người được giao quản lý hoặc tên, địa chỉ của cơ quan,
tổ chức được giao quản lý; họ, tên, ngày, tháng, năm sinh, nơi cư trú của người
được quản lý; lý do, thời hạn, trách nhiệm của người được quản lý, trách nhiệm
của người hoặc cơ quan, tổ chức quản lý và trách nhiệm của Ủy ban nhân dân cấp
xã nơi đối tượng cư trú; chữ ký của người quyết định giao quản lý. Quyết định
này phải được gửi ngay cho gia đình hoặc cơ quan, tổ chức nhận quản lý, người
được quản lý để thực hiện.
5. Trong
thời gian quản lý, gia đình, cơ quan, tổ chức được giao quản lý có trách nhiệm
sau đây:
a) Không
để người được quản lý tiếp tục vi phạm pháp luật;
b) Bảo
đảm sự có mặt của người được quản lý khi có quyết định đưa vào trường giáo
dưỡng, đưa vào cơ sở giáo dục bắt buộc[258];
c) Báo
cáo kịp thời với cơ quan, người có thẩm quyền đã ra quyết định giao quản lý
trong trường hợp người được quản lý bỏ trốn hoặc có hành vi vi phạm pháp luật.
6. Trong
thời gian quản lý, người được quản lý có trách nhiệm sau đây:
a) Chấp
hành nghiêm chỉnh quy định của pháp luật về tạm trú, tạm vắng. Khi đi ra khỏi
địa bàn xã, phường, đặc khu[259] để ở lại địa phương khác phải thông báo cho
gia đình, cơ quan, tổ chức được giao quản lý biết về địa chỉ, thời gian tạm trú
tại đó;
b) Có mặt
kịp thời tại trụ sở của cơ quan, người có thẩm quyền lập hồ sơ khi có yêu cầu.
7. Trong
thời gian quản lý, cơ quan, người có thẩm quyền ra quyết định quản lý có trách
nhiệm sau đây:
a) Thông
báo cho gia đình, cơ quan, tổ chức được giao quản lý và người được quản lý về
quyền và nghĩa vụ của họ trong thời gian quản lý;
b) Thực
hiện các biện pháp hỗ trợ gia đình, cơ quan, tổ chức được giao quản lý trong
việc quản lý, giám sát người được quản lý;
c) Khi
được thông báo về việc người được quản lý bỏ trốn hoặc có hành vi vi phạm pháp
luật, cơ quan, người có thẩm quyền đã ra quyết định giao quản lý phải kịp thời
có biện pháp xử lý theo thẩm quyền hoặc thông báo cho cơ quan có thẩm quyền xử
lý theo quy định của pháp luật.
8. Chính
phủ quy định chi tiết Điều này.
Điều
132. Truy tìm đối tượng đã có quyết định đưa vào trường giáo dưỡng, đưa vào cơ
sở giáo dục bắt buộc[260] trong trường hợp bỏ trốn
1. Trong
trường hợp người đã có quyết định đưa vào trường giáo dưỡng, đưa vào cơ sở giáo
dục bắt buộc[261] bỏ trốn trước khi được đưa vào trường hoặc cơ sở, thì cơ
quan Công an[262] nơi lập hồ sơ ra quyết định truy tìm đối tượng.
2. Trong
trường hợp người đang chấp hành tại trường giáo dưỡng, cơ sở giáo dục bắt buộc[263]
bỏ trốn thì Hiệu trưởng trường giáo dưỡng, Giám đốc cơ sở giáo dục bắt buộc[264]
ra quyết định truy tìm đối tượng. Cơ quan Công an có trách nhiệm phối hợp với
trường giáo dưỡng, cơ sở giáo dục bắt buộc[265] trong việc truy tìm
đối tượng để đưa người đó trở lại trường hoặc cơ sở.
3.[266]
Trường hợp người đã có quyết định đưa vào trường giáo dưỡng quy định tại khoản
1 Điều này đủ 18 tuổi tại thời điểm truy tìm được, cơ quan Công an cấp xã nơi
lập hồ sơ[267]
đề nghị Tòa án nhân dân khu vực[268] xem xét, quyết định áp dụng biện pháp đưa
vào cơ sở giáo dục bắt buộc nếu có đủ điều kiện thuộc đối tượng bị áp dụng biện
pháp đưa vào cơ sở giáo dục bắt buộc.
Trường
hợp người đang chấp hành tại trường giáo dưỡng quy định tại khoản 2 Điều này đủ
18 tuổi tại thời điểm truy tìm được, Hiệu trưởng trường giáo dưỡng lập hồ sơ đề
nghị Tòa án nhân dân khu vực[269] nơi có trường giáo dưỡng xem xét, quyết
định áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở giáo dục bắt buộc nếu có đủ điều kiện
thuộc đối tượng bị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở giáo dục bắt buộc.
4. Thời
gian bỏ trốn không được tính vào thời hạn chấp hành quyết định áp dụng biện
pháp đưa vào trường giáo dưỡng, đưa vào cơ sở giáo dục bắt buộc[270].
Phần thứ năm
NHỮNG QUY ĐỊNH ĐỐI VỚI
NGƯỜI CHƯA THÀNH NIÊN VI PHẠM HÀNH CHÍNH
Chương I
QUY ĐỊNH CHUNG VỀ XỬ LÝ
VI PHẠM HÀNH CHÍNH ĐỐI VỚI NGƯỜI CHƯA THÀNH NIÊN
Điều
133. Phạm vi áp dụng
Việc xử
lý đối với người chưa thành niên vi phạm hành chính thực hiện theo quy định của
Phần thứ năm và các quy định khác có liên quan của Luật này.
Điều
134. Nguyên tắc xử lý
Ngoài những
nguyên tắc xử lý vi phạm hành chính quy định tại Điều 3 của Luật này, việc xử
lý đối với người chưa thành niên còn được áp dụng các nguyên tắc sau đây:
1. Việc
xử lý người chưa thành niên vi phạm hành chính chỉ được thực hiện trong trường
hợp cần thiết nhằm giáo dục, giúp đỡ họ sửa chữa sai lầm, phát triển lành mạnh
và trở thành công dân có ích cho xã hội.
Trong quá
trình xem xét xử lý người chưa thành niên vi phạm hành chính, người có thẩm
quyền xử lý vi phạm hành chính phải bảo đảm lợi ích tốt nhất cho người chưa
thành niên. Biện pháp đưa vào trường giáo dưỡng chỉ được áp dụng khi xét thấy
không có biện pháp xử lý khác phù hợp hơn;
2. Việc
xử lý người chưa thành niên vi phạm hành chính còn căn cứ vào khả năng nhận
thức của người chưa thành niên về tính chất nguy hiểm cho xã hội của hành vi vi
phạm, nguyên nhân và hoàn cảnh vi phạm để quyết định việc xử phạt hoặc áp dụng
biện pháp xử lý hành chính phù hợp;
3.[271]
Việc áp dụng hình thức xử phạt, quyết định mức xử phạt đối với người chưa thành
niên vi phạm hành chính phải nhẹ hơn so với người thành niên có cùng hành vi vi
phạm hành chính.
Trường
hợp người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi vi phạm hành chính thì không áp dụng
hình thức phạt tiền.
Trường
hợp người từ đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi vi phạm hành chính bị phạt tiền thì
mức tiền phạt không quá 1/2 mức tiền phạt áp dụng đối với người thành niên; bị
buộc phải nộp một khoản tiền tương đương trị giá tang vật, phương tiện vi phạm
hành chính vào ngân sách nhà nước theo quy định tại khoản 1 Điều 126 của Luật
này thì số tiền nộp vào ngân sách nhà nước bằng 1/2 trị giá tang vật, phương
tiện vi phạm hành chính. Trường hợp không có tiền nộp phạt hoặc không có khả
năng thực hiện biện pháp khắc phục hậu quả thì cha mẹ hoặc người giám hộ phải
thực hiện thay;
4. Trong
quá trình xử lý người chưa thành niên vi phạm hành chính, bí mật riêng tư của
người chưa thành niên phải được tôn trọng và bảo vệ;
5. Các
biện pháp thay thế xử lý vi phạm hành chính phải được xem xét áp dụng khi có đủ
các điều kiện quy định tại Chương II của Phần này. Việc áp dụng biện pháp thay
thế xử lý vi phạm hành chính không được coi là đã bị xử lý vi phạm hành chính.
Điều
135. Áp dụng các hình thức xử phạt và biện pháp khắc phục hậu quả
1. Các
hình thức xử phạt áp dụng đối với người chưa thành niên bao gồm:
a) Cảnh
cáo;
b) Phạt
tiền;
c) Tịch
thu tang vật, phương tiện vi phạm hành chính.
2. Các
biện pháp khắc phục hậu quả áp dụng đối với người chưa thành niên bao gồm:
a) Buộc
khôi phục lại tình trạng ban đầu;
b) Buộc
thực hiện các biện pháp khắc phục tình trạng ô nhiễm môi trường, lây lan dịch
bệnh;
c) Buộc
tiêu hủy hàng hóa, vật phẩm gây hại cho sức khỏe con người, vật nuôi, cây trồng
và môi trường; văn hóa phẩm có nội dung độc hại;
d) Buộc
nộp lại khoản thu bất hợp pháp có được do thực hiện hành vi vi phạm hoặc buộc
nộp lại số tiền bằng trị giá tang vật, phương tiện đã bị tiêu thụ, tẩu tán,
tiêu hủy trái với quy định của pháp luật.
Điều
136. Áp dụng các biện pháp xử lý hành chính
1. Biện
pháp giáo dục tại xã, phường, đặc khu[272] được áp dụng đối với người chưa thành niên
vi phạm pháp luật theo quy định tại Chương I Phần thứ ba của Luật này. Người
chưa thành niên bị áp dụng biện pháp giáo dục tại xã, phường, đặc khu[273]
phải được cha mẹ hoặc người giám hộ quản lý, trường hợp không có nơi cư trú ổn
định thì phải ở tại cơ sở bảo trợ xã hội hoặc cơ sở trợ giúp trẻ em; được đi
học hoặc tham gia các chương trình học tập hoặc dạy nghề khác; tham gia các
chương trình tham vấn, phát triển kỹ năng sống tại cộng đồng.
2. Biện
pháp đưa vào trường giáo dưỡng được áp dụng đối với người chưa thành niên vi
phạm pháp luật theo quy định tại Chương II Phần thứ ba của Luật này.
Điều
137. Thời hạn được coi là chưa bị xử lý vi phạm hành chính đối với người chưa
thành niên
1. Người
chưa thành niên được coi là chưa bị xử phạt vi phạm hành chính nếu trong thời
hạn 06 tháng, kể từ ngày chấp hành xong quyết định xử phạt hoặc từ ngày hết
thời hiệu thi hành quyết định xử phạt mà không tái phạm.
2. Người
chưa thành niên bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính nếu trong thời hạn 01
năm, kể từ ngày chấp hành xong quyết định xử lý hoặc từ ngày hết thời hiệu thi
hành quyết định xử lý mà không tái phạm thì được coi là chưa bị áp dụng biện
pháp xử lý hành chính.
Chương II
CÁC BIỆN PHÁP THAY THẾ
XỬ LÝ VI PHẠM HÀNH CHÍNH ĐỐI VỚI NGƯỜI CHƯA THÀNH NIÊN
Điều
138. Các biện pháp thay thế xử lý vi phạm hành chính
Các biện
pháp thay thế xử lý vi phạm hành chính đối với người chưa thành niên bao gồm:
1. Nhắc
nhở;
2. Quản
lý tại gia đình;
3.[274]
Giáo dục dựa vào cộng đồng.
Điều
139. Nhắc nhở
1. Nhắc
nhở là biện pháp thay thế xử lý vi phạm hành chính để chỉ ra những vi phạm do
người chưa thành niên thực hiện, được thực hiện đối với người chưa thành niên
vi phạm hành chính mà theo quy định của pháp luật phải bị xử phạt vi phạm hành
chính khi có đủ các điều kiện sau:
a) Vi
phạm hành chính theo quy định bị phạt cảnh cáo;
b) Người
chưa thành niên vi phạm đã tự nguyện khai báo, thành thật hối lỗi về hành vi vi
phạm của mình.
2. Căn cứ
quy định tại khoản 1 Điều này, người có thẩm quyền xử phạt quyết định áp dụng
biện pháp nhắc nhở.
Nhắc nhở
được thực hiện bằng lời nói, ngay tại chỗ.
Điều
140. Quản lý tại gia đình
1.[275]
Quản lý tại gia đình là biện pháp thay thế xử lý vi phạm hành chính áp dụng đối
với người chưa thành niên thuộc đối tượng quy định tại khoản 3 và khoản 4 Điều
90 của Luật này khi có đủ các điều kiện sau đây:
a) Đã tự
nguyện khai báo, thành thật hối lỗi về hành vi vi phạm của mình;
b) Có môi
trường sống thuận lợi cho việc thực hiện biện pháp này;
c) Cha mẹ
hoặc người giám hộ có đủ điều kiện thực hiện việc quản lý và tự nguyện nhận
trách nhiệm quản lý tại gia đình.
2. Căn cứ
quy định tại khoản 1 Điều này, Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã quyết định áp
dụng biện pháp quản lý tại gia đình.
3. Thời
hạn áp dụng biện pháp quản lý tại gia đình từ 03 tháng đến 06 tháng.
4. Trong
thời hạn 03 ngày, kể từ ngày quyết định áp dụng biện pháp quản lý tại gia đình
có hiệu lực, Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã nơi đã ra quyết định phải gửi
quyết định cho gia đình và phân công tổ chức, cá nhân nơi người đó cư trú để
phối hợp, giám sát thực hiện.
Người
chưa thành niên đang quản lý tại gia đình được đi học hoặc tham gia các chương
trình học tập hoặc dạy nghề khác; tham gia các chương trình tham vấn, phát
triển kỹ năng sống tại cộng đồng.
5. Trong
thời gian quản lý tại gia đình, nếu người chưa thành niên tiếp tục vi phạm pháp
luật thì người có thẩm quyền quy định tại khoản 2 Điều này quyết định chấm dứt
việc áp dụng biện pháp này và xử lý theo quy định của pháp luật.
Điều
140a. Giáo dục dựa vào cộng đồng[276]
1. Giáo
dục dựa vào cộng đồng là biện pháp thay thế xử lý vi phạm hành chính áp dụng
đối với người từ đủ 12 tuổi đến dưới 14 tuổi thuộc đối tượng quy định tại khoản
1 Điều 92 của Luật này có nơi cư trú ổn định, đang theo học tại cơ sở giáo dục
và cha mẹ, người giám hộ cam kết bằng văn bản về việc quản lý, giáo dục.
2. Căn cứ
quy định tại khoản 1 Điều này, Tòa án nhân dân quyết định áp dụng biện pháp
giáo dục dựa vào cộng đồng.
3. Thời
hạn áp dụng biện pháp giáo dục dựa vào cộng đồng từ 06 tháng đến 24 tháng.
4. Trong
thời hạn 03 ngày làm việc, kể từ ngày quyết định áp dụng biện pháp giáo dục dựa
vào cộng đồng có hiệu lực, Tòa án nhân dân nơi đã ra quyết định phải gửi quyết
định cho cha mẹ hoặc người giám hộ của người chưa thành niên và Ủy ban nhân dân
cấp xã nơi người đó cư trú hoặc cơ sở trợ giúp trẻ em, cơ sở bảo trợ xã hội để
phối hợp, giám sát thực hiện.
Người
chưa thành niên bị áp dụng biện pháp giáo dục dựa vào cộng đồng được đi học
hoặc tham gia các chương trình học tập hoặc dạy nghề khác; tham gia các chương
trình tham vấn, phát triển kỹ năng sống tại cộng đồng.
Phần thứ sáu
ĐIỀU KHOẢN THI HÀNH[277]
Điều
141. Hiệu lực thi hành
1. Luật
này có hiệu lực thi hành từ ngày 01 tháng 7 năm 2013, trừ các quy định liên
quan đến việc áp dụng các biện pháp xử lý hành chính do Tòa án nhân dân xem
xét, quyết định thì có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 01 năm 2014.
2. Pháp
lệnh Xử lý vi phạm hành chính số 44/2002/PL-UBTVQH10, Pháp lệnh số
31/2007/PL-UBTVQH11 sửa đổi một số điều của Pháp lệnh Xử lý vi phạm hành chính
năm 2002 và Pháp lệnh số 04/2008/UBTVQH12 sửa đổi, bổ sung một số điều của Pháp
lệnh Xử lý vi phạm hành chính hết hiệu lực kể từ ngày Luật này có hiệu lực, trừ
các quy định liên quan đến việc áp dụng các biện pháp đưa vào trường giáo
dưỡng, đưa vào cơ sở giáo dục, đưa vào cơ sở chữa bệnh tiếp tục có hiệu lực đến
hết ngày 31 tháng 12 năm 2013.
Điều
142.[278]
(được bãi bỏ)
|
VĂN PHÒNG QUỐC HỘI Số: 90/VBHN-VPQH Nơi
nhận: |
XÁC THỰC VĂN BẢN HỢP
NHẤT Hà Nội, ngày 30 tháng
3 năm 2026 CHỦ NHIỆM |
________________________________________________
[1] Luật Hải quan số
54/2014/QH13 có căn cứ ban hành như sau:
“Căn
cứ Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam;
Quốc
hội ban hành Luật Hải quan.”.
Luật Thủy
sản số 18/2017/QH14 có căn cứ ban hành như sau:
“Căn
cứ Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam;
Quốc
hội ban hành Luật Thủy sản.”.
Luật số
67/2020/QH14 sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Xử lý vi phạm hành chính có
căn cứ ban hành như sau:
“Căn
cứ Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam;
Quốc
hội ban hành Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Xử lý vi phạm hành
chính số 15/2012/QH13 đã được sửa đổi, bổ sung một số điều theo Luật số
54/2014/QH13 và Luật số 18/2017/QH14.”.
Luật số
09/2022/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Tần số vô tuyến điện có căn
cứ ban hành như sau:
“Căn
cứ Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam;
Quốc hội
ban hành Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Tần số vô tuyến điện số
42/2009/QH12.”.
Luật
Thanh tra số 11/2022/QH15 có căn cứ ban hành như sau:
“Căn
cứ Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam;
Quốc
hội ban hành Luật Thanh tra.”.
Luật số
56/2024/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Chứng khoán, Luật Kế toán,
Luật Kiểm toán độc lập, Luật Ngân sách nhà nước, Luật Quản lý, sử dụng tài sản
công, Luật Quản lý thuế, Luật Thuế thu nhập cá nhân, Luật Dự trữ quốc gia, Luật
Xử lý vi phạm hành chính có căn cứ ban hành như sau:
“Căn
cứ Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam;
Quốc
hội ban hành Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Chứng khoán số
54/2019/QH14, Luật Kế toán số 88/2015/QH13 đã được sửa đổi, bổ sung một số điều
theo Luật số 38/2019/QH14, Luật Kiểm toán độc lập số 67/2011/QH12 đã được sửa
đổi, bổ sung một số điều theo Luật số 97/2015/QH13, Luật Ngân sách nhà nước số
83/2015/QH13 đã được sửa đổi, bổ sung một số điều theo Luật số 59/2020/QH14,
Luật Quản lý, sử dụng tài sản công số 15/2017/QH14 đã được sửa đổi, bổ sung một
số điều theo Luật số 64/2020/QH14, Luật số 07/2022/QH15, Luật số
24/2023/QH15, Luật số 31/2024/QH15 và Luật số 43/2024/QH15, Luật Quản lý thuế
số 38/2019/QH14, Luật Thuế thu nhập cá nhân số 04/2007/QH12 đã được sửa đổi, bổ
sung một số điều theo Luật số 26/2012/QH13, Luật số 71/2014/QH13, Luật số 31/2024/QH15
và Luật số 43/2024/QH15, Luật Dự trữ quốc gia số 22/2012/QH13 đã được sửa đổi,
bổ sung một số điều theo số 21/2017/QH14, Luật Xử lý vi phạm hành chính số 15/2012/QH13
đã được sửa đổi, bổ sung một số điều theo Luật số 54/2014/QH13, Luật số 18/2017/QH14,
Luật số 67/2020/QH14, Luật số 09/2022/QH15 và Luật số 11/2022/QH15.”.
Luật số
88/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Xử lý vi phạm hành chính có
căn cứ ban hành như sau:
“Căn
cứ Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam đã được sửa đổi, bổ sung
một số điều theo Nghị quyết số 203/2025/QH15;
Quốc
hội ban hành Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Xử lý vi phạm hành
chính số 15/2012/QH13 đã được sửa đổi, bổ sung một số điều theo Luật số
54/2014/QH13, Luật số
18/2017/QH14, Luật số 67/2020/QH14, Luật số 09/2022/QH15, Luật số
11/2022/QH15 và Luật số 56/2024/QH15.”.
Luật An
ninh mạng số 116/2025/QH15 có căn cứ ban hành như sau:
“Căn
cứ Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam đã được sửa đổi, bổ sung
một số điều theo Nghị quyết số 203/2025/QH15;
Quốc
hội ban hành Luật An ninh mạng.”.
Luật
Phòng, chống ma túy số 120/2025/QH15 có căn cứ ban hành như sau:
“Căn
cứ Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam đã được sửa đổi, bổ sung
một số điều theo Nghị quyết số 203/2025/QH15;
Quốc
hội ban hành Luật Phòng, chống ma túy.”.
[2] Cụm từ “xã, phường,
thị trấn” được thay thế bằng cụm từ “xã, phường, đặc khu” theo quy định tại
điểm a khoản 28 Điều 1 của Luật số 88/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều
của Luật Xử lý vi phạm hành chính, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2025.
[3] Cụm từ “đưa vào cơ sở
cai nghiện bắt buộc” được thay thế bằng cụm từ “đưa đi cai nghiện bắt buộc”
theo quy định tại khoản 8 Điều 54 của Luật Phòng, chống ma túy số
120/2025/QH15, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2026.
[4] Cụm từ “, biện pháp
giáo dục dựa vào cộng đồng” được bổ sung theo quy định tại điểm a khoản 72 Điều
1 của Luật số 67/2020/QH14 sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Xử lý vi phạm
hành chính, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 01 năm 2022.
[5] Khoản này được sửa
đổi, bổ sung theo quy định tại khoản 1 Điều 1 của Luật số 67/2020/QH14 sửa đổi,
bổ sung một số điều của Luật Xử lý vi phạm hành chính, có hiệu lực kể từ ngày
01 tháng 01 năm 2022.
[6] Khoản này được bãi bỏ
theo quy định tại khoản 10 Điều 54 của Luật Phòng, chống ma túy số
120/2025/QH15, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2026.
[7] Điểm này được sửa đổi,
bổ sung theo quy định tại khoản 2 Điều 1 của Luật số 67/2020/QH14 sửa đổi, bổ
sung một số điều của Luật Xử lý vi phạm hành chính, có hiệu lực kể từ ngày 01
tháng 01 năm 2022.
[8] Điều này được sửa đổi,
bổ sung theo quy định tại khoản 3 Điều 1 của Luật số 67/2020/QH14 sửa đổi, bổ
sung một số điều của Luật Xử lý vi phạm hành chính, có hiệu lực kể từ ngày 01
tháng 01 năm 2022.
[9] Điểm này được sửa đổi,
bổ sung lần thứ nhất theo quy định tại điểm a khoản 4 Điều 1 của Luật số
67/2020/QH14 sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Xử lý vi phạm hành chính, có
hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 01 năm 2022.
Điểm này
được sửa đổi, bổ sung lần thứ hai theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 1 của
Luật số 88/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Xử lý vi phạm hành
chính, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2025.
[10] Điểm này được sửa
đổi, bổ sung theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 1 của Luật số 88/2025/QH15
sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Xử lý vi phạm hành chính, có hiệu lực kể
từ ngày 01 tháng 7 năm 2025.
[11] Điểm này được sửa
đổi, bổ sung lần thứ nhất theo quy định tại điểm b khoản 4 Điều 1 của Luật số
67/2020/QH14 sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Xử lý vi phạm hành chính, có
hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 01 năm 2022.
Điểm này
được sửa đổi, bổ sung lần thứ hai theo quy định tại khoản 1 Điều 54 của Luật
Phòng, chống ma túy số 120/2025/QH15, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm
2026.
[12] Điểm này được sửa
đổi, bổ sung theo quy định tại điểm b khoản 4 Điều 1 của Luật số 67/2020/QH14
sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Xử lý vi phạm hành chính, có hiệu lực kể
từ ngày 01 tháng 01 năm 2022.
[13] Điểm này được bãi bỏ
theo quy định tại khoản 10 Điều 54 của Luật Phòng, chống ma túy số
120/2025/QH15, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2026.
[14] Điểm này được bổ
sung theo quy định tại điểm c khoản 4 Điều 1 của Luật số 67/2020/QH14 sửa đổi,
bổ sung một số điều của Luật Xử lý vi phạm hành chính, có hiệu lực kể từ ngày
01 tháng 01 năm 2022.
[15] Khoản này được sửa
đổi, bổ sung theo quy định tại điểm a khoản 5 Điều 1 của Luật số 67/2020/QH14
sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Xử lý vi phạm hành chính, có hiệu lực kể
từ ngày 01 tháng 01 năm 2022.
[16] Khoản này được bổ
sung theo quy định tại điểm b khoản 5 Điều 1 của Luật số 67/2020/QH14 sửa đổi,
bổ sung một số điều của Luật Xử lý vi phạm hành chính, có hiệu lực kể từ ngày
01 tháng 01 năm 2022.
[17] Điểm này được bổ
sung theo quy định tại điểm a khoản 6 Điều 1 của Luật số 67/2020/QH14 sửa đổi,
bổ sung một số điều của Luật Xử lý vi phạm hành chính, có hiệu lực kể từ ngày
01 tháng 01 năm 2022.
[18] Cụm từ “06 tháng,”
được bỏ theo quy định tại điểm a khoản 74 Điều 1 của Luật số 67/2020/QH14 sửa
đổi, bổ sung một số điều của Luật Xử lý vi phạm hành chính, có hiệu lực kể từ
ngày 01 tháng 01 năm 2022.
[19] Khoản này được sửa
đổi, bổ sung theo quy định tại điểm b khoản 6 Điều 1 của Luật số 67/2020/QH14
sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Xử lý vi phạm hành chính, có hiệu lực kể
từ ngày 01 tháng 01 năm 2022.
[20] Cụm từ “06 tháng,”
được bỏ theo quy định tại điểm a khoản 74 Điều 1 của Luật số 67/2020/QH14 sửa
đổi, bổ sung một số điều của Luật Xử lý vi phạm hành chính, có hiệu lực kể từ
ngày 01 tháng 01 năm 2022.
[21] Khoản này được sửa
đổi, bổ sung theo quy định tại điểm c khoản 6 Điều 1 của Luật số 67/2020/QH14
sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Xử lý vi phạm hành chính, có hiệu lực kể
từ ngày 01 tháng 01 năm 2022.
[22] Cụm từ “Chánh án Tòa
án nhân dân tối cao, Tổng Kiểm toán nhà nước,” được bổ sung theo quy định tại
điểm c khoản 72 Điều 1 của Luật số 67/2020/QH14 sửa đổi, bổ sung một số điều
của Luật Xử lý vi phạm hành chính, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 01 năm 2022.
[23] Khoản này được sửa
đổi, bổ sung theo quy định tại khoản 7 Điều 1 của Luật số 67/2020/QH14 sửa đổi,
bổ sung một số điều của Luật Xử lý vi phạm hành chính, có hiệu lực kể từ ngày
01 tháng 01 năm 2022.
[24] Điều này được bổ
sung theo quy định tại khoản 2 Điều 1 của Luật số 88/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung
một số điều của Luật Xử lý vi phạm hành chính, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng
7 năm 2025.
[25] Cụm từ “Các hình
thức xử phạt và nguyên tắc áp dụng” được thay thế bằng cụm từ “Nguyên tắc quy
định các hình thức xử phạt” theo quy định tại điểm c khoản 28 Điều 1 của Luật
số 88/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Xử lý vi phạm hành chính,
có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2025.
[26] Khoản này được sửa
đổi, bổ sung theo quy định tại khoản 8 Điều 1 của Luật số 67/2020/QH14 sửa đổi,
bổ sung một số điều của Luật Xử lý vi phạm hành chính, có hiệu lực kể từ ngày
01 tháng 01 năm 2022.
[27] Cụm từ “trực thuộc
trung ương” được bỏ theo quy định tại điểm a khoản 29 Điều 1 của Luật số
88/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Xử lý vi phạm hành chính, có
hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2025.
[28] Khoản này được sửa
đổi, bổ sung theo quy định tại khoản 9 Điều 1 của Luật số 67/2020/QH14 sửa đổi,
bổ sung một số điều của Luật Xử lý vi phạm hành chính, có hiệu lực kể từ ngày
01 tháng 01 năm 2022.
[29] Cụm từ “trực thuộc
trung ương” được bỏ theo quy định tại điểm a khoản 29 Điều 1 của Luật số
88/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Xử lý vi phạm hành chính, có
hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2025.
[30] Khoản này được sửa
đổi, bổ sung theo quy định tại khoản 9 Điều 1 của Luật số 67/2020/QH14 sửa đổi,
bổ sung một số điều của Luật Xử lý vi phạm hành chính, có hiệu lực kể từ ngày
01 tháng 01 năm 2022.
[31] Khoản này được sửa
đổi, bổ sung theo quy định tại điểm a khoản 10 Điều 1 của Luật số 67/2020/QH14
sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Xử lý vi phạm hành chính, có hiệu lực kể
từ ngày 01 tháng 01 năm 2022.
[32] Điểm này được sửa
đổi, bổ sung theo quy định tại điểm a khoản 3 Điều 1 của Luật số 88/2025/QH15
sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Xử lý vi phạm hành chính, có hiệu lực kể
từ ngày 01 tháng 7 năm 2025.
[33] Cụm từ “kiểm toán
độc lập;” được bỏ theo quy định tại điểm a khoản 2 Điều 9 của Luật số
56/2024/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Chứng khoán, Luật Kế toán,
Luật Kiểm toán độc lập, Luật Ngân sách nhà nước, Luật Quản lý, sử dụng tài sản
công, Luật Quản lý thuế, Luật Thuế thu nhập cá nhân, Luật Dự trữ quốc gia, Luật
Xử lý vi phạm hành chính, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 01 năm 2025.
[34] Điểm này được sửa
đổi, bổ sung theo quy định tại điểm b khoản 3 Điều 1 của Luật số 88/2025/QH15
sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Xử lý vi phạm hành chính, có hiệu lực kể
từ ngày 01 tháng 7 năm 2025.
[35] Cụm từ “an toàn
thông tin mạng;” được bỏ theo quy định tại khoản 11 Điều 43 của Luật An ninh
mạng số 116/2025/QH15, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2026.
[36] Điểm này được sửa
đổi, bổ sung theo quy định tại điểm c khoản 3 Điều 1 của Luật số 88/2025/QH15
sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Xử lý vi phạm hành chính, có hiệu lực kể
từ ngày 01 tháng 7 năm 2025.
[37] Khoản này được sửa
đổi, bổ sung lần thứ nhất theo quy định tại điểm b khoản 10 Điều 1 của Luật số
67/2020/QH14 sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Xử lý vi phạm hành chính, có
hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 01 năm 2022.
Khoản này
được sửa đổi, bổ sung lần thứ hai theo quy định tại điểm d khoản 3 Điều 1 của
Luật số 88/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Xử lý vi phạm hành
chính, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2025.
[38] Khoản này được sửa
đổi, bổ sung theo quy định tại khoản 11 Điều 1 của Luật số 67/2020/QH14 sửa
đổi, bổ sung một số điều của Luật Xử lý vi phạm hành chính, có hiệu lực kể từ
ngày 01 tháng 01 năm 2022.
[39] Cụm từ “Việc xử lý
tang vật, phương tiện vi phạm hành chính bị tịch thu được thực hiện theo quy
định tại Điều 82 của Luật này.” được bỏ theo quy định tại điểm b khoản 74 Điều
1 của Luật số 67/2020/QH14 sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Xử lý vi phạm
hành chính, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 01 năm 2022.
[40] Từ “tháo dỡ” được
thay bằng từ “phá dỡ” theo quy định tại điểm a khoản 73 Điều 1 của Luật số
67/2020/QH14 sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Xử lý vi phạm hành chính, có
hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 01 năm 2022.
[41] Từ “tháo dỡ” được
thay bằng từ “phá dỡ” theo quy định tại điểm a khoản 73 Điều 1 của Luật số
67/2020/QH14 sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Xử lý vi phạm hành chính, có
hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 01 năm 2022.
[42] Từ “tháo dỡ” được
thay bằng từ “phá dỡ” theo quy định tại điểm a khoản 73 Điều 1 của Luật số
67/2020/QH14 sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Xử lý vi phạm hành chính, có
hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 01 năm 2022.
[43] Điều này được bổ
sung theo quy định tại khoản 4 Điều 1 của Luật số 88/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung
một số điều của Luật Xử lý vi phạm hành chính, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng
7 năm 2025.
[44] Điều này được bãi bỏ
theo quy định tại khoản 30 Điều 1 của Luật số 88/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một
số điều của Luật Xử lý vi phạm hành chính, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7
năm 2025.
[45] Điều này được bãi bỏ
theo quy định tại khoản 30 Điều 1 của Luật số 88/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một
số điều của Luật Xử lý vi phạm hành chính, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7
năm 2025.
[46] Điều này được bãi bỏ
theo quy định tại khoản 30 Điều 1 của Luật số 88/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một
số điều của Luật Xử lý vi phạm hành chính, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7
năm 2025.
[47] Điều này được bãi bỏ
theo quy định tại khoản 30 Điều 1 của Luật số 88/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một
số điều của Luật Xử lý vi phạm hành chính, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7
năm 2025.
[48] Điều này được bãi bỏ
theo quy định tại khoản 30 Điều 1 của Luật số 88/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một
số điều của Luật Xử lý vi phạm hành chính, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7
năm 2025.
[49] Điều này được bãi bỏ
theo quy định tại khoản 30 Điều 1 của Luật số 88/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một
số điều của Luật Xử lý vi phạm hành chính, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7
năm 2025.
[50] Điều này được bãi bỏ
theo quy định tại khoản 30 Điều 1 của Luật số 88/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một
số điều của Luật Xử lý vi phạm hành chính, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7
năm 2025.
[51] Điều này được bãi bỏ
theo quy định tại khoản 30 Điều 1 của Luật số 88/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một
số điều của Luật Xử lý vi phạm hành chính, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7
năm 2025.
[52] Điều này được bãi bỏ
theo quy định tại khoản 30 Điều 1 của Luật số 88/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một
số điều của Luật Xử lý vi phạm hành chính, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7
năm 2025.
[53] Điều này được bãi bỏ
theo quy định tại khoản 30 Điều 1 của Luật số 88/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một
số điều của Luật Xử lý vi phạm hành chính, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7
năm 2025.
[54] Điều này được bãi bỏ
theo quy định tại khoản 30 Điều 1 của Luật số 88/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một
số điều của Luật Xử lý vi phạm hành chính, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7
năm 2025.
[55] Điều này được bãi bỏ
theo quy định tại khoản 30 Điều 1 của Luật số 88/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một
số điều của Luật Xử lý vi phạm hành chính, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7
năm 2025.
[56] Điều này được bãi bỏ
theo quy định tại khoản 30 Điều 1 của Luật số 88/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một
số điều của Luật Xử lý vi phạm hành chính, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7
năm 2025.
[57] Điều này được bãi bỏ
theo quy định tại khoản 30 Điều 1 của Luật số 88/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một
số điều của Luật Xử lý vi phạm hành chính, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7
năm 2025.
[58] Điều này được bãi bỏ
theo quy định tại khoản 30 Điều 1 của Luật số 88/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một
số điều của Luật Xử lý vi phạm hành chính, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7
năm 2025.
[59] Điều này được bãi bỏ
theo quy định tại khoản 75 Điều 1 của Luật số 67/2020/QH14 sửa đổi, bổ sung một
số điều của Luật Xử lý vi phạm hành chính, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 01
năm 2022.
[60] Điều này được bãi bỏ
theo quy định tại khoản 30 Điều 1 của Luật số 88/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một
số điều của Luật Xử lý vi phạm hành chính, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7
năm 2025.
[61] Khoản này được sửa
đổi, bổ sung theo quy định tại điểm a khoản 5 Điều 1 của Luật số 88/2025/QH15
sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Xử lý vi phạm hành chính, có hiệu lực kể
từ ngày 01 tháng 7 năm 2025.
[62] Khoản này được sửa
đổi, bổ sung theo quy định tại điểm b khoản 5 Điều 1 của Luật số 88/2025/QH15
sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Xử lý vi phạm hành chính, có hiệu lực kể
từ ngày 01 tháng 7 năm 2025.
[63] Đoạn mở đầu này được
sửa đổi, bổ sung theo quy định tại khoản 26 Điều 1 của Luật số 67/2020/QH14 sửa
đổi, bổ sung một số điều của Luật Xử lý vi phạm hành chính, có hiệu lực kể từ
ngày 01 tháng 01 năm 2022.
[64] Điều này được sửa
đổi, bổ sung lần thứ nhất theo quy định tại khoản 27 Điều 1 của Luật số
67/2020/QH14 sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Xử lý vi phạm hành chính, có
hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 01 năm 2022.
Điều này
được sửa đổi, bổ sung lần thứ hai theo quy định tại khoản 6 Điều 1 của Luật số
88/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Xử lý vi phạm hành chính, có
hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2025.
[65] Điều này được sửa
đổi, bổ sung theo quy định tại khoản 28 Điều 1 của Luật số 67/2020/QH14 sửa
đổi, bổ sung một số điều của Luật Xử lý vi phạm hành chính, có hiệu lực kể từ
ngày 01 tháng 01 năm 2022.
[66] Khoản này được sửa
đổi, bổ sung theo quy định tại khoản 7 Điều 1 của Luật số 88/2025/QH15 sửa đổi,
bổ sung một số điều của Luật Xử lý vi phạm hành chính, có hiệu lực kể từ ngày
01 tháng 7 năm 2025.
[67] Điều này được sửa
đổi, bổ sung theo quy định tại khoản 8 Điều 1 của Luật số 88/2025/QH15 sửa đổi,
bổ sung một số điều của Luật Xử lý vi phạm hành chính, có hiệu lực kể từ ngày
01 tháng 7 năm 2025.
[68] Cụm từ “đoạn 1” được
bỏ theo quy định tại điểm b khoản 29 Điều 1 của Luật số 88/2025/QH15 sửa đổi,
bổ sung một số điều của Luật Xử lý vi phạm hành chính, có hiệu lực kể từ ngày
01 tháng 7 năm 2025.
[69] Điều này được sửa
đổi, bổ sung theo quy định tại khoản 29 Điều 1 của Luật số 67/2020/QH14 sửa
đổi, bổ sung một số điều của Luật Xử lý vi phạm hành chính, có hiệu lực kể từ
ngày 01 tháng 01 năm 2022.
[70] Khoản này được sửa
đổi, bổ sung theo quy định tại điểm a khoản 9 Điều 1 của Luật số 88/2025/QH15
sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Xử lý vi phạm hành chính, có hiệu lực kể
từ ngày 01 tháng 7 năm 2025.
[71] Điểm này được sửa
đổi, bổ sung theo quy định tại điểm b khoản 9 Điều 1 của Luật số 88/2025/QH15
sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Xử lý vi phạm hành chính, có hiệu lực kể
từ ngày 01 tháng 7 năm 2025.
[72] Khoản này được sửa
đổi, bổ sung theo quy định tại điểm c khoản 9 Điều 1 của Luật số 88/2025/QH15
sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Xử lý vi phạm hành chính, có hiệu lực kể
từ ngày 01 tháng 7 năm 2025.
[73] Cụm từ “người có
thẩm quyền lập biên bản vi phạm hành chính hoặc” được bổ sung theo quy định tại
khoản 27 Điều 1 của Luật số 88/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật
Xử lý vi phạm hành chính, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2025.
[74] Khoản này được bổ
sung theo quy định tại khoản 10 Điều 1 của Luật số 88/2025/QH15 sửa đổi, bổ
sung một số điều của Luật Xử lý vi phạm hành chính, có hiệu lực kể từ ngày 01
tháng 7 năm 2025.
[75] Cụm từ “, phương
tiện” được bổ sung theo quy định tại điểm d khoản 72 Điều 1 của Luật số
67/2020/QH14 sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Xử lý vi phạm hành chính, có
hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 01 năm 2022.
[76] Cụm từ “, phương
tiện” được bổ sung theo quy định tại điểm d khoản 72 Điều 1 của Luật số
67/2020/QH14 sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Xử lý vi phạm hành chính, có
hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 01 năm 2022.
[77] Cụm từ “, phương
tiện” được bổ sung theo quy định tại điểm d khoản 72 Điều 1 của Luật số
67/2020/QH14 sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Xử lý vi phạm hành chính, có
hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 01 năm 2022.
[78] Cụm từ “, phương
tiện” được bổ sung theo quy định tại điểm d khoản 72 Điều 1 của Luật số
67/2020/QH14 sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Xử lý vi phạm hành chính, có
hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 01 năm 2022.
[79] Cụm từ “, phương
tiện” được bổ sung theo quy định tại điểm d khoản 72 Điều 1 của Luật số
67/2020/QH14 sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Xử lý vi phạm hành chính, có
hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 01 năm 2022.
[80] Cụm từ “, phương
tiện” được bổ sung theo quy định tại điểm d khoản 72 Điều 1 của Luật số
67/2020/QH14 sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Xử lý vi phạm hành chính, có
hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 01 năm 2022.
[81] Cụm từ “, phương
tiện” được bổ sung theo quy định tại điểm d khoản 72 Điều 1 của Luật số
67/2020/QH14 sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Xử lý vi phạm hành chính, có
hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 01 năm 2022.
[82] Khoản này được sửa
đổi, bổ sung theo quy định tại khoản 11 Điều 1 của Luật số 88/2025/QH15 sửa
đổi, bổ sung một số điều của Luật Xử lý vi phạm hành chính, có hiệu lực kể từ
ngày 01 tháng 7 năm 2025.
[83] Cụm từ “, phương
tiện” được bổ sung theo quy định tại điểm d khoản 72 Điều 1 của Luật số
67/2020/QH14 sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Xử lý vi phạm hành chính, có
hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 01 năm 2022.
[84] Điều này được sửa
đổi, bổ sung theo quy định tại khoản 30 Điều 1 của Luật số 67/2020/QH14 sửa
đổi, bổ sung một số điều của Luật Xử lý vi phạm hành chính, có hiệu lực kể từ
ngày 01 tháng 01 năm 2022.
[85] Khoản này được sửa
đổi, bổ sung theo quy định tại khoản 12 Điều 1 của Luật số 88/2025/QH15 sửa
đổi, bổ sung một số điều của Luật Xử lý vi phạm hành chính, có hiệu lực kể từ
ngày 01 tháng 7 năm 2025.
[86] Cụm từ “03 ngày”
được thay thế bằng cụm từ “05 ngày làm việc” theo quy định tại điểm d khoản 28
Điều 1 của Luật số 88/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Xử lý vi
phạm hành chính, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2025.
[87] Cụm từ “cơ quan tiến
hành tố tụng” được thay bằng cụm từ “cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng”
theo quy định tại điểm e khoản 73 Điều 1 của Luật số 67/2020/QH14 sửa đổi, bổ
sung một số điều của Luật Xử lý vi phạm hành chính, có hiệu lực kể từ ngày 01
tháng 01 năm 2022.
[88] Cụm từ “cơ quan tiến
hành tố tụng” được thay bằng cụm từ “cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng”
theo quy định tại điểm e khoản 73 Điều 1 của Luật số 67/2020/QH14 sửa đổi, bổ
sung một số điều của Luật Xử lý vi phạm hành chính, có hiệu lực kể từ ngày 01
tháng 01 năm 2022.
[89] Cụm từ “cơ quan tiến
hành tố tụng” được thay bằng cụm từ “cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng”
theo quy định tại điểm e khoản 73 Điều 1 của Luật số 67/2020/QH14 sửa đổi, bổ
sung một số điều của Luật Xử lý vi phạm hành chính, có hiệu lực kể từ ngày 01
tháng 01 năm 2022.
[90] Cụm từ “03 ngày”
được thay thế bằng cụm từ “05 ngày làm việc” theo quy định tại điểm d khoản 28
Điều 1 của Luật số 88/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Xử lý vi
phạm hành chính, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2025.
[91] Cụm từ “kể từ ngày
có quyết định không khởi tố vụ án hình sự” được thay thế bằng cụm từ “kể từ
ngày quyết định không khởi tố vụ án hình sự có hiệu lực” theo quy định tại điểm
đ khoản 28 Điều 1 của Luật số 88/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật
Xử lý vi phạm hành chính, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2025.
[92] Cụm từ “cơ quan tiến
hành tố tụng” được thay bằng cụm từ “cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng”
theo quy định tại điểm e khoản 73 Điều 1 của Luật số 67/2020/QH14 sửa đổi, bổ
sung một số điều của Luật Xử lý vi phạm hành chính, có hiệu lực kể từ ngày 01
tháng 01 năm 2022.
[93] Cụm từ “cơ quan tiến
hành tố tụng” được thay bằng cụm từ “cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng”
theo quy định tại điểm e khoản 73 Điều 1 của Luật số 67/2020/QH14 sửa đổi, bổ
sung một số điều của Luật Xử lý vi phạm hành chính, có hiệu lực kể từ ngày 01
tháng 01 năm 2022.
[94] Cụm từ “cơ quan tiến
hành tố tụng” được thay bằng cụm từ “cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng”
theo quy định tại điểm e khoản 73 Điều 1 của Luật số 67/2020/QH14 sửa đổi, bổ
sung một số điều của Luật Xử lý vi phạm hành chính, có hiệu lực kể từ ngày 01
tháng 01 năm 2022.
[95] Cụm từ “, tổ chức”
được bổ sung theo quy định tại điểm b khoản 72 Điều 1 của Luật số 67/2020/QH14
sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Xử lý vi phạm hành chính, có hiệu lực kể
từ ngày 01 tháng 01 năm 2022.
[96] Khoản này được sửa
đổi, bổ sung lần thứ nhất theo quy định tại khoản 31 Điều 1 của Luật số
67/2020/QH14 sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Xử lý vi phạm hành chính, có
hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 01 năm 2022.
Khoản này
được sửa đổi, bổ sung lần thứ hai theo quy định tại khoản 13 Điều 1 của Luật số
88/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Xử lý vi phạm hành chính, có
hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2025.
[97] Khoản này được sửa
đổi, bổ sung theo quy định tại khoản 31 Điều 1 của Luật số 67/2020/QH14 sửa
đổi, bổ sung một số điều của Luật Xử lý vi phạm hành chính, có hiệu lực kể từ
ngày 01 tháng 01 năm 2022.
[98] Điều này được sửa
đổi, bổ sung theo quy định tại khoản 32 Điều 1 của Luật số 67/2020/QH14 sửa
đổi, bổ sung một số điều của Luật Xử lý vi phạm hành chính, có hiệu lực kể từ
ngày 01 tháng 01 năm 2022.
[99] Cụm từ “, tần số vô
tuyến điện” được bổ sung theo quy định tại khoản 2 Điều 2 của Luật số
09/2022/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Tần số vô tuyến điện, có
hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2023.
[100] Khoản này được sửa
đổi, bổ sung theo quy định tại khoản 33 Điều 1 của Luật số 67/2020/QH14 sửa
đổi, bổ sung một số điều của Luật Xử lý vi phạm hành chính, có hiệu lực kể từ
ngày 01 tháng 01 năm 2022.
[101] Điều này được sửa
đổi, bổ sung theo quy định tại khoản 34 Điều 1 của Luật số 67/2020/QH14 sửa
đổi, bổ sung một số điều của Luật Xử lý vi phạm hành chính, có hiệu lực kể từ
ngày 01 tháng 01 năm 2022.
[102] Cụm từ “và họ tên,
chức vụ của người đại diện theo pháp luật” được bổ sung theo quy định tại điểm
đ khoản 72 Điều 1 của Luật số 67/2020/QH14 sửa đổi, bổ sung một số điều của
Luật Xử lý vi phạm hành chính, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 01 năm 2022.
[103] Điều này được sửa
đổi, bổ sung theo quy định tại khoản 14 Điều 1 của Luật số 88/2025/QH14 sửa
đổi, bổ sung một số điều của Luật Xử lý vi phạm hành chính, có hiệu lực kể từ
ngày 01 tháng 7 năm 2025.
[104] Khoản này được sửa
đổi, bổ sung theo quy định tại khoản 15 Điều 1 của Luật số 88/2025/QH14 sửa
đổi, bổ sung một số điều của Luật Xử lý vi phạm hành chính, có hiệu lực kể từ
ngày 01 tháng 7 năm 2025.
[105] Khoản này được sửa
đổi, bổ sung theo quy định tại khoản 35 Điều 1 của Luật số 67/2020/QH14 sửa
đổi, bổ sung một số điều của Luật Xử lý vi phạm hành chính, có hiệu lực kể từ
ngày 01 tháng 01 năm 2022.
Khoản này
được bãi bỏ theo quy định tại khoản 30 Điều 1 của Luật số 88/2025/QH15 sửa đổi,
bổ sung một số điều của Luật Xử lý vi phạm hành chính, có hiệu lực kể từ ngày
01 tháng 7 năm 2025.
[106] Khoản này được sửa
đổi, bổ sung theo quy định tại khoản 35 Điều 1 của Luật số 67/2020/QH14 sửa
đổi, bổ sung một số điều của Luật Xử lý vi phạm hành chính, có hiệu lực kể từ
ngày 01 tháng 01 năm 2022.
[107] Khoản này được sửa
đổi, bổ sung theo quy định tại khoản 36 Điều 1 của Luật số 67/2020/QH14 sửa
đổi, bổ sung một số điều của Luật Xử lý vi phạm hành chính, có hiệu lực kể từ
ngày 01 tháng 01 năm 2022.
[108] Điều này được sửa
đổi, bổ sung theo quy định tại khoản 37 Điều 1 của Luật số 67/2020/QH14 sửa
đổi, bổ sung một số điều của Luật Xử lý vi phạm hành chính, có hiệu lực kể từ
ngày 01 tháng 01 năm 2022.
[109] Cụm từ “cơ sở khám
bệnh, chữa bệnh tuyến huyện” được thay thế bằng cụm từ “cơ sở khám bệnh, chữa
bệnh cấp cơ bản” theo quy định tại điểm e khoản 28 Điều 1 của Luật số
88/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Xử lý vi phạm hành chính, có
hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2025.
[110] Điều này được sửa
đổi, bổ sung theo quy định tại khoản 38 Điều 1 của Luật số 67/2020/QH14 sửa
đổi, bổ sung một số điều của Luật Xử lý vi phạm hành chính, có hiệu lực kể từ
ngày 01 tháng 01 năm 2022.
[111] Cụm từ “cơ sở khám
bệnh, chữa bệnh tuyến huyện” được thay thế bằng cụm từ “cơ sở khám bệnh, chữa
bệnh cấp cơ bản” theo quy định tại điểm e khoản 28 Điều 1 của Luật số
88/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Xử lý vi phạm hành chính, có
hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2025.
[112] Cụm từ “cơ sở khám
bệnh, chữa bệnh tuyến huyện” được thay thế bằng cụm từ “cơ sở khám bệnh, chữa
bệnh cấp cơ bản” theo quy định tại điểm e khoản 28 Điều 1 của Luật số
88/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Xử lý vi phạm hành chính, có
hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2025.
[113] Khoản này được sửa
đổi, bổ sung theo quy định tại khoản 39 Điều 1 của Luật số 67/2020/QH14 sửa
đổi, bổ sung một số điều của Luật Xử lý vi phạm hành chính, có hiệu lực kể từ
ngày 01 tháng 01 năm 2022.
[114] Khoản này được sửa
đổi, bổ sung theo quy định tại khoản 40 Điều 1 của Luật số 67/2020/QH14 sửa
đổi, bổ sung một số điều của Luật Xử lý vi phạm hành chính, có hiệu lực kể từ
ngày 01 tháng 01 năm 2022.
[115] Khoản này được sửa
đổi, bổ sung theo quy định tại khoản 41 Điều 1 của Luật số 67/2020/QH14 sửa
đổi, bổ sung một số điều của Luật Xử lý vi phạm hành chính, có hiệu lực kể từ
ngày 01 tháng 01 năm 2022.
[116] Khoản này được bổ
sung theo quy định tại khoản 42 Điều 1 của Luật số 67/2020/QH14 sửa đổi, bổ
sung một số điều của Luật Xử lý vi phạm hành chính, có hiệu lực kể từ ngày 01
tháng 01 năm 2022.
[117] Điều này được bãi
bỏ theo quy định tại khoản 75 Điều 1 của Luật số 67/2020/QH14 sửa đổi, bổ sung
một số điều của Luật Xử lý vi phạm hành chính, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng
01 năm 2022.
[118] Khoản này được sửa
đổi, bổ sung theo quy định tại khoản 43 Điều 1 của Luật số 67/2020/QH14 sửa
đổi, bổ sung một số điều của Luật Xử lý vi phạm hành chính, có hiệu lực kể từ
ngày 01 tháng 01 năm 2022.
[119] Điều này được sửa
đổi, bổ sung lần thứ nhất theo quy định tại khoản 44 Điều 1 của Luật số
67/2020/QH14 sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Xử lý vi phạm hành chính, có
hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 01 năm 2022.
Điều này
được sửa đổi, bổ sung lần thứ hai theo quy định tại khoản 16 Điều 1 của Luật số
88/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Xử lý vi phạm hành chính, có
hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2025.
[120] Khoản này được sửa
đổi, bổ sung theo quy định tại điểm a khoản 45 Điều 1 của Luật số 67/2020/QH14
sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Xử lý vi phạm hành chính, có hiệu lực kể
từ ngày 01 tháng 01 năm 2022.
[121] Khoản này được bổ
sung theo quy định tại điểm b khoản 45 Điều 1 của Luật số 67/2020/QH14 sửa đổi,
bổ sung một số điều của Luật Xử lý vi phạm hành chính, có hiệu lực kể từ ngày
01 tháng 01 năm 2022.
[122] Điểm này được sửa
đổi, bổ sung theo quy định tại điểm c khoản 45 Điều 1 của Luật số 67/2020/QH14
sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Xử lý vi phạm hành chính, có hiệu lực kể
từ ngày 01 tháng 01 năm 2022.
[123] Cụm từ “xã,
phường, thị trấn” được thay thế bằng cụm từ “xã, phường, đặc khu” theo quy định
tại điểm a khoản 28 Điều 1 của Luật số 88/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số
điều của Luật Xử lý vi phạm hành chính, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm
2025.
[124] Cụm từ “xã,
phường, thị trấn” được thay thế bằng cụm từ “xã, phường, đặc khu” theo quy định
tại điểm a khoản 28 Điều 1 của Luật số 88/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số
điều của Luật Xử lý vi phạm hành chính, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm
2025.
[125] Cụm từ “xã,
phường, thị trấn” được thay thế bằng cụm từ “xã, phường, đặc khu” theo quy định
tại điểm a khoản 28 Điều 1 của Luật số 88/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số
điều của Luật Xử lý vi phạm hành chính, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm
2025.
[126] Điều này được sửa
đổi, bổ sung theo quy định tại khoản 46 Điều 1 của Luật số 67/2020/QH14 sửa
đổi, bổ sung một số điều của Luật Xử lý vi phạm hành chính, có hiệu lực kể từ
ngày 01 tháng 01 năm 2022.
Cụm từ
“xã, phường, thị trấn” được thay thế bằng cụm từ “xã, phường, đặc khu” theo quy
định tại điểm a khoản 28 Điều 1 của Luật số 88/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một
số điều của Luật Xử lý vi phạm hành chính, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7
năm 2025.
[127] Khoản này được bãi
bỏ theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 54 của Luật Phòng, chống ma túy số
120/2025/QH15, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2026.
[128] Khoản này được sửa
đổi, bổ sung theo quy định tại điểm a khoản 2 Điều 54 của Luật Phòng, chống ma
túy số 120/2025/QH15, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2026.
[129] Điều này được sửa
đổi, bổ sung theo quy định tại khoản 47 Điều 1 của Luật số 67/2020/QH14 sửa
đổi, bổ sung một số điều của Luật Xử lý vi phạm hành chính, có hiệu lực kể từ
ngày 01 tháng 01 năm 2022.
[130] Cụm từ “xã,
phường, thị trấn” được thay thế bằng cụm từ “xã, phường, đặc khu” theo quy định
tại điểm a khoản 28 Điều 1 của Luật số 88/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số
điều của Luật Xử lý vi phạm hành chính, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm
2025.
[131] Cụm từ “xã,
phường, thị trấn” được thay thế bằng cụm từ “xã, phường, đặc khu” theo quy định
tại điểm a khoản 28 Điều 1 của Luật số 88/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số
điều của Luật Xử lý vi phạm hành chính, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm
2025.
[132] Cụm từ “cơ sở khám
bệnh, chữa bệnh từ tuyến huyện” được thay thế bằng cụm từ “cơ sở khám bệnh,
chữa bệnh từ cấp cơ bản” theo quy định tại điểm g khoản 28 Điều 1 của Luật số
88/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Xử lý vi phạm hành chính, có
hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2025.
[133] Khoản này được sửa
đổi, bổ sung theo quy định tại khoản 48 Điều 1 của Luật số 67/2020/QH14 sửa
đổi, bổ sung một số điều của Luật Xử lý vi phạm hành chính, có hiệu lực kể từ
ngày 01 tháng 01 năm 2022.
[134] Cụm từ “xã,
phường, thị trấn” được thay thế bằng cụm từ “xã, phường, đặc khu” theo quy định
tại điểm a khoản 28 Điều 1 của Luật số 88/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số
điều của Luật Xử lý vi phạm hành chính, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm
2025.
[135] Cụm từ “cơ sở khám
bệnh, chữa bệnh từ tuyến huyện” được thay thế bằng cụm từ “cơ sở khám bệnh,
chữa bệnh từ cấp cơ bản” theo quy định tại điểm g khoản 28 Điều 1 của Luật số
88/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Xử lý vi phạm hành chính, có
hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2025.
[136] Từ “bệnh viện”
được thay bằng cụm từ “cơ sở khám bệnh, chữa bệnh từ tuyến huyện trở lên” theo
quy định tại điểm g khoản 73 Điều 1 của Luật số 67/2020/QH14 sửa đổi, bổ sung
một số điều của Luật Xử lý vi phạm hành chính, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng
01 năm 2022.
[137] Điều này được sửa
đổi, bổ sung theo quy định tại khoản 3 Điều 54 của Luật Phòng, chống ma túy số
120/2025/QH15, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2026.
[138] Điều này được bãi
bỏ theo quy định tại khoản 10 Điều 54 của Luật Phòng, chống ma túy số
120/2025/QH15, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2026.
[139] Cụm từ “xã,
phường, thị trấn” được thay thế bằng cụm từ “xã, phường, đặc khu” theo quy định
tại điểm a khoản 28 Điều 1 của Luật số 88/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số
điều của Luật Xử lý vi phạm hành chính, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm
2025.
[140] Cụm từ “xã,
phường, thị trấn” được thay thế bằng cụm từ “xã, phường, đặc khu” theo quy định
tại điểm a khoản 28 Điều 1 của Luật số 88/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số
điều của Luật Xử lý vi phạm hành chính, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm
2025.
[141] Cụm từ “Công an
cấp huyện hoặc” được bỏ theo quy định tại điểm c khoản 29 Điều 1 của Luật số
88/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Xử lý vi phạm hành chính, có
hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2025.
[142] Cụm từ “xã,
phường, thị trấn” được thay thế bằng cụm từ “xã, phường, đặc khu” theo quy định
tại điểm a khoản 28 Điều 1 của Luật số 88/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số
điều của Luật Xử lý vi phạm hành chính, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm
2025.
[143] Cụm từ “xã,
phường, thị trấn” được thay thế bằng cụm từ “xã, phường, đặc khu” theo quy định
tại điểm a khoản 28 Điều 1 của Luật số 88/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số
điều của Luật Xử lý vi phạm hành chính, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm
2025.
[144] Khoản này được sửa
đổi, bổ sung theo quy định tại khoản 50 Điều 1 của Luật số 67/2020/QH14 sửa
đổi, bổ sung một số điều của Luật Xử lý vi phạm hành chính, có hiệu lực kể từ
ngày 01 tháng 01 năm 2022.
[145] Cụm từ “xã,
phường, thị trấn” được thay thế bằng cụm từ “xã, phường, đặc khu” theo quy định
tại điểm a khoản 28 Điều 1 của Luật số 88/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số
điều của Luật Xử lý vi phạm hành chính, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm
2025.
[146] Khoản này được sửa
đổi, bổ sung theo quy định tại khoản 51 Điều 1 của Luật số 67/2020/QH14 sửa
đổi, bổ sung một số điều của Luật Xử lý vi phạm hành chính, có hiệu lực kể từ
ngày 01 tháng 01 năm 2022.
[147] Cụm từ “xã,
phường, thị trấn” được thay thế bằng cụm từ “xã, phường, đặc khu” theo quy định
tại điểm a khoản 28 Điều 1 của Luật số 88/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số
điều của Luật Xử lý vi phạm hành chính, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm
2025.
[148] Cụm từ “03 ngày”
được thay bằng cụm từ “02 ngày làm việc” theo quy định tại điểm h khoản 73 Điều
1 của Luật số 67/2020/QH14 sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Xử lý vi phạm
hành chính, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 01 năm 2022.
[149] Cụm từ “xã,
phường, thị trấn” được thay thế bằng cụm từ “xã, phường, đặc khu” theo quy định
tại điểm a khoản 28 Điều 1 của Luật số 88/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số
điều của Luật Xử lý vi phạm hành chính, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm
2025.
[150] Cụm từ “xã,
phường, thị trấn” được thay thế bằng cụm từ “xã, phường, đặc khu” theo quy định
tại điểm a khoản 28 Điều 1 của Luật số 88/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số
điều của Luật Xử lý vi phạm hành chính, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm
2025.
[151] Cụm từ “xã,
phường, thị trấn” được thay thế bằng cụm từ “xã, phường, đặc khu” theo quy định
tại điểm a khoản 28 Điều 1 của Luật số 88/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số
điều của Luật Xử lý vi phạm hành chính, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm
2025.
[152] Cụm từ “xã,
phường, thị trấn” được thay thế bằng cụm từ “xã, phường, đặc khu” theo quy định
tại điểm a khoản 28 Điều 1 của Luật số 88/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số
điều của Luật Xử lý vi phạm hành chính, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm
2025.
[153] Điều này được sửa
đổi, bổ sung theo quy định tại khoản 17 Điều 1 của Luật số 88/2025/QH15 sửa
đổi, bổ sung một số điều của Luật Xử lý vi phạm hành chính, có hiệu lực kể từ
ngày 01 tháng 7 năm 2025.
[154] Điều này được sửa
đổi, bổ sung theo quy định tại khoản 18 Điều 1 của Luật số 88/2025/QH15 sửa
đổi, bổ sung một số điều của Luật Xử lý vi phạm hành chính, có hiệu lực kể từ
ngày 01 tháng 7 năm 2025.
[155] Điều này được sửa
đổi, bổ sung theo quy định tại khoản 19 Điều 1 của Luật số 88/2025/QH15 sửa
đổi, bổ sung một số điều của Luật Xử lý vi phạm hành chính, có hiệu lực kể từ
ngày 01 tháng 7 năm 2025.
[156] Khoản này được bãi
bỏ theo quy định tại khoản 10 Điều 54 của Luật Phòng, chống ma túy số
120/2025/QH15, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2026.
[157] Cụm từ “Trưởng cơ
sở cai nghiện bắt buộc, cơ quan, đơn vị” được thay thế bằng cụm từ “Cơ quan,
đơn vị” theo quy định tại khoản 8 Điều 54 của Luật Phòng, chống ma túy số
120/2025/QH15, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2026.
[158] Điều này được sửa
đổi, bổ sung theo quy định tại khoản 20 Điều 1 của Luật số 88/2025/QH15 sửa
đổi, bổ sung một số điều của Luật Xử lý vi phạm hành chính, có hiệu lực kể từ
ngày 01 tháng 7 năm 2025.
[159] Cụm từ “và Điều
118” được bỏ theo quy định tại khoản 9 Điều 54 của Luật Phòng, chống ma túy số
120/2025/QH15, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2026.
[160] Điều này được bãi
bỏ theo quy định tại khoản 10 Điều 54 của Luật Phòng, chống ma túy số
120/2025/QH15, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2026.
[161] Điều này được bãi
bỏ theo quy định tại khoản 10 Điều 54 của Luật Phòng, chống ma túy số
120/2025/QH15, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2026.
[162] Cụm từ “xã,
phường, thị trấn” được thay thế bằng cụm từ “xã, phường, đặc khu” theo quy định
tại điểm a khoản 28 Điều 1 của Luật số 88/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số
điều của Luật Xử lý vi phạm hành chính, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm
2025.
[163] Cụm từ “Tòa án
nhân dân cấp huyện” được thay thế bằng cụm từ “Tòa án nhân dân khu vực” theo
quy định tại điểm n khoản 28 Điều 1 của Luật số 88/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung
một số điều của Luật Xử lý vi phạm hành chính, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng
7 năm 2025.
[164] Cụm từ “, đưa vào
cơ sở cai nghiện bắt buộc” được bỏ theo quy định tại khoản 9 Điều 54 của Luật
Phòng, chống ma túy số 120/2025/QH15, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm
2026.
[165] Cụm từ “, đưa vào
cơ sở cai nghiện bắt buộc” được bỏ theo quy định tại khoản 9 Điều 54 của Luật
Phòng, chống ma túy số 120/2025/QH15, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm
2026.
[166] Điều này được sửa
đổi, bổ sung theo quy định tại khoản 58 Điều 1 của Luật số 67/2020/QH14 sửa
đổi, bổ sung một số điều của Luật Xử lý vi phạm hành chính, có hiệu lực kể từ
ngày 01 tháng 01 năm 2022.
Cụm từ
“và đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc” được bỏ theo quy định tại khoản 9 Điều
54 của Luật Phòng, chống ma túy số 120/2025/QH15, có hiệu lực kể từ ngày 01
tháng 7 năm 2026.
[167] Cụm từ “hoặc cơ
quan Công an cùng cấp trong trường hợp Công an cấp tỉnh lập hồ sơ đề nghị” được
bỏ theo quy định tại điểm d khoản 29 Điều 1 của Luật số 88/2025/QH15 sửa đổi,
bổ sung một số điều của Luật Xử lý vi phạm hành chính, có hiệu lực kể từ ngày 01
tháng 7 năm 2025.
[168] Cụm từ “xã,
phường, thị trấn” được thay thế bằng cụm từ “xã, phường, đặc khu” theo quy định
tại điểm a khoản 28 Điều 1 của Luật số 88/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số
điều của Luật Xử lý vi phạm hành chính, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm
2025.
[169] Cụm từ “và quyết
định áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc” được bỏ theo quy định
tại khoản 9 Điều 54 của Luật Phòng, chống ma túy số 120/2025/QH15, có hiệu lực
kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2026.
[170] Cụm từ “xã,
phường, thị trấn” được thay thế bằng cụm từ “xã, phường, đặc khu” theo quy định
tại điểm a khoản 28 Điều 1 của Luật số 88/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số
điều của Luật Xử lý vi phạm hành chính, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm
2025.
[171] Cụm từ “xã,
phường, thị trấn” được thay thế bằng cụm từ “xã, phường, đặc khu” theo quy định
tại điểm a khoản 28 Điều 1 của Luật số 88/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số
điều của Luật Xử lý vi phạm hành chính, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm
2025.
[172] Cụm từ “xã,
phường, thị trấn” được thay thế bằng cụm từ “xã, phường, đặc khu” theo quy định
tại điểm a khoản 28 Điều 1 của Luật số 88/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số
điều của Luật Xử lý vi phạm hành chính, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm
2025.
[173] Cụm từ “xã,
phường, thị trấn” được thay thế bằng cụm từ “xã, phường, đặc khu” theo quy định
tại điểm a khoản 28 Điều 1 của Luật số 88/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số
điều của Luật Xử lý vi phạm hành chính, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm
2025.
[174] Cụm từ “xã,
phường, thị trấn” được thay thế bằng cụm từ “xã, phường, đặc khu” theo quy định
tại điểm a khoản 28 Điều 1 của Luật số 88/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số
điều của Luật Xử lý vi phạm hành chính, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm
2025.
[175] Cụm từ “, quyết
định đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc” được bỏ theo quy định tại khoản 9 Điều
54 của Luật Phòng, chống ma túy số 120/2025/QH15, có hiệu lực kể từ ngày 01
tháng 7 năm 2026.
[176] Khoản này được sửa
đổi, bổ sung lần thứ nhất theo quy định tại khoản 59 Điều 1 của Luật số
67/2020/QH14 sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Xử lý vi phạm hành chính, có
hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 01 năm 2022.
Khoản này
được sửa đổi, bổ sung lần thứ hai theo quy định tại khoản 23 Điều 1 của Luật số
88/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Xử lý vi phạm hành chính, có
hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2025.
[177] Cụm từ “hoặc quyết
định đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc” được bỏ theo quy định tại khoản 9 Điều
54 của Luật Phòng, chống ma túy số 120/2025/QH15, có hiệu lực kể từ ngày 01
tháng 7 năm 2026.
[178] Cụm từ “, cơ sở
cai nghiện bắt buộc” được bỏ theo quy định tại khoản 9 Điều 54 của Luật Phòng,
chống ma túy số 120/2025/QH15, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2026.
[179] Cụm từ “, cơ sở
cai nghiện bắt buộc” được bỏ theo quy định tại khoản 9 Điều 54 của Luật Phòng,
chống ma túy số 120/2025/QH15, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2026.
[180] Cụm từ “, quyết
định đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc” được bỏ theo quy định tại khoản 9 Điều
54 của Luật Phòng, chống ma túy số 120/2025/QH15, có hiệu lực kể từ ngày 01
tháng 7 năm 2026.
[181] Cụm từ “, cơ sở
cai nghiện bắt buộc” được bỏ theo quy định tại khoản 9 Điều 54 của Luật Phòng,
chống ma túy số 120/2025/QH15, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2026.
[182] Cụm từ “, cơ sở
cai nghiện bắt buộc” được bỏ theo quy định tại khoản 9 Điều 54 của Luật Phòng,
chống ma túy số 120/2025/QH15, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2026.
[183] Cụm từ “cơ sở khám
bệnh, chữa bệnh từ tuyến huyện” được thay thế bằng cụm từ “cơ sở khám bệnh,
chữa bệnh từ cấp cơ bản” theo quy định tại điểm g khoản 28 Điều 1 của Luật số
88/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Xử lý vi phạm hành chính, có
hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2025.
[184] Từ “bệnh viện”
được thay bằng cụm từ “cơ sở khám bệnh, chữa bệnh từ tuyến huyện trở lên” theo
quy định tại điểm g khoản 73 Điều 1 của Luật số 67/2020/QH14 sửa đổi, bổ sung
một số điều của Luật Xử lý vi phạm hành chính, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng
01 năm 2022.
[185] Cụm từ “, cơ sở
cai nghiện bắt buộc” được bỏ theo quy định tại khoản 9 Điều 54 của Luật Phòng,
chống ma túy số 120/2025/QH15, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2026.
[186] Từ “bệnh viện”
được thay bằng cụm từ “cơ sở khám bệnh, chữa bệnh từ tuyến huyện trở lên” theo
quy định tại điểm g khoản 73 Điều 1 của Luật số 67/2020/QH14 sửa đổi, bổ sung
một số điều của Luật Xử lý vi phạm hành chính, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng
01 năm 2022.
[187] Từ “bệnh viện”
được thay bằng cụm từ “cơ sở khám bệnh, chữa bệnh từ tuyến huyện trở lên” theo
quy định tại điểm g khoản 73 Điều 1 của Luật số 67/2020/QH14 sửa đổi, bổ sung
một số điều của Luật Xử lý vi phạm hành chính, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng
01 năm 2022.
[188] Cụm từ “cấp huyện”
được bỏ theo quy định tại điểm đ khoản 29 Điều 1 của Luật số 88/2025/QH15 sửa
đổi, bổ sung một số điều của Luật Xử lý vi phạm hành chính, có hiệu lực kể từ
ngày 01 tháng 7 năm 2025.
[189] Cụm từ “, đưa vào
cơ sở cai nghiện bắt buộc” được bỏ theo quy định tại khoản 9 Điều 54 của Luật
Phòng, chống ma túy số 120/2025/QH15, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm
2026.
[190] Cụm từ “, cơ sở
cai nghiện bắt buộc” được bỏ theo quy định tại khoản 9 Điều 54 của Luật Phòng,
chống ma túy số 120/2025/QH15, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2026.
[191] Cụm từ “, cơ sở
cai nghiện bắt buộc” được bỏ theo quy định tại khoản 9 Điều 54 của Luật Phòng,
chống ma túy số 120/2025/QH15, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2026.
[192] Cụm từ “Tòa án
nhân dân cấp huyện” được thay thế bằng cụm từ “Tòa án nhân dân khu vực” theo
quy định tại điểm n khoản 28 Điều 1 của Luật số 88/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung
một số điều của Luật Xử lý vi phạm hành chính, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng
7 năm 2025.
[193] Cụm từ “, cơ sở
cai nghiện bắt buộc” được bỏ theo quy định tại khoản 9 Điều 54 của Luật Phòng,
chống ma túy số 120/2025/QH15, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2026.
[194] Cụm từ “, Trưởng
cơ sở cai nghiện bắt buộc” được bỏ theo quy định tại khoản 9 Điều 54 của Luật
Phòng, chống ma túy số 120/2025/QH15, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm
2026.
[195] Cụm từ “, đưa vào
cơ sở cai nghiện bắt buộc” được bỏ theo quy định tại khoản 9 Điều 54 của Luật
Phòng, chống ma túy số 120/2025/QH15, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm
2026.
[196] Cụm từ “, cơ sở
cai nghiện bắt buộc” được bỏ theo quy định tại khoản 9 Điều 54 của Luật Phòng,
chống ma túy số 120/2025/QH15, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2026.
[197] Cụm từ “, cơ sở
cai nghiện bắt buộc” được bỏ theo quy định tại khoản 9 Điều 54 của Luật Phòng,
chống ma túy số 120/2025/QH15, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2026.
[198] Cụm từ “, đưa vào
cơ sở cai nghiện bắt buộc” được bỏ theo quy định tại khoản 9 Điều 54 của Luật
Phòng, chống ma túy số 120/2025/QH15, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm
2026.
[199] Cụm từ “, đưa vào
cơ sở cai nghiện bắt buộc” được bỏ theo quy định tại khoản 9 Điều 54 của Luật
Phòng, chống ma túy số 120/2025/QH15, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm
2026.
[200] Cụm từ “Ủy ban
nhân dân cấp xã” được thay bằng cụm từ “cơ quan Công an cấp xã” theo quy định
tại điểm l khoản 28 Điều 1 của Luật số 88/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số
điều của Luật Xử lý vi phạm hành chính, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm
2025.
[201] Khoản này được sửa
đổi, bổ sung theo quy định tại khoản 4 Điều 54 của Luật Phòng, chống ma túy số
120/2025/QH15, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2026.
[202] Cụm từ “, đưa vào
cơ sở cai nghiện bắt buộc” được bỏ theo quy định tại khoản 9 Điều 54 của Luật
Phòng, chống ma túy số 120/2025/QH15, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm
2026.
[203] Cụm từ “cùng cấp”
được bỏ theo quy định tại điểm e khoản 29 Điều 1 của Luật số 88/2025/QH15 sửa
đổi, bổ sung một số điều của Luật Xử lý vi phạm hành chính, có hiệu lực kể từ
ngày 01 tháng 7 năm 2025.
[204] Cụm từ “xã,
phường, thị trấn” được thay thế bằng cụm từ “xã, phường, đặc khu” theo quy định
tại điểm a khoản 28 Điều 1 của Luật số 88/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số
điều của Luật Xử lý vi phạm hành chính, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm
2025.
[205] Cụm từ “, đưa vào
cơ sở cai nghiện bắt buộc” được bỏ theo quy định tại khoản 9 Điều 54 của Luật
Phòng, chống ma túy số 120/2025/QH15, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm
2026.
[206] Cụm từ “, Trưởng
cơ sở cai nghiện bắt buộc” được bỏ theo quy định tại khoản 9 Điều 54 của Luật
Phòng, chống ma túy số 120/2025/QH15, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm
2026.
[207] Cụm từ “cấp huyện”
được bỏ theo quy định tại điểm đ khoản 29 Điều 1 của Luật số 88/2025/QH15 sửa
đổi, bổ sung một số điều của Luật Xử lý vi phạm hành chính, có hiệu lực kể từ
ngày 01 tháng 7 năm 2025.
[208] Cụm từ “, cơ sở
cai nghiện bắt buộc” được bỏ theo quy định tại khoản 9 Điều 54 của Luật Phòng,
chống ma túy số 120/2025/QH15, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2026.
[209] Cụm từ “, cơ sở
cai nghiện bắt buộc” được bỏ theo quy định tại khoản 9 Điều 54 của Luật Phòng,
chống ma túy số 120/2025/QH15, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2026.
[210] Cụm từ “, cơ sở
cai nghiện bắt buộc” được bỏ theo quy định tại khoản 9 Điều 54 của Luật Phòng,
chống ma túy số 120/2025/QH15, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2026.
[211] Cụm từ “đưa vào cơ
sở cai nghiện bắt buộc” được thay thế bằng cụm từ “đưa đi cai nghiện bắt buộc”
theo quy định tại khoản 8 Điều 54 của Luật Phòng, chống ma túy số
120/2025/QH15, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2026.
[212] Cụm từ “Trưởng cơ
sở cai nghiện bắt buộc” được thay thế bằng cụm từ “Trưởng cơ sở cai nghiện ma
túy công lập” theo quy định tại khoản 8 Điều 54 của Luật Phòng, chống ma túy số
120/2025/QH15, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2026.
[213] Cụm từ “đưa vào cơ
sở cai nghiện bắt buộc” được thay thế bằng cụm từ “đưa đi cai nghiện bắt buộc”
theo quy định tại khoản 8 Điều 54 của Luật Phòng, chống ma túy số
120/2025/QH15, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2026.
[214] Cụm từ “đưa vào cơ
sở cai nghiện bắt buộc” được thay thế bằng cụm từ “đưa đi cai nghiện bắt buộc”
theo quy định tại khoản 8 Điều 54 của Luật Phòng, chống ma túy số
120/2025/QH15, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2026.
[215] Cụm từ “xã,
phường, thị trấn” được thay thế bằng cụm từ “xã, phường, đặc khu” theo quy định
tại điểm a khoản 28 Điều 1 của Luật số 88/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số
điều của Luật Xử lý vi phạm hành chính, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm
2025.
[216] Cụm từ “, Trưởng
cơ sở cai nghiện bắt buộc” được bỏ theo quy định tại khoản 9 Điều 54 của Luật
Phòng, chống ma túy số 120/2025/QH15, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm
2026.
[217] Khoản này được bãi
bỏ theo quy định tại khoản 10 Điều 54 của Luật Phòng, chống ma túy số
120/2025/QH15, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2026.
[218] Cụm từ “đưa vào cơ
sở cai nghiện bắt buộc” được thay thế bằng cụm từ “đưa đi cai nghiện bắt buộc”
theo quy định tại khoản 8 Điều 54 của Luật Phòng, chống ma túy số
120/2025/QH15, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2026.
[219] Khoản này được sửa
đổi lần 1 theo quy định tại khoản 1 Điều 102 của Luật Hải quan số 54/2014/QH13,
có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 01 năm 2015.
Khoản này
được sửa đổi, bổ sung lần 2 theo quy định tại điểm a khoản 61 Điều 1 của Luật
số 67/2020/QH14 sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Xử lý vi phạm hành chính,
có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 01 năm 2022.
[220] Cụm từ “cơ sở cai
nghiện bắt buộc” được thay thế bằng cụm từ “đưa đi cai nghiện bắt buộc” theo
quy định tại khoản 8 Điều 54 của Luật Phòng, chống ma túy số 120/2025/QH15, có
hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2026.
[221] Khoản này được sửa
đổi, bổ sung theo quy định tại điểm b khoản 61 Điều 1 của Luật số 67/2020/QH14
sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Xử lý vi phạm hành chính, có hiệu lực kể
từ ngày 01 tháng 01 năm 2022.
[222] Khoản này được sửa
đổi, bổ sung theo quy định tại điểm c khoản 61 Điều 1 của Luật số 67/2020/QH14
sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Xử lý vi phạm hành chính, có hiệu lực kể
từ ngày 01 tháng 01 năm 2022.
[223] Cụm từ “cơ sở cai
nghiện bắt buộc” được thay thế bằng cụm từ “cơ sở cai nghiện ma túy công lập”
theo quy định tại khoản 8 Điều 54 của Luật Phòng, chống ma túy số
120/2025/QH15, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2026.
[224] Cụm từ “trực thuộc
trung ương” được bỏ theo quy định tại điểm a khoản 29 Điều 1 của Luật số
88/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Xử lý vi phạm hành chính, có
hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2025.
[225] Điều này được sửa
đổi, bổ sung theo quy định tại khoản 62 Điều 1 của Luật số 67/2020/QH14 sửa
đổi, bổ sung một số điều của Luật Xử lý vi phạm hành chính, có hiệu lực kể từ
ngày 01 tháng 01 năm 2022.
[226] Khoản này được sửa
đổi, bổ sung theo quy định tại khoản 24 Điều 1 của Luật số 88/2025/QH15 sửa
đổi, bổ sung một số điều của Luật Xử lý vi phạm hành chính, có hiệu lực kể từ
ngày 01 tháng 7 năm 2025.
[227] Điểm này được sửa
đổi, bổ sung theo quy định tại khoản 63 Điều 1 của Luật số 67/2020/QH14 sửa
đổi, bổ sung một số điều của Luật Xử lý vi phạm hành chính, có hiệu lực kể từ
ngày 01 tháng 01 năm 2022.
[228] Cụm từ “, cơ sở
cai nghiện bắt buộc” được bỏ theo quy định tại khoản 9 Điều 54 của Luật Phòng,
chống ma túy số 120/2025/QH15, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2026.
[229] Điểm này được bổ
sung theo quy định tại khoản 5 Điều 54 của Luật Phòng, chống ma túy số
120/2025/QH15, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2026.
[230] Điểm này được sửa
đổi, bổ sung theo quy định tại điểm a khoản 25 Điều 1 của Luật số 88/2025/QH15
sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Xử lý vi phạm hành chính, có hiệu lực kể
từ ngày 01 tháng 7 năm 2025.
[231] Điểm này được sửa
đổi, bổ sung theo quy định tại điểm b khoản 25 Điều 1 của Luật số 88/2025/QH15
sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Xử lý vi phạm hành chính, có hiệu lực kể
từ ngày 01 tháng 7 năm 2025.
[232] Khoản này được sửa
đổi, bổ sung theo quy định tại điểm a khoản 64 Điều 1 của Luật số 67/2020/QH14
sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Xử lý vi phạm hành chính, có hiệu lực kể
từ ngày 01 tháng 01 năm 2022.
[233] Khoản này được sửa
đổi, bổ sung lần thứ nhất theo quy định tại điểm a khoản 64 Điều 1 của Luật số
67/2020/QH14 sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Xử lý vi phạm hành chính, có
hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 01 năm 2022.
Khoản này
được sửa đổi, bổ sung lần thứ hai theo quy định tại điểm c khoản 25 Điều 1 của
Luật số 88/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Xử lý vi phạm hành
chính, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2025.
[234] Khoản này được sửa
đổi, bổ sung theo quy định tại điểm a khoản 64 Điều 1 của Luật số 67/2020/QH14
sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Xử lý vi phạm hành chính, có hiệu lực kể
từ ngày 01 tháng 01 năm 2022.
[235] Khoản này được bổ
sung theo quy định tại điểm a khoản 64 Điều 1 của Luật số 67/2020/QH14 sửa đổi,
bổ sung một số điều của Luật Xử lý vi phạm hành chính, có hiệu lực kể từ ngày
01 tháng 01 năm 2022.
[236] Điểm này được bổ
sung theo quy định tại điểm d khoản 25 Điều 1 của Luật số 88/2025/QH15 sửa đổi,
bổ sung một số điều của Luật Xử lý vi phạm hành chính, có hiệu lực kể từ ngày
01 tháng 7 năm 2025.
[237] Điểm này được bổ
sung theo quy định tại điểm d khoản 25 Điều 1 của Luật số 88/2025/QH15 sửa đổi,
bổ sung một số điều của Luật Xử lý vi phạm hành chính, có hiệu lực kể từ ngày
01 tháng 7 năm 2025.
[238] Khoản này được bổ
sung theo quy định tại điểm a khoản 64 Điều 1 của Luật số 67/2020/QH14 sửa đổi,
bổ sung một số điều của Luật Xử lý vi phạm hành chính, có hiệu lực kể từ ngày
01 tháng 01 năm 2022.
[239] Khoản này được bổ
sung theo quy định tại điểm a khoản 64 Điều 1 của Luật số 67/2020/QH14 sửa đổi,
bổ sung một số điều của Luật Xử lý vi phạm hành chính, có hiệu lực kể từ ngày
01 tháng 01 năm 2022.
[240] Khoản này được sửa
đổi, bổ sung theo quy định tại điểm b khoản 64 Điều 1 của Luật số 67/2020/QH14
sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Xử lý vi phạm hành chính, có hiệu lực kể
từ ngày 01 tháng 01 năm 2022.
[241] Khoản này được sửa
đổi, bổ sung theo quy định tại điểm b khoản 64 Điều 1 của Luật số 67/2020/QH14
sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Xử lý vi phạm hành chính, có hiệu lực kể
từ ngày 01 tháng 01 năm 2022.
[242] Khoản này được sửa
đổi, bổ sung theo quy định tại điểm b khoản 64 Điều 1 của Luật số 67/2020/QH14
sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Xử lý vi phạm hành chính, có hiệu lực kể
từ ngày 01 tháng 01 năm 2022.
[243] Khoản này được bổ
sung theo quy định tại điểm b khoản 64 Điều 1 của Luật số 67/2020/QH14 sửa đổi,
bổ sung một số điều của Luật Xử lý vi phạm hành chính, có hiệu lực kể từ ngày
01 tháng 01 năm 2022.
[244] Khoản này được sửa
đổi, bổ sung lần thứ nhất theo quy định tại điểm a khoản 65 Điều 1 của Luật số
67/2020/QH14 sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Xử lý vi phạm hành chính, có
hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 01 năm 2022.
Khoản này
được sửa đổi, bổ sung lần thứ hai theo quy định tại điểm a khoản 26 Điều 1 của
Luật số 88/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Xử lý vi phạm hành
chính, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2025.
[245] Cụm từ “tạm gửi”
được thay thế bằng cụm từ “tạm giữ” theo quy định tại điểm i khoản 28 Điều 1
của Luật số 67/2020/QH14 sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Xử lý vi phạm
hành chính, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2025.
[246] Khoản này được sửa
đổi, bổ sung theo quy định tại điểm b khoản 65 Điều 1 của Luật số 67/2020/QH14
sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Xử lý vi phạm hành chính, có hiệu lực kể
từ ngày 01 tháng 01 năm 2022.
[247] Điểm này được bổ
sung theo quy định tại điểm b khoản 26 Điều 1 của Luật số 88/2025/QH15 sửa đổi,
bổ sung một số điều của Luật Xử lý vi phạm hành chính, có hiệu lực kể từ ngày
01 tháng 7 năm 2025.
[248] Khoản này được bổ
sung theo quy định tại điểm b khoản 65 Điều 1 của Luật số 67/2020/QH14 sửa đổi,
bổ sung một số điều của Luật Xử lý vi phạm hành chính, có hiệu lực kể từ ngày
01 tháng 01 năm 2022.
[249] Khoản này được bổ
sung theo quy định tại điểm b khoản 65 Điều 1 của Luật số 67/2020/QH14 sửa đổi,
bổ sung một số điều của Luật Xử lý vi phạm hành chính, có hiệu lực kể từ ngày
01 tháng 01 năm 2022.
[250] Khoản này được sửa
đổi, bổ sung theo quy định tại điểm c khoản 65 Điều 1 của Luật số 67/2020/QH14
sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Xử lý vi phạm hành chính, có hiệu lực kể
từ ngày 01 tháng 01 năm 2022.
[251] Cụm từ “02 người
chứng kiến” được thay bằng cụm từ “ít nhất 01 người chứng kiến” theo quy định
tại điểm i khoản 73 Điều 1 của Luật số 67/2020/QH14 sửa đổi, bổ sung một số
điều của Luật Xử lý vi phạm hành chính, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 01 năm
2022.
[252] Cụm từ “Chủ tịch
Ủy ban nhân dân cấp huyện” được thay bằng cụm từ “Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp
xã nơi cư trú của cá nhân” theo quy định tại điểm k khoản 28 Điều 1 của Luật số
88/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Xử lý vi phạm hành chính, có
hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2025.
[253] Cụm từ “02 người
chứng kiến” được thay bằng cụm từ “ít nhất 01 người chứng kiến” theo quy định
tại điểm i khoản 73 Điều 1 của Luật số 67/2020/QH14 sửa đổi, bổ sung một số
điều của Luật Xử lý vi phạm hành chính, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 01 năm
2022.
[254] Điều này được sửa
đổi, bổ sung theo quy định tại khoản 66 Điều 1 của Luật số 67/2020/QH14 sửa
đổi, bổ sung một số điều của Luật Xử lý vi phạm hành chính, có hiệu lực kể từ
ngày 01 tháng 01 năm 2022.
[255] Cụm từ “, đưa vào
cơ sở cai nghiện bắt buộc” được bỏ theo quy định tại khoản 9 Điều 54 của Luật
Phòng, chống ma túy số 120/2025/QH15, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm
2026.
[256] Khoản này được sửa
đổi, bổ sung theo quy định tại khoản 6 Điều 54 của Luật Phòng, chống ma túy số
120/2025/QH15, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2026.
[257] Khoản này được sửa
đổi, bổ sung theo quy định tại khoản 6 Điều 54 của Luật Phòng, chống ma túy số
120/2025/QH15, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2026.
[258] Cụm từ “, đưa vào
cơ sở cai nghiện bắt buộc” được bỏ theo quy định tại khoản 9 Điều 54 của Luật
Phòng, chống ma túy số 120/2025/QH15, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm
2026.
[259] Cụm từ “xã,
phường, thị trấn” được thay thế bằng cụm từ “xã, phường, đặc khu” theo quy định
tại điểm a khoản 28 Điều 1 của Luật số 88/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số
điều của Luật Xử lý vi phạm hành chính, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm
2025.
[260] Cụm từ “, đưa vào
cơ sở cai nghiện bắt buộc” được bỏ theo quy định tại khoản 9 Điều 54 của Luật
Phòng, chống ma túy số 120/2025/QH15, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm
2026.
[261] Cụm từ “, đưa vào
cơ sở cai nghiện bắt buộc” được bỏ theo quy định tại khoản 9 Điều 54 của Luật
Phòng, chống ma túy số 120/2025/QH15, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm
2026.
[262] Cụm từ “cấp huyện”
được bỏ theo quy định tại điểm đ khoản 29 Điều 1 của Luật số 88/2025/QH15 sửa
đổi, bổ sung một số điều của Luật Xử lý vi phạm hành chính, có hiệu lực kể từ
ngày 01 tháng 7 năm 2025.
[263] Cụm từ “, cơ sở
cai nghiện bắt buộc” được bỏ theo quy định tại khoản 9 Điều 54 của Luật Phòng,
chống ma túy số 120/2025/QH15, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2026.
[264] Cụm từ “và Trưởng
cơ sở cai nghiện bắt buộc” được bỏ theo quy định tại khoản 9 Điều 54 của Luật
Phòng, chống ma túy số 120/2025/QH15, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm
2026.
[265] Cụm từ “, cơ sở
cai nghiện bắt buộc” được bỏ theo quy định tại khoản 9 Điều 54 của Luật Phòng,
chống ma túy số 120/2025/QH15, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2026.
[266] Khoản này được sửa
đổi, bổ sung theo quy định tại khoản 67 Điều 1 của Luật số 67/2020/QH14 sửa
đổi, bổ sung một số điều của Luật Xử lý vi phạm hành chính, có hiệu lực kể từ
ngày 01 tháng 01 năm 2022.
[267] Cụm từ “Công an
cấp huyện nơi lập hồ sơ” được thay thế bằng cụm từ “cơ quan Công an cấp xã nơi
lập hồ sơ” theo quy định tại điểm m khoản 28 Điều 1 của Luật số 88/2025/QH15
sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Xử lý vi phạm hành chính, có hiệu lực kể
từ ngày 01 tháng 7 năm 2025.
[268] Cụm từ “Tòa án
nhân dân cấp huyện” được thay thế bằng cụm từ “Tòa án nhân dân khu vực” theo
quy định tại điểm n khoản 28 Điều 1 của Luật số 88/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung
một số điều của Luật Xử lý vi phạm hành chính, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng
7 năm 2025.
[269] Cụm từ “Tòa án
nhân dân cấp huyện” được thay thế bằng cụm từ “Tòa án nhân dân khu vực” theo
quy định tại điểm n khoản 28 Điều 1 của Luật số 88/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung
một số điều của Luật Xử lý vi phạm hành chính, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng
7 năm 2025.
[270] Cụm từ “, đưa vào
cơ sở cai nghiện bắt buộc” được bỏ theo quy định tại khoản 9 Điều 54 của Luật
Phòng, chống ma túy số 120/2025/QH15, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm
2026.
[271] Khoản này được sửa
đổi, bổ sung theo quy định tại khoản 68 Điều 1 của Luật số 67/2020/QH14 sửa
đổi, bổ sung một số điều của Luật Xử lý vi phạm hành chính, có hiệu lực kể từ
ngày 01 tháng 01 năm 2022.
[272] Cụm từ “xã,
phường, thị trấn” được thay thế bằng cụm từ “xã, phường, đặc khu” theo quy định
tại điểm a khoản 28 Điều 1 của Luật số 88/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số
điều của Luật Xử lý vi phạm hành chính, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm
2025.
[273] Cụm từ “xã,
phường, thị trấn” được thay thế bằng cụm từ “xã, phường, đặc khu” theo quy định
tại điểm a khoản 28 Điều 1 của Luật số 88/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số
điều của Luật Xử lý vi phạm hành chính, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm
2025.
[274] Khoản này được bổ
sung theo quy định tại khoản 69 Điều 1 của Luật số 67/2020/QH14 sửa đổi, bổ
sung một số điều của Luật Xử lý vi phạm hành chính, có hiệu lực kể từ ngày 01
tháng 01 năm 2022.
[275] Khoản này được sửa
đổi, bổ sung lần thứ nhất theo quy định tại khoản 70 Điều 1 của Luật số
67/2020/QH14 sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Xử lý vi phạm hành chính, có
hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 01 năm 2022.
Khoản này
được sửa đổi, bổ sung lần thứ hai theo quy định tại khoản 7 Điều 54 của Luật
Phòng, chống ma túy số 120/2025/QH15, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm
2026.
[276] Điều này được bổ
sung theo quy định tại khoản 71 Điều 1 của Luật số 67/2020/QH14 sửa đổi, bổ
sung một số điều của Luật Xử lý vi phạm hành chính, có hiệu lực kể từ ngày 01
tháng 01 năm 2022.
[277] Điều 103 của Luật
Hải quan số 54/2014/QH13, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 01 năm 2015 quy định
như sau:
“Điều
103. Hiệu lực thi hành
Luật
này có hiệu lực thi hành từ ngày 01 tháng 01 năm 2015.
Luật
Hải quan số 29/2001/QH10 và Luật số 42/2005/QH11 sửa đổi, bổ sung một số điều
của Luật Hải quan hết hiệu lực kể từ ngày Luật này có hiệu lực.”.
Điều 104
và Điều 105 của Luật Thủy sản số 18/2017/QH14, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng
01 năm 2019 quy định như sau:
“Điều
104. Hiệu lực thi hành
1.
Luật này có hiệu lực thi hành từ ngày 01 tháng 01 năm 2019.
2.
Luật Thủy sản số 17/2003/QH11 hết hiệu lực kể từ ngày Luật này có hiệu lực thi
hành.
Điều
105. Quy định chuyển tiếp
1. Sửa
đổi mức xử phạt vi phạm hành chính tối đa trong lĩnh vực bảo vệ nguồn lợi thủy
sản, hải sản quy định tại điểm đ khoản 1 Điều 24 của Luật Xử lý vi phạm hành
chính số 15/2012/QH13 như sau: mức phạt tiền tối đa trong lĩnh vực quản lý nhà
nước về thủy sản đối với cá nhân là 1.000.000.000 đồng.
2. Các
loại giấy phép, giấy chứng nhận, giấy xác nhận, chứng chỉ, văn bản chấp thuận
trong lĩnh vực thủy sản đã được cấp trước ngày Luật này có hiệu lực thì được sử
dụng cho đến khi hết thời hạn.
3. Các
quy chuẩn kỹ thuật quốc gia, định mức kinh tế - kỹ thuật đã được ban hành trước
ngày Luật này có hiệu lực thì tiếp tục được áp dụng cho đến khi bị bãi bỏ hoặc
thay thế.”.
Điều 3
của Luật số 67/2020/QH14 sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Xử lý vi phạm
hành chính, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 01 năm 2022 quy định như sau:
“Điều
3. Hiệu lực thi hành
Luật
này có hiệu lực thi hành từ ngày 01 tháng 01 năm 2022.”.
Điều 3 và
Điều 4 của Luật số 09/2022/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Tần số vô
tuyến điện, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2023 quy định như sau:
“Điều
3. Hiệu lực thi hành
1.
Luật này có hiệu lực thi hành từ ngày 01 tháng 7 năm 2023, trừ trường hợp quy
định tại khoản 2 Điều này.
2. Quy
định về đào tạo, cấp chứng chỉ vô tuyến điện viên của Luật này có hiệu lực thi
hành từ ngày 01 tháng 7 năm 2024.
Điều
4. Quy định chuyển tiếp
1.
Giấy phép sử dụng tần số vô tuyến điện đã cấp trước ngày Luật này có hiệu lực
thi hành thì được tiếp tục sử dụng cho đến hết thời hạn được ghi trong giấy
phép. Chứng chỉ vô tuyến điện viên đã cấp trước ngày 01 tháng 7 năm 2024 thì
được tiếp tục sử dụng cho đến hết thời hạn được ghi trong chứng chỉ.
2. Tổ
chức đã được cấp giấy phép sử dụng băng tần để thiết lập mạng viễn thông công
cộng di động mặt đất mà hết hạn sử dụng trước ngày 06 tháng 9 năm 2023 thì được
xem xét gia hạn theo quy định tại Điều 16 của Luật Tần số vô tuyến điện số
42/2009/QH12 và các điểm a, b, c khoản 1 Điều 22 của Luật Tần số vô tuyến điện
số 42/2009/QH12 được sửa đổi, bổ sung theo khoản 9 Điều 1 của Luật này tối đa
đến hết ngày 15 tháng 9 năm 2024 và không phải nộp tiền cấp quyền sử dụng tần
số vô tuyến điện cho thời gian được gia hạn.
3. Tổ
chức đã được cấp giấy phép sử dụng băng tần để thiết lập mạng viễn thông công
cộng di động mặt đất mà hết hạn sử dụng trước ngày 16 tháng 9 năm 2024 thì
không phải nộp tiền cấp quyền sử dụng tần số vô tuyến điện cho đến hết thời hạn
được ghi trong giấy phép và không được gia hạn, trừ trường hợp quy định tại
khoản 2 Điều này.
4. Bộ
Thông tin và Truyền thông thông báo quy hoạch băng tần đối với các băng tần đã
cấp cho tổ chức quy định tại khoản 2 và khoản 3 Điều này trước ngày 01 tháng 8
năm 2023. Đối với khối băng tần được xem xét cấp lại mà sử dụng chung tần số vô
tuyến điện theo giấy phép sử dụng băng tần đã cấp trước ngày Luật này có hiệu
lực thi hành thì được xem xét cấp lại theo hiện trạng sử dụng.
5.
Việc đào tạo, cấp chứng chỉ vô tuyến điện viên tiếp tục được thực hiện theo quy
định của Luật Tần số vô tuyến điện số 42/2009/QH12 đến hết ngày 30 tháng 6 năm
2024.”.
Điều 117
và Điều 118 của Luật Thanh tra số 11/2022/QH15, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng
7 năm 2023 quy định như sau:
“Điều
117. Hiệu lực thi hành
1.
Luật này có hiệu lực thi hành từ ngày 01 tháng 7 năm 2023.
2.
Luật Thanh tra số 56/2010/QH12 hết hiệu lực kể từ ngày Luật này có hiệu lực thi
hành.
Điều
118. Quy định chuyển tiếp
Các
cuộc thanh tra có quyết định thanh tra được ban hành trước ngày Luật này có
hiệu lực thi hành thì tiếp tục thực hiện theo quy định của Luật Thanh tra số
56/2010/QH12.”.
Khoản 1
Điều 10 của Luật số 56/2024/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Chứng
khoán, Luật Kế toán, Luật Kiểm toán độc lập, Luật Ngân sách nhà nước, Luật Quản
lý, sử dụng tài sản công, Luật Quản lý thuế, Luật Thuế thu nhập cá nhân, Luật
Dự trữ quốc gia, Luật Xử lý vi phạm hành chính, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng
01 năm 2025 quy định như sau:
“Điều
10. Hiệu lực thi hành
1.
Luật này có hiệu lực thi hành từ ngày 01 tháng 01 năm 2025, trừ trường hợp quy
định tại các khoản 2, 3, 4 và 5 Điều này.”.
Điều 2 và
Điều 3 của Luật số 88/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Xử lý vi
phạm hành chính, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2025 quy định như sau:
“Điều
2. Hiệu lực thi hành
1.
Luật này có hiệu lực thi hành từ ngày 01 tháng 7 năm 2025.
2.
Thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính được thực hiện theo nghị định của Chính
phủ về xử phạt vi phạm hành chính trong các lĩnh vực quản lý nhà nước và nghị
định của Chính phủ quy định chi tiết Luật Xử lý vi phạm hành chính về thẩm
quyền xử phạt vi phạm hành chính cho đến khi có quy định của Chính phủ thay
thế, trừ trường hợp quy định tại khoản 3 Điều 3 của Luật này.
3. Quy
định tại Điều 8 của Nghị quyết số 190/2025/QH15 ngày 19 tháng 02 năm 2025 của
Quốc hội khóa XV quy định về xử lý một số vấn đề liên quan đến sắp xếp tổ chức
bộ máy nhà nước chấm dứt hiệu lực kể từ ngày Luật này có hiệu lực thi hành.
Điều
3. Quy định chuyển tiếp
Kể từ
ngày Luật này có hiệu lực thi hành:
1.
Trường hợp vụ việc vi phạm hành chính đã được phát hiện và đang trong quá trình
xem xét, xử lý mà cơ quan, chức danh có thẩm quyền đang xử lý vụ việc kết thúc
hoạt động, thì cơ quan, chức danh tiếp nhận chức năng, nhiệm vụ theo địa bàn,
lĩnh vực tiếp tục xử lý vụ việc hoặc chuyển đến người có thẩm quyền để xử lý
theo quy định của pháp luật.
2.
Trường hợp vi phạm hành chính đã có quyết định xử phạt, thì việc tổ chức thi
hành, cưỡng chế thi hành quyết định xử phạt, đính chính, sửa đổi, bổ sung, hủy
bỏ, ban hành mới quyết định trong xử phạt vi phạm hành chính sẽ do cơ quan,
chức danh tiếp nhận chức năng, nhiệm vụ theo địa bàn, lĩnh vực tiếp tục thực
hiện hoặc chuyển đến người có thẩm quyền theo quy định của pháp luật.
3. Chủ
tịch Ủy ban nhân dân cấp xã thực hiện thẩm quyền trong xử phạt vi phạm hành
chính của Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp huyện, Trưởng Công an cấp xã thực hiện
thẩm quyền trong xử phạt vi phạm hành chính của Trưởng Công an cấp huyện theo
nghị định của Chính phủ về xử phạt vi phạm hành chính trong các lĩnh vực quản
lý nhà nước cho đến khi có quy định của Chính phủ thay thế hoặc nghị định của
Chính phủ quy định chi tiết Luật Xử lý vi phạm hành chính về thẩm quyền xử phạt
vi phạm hành chính có hiệu lực thi hành.”.
Điều 44
của Luật An ninh mạng số 116/2025/QH15, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm
2026 quy định như sau:
“Điều
44. Hiệu lực thi hành
1.
Luật này có hiệu lực thi hành từ ngày 01 tháng 7 năm 2026.
2.
Luật An toàn thông tin mạng số 86/2015/QH13 đã được sửa đổi, bổ sung một số
điều theo Luật số 35/2018/QH14; Luật An ninh mạng số 24/2018/QH14 hết hiệu lực
kể từ ngày Luật này có hiệu lực thi hành”.
Điều 55
của Luật Phòng, chống ma túy số 120/2025/QH15, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng
7 năm 2026 quy định như sau:
“Điều
55. Hiệu lực thi hành
1.
Luật này có hiệu lực thi hành từ ngày 01 tháng 7 năm 2026.
2.
Luật Phòng, chống ma túy số 73/2021/QH14 đã được sửa đổi, bổ sung một số điều
theo Luật số 81/2025/QH15 hết hiệu lực kể từ ngày Luật này có hiệu lực thi
hành”.
[278] Điều này được bãi
bỏ theo quy định tại khoản 75 Điều 1 của Luật số 67/2020/QH14 sửa đổi, bổ sung
một số điều của Luật Xử lý vi phạm hành chính, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng
01 năm 2022.
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét