|
|
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM |
Bộ luật Tố tụng dân sự số 92/2015/QH13 ngày
25 tháng 11 năm 2015 của Quốc hội, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2016
được sửa đổi, bổ sung bởi:
1. Bộ luật Lao động số 45/2019/QH14 ngày 20
tháng 11 năm 2019 của Quốc hội, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 01 năm 2021;
2. Luật Doanh nghiệp số 59/2020/QH14 ngày 17
tháng 6 năm 2020 của Quốc hội, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 01 năm 2021;
3. Luật Phòng, chống bạo lực gia đình số
13/2022/QH15 ngày 14 tháng 11 năm 2022 của Quốc hội, có hiệu lực kể từ ngày 01
tháng 7 năm 2023;
4. Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng số
19/2023/QH15 ngày 20 tháng 6 năm 2023 của Quốc hội, có hiệu lực kể từ ngày 01
tháng 7 năm 2024;
5. Luật Tổ chức Tòa án nhân dân số
34/2024/QH15 ngày 24 tháng 6 năm 2024 của Quốc hội, có hiệu lực kể từ ngày 01
tháng 01 năm 2025;
6. Luật Công chứng số 46/2024/QH15 ngày 26
tháng 11 năm 2024 của Quốc hội, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2025;
7. Luật số 85/2025/QH15 ngày 25 tháng 6 năm
2025 của Quốc hội sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Tố tụng dân sự, Luật
Tố tụng hành chính, Luật Tư pháp người chưa thành niên, Luật Phá sản và Luật
Hòa giải, đối thoại tại Tòa án, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2025.
Căn cứ Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ
nghĩa Việt Nam; Quốc hội ban hành Bộ luật Tố tụng dân sự[1].
NHIỆM VỤ VÀ HIỆU LỰC CỦA BỘ LUẬT TỐ TỤNG DÂN
SỰ
Điều 1. Phạm vi điều chỉnh và nhiệm vụ của Bộ
luật Tố tụng dân sự
Bộ luật Tố tụng dân sự quy định những nguyên
tắc cơ bản trong tố tụng dân sự; trình tự, thủ tục khởi kiện để Tòa án nhân dân
(sau đây gọi là Tòa án) giải quyết các vụ án về tranh chấp dân sự, hôn nhân và
gia đình, kinh doanh, thương mại, lao động (sau đây gọi chung là vụ án dân sự)
và trình tự, thủ tục yêu cầu để Tòa án giải quyết các việc về yêu cầu dân sự,
hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại, lao động (sau đây gọi chung là
việc dân sự); trình tự, thủ tục giải quyết vụ án dân sự, việc dân sự (sau đây
gọi chung là vụ việc dân sự) tại Tòa án; thủ tục công nhận và cho thi hành tại
Việt Nam bản án, quyết định dân sự của Tòa án nước ngoài, phán quyết của Trọng
tài nước ngoài; thi hành án dân sự; nhiệm vụ, quyền hạn và trách nhiệm của cơ
quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng; quyền và nghĩa vụ của người
tham gia tố tụng, của cá nhân, của cơ quan nhà nước, đơn vị vũ trang nhân dân,
tổ chức kinh tế, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức chính
trị xã hội - nghề nghiệp, tổ chức xã hội, tổ chức xã hội - - nghề nghiệp (sau
đây gọi chung là cơ quan, tổ chức) có liên quan nhằm bảo đảm cho việc giải
quyết vụ việc dân sự được nhanh chóng, chính xác, công minh và đúng pháp luật.
Bộ luật Tố tụng dân sự góp phần bảo vệ công
lý, bảo vệ quyền con người, quyền công dân, bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa, bảo
vệ lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của cơ quan, tổ chức, cá
nhân; giáo dục mọi người nghiêm chỉnh chấp hành pháp luật.
Điều 2. Đối tượng áp dụng và hiệu lực của Bộ
luật Tố tụng dân sự
1. Bộ luật Tố tụng dân sự được áp dụng đối
với mọi hoạt động tố tụng dân sự trên lãnh thổ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa
Việt Nam, bao gồm đất liền, hải đảo, vùng biển và vùng trời.
2. Bộ luật Tố tụng dân sự được áp dụng đối
với mọi hoạt động tố tụng dân sự do cơ quan đại diện nước Cộng hòa xã hội chủ
nghĩa Việt Nam tiến hành ở nước ngoài.
3. Bộ luật Tố tụng dân sự được áp dụng đối
với việc giải quyết vụ việc dân sự có yếu tố nước ngoài; trường hợp điều ước
quốc tế mà Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên có quy định khác
thì áp dụng quy định của điều ước quốc tế đó.
4. Cơ quan, tổ chức, cá nhân nước ngoài thuộc
đối tượng được hưởng quyền ưu đãi, miễn trừ ngoại giao hoặc quyền ưu đãi, miễn
trừ lãnh sự theo pháp luật Việt Nam, theo điều ước quốc tế mà Cộng hòa xã hội
chủ nghĩa Việt Nam là thành viên thì vụ việc dân sự có liên quan đến cơ quan,
tổ chức, cá nhân đó được giải quyết bằng con đường ngoại giao.
Điều 3. Tuân thủ pháp luật trong tố tụng dân
sự
Mọi hoạt động tố tụng dân sự của cơ quan tiến
hành tố tụng, người tiến hành tố tụng, người tham gia tố tụng, của cơ quan, tổ
chức, cá nhân có liên quan phải tuân theo các quy định của Bộ luật này.
Điều 4. Quyền yêu cầu Tòa án bảo vệ quyền và
lợi ích hợp pháp
1. Cơ quan, tổ chức, cá nhân do Bộ luật này
quy định có quyền khởi kiện vụ án dân sự, yêu cầu giải quyết việc dân sự tại
Tòa án có thẩm quyền để yêu cầu Tòa án bảo vệ công lý, bảo vệ quyền con người,
quyền công dân, bảo vệ lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của mình
hoặc của người khác.
2. Tòa án không được từ chối giải quyết vụ
việc dân sự vì lý do chưa có điều luật để áp dụng.
Vụ việc dân sự chưa có điều luật để áp dụng
là vụ việc dân sự thuộc phạm vi điều chỉnh của pháp luật dân sự nhưng tại thời
điểm vụ việc dân sự đó phát sinh và cơ quan, tổ chức, cá nhân yêu cầu Tòa án
giải quyết chưa có điều luật để áp dụng.
Việc giải quyết vụ việc dân sự quy định tại
khoản này được thực hiện theo các nguyên tắc do Bộ luật Dân sự và Bộ luật này
quy định.
Điều 5. Quyền quyết định và tự định đoạt của
đương sự
1. Đương sự có quyền quyết định việc khởi
kiện, yêu cầu Tòa án có thẩm quyền giải quyết vụ việc dân sự. Tòa án chỉ thụ lý
giải quyết vụ việc dân sự khi có đơn khởi kiện, đơn yêu cầu của đương sự và chỉ
giải quyết trong phạm vi đơn khởi kiện, đơn yêu cầu đó.
2. Trong quá trình giải quyết vụ việc dân sự,
đương sự có quyền chấm dứt, thay đổi yêu cầu của mình hoặc thoả thuận với nhau
một cách tự nguyện, không vi phạm điều cấm của luật và không trái đạo đức xã
hội.
Điều 6. Cung cấp chứng cứ và chứng minh trong
tố tụng dân sự
1. Đương sự có quyền và nghĩa vụ chủ động thu
thập, giao nộp chứng cứ cho Tòa án và chứng minh cho yêu cầu của mình là có căn
cứ và hợp pháp.
Cơ quan, tổ chức, cá nhân khởi kiện, yêu cầu
để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người khác có quyền và nghĩa vụ thu
thập, cung cấp chứng cứ, chứng minh như đương sự.
2. Tòa án có trách nhiệm hỗ trợ đương sự
trong việc thu thập chứng cứ và chỉ tiến hành thu thập, xác minh chứng cứ trong
những trường hợp do Bộ luật này quy định.
Điều 7. Trách nhiệm cung cấp tài liệu, chứng
cứ của cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền
Cơ quan, tổ chức, cá nhân trong phạm vi nhiệm
vụ, quyền hạn của mình có trách nhiệm cung cấp đầy đủ và đúng thời hạn cho
đương sự, Tòa án, Viện kiểm sát nhân dân (sau đây gọi là Viện kiểm sát) tài
liệu, chứng cứ mà mình đang lưu giữ, quản lý khi có yêu cầu của đương sự, Tòa
án, Viện kiểm sát theo quy định của Bộ luật này và phải chịu trách nhiệm trước
pháp luật về việc cung cấp tài liệu, chứng cứ đó; trường hợp không cung cấp
được thì phải thông báo bằng văn bản và nêu rõ lý do cho đương sự, Tòa án, Viện
kiểm sát.
Điều 8. Bình đẳng về quyền và nghĩa vụ trong
tố tụng dân sự
1. Trong tố tụng dân sự mọi người đều bình
đẳng trước pháp luật, không phân biệt dân tộc, giới tính, tín ngưỡng, tôn giáo,
thành phần xã hội, trình độ văn hoá, nghề nghiệp, địa vị xã hội.
Mọi cơ quan, tổ chức, cá nhân đều bình đẳng
trong việc thực hiện quyền và nghĩa vụ tố tụng trước Tòa án.
2. Tòa án có trách nhiệm bảo đảm nguyên tắc
bình đẳng trong việc thực hiện quyền và nghĩa vụ của cơ quan, tổ chức, cá nhân
trong tố tụng dân sự.
Điều 9. Bảo đảm quyền bảo vệ quyền và lợi ích
hợp pháp của đương sự
1. Đương sự có quyền tự bảo vệ hoặc nhờ luật
sư hay người khác có đủ điều kiện theo quy định của Bộ luật này bảo vệ quyền và
lợi ích hợp pháp của mình.
2. Tòa án có trách nhiệm bảo đảm cho đương sự
thực hiện quyền bảo vệ của họ.
3. Nhà nước có trách nhiệm bảo đảm trợ giúp
pháp lý cho các đối tượng theo quy định của pháp luật để họ thực hiện quyền bảo
vệ quyền và lợi ích hợp pháp trước Tòa án.
4. Không ai được hạn chế quyền bảo vệ quyền
và lợi ích hợp pháp của đương sự trong tố tụng dân sự.
Điều 10. Hòa giải trong tố tụng dân sự
Tòa án có trách nhiệm tiến hành hòa giải và
tạo điều kiện thuận lợi để các đương sự thoả thuận với nhau về việc giải quyết
vụ việc dân sự theo quy định của Bộ luật này.
Điều 11. Hội thẩm nhân dân tham gia xét xử vụ
án dân sự
1. Việc xét xử sơ thẩm vụ án dân sự có Hội
thẩm nhân dân tham gia theo quy định của Bộ luật này, trừ trường hợp xét xử
theo thủ tục rút gọn.
2. Khi biểu quyết về quyết định giải quyết vụ
án dân sự, Hội thẩm nhân dân ngang quyền với Thẩm phán.
1. Thẩm phán, Hội thẩm nhân dân xét xử vụ án
dân sự, Thẩm phán giải quyết việc dân sự độc lập và chỉ tuân theo pháp luật.
2. Nghiêm cấm cơ quan, tổ chức, cá nhân can
thiệp vào việc xét xử của Thẩm phán, Hội thẩm nhân dân, việc giải quyết việc
dân sự của Thẩm phán dưới bất kỳ hình thức nào.
Điều 13. Trách nhiệm của cơ quan tiến hành tố
tụng, người tiến hành tố tụng
1. Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành
tố tụng phải tôn trọng Nhân dân và chịu sự giám sát của Nhân dân.
2. Tòa án có nhiệm vụ bảo vệ công lý, bảo vệ
quyền con người, quyền công dân, bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa, bảo vệ lợi ích
của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân.
Viện kiểm sát có nhiệm vụ bảo vệ pháp luật,
bảo vệ quyền con người, quyền công dân, bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa, bảo vệ
lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân, góp phần
bảo đảm pháp luật được chấp hành nghiêm chỉnh và thống nhất.
3. Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành
tố tụng phải giữ bí mật nhà nước, bí mật công tác theo quy định của pháp luật;
giữ gìn thuần phong mỹ tục của dân tộc, bảo vệ người chưa thành niên, giữ bí
mật nghề nghiệp, bí mật kinh doanh, bí mật cá nhân, bí mật gia đình của đương
sự theo yêu cầu chính đáng của họ.
4. Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành
tố tụng chịu trách nhiệm trước pháp luật về việc thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn
của mình. Trường hợp người tiến hành tố tụng có hành vi trái pháp luật thì tùy
theo tính chất, mức độ vi phạm mà bị xử lý kỷ luật hoặc bị truy cứu trách nhiệm
hình sự theo quy định của pháp luật.
5. Người tiến hành tố tụng trong khi thực
hiện nhiệm vụ, quyền hạn của mình có hành vi trái pháp luật gây thiệt hại cho
cơ quan, tổ chức, cá nhân thì cơ quan trực tiếp quản lý người thi hành công vụ
có hành vi trái pháp luật đó phải bồi thường cho người bị thiệt hại theo quy
định của pháp luật về trách nhiệm bồi thường của Nhà nước.
Điều 14. Tòa án xét xử tập thể
Tòa án xét xử tập thể vụ án dân sự và quyết
định theo đa số, trừ trường hợp xét xử theo thủ tục rút gọn.
Điều 15. Tòa án xét xử kịp thời, công bằng,
công khai
1. Tòa án xét xử kịp thời trong thời hạn do
Bộ luật này quy định, bảo đảm công bằng.
2. Tòa án xét xử công khai. Trường hợp đặc
biệt cần giữ bí mật nhà nước, giữ gìn thuần phong mỹ tục của dân tộc, bảo vệ
người chưa thành niên hoặc giữ bí mật nghề nghiệp, bí mật kinh doanh, bí mật cá
nhân, bí mật gia đình của đương sự theo yêu cầu chính đáng của họ thì Tòa án có
thể xét xử kín.
Điều 16. Bảo đảm sự vô tư, khách quan trong
tố tụng dân sự
1. Chánh án Tòa án, Thẩm phán, Hội thẩm nhân
dân, Thẩm tra viên Tòa án[2], Thư ký Tòa án, Viện
trưởng Viện kiểm sát, Kiểm sát viên, Kiểm tra viên, người phiên dịch, người
giám định, thành viên Hội đồng định giá không được tiến hành hoặc tham gia tố
tụng nếu có lý do xác đáng để cho rằng họ có thể không vô tư, khách quan trong
khi thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn của mình.
2. Việc phân công người tiến hành tố tụng
phải bảo đảm để họ vô tư, khách quan khi thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn của
mình.
Điều 17. Bảo đảm chế độ xét xử sơ thẩm, phúc
thẩm
1. Chế độ xét xử sơ thẩm, phúc thẩm được bảo
đảm.
Bản án, quyết định sơ thẩm của Tòa án có thể
bị kháng cáo, kháng nghị theo quy định của Bộ luật này.
Bản án, quyết định sơ thẩm của Tòa án không
bị kháng cáo, kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm trong thời hạn do Bộ luật này
quy định thì có hiệu lực pháp luật. Bản án, quyết định sơ thẩm của Tòa án bị
kháng cáo, kháng nghị thì vụ án phải được xét xử phúc thẩm. Bản án, quyết định
phúc thẩm có hiệu lực pháp luật.
2. Bản án, quyết định của Tòa án đã có hiệu
lực pháp luật mà phát hiện có vi phạm pháp luật hoặc có tình tiết mới theo quy
định của Bộ luật này thì được xem xét lại theo thủ tục giám đốc thẩm hoặc tái
thẩm.
Điều 18. Giám đốc việc xét xử[3]
Tòa án nhân dân tối cao giám đốc việc xét xử
của các Tòa án; Tòa án nhân dân tỉnh, thành phố (sau đây gọi chung là Tòa án
nhân dân cấp tỉnh) giám đốc việc xét xử của Tòa án nhân dân khu vực thuộc phạm
vi thẩm quyền theo lãnh thổ để bảo đảm việc áp dụng pháp luật nghiêm chỉnh và
thống nhất.
Điều 19. Bảo đảm hiệu lực của bản án, quyết
định của Tòa án
1. Bản án, quyết định của Tòa án đã có hiệu
lực pháp luật phải được thi hành và phải được cơ quan, tổ chức, cá nhân tôn
trọng; cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan phải nghiêm chỉnh chấp hành.
2. Trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của
mình, Tòa án và cơ quan, tổ chức được giao nhiệm vụ thi hành bản án, quyết định
của Tòa án phải nghiêm chỉnh thi hành và chịu trách nhiệm trước pháp luật về
việc thực hiện nhiệm vụ đó.
3. Tòa án có quyền yêu cầu cơ quan thi hành
án thông báo tiến độ, kết quả thi hành bản án, quyết định của Tòa án. Cơ quan
thi hành án trực tiếp tổ chức thi hành bản án, quyết định của Tòa án có trách
nhiệm trả lời cho Tòa án.
Điều 20. Tiếng nói và chữ viết dùng trong tố
tụng dân sự
Tiếng nói và chữ viết dùng trong tố tụng dân
sự là tiếng Việt.
Người tham gia tố tụng dân sự có quyền dùng
tiếng nói và chữ viết của dân tộc mình; trường hợp này phải có người phiên
dịch.
Người tham gia tố tụng dân sự là người khuyết
tật nghe, nói hoặc khuyết tật nhìn có quyền dùng ngôn ngữ, ký hiệu, chữ dành
riêng cho người khuyết tật; trường hợp này phải có người biết ngôn ngữ, ký
hiệu, chữ dành riêng cho người khuyết tật để dịch lại.
Điều 21. Kiểm sát việc tuân theo pháp luật
trong tố tụng dân sự
1. Viện kiểm sát kiểm sát việc tuân theo pháp
luật trong tố tụng dân sự, thực hiện các quyền yêu cầu, kiến nghị, kháng nghị
theo quy định của pháp luật nhằm bảo đảm cho việc giải quyết vụ việc dân sự kịp
thời, đúng pháp luật.
2. Viện kiểm sát tham gia các phiên họp sơ
thẩm đối với các việc dân sự; phiên tòa sơ thẩm đối với những vụ án do Tòa án
tiến hành thu thập chứng cứ hoặc đối tượng tranh chấp là tài sản công, lợi ích
công cộng, quyền sử dụng đất, nhà ở hoặc có đương sự là người chưa thành niên,
người mất năng lực hành vi dân sự, người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự,
người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi hoặc trường hợp quy định tại
khoản 2 Điều 4 của Bộ luật này.
3. Viện kiểm sát tham gia phiên tòa, phiên
họp phúc thẩm, giám đốc thẩm, tái thẩm.
4. Viện kiểm sát nhân dân tối cao chủ trì
phối hợp với Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn thi hành Điều này.
Điều 22. Trách nhiệm chuyển giao tài liệu,
giấy tờ của Tòa án
1. Tòa án có trách nhiệm tống đạt, chuyển
giao, thông báo bản á n, quyết định, giấy triệu tập, giấy mời và các giấy tờ
khác của Tòa án theo quy định của Bộ luật này.
2. Ủy ban nhân dân cấp xã hoặc cơ quan, tổ
chức, cá nhân liên quan có trách nhiệm chuyển giao bản án, quyết định, giấy
triệu tập, giấy mời và các giấy tờ khác của Tòa án khi có yêu cầu của Tòa án và
phải thông báo kết quả việc chuyển giao đó cho Tòa án.
Điều 23. Việc tham gia tố tụng dân sự của cơ
quan, tổ chức, cá nhân
Cơ quan, tổ chức, cá nhân có quyền và nghĩa
vụ tham gia tố tụng dân sự theo quy định của Bộ luật này, góp phần vào việc
giải quyết vụ việc dân sự tại Tòa án kịp thời, đúng pháp luật.
Điều 24. Bảo đảm tranh tụng trong xét xử
1. Tòa án có trách nhiệm bảo đảm cho đương
sự, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự thực hiện quyền tranh
tụng trong xét xử sơ thẩm, phúc thẩm, giám đốc thẩm, tái thẩm theo quy định của
Bộ luật này.
2. Đương sự, người bảo vệ quyền và lợi ích
hợp pháp của đương sự có quyền thu thập, giao nộp tài liệu, chứng cứ kể từ khi
Tòa án thụ lý vụ án dân sự và có nghĩa vụ thông báo cho nhau các tài liệu,
chứng cứ đã giao nộp; trình bày, đối đáp, phát biểu quan điểm, lập luận về đánh
giá chứng cứ và pháp luật áp dụng để bảo vệ yêu cầu, quyền, lợi ích hợp pháp
của mình hoặc bác bỏ yêu cầu của người khác theo quy định của Bộ luật này.
3. Trong quá trình xét xử, mọi tài liệu,
chứng cứ phải được xem xét đầy đủ, khách quan, toàn diện, công khai, trừ trường
hợp không được công khai theo quy định tại khoản 2 Điều 109 của
Bộ luật này. Tòa án điều hành việc tranh tụng, hỏi những vấn đề chưa rõ và
căn cứ vào kết quả tranh tụng để ra bản án, quyết định.
Điều 25. Bảo đảm quyền khiếu nại, tố cáo
trong tố tụng dân sự
Cơ quan, tổ chức, cá nhân có quyền khiếu nại,
cá nhân có quyền tố cáo những hành vi, quyết định trái pháp luật của cơ quan
tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng hoặc của bất cứ cơ quan, tổ
chức, cá nhân nào trong hoạt động tố tụng dân sự.
Cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền phải
tiếp nhận, xem xét và giải quyết kịp thời, đúng pháp luật khiếu nại, tố cáo;
thông báo bằng văn bản về kết quả giải quyết cho người đã khiếu nại, tố cáo.
Mục 1. NHỮNG VỤ VIỆC DÂN SỰ THUỘC THẨM QUYỀN
GIẢI QUYẾT CỦA TÒA ÁN
Điều 26. Những tranh chấp về dân sự thuộc
thẩm quyền giải quyết của Tòa án
1. Tranh chấp về quốc tịch Việt Nam giữa cá
nhân với cá nhân.
2. Tranh chấp về quyền sở hữu và các quyền
khác đối với tài sản.
3. Tranh chấp về giao dịch dân sự, hợp đồng
dân sự.
4. Tranh chấp về quyền sở hữu trí tuệ, chuyển
giao công nghệ, trừ trường hợp quy định tại khoản 2 Điều 30 của
Bộ luật này.
5. Tranh chấp về thừa kế tài sản.
6. Tranh chấp về bồi thường thiệt hại ngoài
hợp đồng.
7. Tranh chấp về bồi thường thiệt hại do áp
dụng biện pháp ngăn chặn hành chính không đúng theo quy định của pháp luật về
cạnh tranh, trừ trường hợp yêu cầu bồi thường thiệt hại được giải quyết trong
vụ án hành chính.
8. Tranh chấp về khai thác, sử dụng tài
nguyên nước, xả thải vào nguồn nước theo quy định của Luật Tài nguyên nước.
9. Tranh chấp đất đai theo quy định của pháp
luật về đất đai; tranh chấp về quyền sở hữu, quyền sử dụng rừng theo quy định
của Luật Bảo vệ và phát triển rừng.
10. Tranh chấp liên quan đến hoạt động nghiệp
vụ báo chí theo quy định của pháp luật về báo chí.
11. Tranh chấp liên quan đến yêu cầu tuyên bố
văn bản công chứng vô hiệu.
12. Tranh chấp liên quan đến tài sản bị cưỡng
chế để thi hành án theo quy định của pháp luật về thi hành án dân sự.
13. Tranh chấp về kết quả bán đấu giá tài
sản, thanh toán phí tổn đăng ký mua tài sản bán đấu giá theo quy định của pháp
luật về thi hành án dân sự.
14. Các tranh chấp khác về dân sự, trừ trường
hợp thuộc thẩm quyền giải quyết của cơ quan, tổ chức khác theo quy định của
pháp luật.
Điều 27. Những yêu cầu về dân sự thuộc thẩm
quyền giải quyết của Tòa án
1. Yêu cầu tuyên bố hoặc hủy bỏ quyết định
tuyên bố một người mất năng lực hành vi dân sự, bị hạn chế năng lực hành vi dân
sự hoặc có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi.
2. Yêu cầu thông báo tìm kiếm người vắng mặt
tại nơi cư trú và quản lý tài sản của người đó.
3. Yêu cầu tuyên bố hoặc hủy bỏ quyết định
tuyên bố một người mất tích.
4. Yêu cầu tuyên bố hoặc hủy bỏ quyết định
tuyên bố một người là đã chết.
5. Yêu cầu công nhận và cho thi hành tại Việt
Nam hoặc không công nhận bản án, quyết định về dân sự, quyết định về tài sản
trong bản án, quyết định hình sự, hành chính của Tòa án nước ngoài hoặc không
công nhận bản án, quyết định về dân sự, quyết định về tài sản trong bản án,
quyết định hình sự, hành chính của Tòa án nước ngoài không có yêu cầu thi hành
tại Việt Nam.
6. Yêu cầu tuyên bố văn bản công chứng vô
hiệu.
7. Yêu cầu công nhận kết quả hòa giải thành
ngoài Tòa án.
8. Yêu cầu công nhận tài sản có trên lãnh thổ
Việt Nam là vô chủ, công nhận quyền sở hữu của người đang quản lý đối với tài
sản vô chủ trên lãnh thổ Việt Nam theo quy định tại điểm đ khoản
2 Điều 470 của Bộ luật này.
9. Yêu cầu xác định quyền sở hữu, quyền sử
dụng tài sản, phân chia tài sản chung để thi hành án và yêu cầu khác theo quy
định của Luật Thi hành án dân sự.
10. Các yêu cầu khác về dân sự, trừ trường
hợp thuộc thẩm quyền giải quyết của cơ quan, tổ chức khác theo quy định của
pháp luật.
Điều 28. Những tranh chấp về hôn nhân và gia
đình thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án
1. Ly hôn, tranh chấp về nuôi con, chia tài
sản khi ly hôn; chia tài sản sau khi ly hôn.
2. Tranh chấp về chia tài sản chung của vợ
chồng trong thời kỳ hôn nhân.
3. Tranh chấp về thay đổi người trực tiếp
nuôi con sau khi ly hôn.
4. Tranh chấp về xác định cha, mẹ cho con
hoặc xác định con cho cha, mẹ.
5. Tranh chấp về cấp dưỡng.
6. Tranh chấp về sinh con bằng kỹ thuật hỗ
trợ sinh sản, mang thai hộ vì mục đích nhân đạo.
7. Tranh chấp về nuôi con, chia tài sản của
nam, nữ chung sống với nhau như vợ chồng mà không đăng ký kết hôn hoặc khi hủy
kết hôn trái pháp luật.
8. Các tranh chấp khác về hôn nhân và gia
đình, trừ trường hợp thuộc thẩm quyền giải quyết của cơ quan, tổ chức khác theo
quy định của pháp luật.
Điều 29. Những yêu cầu về hôn nhân và gia
đình thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án
1. Yêu cầu hủy việc kết hôn trái pháp luật.
2. Yêu cầu công nhận thuận tình ly hôn, thỏa
thuận nuôi con, chia tài sản khi ly hôn.
3. Yêu cầu công nhận thỏa thuận của cha, mẹ
về thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn hoặc công nhận việc thay
đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn của cơ quan, tổ chức, cá nhân theo
quy định của pháp luật về hôn nhân và gia đình.
4. Yêu cầu hạn chế quyền của cha, mẹ đối với
con chưa thành niên hoặc quyền thăm nom con sau khi ly hôn.
5. Yêu cầu chấm dứt việc nuôi con nuôi.
6. Yêu cầu liên quan đến việc mang thai hộ
theo quy định của pháp luật hôn nhân và gia đình.
7. Yêu cầu công nhận thỏa thuận chấm dứt hiệu
lực của việc chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân đã được thực hiện theo
bản án, quyết định của Tòa án.
8. Yêu cầu tuyên bố vô hiệu thỏa thuận về chế
độ tài sản của vợ chồng theo quy định của pháp luật hôn nhân và gia đình.
9. Yêu cầu công nhận và cho thi hành tại Việt
Nam hoặc không công nhận bản án, quyết định về hôn nhân và gia đình của Tòa án
nước ngoài hoặc cơ quan khác có thẩm quyền của nước ngoài hoặc không công nhận
bản án, quyết định về hôn nhân và gia đình của Tòa án nước ngoài hoặc cơ quan
khác có thẩm quyền của nước ngoài không có yêu cầu thi hành tại Việt Nam.
10. Yêu cầu xác định cha, mẹ cho con hoặc con
cho cha, mẹ theo quy định của pháp luật về hôn nhân và gia đình.
11. Các yêu cầu khác về hôn nhân và gia đình,
trừ trường hợp thuộc thẩm quyền giải quyết của cơ quan, tổ chức khác theo quy
định của pháp luật.
Điều 30. Những tranh chấp về kinh doanh,
thương mại thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án
1. Tranh chấp phát sinh trong hoạt động kinh
doanh, thương mại giữa cá nhân, tổ chức có đăng ký kinh doanh với nhau và đều
có mục đích lợi nhuận.
2. Tranh chấp về quyền sở hữu trí tuệ, chuyển
giao công nghệ giữa cá nhân, tổ chức với nhau và đều có mục đích lợi nhuận.
3. Tranh chấp giữa người chưa phải là thành
viên công ty nhưng có giao dịch về chuyển nhượng phần vốn góp với công ty,
thành viên công ty.
4. Tranh chấp giữa công ty với các thành viên
của công ty; tranh chấp giữa công ty với người quản lý trong công ty trách
nhiệm hữu hạn hoặc thành viên Hội đồng quản trị, giám đốc, tổng giám đốc trong
công ty cổ phần, giữa các thành viên của công ty với nhau liên quan đến việc
thành lập, hoạt động, giải thể, sáp nhập, hợp nhất, chia, tách, bàn giao tài
sản của công ty, chuyển đổi hình thức tổ chức của công ty.
5. Các tranh chấp khác về kinh doanh, thương
mại, trừ trường hợp thuộc thẩm quyền giải quyết của cơ quan, tổ chức khác theo
quy định của pháp luật.
Điều 31. Những yêu cầu về kinh doanh, thương
mại thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án
1. Yêu cầu hủy bỏ nghị quyết của Đại hội đồng
cổ đông, nghị quyết của Hội đồng thành viên theo quy định của pháp luật về
doanh nghiệp.
2. Yêu cầu liên quan đến việc Trọng tài
thương mại Việt Nam giải quyết tranh chấp theo quy định của pháp luật về Trọng
tài thương mại.
3. Yêu cầu bắt giữ tàu bay, tàu biển theo quy
định của pháp luật về hàng không dân dụng Việt Nam, về hàng hải Việt Nam, trừ
trường hợp bắt giữ tàu bay, tàu biển để bảo đảm giải quyết vụ án.
4. Yêu cầu công nhận và cho thi hành tại Việt
Nam hoặc không công nhận bản án, quyết định kinh doanh, thương mại của Tòa án
nước ngoài hoặc không công nhận bản án, quyết định kinh doanh, thương mại của
Tòa án nước ngoài không có yêu cầu thi hành tại Việt Nam.
5. Yêu cầu công nhận và cho thi hành tại Việt
Nam phán quyết kinh doanh, thương mại của Trọng tài nước ngoài.
6. Các yêu cầu khác về kinh doanh, thương
mại, trừ trường hợp thuộc thẩm quyền giải quyết của cơ quan, tổ chức khác theo
quy định của pháp luật.
Điều 32. Những tranh chấp về lao động và
tranh chấp liên quan đến lao động thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án[4]
1.[5] Tranh chấp lao động cá
nhân giữa người lao động với người sử dụng lao động phải thông qua thủ tục hòa
giải của hòa giải viên lao động mà hòa giải thành nhưng các bên không thực hiện
hoặc thực hiện không đúng, hòa giải không thành hoặc hết thời hạn hòa giải theo
quy định của pháp luật về lao động mà hòa giải viên lao động không tiến hành
hòa giải, trừ các tranh chấp lao động sau đây không bắt buộc phải qua thủ tục
hòa giải:
a) Về xử lý kỷ luật lao động theo hình thức
sa thải hoặc về trường hợp bị đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động;
b) Về bồi thường thiệt hại, trợ cấp khi chấm
dứt hợp đồng lao động;
c) Giữa người giúp việc gia đình với người sử
dụng lao động;
d) Về bảo hiểm xã hội theo quy định của pháp
luật về bảo hiểm xã hội, về bảo hiểm y tế theo quy định của pháp luật về bảo
hiểm y tế, về bảo hiểm thất nghiệp theo quy định của pháp luật về việc làm, về
bảo hiểm tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp theo quy định của pháp luật về an toàn,
vệ sinh lao động;
đ) Về bồi thường thiệt hại giữa người lao
động với doanh nghiệp, tổ chức đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài theo
hợp đồng;
e) Giữa người lao động thuê lại với người sử
dụng lao động thuê lại.
1a.[6] Tranh chấp lao động cá
nhân mà hai bên thỏa thuận lựa chọn Hội đồng trọng tài lao động giải quyết
nhưng hết thời hạn theo quy định của pháp luật về lao động mà Ban trọng tài lao
động không được thành lập, Ban trọng tài lao động không ra quyết định giải quyết
tranh chấp hoặc một trong các bên không thi hành quyết định của Ban trọng tài
lao động thì có quyền yêu cầu Tòa án giải quyết.
1b.[7] Tranh chấp lao động tập
thể về quyền theo quy định của pháp luật về lao động đã qua thủ tục hòa giải
của hòa giải viên lao động mà hòa giải không thành, hết thời hạn hòa giải theo
quy định của pháp luật về lao động mà hòa giải viên lao động không tiến hành
hòa giải hoặc một trong các bên không thực hiện biên bản hòa giải thành thì có
quyền yêu cầu Tòa án giải quyết.
1c.[8] Tranh chấp lao động tập
thể về quyền mà hai bên thỏa thuận lựa chọn Hội đồng trọng tài lao động giải
quyết nhưng hết thời hạn theo quy định của pháp luật về lao động mà Ban trọng
tài lao động không được thành lập, Ban trọng tài lao động không ra quyết định
giải quyết tranh chấp hoặc một trong các bên không thi hành quyết định của Ban
trọng tài lao động thì có quyền yêu cầu Tòa án giải quyết.
2.[9] (được bãi bỏ)
3. Tranh chấp liên quan đến lao động bao gồm:
a) Tranh chấp về học nghề, tập nghề;
b) Tranh chấp về cho thuê lại lao động;
c) Tranh chấp về quyền công đoàn, kinh phí
công đoàn;
d) Tranh chấp về an toàn lao động, vệ sinh
lao động.
4. Tranh chấp về bồi thường thiệt hại do đình
công bất hợp pháp.
5. Các tranh chấp khác về lao động, trừ
trường hợp thuộc thẩm quyền giải quyết của cơ quan, tổ chức khác theo quy định
của pháp luật.
Điều 33. Những yêu cầu về lao động thuộc thẩm
quyền giải quyết của Tòa án
1. Yêu cầu tuyên bố hợp đồng lao động, thỏa
ước lao động tập thể vô hiệu.
2. Yêu cầu xét tính hợp pháp của cuộc đình
công.
3. Yêu cầu công nhận và cho thi hành tại Việt
Nam hoặc không công nhận bản án, quyết định lao động của Tòa án nước ngoài hoặc
không công nhận bản án, quyết định lao động của Tòa án nước ngoài không có yêu
cầu thi hành tại Việt Nam.
4. Yêu cầu công nhận và cho thi hành tại Việt
Nam phán quyết lao động của Trọng tài nước ngoài.
5. Các yêu cầu khác về lao động, trừ trường
hợp thuộc thẩm quyền giải quyết của cơ quan, tổ chức khác theo quy định của
pháp luật.
Điều 34. Thẩm quyền của Tòa án đối với quyết
định cá biệt của cơ quan, tổ chức
1. Khi giải quyết vụ việc dân sự, Tòa án có
quyền hủy quyết định cá biệt trái pháp luật của cơ quan, tổ chức, người có thẩm
quyền xâm phạm quyền, lợi ích hợp pháp của đương sự trong vụ việc dân sự mà Tòa
án có nhiệm vụ giải quyết.
2. Quyết định cá biệt quy định tại khoản 1
Điều này là quyết định đã được ban hành về một vấn đề cụ thể và được áp dụng
một lần đối với một hoặc một số đối tượng cụ thể. Trường hợp vụ việc dân sự có
liên quan đến quyết định này thì phải được Tòa án xem xét trong cùng một vụ
việc dân sự đó.
3. Khi xem xét hủy quyết định quy định tại
khoản 1 Điều này, Tòa án phải đưa cơ quan, tổ chức hoặc người có thẩm quyền đã
ban hành quyết định tham gia tố tụng với tư cách người có quyền lợi, nghĩa vụ
liên quan.
Cơ quan, tổ chức, người có thẩm quyền đã ban
hành quyết định phải tham gia tố tụng và trình bày ý kiến của mình về quyết
định cá biệt bị Tòa án xem xét hủy.
4.[10] (được bãi bỏ)
Mục 2. THẨM QUYỀN CỦA TÒA ÁN CÁC CẤP
Điều 35. Thẩm quyền của Tòa án nhân dân khu
vực[11]
Tòa án nhân dân khu vực có thẩm quyền giải
quyết theo thủ tục sơ thẩm những tranh chấp quy định tại các điều
26, 28, 30 và 32 của Bộ luật này; giải quyết những yêu
cầu quy định tại các điều 27, 29, 31 và 33
của Bộ luật này, trừ yêu cầu hủy phán quyết trọng tài, đăng ký phán quyết
trọng tài vụ việc thuộc thẩm quyền giải quyết của một số Tòa án nhân dân cấp
tỉnh theo quy định tại khoản 2 Điều 37 của Bộ luật này.
Điều 36. Thẩm quyền của các Tòa chuyên trách
Tòa án nhân dân khu vực[12]
1. Tòa Dân sự Tòa án nhân dân khu vực có thẩm
quyền giải quyết theo thủ tục sơ thẩm những vụ việc về dân sự, lao động, trừ
những vụ việc thuộc thẩm quyền của Tòa Sở hữu trí tuệ Tòa án nhân dân khu vực
quy định tại khoản 3 Điều này.
2. Tòa Kinh tế Tòa án nhân dân khu vực có
thẩm quyền giải quyết theo thủ tục sơ thẩm những vụ việc về kinh doanh, thương
mại, trừ những vụ việc thuộc thẩm quyền của Tòa Sở hữu trí tuệ Tòa án nhân dân
khu vực quy định tại khoản 3 Điều này.
3. Tòa Sở hữu trí tuệ Tòa án nhân dân khu vực
có thẩm quyền giải quyết theo thủ tục sơ thẩm những vụ việc dân sự, kinh doanh,
thương mại về quyền sở hữu trí tuệ, chuyển giao công nghệ.
4. Tòa Gia đình và người chưa thành niên Tòa
án nhân dân khu vực có thẩm quyền giải quyết theo thủ tục sơ thẩm những vụ việc
về hôn nhân và gia đình.
5. Đối với Tòa án nhân dân khu vực chưa có
Tòa chuyên trách thì Chánh án Tòa án có trách nhiệm tổ chức công tác xét xử và
phân công Thẩm phán giải quyết vụ việc thuộc thẩm quyền của Tòa án nhân dân khu
vực.
Điều 37. Thẩm quyền của Tòa án nhân dân cấp
tỉnh[13]
1. Tòa án nhân dân cấp tỉnh có thẩm quyền
giải quyết theo thủ tục phúc thẩm những vụ việc mà bản án, quyết định chưa có
hiệu lực pháp luật của Tòa án nhân dân khu vực bị kháng cáo, kháng nghị; giám
đốc thẩm, tái thẩm bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật của Tòa án nhân
dân khu vực nhưng bị kháng nghị theo quy định của Bộ luật này.
2. Tòa án nhân dân cấp tỉnh có thẩm quyền
giải quyết yêu cầu hủy phán quyết trọng tài, đăng ký phán quyết trọng tài vụ
việc theo quy định của Luật Trọng tài thương mại.
Điều 38. Thẩm quyền của các Tòa chuyên trách
Tòa án nhân dân cấp tỉnh[14]
1. Tòa Dân sự Tòa án nhân dân cấp tỉnh có
thẩm quyền giải quyết theo thủ tục phúc thẩm những vụ việc mà bản án, quyết
định dân sự chưa có hiệu lực pháp luật của Tòa án nhân dân khu vực bị kháng
cáo, kháng nghị theo quy định của Bộ luật này, trừ những vụ việc dân sự về
quyền sở hữu trí tuệ, chuyển giao công nghệ quy định tại khoản 3 Điều này.
2. Tòa Gia đình và người chưa thành niên Tòa
án nhân dân cấp tỉnh có thẩm quyền giải quyết theo thủ tục phúc thẩm những vụ
việc mà bản án, quyết định hôn nhân và gia đình chưa có hiệu lực pháp luật của
Tòa án nhân dân khu vực bị kháng cáo, kháng nghị theo quy định của Bộ luật này.
3. Tòa Kinh tế Tòa án nhân dân cấp tỉnh có
thẩm quyền giải quyết theo thủ tục phúc thẩm những vụ việc mà bản án, quyết
định kinh doanh, thương mại; bản án, quyết định dân sự về quyền sở hữu trí tuệ,
chuyển giao công nghệ chưa có hiệu lực pháp luật của Tòa án nhân dân khu vực bị
kháng cáo, kháng nghị theo quy định của Bộ luật này.
Tòa Kinh tế thuộc một số Tòa án nhân dân cấp
tỉnh có thẩm quyền giải quyết yêu cầu hủy phán quyết trọng tài, đăng ký phán
quyết trọng tài vụ việc.
4. Tòa Lao động Tòa án nhân dân cấp tỉnh có
thẩm quyền giải quyết theo thủ tục phúc thẩm những vụ việc mà bản án, quyết
định lao động chưa có hiệu lực pháp luật của Tòa án nhân dân khu vực bị kháng
cáo, kháng nghị theo quy định của Bộ luật này.
Điều 39. Thẩm quyền của Tòa án theo lãnh thổ
1. Thẩm quyền giải quyết vụ án dân sự của Tòa
án theo lãnh thổ được xác định như sau:
a) Tòa án nơi bị đơn cư trú, làm việc, nếu bị
đơn là cá nhân hoặc nơi bị đơn có trụ sở, nếu bị đơn là cơ quan, tổ chức có
thẩm quyền giải quyết theo thủ tục sơ thẩm những tranh chấp về dân sự, hôn nhân
và gia đình, kinh doanh, thương mại, lao động quy định tại các điều
26, 28, 30 và 32 của Bộ luật này;
b) Các đương sự có quyền tự thoả thuận với
nhau bằng văn bản yêu cầu Tòa án nơi cư trú, làm việc của nguyên đơn, nếu
nguyên đơn là cá nhân hoặc nơi có trụ sở của nguyên đơn, nếu nguyên đơn là cơ
quan, tổ chức giải quyết những tranh chấp về dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh
doanh, thương mại, lao động quy định tại các điều 26, 28, 30 và 32 của Bộ luật này;
c) Đối tượng tranh chấp là bất động sản thì
chỉ Tòa án nơi có bất động sản có thẩm quyền giải quyết.
2. Thẩm quyền giải quyết việc dân sự của Tòa
án theo lãnh thổ được xác định như sau:
a) Tòa án nơi người bị yêu cầu tuyên bố mất
năng lực hành vi dân sự, bị hạn chế năng lực hành vi dân sự hoặc có khó khăn
trong nhận thức, làm chủ hành vi cư trú, làm việc có thẩm quyền giải quyết yêu
cầu tuyên bố một người mất năng lực hành vi dân sự, bị hạn chế năng lực hành vi
dân sự hoặc có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi;
b) Tòa án nơi người bị yêu cầu thông báo tìm
kiếm vắng mặt tại nơi cư trú, bị yêu cầu tuyên bố mất tích hoặc là đã chết có
nơi cư trú cuối cùng có thẩm quyền giải quyết yêu cầu thông báo tìm kiếm người
vắng mặt tại nơi cư trú và quản lý tài sản của người đó, yêu cầu tuyên bố một
người mất tích hoặc là đã chết;
c) Tòa án nơi người yêu cầu hủy bỏ quyết định
tuyên bố một người mất năng lực hành vi dân sự, bị hạn chế năng lực hành vi dân
sự hoặc có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi cư trú, làm việc có thẩm
quyền hủy bỏ quyết định tuyên bố một người mất năng lực hành vi dân sự, bị hạn
chế năng lực hành vi dân sự hoặc có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi.
Tòa án đã ra quyết định tuyên bố một người
mất tích hoặc là đã chết có thẩm quyền giải quyết yêu cầu hủy bỏ quyết định
tuyên bố một người mất tích hoặc là đã chết;
d) Tòa án nơi người phải thi hành bản án,
quyết định dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại, lao động của
Tòa án nước ngoài cư trú, làm việc, nếu người phải thi hành án là cá nhân hoặc
nơi người phải thi hành án có trụ sở, nếu người phải thi hành án là cơ quan, tổ
chức hoặc nơi có tài sản liên quan đến việc thi hành bản án, quyết định của Tòa
án nước ngoài có thẩm quyền giải quyết yêu cầu công nhận và cho thi hành tại
Việt Nam hoặc không công nhận bản án, quyết định dân sự, hôn nhân và gia đình,
kinh doanh, thương mại, lao động của Tòa án nước ngoài;
đ) Tòa án nơi người gửi đơn cư trú, làm việc,
nếu người gửi đơn là cá nhân hoặc nơi người gửi đơn có trụ sở, nếu người gửi
đơn là cơ quan, tổ chức có thẩm quyền giải quyết yêu cầu không công nhận bản
án, quyết định dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại, lao động
của Tòa án nước ngoài không có yêu cầu thi hành tại Việt Nam;
e) Tòa án nơi người phải thi hành phán quyết
của Trọng tài nước ngoài cư trú, làm việc, nếu người phải thi hành là cá nhân
hoặc nơi người phải thi hành có trụ sở, nếu người phải thi hành là cơ quan, tổ
chức hoặc nơi có tài sản liên quan đến việc thi hành phán quyết của Trọng tài
nước ngoài có thẩm quyền giải quyết yêu cầu công nhận và cho thi hành tại Việt
Nam phán quyết của Trọng tài nước ngoài;
g) Tòa án nơi việc đăng ký kết hôn trái pháp
luật được thực hiện có thẩm quyền giải quyết yêu cầu hủy việc kết hôn trái pháp
luật;
h) Tòa án nơi một trong các bên thuận tình ly
hôn, thỏa thuận nuôi con, chia tài sản khi ly hôn cư trú, làm việc có thẩm
quyền giải quyết yêu cầu công nhận thuận tình ly hôn, thỏa thuận nuôi con, chia
tài sản khi ly hôn;
i) Tòa án nơi một trong các bên thoả thuận về
thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn cư trú, làm việc có thẩm quyền
giải quyết yêu cầu công nhận sự thoả thuận về thay đổi người trực tiếp nuôi con
sau khi ly hôn.
Trường hợp cơ quan, tổ chức, cá nhân yêu cầu
thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn thì Tòa án nơi người con đang
cư trú có thẩm quyền giải quyết;
k) Tòa án nơi cha hoặc mẹ của con chưa thành
niên cư trú, làm việc có thẩm quyền giải quyết yêu cầu hạn chế quyền của cha,
mẹ đối với con chưa thành niên hoặc quyền thăm nom con sau khi ly hôn;
l) Tòa án nơi cha, mẹ nuôi hoặc con nuôi cư
trú, làm việc có thẩm quyền giải quyết yêu cầu chấm dứt việc nuôi con nuôi;
m) Tòa án nơi tổ chức hành nghề công chứng đã
thực hiện việc công chứng có trụ sở có thẩm quyền giải quyết yêu cầu tuyên bố
văn bản công chứng vô hiệu;
n) Tòa án nơi cơ quan thi hành án có thẩm
quyền thi hành án có trụ sở hoặc nơi có tài sản liên quan đến việc thi hành án
có thẩm quyền giải quyết yêu cầu xác định quyền sở hữu, quyền sử dụng tài sản,
phân chia tài sản chung để thi hành án và yêu cầu khác theo quy định của Luật
Thi hành án dân sự;
o) Thẩm quyền của Tòa án theo lãnh thổ giải
quyết yêu cầu liên quan đến việc Trọng tài thương mại Việt Nam giải quyết tranh
chấp được thực hiện theo quy định của pháp luật về Trọng tài thương mại;
p) Tòa án nơi có tài sản có thẩm quyền giải
quyết yêu cầu công nhận tài sản đó có trên lãnh thổ Việt Nam là vô chủ, công
nhận quyền sở hữu của người đang quản lý đối với tài sản vô chủ trên lãnh thổ
Việt Nam;
q) Tòa án nơi người mang thai hộ cư trú, làm
việc có thẩm quyền giải quyết yêu cầu liên quan đến việc mang thai hộ;
r) Tòa án nơi cư trú, làm việc của một trong
những người có tài sản chung có thẩm quyền giải quyết yêu cầu công nhận thỏa
thuận chấm dứt hiệu lực của việc chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân đã
được thực hiện theo bản án, quyết định của Tòa án;
s) Tòa án nơi người yêu cầu cư trú, làm việc
có thẩm quyền giải quyết yêu cầu công nhận kết quả hòa giải thành ngoài Tòa án;
t) Tòa án nơi cư trú, làm việc của người yêu
cầu có thẩm quyền giải quyết yêu cầu tuyên bố vô hiệu thỏa thuận về chế độ tài
sản của vợ chồng theo quy định của pháp luật hôn nhân và gia đình; xác định
cha, mẹ cho con hoặc con cho cha, mẹ theo quy định của pháp luật về hôn nhân và
gia đình;
u) Tòa án nơi có trụ sở của doanh nghiệp có
thẩm quyền giải quyết yêu cầu hủy bỏ nghị quyết của Đại hội cổ đông, nghị quyết
của Hội đồng thành viên;
v) Tòa án nơi giao kết hoặc thực hiện hợp
đồng lao động, thỏa ước lao động tập thể có thẩm quyền giải quyết yêu cầu tuyên
bố hợp đồng lao động, thỏa ước lao động tập thể đó vô hiệu;
x) Tòa án nơi xảy ra cuộc đình công có thẩm
quyền giải quyết yêu cầu xét tính hợp pháp của cuộc đình công;
y) Thẩm quyền của Tòa án theo lãnh thổ giải
quyết yêu cầu bắt giữ tàu bay, tàu biển được thực hiện theo quy định tại Điều 421 của Bộ luật này.
3. Trường hợp vụ án dân sự đã được Tòa án thụ
lý và đang giải quyết theo đúng quy định của Bộ luật này về thẩm quyền của Tòa
án theo lãnh thổ thì phải được Tòa án đó tiếp tục giải quyết mặc dù trong quá
trình giải quyết vụ án có sự thay đổi nơi cư trú, trụ sở hoặc địa chỉ giao dịch
của đương sự.
Điều 40. Thẩm quyền của Tòa án theo sự lựa
chọn của nguyên đơn, người yêu cầu
1. Nguyên đơn có quyền lựa chọn Tòa án giải
quyết tranh chấp về dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại, lao
động trong các trường hợp sau đây:
a) Nếu không biết nơi cư trú, làm việc, trụ
sở của bị đơn thì nguyên đơn có thể yêu cầu Tòa án nơi bị đơn cư trú, làm việc,
có trụ sở cuối cùng hoặc nơi bị đơn có tài sản giải quyết;
b) Nếu tranh chấp phát sinh từ hoạt động của
chi nhánh tổ chức thì nguyên đơn có thể yêu cầu Tòa án nơi tổ chức có trụ sở
hoặc nơi tổ chức có chi nhánh giải quyết;
c) Nếu bị đơn không có nơi cư trú, làm việc,
trụ sở ở Việt Nam hoặc vụ án về tranh chấp việc cấp dưỡng thì nguyên đơn có thể
yêu cầu Tòa án nơi mình cư trú, làm việc, có trụ sở giải quyết;
d) Nếu tranh chấp về bồi thường thiệt hại
ngoài hợp đồng thì nguyên đơn có thể yêu cầu Tòa án nơi mình cư trú, làm việc,
có trụ sở hoặc nơi xảy ra việc gây thiệt hại giải quyết;
đ) Nếu tranh chấp về bồi thường thiệt hại,
trợ cấp khi chấm dứt hợp đồng lao động, bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo
hiểm thất nghiệp, quyền và lợi ích liên quan đến việc làm, tiền lương, thu nhập
và các điều kiện lao động khác đối với người lao động thì nguyên đơn là người
lao động có thể yêu cầu Tòa án nơi mình cư trú, làm việc giải quyết;
e) Nếu tranh chấp phát sinh từ việc sử dụng
lao động của người cai thầu hoặc người có vai trò trung gian thì nguyên đơn có
thể yêu cầu Tòa án nơi người sử dụng lao động là chủ chính cư trú, làm việc, có
trụ sở hoặc nơi người cai thầu, người có vai trò trung gian cư trú, làm việc
giải quyết;
g) Nếu tranh chấp phát sinh từ quan hệ hợp
đồng thì nguyên đơn có thể yêu cầu Tòa án nơi hợp đồng được thực hiện giải
quyết;
h) Nếu các bị đơn cư trú, làm việc, có trụ sở
ở nhiều nơi khác nhau thì nguyên đơn có thể yêu cầu Tòa án nơi một trong các bị
đơn cư trú, làm việc, có trụ sở giải quyết;
i) Nếu tranh chấp bất động sản mà bất động
sản có ở nhiều địa phương khác nhau thì nguyên đơn có thể yêu cầu Tòa án nơi có
một trong các bất động sản giải quyết.
2. Người yêu cầu có quyền lựa chọn Tòa án
giải quyết yêu cầu về dân sự, hôn nhân và gia đình trong các trường hợp sau
đây:
a) Đối với các yêu cầu về dân sự quy định tại
các khoản 1, 2, 3, 4, 6, 7, 8, 9 và 10 Điều 27 của Bộ luật này
thì người yêu cầu có thể yêu cầu Tòa án nơi mình cư trú, làm việc, có trụ sở
hoặc nơi có tài sản của người bị yêu cầu giải quyết;
b) Đối với yêu cầu hủy việc kết hôn trái pháp
luật quy định tại khoản 1 Điều 29 của Bộ luật này thì người
yêu cầu có thể yêu cầu Tòa án nơi cư trú của một trong các bên đăng ký kết hôn
trái pháp luật giải quyết;
c) Đối với yêu cầu hạn chế quyền của cha, mẹ
đối với con chưa thành niên hoặc quyền thăm nom con sau khi ly hôn thì người
yêu cầu có thể yêu cầu Tòa án nơi người con cư trú giải quyết.
Điều 41. Chuyển vụ việc dân sự cho Tòa án
khác; giải quyết tranh chấp về thẩm quyền[15]
1. Vụ việc dân sự đã được thụ lý mà không
thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án đã thụ lý thì Tòa án đó ra quyết định
chuyển hồ sơ vụ việc dân sự cho Tòa án có thẩm quyền và xóa tên vụ án đó trong
sổ thụ lý. Quyết định này phải được gửi ngay cho Viện kiểm sát cùng cấp, đương
sự, cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan.
Đương sự, cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên
quan có quyền khiếu nại, Viện kiểm sát có quyền kiến nghị quyết định này trong
thời hạn 03 ngày làm việc, kể từ ngày nhận được quyết định. Trong thời hạn 03
ngày làm việc, kể từ ngày nhận được khiếu nại, kiến nghị, Chánh án Tòa án đã ra
quyết định chuyển vụ việc dân sự phải giải quyết khiếu nại, kiến nghị. Quyết
định của Chánh án Tòa án là quyết định cuối cùng.
2. Tranh chấp về thẩm quyền giữa các Tòa án
nhân dân khu vực trong cùng một tỉnh, thành phố do Chánh án Tòa án nhân dân cấp
tỉnh giải quyết.
3. Tranh chấp về thẩm quyền giữa các Tòa án
nhân dân khu vực thuộc các tỉnh, thành phố khác nhau do Chánh án Tòa án nhân
dân tối cao giải quyết.
4. Tranh chấp về thẩm quyền giữa các Tòa án
nhân dân cấp tỉnh do Chánh án Tòa án nhân dân tối cao giải quyết.
1. Tòa án nhập hai hoặc nhiều vụ án mà Tòa án
đó đã thụ lý riêng biệt thành một vụ án để giải quyết nếu việc nhập và việc
giải quyết trong cùng một vụ án bảo đảm đúng pháp luật.
Đối với vụ án có nhiều người có cùng yêu cầu
khởi kiện đối với cùng một cá nhân hoặc cùng một cơ quan, tổ chức thì Tòa án có
thể nhập các yêu cầu của họ để giải quyết trong cùng một vụ án.
2. Tòa án tách một vụ án có các yêu cầu khác
nhau thành hai hoặc nhiều vụ án nếu việc tách và việc giải quyết các vụ án được
tách bảo đảm đúng pháp luật.
3. Khi nhập hoặc tách vụ án quy định tại
khoản 1 và khoản 2 Điều này, Tòa án đã thụ lý vụ án phải ra quyết định và gửi
ngay cho Viện kiểm sát cùng cấp, đương sự, cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên
quan.
Mục 3. GIẢI QUYẾT VỤ VIỆC DÂN SỰ TRONG TRƯỜNG
HỢP CHƯA CÓ ĐIỀU LUẬT ĐỂ ÁP DỤNG
Điều 43. Nguyên tắc xác định thẩm quyền của
Tòa án trong trường hợp chưa có điều luật để áp dụng
Thẩm quyền của Tòa án thụ lý, giải quyết vụ
việc dân sự trong trường hợp chưa có điều luật để áp dụng được thực hiện theo
quy định tại các điều từ Điều 35 đến Điều 41 của Bộ luật này.
Trình tự, thủ tục thụ lý, giải quyết vụ việc
dân sự trong trường hợp chưa có điều luật để áp dụng được thực hiện theo quy
định của Bộ luật này.
Điều 45. Nguyên tắc giải quyết vụ việc dân sự
trong trường hợp chưa có điều luật để áp dụng
1. Việc áp dụng tập quán được thực hiện như
sau:
Tòa án áp dụng tập quán để giải quyết vụ việc
dân sự trong trường hợp các bên không có thỏa thuận và pháp luật không quy
định. Tập quán không được trái với các nguyên tắc cơ bản của pháp luật dân sự
quy định tại Điều 3 của Bộ luật Dân sự.
Khi yêu cầu Tòa án giải quyết vụ việc dân sự,
đương sự có quyền viện dẫn tập quán để yêu cầu Tòa án xem xét áp dụng.
Tòa án có trách nhiệm xác định giá trị áp
dụng của tập quán bảo đảm đúng quy định tại Điều 5 của Bộ luật Dân sự.
Trường hợp các đương sự viện dẫn các tập quán
khác nhau thì tập quán có giá trị áp dụng là tập quán được thừa nhận tại nơi
phát sinh vụ việc dân sự.
2. Việc áp dụng tương tự pháp luật được thực
hiện như sau:
Tòa án áp dụng tương tự pháp luật để giải
quyết vụ việc dân sự trong trường hợp các bên không có thỏa thuận, pháp luật
không có quy định và không có tập quán được áp dụng theo quy định tại Điều 5
của Bộ luật Dân sự và khoản 1 Điều này.
Khi áp dụng tương tự pháp luật, Tòa án phải
xác định rõ tính chất pháp lý của vụ việc dân sự, xác định rõ ràng trong hệ
thống pháp luật hiện hành không có quy phạm pháp luật nào điều chỉnh quan hệ đó
và xác định quy phạm pháp luật điều chỉnh quan hệ dân sự tương tự.
3. Việc áp dụng các nguyên tắc cơ bản của
pháp luật dân sự, án lệ, lẽ công bằng được thực hiện như sau:
Tòa án áp dụng các nguyên tắc cơ bản của pháp
luật dân sự, án lệ, lẽ công bằng để giải quyết vụ việc dân sự khi không thể áp
dụng tập quán, tương tự pháp luật theo quy định tại Điều 5 và khoản 1 Điều 6
của Bộ luật Dân sự, khoản 1 và khoản 2 Điều này.
Các nguyên tắc cơ bản của pháp luật dân sự là
những nguyên tắc được quy định tại Điều 3 của Bộ luật Dân sự.
Án lệ được Tòa án nghiên cứu, áp dụng trong
giải quyết vụ việc dân sự khi đã được Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối
cao lựa chọn và được Chánh án Tòa án nhân dân tối cao công bố.
Lẽ công bằng được xác định trên cơ sở lẽ phải
được mọi người trong xã hội thừa nhận, phù hợp với nguyên tắc nhân đạo, không
thiên vị và bình đẳng về quyền và nghĩa vụ của các đương sự trong vụ việc dân
sự đó.
CƠ QUAN TIẾN HÀNH TỐ TỤNG, NGƯỜI TIẾN HÀNH TỐ
TỤNG VÀ VIỆC THAY ĐỔI NGƯỜI TIẾN HÀNH TỐ TỤNG
Điều 46. Cơ quan tiến hành tố tụng, người
tiến hành tố tụng
1. Các cơ quan tiến hành tố tụng dân sự gồm
có:
a) Tòa án;
b) Viện kiểm sát.
2. Những người tiến hành tố tụng dân sự gồm
có:
a) Chánh án Tòa án, Thẩm phán, Hội thẩm nhân
dân, Thẩm tra viên Tòa án[16], Thư ký Tòa án;
b) Viện trưởng Viện kiểm sát, Kiểm sát viên,
Kiểm tra viên.
Điều 47. Nhiệm vụ, quyền hạn của Chánh án Tòa
án
1. Chánh án Tòa án có nhiệm vụ, quyền hạn sau
đây:
a) Tổ chức công tác giải quyết vụ việc dân sự
thuộc thẩm quyền của Tòa án; bảo đảm thực hiện nguyên tắc Thẩm phán, Hội thẩm
xét xử độc lập và chỉ tuân theo pháp luật;
b) Quyết định phân công Thẩm phán thụ lý vụ
việc dân sự, Thẩm phán giải quyết vụ việc dân sự, Hội thẩm nhân dân tham gia
Hội đồng xét xử vụ án dân sự; quyết định phân công Thẩm tra viên Tòa án[17], Thư ký Tòa án tiến hành tố tụng đối với vụ việc dân sự
bảo đảm đúng nguyên tắc quy định tại khoản 2 Điều 16 của Bộ
luật này;
c) Quyết định thay đổi Thẩm phán, Hội thẩm
nhân dân, Thẩm tra viên Tòa án[18], Thư ký Tòa án trước
khi mở phiên tòa;
d) Quyết định thay đổi người giám định, người
phiên dịch trước khi mở phiên tòa;
đ) Ra quyết định và tiến hành hoạt động tố
tụng dân sự theo quy định của Bộ luật này;
e) Giải quyết khiếu nại, tố cáo theo quy định
của Bộ luật này;
g) Kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm, tái
thẩm bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật của Tòa án theo quy định của
Bộ luật này hoặc kiến nghị Chánh án Tòa án có thẩm quyền xem xét kháng nghị
theo thủ tục giám đốc thẩm, tái thẩm bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp
luật của Tòa án;
h) Kiến nghị cơ quan nhà nước có thẩm quyền
xem xét, sửa đổi, bổ sung hoặc bãi bỏ văn bản quy phạm pháp luật nếu phát hiện
có dấu hiệu trái với Hiến pháp, luật, nghị quyết của Quốc hội, pháp lệnh, nghị
quyết của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, văn bản quy phạm pháp luật của cơ quan nhà
nước cấp trên theo quy định của Bộ luật này;
i) Xử lý hành vi cản trở hoạt động tố tụng
dân sự theo quy định của pháp luật;
k) Thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn khác theo
quy định của pháp luật.
2. Khi Chánh án vắng mặt, một Phó Chánh án
được Chánh án ủy nhiệm thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn của Chánh án, trừ quyền
kháng nghị quy định tại điểm g khoản 1 Điều này. Phó Chánh án chịu trách nhiệm
trước Chánh án về việc thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn được ủy nhiệm.
Điều 48. Nhiệm vụ, quyền hạn của Thẩm phán
Khi được Chánh án Tòa án phân công, Thẩm phán
có nhiệm vụ, quyền hạn sau đây:
1. Xử lý đơn khởi kiện, đơn yêu cầu, thụ lý
vụ việc dân sự theo quy định của Bộ luật này;
2. Lập hồ sơ vụ việc dân sự;
3. Tiến hành thu thập, xác minh chứng cứ, tổ
chức phiên tòa, phiên họp để giải quyết vụ việc dân sự theo quy định của Bộ
luật này;
4. Quyết định việc áp dụng, thay đổi, hủy bỏ
biện pháp khẩn cấp tạm thời;
5. Quyết định tạm đình chỉ hoặc đình chỉ giải
quyết vụ việc dân sự, quyết định tiếp tục đưa vụ việc dân sự ra giải quyết;
6. Giải thích, hướng dẫn cho đương sự biết để
họ thực hiện quyền được yêu cầu trợ giúp pháp lý theo quy định của pháp luật về
trợ giúp pháp lý;
7. Tiến hành phiên họp kiểm tra việc giao
nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, ra quyết định công nhận sự thoả
thuận của các đương sự theo quy định của Bộ luật này;
8. Quyết định đưa vụ án dân sự ra xét xử, đưa
việc dân sự ra giải quyết;
9. Triệu tập người tham gia phiên tòa, phiên
họp;
10. Chủ tọa hoặc tham gia xét xử vụ án dân
sự, giải quyết việc dân sự;
11. Đề nghị Chánh án Tòa án phân công Thẩm
tra viên Tòa án[19] hỗ trợ thực hiện hoạt
động tố tụng theo quy định của Bộ luật này;
12. Phát hiện và đề nghị Chánh án Tòa án kiến
nghị cơ quan nhà nước có thẩm quyền xem xét, sửa đổi, bổ sung hoặc bãi bỏ văn
bản quy phạm pháp luật có dấu hiệu trái với Hiến pháp, luật, nghị quyết của
Quốc hội, pháp lệnh, nghị quyết của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, văn bản quy phạm
pháp luật của cơ quan nhà nước cấp trên theo quy định của Bộ luật này;
13. Xử lý hành vi cản trở hoạt động tố tụng
dân sự theo quy định của pháp luật;
14. Tiến hành hoạt động tố tụng khác khi giải
quyết vụ việc dân sự theo quy định của Bộ luật này.
Điều 49. Nhiệm vụ, quyền hạn của Hội thẩm
nhân dân
Khi được Chánh án Tòa án phân công, Hội thẩm
nhân dân có nhiệm vụ, quyền hạn sau đây:
1. Nghiên cứu hồ sơ vụ án trước khi mở phiên
tòa;
2. Đề nghị Chánh án Tòa án, Thẩm phán ra các
quyết định cần thiết thuộc thẩm quyền;
3. Tham gia Hội đồng xét xử vụ án dân sự;
4. Tiến hành các hoạt động tố tụng và ngang
quyền với Thẩm phán khi biểu quyết những vấn đề thuộc thẩm quyền của Hội đồng
xét xử.
Điều 50. Nhiệm vụ, quyền hạn của Thẩm tra
viên Tòa án[20]
Khi được Chánh án Tòa án phân công, Thẩm tra
viên Tòa án[21] có nhiệm vụ, quyền hạn sau đây:
1. Thẩm tra hồ sơ vụ việc dân sự mà bản án,
quyết định của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật cần xem xét lại theo thủ tục
giám đốc thẩm, tái thẩm;
2. Kết luận về việc thẩm tra và báo cáo kết
quả thẩm tra, đề xuất phương án giải quyết vụ việc dân sự với Chánh án Tòa án;
3. Thu thập tài liệu, chứng cứ có liên quan
đến vụ việc dân sự theo quy định của Bộ luật này;
4. Hỗ trợ Thẩm phán thực hiện hoạt động tố
tụng theo quy định của Bộ luật này;
5. Thực hiện nhiệm vụ khác theo quy định của
Bộ luật này.
Điều 51. Nhiệm vụ, quyền hạn của Thư ký Tòa
án
Khi được Chánh án Tòa án phân công, Thư ký
Tòa án có nhiệm vụ, quyền hạn sau đây:
1. Chuẩn bị các công tác nghiệp vụ cần thiết
trước khi khai mạc phiên tòa;
2. Phổ biến nội quy phiên tòa;
3. Kiểm tra và báo cáo với Hội đồng xét xử
danh sách những người được triệu tập đến phiên tòa;
4. Ghi biên bản phiên tòa, phiên họp, biên
bản lấy lời khai của người tham gia tố tụng;
5. Thực hiện nhiệm vụ khác theo quy định của
Bộ luật này.
Điều 52. Những trường hợp phải từ chối hoặc
thay đổi người tiến hành tố tụng
Người tiến hành tố tụng phải từ chối tiến
hành tố tụng hoặc bị thay đổi trong những trường hợp sau đây:
1. Họ đồng thời là đương sự, người đại diện,
người thân thích của đương sự;
2. Họ đã tham gia tố tụng với tư cách là
người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự, người làm chứng, người
giám định, người phiên dịch trong cùng vụ việc đó;
3. Có căn cứ rõ ràng cho rằng họ có thể không
vô tư trong khi làm nhiệm vụ.
Điều 53. Thay đổi Thẩm phán, Hội thẩm nhân
dân
Thẩm phán, Hội thẩm nhân dân phải từ chối
tiến hành tố tụng hoặc bị thay đổi trong những trường hợp sau đây:
1. Thuộc một trong những trường hợp quy định
tại Điều 52 của Bộ luật này;
2. Họ cùng trong một Hội đồng xét xử và là
người thân thích với nhau; trong trường hợp này, chỉ có một người được tiến
hành tố tụng;
3.[22] Họ đã tham gia giải
quyết theo thủ tục sơ thẩm, phúc thẩm, giám đốc thẩm hoặc tái thẩm vụ việc dân
sự đó và đã ra bản án sơ thẩm, bản án, quyết định phúc thẩm, quyết định giám
đốc thẩm hoặc tái thẩm, quyết định giải quyết việc dân sự, quyết định đình chỉ
giải quyết vụ việc, quyết định công nhận sự thỏa thuận của các đương sự, trừ
trường hợp là thành viên của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao, Ủy ban
Thẩm phán Tòa án nhân dân cấp tỉnh thì vẫn được tham gia giải quyết vụ việc đó
theo thủ tục giám đốc thẩm, tái thẩm;
4.[23] Họ đã là người tiến
hành tố tụng trong vụ việc đó với tư cách là Thẩm tra viên Tòa án, Thư ký Tòa
án, Kiểm sát viên, Kiểm tra viên.
Điều 54. Thay đổi Thư ký Tòa án, Thẩm tra
viên Tòa án[24]
Thư ký Tòa án, Thẩm tra viên Tòa án[25] phải từ chối tiến hành tố tụng hoặc bị thay đổi trong
những trường hợp sau đây:
1. Thuộc một trong những trường hợp quy định
tại Điều 52 của Bộ luật này;
2. Họ đã là người tiến hành tố tụng trong vụ
việc đó với tư cách là Thẩm phán, Hội thẩm nhân dân, Thẩm tra viên Tòa án[26], Thư ký Tòa án, Kiểm sát viên, Kiểm tra viên;
3. Là người thân thích với một trong những
người tiến hành tố tụng khác trong vụ việc đó.
Điều 55. Thủ tục từ chối tiến hành tố tụng
hoặc đề nghị thay đổi Thẩm phán, Hội thẩm nhân dân, Thẩm tra viên Tòa án[27], Thư ký Tòa án
1. Việc từ chối tiến hành tố tụng hoặc đề
nghị thay đổi Thẩm phán, Hội thẩm nhân dân, Thẩm tra viên Tòa án[28], Thư ký Tòa án trước khi mở phiên tòa, phiên họp phải
được lập thành văn bản, trong đó nêu rõ lý do và căn cứ của việc từ chối tiến
hành tố tụng hoặc đề nghị thay đổi người tiến hành tố tụng.
2. Việc từ chối tiến hành tố tụng hoặc đề
nghị thay đổi những người quy định tại khoản 1 Điều này tại phiên tòa, phiên
họp phải được ghi vào biên bản phiên tòa, phiên họp.
Điều 56. Quyết định việc thay đổi Thẩm phán,
Hội thẩm nhân dân, Thẩm tra viên Tòa án, Thư ký Tòa án[29]
1. Trước khi mở phiên tòa, việc thay đổi Thẩm
phán, Hội thẩm nhân dân, Thẩm tra viên Tòa án, Thư ký Tòa án do Chánh án Tòa án
quyết định. Trường hợp Thẩm phán bị thay đổi là Chánh án Tòa án thì thẩm quyền
quyết định việc thay đổi như sau:
a) Thẩm phán là Chánh án Tòa án nhân dân khu
vực thì do Chánh án Tòa án nhân dân cấp tỉnh quyết định;
b) Thẩm phán là Chánh án Tòa án nhân dân cấp
tỉnh thì do Chánh án Tòa án nhân dân tối cao quyết định.
2. Tại phiên tòa, việc thay đổi Thẩm phán,
Hội thẩm nhân dân, Thẩm tra viên Tòa án, Thư ký Tòa án do Hội đồng xét xử quyết
định sau khi nghe ý kiến của người bị yêu cầu thay đổi. Hội đồng xét xử thảo
luận tại phòng nghị án và quyết định theo đa số. Trường hợp phải thay đổi Thẩm
phán, Hội thẩm nhân dân, Thẩm tra viên Tòa án, Thư ký Tòa án thì Hội đồng xét
xử ra quyết định hoãn phiên tòa. Chánh án Tòa án quyết định cử Thẩm phán, Hội
thẩm nhân dân, Thẩm tra viên Tòa án, Thư ký Tòa án thay thế người bị thay đổi.
Nếu người bị thay đổi là Chánh án Tòa án thì thẩm quyền quyết định được thực
hiện theo quy định tại khoản 1 Điều này.
3. Việc thay đổi Thẩm phán, Thư ký Tòa án khi
giải quyết việc dân sự được thực hiện theo quy định tại khoản 1
và khoản 2 Điều 368 của Bộ luật này.
4. Trong thời hạn 03 ngày làm việc, kể từ
ngày hoãn phiên tòa, phiên họp, Chánh án Tòa án phải cử người khác thay thế.
Điều 57. Nhiệm vụ, quyền hạn của Viện trưởng
Viện kiểm sát
1. Khi kiểm sát việc tuân theo pháp luật
trong tố tụng dân sự, Viện trưởng Viện kiểm sát có nhiệm vụ, quyền hạn sau đây:
a) Tổ chức và chỉ đạo thực hiện công tác kiểm
sát việc tuân theo pháp luật trong tố tụng dân sự;
b) Quyết định phân công Kiểm sát viên thực
hiện kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong tố tụng dân sự, tham gia phiên tòa
xét xử vụ án dân sự, phiên họp giải quyết việc dân sự theo quy định của Bộ luật
này và thông báo cho Tòa án; quyết định phân công Kiểm tra viên tiến hành tố
tụng đối với vụ việc dân sự bảo đảm đúng nguyên tắc quy định tại khoản
2 Điều 16 của Bộ luật này;
c) Quyết định thay đổi Kiểm sát viên, Kiểm
tra viên;
d) Kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm, giám
đốc thẩm, tái thẩm bản án, quyết định của Tòa án theo quy định của Bộ luật này;
đ) Yêu cầu, kiến nghị theo quy định của Bộ
luật này;
e) Giải quyết khiếu nại, tố cáo theo quy định
của Bộ luật này;
g) Thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn khác theo
quy định của pháp luật.
2. Khi Viện trưởng vắng mặt, một Phó Viện
trưởng được Viện trưởng ủy nhiệm thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn của Viện trưởng,
trừ quyền quyết định kháng nghị quy định tại điểm d khoản 1 Điều này. Phó Viện
trưởng chịu trách nhiệm trước Viện trưởng về việc thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn
được ủy nhiệm.
Điều 58. Nhiệm vụ, quyền hạn của Kiểm sát
viên
Khi được Viện trưởng Viện kiểm sát phân công
thực hiện kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong tố tụng dân sự, Kiểm sát viên
có nhiệm vụ, quyền hạn sau đây:
1. Kiểm sát việc trả lại đơn khởi kiện, đơn
yêu cầu;
2. Kiểm sát việc thụ lý, giải quyết vụ việc
dân sự;
3. Nghiên cứu hồ sơ vụ việc; yêu cầu Tòa án
xác minh, thu thập chứng cứ trong quá trình giải quyết vụ việc dân sự theo quy
định của Bộ luật này; thu thập tài liệu, chứng cứ theo quy định tại khoản 6 Điều 97 của Bộ luật này;
4. Tham gia phiên tòa, phiên họp và phát biểu
ý kiến của Viện kiểm sát về việc giải quyết vụ việc theo quy định của Bộ luật
này;
5. Kiểm sát bản án, quyết định của Tòa án;
6. Kiến nghị, yêu cầu Tòa án thực hiện đúng
các hoạt động tố tụng theo quy định của Bộ luật này;
7. Đề nghị Viện trưởng Viện kiểm sát có thẩm
quyền kháng nghị bản án, quyết định của Tòa án có vi phạm pháp luật;
8. Kiểm sát hoạt động tố tụng của người tham
gia tố tụng; yêu cầu, kiến nghị cơ quan, tổ chức có thẩm quyền xử lý nghiêm
minh người tham gia tố tụng vi phạm pháp luật;
9. Thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn tố tụng dân
sự khác thuộc thẩm quyền của Viện kiểm sát theo quy định của Bộ luật này.
Điều 59. Nhiệm vụ, quyền hạn của Kiểm tra
viên
Khi được phân công tiến hành hoạt động tố
tụng, Kiểm tra viên có nhiệm vụ, quyền hạn sau đây:
1. Nghiên cứu hồ sơ vụ việc, báo cáo kết quả
với Kiểm sát viên;
2. Lập hồ sơ kiểm sát vụ việc dân sự theo
phân công của Kiểm sát viên hoặc Viện trưởng Viện kiểm sát;
3. Giúp Kiểm sát viên kiểm sát việc tuân theo
pháp luật trong tố tụng dân sự.
Điều 60. Thay đổi Kiểm sát viên, Kiểm tra
viên
Kiểm sát viên, Kiểm tra viên phải từ chối
tiến hành tố tụng hoặc bị thay đổi trong những trường hợp sau đây:
1. Thuộc một trong những trường hợp quy định
tại Điều 52 của Bộ luật này;
2. Họ đã là người tiến hành tố tụng trong vụ
việc đó với tư cách là Thẩm phán, Hội thẩm nhân dân, Thẩm tra viên Tòa án[30], Thư ký Tòa án, Kiểm sát viên, Kiểm tra viên.
Điều 61. Thủ tục từ chối tiến hành tố tụng
hoặc đề nghị thay đổi Kiểm sát viên, Kiểm tra viên
1. Trước khi mở phiên tòa, việc từ chối tiến
hành tố tụng hoặc đề nghị thay đổi Kiểm sát viên phải được lập thành văn bản,
trong đó nêu rõ lý do và căn cứ của việc từ chối hoặc đề nghị thay đổi Kiểm sát
viên.
Việc từ chối tiến hành tố tụng hoặc đề nghị
thay đổi Kiểm tra viên phải được lập thành văn bản, trong đó nêu rõ lý do và
căn cứ của việc từ chối hoặc đề nghị thay đổi Kiểm tra viên.
2. Tại phiên tòa, việc từ chối tiến hành tố
tụng hoặc đề nghị thay đổi Kiểm sát viên phải được ghi vào biên bản phiên tòa.
Điều 62. Quyết định việc thay đổi Kiểm sát
viên, Kiểm tra viên
1. Trước khi mở phiên tòa, việc thay đổi Kiểm
sát viên do Viện trưởng Viện kiểm sát cùng cấp quyết định; nếu Kiểm sát viên bị
thay đổi là Viện trưởng Viện kiểm sát thì do Viện trưởng Viện kiểm sát cấp trên
trực tiếp quyết định.
Việc thay đổi Kiểm tra viên do Viện trưởng
Viện kiểm sát cùng cấp quyết định.
2. Tại phiên tòa, việc thay đổi Kiểm sát viên
do Hội đồng xét xử quyết định sau khi nghe ý kiến của người bị yêu cầu thay
đổi. Hội đồng xét xử thảo luận tại phòng nghị án và quyết định theo đa số.
Trường hợp phải thay đổi Kiểm sát viên thì
Hội đồng xét xử ra quyết định hoãn phiên tòa. Việc cử Kiểm sát viên thay thế
Kiểm sát viên bị thay đổi do Viện trưởng Viện kiểm sát cùng cấp quyết định. Nếu
Kiểm sát viên bị thay đổi là Viện trưởng Viện kiểm sát thì do Viện trưởng Viện
kiểm sát cấp trên trực tiếp quyết định.
3. Việc thay đổi Kiểm sát viên khi giải quyết
việc dân sự được thực hiện theo quy định tại khoản 3 Điều 368
của Bộ luật này.
4. Trong thời hạn 03 ngày làm việc, kể từ
ngày hoãn phiên tòa, phiên họp, Viện trưởng Viện kiểm sát phải cử người khác
thay thế và thông báo bằng văn bản cho Tòa án.
THÀNH PHẦN GIẢI QUYẾT VỤ VIỆC DÂN SỰ
Điều 63. Hội đồng xét xử sơ thẩm vụ án dân sự
Hội đồng xét xử sơ thẩm vụ án dân sự gồm một
Thẩm phán và hai Hội thẩm nhân dân, trừ trường hợp quy định tại Điều
65 của Bộ luật này. Trong trường hợp đặc biệt thì Hội đồng xét xử sơ thẩm
có thể gồm hai Thẩm phán và ba Hội thẩm nhân dân.
Đối với vụ án có đương sự là người chưa thành
niên thì phải có Hội thẩm nhân dân là người đã hoặc đang công tác tại Đoàn
thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh, Hội liên hiệp phụ nữ Việt Nam, cơ quan quản lý
nhà nước về gia đình, cơ quan quản lý nhà nước về trẻ em.
Đối với vụ án lao động thì phải có Hội thẩm
nhân dân là người đã hoặc đang công tác trong tổ chức đại diện tập thể lao động
hoặc người có kiến thức về pháp luật lao động.
Điều 64. Hội đồng xét xử phúc thẩm vụ án dân
sự
Hội đồng xét xử phúc thẩm vụ án dân sự gồm ba
Thẩm phán, trừ trường hợp quy định tại Điều 65 của Bộ luật này.
Điều 65. Xét xử vụ án dân sự theo thủ tục rút
gọn
Việc xét xử sơ thẩm, phúc thẩm vụ án dân sự
theo thủ tục rút gọn do một Thẩm phán tiến hành.
Điều 66. Hội đồng xét xử giám đốc thẩm, tái
thẩm vụ án dân sự
1.[31] Ủy ban Thẩm phán Tòa
án nhân dân cấp tỉnh xét xử giám đốc thẩm, tái thẩm bằng Hội đồng xét xử gồm
toàn thể Ủy ban Thẩm phán Tòa án nhân dân cấp tỉnh.
2. Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao
xét xử giám đốc thẩm, tái thẩm bằng Hội đồng xét xử gồm năm Thẩm phán hoặc toàn
thể Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao.
Điều 67. Thành phần giải quyết việc dân sự
1. Yêu cầu về dân sự, hôn nhân và gia đình,
kinh doanh, thương mại, lao động quy định tại khoản 5 Điều 27,
khoản 9 Điều 29, khoản 4 và k hoản 5 Điều 31, các khoản 2, 3 và 4 Điều 33 của
Bộ luật này hoặc việc xét kháng cáo, kháng nghị đối với quyết định giải
quyết việc dân sự do tập thể gồm ba Thẩm phán giải quyết.
2. Yêu cầu về dân sự, hôn nhân và gia đình,
kinh doanh, thương mại, lao động không thuộc trường hợp quy định tại khoản 1
Điều này do một Thẩm phán giải quyết.
3. Thành phần giải quyết yêu cầu về kinh
doanh, thương mại quy định tại khoản 2 Điều 31 của Bộ luật này
được thực hiện theo quy định của pháp luật về Trọng tài thương mại.
Mục 1. ĐƯƠNG SỰ TRONG VỤ VIỆC DÂN SỰ
Điều 68. Đương sự trong vụ việc dân sự
1. Đương sự trong vụ án dân sự là cơ quan, tổ
chức, cá nhân bao gồm nguyên đơn, bị đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên
quan.
Đương sự trong việc dân sự là cơ quan, tổ
chức, cá nhân bao gồm người yêu cầu giải quyết việc dân sự và người có quyền
lợi, nghĩa vụ liên quan.
2. Nguyên đơn trong vụ án dân sự là người
khởi kiện, người được cơ quan, tổ chức, cá nhân khác do Bộ luật này quy định
khởi kiện để yêu cầu Tòa án giải quyết vụ án dân sự khi cho rằng quyền và lợi
ích hợp pháp của người đó bị xâm phạm.
Cơ quan, tổ chức do Bộ luật này quy định khởi
kiện vụ án dân sự để yêu cầu Tòa án bảo vệ lợi ích công cộng, lợi ích của Nhà
nước thuộc lĩnh vực mình phụ trách cũng là nguyên đơn.
3. Bị đơn trong vụ án dân sự là người bị
nguyên đơn khởi kiện hoặc bị cơ quan, tổ chức, cá nhân khác do Bộ luật này quy
định khởi kiện để yêu cầu Tòa án giải quyết vụ án dân sự khi cho rằng quyền và
lợi ích hợp pháp của nguyên đơn bị người đó xâm phạm.
4. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan
trong vụ án dân sự là người tuy không khởi kiện, không bị kiện, nhưng việc giải
quyết vụ án dân sự có liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của họ nên họ được tự
mình đề nghị hoặc các đương sự khác đề nghị và được Tòa án chấp nhận đưa họ vào
tham gia tố tụng với tư cách là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan.
Trường hợp việc giải quyết vụ án dân sự có
liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của một người nào đó mà không có ai đề nghị
đưa họ vào tham gia tố tụng với tư cách là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên
quan thì Tòa án phải đưa họ vào tham gia tố tụng với tư cách là người có quyền
lợi, nghĩa vụ liên quan.
5. Người yêu cầu giải quyết việc dân sự là
người yêu cầu Tòa án công nhận hoặc không công nhận một sự kiện pháp lý làm căn
cứ phát sinh quyền, nghĩa vụ về dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh,
thương mại, lao động của mình hoặc của cơ quan, tổ chức, cá nhân khác; yêu cầu
Tòa án công nhận cho mình quyền về dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh,
thương mại, lao động.
6. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan
trong việc dân sự là người tuy không yêu cầu giải quyết việc dân sự nhưng việc
giải quyết việc dân sự có liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của họ nên họ được
tự mình đề nghị hoặc đương sự trong việc dân sự đề nghị và được Tòa án chấp
nhận đưa họ vào tham gia tố tụng với tư cách là người có quyền lợi, nghĩa vụ
liên quan.
Trường hợp giải quyết việc dân sự có liên
quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của một người nào đó mà không có ai đề nghị đưa họ
vào tham gia tố tụng với tư cách là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan thì
Tòa án phải đưa họ vào tham gia tố tụng với tư cách là người có quyền lợi,
nghĩa vụ liên quan trong việc dân sự.
Điều 69. Năng lực pháp luật tố tụng dân sự và
năng lực hành vi tố tụng dân sự của đương sự
1. Năng lực pháp luật tố tụng dân sự là khả
năng có các quyền, nghĩa vụ trong tố tụng dân sự do pháp luật quy định. Mọi cơ
quan, tổ chức, cá nhân có năng lực pháp luật tố tụng dân sự như nhau trong việc
yêu cầu Tòa án bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình.
2. Năng lực hành vi tố tụng dân sự là khả
năng tự mình thực hiện quyền, nghĩa vụ tố tụng dân sự hoặc ủy quyền cho người
đại diện tham gia tố tụng dân sự.
3. Đương sự là người từ đủ mười tám tuổi trở
lên có đầy đủ năng lực hành vi tố tụng dân sự, trừ người mất năng lực hành vi
dân sự hoặc pháp luật có quy định khác.
Đối với người bị hạn chế năng lực hành vi dân
sự, người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi thì năng lực hành vi tố
tụng dân sự của họ được xác định theo quyết định của Tòa án.
4. Đương sự là người chưa đủ sáu tuổi hoặc
người mất năng lực hành vi dân sự thì không có năng lực hành vi tố tụng dân sự.
Việc thực hiện quyền, nghĩa vụ tố tụng dân sự của đương sự, việc bảo vệ quyền
và lợi ích hợp pháp cho những người này tại Tòa án do người đại diện hợp pháp
của họ thực hiện.
5. Đương sự là người từ đủ sáu tuổi đến chưa
đủ mười lăm tuổi thì việc thực hiện quyền, nghĩa vụ tố tụng dân sự của đương
sự, việc bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho những người này tại Tòa án do
người đại diện hợp pháp của họ thực hiện.
Đối với người bị hạn chế năng lực hành vi dân
sự, người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi thì việc thực hiện
quyền, nghĩa vụ tố tụng dân sự của họ, việc bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp
cho họ được xác định theo quyết định của Tòa án.
6. Đương sự là người từ đủ mười lăm tuổi đến
chưa đủ mười tám tuổi đã tham gia lao động theo hợp đồng lao động hoặc giao
dịch dân sự bằng tài sản riêng của mình được tự mình tham gia tố tụng về những
việc có liên quan đến quan hệ lao động hoặc quan hệ dân sự đó. Trong trường hợp
này, Tòa án có quyền triệu tập người đại diện hợp pháp của họ tham gia tố tụng.
Đối với những việc khác, việc thực hiện quyền, nghĩa vụ tố tụng dân sự của
đương sự tại Tòa án do người đại diện hợp pháp của họ thực hiện.
7. Đương sự là cơ quan, tổ chức do người đại
diện hợp pháp tham gia tố tụng.
Điều 70. Quyền, nghĩa vụ của đương sự
Đương sự có quyền, nghĩa vụ ngang nhau khi
tham gia tố tụng. Khi tham gia tố tụng, đương sự có quyền, nghĩa vụ sau đây:
1. Tôn trọng Tòa án, chấp hành nghiêm chỉnh
nội quy phiên tòa;
2. Nộp tiền tạm ứng án phí, tạm ứng lệ phí,
án phí, lệ phí và chi phí tố tụng khác theo quy định của pháp luật;
3. Cung cấp đầy đủ, chính xác địa chỉ nơi cư
trú, trụ sở của mình; trong quá trình Tòa án giải quyết vụ việc nếu có thay đổi
địa chỉ nơi cư trú, trụ sở thì phải thông báo kịp thời cho đương sự khác và Tòa
án;
4. Giữ nguyên, thay đổi, bổ sung hoặc rút yêu
cầu theo quy định của Bộ luật này;
5. Cung cấp tài liệu, chứng cứ; chứng minh để
bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình;
6. Yêu cầu cơ quan, tổ chức, cá nhân đang lưu
giữ, quản lý tài liệu, chứng cứ cung cấp tài liệu, chứng cứ đó cho mình;
7. Đề nghị Tòa án xác minh, thu thập tài
liệu, chứng cứ của vụ việc mà tự mình không thể thực hiện được; đề nghị Tòa án
yêu cầu đương sự khác xuất trình tài liệu, chứng cứ mà họ đang giữ; đề nghị Tòa
án ra quyết định yêu cầu cơ quan, tổ chức, cá nhân đang lưu giữ, quản lý tài
liệu, chứng cứ cung cấp tài liệu, chứng cứ đó; đề nghị Tòa án triệu tập người
làm chứng, trưng cầu giám định, quyết định việc định giá tài sản;
8. Được biết, ghi chép, sao chụp tài liệu,
chứng cứ do đương sự khác xuất trình hoặc do Tòa án thu thập, trừ tài liệu,
chứng cứ quy định tại khoản 2 Điều 109 của Bộ luật này;
9. Có nghĩa vụ gửi cho đương sự khác hoặc
người đại diện hợp pháp của họ bản sao đơn khởi kiện và tài liệu, chứng cứ, trừ
tài liệu, chứng cứ mà đương sự khác đã có, tài liệu, chứng cứ quy định tại khoản 2 Điều 109 của Bộ luật này.
Trường hợp vì lý do chính đáng không thể sao
chụp, gửi đơn khởi kiện, tài liệu, chứng cứ thì họ có quyền yêu cầu Tòa án hỗ
trợ;
10. Đề nghị Tòa án quyết định áp dụng, thay
đổi, hủy bỏ biện pháp khẩn cấp tạm thời;
11. Tự thoả thuận với nhau về việc giải quyết
vụ án; tham gia hòa giải do Tòa án tiến hành;
12. Nhận thông báo hợp lệ để thực hiện quyền,
nghĩa vụ của mình;
13. Tự bảo vệ hoặc nhờ người khác bảo vệ
quyền và lợ i ích hợp pháp cho mình;
14. Yêu cầu thay đổi người tiến hành tố tụng,
người tham gia tố tụng theo quy định của Bộ luật này;
15. Tham gia phiên tòa, phiên họp theo quy
định của Bộ luật này;
16. Phải có mặt theo giấy triệu tập của Tòa
án và chấp hành quyết định của Tòa án trong quá trình Tòa án giải quyết vụ
việc;
17. Đề nghị Tòa án đưa người có quyền lợi,
nghĩa vụ liên quan tham gia tố tụng;
18. Đề nghị Tòa án tạm đình chỉ giải quyết vụ
việc theo quy định của Bộ luật này;
19. Đưa ra câu hỏi với người khác về vấn đề
liên quan đến vụ án hoặc đề xuất với Tòa án những vấn đề cần hỏi người khác;
được đối chất với nhau hoặc với người làm chứng;
20. Tranh luận tại phiên tòa, đưa ra lập luận
về đánh giá chứng cứ và pháp luật áp dụng;
21. Được cấp trích lục bản án, bản án, quyết
định của Tòa án;
22. Kháng cáo, khiếu nại bản án, quyết định
của Tòa án theo quy định của Bộ luật này;
23. Đề nghị người có thẩm quyền kháng nghị
theo thủ tục giám đốc thẩm, tái thẩm bản án, quyết định của Tòa án đã có hiệu
lực pháp luật;
24. Chấp hành nghiêm chỉnh bản án, quyết định
của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật;
25. Sử dụng quyền của đương sự một cách thiện
chí, không được lạm dụng để gây cản trở hoạt động tố tụng của Tòa án, đương sự
khác; trường hợp không thực hiện nghĩa vụ thì phải chịu hậu quả do Bộ luật này
quy định;
26. Quyền, nghĩa vụ khác mà pháp luật có quy
định.
Điều 71. Quyền, nghĩa vụ của nguyên đơn
1. Các quyền, nghĩa vụ của đương sự quy định
tại Điều 70 của Bộ luật này.
2. Thay đổi nội dung yêu cầu khởi kiện; rút
một phần hoặc toàn bộ yêu cầu khởi kiện.
3. Chấp nhận hoặc bác bỏ một phần hoặc toàn
bộ yêu cầu phản tố của bị đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có yêu
cầu độc lập.
Điều 72. Quyền, nghĩa vụ của bị đơn
1. Các quyền, nghĩa vụ của đương sự quy định
tại Điều 70 của Bộ luật này.
2. Được Tòa án thông báo về việc bị khởi
kiện.
3. Chấp nhận hoặc bác bỏ một phần hoặc toàn
bộ yêu cầu của nguyên đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có yêu cầu
độc lập.
4. Đưa ra yêu cầu phản tố đối với nguyên đơn,
nếu có liên quan đến yêu cầu của nguyên đơn hoặc đề nghị đối trừ với nghĩa vụ
của nguyên đơn. Đối với yêu cầu phản tố thì bị đơn có quyền, nghĩa vụ của
nguyên đơn quy định tại Điều 71 của Bộ luật này.
5. Đưa ra yêu cầu độc lập đối với người có
quyền lợi, nghĩa vụ liên quan và yêu cầu độc lập này có liên quan đến việc giải
quyết vụ án. Đối với yêu cầu độc lập thì bị đơn có quyền, nghĩa vụ của nguyên
đơn quy định tại Điều 71 của Bộ luật này.
6. Trường hợp yêu cầu phản tố hoặc yêu cầu
độc lập không được Tòa án chấp nhận để giải quyết trong cùng vụ án thì bị đơn
có quyền khởi kiện vụ án khác.
Điều 73. Quyền, nghĩa vụ của người có quyền
lợi, nghĩa vụ liên quan
1. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có
quyền, nghĩa vụ sau đây:
a) Các quyền, nghĩa vụ quy định tại Điều 70 của Bộ luật này;
b) Có thể có yêu cầu độc lập hoặc tham gia tố
tụng với bên nguyên đơn hoặc với bên bị đơn.
2. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có
yêu cầu độc lập và yêu cầu độc lập này có liên quan đến việc giải quyết vụ án
thì có quyền, nghĩa vụ của nguyên đơn quy định tại Điều 71 của
Bộ luật này. Trường hợp yêu cầu độc lập không được Tòa án chấp nhận để giải
quyết trong cùng vụ án thì người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền khởi
kiện vụ án khác.
3. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan nếu
tham gia tố tụng với bên nguyên đơn hoặc chỉ có quyền lợi thì có quyền, nghĩa
vụ của nguyên đơn quy định tại Điều 71 của Bộ luật này.
4. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan nếu
tham gia tố tụng với bên bị đơn hoặc chỉ có nghĩa vụ thì có quyền, nghĩa vụ của
bị đơn quy định tại Điều 72 của Bộ luật này.
Điều 74. Kế thừa quyền, nghĩa vụ tố tụng
1. Trường hợp đương sự là cá nhân đang tham
gia tố tụng chết mà quyền, nghĩa vụ về tài sản của họ được thừa kế thì người
thừa kế tham gia tố tụng.
2. Trường hợp đương sự là cơ quan, tổ chức
đang tham gia tố tụng phải chấm dứt hoạt động, bị giải thể, hợp nhất, sáp nhập,
chia, tách, chuyển đổi hình thức tổ chức thì việc kế thừa quyền, nghĩa vụ tố
tụng dân sự của cơ quan, tổ chức đó được xác định như sau:
a) Trường hợp tổ chức phải chấm dứt hoạt
động, bị giải thể là công ty cổ phần, công ty trách nhiệm hữu hạn, công ty hợp
danh thì cá nhân, tổ chức là thành viên của tổ chức đó hoặc đại diện của họ
tham gia tố tụng;
b) Trường hợp cơ quan, tổ chức phải chấm dứt
hoạt động, bị giải thể là cơ quan nhà nước, đơn vị vũ trang nhân dân, tổ chức
chính trị, tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức chính trị xã hội - nghề nghiệp,
tổ chức xã hội, tổ chức xã hội - nghề nghiệp, doanh nghiệp do Nhà nước nắm giữ
100% vốn điều lệ[32] thì đại diện hợp pháp
của cơ quan, tổ chức cấp trên trực tiếp của cơ quan, tổ chức đó hoặc đại diện
hợp pháp của cơ quan, tổ chức tiếp nhận các quyền, nghĩa vụ của cơ quan, tổ
chức đó tham gia tố tụng;
c) Trường hợp tổ chức hợp nhất, sáp nhập,
chia, tách, chuyển đổi hình thức tổ chức thì cá nhân, tổ chức tiếp nhận quyền,
nghĩa vụ của tổ chức đó tham gia tố tụng.
3. Trường hợp thay đổi chủ sở hữu của tổ chức
và có việc chuyển giao quyền, nghĩa vụ cho chủ sở hữu mới thì chủ sở hữu mới kế
thừa quyền, nghĩa vụ tố tụng.
4. Trường hợp tổ chức được chuyển giao quyền,
nghĩa vụ theo quy định của pháp luật về dân sự thì tổ chức đó kế thừa quyền,
nghĩa vụ tố tụng.
5. Trường hợp tổ chức không có tư cách pháp
nhân tham gia quan hệ dân sự mà người đại diện đang tham gia tố tụng chết thì
tổ chức đó phải cử người khác làm đại diện để tham gia tố tụng; nếu không cử
được người đại diện hoặc tổ chức đó phải chấm dứt hoạt động, bị giải thể thì
các cá nhân là thành viên của tổ chức đó tham gia tố tụng.
Mục 2. NHỮNG NGƯỜI THAM GIA TỐ TỤNG KHÁC
Điều 75. Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp
pháp của đương sự
1. Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của
đương sự là người tham gia tố tụng để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của
đương sự.
2. Những người sau đây được làm người bảo vệ
quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự khi có yêu cầu của đương sự và được Tòa
án làm thủ tục đăng ký người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự:
a) Luật sư tham gia tố tụng theo quy định của
pháp luật về luật sư;
b) Trợ giúp viên pháp lý hoặc người tham gia
trợ giúp pháp lý theo quy định của pháp luật về trợ giúp pháp lý;
c) Đại diện của tổ chức đại diện tập thể lao
động là người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người lao động trong vụ việc
lao động theo quy định của pháp luật về lao động, công đoàn;
d) Công dân Việt Nam có năng lực hành vi dân
sự đầy đủ, không có án tích hoặc đã được xóa án tích, không thuộc trường hợp
đang bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính; không phải là cán bộ, công chức
trong các cơ quan Tòa án, Viện kiểm sát và công chức, sĩ quan, hạ sĩ quan trong
ngành Công an.
3. Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của
đương sự có thể bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nhiều đương sự trong cùng
một vụ án, nếu quyền và lợi ích hợp pháp của những người đó không đối lập nhau.
Nhiều người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự có thể cùng bảo vệ
quyền và lợi ích hợp pháp của một đương sự trong vụ án.
4. Khi đề nghị Tòa án làm thủ tục đăng ký
người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự, người đề nghị phải xuất
trình các giấy tờ sau đây:
a) Luật sư xuất trình các giấy tờ theo quy
định của Luật Luật sư;
b) Trợ giúp viên pháp lý hoặc người tham gia
trợ giúp pháp lý xuất trình văn bản cử người thực hiện trợ giúp pháp lý của tổ
chức thực hiện trợ giúp pháp lý và thẻ trợ giúp viên pháp lý hoặc thẻ luật sư;
c) Đại diện của tổ chức đại diện tập thể lao
động xuất trình văn bản của tổ chức đó cử mình tham gia bảo vệ quyền và lợi ích
hợp pháp cho người lao động, tập thể người lao động;
d) Công dân Việt Nam có đủ điều kiện quy định
tại điểm d khoản 2 Điều này xuất trình giấy yêu cầu của đương sự và giấy tờ tùy
thân.
5. Sau khi kiểm tra giấy tờ và thấy người đề
nghị có đủ điều kiện làm người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự
quy định tại các khoản 2, 3 và 4 Điều này thì trong thời hạn 03 ngày làm việc,
kể từ ngày nhận được đề nghị, Tòa án phải vào sổ đăng ký người bảo vệ quyền và
lợi ích hợp pháp của đương sự và xác nhận vào giấy yêu cầu người bảo vệ quyền
và lợi ích hợp pháp của đương sự. Trường hợp từ chối đăng ký thì Tòa án phải
thông báo bằng văn bản và nêu rõ lý do cho người đề nghị.
Điều 76. Quyền, nghĩa vụ của người bảo vệ
quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự
1. Tham gia tố tụng từ khi khởi kiện hoặc bất
cứ giai đoạn nào trong quá trình tố tụng dân sự.
2. Thu thập và cung cấp tài liệu, chứng cứ
cho Tòa án; nghiên cứu hồ sơ vụ án và được ghi chép, sao chụp những tài liệu
cần thiết có trong hồ sơ vụ án để thực hiện việc bảo vệ quyền và lợi ích hợp
pháp của đương sự, trừ tài liệu, chứng cứ quy định tại khoản 2
Điều 109 của Bộ luật này.
3. Tham gia việc hòa giải, phiên họp, phiên
tòa hoặc trường hợp không tham gia thì được gửi văn bản bảo vệ quyền và lợi ích
hợp pháp của đương sự cho Tòa án xem xét.
4. Thay mặt đương sự yêu cầu thay đổi người
tiến hành tố tụng, người tham gia tố tụng khác theo quy định của Bộ luật này.
5. Giúp đương sự về mặt pháp lý liên quan đến
việc bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của họ; trường hợp được đương sự ủy quyền
thì thay mặt đương sự nhận giấy tờ, văn bản tố tụng mà Tòa án tống đạt hoặc
thông báo và có trách nhiệm chuyển cho đương sự.
6. Các quyền, nghĩa vụ quy định tại các khoản 1, 6, 16, 17, 18, 19 và 20 Điều 70 của Bộ luật này.
7. Quyền, nghĩa vụ khác mà pháp luật có quy
định.
Người biết các tình tiết có liên quan đến nội
dung vụ việc được đương sự đề nghị, Tòa án triệu tập tham gia tố tụng với tư
cách là người làm chứng. Người mất năng lực hành vi dân sự không thể là người
làm chứng.
Điều 78. Quyền, nghĩa vụ của người làm chứng
1. Cung cấp toàn bộ thông tin, tài liệu, đồ
vật mà mình có được có liên quan đến việc giải quyết vụ việc.
2. Khai báo trung thực những tình tiết mà
mình biết được có liên quan đến việc giải quyết vụ việc.
3. Được từ chối khai báo nếu lời khai của
mình liên quan đến bí mật nhà nước, bí mật nghề nghiệp, bí mật kinh doanh, bí
mật cá nhân, bí mật gia đình hoặc việc khai báo đó có ảnh hưởng xấu, bất lợi
cho đương sự là người có quan hệ thân thích với mình.
4. Được nghỉ việc trong thời gian Tòa án
triệu tập hoặc lấy lời khai, nếu làm việc trong cơ quan, tổ chức.
5. Được thanh toán các khoản chi phí có liên
quan theo quy định của pháp luật.
6. Yêu cầu Tòa án đã triệu tập, cơ quan nhà
nước có thẩm quyền bảo vệ tính mạng, sức khoẻ, danh dự, nhân phẩm, tài sản và
các quyền và lợi ích hợp pháp khác của mình khi tham gia tố tụng; khiếu nại
hành vi tố tụng của người tiến hành tố tụng.
7. Bồi thường thiệt hại và chịu trách nhiệm
trước pháp luật do khai báo sai sự thật gây thiệt hại cho đương sự hoặc cho
người khác.
8. Phải có mặt tại Tòa án, phiên tòa, phiên
họp theo giấy triệu tập của Tòa án nếu việc lấy lời khai của người làm chứng
phải thực hiện công khai tại Tòa án, phiên tòa, phiên họp; trường hợp người làm
chứng không đến phiên tòa, phiên họp mà không có lý do chính đáng và việc vắng
mặt của họ cản trở việc xét xử, giải quyết thì Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Hội
đồng giải quyết việc dân sự có thể ra quyết định dẫn giải người làm chứng đến
phiên tòa, phiên họp, trừ trường hợp người làm chứng là người chưa thành niên.
9. Phải cam đoan trước Tòa án về việc thực
hiện quyền, nghĩa vụ của mình, trừ trường hợp người làm chứng là người chưa
thành niên.
Người giám định là người có kiến thức, kinh
nghiệm cần thiết theo quy định của pháp luật về lĩnh vực có đối tượng cần giám
định mà Tòa án trưng cầu giám định hoặc được đương sự yêu cầu giám định theo
quy định tại Điều 102 của Bộ luật này.
Điều 80. Quyền, nghĩa vụ của người giám định
1. Người giám định có quyền, nghĩa vụ sau
đây:
a) Được đọc tài liệu có trong hồ sơ vụ án
liên quan đến đối tượng giám định; yêu cầu Tòa án cung cấp tài liệu cần thiết
cho việc giám định;
b) Đặt câu hỏi đối với người tham gia tố tụng
về những vấn đề có liên quan đến đối tượng giám định;
c) Phải có mặt theo giấy triệu tập của Tòa
án; trình bày, giải thích, trả lời những vấn đề liên quan đến việc giám định và
kết luận giám định một cách trung thực, có căn cứ, khách quan;
d) Phải thông báo bằng văn bản cho Tòa án về
việc không thể giám định được do việc cần giám định vượt quá khả năng chuyên
môn, tài liệu cung cấp phục vụ cho việc giám định không đủ hoặc không sử dụng
được;
đ) Phải bảo quản tài liệu đã nhận và gửi trả
lại Tòa án cùng với kết luận giám định hoặc cùng với thông báo về việc không
thể giám định được;
e) Không được tự mình thu thập tài liệu để
tiến hành giám định, tiếp xúc với người tham gia tố tụng khác nếu việc tiếp xúc
đó làm ảnh hưởng đến kết quả giám định; không được tiết lộ bí mật thông tin mà
mình biết khi tiến hành giám định hoặc thông báo kết quả giám định cho người
khác, trừ Thẩm phán quyết định trưng cầu giám định;
g) Được thanh toán các chi phí có liên quan
theo quy định của pháp luật;
h) Phải cam đoan trước Tòa án về việc thực
hiện quyền, nghĩa vụ của mình.
2. Người giám định phải từ chối giám định
hoặc bị thay đổi trong những trường hợp sau đây:
a) Thuộc một trong những trường hợp quy định
tại khoản 1 và khoản 3 Điều 52 của Bộ luật này và tại Điều
34 của Luật Giám định tư pháp;
b) Họ đã tham gia tố tụng với tư cách là
người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự, người làm chứng, người
phiên dịch trong cùng vụ án đó;
c) Họ đã tiến hành tố tụng trong vụ án đó với
tư cách là Thẩm phán, Hội thẩm nhân dân, Thẩm tra viên Tòa án[33],
Thư ký Tòa án, Kiểm sát viên, Kiểm tra viên.
1. Người phiên dịch là người có khả năng dịch
từ một ngôn ngữ khác ra tiếng Việt và ngược lại trong trường hợp có người tham
gia tố tụng không sử dụng được tiếng Việt. Người phiên dịch được một bên đương
sự lựa chọn hoặc các bên đương sự thoả thuận lựa chọn và được Tòa án chấp nhận
hoặc được Tòa án yêu cầu để phiên dịch.
2. Người biết chữ của người khuyết tật nhìn
hoặc biết nghe, nói bằng ngôn ngữ, ký hiệu của người khuyết tật nghe, nói cũng
được coi là người phiên dịch.
Trường hợp chỉ có người đại diện hoặc người
thân thích của người khuyết tật nhìn hoặc người khuyết tật nghe, nói biết được
chữ, ngôn ngữ, ký hiệu của người khuyết tật thì người đại diện hoặc người thân
thích có thể được Tòa án chấp nhận làm người phiên dịch cho người khuyết tật
đó.
Điều 82. Quyền, nghĩa vụ của người phiên dịch
1. Người phiên dịch có quyền, nghĩa vụ sau
đây:
a) Phải có mặt theo giấy triệu tập của Tòa
án;
b) Phải phiên dịch trung thực, khách quan,
đúng nghĩa;
c) Đề nghị người tiến hành tố tụng, người
tham gia tố tụng giải thích thêm nội dung cần phiên dịch;
d) Không được tiếp xúc với người tham gia tố
tụng khác nếu việc tiếp xúc đó làm ảnh hưởng đến tính trung thực, khách quan,
đúng nghĩa khi phiên dịch;
đ) Được thanh toán các chi phí có liên quan
theo quy định của pháp luật;
e) Phải cam đoan trước Tòa án về việc thực
hiện quyền, nghĩa vụ của mình.
2. Người phiên dịch phải từ chối phiên dịch
hoặc bị thay đổi trong những trường hợp sau đây:
a) Thuộc một trong những trường hợp quy định
tại khoản 1 và khoản 3 Điều 52 của Bộ luật này;
b) Họ đã tham gia tố tụng với tư cách là
người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự, người làm chứng, người
giám định trong cùng vụ án đó;
c) Họ đã tiến hành tố tụng với tư cách là
Thẩm phán, Hội thẩm nhân dân, Thẩm tra viên Tòa án[34],
Thư ký Tòa án, Kiểm sát viên, Kiểm tra viên.
1. Việc từ chối giám định, phiên dịch hoặc đề
nghị thay đổi người giám định, người phiên dịch trước khi mở phiên tòa, phiên
họp phải được lập thành văn bản nêu rõ lý do của việc từ chối hoặc đề nghị thay
đổi.
2. Việc từ chối giám định, phiên dịch hoặc đề
nghị thay đổi người giám định, người phiên dịch tại phiên tòa, phiên họp phải
được ghi vào biên bản phiên tòa, phiên họp.
Điều 84. Quyết định việc thay đổi người giám
định, người phiên dịch
1. Trước khi mở phiên tòa, phiên họp, việc
thay đổi người giám định, người phiên dịch do Chánh án Tòa án quyết định.
2. Tại phiên tòa, phiên họp, việc thay đổi
người giám định, người phiên dịch do Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Hội đồng giải
quyết việc dân sự quyết định sau khi nghe ý kiến của người bị yêu cầu thay đổi.
Hội đồng xét xử, Hội đồng giải quyết việc dân sự thảo luận tại phòng nghị án và
quyết định theo đa số.
Trường hợp phải thay đổi người giám định,
người phiên dịch thì Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Hội đồng giải quyết việc dân
sự ra quyết định hoãn phiên tòa, phiên họp. Việc trưng cầu người giám định khác
hoặc thay người phiên dịch khác được thực hiện theo quy định tại Điều
79 và Điều 81 của Bộ luật này.
1. Người đại diện trong tố tụng dân sự bao
gồm người đại diện theo pháp luật và người đại diện theo ủy quyền. Người đại
diện có thể là cá nhân hoặc pháp nhân theo quy định của Bộ luật Dân sự.
2. Người đại diện theo pháp luật theo quy
định của Bộ luật Dân sự là người đại diện theo pháp luật trong tố tụng dân sự,
trừ trường hợp bị hạn chế quyền đại diện theo quy định của pháp luật.
Cơ quan, tổ chức, cá nhân khởi kiện để bảo vệ
quyền và lợi ích hợp pháp của người khác cũng là người đại diện theo pháp luật
trong tố tụng dân sự của người được bảo vệ.
3. Tổ chức đại diện tập thể lao động là người
đại diện theo pháp luật cho tập thể người lao động khởi kiện vụ án lao động,
tham gia tố tụng tại Tòa án khi quyền, lợi ích hợp pháp của tập thể người lao
động bị xâm phạm; tổ chức đại diện tập thể lao động đại diện cho người lao động
khởi kiện vụ án lao động, tham gia tố tụng khi được người lao động ủy quyền.
Trường hợp nhiều người lao động có cùng yêu
cầu đối với người sử dụng lao động, trong cùng một doanh nghiệp, đơn vị thì họ
được ủy quyền cho một đại diện của tổ chức đại diện tập thể lao động thay mặt
họ khởi kiện vụ án lao động, tham gia tố tụng tại Tòa án.
4. Người đại diện theo ủy quyền theo quy định
của Bộ luật Dân sự là người đại diện theo ủy quyền trong tố tụng dân sự.
Đối với việc ly hôn, đương sự không được ủy
quyền cho người khác thay mặt mình tham gia tố tụng. Trường hợp cha, mẹ, người
thân thích khác yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn theo quy định tại khoản 2 Điều
51 của Luật Hôn nhân và gia đình thì họ là người đại diện.
Điều 86. Quyền, nghĩa vụ của người đại diện
1. Người đại diện theo pháp luật trong tố
tụng dân sự thực hiện quyền, nghĩa vụ tố tụng dân sự của đương sự trong phạm vi
mà mình đại diện.
2. Người đại diện theo ủy quyền trong tố tụng
dân sự thực hiện quyền, nghĩa vụ tố tụng dân sự của đương sự theo nội dung văn
bản ủy quyền.
Điều 87. Những trường hợp không được làm
người đại diện
1. Những người sau đây không được làm người
đại diện theo pháp luật:
a) Nếu họ cũng là đương sự trong cùng một vụ
việc với người được đại diện mà quyền và lợi ích hợp pháp của họ đối lập với
quyền và lợi ích hợp pháp của người được đại diện;
b) Nếu họ đang là người đại diện theo pháp
luật trong tố tụng dân sự cho một đương sự khác mà quyền và lợi ích hợp pháp
của đương sự đó đối lập với quyền và lợi ích hợp pháp của người được đại diện
trong cùng một vụ việc.
2. Quy định tại khoản 1 Điều này cũng được áp
dụng đối với trường hợp đại diện theo ủy quyền trong tố tụng dân sự.
3. Cán bộ, công chức trong các cơ quan Tòa
án, Kiểm sát, Công an không được làm người đại diện trong tố tụng dân sự, trừ
trường hợp họ tham gia tố tụng với tư cách là người đại diện cho cơ quan của họ
hoặc với tư cách là người đại diện theo pháp luật.
Điều 88. Chỉ định người đại diện trong tố
tụng dân sự
1. Khi tiến hành tố tụng dân sự, nếu có đương
sự là người chưa thành niên, người mất năng lực hành vi dân sự, người bị hạn
chế năng lực hành vi dân sự, người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi
mà không có người đại diện hoặc người đại diện theo pháp luật của họ thuộc một
trong các trường hợp quy định tại khoản 1 Điều 87 của Bộ luật
này thì Tòa án phải chỉ định người đại diện để tham gia tố tụng.
2. Đối với vụ việc lao động mà có đương sự
thuộc trường hợp quy định tại khoản 1 Điều này hoặc người lao động là người
chưa thành niên mà không có người đại diện và Tòa án cũng không chỉ định được
người đại diện theo quy định tại khoản 1 Điều này thì Tòa án chỉ định tổ chức
đại diện tập thể lao động đại diện cho người lao động đó.
Điều 89. Chấm dứt đại diện trong tố tụng dân
sự
Người đại diện theo pháp luật, người đại diện
theo ủy quyền trong tố tụng dân sự chấm dứt việc đại diện theo quy định của Bộ
luật Dân sự.
Điều 90. Hậu quả của việc chấm dứt đại diện
trong tố tụng dân sự
1. Trường hợp chấm dứt đại diện theo pháp
luật mà người được đại diện đã thành niên hoặc đã khôi phục năng lực hành vi
dân sự thì người đó tự mình tham gia tố tụng dân sự hoặc ủy quyền cho người
khác tham gia tố tụng dân sự theo thủ tục do Bộ luật này quy định.
2. Trường hợp chấm dứt đại diện theo ủy quyền
thì đương sự hoặc người thừa kế của đương sự trực tiếp tham gia tố tụng hoặc ủy
quyền cho người khác đại diện tham gia tố tụng theo thủ tục do Bộ luật này quy
định.
1. Đương sự có yêu cầu Tòa án bảo vệ quyền và
lợi ích hợp pháp của mình phải thu thập, cung cấp, giao nộp cho Tòa án tài
liệu, chứng cứ để chứng minh cho yêu cầu đó là có căn cứ và hợp pháp, trừ các
trường hợp sau đây:
a) Người tiêu dùng khởi kiện không có nghĩa
vụ chứng minh lỗi của tổ chức, cá nhân kinh doanh hàng hóa, dịch vụ. Tổ chức,
cá nhân kinh doanh hàng hóa, dịch vụ bị kiện có nghĩa vụ chứng minh mình không
có lỗi gây ra thiệt hại theo quy định của Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu
dùng;
b) Đương sự là người lao động trong vụ án lao
động mà không cung cấp, giao nộp được cho Tòa án tài liệu, chứng cứ vì lý do
tài liệu, chứng cứ đó đang do người sử dụng lao động quản lý, lưu giữ thì người
sử dụng lao động có trách nhiệm cung cấp, giao nộp tài liệu, chứng cứ đó cho
Tòa án.
Người lao động khởi kiện vụ án đơn phương
chấm dứt hợp đồng lao động thuộc trường hợp người sử dụng lao động không được
thực hiện quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động hoặc trường hợp không
được xử lý kỷ luật lao động đối với người lao động theo quy định của pháp luật
về lao động thì nghĩa vụ chứng minh thuộc về người sử dụng lao động;
c) Các trường hợp pháp luật có quy định khác
về nghĩa vụ chứng minh.
2. Đương sự phản đối yêu cầu của người khác
đối với mình phải thể hiện bằng văn bản và phải thu thập, cung cấp, giao nộp
cho Tòa án tài liệu, chứng cứ để chứng minh cho sự phản đối đó.
3. Cơ quan, tổ chức, cá nhân khởi kiện để bảo
vệ lợi ích công cộng, lợi ích của Nhà nước hoặc yêu cầu Tòa án bảo vệ quyền và
lợi ích hợp pháp của người khác phải thu thập, cung cấp, giao nộp cho Tòa án
tài liệu, chứng cứ để chứng minh cho việc khởi kiện, yêu cầu của mình là có căn
cứ và hợp pháp.
Tổ chức xã hội tham gia bảo vệ quyền lợi
người tiêu dùng không có nghĩa vụ chứng minh lỗi của tổ chức, cá nhân kinh
doanh hàng hóa, dịch vụ theo quy định của Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu
dùng.
4. Đương sự có nghĩa vụ đưa ra chứng cứ để
chứng minh mà không đưa ra được chứng cứ hoặc không đưa ra đủ chứng cứ thì Tòa
án giải quyết vụ việc dân sự theo những chứng cứ đã thu thập được có trong hồ
sơ vụ việc.
Điều 92. Những tình tiết, sự kiện không phải
chứng minh
1. Những tình tiết, sự kiện sau đây không
phải chứng minh:
a) Những tình tiết, sự kiện rõ ràng mà mọi
người đều biết và được Tòa án thừa nhận;
b) Những tình tiết, sự kiện đã được xác định
trong bản án, quyết định của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật hoặc quyết định
của cơ quan nhà nước có thẩm quyền đã có hiệu lực pháp luật;
c) Những tình tiết, sự kiện đã được ghi trong
văn bản và được công chứng, chứng thực hợp pháp; trường hợp có dấu hiệu nghi
ngờ tính khách quan của những tình tiết, sự kiện này hoặc tính khách quan của
văn bản công chứng, chứng thực thì Thẩm phán có thể yêu cầu đương sự, cơ quan,
tổ chức công chứng, chứng thực xuất trình bản gốc, bản chính.
2. Một bên đương sự thừa nhận hoặc không phản
đối những tình tiết, sự kiện, tài liệu, văn bản, kết luận của cơ quan chuyên
môn mà bên đương sự kia đưa ra thì bên đương sự đó không phải chứng minh.
3. Đương sự có người đại diện tham gia tố
tụng thì sự thừa nhận của người đại diện được coi là sự thừa nhận của đương sự
nếu không vượt quá phạm vi đại diện.
Chứng cứ trong vụ việc dân sự là những gì có
thật được đương sự và cơ quan, tổ chức, cá nhân khác giao nộp, xuất trình cho
Tòa án trong quá trình tố tụng hoặc do Tòa án thu thập được theo trình tự, thủ
tục do Bộ luật này quy định và được Tòa án sử dụng làm căn cứ để xác định các
tình tiết khách quan của vụ án cũng như xác định yêu cầu hay sự phản đối của
đương sự là có căn cứ và hợp pháp.
Chứng cứ được thu thập từ các nguồn sau đây:
1. Tài liệu đọc được, nghe được, nhìn được,
dữ liệu điện tử;
2. Vật chứng;
3. Lời khai của đương sự;
4. Lời khai của người làm chứng;
5. Kết luận giám định;
6. Biên bản ghi kết quả thẩm định tại chỗ;
7. Kết quả định giá tài sản, thẩm định giá
tài sản;
8. Văn bản ghi nhận sự kiện, hành vi pháp lý
do người có chức năng lập;
9. Văn bản công chứng, chứng thực;
10. Các nguồn khác mà pháp luật có quy định.
1. Tài liệu đọc được nội dung được coi là
chứng cứ nếu là bản chính hoặc bản sao có công chứng, chứng thực hợp pháp hoặc
do cơ quan, tổ chức có thẩm quyền cung cấp, xác nhận.
2. Tài liệu nghe được, nhìn được được coi là
chứng cứ nếu được xuất trình kèm theo văn bản trình bày của người có tài liệu
đó về xuất xứ của tài liệu nếu họ tự thu âm, thu hình hoặc văn bản có xác nhận
của người đã cung cấp cho người xuất trình về xuất xứ của tài liệu đó hoặc văn
bản về sự việc liên quan tới việc thu âm, thu hình đó.
3. Thông điệp dữ liệu điện tử được thể hiện
dưới hình thức trao đổi dữ liệu điện tử, chứng từ điện tử, thư điện tử, điện
tín, điện báo, fax và các hình thức tương tự khác theo quy định của pháp luật
về giao dịch điện tử.
4. Vật chứng là chứng cứ phải là hiện vật gốc
liên quan đến vụ việc.
5. Lời khai của đương sự, lời khai của người
làm chứng được coi là chứng cứ nếu được ghi bằng văn bản, băng ghi âm, đĩa ghi
âm, băng ghi hình, đĩa ghi hình, thiết bị khác chứa âm thanh, hình ảnh theo quy
định tại khoản 2 Điều này hoặc khai bằng lời tại phiên tòa.
6. Kết luận giám định được coi là chứng cứ
nếu việc giám định đó được tiến hành theo đúng thủ tục do pháp luật quy định.
7. Biên bản ghi kết quả thẩm định tại chỗ
được coi là chứng cứ nếu việc thẩm định được tiến hành theo đúng thủ tục do
pháp luật quy định.
8. Kết quả định giá tài sản, kết quả thẩm
định giá tài sản được coi là chứng cứ nếu việc định giá, thẩm định giá được
tiến hành theo đúng thủ tục do pháp luật quy định.
9. Văn bản ghi nhận sự kiện, hành vi pháp lý
do người có chức năng lập tại chỗ được coi là chứng cứ nếu việc lập văn bản ghi
nhận sự kiện, hành vi pháp lý được tiến hành theo đúng thủ tục do pháp luật quy
định.
10. Văn bản công chứng, chứng thực được coi
là chứng cứ nếu việc công chứng, chứng thực được thực hiện theo đúng thủ tục do
pháp luật quy định.
11. Các nguồn khác mà pháp luật có quy định
được xác định là chứng cứ theo điều kiện, thủ tục mà pháp luật quy định.
Điều 96. Giao nộp tài liệu, chứng cứ
1. Trong quá trình Tòa án giải quyết vụ việc
dân sự, đương sự có quyền và nghĩa vụ giao nộp tài liệu, chứng cứ cho Tòa án.
Trường hợp tài liệu, chứng cứ đã được giao nộp chưa bảo đảm đủ cơ sở để giải
quyết vụ việc thì Thẩm phán yêu cầu đương sự giao nộp bổ sung tài liệu, chứng
cứ. Nếu đương sự không giao nộp hoặc giao nộp không đầy đủ tài liệu, chứng cứ
do Tòa án yêu cầu mà không có lý do chính đáng thì Tòa án căn cứ vào tài liệu,
chứng cứ mà đương sự đã giao nộp và Tòa án đã thu thập theo quy định tại Điều 97 của Bộ luật này để giải quyết vụ việc dân sự.
2. Việc đương sự giao nộp tài liệu, chứng cứ
cho Tòa án phải được lập biên bản. Trong biên bản phải ghi rõ tên gọi, hình
thức, nội dung, đặc điểm của tài liệu, chứng cứ; số bản, số trang của chứng cứ
và thời gian nhận; chữ ký hoặc điểm chỉ của người giao nộp, chữ ký của người
nhận và dấu của Tòa án. Biên bản phải lập thành hai bản, một bản lưu vào hồ sơ
vụ việc dân sự và một bản giao cho đương sự nộp chứng cứ.
3. Đương sự giao nộp cho Tòa án tài liệu,
chứng cứ bằng tiếng dân tộc thiểu số, tiếng nước ngoài phải kèm theo bản dịch
sang tiếng Việt, được công chứng, chứng thực hợp pháp.
4. Thời hạn giao nộp tài liệu, chứng cứ do
Thẩm phán được phân công giải quyết vụ việc ấn định nhưng không được vượt quá
thời hạn chuẩn bị xét xử theo thủ tục sơ thẩm, thời hạn chuẩn bị giải quyết
việc dân sự theo quy định của Bộ luật này.
Trường hợp sau khi có quyết định đưa vụ án ra
xét xử theo thủ tục sơ thẩm, quyết định mở phiên họp giải quyết việc dân sự,
đương sự mới cung cấp, giao nộp tài liệu, chứng cứ mà Tòa án đã yêu cầu giao
nộp nhưng đương sự không giao nộp được vì có lý do chính đáng thì đương sự phải
chứng minh lý do của việc chậm giao nộp tài liệu, chứng cứ đó. Đối với tài
liệu, chứng cứ mà trước đó Tòa án không yêu cầu đương sự giao nộp hoặc tài
liệu, chứng cứ mà đương sự không thể biết được trong quá trình giải quyết vụ việc
theo thủ tục sơ thẩm thì đương sự có quyền giao nộp, trình bày tại phiên tòa sơ
thẩm, phiên họp giải quyết việc dân sự hoặc các giai đoạn tố tụng tiếp theo của
việc giải quyết vụ việc dân sự.
5. Khi đương sự giao nộp tài liệu, chứng cứ
cho Tòa án thì họ phải sao gửi tài liệu, chứng cứ đó cho đương sự khác hoặc
người đại diện hợp pháp của đương sự khác; đối với tài liệu, chứng cứ quy định
tại khoản 2 Điều 109 của Bộ luật này hoặc tài liệu, chứng
cứ không thể sao gửi được thì phải thông báo bằng văn bản cho đương sự khác
hoặc người đại diện hợp pháp của đương sự khác.
Điều 97. Xác minh, thu thập chứng cứ
1. Cơ quan, tổ chức, cá nhân có quyền tự mình
thu thập tài liệu, chứng cứ bằng những biện pháp sau đây:
a) Thu thập tài liệu đọc được, nghe được,
nhìn được; thông điệp dữ liệu điện tử;
b) Thu thập vật chứng;
c) Xác định người làm chứng và lấy xác nhận
của người làm chứng;
d) Yêu cầu cơ quan, tổ chức, cá nhân cho sao
chép hoặc cung cấp những tài liệu có liên quan đến việc giải quyết vụ việc mà
cơ quan, tổ chức, cá nhân đó đang lưu giữ, quản lý;
đ) Yêu cầu Ủy ban nhân dân cấp xã chứng thực
chữ ký của người làm chứng;
e) Yêu cầu Tòa án thu thập tài liệu, chứng cứ
nếu đương sự không thể thu thập tài liệu, chứng cứ;
g) Yêu cầu Tòa án ra quyết định trưng cầu
giám định, định giá tài sản;
h) Yêu cầu cơ quan, tổ chức, cá nhân thực
hiện công việc khác theo quy định của pháp luật.
2. Trong các trường hợp do Bộ luật này quy
định, Tòa án có thể tiến hành một hoặc một số biện pháp sau đây để thu thập tài
liệu, chứng cứ:
a) Lấy lời khai của đương sự, người làm
chứng;
b) Đối chất giữa các đương sự với nhau, giữa
đương sự với người làm chứng;
c) Trưng cầu giám định;
d) Định giá tài sản;
đ) Xem xét, thẩm định tại chỗ;
e) Ủy thác thu thập, xác minh tài liệu, chứng
cứ;
g) Yêu cầu cơ quan, tổ chức, cá nhân cung cấp
tài liệu đọc được, nghe được, nhìn được hoặc hiện vật khác liên quan đến việc
giải quyết vụ việc dân sự;
h) Xác minh sự có mặt hoặc vắng mặt của đương
sự tại nơi cư trú;
i) Các biện pháp khác theo quy định của Bộ
luật này.
3. Khi tiến hành các biện pháp quy định tại
các điểm c, d, đ, e và g khoản 2 Điều này, Tòa án phải ra quyết định, trong đó
nêu rõ lý do và yêu cầu của Tòa án.
4. Trong giai đoạn giám đốc thẩm, tái thẩm,
Thẩm tra viên Tòa án[35] có thể tiến hành các
biện pháp thu thập tài liệu, chứng cứ quy định tại các điểm a, g và h khoản 2
Điều này.
Khi Thẩm tra viên Tòa án[36]
tiến hành biện pháp quy định tại điểm g khoản 2 Điều này, Tòa án phải ra quyết
định, trong đó nêu rõ lý do và yêu cầu của Tòa án.
5. Trong thời hạn 03 ngày làm việc, kể từ
ngày Tòa án thu thập được tài liệu, chứng cứ, Tòa án phải thông báo về tài
liệu, chứng cứ đó cho đương sự để họ thực hiện quyền, nghĩa vụ của mình.
6. Viện kiểm sát thu thập tài liệu, chứng cứ
để bảo đảm cho việc thực hiện thẩm quyền kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm,
giám đốc thẩm, tái thẩm.
Điều 98. Lấy lời khai của đương sự
1. Thẩm phán chỉ tiến hành lấy lời khai của
đương sự khi đương sự chưa có bản khai hoặc nội dung bản khai chưa đầy đủ, rõ
ràng. Đương sự phải tự viết bản khai và ký tên của mình. Trường hợp đương sự
không thể tự viết được thì Thẩm phán lấy lời khai của đương sự. Việc lấy lời
khai của đương sự chỉ tập trung vào những tình tiết mà đương sự khai chưa đầy
đủ, rõ ràng. Thẩm phán tự mình hoặc Thư ký Tòa án ghi lại lời khai của đương sự
vào biên bản. Thẩm phán lấy lời khai của đương sự tại trụ sở Tòa án; trường hợp
cần thiết có thể lấy lời khai của đương sự ngoài trụ sở Tòa án.
2. Biên bản ghi lời khai của đương sự phải
được người khai tự đọc lại hay nghe đọc lại và ký tên hoặc điểm chỉ. Đương sự
có quyền yêu cầu ghi những sửa đổi, bổ sung vào biên bản ghi lời khai và ký tên
hoặc điểm chỉ xác nhận. Biên bản phải có chữ ký của người lấy lời khai, người
ghi biên bản và đóng dấu của Tòa án; nếu biên bản được ghi thành nhiều trang
rời nhau thì phải ký vào từng trang và đóng dấu giáp lai. Trường hợp biên bản
ghi lời khai của đương sự được lập ngoài trụ sở Tòa án thì phải có người làm chứng
hoặc xác nhận của Ủy ban nhân dân cấp xã hoặc Công an xã, phường, đặc khu[37] hoặc cơ quan, tổ chức nơi lập biên bản.
3. Việc lấy lời khai của đương sự thuộc một
trong các trường hợp quy định tại khoản 4 và khoản 5 Điều 69
của Bộ luật này phải được tiến hành với sự có mặt của người đại diện hợp
pháp của đương sự đó.
Điều 99. Lấy lời khai của người làm chứng
1. Theo yêu cầu của đương sự hoặc khi xét
thấy cần thiết, Thẩm phán tiến hành lấy lời khai của người làm chứng tại trụ sở
Tòa án hoặc ngoài trụ sở Tòa án.
Trước khi lấy lời khai của người làm chứng,
Thẩm phán phải giải thích quyền, nghĩa vụ của người làm chứng và yêu cầu người
làm chứng cam đoan về lời khai của mình.
2. Thủ tục lấy lời khai của người làm chứng
được tiến hành như thủ tục lấy lời khai của đương sự quy định tại khoản 2 Điều 98 của Bộ luật này.
3. Việc lấy lời khai của người làm chứng chưa
đủ mười tám tuổi, người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự hoặc người có khó
khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi phải được tiến hành với sự có mặt của
người đại diện theo pháp luật hoặc người đang thực hiện việc quản lý, trông nom
người đó.
1. Theo yêu cầu của đương sự hoặc khi xét
thấy có mâu thuẫn trong lời khai của các đương sự, người làm chứng, Thẩm phán
tiến hành đối chất giữa các đương sự với nhau, giữa đương sự với người làm
chứng hoặc giữa những người làm chứng với nhau.
2. Việc đối chất phải được lập thành biên
bản, có chữ ký hoặc điểm chỉ của những người tham gia đối chất.
Điều 101. Xem xét, thẩm định tại chỗ
1. Theo yêu cầu của đương sự hoặc khi xét
thấy cần thiết, Thẩm phán tiến hành việc xem xét, thẩm định tại chỗ với sự có
mặt của đại diện Ủy ban nhân dân cấp xã hoặc Công an xã, phường, đặc khu[38] hoặc cơ quan, tổ chức nơi có đối tượng cần xem xét, thẩm
định và phải báo trước việc xem xét, thẩm định tại chỗ để đương sự biết và
chứng kiến việc xem xét, thẩm định đó.
2. Việc xem xét, thẩm định tại chỗ phải được
ghi thành biên bản. Biên bản phải ghi rõ kết quả xem xét, thẩm định, mô tả rõ
hiện trường, có chữ ký của người xem xét, thẩm định và chữ ký hoặc điểm chỉ của
đương sự nếu họ có mặt, của đại diện Ủy ban nhân dân cấp xã hoặc Công an xã,
phường, đặc khu[39] hoặc cơ quan, tổ chức
nơi có đối tượng được xem xét, thẩm định và những người khác được mời tham gia
việc xem xét, thẩm định. Sau khi lập xong biên bản, người xem xét, thẩm định
phải yêu cầu đại diện Ủy ban nhân dân cấp xã hoặc Công an xã, phường, đặc khu[40] hoặc cơ quan, tổ chức nơi có đối tượng được xem xét,
thẩm định ký tên và đóng dấu xác nhận.
3. Nghiêm cấm mọi hành vi cản trở việc xem
xét, thẩm định tại chỗ.
4. Thẩm phán có quyền đề nghị Ủy ban nhân dân
cấp xã, Công an xã, phường, đặc khu[41] nơi có đối tượng được
xem xét, thẩm định tại chỗ hỗ trợ trong trường hợp có hành vi cản trở việc xem
xét, thẩm định tại chỗ.
Điều 102. Trưng cầu giám định, yêu cầu giám
định
1. Đương sự có quyền yêu cầu Tòa án trưng cầu
giám định hoặc tự mình yêu cầu giám định sau khi đã đề nghị Tòa án trưng cầu
giám định nhưng Tòa án từ chối yêu cầu của đương sự. Quyền tự yêu cầu giám định
được thực hiện trước khi Tòa án ra quyết định đưa vụ án ra xét xử theo thủ tục
sơ thẩm, quyết định mở phiên họp giải quyết việc dân sự.
2. Theo yêu cầu của đương sự hoặc khi xét
thấy cần thiết, Thẩm phán ra quyết định trưng cầu giám định. Trong quyết định
trưng cầu giám định phải ghi rõ tên, địa chỉ của người giám định, đối tượng cần
giám định, vấn đề cần giám định, các yêu cầu cụ thể cần có kết luận của người
giám định.
3. Trường hợp xét thấy kết luận giám định
chưa đầy đủ, rõ ràng hoặc có vi phạm pháp luật thì theo yêu cầu của đương sự
hoặc khi xét thấy cần thiết, Tòa án yêu cầu người giám định giải thích kết luận
giám định, triệu tập người giám định đến phiên tòa, phiên họp để trực tiếp
trình bày về các nội dung cần thiết.
4. Theo yêu cầu của đương sự hoặc khi xét
thấy cần thiết, Tòa án ra quyết định trưng cầu giám định bổ sung trong trường
hợp nội dung kết luận giám định chưa rõ, chưa đầy đủ hoặc khi phát sinh vấn đề
mới liên quan đến tình tiết của vụ việc đã được kết luận giám định trước đó.
5. Việc giám định lại được thực hiện trong
trường hợp có căn cứ cho rằng kết luận giám định lần đầu không chính xác, có vi
phạm pháp luật hoặc trong trường hợp đặc biệt theo quyết định của Viện trưởng
Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Chánh án Tòa án nhân dân tối cao theo quy định
của Luật Giám định tư pháp.
Điều 103. Trưng cầu giám định chứng cứ bị tố
cáo là giả mạo
1. Trường hợp chứng cứ bị tố cáo là giả mạo
thì người đưa ra chứng cứ đó có quyền rút lại; nếu không rút lại thì người tố
cáo có quyền yêu cầu Tòa án hoặc Tòa án có quyền quyết định trưng cầu giám định
theo quy định tại Điều 102 của Bộ luật này.
2. Trường hợp việc giả mạo chứng cứ có dấu
hiệu tội phạm thì Tòa án chuyển tài liệu, chứng cứ có liên quan cho Cơ quan
điều tra có thẩm quyền xem xét theo quy định của pháp luật tố tụng hình sự.
3. Người đưa ra chứng cứ được kết luận là giả
mạo phải bồi thường thiệt hại nếu việc giả mạo chứng cứ đó gây thiệt hại cho
người khác và phải chịu chi phí giám định nếu Tòa án quyết định trưng cầu giám
định.
Điều 104. Định giá tài sản, thẩm định giá tài
sản
1. Đương sự có quyền cung cấp giá tài sản
đang tranh chấp; thỏa thuận về giá tài sản đang tranh chấp.
2. Các đương sự có quyền thỏa thuận lựa chọn
tổ chức thẩm định giá tài sản để thực hiện việc thẩm định giá tài sản và cung
cấp kết quả thẩm định giá cho Tòa án.
Việc thẩm định giá tài sản được thực hiện
theo quy định của pháp luật về thẩm định giá tài sản.
3. Tòa án ra quyết định định giá tài sản và
thành lập Hội đồng định giá khi thuộc một trong các trường hợp sau đây:
a) Theo yêu cầu của một hoặc các bên đương
sự;
b) Các đương sự không thỏa thuận lựa chọn tổ
chức thẩm định giá tài sản hoặc đưa ra giá tài sản khác nhau hoặc không thỏa
thuận được giá tài sản;
c) Các bên thoả thuận với nhau hoặc với tổ
chức thẩm định giá tài sản theo mức giá thấp so với giá thị trường nơi có tài
sản định giá tại thời điểm định giá nhằm trốn tránh nghĩa vụ với Nhà nước hoặc
người thứ ba hoặc có căn cứ cho thấy tổ chức thẩm định giá tài sản đã vi phạm
pháp luật khi thẩm định giá.
4. Trình tự, thủ tục thành lập Hội đồng định
giá, định giá tài sản:
a) Hội đồng định giá do Tòa án thành lập gồm
Chủ tịch Hội đồng định giá là đại diện cơ quan tài chính và thành viên là đại
diện các cơ quan chuyên môn có liên quan. Người đã tiến hành tố tụng trong vụ
án đó, người quy định tại Điều 52 của Bộ luật này không
được tham gia Hội đồng định giá.
Hội đồng định giá chỉ tiến hành định giá khi
có mặt đầy đủ các thành viên của Hội đồng. Trong trường hợp cần thiết, đại diện
Ủy ban nhân dân cấp xã nơi có tài sản định giá được mời chứng kiến việc định
giá. Các đương sự được thông báo trước về thời gian, địa điểm tiến hành định
giá, có quyền tham dự và phát biểu ý kiến về việc định giá. Quyền quyết định về
giá đối với tài sản định giá thuộc Hội đồng định giá;
b) Cơ quan tài chính và các cơ quan chuyên
môn có liên quan có trách nhiệm cử người tham gia Hội đồng định giá và tạo điều
kiện để họ làm nhiệm vụ. Người được cử làm thành viên Hội đồng định giá có
trách nhiệm tham gia đầy đủ vào việc định giá. Trường hợp cơ quan tài chính,
các cơ quan chuyên môn không cử người tham gia Hội đồng định giá thì Tòa án yêu
cầu cơ quan quản lý có thẩm quyền trực tiếp chỉ đạo cơ quan tài chính, cơ quan
chuyên môn thực hiện yêu cầu của Tòa án. Người được cử tham gia Hội đồng định giá
không tham gia mà không có lý do chính đáng thì Tòa án yêu cầu lãnh đạo cơ quan
đã cử người tham gia Hội đồng định giá xem xét trách nhiệm, cử người khác thay
thế và thông báo cho Tòa án biết để tiếp tục tiến hành định giá;
c) Việc định giá phải được lập biên bản,
trong đó ghi rõ ý kiến của từng thành viên, đương sự nếu họ tham dự. Quyết định
của Hội đồng định giá phải được quá nửa tổng số thành viên biểu quyết tán
thành. Các thành viên Hội đồng định giá, đương sự, người chứng kiến ký tên hoặc
điểm chỉ vào biên bản.
5. Việc định giá lại tài sản được thực hiện
trong trường hợp có căn cứ cho rằng kết quả định giá lần đầu không chính xác
hoặc không phù hợp với giá thị trường nơi có tài sản định giá tại thời điểm
giải quyết vụ án dân sự.
Điều 105. Ủy thác thu thập chứng cứ
1. Trong quá trình giải quyết vụ việc dân sự,
Tòa án có thể ra quyết định ủy thác để Tòa án khác hoặc cơ quan có thẩm quyền
quy định tại khoản 4 Điều này lấy lời khai của đương sự, người làm chứng, thẩm
định tại chỗ, tiến hành định giá tài sản hoặc các biện pháp khác để thu thập
chứng cứ, xác minh các tình tiết của vụ việc dân sự.
2. Trong quyết định ủy thác phải ghi rõ tên,
địa chỉ của nguyên đơn, bị đơn, quan hệ tranh chấp và những công việc cụ thể ủy
thác để thu thập chứng cứ.
3. Tòa án nhận được quyết định ủy thác có
trách nhiệm thực hiện công việc cụ thể được ủy thác trong thời hạn 01 tháng, kể
từ ngày nhận được quyết định ủy thác và thông báo kết quả bằng văn bản cho Tòa
án đã ra quyết định ủy thác; trường hợp không thực hiện được việc ủy thác thì
phải thông báo bằng văn bản và nêu rõ lý do cho Tòa án đã ra quyết định ủy
thác.
4. Trường hợp việc thu thập chứng cứ phải
tiến hành ở nước ngoài thì Tòa án làm thủ tục ủy thác thông qua cơ quan có thẩm
quyền của Việt Nam hoặc cơ quan có thẩm quyền của nước ngoài mà nước đó và Cộng
hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam cùng là thành viên của điều ước quốc tế có quy
định về vấn đề này.
5. Trường hợp không thực hiện được việc ủy
thác theo quy định tại khoản 3 và khoản 4 Điều này hoặc đã thực hiện việc ủy
thác nhưng không nhận được kết quả trả lời thì Tòa án giải quyết vụ án trên cơ
sở chứng cứ đã có trong hồ sơ vụ việc dân sự.
Điều 106. Yêu cầu cơ quan, tổ chức, cá nhân
cung cấp tài liệu, chứng cứ
1. Đương sự có quyền yêu cầu cơ quan, tổ
chức, cá nhân cung cấp tài liệu, chứng cứ. Khi yêu cầu cơ quan, tổ chức, cá
nhân cung cấp tài liệu, chứng cứ, đương sự phải làm văn bản yêu cầu ghi rõ tài
liệu, chứng cứ cần cung cấp; lý do cung cấp; họ, tên, địa chỉ của cá nhân, tên,
địa chỉ của cơ quan, tổ chức đang quản lý, lưu giữ tài liệu, chứng cứ cần cung
cấp.
Cơ quan, tổ chức, cá nhân có trách nhiệm cung
cấp tài liệu, chứng cứ cho đương sự trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận
được yêu cầu; trường hợp không cung cấp được thì phải trả lời bằng văn bản và
nêu rõ lý do cho người có yêu cầu.
2. Trường hợp đương sự đã áp dụng các biện
pháp cần thiết để thu thập tài liệu, chứng cứ mà vẫn không thể tự mình thu thập
được thì có thể đề nghị Tòa án ra quyết định yêu cầu cơ quan, tổ chức, cá nhân
đang lưu giữ, quản lý tài liệu, chứng cứ cung cấp cho mình hoặc đề nghị Tòa án
tiến hành thu thập tài liệu, chứng cứ nhằm bảo đảm cho việc giải quyết vụ việc
dân sự đúng đắn.
Đương sự yêu cầu Tòa án thu thập tài liệu,
chứng cứ phải làm đơn ghi rõ vấn đề cần chứng minh; tài liệu, chứng cứ cần thu
thập; lý do mình không tự thu thập được; họ, tên, địa chỉ của cá nhân, tên, địa
chỉ của cơ quan, tổ chức đang quản lý, lưu giữ tài liệu, chứng cứ cần thu thập.
3. Trường hợp có yêu cầu của đương sự hoặc
khi xét thấy cần thiết, Tòa án ra quyết định yêu cầu cơ quan, tổ chức, cá nhân
đang quản lý, lưu giữ cung cấp tài liệu, chứng cứ cho Tòa án.
Cơ quan, tổ chức, cá nhân đang quản lý, lưu
giữ tài liệu, chứng cứ có trách nhiệm cung cấp đầy đủ tài liệu, chứng cứ theo
yêu cầu của Tòa án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được yêu cầu; hết
thời hạn này mà không cung cấp đầy đủ tài liệu, chứng cứ theo yêu cầu của Tòa
án thì cơ quan, tổ chức, cá nhân được yêu cầu phải trả lời bằng văn bản và nêu
rõ lý do. Cơ quan, tổ chức, cá nhân không thực hiện yêu cầu của Tòa án mà không
có lý do chính đáng thì tùy theo tính chất, mức độ vi phạm có thể bị xử phạt
hành chính hoặc truy cứu trách nhiệm hình sự theo quy định của pháp luật. Việc
xử phạt hành chính hoặc truy cứu trách nhiệm hình sự theo quy định của pháp
luật đối với cơ quan, tổ chức, cá nhân không phải là lý do miễn nghĩa vụ cung
cấp tài liệu, chứng cứ cho Tòa án.
4. Trường hợp Viện kiểm sát có yêu cầu cung
cấp tài liệu, chứng cứ thì cơ quan, tổ chức, cá nhân có trách nhiệm thực hiện
theo quy định tại khoản 3 Điều này.
Điều 107. Bảo quản tài liệu, chứng cứ
1. Tài liệu, chứng cứ đã được giao nộp tại
Tòa án thì việc bảo quản tài liệu, chứng cứ đó do Tòa án chịu trách nhiệm.
2. Tài liệu, chứng cứ không thể giao nộp được
tại Tòa án thì người đang lưu giữ tài liệu, chứng cứ đó có trách nhiệm bảo
quản.
3. Trường hợp cần giao tài liệu, chứng cứ cho
người thứ ba bảo quản thì Thẩm phán ra quyết định và lập biên bản giao cho
người đó bảo quản. Người nhận bảo quản phải ký tên vào biên bản, được hưởng thù
lao và phải chịu trách nhiệm về việc bảo quản tài liệu, chứng cứ theo quy định
của pháp luật.
4. Nghiêm cấm việc hủy hoại tài liệu, chứng
cứ.
1. Việc đánh giá chứng cứ phải khách quan,
toàn diện, đầy đủ và chính xác.
2. Tòa án phải đánh giá từng chứng cứ, sự
liên quan giữa các chứng cứ và khẳng định tính hợp pháp, tính liên quan, giá
trị chứng minh của từng chứng cứ.
Điều 109. Công bố và sử dụng tài liệu, chứng
cứ
1. Mọi chứng cứ được công bố và sử dụng công
khai như nhau, trừ trường hợp quy định tại khoản 2 Điều này.
2. Tòa án không công khai nội dung tài liệu,
chứng cứ có liên quan đến bí mật nhà nước, thuần phong mỹ tục của dân tộc, bí
mật nghề nghiệp, bí mật kinh doanh, bí mật cá nhân, bí mật gia đình theo yêu
cầu chính đáng của đương sự nhưng phải thông báo cho đương sự biết những tài
liệu, chứng cứ không được công khai.
3. Người tiến hành tố tụng, người tham gia tố
tụng phải giữ bí mật tài liệu, chứng cứ thuộc trường hợp quy định tại khoản 2
Điều này theo quy định của pháp luật.
1. Trường hợp chứng cứ đang bị tiêu huỷ, có
nguy cơ bị tiêu hủy hoặc sau này khó có thể thu thập được thì đương sự có quyền
đề nghị Tòa án quyết định áp dụng biện pháp cần thiết để bảo toàn chứng cứ. Đề
nghị của đương sự phải thể hiện bằng văn bản. Tòa án có thể quyết định áp dụng
một hoặc một số trong các biện pháp niêm phong, thu giữ, chụp ảnh, ghi âm, ghi
hình, phục chế, khám nghiệm, lập biên bản và các biện pháp khác.
2. Trường hợp người làm chứng bị lừa dối, đe
dọa, cưỡng ép hoặc mua chuộc để không cung cấp chứng cứ hoặc cung cấp chứng cứ
sai sự thật thì Tòa án có quyền quyết định buộc người có hành vi lừa dối, đe
dọa, cưỡng ép hoặc mua chuộc phải chấm dứt hành vi đó. Trường hợp hành vi đó có
dấu hiệu tội phạm thì Tòa án yêu cầu Viện kiểm sát xem xét về trách nhiệm hình
sự.
CÁC BIỆN PHÁP KHẨN CẤP TẠM THỜI
Điều 111. Quyền yêu cầu áp dụng biện pháp
khẩn cấp tạm thời
1. Trong quá trình giải quyết vụ án, đương
sự, người đại diện hợp pháp của đương sự hoặc cơ quan, tổ chức, cá nhân khởi
kiện vụ án quy định tại Điều 187 của Bộ luật này có quyền
yêu cầu Tòa án đang giải quyết vụ án đó áp dụng một hoặc nhiều biện pháp khẩn
cấp tạm thời quy định tại Điều 114 của Bộ luật này để tạm
thời giải quyết yêu cầu cấp bách của đương sự, bảo vệ tính mạng, sức khỏe, tài
sản, thu thập chứng cứ, bảo vệ chứng cứ, bảo toàn tình trạng hiện có tránh gây
thiệt hại không thể khắc phục được, đảm bảo cho việc giải quyết vụ án hoặc việc
thi hành án.
2. Trong trường hợp do tình thế khẩn cấp, cần
phải bảo vệ ngay chứng cứ, ngăn chặn hậu quả nghiêm trọng có thể xảy ra thì cơ
quan, tổ chức, cá nhân có quyền yêu cầu Tòa án có thẩm quyền ra quyết định áp
dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời quy định tại Điều 114 của Bộ
luật này đồng thời với việc nộp đơn khởi kiện cho Tòa án đó.
3. Tòa án chỉ tự mình ra quyết định áp dụng
biện pháp khẩn cấp tạm thời trong trường hợp quy định tại Điều
135 của Bộ luật này.
Điều 112. Thẩm quyền quyết định áp dụng, thay
đổi, hủy bỏ biện pháp khẩn cấp tạm thời
1. Trước khi mở phiên tòa, việc áp dụng, thay
đổi, hủy bỏ biện pháp khẩn cấp tạm thời do một Thẩm phán xem xét, quyết định.
2. Tại phiên tòa, việc áp dụng, thay đổi, hủy
bỏ biện pháp khẩn cấp tạm thời do Hội đồng xét xử xem xét, quyết định.
Điều 113. Trách nhiệm do áp dụng biện pháp
khẩn cấp tạm thời không đúng
1. Người yêu cầu Tòa án áp dụng biện pháp
khẩn cấp tạm thời phải chịu trách nhiệm trước pháp luật về yêu cầu của mình;
trường hợp yêu cầu áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời không đúng mà gây thiệt
hại cho người bị áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời hoặc cho người thứ ba thì
phải bồi thường.
2. Tòa án áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời
không đúng mà gây thiệt hại cho người bị áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời
hoặc cho người thứ ba thì Tòa án phải bồi thường nếu thuộc một trong các trường
hợp sau đây:
a) Tòa án tự mình áp dụng biện pháp khẩn cấp
tạm thời;
b) Tòa án áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời
khác với biện pháp khẩn cấp tạm thời mà cơ quan, tổ chức, cá nhân yêu cầu;
c) Tòa án áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời
vượt quá yêu cầu áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời của cơ quan, tổ chức, cá
nhân;
d) Tòa án áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời
không đúng thời hạn theo quy định của pháp luật hoặc không áp dụng biện pháp
khẩn cấp tạm thời mà không có lý do chính đáng.
3. Việc bồi thường thiệt hại quy định tại
khoản 2 Điều này được thực hiện theo quy định của Luật Trách nhiệm bồi thường
của Nhà nước.
Điều 114. Các biện pháp khẩn cấp tạm thời
1. Giao người chưa thành niên, người mất năng
lực hành vi dân sự, người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi cho cá
nhân hoặc tổ chức trông nom, nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục.
2. Buộc thực hiện trước một phần nghĩa vụ cấp
dưỡng.
3. Buộc thực hiện trước một phần nghĩa vụ bồi
thường thiệt hại do tính mạng, sức khoẻ bị xâm phạm.
4. Buộc người sử dụng lao động tạm ứng tiền
lương, tiền bảo hiểm y tế, bảo hiểm xã hội, bảo hiểm thất nghiệp, chi phí cứu
chữa tai nạn lao động hoặc bệnh nghề nghiệp, tiền bồi thường, trợ cấp tai nạn
lao động hoặc bệnh nghề nghiệp cho người lao động.
5. Tạm đình chỉ thi hành quyết định đơn
phương chấm dứt hợp đồng lao động, quyết định sa thải người lao động.
6. Kê biên tài sản đang tranh chấp.
7. Cấm chuyển dịch quyền về tài sản đối với
tài sản đang tranh chấp.
8. Cấm thay đổi hiện trạng tài sản đang tranh
chấp.
9. Cho thu hoạch, cho bán hoa màu hoặc sản
phẩm, hàng hoá khác.
10. Phong tỏa tài khoản tại ngân hàng, tổ
chức tín dụng khác, kho bạc nhà nước; phong tỏa tài sản ở nơi gửi giữ.
11. Phong tỏa tài sản của người có nghĩa vụ.
12. Cấm hoặc buộc thực hiện hành vi nhất
định.
13. Cấm xuất cảnh đối với người có nghĩa vụ.
14. Cấm tiếp xúc với nạn nhân bạo lực gia
đình.
15. Tạm dừng việc đóng thầu và các hoạt động
có liên quan đến việc đấu thầu.
16. Bắt giữ tàu bay, tàu biển để bảo đảm giải
quyết vụ án.
17. Các biện pháp khẩn cấp tạm thời khác mà
luật có quy định.
Giao người chưa thành niên, người mất năng
lực hành vi dân sự, người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi cho cá
nhân hoặc tổ chức trông nom, nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục được áp dụng nếu
việc giải quyết vụ án có liên quan đến những người này mà họ chưa có người giám
hộ.
Việc giao người chưa thành niên từ đủ bảy
tuổi trở lên thì phải xem xét nguyện vọng của người đó.
Điều 116. Buộc thực hiện trước một phần nghĩa
vụ cấp dưỡng
Buộc thực hiện trước một phần nghĩa vụ cấp
dưỡng được áp dụng nếu việc giải quyết vụ án có liên quan đến yêu cầu cấp dưỡng
và xét thấy yêu cầu đó là có căn cứ và nếu không thực hiện trước ngay một phần
nghĩa vụ cấp dưỡng sẽ ảnh hưởng đến sức khoẻ, đời sống của người được cấp
dưỡng.
Buộc thực hiện trước một phần nghĩa vụ bồi
thường thiệt hại do tính mạng, sức khoẻ bị xâm phạm được áp dụng nếu việc giải
quyết vụ án có liên quan đến yêu cầu đòi bồi thường thiệt hại do tính mạng, sức
khoẻ bị xâm phạm.
Buộc người sử dụng lao động tạm ứng tiền
lương, tiền bảo hiểm y tế, bảo hiểm xã hội, bảo hiểm thất nghiệp, chi phí cứu
chữa tai nạn lao động hoặc bệnh nghề nghiệp, tiền bồi thường, trợ cấp tai nạn
lao động hoặc bệnh nghề nghiệp cho người lao động được áp dụng để bảo vệ quyền,
lợi ích hợp pháp của người lao động về tiền lương, tiền bảo hiểm, tiền bồi
thường, tiền trợ cấp, chăm sóc sức khỏe theo quy định của pháp luật.
Tạm đình chỉ thi hành quyết định đơn phương
chấm dứt hợp đồng lao động, quyết định sa thải người lao động được áp dụng nếu
việc giải quyết vụ án có liên quan đến đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động,
sa thải người lao động thuộc trường hợp người sử dụng lao động không được thực
hiện quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động hoặc không được xử lý kỷ luật
sa thải đối với người lao động theo quy định của pháp luật về lao động.
Điều 120. Kê biên tài sản đang tranh chấp
1. Kê biên tài sản đang tranh chấp được áp
dụng nếu trong quá trình giải quyết vụ án có căn cứ cho thấy người giữ tài sản
đang tranh chấp có hành vi tẩu tán, hủy hoại tài sản.
2. Tài sản bị kê biên có thể được thu giữ,
bảo quản tại cơ quan thi hành án dân sự hoặc lập biên bản giao cho một bên
đương sự hoặc người thứ ba quản lý cho đến khi có quyết định của Tòa án.
Điều 121. Cấm chuyển dịch quyền về tài sản
đối với tài sản đang tranh chấp
Cấm chuyển dịch quyền về tài sản đối với tài
sản đang tranh chấp được áp dụng nếu trong quá trình giải quyết vụ án có căn cứ
cho thấy người đang chiếm hữu hoặc giữ tài sản đang tranh chấp có hành vi
chuyển dịch quyền về tài sản đối với tài sản đang tranh chấp cho người khác.
Điều 122. Cấm thay đổi hiện trạng tài sản
đang tranh chấp
Cấm thay đổi hiện trạng tài sản đang tranh
chấp được áp dụng nếu trong quá trình giải quyết vụ án có căn cứ cho thấy người
đang chiếm hữu hoặc giữ tài sản đang tranh chấp có hành vi tháo gỡ, lắp ghép,
xây dựng thêm hoặc có hành vi khác làm thay đổi hiện trạng tài sản đó.
Điều 123. Cho thu hoạch, cho bán hoa màu hoặc
sản phẩm, hàng hoá khác
Cho thu hoạch, cho bán hoa màu hoặc sản phẩm,
hàng hoá khác được áp dụng nếu trong quá trình giải quyết vụ án có tài sản đang
tranh chấp hoặc liên quan đến tranh chấp mà có hoa màu hoặc sản phẩm, hàng hoá
khác ở thời kỳ thu hoạch hoặc không thể bảo quản được lâu dài.
Điều 124. Phong tỏa tài khoản tại ngân hàng,
tổ chức tín dụng khác, kho bạc nhà nước
Phong tỏa tài khoản tại ngân hàng, tổ chức
tín dụng khác, kho bạc nhà nước được áp dụng nếu trong quá trình giải quyết vụ
án có căn cứ cho thấy người có nghĩa vụ có tài khoản tại ngân hàng, tổ chức tín
dụng khác, kho bạc nhà nước và việc áp dụng biện pháp này là cần thiết để bảo
đảm cho việc giải quyết vụ án hoặc việc thi hành án.
Điều 125. Phong tỏa tài sản ở nơi gửi giữ
Phong tỏa tài sản ở nơi gửi giữ được áp dụng
nếu trong quá trình giải quyết vụ án có căn cứ cho thấy người có nghĩa vụ có
tài sản đang gửi giữ và vi ệc áp dụng biện pháp này là cần thiết để bảo đảm cho
việc giải quyết vụ án hoặc bảo việc thi hành án.
Điều 126. Phong tỏa tài sản của người có
nghĩa vụ
Phong tỏa tài sản của người có nghĩa vụ được
áp dụng nếu trong quá trình giải quyết vụ án có căn cứ cho thấy người có nghĩa
vụ có tài sản và việc áp dụng biện pháp này là cần thiết để bảo đảm cho việc
giải quyết vụ án hoặc việc thi hành án.
Điều 127. Cấm hoặc buộc thực hiện hành vi
nhất định
Cấm hoặc buộc thực hiện hành vi nhất định
được áp dụng nếu trong quá trình giải quyết vụ án có căn cứ cho thấy đương sự
hoặc cơ quan, tổ chức, cá nhân khác thực hiện hoặc không thực hiện một hoặc một
số hành vi nhất định làm ảnh hưởng đến việc giải quyết vụ án, quyền và lợi ích
hợp pháp của người khác có liên quan trong vụ án đang được Tòa án giải quyết.
Điều 128. Cấm xuất cảnh đối với người có
nghĩa vụ
Cấm xuất cảnh đối với người có nghĩa vụ được
áp dụng nếu có căn cứ cho thấy việc giải quyết vụ án có liên quan đến nghĩa vụ
của họ đối với Nhà nước, cơ quan, tổ chức, cá nhân khác và việc xuất cảnh của
họ ảnh hưởng đến việc giải quyết vụ án, lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích
hợp pháp của cơ quan, tổ chức, cá nhân khác hoặc để bảo đảm việc thi hành án.
Điều 129. Cấm tiếp xúc với nạn nhân bạo lực
gia đình
Cấm người có hành vi bạo lực gia đình tiếp
xúc với nạn nhân bạo lực gia đình được áp dụng nếu biện pháp đó là cần thiết để
bảo vệ tính mạng, sức khỏe, danh dự của nạn nhân bạo lực gia đình theo quy định
của Luật Phòng, chống bạo lực gia đình.
Điều 130. Tạm dừng việc đóng thầu và các hoạt
động có liên quan đến việc đấu thầu
Tạm dừng việc đóng thầu, phê duyệt danh sách
ngắn, kết quả lựa chọn nhà thầu, nhà đầu tư, ký kết hợp đồng, thực hiện hợp
đồng được áp dụng nếu quá trình giải quyết vụ án cho thấy việc áp dụng biện
pháp này là cần thiết để bảo đảm cho việc giải quyết vụ án theo đúng quy định
của pháp luật.
Điều 131. Bắt giữ tàu bay, tàu biển để bảo
đảm giải quyết vụ án
1. Tòa án quyết định áp dụng biện pháp khẩn
cấp tạm thời bắt giữ tàu bay để bảo đảm giải quyết vụ án dân sự mà vụ án đó do
chủ sở hữu tàu bay, chủ nợ trong trường hợp tàu bay là tài sản bảo đảm, người
bị thiệt hại do tàu bay đang bay gây ra hoặc người có quyền, lợi ích liên quan
đối với tàu bay khởi kiện theo quy định của pháp luật về hàng không dân dụng
Việt Nam.
2. Tòa án quyết định áp dụng biện pháp khẩn
cấp tạm thời bắt giữ tàu biển trong các trường hợp sau đây:
a) Tàu biển bị yêu cầu bắt giữ để bảo đảm
việc giải quyết khiếu nại hàng hải mà người yêu cầu bắt giữ tàu biển đã khởi
kiện vụ án dân sự tại Tòa án;
b) Chủ tàu là người có nghĩa vụ về tài sản
trong vụ án đang giải quyết và vẫn là chủ tàu tại thời điểm áp dụng biện pháp
khẩn cấp tạm thời bắt giữ tàu biển;
c) Người thuê tàu trần, người thuê tàu định
hạn, người thuê tàu chuyến hoặc người khai thác tàu là người có nghĩa vụ về tài
sản trong vụ án dân sự phát sinh từ khiếu nại hàng hải theo quy định của Bộ
luật Hàng hải Việt Nam và vẫn là người thuê tàu trần, người thuê tàu định hạn,
người thuê tàu chuyến, người khai thác tàu hoặc là chủ tàu tại thời điểm áp
dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời bắt giữ tàu biển;
d) Tranh chấp đang được giải quyết trong vụ
án phát sinh trên cơ sở của việc thế chấp tàu biển đó;
đ) Tranh chấp đang được giải quyết trong vụ
án liên quan đến quyền sở hữu hoặc quyền chiếm hữu tàu biển đó.
3. Trình tự, thủ tục bắt giữ tàu bay, tàu
biển được áp dụng theo quy định của pháp luật về bắt giữ tàu bay, tàu biển.
Điều 132. Các biện pháp khẩn cấp tạm thời
khác
Ngoài các biện pháp khẩn cấp tạm thời quy
định tại các khoản từ khoản 1 đến khoản 16 Điều 114 của Bộ luật
này, Tòa án có trách nhiệm giải quyết yêu cầu áp dụng biện pháp khẩn tạm
thời khác do luật khác quy định.
Điều 133. Thủ tục áp dụng biện pháp khẩn cấp
tạm thời
1. Người yêu cầu Tòa án áp dụng biện pháp
khẩn cấp tạm thời phải làm đơn gửi đến Tòa án có thẩm quyền. Đơn yêu cầu áp
dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời phải có các nội dung chính sau đây:
a) Ngày, tháng, năm làm đơn;
b) Tên, địa chỉ; số điện thoại, fax, địa chỉ
thư điện tử (nếu có) của người yêu cầu áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời;
c) Tên, địa chỉ; số điện thoại, fax, địa chỉ
thư điện tử (nếu có) của người bị yêu cầu áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời;
d) Tóm tắt nội dung tranh chấp hoặc hành vi
xâm phạm quyền và lợi ích hợp pháp của mình;
đ) Lý do cần phải áp dụng biện pháp khẩn cấp
tạm thời;
e) Biện pháp khẩn cấp tạm thời cần được áp
dụng và các yêu cầu cụ thể.
Tuỳ theo yêu cầu áp dụng biện pháp khẩn cấp
tạm thời mà người yêu cầu phải cung cấp cho Tòa án chứng cứ để chứng minh cho
sự cần thiết phải áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời đó.
2. Yêu cầu áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm
thời trong trường hợp quy định tại khoản 1 Điều 111 của Bộ luật
này được giải quyết như sau:
a) Trường hợp Tòa án nhận đơn yêu cầu trước
khi mở phiên tòa thì Thẩm phán được phân công giải quyết vụ án phải xem xét,
giải quyết. Trong thời hạn 03 ngày làm việc, kể từ ngày nhận đơn, nếu người yêu
cầu không phải thực hiện biện pháp bảo đảm hoặc ngay sau khi người đó thực hiện
xong biện pháp bảo đảm quy định tại Điều 136 của Bộ luật này
thì Thẩm phán phải ra ngay quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời; nếu
không chấp nhận yêu cầu thì Thẩm phán phải thông báo bằng văn bản và nêu rõ lý
do cho người yêu cầu;
b) Trường hợp Hội đồng xét xử nhận đơn yêu
cầu áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời tại phiên tòa thì Hội đồng xét xử xem
xét, thảo luận, giải quyết tại phòng xử án. Nếu chấp nhận thì Hội đồng xét xử
ra quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời ngay hoặc sau khi người yêu
cầu đã thực hiện xong biện pháp bảo đảm quy định tại Điều 136
của Bộ luật này. Việc thực hiện biện pháp bảo đảm được bắt đầu từ thời điểm
Hội đồng xét xử ra quyết định buộc thực hiện biện pháp bảo đảm, nhưng người yêu
cầu phải xuất trình chứng cứ về việc đã thực hiện xong biện pháp bảo đảm trước
khi Hội đồng xét xử vào phòng nghị án; nếu không chấp nhận yêu cầu áp dụng biện
pháp khẩn cấp tạm thời thì Hội đồng xét xử phải thông báo ngay tại phòng xử án
và ghi vào biên bản phiên tòa.
3. Đối với trường hợp yêu cầu áp dụng biện
pháp khẩn cấp tạm thời quy định tại khoản 2 Điều 111 của Bộ
luật này thì sau khi nhận được đơn yêu cầu cùng với đơn khởi kiện và chứng
cứ kèm theo, Chánh án Tòa án phân công ngay một Thẩm phán thụ lý giải quyết đơn
yêu cầu. Trong thời hạn 48 giờ, kể từ thời điểm nhận được đơn yêu cầu, Thẩm
phán phải xem xét và ra quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời; nếu
không chấp nhận yêu cầu thì Thẩm phán phải thông báo bằng văn bản và nêu rõ lý
do cho người yêu cầu biết.
4. Trường hợp áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm
thời quy định tại khoản 10 và khoản 11 Điều 114 của Bộ luật này
thì chỉ được phong tỏa tài khoản, tài sản có giá trị tương đương với nghĩa vụ
tài sản mà người bị áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời có nghĩa vụ phải thực
hiện.
Cơ quan, tổ chức, cá nhân khởi kiện vụ án quy
định tại Điều 187 của Bộ luật này kiến nghị Tòa án áp dụng
biện pháp khẩn cấp tạm thời bằng văn bản, trong đó phải nêu rõ lý do kiến nghị;
biện pháp khẩn cấp tạm thời cần được áp dụng; tên, địa chỉ của người có quyền
và lợi ích hợp pháp cần được bảo vệ; tên, địa chỉ của người bị yêu cầu áp dụng
biện pháp khẩn cấp tạm thời; tóm tắt nội dung tranh chấp, hành vi xâm phạm
quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự; chứng cứ để chứng minh cho việc kiến
nghị của mình là có căn cứ và hợp pháp.
Điều 135. Tòa án tự mình ra quyết định áp
dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời[42]
Tòa án tự mình ra quyết định áp dụng biện
pháp khẩn cấp tạm thời quy định tại các khoản 1, 2, 3, 4, 5 và
14 Điều 114 của Bộ luật này trong trường hợp đương sự không yêu cầu áp dụng
biện pháp khẩn cấp tạm thời.
Điều 136. Buộc thực hiện biện pháp bảo đảm
1. Người yêu cầu Tòa án áp dụng một trong các
biện pháp khẩn cấp tạm thời quy định tại các khoản 6, 7, 8, 10,
11, 15 và 16 Điều 114 của Bộ luật này phải nộp cho Tòa án chứng từ bảo lãnh
được bảo đảm bằng tài sản của ngân hàng hoặc tổ chức tín dụng khác hoặc của cơ
quan, tổ chức, cá nhân khác hoặc gửi một khoản tiền, kim khí quý, đá quý hoặc
giấy tờ có giá do Tòa án ấn định nhưng phải tương đương với tổn thất hoặc thiệt
hại có thể phát sinh do hậu quả của việc áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời
không đúng để bảo vệ lợi ích của người bị áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời
và ngăn ngừa sự lạm dụng quyền yêu cầu áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời từ
phía người có quyền yêu cầu.
Đối với trường hợp quy định tại khoản 2 Điều 111 của Bộ luật này thì thời hạn thực hiện biện
pháp bảo đảm quy định tại khoản này không được quá 48 giờ, kể từ thời điểm nộp
đơn yêu cầu.
2. Khoản tiền, kim khí quý, đá quý hoặc giấy
tờ có giá phải được gửi vào tài khoản phong tỏa tại ngân hàng nơi có trụ sở của
Tòa án quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời trong thời hạn do Tòa án
ấn định.
Trong trường hợp thực hiện biện pháp bảo đảm
vào ngày lễ hoặc ngày nghỉ thì khoản tiền bảo đảm được gửi giữ tại Tòa án. Tòa
án phải làm thủ tục giao nhận và gửi ngay khoản tiền đó vào ngân hàng vào ngày
làm việc tiếp theo.
Điều 137. Thay đổi, áp dụng bổ sung biện pháp
khẩn cấp tạm thời
Khi xét thấy biện pháp khẩn cấp tạm thời đang
được áp dụng không còn phù hợp mà cần thiết phải thay đổi hoặc áp dụng bổ sung
biện pháp khẩn cấp tạm thời khác thì thủ tục thay đổi, áp dụng bổ sung biện
pháp khẩn cấp tạm thời khác được thực hiện theo quy định tại Điều
133 của Bộ luật này.
Điều 138. Hủy bỏ việc áp dụng biện pháp khẩn
cấp tạm thời
1. Tòa án ra ngay quyết định hủy bỏ biện pháp
khẩn cấp tạm thời đã được áp dụng khi thuộc một trong các trường hợp sau đây:
a) Người yêu cầu áp dụng biện pháp khẩn cấp
tạm thời đề nghị hủy bỏ;
b) Người phải thi hành quyết định áp dụng
biện pháp khẩn cấp tạm thời nộp tài sản hoặc có người khác thực hiện biện pháp
bảo đảm thi hành nghĩa vụ đối với bên có yêu cầu;
c) Nghĩa vụ dân sự của bên có nghĩa vụ chấm
dứt theo quy định của Bộ luật Dân sự;
d) Việc giải quyết vụ án được đình chỉ theo
quy định của Bộ luật này;
đ) Quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm
thời không đúng theo quy định của Bộ luật này;
e) Căn cứ của việc áp dụng biện pháp khẩn cấp
tạm thời không còn;
g) Vụ việc đã được giải quyết bằng bản án,
quyết định của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật;
h) Các trường hợp Tòa án trả lại đơn khởi
kiện theo quy định của Bộ luật này.
2. Trường hợp hủy bỏ biện pháp khẩn cấp tạm
thời, Tòa án phải xem xét, quyết định để người yêu cầu áp dụng biện pháp khẩn
cấp tạm thời nhận lại chứng từ bảo lãnh được bảo đảm bằng tài sản của ngân hàng
hoặc tổ chức tín dụng khác hoặc khoản tiền, kim khí quý, đá quý hoặc giấy tờ có
giá quy định tại Điều 136 của Bộ luật này, trừ trường hợp
quy định tại khoản 1 Điều 113 của Bộ luật này.
3. Thủ tục ra quyết định hủy bỏ việc áp dụng
biện pháp khẩn cấp tạm thời được thực hiện theo quy định tại Điều
133 của Bộ luật này. Trường hợp đã có bản án, quyết định của Tòa án có hiệu
lực pháp luật thì việc giải quyết yêu cầu hủy quyết định áp dụng biện pháp khẩn
cấp tạm thời do một Thẩm phán được Chánh án của Tòa án đã ra quyết định áp dụng
biện pháp khẩn cấp tạm thời phân công giải quyết.
Điều 139. Hiệu lực của quyết định áp dụng,
thay đổi, hủy bỏ biện pháp khẩn cấp tạm thời
1. Quyết định áp dụng, thay đổi, hủy bỏ biện
pháp khẩn cấp tạm thời có hiệu lực thi hành ngay.
2. Tòa án phải cấp hoặc gửi quyết định áp
dụng, thay đổi, hủy bỏ biện pháp khẩn cấp tạm thời ngay sau khi ra quyết định
cho người có yêu cầu, người bị áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời, cơ quan, tổ
chức, cá nhân có liên quan, cơ quan thi hành án dân sự có thẩm quyền và Viện
kiểm sát cùng cấp.
Đương sự có quyền khiếu nại, Viện kiểm sát có
quyền kiến nghị với Chánh án Tòa án đang giải quyết vụ án về quyết định áp
dụng, thay đổi, hủy bỏ biện pháp khẩn cấp tạm thời hoặc việc Thẩm phán không
quyết định áp dụng, thay đổi, hủy bỏ biện pháp khẩn cấp tạm thời. Thời hạn
khiếu nại, kiến nghị là 03 ngày làm việc, kể từ ngày nhận được quyết định áp
dụng, thay đổi, hủy bỏ biện pháp khẩn cấp tạm thời hoặc trả lời của Thẩm phán
về việc không ra quyết định áp dụng, thay đổi, hủy bỏ biện pháp khẩn cấp tạm
thời.
1. Chánh án Tòa án phải xem xét, giải quyết
khiếu nại, kiến nghị quy định tại Điều 140 của Bộ luật này
trong thời hạn 03 ngày làm việc, kể từ ngày nhận được khiếu nại, kiến nghị.
2. Quyết định giải quyết khiếu nại, kiến nghị
của Chánh án là quyết định cuối cùng và phải được cấp hoặc gửi ngay theo quy
định tại khoản 2 Điều 139 của Bộ luật này.
3. Tại phiên tòa, việc giải quyết khiếu nại,
kiến nghị thuộc thẩm quyền của Hội đồng xét xử. Quyết định giải quyết khiếu
nại, kiến nghị của Hội đồng xét xử là quyết định cuối cùng.
Điều 142. Thi hành quyết định áp dụng, thay
đổi, hủy bỏ biện pháp khẩn cấp tạm thời
1. Quyết định áp dụng, thay đổi, hủy bỏ biện
pháp khẩn cấp tạm thời được thi hành theo quy định của pháp luật về thi hành án
dân sự.
2. Trường hợp quyết định áp dụng biện pháp
khẩn cấp tạm thời đối với tài sản có đăng ký quyền sở hữu, quyền sử dụng thì
đương sự có nghĩa vụ nộp bản sao quyết định cho cơ quan quản lý đăng ký quyền
sở hữu, quyền sử dụng.
ÁN PHÍ, LỆ PHÍ VÀ CHI PHÍ TỐ TỤNG KHÁC
Điều 143. Tiền tạm ứng án phí, tiền tạm ứng
lệ phí; án phí, lệ phí
1. Tiền tạm ứng án phí bao gồm tiền tạm ứng
án phí sơ thẩm và tiền tạm ứng án phí phúc thẩm.
2. Án phí bao gồm án phí sơ thẩm và án phí
phúc thẩm.
3. Tiền tạm ứng lệ phí giải quyết việc dân sự
bao gồm tiền tạm ứng lệ phí sơ thẩm và tiền tạm ứng lệ phí phúc thẩm.
4. Lệ phí bao gồm lệ phí cấp bản sao bản án,
quyết định và các giấy tờ khác của Tòa án, lệ phí nộp đơn yêu cầu Tòa án giải
quyết việc dân sự, lệ phí giải quyết việc dân sự và các khoản lệ phí khác mà
luật có quy định.
Điều 144. Xử lý tiền tạm ứng án phí, tiền tạm
ứng lệ phí, án phí, lệ phí thu được
1. Toàn bộ án phí, lệ phí thu được phải nộp
đầy đủ, kịp thời vào ngân sách nhà nước tại Kho bạc nhà nước.
2. Tiền tạm ứng án phí, tiền tạm ứng lệ phí
được nộp cho cơ quan thi hành án có thẩm quyền để gửi vào tài khoản tạm giữ mở
tại kho bạc nhà nước và được rút ra để thi hành án theo quyết định của Tòa án.
3. Người đã nộp tiền tạm ứng án phí, tiền tạm
ứng lệ phí phải chịu án phí, lệ phí thì ngay sau khi bản án, quyết định của Tòa
án có hiệu lực pháp luật, số tiền tạm ứng đã thu được phải được nộp vào ngân
sách nhà nước.
Trường hợp người đã nộp tiền tạm ứng án phí,
tiền tạm ứng lệ phí được hoàn trả một phần hoặc toàn bộ số tiền đã nộp theo bản
án, quyết định của Tòa án thì cơ quan thi hành án đã thu tiền tạm ứng án phí,
tiền tạm ứng lệ phí phải làm thủ tục trả lại tiền cho họ.
4. Trường hợp việc giải quyết vụ việc dân sự
bị tạm đình chỉ thì tiền tạm ứng án phí, tiền tạm ứng lệ phí đã nộp được xử lý
khi vụ việc được tiếp tục giải quyết.
Điều 145. Chế độ thu, chi trả tiền tạm ứng án
phí, tiền tạm ứng lệ phí, án phí, lệ phí
Việc thu tiền tạm ứng án phí và án phí, tiền
tạm ứng lệ phí và lệ phí; việc chi trả tiền tạm ứng án phí, tiền tạm ứng lệ phí
phải được thực hiện theo quy định của pháp luật.
Điều 146. Nghĩa vụ nộp tiền tạm ứng án phí,
tiền tạm ứng lệ phí
1. Nguyên đơn, bị đơn có yêu cầu phản tố đối
với nguyên đơn và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có yêu cầu độc lập
trong vụ án dân sự phải nộp tiền tạm ứng án phí sơ thẩm, người kháng cáo theo
thủ tục phúc thẩm phải nộp tiền tạm ứng án phí phúc thẩm, trừ trường hợp được
miễn hoặc không phải nộp tiền tạm ứng án phí.
2. Người nộp đơn yêu cầu Tòa án giải quyết
việc dân sự phải nộp tiền tạm ứng lệ phí giải quyết việc dân sự đó, trừ trường
hợp được miễn hoặc không phải nộp tiền tạm ứng lệ phí.
Đối với yêu cầu công nhận thuận tình ly hôn,
thỏa thuận nuôi con, chia tài sản khi ly hôn thì vợ, chồng có thể thỏa thuận về
việc nộp tiền tạm ứng lệ phí, trừ trường hợp được miễn hoặc không phải nộp tiền
tạm ứng lệ phí theo quy định của pháp luật. Trường hợp vợ, chồng không thỏa
thuận được người nộp tiền tạm ứng lệ phí thì mỗi người phải nộp một nửa tiền
tạm ứng lệ phí.
Điều 147. Nghĩa vụ chịu án phí sơ thẩm
1. Đương sự phải chịu án phí sơ thẩm nếu yêu
cầu của họ không được Tòa án chấp nhận, trừ trường hợp được miễn hoặc không
phải chịu án phí sơ thẩm.
2. Trường hợp các đương sự không tự xác định
được phần tài sản của mình trong khối tài sản chung và có yêu cầu Tòa án giải
quyết chia tài sản chung đó thì mỗi đương sự phải chịu án phí sơ thẩm tương ứng
với giá trị phần tài sản mà họ được hưởng.
3. Trước khi mở phiên tòa, Tòa án tiến hành
hòa giải; nếu các đương sự thoả thuận được với nhau về việc giải quyết vụ án
thì họ chỉ phải chịu 50% mức án phí sơ thẩm quy định tại khoản 1 và khoản 2
Điều này.
4. Trong vụ án ly hôn thì nguyên đơn phải
chịu án phí sơ thẩm, không phụ thuộc vào việc Tòa án chấp nhận hay không chấp
nhận yêu cầu của nguyên đơn. Trường hợp cả hai thuận tình ly hôn thì mỗi bên
đương sự phải chịu một nửa án phí sơ thẩm.
5. Trong vụ án có đương sự được miễn án phí
sơ thẩm thì đương sự khác vẫn phải nộp án phí sơ thẩm mà mình phải chịu theo
quy định tại các khoản 1, 2, 3 và 4 Điều này.
6. Trường hợp vụ án bị tạm đình chỉ giải
quyết thì nghĩa vụ chịu án phí sơ thẩm được quyết định khi vụ án được tiếp tục
giải quyết theo quy định tại Điều này.
Điều 148. Nghĩa vụ chịu án phí phúc thẩm
1. Đương sự kháng cáo phải chịu án phí phúc
thẩm, nếu Tòa án cấp phúc thẩm giữ nguyên bản án, quyết định sơ thẩm bị kháng
cáo, trừ trường hợp được miễn hoặc không phải chịu án phí phúc thẩm.
2. Trường hợp Tòa án cấp phúc thẩm sửa bản
án, quyết định sơ thẩm bị kháng cáo thì đương sự kháng cáo không phải chịu án
phí phúc thẩm; Tòa án cấp phúc thẩm phải xác định lại nghĩa vụ chịu án phí sơ
thẩm theo quy định tại Điều 147 của Bộ luật này.
3. Trường hợp Tòa án cấp phúc thẩm hủy bản
án, quyết định sơ thẩm bị kháng cáo để xét xử lại theo thủ tục sơ thẩm thì
đương sự kháng cáo không phải chịu án phí phúc thẩm; nghĩa vụ chịu án phí được
xác định lại khi giải quyết lại vụ án theo thủ tục sơ thẩm.
Điều 149. Nghĩa vụ chịu lệ phí
1. Nghĩa vụ chịu lệ phí được xác định tuỳ
theo từng loại việc dân sự cụ thể và do luật quy định.
2. Đối với yêu cầu công nhận thuận tình ly
hôn, thỏa thuận nuôi con, chia tài sản khi ly hôn thì vợ, chồng có thể thỏa
thuận về việc chịu lệ phí, trừ trường hợp được miễn hoặc không phải chịu lệ phí
theo quy định của pháp luật.
Trường hợp vợ, chồng không thỏa thuận được
người có nghĩa vụ chịu lệ phí thì mỗi người phải chịu một nửa lệ phí.
Điều 150. Quy định cụ thể về án phí, lệ phí
Căn cứ vào quy định của Luật Phí và lệ phí và
Bộ luật này, Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định cụ thể về án phí, lệ phí Tòa
án; mức thu án phí, lệ phí Tòa án đối với mỗi loại vụ việc cụ thể; các trường
hợp được miễn, giảm hoặc không phải nộp án phí, lệ phí Tòa án; chế độ thu, nộp,
quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
Mục 2. CÁC CHI PHÍ TỐ TỤNG KHÁC
Điều 151. Tiền tạm ứng chi phí ủy thác tư
pháp ra nước ngoài, chi phí ủy thác tư pháp ra nước ngoài
1. Tiền tạm ứng chi phí ủy thác tư pháp ra
nước ngoài là số tiền mà Tòa án tạm tính để chi trả cho việc ủy thác tư pháp
khi tiến hành thu thập, cung cấp chứng cứ, tống đạt giấy tờ, hồ sơ, tài liệu,
triệu tập người làm chứng, người giám định và các yêu cầu tương trợ tư pháp có
liên quan đến việc giải quyết vụ việc dân sự.
2. Chi phí ủy thác tư pháp ra nước ngoài là
số tiền cần thiết và hợp lý phải chi trả cho việc thực hiện ủy thác tư pháp
theo quy định của pháp luật Việt Nam và của nước được yêu cầu ủy thác tư pháp.
Điều 152. Nghĩa vụ nộp tiền tạm ứng chi phí
ủy thác tư pháp ra nước ngoài
1. Nguyên đơn, người kháng cáo theo thủ tục
phúc thẩm hoặc đương sự khác trong vụ án phải nộp tiền tạm ứng chi phí ủy thác
tư pháp ra nước ngoài khi yêu cầu của họ làm phát sinh việc ủy thác tư pháp ra
nước ngoài.
2. Người yêu cầu Tòa án giải quyết việc dân
sự, người kháng cáo theo thủ tục phúc thẩm hoặc đương sự khác trong việc dân sự
phải nộp tiền tạm ứng chi phí ủy thác tư pháp ra nước ngoài khi yêu cầu của họ
làm phát sinh việc ủy thác tư pháp ra nước ngoài.
Điều 153. Nghĩa vụ chịu chi phí ủy thác tư
pháp ra nước ngoài
Trường hợp các bên đương sự không có thoả
thuận khác hoặc pháp luật không có quy định khác thì nghĩa vụ chịu chi phí ủy
thác tư pháp ra nước ngoài được xác định như sau:
1. Đương sự phải chịu chi phí ủy thác tư pháp
ra nước ngoài nếu yêu cầu giải quyết vụ việc của họ không được Tòa án chấp
nhận;
2. Trường hợp yêu cầu Tòa án chia tài sản
chung thì mỗi người được chia tài sản phải chịu phần chi phí ủy thác tư pháp ra
nước ngoài tương ứng với tỷ lệ giá trị phần tài sản mà họ được chia;
3. Trong vụ án ly hôn thì nguyên đơn phải nộp
chi phí ủy thác tư pháp ra nước ngoài, không phụ thuộc vào việc Tòa án chấp
nhận hay không chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn. Trường hợp cả hai thuận tình
ly hôn thì mỗi bên đương sự phải chịu một nửa chi phí ủy thác tư pháp ra nước
ngoài;
4. Trường hợp đình chỉ giải quyết vụ án quy
định tại điểm c khoản 1 Điều 217, điểm b khoản 1 Điều 299 của
Bộ luật này thì nguyên đơn phải chịu chi phí ủy thác tư pháp ra nước ngoài.
Trường hợp đình chỉ giải quyết việc xét xử
phúc thẩm quy định tại điểm b khoản 1 Điều 289, khoản 3 Điều
296 của Bộ luật này thì người kháng cáo theo thủ tục phúc thẩm phải chịu
chi phí ủy thác tư pháp ra nước ngoài;
5. Đối với các trường hợp đình chỉ giải quyết
vụ án khác theo quy định của Bộ luật này thì người yêu cầu phải chịu chi phí ủy
thác tư pháp ra nước ngoài.
Điều 154. Xử lý tiền tạm ứng chi phí ủy thác
tư pháp ra nước ngoài
1. Trường hợp người đã nộp tiền tạm ứng chi
phí ủy thác tư pháp không phải chịu chi phí ủy thác tư pháp thì người phải chịu
chi phí ủy thác tư pháp theo quyết định của Tòa án phải hoàn trả cho người đã
nộp tiền tạm ứng chi phí ủy thác tư pháp.
2. Trường hợp người đã nộp tiền tạm ứng chi
phí ủy thác tư pháp phải chịu chi phí ủy thác tư pháp, nếu số tiền tạm ứng đã
nộp chưa đủ cho chi phí ủy thác tư pháp thực tế thì họ phải nộp thêm phần tiền
còn thiếu; nếu số tiền tạm ứng đã nộp nhiều hơn chi phí ủy thác tư pháp thực tế
thì họ được trả lại phần tiền còn thừa theo quyết định của Tòa án.
Điều 155. Tiền tạm ứng chi phí xem xét, thẩm
định tại chỗ, chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ
1. Tiền tạm ứng chi phí xem xét, thẩm định
tại chỗ là số tiền mà Tòa án tạm tính để tiến hành việc xem xét, thẩm định tại
chỗ.
2. Chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ là số
tiền cần thiết và hợp lý phải chi trả cho việc xem xét, thẩm định tại chỗ căn
cứ vào quy định của pháp luật.
Điều 156. Nghĩa vụ nộp tiền tạm ứng chi phí
xem xét, thẩm định tại chỗ
1. Người yêu cầu Tòa án xem xét, thẩm định
tại chỗ phải nộp tiền tạm ứng chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ theo yêu cầu
của Tòa án.
2. Trường hợp Tòa án xét thấy cần thiết và
quyết định xem xét, thẩm định tại chỗ thì nguyên đơn, người yêu cầu giải quyết
việc dân sự, người kháng cáo theo thủ tục phúc thẩm phải nộp tiền tạm ứng chi
phí xem xét, thẩm định tại chỗ.
Điều 157. Nghĩa vụ chịu chi phí xem xét, thẩm
định tại chỗ
Trường hợp các bên đương sự không có thoả
thuận khác hoặc pháp luật không có quy định khác thì nghĩa vụ chịu chi phí xem
xét, thẩm định tại chỗ được xác định như sau:
1. Đương sự phải chịu chi phí xem xét, thẩm
định tại chỗ nếu yêu cầu của họ không được Tòa án chấp nhận;
2. Trường hợp yêu cầu Tòa án chia tài sản
chung thì mỗi người được chia tài sản phải chịu phần chi phí xem xét, thẩm định
tại chỗ theo tỷ lệ giá trị phần tài sản mà họ được chia;
3. Trong vụ án ly hôn thì nguyên đơn phải nộp
chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ, không phụ thuộc vào việc Tòa án chấp nhận
hay không chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn. Trường hợp cả hai thuận tình ly hôn
thì mỗi bên đương sự phải chịu một nửa chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ;
4. Trường hợp đình chỉ giải quyết vụ án quy
định tại điểm c khoản 1 Điều 217, điểm b khoản 1 Điều 299 của
Bộ luật này thì nguyên đơn phải chịu chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ.
Trường hợp đình chỉ giải quyết việc xét xử
phúc thẩm quy định tại điểm b khoản 1 Điều 289, khoản 3 Điều
296 của Bộ luật này thì người kháng cáo theo thủ tục phúc thẩm phải chịu
chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ;
5. Đối với các trường hợp đình chỉ giải quyết
vụ án khác theo quy định của Bộ luật này thì người yêu cầu xem xét, thẩm định
phải chịu chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ.
Điều 158. Xử lý tiền tạm ứng chi phí xem xét,
thẩm định tại chỗ
1. Trường hợp người đã nộp tiền tạm ứng chi
phí xem xét, thẩm định tại chỗ không phải chịu chi phí xem xét, thẩm định tại
chỗ thì người phải chịu chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ theo quyết định của
Tòa án phải hoàn trả cho người đã nộp tiền tạm ứng chi phí xem xét, thẩm định
tại chỗ.
2. Trường hợp người đã nộp tiền tạm ứng chi
phí xem xét, thẩm định tại chỗ phải chịu chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ,
nếu số tiền tạm ứng đã nộp chưa đủ cho chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ thực
tế thì họ phải nộp thêm phần tiền còn thiếu; nếu số tiền tạm ứng đã nộp nhiều
hơn chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ thực tế thì họ được trả lại phần tiền
còn thừa theo quyết định của Tòa án.
Điều 159. Tiền tạm ứng chi phí giám định, chi
phí giám định
1. Tiền tạm ứng chi phí giám định là số tiền
mà người giám định tạm tính để tiến hành việc giám định theo quyết định của Tòa
án hoặc theo yêu cầu giám định của đương sự.
2. Chi phí giám định là số tiền cần thiết và
hợp lý phải chi trả cho việc giám định và do người giám định tính căn cứ vào
quy định của pháp luật.
Điều 160. Nghĩa vụ nộp tiền tạm ứng chi phí
giám định
Trường hợp các đương sự không có thỏa thuận
khác hoặc pháp luật không có quy định khác thì nghĩa vụ nộp tiền tạm ứng chi
phí giám định được xác định như sau:
1. Người yêu cầu Tòa án trưng cầu giám định
phải nộp tiền tạm ứng chi phí giám định.
Trường hợp các bên đương sự yêu cầu Tòa án
trưng cầu giám định về cùng một đối tượng thì mỗi bên đương sự phải nộp một nửa
số tiền tạm ứng chi phí giám định;
2. Trường hợp Tòa án xét thấy cần thiết và
quyết định trưng cầu giám định thì nguyên đơn, người yêu cầu giải quyết việc
dân sự, người kháng cáo theo thủ tục phúc thẩm phải nộp tiền tạm ứng chi phí
giám định;
3. Đương sự, người có yêu cầu giải quyết việc
dân sự, người kháng cáo đã yêu cầu Tòa án trưng cầu giám định mà không được
chấp nhận và tự mình yêu cầu tổ chức, cá nhân thực hiện giám định thì việc nộp
tiền tạm ứng chi phí giám định được thực hiện theo quy định của Luật Giám định
tư pháp.
Điều 161. Nghĩa vụ chịu chi phí giám định
Trường hợp các bên đương sự không có thoả
thuận khác hoặc pháp luật không có quy định khác thì nghĩa vụ chịu chi phí giám
định được xác định như sau:
1. Người yêu cầu Tòa án trưng cầu giám định
phải chịu chi phí giám định, nếu kết quả giám định chứng minh yêu cầu của người
đó là không có căn cứ. Trường hợp kết quả giám định chứng minh yêu cầu của họ
chỉ có căn cứ một phần thì họ phải nộp chi phí giám định đối với phần yêu cầu
của họ đã được chứng minh là không có căn cứ;
2. Người không chấp nhận yêu cầu trưng cầu
giám định của đương sự khác trong vụ án phải nộp chi phí giám định, nếu kết quả
giám định chứng minh yêu cầu của người yêu cầu trưng cầu giám định là có căn
cứ. Trường hợp kết quả giám định chứng minh yêu cầu trưng cầu giám định chỉ có
căn cứ một phần thì người không chấp nhận yêu cầu trưng cầu giám định phải chịu
chi phí giám định tương ứng với phần yêu cầu đã được chứng minh là có căn cứ;
3. Trường hợp đình chỉ giải quyết vụ án quy
định tại điểm c khoản 1 Điều 217, điểm b khoản 1 Điều 299 của
Bộ luật này thì nguyên đơn phải chịu chi phí giám định.
Trường hợp đình chỉ giải quyết việc xét xử
phúc thẩm quy định tại điểm b khoản 1 Điều 289, khoản 3 Điều
296 của Bộ luật này thì người kháng cáo theo thủ tục phúc thẩm phải chịu
chi phí giám định;
4. Trường hợp người tự mình yêu cầu giám định
theo quy định tại khoản 3 Điều 160 của Bộ luật này, nếu kết
quả giám định chứng minh yêu cầu của người đó là có căn cứ thì người thua kiện
phải chịu chi phí giám định. Trường hợp kết quả giám định chứng minh yêu cầu
giám định của họ chỉ có căn cứ một phần thì họ phải nộp chi phí giám định đối
với phần yêu cầu của họ đã được chứng minh là không có căn cứ;
5. Đối với các trường hợp đình chỉ giải quyết
vụ án khác theo quy định của Bộ luật này thì người yêu cầu trưng cầu giám định
phải chịu chi phí giám định.
Điều 162. Xử lý tiền tạm ứng chi phí giám
định đã nộp
1 Trường hợp người đã nộp tiền tạm ứng chi
phí giám định không phải chịu chi phí giám định thì người phải chịu chi phí
giám định theo quyết định của Tòa án phải hoàn trả cho người đã nộp tiền tạm
ứng chi phí giám định.
2. Trường hợp người đã nộp tiền tạm ứng chi
phí giám định phải chịu chi phí giám định, nếu số tiền tạm ứng đã nộp chưa đủ
cho chi phí giám định thực tế thì họ phải nộp thêm phần tiền còn thiếu; nếu số
tiền tạm ứng đã nộp nhiều hơn chi phí giám định thực tế thì họ được trả lại
phần tiền còn thừa theo quyết định của Tòa án.
Điều 163. Tiền tạm ứng chi phí định giá tài
sản, chi phí định giá tài sản
1. Tiền tạm ứng chi phí định giá tài sản là
số tiền mà Hội đồng định giá tạm tính để tiến hành việc định giá tài sản theo
quyết định của Tòa án.
2. Chi phí định giá tài sản là số tiền cần
thiết và hợp lý phải chi trả cho công việc định giá tài sản và do Hội đồng định
giá tính căn cứ vào quy định của pháp luật.
Điều 164. Nghĩa vụ nộp tiền tạm ứng chi phí
định giá tài sản
Trường hợp các bên đương sự không có thoả
thuận khác hoặc pháp luật không có quy định khác thì nghĩa vụ nộp tiền tạm ứng
chi phí định giá tài sản được xác định như sau:
1. Người yêu cầu định giá tài sản phải nộp
tiền tạm ứng chi phí định giá tài sản;
2. Trường hợp các bên đương sự không thống
nhất được về giá v à cùng yêu cầu Tòa án định giá tài sản thì mỗi bên đương sự
phải nộp một nửa tiền tạm ứng chi phí định giá tài sản. Trường hợp có nhiều
đương sự, thì các bên đương sự cùng phải nộp tiền tạm ứng chi phí định giá tài
sản theo mức mà Tòa án quyết định;
3. Đối với trường hợp quy định tại khoản 3 Điều 104 của Bộ luật này thì nguyên đơn, người kháng
cáo phải nộp tiền tạm ứng chi phí định giá tài sản.
Điều 165. Nghĩa vụ chịu chi phí định giá tài
sản, thẩm định giá
Trường hợp các bên đương sự không có thoả
thuận khác hoặc pháp luật không có quy định khác thì nghĩa vụ chịu chi phí định
giá tài sản, thẩm định giá được xác định như sau:
1. Đương sự phải chịu chi phí định giá tài
sản nếu yêu cầu của họ không được Tòa án chấp nhận;
2. Trường hợp yêu cầu Tòa án chia tài sản
chung thì mỗi người được chia tài sản phải chịu phần chi phí định giá tài sản
tương ứng với tỷ lệ giá trị phần tài sản mà họ được chia;
3. Trường hợp Tòa án ra quyết định định giá
tài sản quy định tại điểm c khoản 3 Điều 104 của Bộ luật này
thì nghĩa vụ chịu chi phí định giá tài sản được xác định như sau:
a) Đương sự phải chịu chi phí định giá tài
sản quy định tại khoản 1 Điều này nếu kết quả định giá chứng minh quyết định
định giá tài sản của Tòa án là có căn cứ;
b) Tòa án trả chi phí định giá tài sản nếu
kết quả định giá tài sản chứng minh quyết định định giá tài sản của Tòa án là
không có căn cứ.
4. Trường hợp đình chỉ giải quyết vụ án quy
định tại điểm c khoản 1 Điều 217, điểm b khoản 1 Điều 299 của
Bộ luật này và Hội đồng định giá đã tiến hành định giá thì nguyên đơn phải
chịu chi phí định giá tài sản.
Trường hợp đình chỉ giải quyết việc xét xử
phúc thẩm quy định tại điểm b khoản 1 Điều 289, khoản 3 Điều
296 của Bộ luật này và Hội đồng định giá đã tiến hành định giá thì người
kháng cáo theo thủ tục phúc thẩm phải chịu chi phí định giá tài sản;
5. Các trường hợp đình chỉ giải quyết vụ án
khác theo quy định của Bộ luật này và Hội đồng định giá đã tiến hành định giá
thì người yêu cầu định giá tài sản phải chịu chi phí định giá tài sản;
6. Nghĩa vụ chịu chi phí thẩm định giá tài
sản của đương sự được thực hiện như nghĩa vụ chịu chi phí định giá tài sản quy
định tại các khoản 1, 2, 4 và 5 Điều này.
Điều 166. Xử lý tiền tạm ứng chi phí định giá
tài sản
1. Trường hợp người đã nộp tiền tạm ứng chi
phí định giá tài sản không phải chịu chi phí định giá thì người phải chịu chi
phí định giá theo quyết định của Tòa án phải hoàn trả cho người đã nộp tiền tạm
ứng chi phí định giá.
2. Trường hợp người đã nộp tiền tạm ứng chi
phí định giá tài sản phải chịu chi phí định giá, nếu số tiền tạm ứng đã nộp
chưa đủ cho chi phí định giá thực tế thì họ phải nộp thêm phần tiền còn thiếu;
nếu số tiền tạm ứng đã nộp nhiều hơn chi phí định giá thực tế thì họ được trả
lại phần tiền còn thừa.
Điều 167. Chi phí cho người làm chứng
1. Chi phí hợp lý và thực tế cho người làm
chứng do đương sự chịu.
2. Người đề nghị Tòa án triệu tập người làm
chứng phải chịu tiền chi phí cho người làm chứng nếu lời làm chứng phù hợp với
sự thật nhưng không đúng với yêu cầu của người đề nghị. Trường hợp lời làm
chứng phù hợp với sự thật và đúng với yêu cầu của người đề nghị triệu tập người
làm chứng thì chi phí này do đương sự có yêu cầu độc lập với yêu cầu của người
đề nghị chịu.
Điều 168. Chi phí cho người phiên dịch, luật
sư
1. Chi phí cho người phiên dịch là khoản tiền
phải trả cho người phiên dịch trong quá trình giải quyết vụ việc dân sự theo
thoả thuận của đương sự với người phiên dịch hoặc theo quy định của pháp luật.
2. Chi phí cho luật sư là khoản tiền phải trả
cho luật sư theo thoả thuận của đương sự với luật sư trong phạm vi quy định của
tổ chức hành nghề luật sư và theo quy định của pháp luật.
3. Chi phí cho người phiên dịch, luật sư do
người có yêu cầu chịu, trừ trường hợp các bên đương sự có thoả thuận khác.
4. Trường hợp Tòa án yêu cầu người phiên dịch
thì chi phí cho người phiên dịch do Tòa án trả.
Điều 169. Quy định cụ thể về các chi phí tố
tụng
Căn cứ vào quy định của Bộ luật này, Ủy ban
Thường vụ Quốc hội quy định cụ thể về chi phí ủy thác tư pháp ra nước ngoài,
chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ, chi phí giám định, định giá tài sản; chi
phí cho người làm chứng, người phiên dịch; chi phí tố tụng khác do luật khác
quy định và việc miễn, giảm chi phí tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án.
CẤP, TỐNG ĐẠT, THÔNG BÁO VĂN BẢN TỐ TỤNG
Điều 170. Nghĩa vụ cấp, tống đạt, thông báo
văn bản tố tụng
Tòa án, Viện kiểm sát, cơ quan thi hành án
thực hiện việc cấp, tống đạt, thông báo văn bản tố tụng cho đương sự, những
người tham gia tố tụng khác và cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan theo quy
định của Bộ luật này và pháp luật có liên quan.
Điều 171. Các văn bản tố tụng phải được cấp,
tống đạt, thông báo
1. Thông báo, giấy báo, giấy triệu tập, giấy
mời trong tố tụng dân sự.
2. Bản án, quyết định của Tòa án.
3. Quyết định kháng nghị của Viện kiểm sát;
các văn bản của cơ quan thi hành án dân sự.
4. Các văn bản tố tụng khác mà pháp luật có
quy định.
Điều 172. Người thực hiện việc cấp, tống đạt,
thông báo văn bản tố tụng
Việc cấp, tống đạt, thông báo văn bản tố tụng
do những người sau đây thực hiện:
1. Người tiến hành tố tụng, người của cơ quan
ban hành văn bản tố tụng được giao nhiệm vụ thực hiện việc cấp, tống đạt, thông
báo văn bản tố tụng;
2. Ủy ban nhân dân cấp xã nơi người tham gia
tố tụng dân sự cư trú hoặc cơ quan, tổ chức nơi người tham gia tố tụng dân sự
làm việc khi Tòa án có yêu cầu;
3. Đương sự, người đại diện của đương sự hoặc
người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự trong những trường hợp do
Bộ luật này quy định;
4. Nhân viên tổ chức dịch vụ bưu chính;
5. Người có chức năng tống đạt;
6. Những người khác mà pháp luật có quy định.
Điều 173. Các phương thức cấp, tống đạt,
thông báo văn bản tố tụng
Việc cấp, tống đạt, thông báo văn bản tố tụng
được thực hiện bằng các phương thức sau đây:
1. Cấp, tống đạt, thông báo trực tiếp, qua
dịch vụ bưu chính hoặc người thứ ba được ủy quyền thực hiện việc cấp, tống đạt,
thông báo;
2. Cấp, tống đạt, thông báo bằng phương tiện
điện tử theo yêu cầu của đương sự hoặc người tham gia tố tụng khác phù hợp với
quy định của pháp luật về giao dịch điện tử;
3. Niêm yết công khai;
4. Thông báo trên các phương tiện thông tin
đại chúng;
5. Cấp, tống đạt, thông báo bằng phương thức
khác theo quy định tại Chương XXXVIII của Bộ luật này.
Điều 174. Tính hợp lệ của việc cấp, tống đạt,
thông báo văn bản tố tụng
1. Việc cấp, tống đạt, thông báo văn bản tố
tụng được thực hiện theo quy định của Bộ luật này thì được coi là hợp lệ.
2. Người có nghĩa vụ thực hiện việc cấp, tống
đạt, thông báo văn bản tố tụng phải thực hiện theo quy định của Bộ luật này.
Người có nghĩa vụ thi hành các văn bản tố
tụng đã được cấp, tống đạt, thông báo hợp lệ phải nghiêm chỉnh thi hành.
Điều 175. Thủ tục cấp, tống đạt, thông báo
văn bản tố tụng
1. Người thực hiện việc cấp, tống đạt, thông
báo văn bản tố tụng phải trực tiếp chuyển giao cho người được cấp, tống đạt,
thông báo văn bản tố tụng có liên quan. Người được cấp, tống đạt, thông báo
phải ký nhận vào biên bản hoặc sổ giao nhận văn bản tố tụng. Thời điểm để tính
thời hạn tố tụng là ngày họ được cấp, tống đạt, thông báo văn bản tố tụng.
2. Việc cấp, tống đạt, thông báo văn bản tố
tụng qua dịch vụ bưu chính phải bằng thư bảo đảm và có xác nhận của người nhận
văn bản tố tụng.
Văn bản có xác nhận phải được chuyển lại cho
Tòa án.
Thời điểm để tính thời hạn tố tụng là ngày họ
xác nhận đã nhận được văn bản tố tụng do tổ chức dịch vụ bưu chính chuyển đến.
Điều 176. Thủ tục cấp, tống đạt, thông báo
bằng phương tiện điện tử
Việc cấp, tống đạt, thông báo bằng phương
tiện điện tử được thực hiện theo quy định của pháp luật về giao dịch điện tử.
Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn thi hành
Điều này.
Điều 177. Thủ tục cấp, tống đạt, thông báo
trực tiếp cho cá nhân
1. Văn bản tố tụng được cấp, tống đạt, thông
báo đến địa chỉ mà các đương sự đã gửi cho Tòa án theo phương thức đương sự yêu
cầu hoặc tới địa chỉ mà các đương sự đã thỏa thuận và đề nghị Tòa án liên hệ
theo địa chỉ đó.
2. Người được cấp, tống đạt, thông báo là cá
nhân thì văn bản tố tụng phải được giao trực tiếp cho họ. Đương sự phải ký nhận
theo quy định tại khoản 1 Điều 175 của Bộ luật này.
3. Trường hợp người được cấp, tống đạt, thông
báo đã chuyển đến nơi cư trú mới và đã thông báo cho Tòa án việc thay đổi nơi
cư trú thì phải cấp, tống đạt, thông báo theo địa chỉ nơi cư trú mới của họ.
Đương sự phải ký nhận hoặc điểm chỉ theo quy định tại khoản 1
Điều 175 của Bộ luật này. Nếu họ không thông báo cho Tòa án biết về việc
thay đổi địa chỉ nơi cư trú và địa chỉ nơi c ư trú mới thì Tòa án thực hiện
theo quy định tại Điều 179 và Điều 180 của Bộ luật này.
4. Trường hợp người được cấp, tống đạt, thông
báo từ chối nhận văn bản tố tụng thì người thực hiện việc cấp, tống đạt, thông
báo phải lập biên bản trong đó nêu rõ lý do của việc từ chối, có xác nhận của
đại diện tổ dân phố Công an xã, phường, đặc khu[43]
về việc người đó từ chối nhận văn bản tố tụng. Biên bản phải được lưu trong hồ
sơ vụ án.
5. Trường hợp người được cấp, tống đạt, thông
báo vắng mặt thì người thực hiện việc cấp, tống đạt, thông báo phải lập biên
bản và giao cho người thân thích có đủ năng lực hành vi dân sự cùng nơi cư trú
với họ hoặc tổ trưởng tổ dân phố, trưởng thôn, làng, ấp, bản, buôn, phum, sóc
để thực hiện việc ký nhận hoặc điểm chỉ và yêu cầu người này cam kết giao lại
tận tay ngay cho người được cấp, tống đạt, thông báo. Biên bản phải được lưu
trong hồ sơ vụ án.
Trường hợp người được cấp, tống đạt, thông
báo vắng mặt ở nơi cư trú mà không rõ thời điểm trở về hoặc không rõ địa chỉ
nơi cư trú mới của họ thì người thực hiện việc cấp, tống đạt, thông báo phải
lập biên bản về việc không thực hiện được việc cấp, tống đạt, thông báo, có xác
nhận của đại diện tổ dân phố hoặc Công an xã, phường, đặc khu[44];
đồng thời, thực hiện thủ tục niêm yết công khai văn bản cần tống đạt theo quy
định tại Điều 179 của Bộ luật này. Biên bản phải được lưu
trong hồ sơ vụ án.
Điều 178. Thủ tục cấp, tống đạt, thông báo
trực tiếp cho cơ quan, tổ chức
1. Trường hợp người được cấp, tống đạt, thông
báo là cơ quan, tổ chức thì văn bản tố tụng phải được giao trực tiếp cho người
đại diện theo pháp luật hoặc người chịu trách nhiệm nhận văn bản của cơ quan,
tổ chức đó và phải được những người này ký nhận. Trường hợp cơ quan, tổ chức
được cấp, tống đạt, thông báo có người đại diện tham gia tố tụng hoặc cử người
đại diện nhận văn bản tố tụng thì những người này ký nhận văn bản tố tụng đó.
Ngày ký nhận là ngày được cấp, tống đạt, thông báo.
2. Trường hợp người được cấp, tống đạt, thông
báo từ chối nhận văn bản tố tụng hoặc vắng mặt thì thực hiện theo quy định tại khoản 4 và khoản 5 Điều 177 của Bộ luật này.
Điều 179. Thủ tục niêm yết công khai
1. Việc niêm yết công khai văn bản tố tụng
được thực hiện trong trường hợp không thể cấp, tống đạt, thông báo trực tiếp
văn bản tố tụng theo quy định tại Điều 177 và Điều 178 của Bộ
luật này.
2. Việc niêm yết công khai văn bản tố tụng do
Tòa án trực tiếp thực hiện hoặc ủy quyền cho người có chức năng tống đạt hoặc
Ủy ban nhân dân cấp xã nơi đương sự cư trú, nơi cơ quan, tổ chức có trụ sở thực
hiện theo thủ tục sau đây:
a) Niêm yết bản chính tại trụ sở Tòa án, Ủy
ban nhân dân cấp xã nơi cư trú hoặc nơi cư trú cuối cùng của cá nhân, nơi có
trụ sở hoặc trụ sở cuối cùng của cơ quan, tổ chức được cấp, tống đạt, thông
báo;
b) Niêm yết bản sao tại nơi cư trú hoặc nơi
cư trú cuối cùng của cá nhân, nơi có trụ sở hoặc trụ sở cuối cùng của cơ quan,
tổ chức được cấp, tống đạt, thông báo;
c) Lập biên bản về việc thực hiện thủ tục
niêm yết công khai, trong đó ghi rõ ngày, tháng, năm niêm yết.
3. Thời hạn niêm yết công khai văn bản tố
tụng là 15 ngày, kể từ ngày niêm yết.
Điều 180. Thủ tục thông báo trên phương tiện
thông tin đại chúng
1. Việc thông báo trên phương tiện thông tin
đại chúng được thực hiện khi pháp luật có quy định hoặc có căn cứ xác định là
việc niêm yết công khai không bảo đảm cho người được cấp, tống đạt, thông báo
nhận được thông tin về văn bản cần được cấp, tống đạt, thông báo.
2. Việc thông báo trên phương tiện thông tin
đại chúng có thể được thực hiện nếu có yêu cầu của các đương sự khác. Trong
trường hợp này, lệ phí thông báo trên phương tiện thông tin đại chúng do đương
sự có yêu cầu thông báo chịu.
3. Thông báo trên phương tiện thông tin đại
chúng phải được đăng trên Cổng thông tin điện tử của Tòa án, trên một trong các
báo hàng ngày của trung ương trong ba số liên tiếp và phát sóng trên Đài phát
thanh hoặc Đài truyền hình của trung ương ba lần trong 03 ngày liên tiếp.
Điều 181. Thông báo kết quả việc cấp, tống
đạt, thông báo văn bản tố tụng
Trường hợp người thực hiện việc cấp, tống
đạt, thông báo văn bản tố tụng không phải là Tòa án hoặc cơ quan ban hành văn
bản tố tụng hoặc cán bộ của các cơ quan đó thì người thực hiện phải thông báo
ngay kết quả việc cấp, tống đạt, thông báo văn bản tố tụng cho Tòa án hoặc cơ
quan ban hành văn bản tố tụng đó.
1. Thời hạn tố tụng là một khoảng thời gian
được xác định từ thời điểm này đến thời điểm khác để người tiến hành tố tụng,
người tham gia tố tụng hoặc cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan thực hiện
hành vi tố tụng do Bộ luật này quy định.
2. Thời hạn tố tụng có thể được xác định bằng
giờ, ngày, tuần, tháng, năm hoặc bằng một sự kiện có thể sẽ xảy ra.
Điều 183. Áp dụng quy định của Bộ luật Dân sự
về thời hạn
Cách tính thời hạn tố tụng, quy định về thời
hạn tố tụng, thời điểm bắt đầu, kết thúc thời hạn tố tụng trong Bộ luật này
được áp dụng theo các quy định tương ứng của Bộ luật Dân sự.
Điều 184. Thời hiệu khởi kiện, thời hiệu yêu
cầu giải quyết việc dân sự
1. Thời hiệu khởi kiện, thời hiệu yêu cầu
giải quyết việc dân sự được thực hiện theo quy định của Bộ luật Dân sự.
2. Tòa án chỉ áp dụng quy định về thời hiệu
theo yêu cầu áp dụng thời hiệu của một bên hoặc các bên với điều kiện yêu cầu
này phải được đưa ra trước khi Tòa án cấp sơ thẩm ra bản án, quyết định giải
quyết vụ việc.
Người được hưởng lợi từ việc áp dụng thời
hiệu có quyền từ chối áp dụng thời hiệu, trừ trường hợp việc từ chối đó nhằm
mục đích trốn tránh thực hiện nghĩa vụ.
Điều 185. Áp dụng quy định của Bộ luật Dân sự
về thời hiệu
Các quy định của Bộ luật Dân sự về thời hiệu
được áp dụng trong tố tụng dân sự.
THỦ TỤC GIẢI QUYẾT VỤ ÁN TẠI TÒA ÁN CẤP SƠ
THẨM
Điều 186. Quyền khởi kiện vụ án
Cơ quan, tổ chức, cá nhân có quyền tự mình
hoặc thông qua người đại diện hợp pháp khởi kiện vụ án (sau đây gọi chung là
người khởi kiện) tại Tòa án có thẩm quyền để yêu cầu bảo vệ quyền và lợi ích
hợp pháp của mình.
1. Cơ quan quản lý nhà nước về gia đình, cơ
quan quản lý nhà nước về trẻ em, Hội liên hiệp phụ nữ Việt Nam trong phạm vi
nhiệm vụ, quyền hạn của mình có quyền khởi kiện vụ án về hôn nhân và gia đình
theo quy định của Luật Hôn nhân và gia đình.
2. Tổ chức đại diện tập thể lao động có quyền
khởi kiện vụ án lao động trong trường hợp cần bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp
của tập thể người lao động hoặc khi được người lao động ủy quyền theo quy định
của pháp luật.
3. Tổ chức xã hội tham gia bảo vệ quyền lợi
người tiêu dùng có quyền đại diện cho người tiêu dùng khởi kiện bảo vệ quyền
lợi người tiêu dùng hoặc tự mình khởi kiện vì lợi ích công cộng theo quy định
của Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng.
4. Cơ quan, tổ chức trong phạm vi nhiệm vụ,
quyền hạn của mình có quyền khởi kiện vụ án dân sự để yêu cầu Tòa án bảo vệ lợi
ích công cộng, lợi ích của Nhà nước thuộc lĩnh vực mình phụ trách hoặc theo quy
định của pháp luật.
5. Cá nhân có quyền khởi kiện vụ án hôn nhân
và gia đình để bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của người khác theo quy định của
Luật Hôn nhân và gia đình.
1. Cơ quan, tổ chức, cá nhân có thể khởi kiện
một hoặc nhiều cơ quan, tổ chức, cá nhân khác về một quan hệ pháp luật hoặc
nhiều quan hệ pháp luật có liên quan với nhau để giải quyết trong cùng một vụ
án.
2. Nhiều cơ quan, tổ chức, cá nhân có thể
cùng khởi kiện một cơ quan, một tổ chức, một cá nhân khác về một quan hệ pháp
luật hoặc nhiều quan hệ pháp luật có liên quan với nhau để giải quyết trong
cùng một vụ án.
3. Cơ quan, tổ chức, cá nhân quy định tại Điều 187 của Bộ luật này có thể khởi kiện một hoặc nhiều cơ
quan, tổ chức, cá nhân khác về một quan hệ pháp luật hoặc nhiều quan hệ pháp
luật có liên quan với nhau để giải quyết trong cùng một vụ án.
Điều 189. Hình thức, nội dung đơn khởi kiện
1. Cơ quan, tổ chức, cá nhân khởi kiện phải
làm đơn khởi kiện.
2. Việc làm đơn khởi kiện của cá nhân được
thực hiện như sau:
a) Cá nhân có đầy đủ năng lực hành vi tố tụng
dân sự thì có thể tự mình hoặc nhờ người khác làm hộ đơn khởi kiện vụ án. Tại
mục tên, địa chỉ nơi cư trú của người khởi kiện trong đơn phải ghi họ tên, địa
chỉ nơi cư trú của cá nhân đó; ở phần cuối đơn, cá nhân đó phải ký tên hoặc
điểm chỉ;
b) Cá nhân là người chưa thành niên, người
mất năng lực hành vi dân sự, người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi
thì người đại diện hợp pháp của họ có thể tự mình hoặc nhờ người khác làm hộ
đơn khởi kiện vụ án. Tại mục tên, địa chỉ nơi cư trú của người khởi kiện trong
đơn phải ghi họ tên, địa chỉ nơi cư trú của người đại diện hợp pháp của cá nhân
đó; ở phần cuối đơn, người đại diện hợp pháp đó phải ký tên hoặc điểm chỉ;
c) Cá nhân thuộc trường hợp quy định tại điểm
a và điểm b khoản này là người không biết chữ, người khuyết tật nhìn, người
không thể tự mình làm đơn khởi kiện, người không thể tự mình ký tên hoặc điểm
chỉ thì có thể nhờ người khác làm hộ đơn khởi kiện và phải có người có đủ năng
lực tố tụng dân sự làm chứng. Người làm chứng phải ký xác nhận vào đơn khởi
kiện.
3. Cơ quan, tổ chức là người khởi kiện thì
người đại diện hợp pháp của cơ quan, tổ chức đó có thể tự mình hoặc nhờ người
khác làm hộ đơn khởi kiện vụ án. Tại mục tên, địa chỉ của người khởi kiện phải
ghi tên, địa chỉ của cơ quan, tổ chức và họ, tên, chức vụ của người đại diện
hợp pháp của cơ quan, tổ chức đó; ở phần cuối đơn, người đại diện hợp pháp của
cơ quan, tổ chức phải ký tên và đóng dấu của cơ quan, tổ chức đó; trường hợp tổ
chức khởi kiện là doanh nghiệp thì việc sử dụng con dấu theo quy định của Luật
Doanh nghiệp.
4. Đơn khởi kiện phải có các nội dung chính
sau đây:
a) Ngày, tháng, năm làm đơn khởi kiện;
b) Tên Tòa án nhận đơn khởi kiện;
c) Tên, nơi cư trú, làm việc của người khởi
kiện là cá nhân hoặc trụ sở của người khởi kiện là cơ quan, tổ chức; số điện
thoại, fax và địa chỉ thư điện tử (nếu có).
Trường hợp các bên thỏa thuận địa chỉ để Tòa
án liên hệ thì ghi rõ địa chỉ đó;
d) Tên, nơi cư trú, làm việc của người có
quyền và lợi ích được bảo vệ là cá nhân hoặc trụ sở của người có quyền và lợi
ích được bảo vệ là cơ quan, tổ chức; số điện thoại, fax và địa chỉ thư điện tử
(nếu có);
đ) Tên, nơi cư trú, làm việc của người bị
kiện là cá nhân hoặc trụ sở của người bị kiện là cơ quan, tổ chức; số điện
thoại, fax và địa chỉ thư điện tử (nếu có). Trường hợp không rõ nơi cư trú, làm
việc hoặc trụ sở của người bị kiện thì ghi rõ địa chỉ nơi cư trú, làm việc hoặc
nơi có trụ sở cuối cùng của người bị kiện;
e) Tên, nơi cư trú, làm việc của người có
quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là cá nhân hoặc trụ sở của người có quyền lợi,
nghĩa vụ liên quan là cơ quan, tổ chức; số điện thoại, fax và địa chỉ thư điện
tử (nếu có).
Trường hợp không rõ nơi cư trú, làm việc hoặc
trụ sở của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan thì ghi rõ địa chỉ nơi cư
trú, làm việc hoặc nơi có trụ sở cuối cùng của người có quyền lợi, nghĩa vụ
liên quan;
g) Quyền, lợi ích hợp pháp của người khởi
kiện bị xâm phạm; những vấn đề cụ thể yêu cầu Tòa án giải quyết đối với người
bị kiện, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan;
h) Họ, tên, địa chỉ của người làm chứng (nếu
có);
i) Danh mục tài liệu, chứng cứ kèm theo đơn
khởi kiện.
5. Kèm theo đơn khởi kiện phải có tài liệu,
chứng cứ chứng minh quyền, lợi ích hợp pháp của người khởi kiện bị xâm phạm.
Trường hợp vì lý do khách quan mà người khởi kiện không thể nộp đầy đủ tài
liệu, chứng cứ kèm theo đơn khởi kiện thì họ phải nộp tài liệu, chứng cứ hiện
có để chứng minh quyền, lợi ích hợp pháp của người khởi kiện bị xâm phạm. Người
khởi kiện bổ sung hoặc giao nộp bổ sung tài liệu, chứng cứ khác theo yêu cầu
của Tòa án trong quá trình giải quyết vụ án.
Điều 190. Gửi đơn khởi kiện đến Tòa án
1. Người khởi kiện gửi đơn khởi kiện kèm theo
tài liệu, chứng cứ mà mình hiện có đến Tòa án có thẩm quyền giải quyết vụ án
bằng các phương thức sau đây:
a) Nộp trực tiếp tại Tòa án;
b) Gửi đến Tòa án theo đường dịch vụ bưu
chính;
c) Gửi trực tuyến bằng hình thức điện tử qua
Cổng thông tin điện tử của Tòa án (nếu có).
2. Ngày khởi kiện là ngày đương sự nộp đơn
khởi kiện tại Tòa án hoặc ngày được ghi trên dấu của tổ chức dịch vụ bưu chính
nơi gửi.
Trường hợp không xác định được ngày, tháng,
năm theo dấu bưu chính nơi gửi thì ngày khởi kiện là ngày đương sự gửi đơn tại
tổ chức dịch vụ bưu chính. Đương sự phải chứng minh ngày mình gửi đơn tại tổ
chức dịch vụ bưu chính; trường hợp đương sự không chứng minh được thì ngày khởi
kiện là ngày Tòa án nhận được đơn khởi kiện do tổ chức dịch vụ bưu chính chuyển
đến.
3. Trường hợp người khởi kiện gửi đơn khởi
kiện bằng phương thức gửi trực tuyến thì ngày khởi kiện là ngày gửi đơn.
4. Trường hợp chuyển vụ án cho Tòa án khác
theo quy định tại Điều 41 của Bộ luật này thì ngày khởi
kiện là ngày gửi đơn khởi kiện đến Tòa án đã thụ lý nhưng không đúng thẩm quyền
và được xác định theo quy định tại khoản 2 và khoản 3 Điều này.
5. Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn thi hành
Điều này.
Điều 191. Thủ tục nhận và xử lý đơn khởi kiện
1. Tòa án qua bộ phận tiếp nhận đơn phải nhận
đơn khởi kiện do người khởi kiện nộp trực tiếp tại Tòa án hoặc gửi qua dịch vụ
bưu chính và phải ghi vào sổ nhận đơn; trường hợp Tòa án nhận đơn khởi kiện
được gửi bằng phương thức gửi trực tuyến thì Tòa án in ra bản giấy và phải ghi
vào sổ nhận đơn.
Khi nhận đơn khởi kiện nộp trực tiếp, Tòa án
có trách nhiệm cấp ngay giấy xác nhận đã nhận đơn cho người khởi kiện. Đối với
trường hợp nhận đơn qua dịch vụ bưu chính thì trong thời hạn 02 ngày làm việc,
kể từ ngày nhận đơn, Tòa án phải gửi thông báo nhận đơn cho người khởi kiện.
Trường hợp nhận đơn khởi kiện bằng phương thức gửi trực tuyến thì Tòa án phải
thông báo ngay việc nhận đơn cho người khởi kiện qua Cổng thông tin điện tử của
Tòa án (nếu có).
2. Trong thời hạn 03 ngày làm việc, kể từ
ngày nhận được đơn khởi kiện, Chánh án Tòa án phân công một Thẩm phán xem xét
đơn khởi kiện.
3. Trong thời hạn 05 ngày làm việc, kể từ
ngày được phân công, Thẩm phán phải xem xét đơn khởi kiện và có một trong các
quyết định sau đây:
a) Yêu cầu sửa đổi, bổ sung đơn khởi kiện;
b)[45] Tiến hành thủ tục thụ
lý vụ án theo thủ tục thông thường hoặc theo thủ tục rút gọn nếu vụ án có đủ
điều kiện để giải quyết theo thủ tục rút gọn quy định tại khoản
1 hoặc khoản 5 Điều 317 của Bộ luật này;
c) Chuyển đơn khởi kiện cho Tòa án có thẩm
quyền và thông báo cho người khởi kiện nếu vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết
của Tòa án khác;
d) Trả lại đơn khởi kiện cho người khởi kiện
nếu vụ việc đó không thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án.
4. Kết quả xử lý đơn của Thẩm phán quy định
tại khoản 3 Điều này phải được ghi chú vào sổ nhận đơn và thông báo cho người
khởi kiện qua Cổng thông tin điện tử của Tòa án (nếu có).
Điều 192. Trả lại đơn khởi kiện, hậu quả của
việc trả lại đơn khởi kiện
1. Thẩm phán trả lại đơn khởi kiện trong các
trường hợp sau đây:
a) Người khởi kiện không có quyền khởi kiện
theo quy định tại Điều 186 và Điều 187 của Bộ luật này hoặc
không có đủ năng lực hành vi tố tụng dân sự;
b) Chưa có đủ điều kiện khởi kiện theo quy
định của pháp luật.
Chưa có đủ điều kiện khởi kiện là trường hợp
pháp luật có quy định về các điều kiện khởi kiện nhưng người khởi kiện đã khởi
kiện đến Tòa án khi còn thiếu một trong các điều kiện đó;
c) Sự việc đã được giải quyết bằng bản án,
quyết định đã có hiệu lực pháp luật của Tòa án hoặc quyết định đã có hiệu lực
của cơ quan nhà nước có thẩm quyền, trừ trường hợp vụ án mà Tòa án bác đơn yêu
cầu ly hôn, yêu cầu thay đổi nuôi con, thay đổi mức cấp dưỡng, mức bồi thường
thiệt hại, yêu cầu thay đổi người quản lý tài sản, thay đổi người quản lý di
sản, thay đổi người giám hộ hoặc vụ án đòi tài sản, đòi tài sản cho thuê, cho
mượn, đòi nhà, đòi quyền sử dụng đất cho thuê, cho mượn, cho ở nhờ mà Tòa án chưa
chấp nhận yêu cầu và theo quy định của pháp luật được quyền khởi kiện lại;
d) Hết thời hạn quy định tại khoản
2 Điều 195 của Bộ luật này mà người khởi kiện không nộp biên lai thu tiền
tạm ứng án phí cho Tòa án, trừ trường hợp người khởi kiện được miễn hoặc không
phải nộp tiền tạm ứng án phí hoặc có trở ngại khách quan, sự kiện bất khả
kháng;
đ) Vụ án không thuộc thẩm quyền giải quyết
của Tòa án;
e) Người khởi kiện không sửa đổi, bổ sung đơn
khởi kiện theo yêu cầu của Thẩm phán quy định tại khoản 2 Điều
193 của Bộ luật này.
Trường hợp trong đơn khởi kiện, người khởi
kiện đã ghi đầy đủ và đúng địa chỉ nơi cư trú của người bị kiện, người có quyền
lợi, nghĩa vụ liên quan nhưng họ không có nơi cư trú ổn định, thường xuyên thay
đổi nơi cư trú, trụ sở mà không thông báo địa chỉ mới cho cơ quan, người có
thẩm quyền theo quy định của pháp luật về cư trú làm cho người khởi kiện không
biết được nhằm mục đích che giấu địa chỉ, trốn tránh nghĩa vụ đối với người
khởi kiện thì Thẩm phán không trả lại đơn khởi kiện mà xác định người bị kiện,
người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan cố tình giấu địa chỉ và tiến hành thụ
lý, giải quyết theo thủ tục chung.
Trường hợp trong đơn khởi kiện, người khởi
kiện không ghi đầy đủ, cụ thể hoặc ghi không đúng tên, địa chỉ của người bị
kiện, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan mà không sửa chữa, bổ sung theo
yêu cầu của Thẩm phán thì Thẩm phán trả lại đơn khởi kiện;
g) Người khởi kiện rút đơn khởi kiện.
2. Khi trả lại đơn khởi kiện và tài liệu,
chứng cứ kèm theo cho người khởi kiện, Thẩm phán phải có văn bản nêu rõ lý do
trả lại đơn khởi kiện, đồng thời gửi cho Viện kiểm sát cùng cấp. Đơn khởi kiện
và tài liệu, chứng cứ mà Thẩm phán trả lại cho người khởi kiện phải được sao
chụp và lưu tại Tòa án để làm cơ sở giải quyết khiếu nại, kiến nghị khi có yêu
cầu.
3. Đương sự có quyền nộp đơn khởi kiện lại
trong các trường hợp sau đây:
a) Người khởi kiện đã có đủ năng lực hành vi
tố tụng dân sự;
b) Yêu cầu ly hôn, yêu cầu thay đổi nuôi con,
thay đổi mức cấp dưỡng, mức bồi thường thiệt hại, yêu cầu thay đổi người quản
lý tài sản, thay đổi người quản lý di sản, thay đổi người giám hộ hoặc vụ án
đòi tài sản, đòi tài sản cho thuê, cho mượn, đòi nhà, đòi quyền sử dụng đất cho
thuê, cho mượn, cho ở nhờ mà trước đó Tòa án chưa chấp nhận yêu cầu mà theo quy
định của pháp luật được quyền khởi kiện lại;
c) Đã có đủ điều kiện khởi kiện;
d) Các trường hợp khác theo quy định của pháp
luật.
4. Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn thi hành
khoản 1 và khoản 3 Điều này.
Điều 193. Yêu cầu sửa đổi, bổ sung đơn khởi
kiện
1. Trường hợp đơn khởi kiện không có đủ các
nội dung quy định tại khoản 4 Điều 189 của Bộ luật này thì
Thẩm phán thông báo bằng văn bản nêu rõ những vấn đề cần sửa đổi, bổ sung cho
người khởi kiện để họ sửa đổi, bổ sung trong thời hạn do Thẩm phán ấn định
nhưng không quá 01 tháng; trường hợp đặc biệt, Thẩm phán có thể gia hạn nhưng
không quá 15 ngày. Văn bản thông báo có thể được giao trực tiếp, gửi trực tuyến
hoặc gửi cho người khởi kiện qua dịch vụ bưu chính và phải ghi chú vào sổ nhận
đơn để theo dõi. Thời hạn thực hiện việc sửa đổi, bổ sung đơn khởi kiện không
tính vào thời hiệu khởi kiện.
2. Trường hợp người khởi kiện đã sửa đổi, bổ
sung đơn khởi kiện theo đúng quy định tại khoản 4 Điều 189 của
Bộ luật này thì Thẩm phán tiếp tục việc thụ lý vụ án; nếu họ không sửa đổi,
bổ sung theo yêu cầu thì Thẩm phán trả lại đơn khởi kiện và tài liệu, chứng cứ
kèm theo cho người khởi kiện.
Điều 194. Khiếu nại, kiến nghị và giải quyết
khiếu nại, kiến nghị về việc trả lại đơn khởi kiện
1. Trong thời hạn 10 ngày, kể từ ngày nhận
được văn bản trả lại đơn khởi kiện, người khởi kiện có quyền khiếu nại, Viện
kiểm sát có quyền kiến nghị với Tòa án đã trả lại đơn khởi kiện.
2. Ngay sau khi nhận được khiếu nại, kiến
nghị về việc trả lại đơn khởi kiện, Chánh án Tòa án phải phân công một Thẩm
phán khác xem xét, giải quyết khiếu nại, kiến nghị.
3. Trong thời hạn 05 ngày làm việc, kể từ
ngày được phân công, Thẩm phán phải mở phiên họp xem xét, giải quyết khiếu nại,
kiến nghị. Phiên họp xem xét, giải quyết khiếu nại, kiến nghị có sự tham gia
của đại diện Viện kiểm sát cùng cấp và đương sự có khiếu nại; trường hợp đương
sự vắng mặt thì Thẩm phán vẫn tiến hành phiên họp.
4. Căn cứ vào tài liệu, chứng cứ có liên quan
đến việc trả lại đơn khởi kiện, ý kiến của đại diện Viện kiểm sát và đương sự
có khiếu nại tại phiên họp, Thẩm phán phải ra một trong các quyết định sau đây:
a) Giữ nguyên việc trả lại đơn khởi kiện và
thông báo cho đương sự, Viện kiểm sát cùng cấp;
b) Nhận lại đơn khởi kiện và tài liệu, chứng
cứ kèm theo để tiến hành việc thụ lý vụ án.
5. Trong thời hạn 10 ngày, kể từ ngày nhận
được quyết định trả lời khiếu nại, kiến nghị về việc trả lại đơn khởi kiện của
Thẩm phán, người khởi kiện có quyền khiếu nại, Viện kiểm sát có quyền kiến nghị
với Chánh án Tòa án trên một cấp trực tiếp xem xét, giải quyết.
6.[46] Trong thời hạn 10
ngày, kể từ ngày nhận được khiếu nại, kiến nghị về việc trả lại đơn khởi kiện,
Chánh án Tòa án trên một cấp trực tiếp phải ra một trong các quyết định sau
đây:
a) Giữ nguyên việc trả lại đơn khởi kiện;
b) Yêu cầu Tòa án cấp sơ thẩm nhận lại đơn
khởi kiện và tài liệu, chứng cứ kèm theo để tiến hành việc thụ lý vụ án.
Quyết định giải quyết khiếu nại, kiến nghị
của Chánh án Tòa án trên một cấp trực tiếp có hiệu lực thi hành và được gửi
ngay cho người khởi kiện, Viện kiểm sát cùng cấp, Viện kiểm sát đã kiến nghị và
Tòa án đã ra quyết định trả lại đơn khởi kiện. Quyết định giải quyết khiếu nại,
kiến nghị của Chánh án Tòa án trên một cấp trực tiếp là quyết định cuối cùng.
7.[47] (được bãi bỏ)
1. Sau khi nhận đơn khởi kiện và tài liệu,
chứng cứ kèm theo, nếu xét thấy vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án
thì Thẩm phán phải thông báo ngay cho người khởi kiện biết để họ đến Tòa án làm
thủ tục nộp tiền tạm ứng án phí trong trường hợp họ phải nộp tiền tạm ứng án
phí.
2. Thẩm phán dự tính số tiền tạm ứng án phí,
ghi vào giấy báo và giao cho người khởi kiện để họ nộp tiền tạm ứng án phí.
Trong thời hạn 07 ngày, kể từ ngày nhận được giấy báo của Tòa án về việc nộp
tiền tạm ứng án phí, người khởi kiện phải nộp tiền tạm ứng án phí và nộp cho
Tòa án biên lai thu tiền tạm ứng án phí.
3. Thẩm phán thụ lý vụ án khi người khởi kiện
nộp cho Tòa án biên lai thu tiền tạm ứng án phí.
4. Trường hợp người khởi kiện được miễn hoặc
không phải nộp tiền tạm ứng án phí thì Thẩm phán phải thụ lý vụ án khi nhận
được đơn khởi kiện và tài liệu, chứng cứ kèm theo.
Điều 196. Thông báo về việc thụ lý vụ án
1. Trong thời hạn 03 ngày làm việc, kể từ
ngày thụ lý vụ án, Thẩm phán phải thông báo bằng văn bản cho nguyên đơn, bị
đơn, cơ quan, tổ chức, cá nhân có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến việc giải
quyết vụ án, cho Viện kiểm sát cùng cấp về việc Tòa án đã thụ lý vụ án.
Đối với vụ án do người tiêu dùng khởi kiện
thì Tòa án phải niêm yết công khai tại trụ sở Tòa án thông tin về việc thụ lý
vụ án trong thời hạn 03 ngày làm việc, kể từ ngày thụ lý vụ án.
2. Văn bản thông báo phải có các nội dung
chính sau đây:
a) Ngày, tháng, năm làm văn bản thông báo;
b) Tên, địa chỉ Tòa án đã thụ lý vụ án;
c) Tên, địa chỉ; số điện thoại, fax, địa chỉ
thư điện tử (nếu có) của người khởi kiện;
d) Những vấn đề cụ thể người khởi kiện yêu
cầu Tòa án giải quyết;
đ) Vụ án được thụ lý theo thủ tục thông
thường hay thủ tục rút gọn;
e) Danh mục tài liệu, chứng cứ người khởi
kiện nộp kèm theo đơn khởi kiện;
g) Thời hạn bị đơn, người có quyền lợi, nghĩa
vụ liên quan phải có ý kiến bằng văn bản nộp cho Tòa án đối với yêu cầu của
người khởi kiện và tài liệu, chứng cứ kèm theo, yêu cầu phản tố, yêu cầu độc
lập (nếu có);
h) Hậu quả pháp lý của việc bị đơn, người có
quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không nộp cho Tòa án văn bản về ý kiến của mình
đối với yêu cầu khởi kiện.
3. Trường hợp nguyên đơn có đơn yêu cầu Tòa
án hỗ trợ trong việc gửi tài liệu, chứng cứ thì kèm theo thông báo về việc thụ
lý vụ án, Tòa án gửi cho bị đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bản sao
tài liệu, chứng cứ do nguyên đơn cung cấp.
Điều 197. Phân công Thẩm phán giải quyết vụ
án
1. Trên cơ sở báo cáo thụ lý vụ án của Thẩm
phán được phân công thụ lý vụ án, Chánh án Tòa án quyết định phân công Thẩm
phán giải quyết vụ án bảo đảm nguyên tắc vô tư, khách quan, ngẫu nhiên.
2. Trong thời hạn 03 ngày làm việc, kể từ
ngày thụ lý vụ án, Chánh án Tòa án quyết định phân công Thẩm phán giải quyết vụ
án.
Đối với vụ án phức tạp, việc giải quyết có
thể phải kéo dài thì Chánh án Tòa án phân công Thẩm phán dự khuyết để bảo đảm
xét xử đúng thời hạn theo quy định của Bộ luật này.
3. Trong quá trình giải quyết vụ án, nếu Thẩm
phán được phân công không thể tiếp tục tiến hành được nhiệm vụ thì Chánh án Tòa
án phân công Thẩm phán khác tiếp tục nhiệm vụ; trường hợp đang xét xử mà không
có Thẩm phán dự khuyết thì vụ án phải được xét xử lại từ đầu và Tòa án phải
thông báo cho đương sự, Viện kiểm sát cùng cấp.
Điều 198. Nhiệm vụ, quyền hạn của Thẩm phán
khi lập hồ sơ vụ án
1. Lập hồ sơ vụ án theo quy định tại Điều 204 của Bộ luật này.
2. Yêu cầu đương sự giao nộp tài liệu, chứng
cứ cho Tòa án.
3. Tiến hành xác minh, thu thập chứng cứ theo
quy định tại khoản 2 và khoản 3 Điều 97 của Bộ luật này.
Điều 199. Quyền, nghĩa vụ của bị đơn, người
có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan khi nhận được thông báo
1. Trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận
được thông báo, bị đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan phải nộp cho Tòa
án văn bản ghi ý kiến của mình đối với yêu cầu của nguyên đơn và tài liệu,
chứng cứ kèm theo, yêu cầu phản tố, yêu cầu độc lập (nếu có).
Trường hợp cần gia hạn thì bị đơn, người có
quyền lợi, nghĩa vụ liên quan phải có đơn đề nghị gia hạn gửi cho Tòa án nêu rõ
lý do; nếu việc đề nghị gia hạn là có căn cứ thì Tòa án phải gia hạn nhưng
không quá 15 ngày.
2. Bị đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên
quan có quyền yêu cầu Tòa án cho xem, ghi chép, sao chụp đơn khởi kiện và tài
liệu, chứng cứ kèm theo đơn khởi kiện, trừ tài liệu, chứng cứ quy định tại khoản 2 Điều 109 của Bộ luật này.
Điều 200. Quyền yêu cầu phản tố của bị đơn
1. Cùng với việc phải nộp cho Tòa án văn bản
ghi ý kiến của mình đối với yêu cầu của nguyên đơn, bị đơn có quyền yêu cầu
phản tố đối với nguyên đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có yêu cầu
độc lập.
2. Yêu cầu phản tố của bị đơn đối với nguyên
đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có yêu cầu độc lập được chấp nhận
khi thuộc một trong các trường hợp sau đây:
a) Yêu cầu phản tố để bù trừ nghĩa vụ với yêu
cầu của nguyên đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có yêu cầu độc lập;
b) Yêu cầu phản tố được chấp nhận dẫn đến
loại trừ việc chấp nhận một phần hoặc toàn bộ yêu cầu của nguyên đơn, người có
quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có yêu cầu độc lập;
c) Giữa yêu cầu phản tố và yêu cầu của nguyên
đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có yêu cầu độc lập có sự liên quan
với nhau và nếu được giải quyết trong cùng một vụ án thì làm cho việc giải
quyết vụ án được chính xác và nhanh hơn.
3. Bị đơn có quyền đưa ra yêu cầu phản tố
trước thời điểm mở phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng
cứ và hòa giải.
Điều 201. Quyền yêu cầu độc lập của người có
quyền lợi, nghĩa vụ liên quan
1. Trường hợp người có quyền lợi, nghĩa vụ
liên quan không tham gia tố tụng với bên nguyên đơn hoặc với bên bị đơn thì họ
có quyền yêu cầu độc lập khi có các điều kiện sau đây:
a) Việc giải quyết vụ án có liên quan đến
quyền lợi, nghĩa vụ của họ;
b) Yêu cầu độc lập của họ có liên quan đến vụ
án đang được giải quyết;
c) Yêu cầu độc lập của họ được giải quyết
trong cùng một vụ án làm cho việc giải quyết vụ án được chính xác và nhanh hơn.
2. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có
quyền đưa ra yêu cầu độc lập trước thời điểm mở phiên họp kiểm tra việc giao
nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải.
Điều 202. Thủ tục yêu cầu phản tố hoặc yêu
cầu độc lập
Thủ tục yêu cầu phản tố hoặc yêu cầu độc lập
được thực hiện theo quy định của Bộ luật này về thủ tục khởi kiện của nguyên
đơn.
THỦ TỤC HÒA GIẢI VÀ CHUẨN BỊ XÉT XỬ
Điều 203. Thời hạn chuẩn bị xét xử
1. Thời hạn chuẩn bị xét xử các loại vụ án,
trừ các vụ án được xét xử theo thủ tục rút gọn hoặc vụ án có yếu tố nước ngoài,
được quy định như sau:
a) Đối với các vụ án quy định tại Điều 26 và Điều 28 của Bộ luật này thì thời hạn là 04 tháng,
kể từ ngày thụ lý vụ án;
b) Đối với các vụ án quy định tại Điều 30 và Điều 32 của Bộ luật này thì thời hạn là 02 tháng,
kể từ ngày thụ lý vụ án.
Đối với vụ án có tính chất phức tạp hoặc do
sự kiện bất khả kháng, trở ngại khách quan thì Chánh án Tòa án có thể quyết
định gia hạn thời hạn chuẩn bị xét xử nhưng không quá 02 tháng đối với vụ án
thuộc trường hợp quy định tại điểm a khoản này và không quá 01 tháng đối với vụ
án thuộc trường hợp quy định tại điểm b khoản này.
Trường hợp có quyết định tạm đình chỉ việc
giải quyết vụ án thì thời hạn chuẩn bị xét xử được tính lại kể từ ngày quyết
định tiếp tục giải quyết vụ án của Tòa án có hiệu lực pháp luật.
2. Trong giai đoạn chuẩn bị xét xử, Thẩm phán
thực hiện các nhiệm vụ, quyền hạn sau đây:
a) Lập hồ sơ vụ án theo quy định tại Điều 198 của Bộ luật này;
b) Xác định tư cách đương sự, người tham gia
tố tụng khác;
c) Xác định quan hệ tranh chấp giữa các đương
sự và pháp luật cần áp dụng;
d) Làm rõ những tình tiết khách quan của vụ
án;
đ) Xác minh, thu thập chứng cứ theo quy định
của Bộ luật này;
e) Áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời;
g) Tổ chức phiên họp kiểm tra việc giao nộp,
tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải theo quy định của Bộ luật này, trừ
trường hợp vụ án được giải quyết theo thủ tục rút gọn;
h) Thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn khác theo
quy định của Bộ luật này.
3. Trong thời hạn chuẩn bị xét xử quy định
tại khoản 1 Điều này, tuỳ từng trường hợp, Thẩm phán ra một trong các quyết
định sau đây:
a) Công nhận sự thoả thuận của các đương sự;
b) Tạm đình chỉ giải quyết vụ án dân sự;
c) Đình chỉ giải quyết vụ án dân sự;
d) Đưa vụ án ra xét xử.
4. Trong thời hạn 01 tháng, kể từ ngày có
quyết định đưa vụ án ra xét xử, Tòa án phải mở phiên tòa; trường hợp có lý do
chính đáng thì thời hạn này là 02 tháng.
Điều 204. Lập hồ sơ vụ án dân sự
1. Hồ sơ vụ án dân sự bao gồm đơn và toàn bộ
tài liệu, chứng cứ của đương sự, người tham gia tố tụng khác; tài liệu, chứng
cứ do Tòa án thu thập liên quan đến vụ án; văn bản tố tụng của Tòa án, Viện
kiểm sát về việc giải quyết vụ án dân sự.
2. Các giấy tờ, tài liệu trong hồ sơ vụ án
dân sự phải được đánh số bút lục, sắp xếp theo thứ tự ngày, tháng, năm. Giấy
tờ, tài liệu có trước thì để ở dưới, giấy tờ, tài liệu có sau thì để ở trên và
phải được quản lý, lưu giữ, sử dụng theo quy định của pháp luật.
Điều 205. Nguyên tắc tiến hành hòa giải
1. Trong thời hạn chuẩn bị xét xử sơ thẩm vụ
án, Tòa án tiến hành hòa giải để các đương sự thoả thuận với nhau về việc giải
quyết vụ án, trừ những vụ án không được hòa giải hoặc không tiến hành hòa giải
được quy định tại Điều 206 và Điều 207 của Bộ luật này
hoặc vụ án được giải quyết theo thủ tục rút gọn.
2. Việc hòa giải được tiến hành theo các
nguyên tắc sau đây:
a) Tôn trọng sự tự nguyện thoả thuận của các
đương sự, không được dùng vũ lực hoặc đe dọa dùng vũ lực, bắt buộc các đương sự
phải thoả thuận không phù hợp với ý chí của mình;
b) Nội dung thoả thuận giữa các đương sự
không vi phạm điều cấm của luật, không trái đạo đức xã hội.
Điều 206. Những vụ án dân sự không được hòa
giải
1. Yêu cầu đòi bồi thường vì lý do gây thiệt
hại đến tài sản của Nhà nước.
2. Những vụ án phát sinh từ giao dịch dân sự
vi phạm điều cấm của luật hoặc trái đạo đức xã hội.
Điều 207. Những vụ án dân sự không tiến hành
hòa giải được
1. Bị đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên
quan đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai mà vẫn cố tình vắng mặt.
2. Đương sự không thể tham gia hòa giải được
vì có lý do chính đáng.
3. Đương sự là vợ hoặc chồng trong vụ án ly
hôn là người mất năng lực hành vi dân sự.
4. Một trong các đương sự đề nghị không tiến
hành hòa giải.
Điều 208. Thông báo về phiên họp kiểm tra
việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải
1. Thẩm phán tiến hành mở phiên họp kiểm tra
việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải giữa các đương sự.
Trước khi tiến hành phiên họp, Thẩm phán phải thông báo cho đương sự, người đại
diện hợp pháp của đương sự, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự
về thời gian, địa điểm tiến hành phiên họp và nội dung của phiên họp.
2. Trường hợp vụ án dân sự không được hòa
giải hoặc không tiến hành hòa giải được quy định tại Điều 206
và Điều 207 của Bộ luật này thì Thẩm phán tiến hành phiên họp kiểm tra việc
giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ mà không tiến hành hòa giải.
3. Đối với vụ án hôn nhân và gia đình liên
quan đến người chưa thành niên, trước khi mở phiên họp kiểm tra việc giao nộp,
tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải giữa các đương sự thì Thẩm phán, Thẩm
tra viên Tòa án[48] được Chánh án Tòa án
phân công phải thu thập tài liệu, chứng cứ để xác định nguyên nhân của việc
phát sinh tranh chấp. Khi xét thấy cần thiết, Thẩm phán có thể tham khảo ý kiến
của cơ quan quản lý nhà nước về gia đình, cơ quan quản lý nhà nước về trẻ em về
hoàn cảnh gia đình, nguyên nhân phát sinh tranh chấp và nguyện vọng của vợ,
chồng, con có liên quan đến vụ án.
Đối với vụ án tranh chấp về nuôi con khi ly
hôn hoặc thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn, Thẩm phán phải lấy ý
kiến của con chưa thành niên từ đủ bảy tuổi trở lên, trường hợp cần thiết có
thể mời đại diện cơ quan quản lý nhà nước về gia đình, cơ quan quản lý nhà nước
về trẻ em chứng kiến, tham gia ý kiến. Việc lấy ý kiến của con chưa thành niên
và các thủ tục tố tụng khác đối với người chưa thành niên phải bảo đảm thân
thiện, phù hợp với tâm lý, lứa tuổi, mức độ trưởng thành, khả năng nhận thức
của người chưa thành niên, bảo đảm quyền, lợi ích hợp pháp, giữ bí mật cá nhân
của người chưa thành niên.
Điều 209. Thành phần phiên họp kiểm tra việc
giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải
1. Thành phần tham gia phiên họp gồm có:
a) Thẩm phán chủ trì phiên họp;
b) Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên họp;
c) Các đương sự hoặc người đại diện hợp pháp
của các đương sự;
d) Đại diện tổ chức đại diện tập thể lao động
đối với vụ án lao động khi có yêu cầu của người lao động, trừ vụ án lao động đã
có tổ chức đại diện tập thể lao động là người đại diện, người bảo vệ quyền và
lợi ích hợp pháp cho tập thể người lao động, người lao động. Trường hợp đại
diện tổ chức đại diện tập thể lao động không tham gia hòa giải thì phải có ý
kiến bằng văn bản;
đ) Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của
đương sự (nếu có);
e) Người phiên dịch (nếu có).
2. Trường hợp cần thiết, Thẩm phán yêu cầu cá
nhân, cơ quan, tổ chức có liên quan tham gia phiên họp; đối với vụ án về hôn
nhân và gia đình, Thẩm phán yêu cầu đại diện cơ quan quản lý nhà nước về gia
đình, cơ quan quản lý nhà nước về trẻ em, Hội liên hiệp phụ nữ Việt Nam tham
gia phiên họp; nếu họ vắng mặt thì Tòa án vẫn tiến hành phiên họp.
3. Trong vụ án có nhiều đương sự mà có đương
sự vắng mặt, nhưng các đương sự có mặt vẫn đồng ý tiến hành phiên họp và việc
tiến hành phiên họp đó không ảnh hưởng đến quyền, nghĩa vụ của đương sự vắng
mặt thì Thẩm phán tiến hành phiên họp giữa các đương sự có mặt; nếu các đương
sự đề nghị hoãn phiên hòa giải để có mặt tất cả các đương sự trong vụ án thì
Thẩm phán phải hoãn phiên họp. Thẩm phán phải thông báo việc hoãn phiên họp và
việc mở lại phiên họp cho đương sự.
Điều 210. Trình tự phiên họp kiểm tra việc
giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải
1. Trước khi tiến hành phiên họp, Thư ký Tòa
án báo cáo Thẩm phán về sự có mặt, vắng mặt của những người tham gia phiên họp
đã được Tòa án thông báo. Thẩm phán chủ trì phiên họp kiểm tra lại sự có mặt và
căn cước của những người tham gia, phổ biến cho các đương sự về quyền và nghĩa
vụ của họ theo quy định của Bộ luật này.
2. Khi kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công
khai chứng cứ, Thẩm phán công bố tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, hỏi
đương sự về những vấn đề sau đây:
a) Yêu cầu và phạm vi khởi kiện, việc sửa
đổi, bổ sung, thay đổi, rút yêu cầu khởi kiện, yêu cầu phản tố, yêu cầu độc
lập; những vấn đề đã thống nhất, những vấn đề chưa thống nhất yêu cầu Tòa án
giải quyết;
b) Tài liệu, chứng cứ đã giao nộp cho Tòa án
và việc gửi tài liệu, chứng cứ cho đương sự khác;
c) Bổ sung tài liệu, chứng cứ; yêu cầu Tòa án
thu thập tài liệu, chứng cứ; yêu cầu Tòa án triệu tập đương sự khác, người làm
chứng và người tham gia tố tụng khác tại phiên tòa;
d) Những vấn đề khác mà đương sự thấy cần
thiết.
3. Sau khi các đương sự đã trình bày xong,
Thẩm phán xem xét các ý kiến, giải quyết các yêu cầu của đương sự quy định tại
khoản 2 Điều này. Trường hợp người được Tòa án triệu tập vắng mặt thì Tòa án
thông báo kết quả phiên họp cho họ.
4. Thủ tục tiến hành hòa giải được thực hiện
như sau:
a) Thẩm phán phổ biến cho các đương sự về các
quy định của pháp luật có liên quan đến việc giải quyết vụ án để các đương sự
liên hệ đến quyền, nghĩa vụ của mình, phân tích hậu quả pháp lý của việc hòa
giải thành để họ tự nguyện thoả thuận với nhau về việc giải quyết vụ án;
b) Nguyên đơn, người bảo vệ quyền và lợi ích
hợp pháp của họ trình bày nội dung tranh chấp, bổ sung yêu cầu khởi kiện; những
căn cứ để bảo vệ yêu cầu khởi kiện và đề xuất quan điểm về những vấn đề cần hòa
giải, hướng giải quyết vụ án (nếu có);
c) Bị đơn, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp
pháp của họ trình bày ý kiến của mình đối với yêu cầu của nguyên đơn, yêu cầu
phản tố (nếu có); những căn cứ để phản đối yêu cầu của nguyên đơn; những căn cứ
để bảo vệ yêu cầu phản tố của mình và đề xuất quan điểm về những vấn đề cần hòa
giải, hướng giải quyết vụ án (nếu có);
d) Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan,
người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của họ trình bày ý kiến của mình đối với
yêu cầu của nguyên đơn, bị đơn; trình bày yêu cầu độc lập của mình (nếu có);
những căn cứ để phản đối yêu cầu của nguyên đơn, bị đơn; những căn cứ để bảo vệ
yêu cầu độc lập của mình và đề xuất quan điểm về những vấn đề cần hòa giải,
hướng giải quyết vụ án (nếu có);
đ) Người khác tham gia phiên họp hòa giải
(nếu có) phát biểu ý kiến;
e) Sau khi các đương sự, người bảo vệ quyền
và lợi ích hợp pháp của họ trình bày hết ý kiến của mình, Thẩm phán xác định
những vấn đề các đương sự đã thống nhất, chưa thống nhất và yêu cầu các đương
sự trình bày bổ sung về những nội dung chưa rõ, chưa thống nhất;
g) Thẩm phán kết luận về những vấn đề các
đương sự đã thống nhất, chưa thống nhất.
Điều 211. Biên bản phiên họp kiểm tra việc
giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải
1. Thư ký Tòa án phải lập biên bản về kiểm
tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và biên bản về việc hòa giải.
2. Biên bản về kiểm tra việc giao nộp, tiếp
cận, công khai chứng cứ phải có các nội dung chính sau đây:
a) Ngày, tháng, năm tiến hành phiên họp;
b) Địa điểm tiến hành phiên họp;
c) Thành phần tham gia phiên họp;
d) Ý kiến của các đương sự hoặc người đại
diện hợp pháp của các đương sự về các nội dung quy định tại khoản
2 Điều 210 của Bộ luật này;
đ) Các nội dung khác;
e) Quyết định của Tòa án về việc chấp nhận,
không chấp nhận các yêu cầu của đương sự.
3. Biên bản về việc hòa giải phải có các nội
dung chính sau đây:
a) Các nội dung quy định tại các điểm a, b và
c khoản 2 Điều này;
b) Ý kiến của các đương sự, người bảo vệ
quyền và lợi ích hợp pháp của các đương sự;
c) Những nội dung đã được các đương sự thống
nhất, không thống nhất.
4. Biên bản phải có đầy đủ chữ ký hoặc điểm
chỉ của những người tham gia phiên họp, chữ ký của Thư ký Tòa án ghi biên bản
và của Thẩm phán chủ trì phiên họp. Những người tham gia phiên họp có quyền
được xem biên bản ngay sau khi kết thúc phiên họp, yêu cầu ghi những sửa đổi,
bổ sung vào biên bản và ký xác nhận hoặc điểm chỉ.
5. Trường hợp các đương sự thoả thuận được
với nhau về vấn đề phải giải quyết trong vụ án dân sự thì Tòa án lập biên bản
hòa giải thành. Biên bản này được gửi ngay cho các đương sự tham gia hòa giải.
Điều 212. Ra quyết định công nhận sự thoả
thuận của các đương sự
1. Hết thời hạn 07 ngày, kể từ ngày lập biên
bản hòa giải thành mà không có đương sự nào thay đổi ý kiến về sự thoả thuận đó
thì Thẩm phán chủ trì phiên hòa giải hoặc một Thẩm phán được Chánh án Tòa án
phân công phải ra quyết định công nhận sự thoả thuận của các đương sự.
Trong thời hạn 05 ngày làm việc, kể từ ngày
ra quyết định công nhận sự thoả thuận của các đương sự, Tòa án phải gửi quyết
định đó cho các đương sự và Viện kiểm sát cùng cấp.
2. Thẩm phán chỉ ra quyết định công nhận sự
thoả thuận của các đương sự nếu các đương sự thoả thuận được với nhau về việc
giải quyết toàn bộ vụ án.
3. Trong trường hợp quy định tại khoản 4 Điều 210 của Bộ luật này mà các đương sự có mặt thoả
thuận được với nhau về việc giải quyết vụ án thì thoả thuận đó chỉ có giá trị
đối với những người có mặt và được Thẩm phán ra quyết định công nhận nếu không
ảnh hưởng đến quyền, nghĩa vụ của đương sự vắng mặt. Trường hợp thoả thuận của
họ có ảnh hưởng đến quyền, nghĩa vụ của đương sự vắng mặt thì thoả thuận này
chỉ có giá trị và được Thẩm phán ra quyết định công nhận nếu được đương sự vắng
mặt tại phiên hòa giải đồng ý bằng văn bản.
Điều 213. Hiệu lực của quyết định công nhận
sự thoả thuận của các đương sự
1. Quyết định công nhận sự thoả thuận của các
đương sự có hiệu lực pháp luật ngay sau khi được ban hành và không bị kháng
cáo, kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm.
2. Quyết định công nhận sự thoả thuận của các
đương sự chỉ có thể bị kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm nếu có căn cứ cho
rằng sự thoả thuận đó là do bị nhầm lẫn, lừa dối, đe dọa, cưỡng ép hoặc vi phạm
điều cấm của luật, trái đạo đức xã hội.
Điều 214. Tạm đình chỉ giải quyết vụ án dân
sự
1. Tòa án ra quyết định tạm đình chỉ giải
quyết vụ án dân sự khi có một trong các căn cứ sau đây:
a) Đương sự là cá nhân đã chết, cơ quan, tổ
chức đã hợp nhất, sáp nhập, chia, tách, giải thể mà chưa có cơ quan, tổ chức,
cá nhân kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng của cơ quan, tổ chức, cá nhân đó;
b) Đương sự là cá nhân mất năng lực hành vi
dân sự, người chưa thành niên mà chưa xác định được người đại diện theo pháp
luật;
c) Chấm dứt đại diện hợp pháp của đương sự mà
chưa có người thay thế;
d) Cần đợi kết quả giải quyết vụ án khác có
liên quan hoặc sự việc được pháp luật quy định là phải do cơ quan, tổ chức khác
giải quyết trước mới giải quyết được vụ án;
đ) Cần đợi kết quả thực hiện ủy thác tư pháp,
ủy thác thu thập chứng cứ hoặc đợi cơ quan, tổ chức cung cấp tài liệu, chứng cứ
theo yêu cầu của Tòa án mới giải quyết được vụ án;
e) Cần đợi kết quả xử lý văn bản quy phạm
pháp luật có liên quan đến việc giải quyết vụ án có dấu hiệu trái với Hiến
pháp, luật, nghị quyết của Quốc hội, pháp lệnh, nghị quyết của Ủy ban Thường vụ
Quốc hội, văn bản quy phạm pháp luật của cơ quan nhà nước cấp trên mà Tòa án đã
có văn bản kiến nghị cơ quan nhà nước có thẩm quyền xem xét sửa đổi, bổ sung
hoặc bãi bỏ;
g) Theo quy định tại Điều 41 của Luật Phá
sản;
h) Các trường hợp khác theo quy định của pháp
luật.
2. Trong thời hạn 03 ngày làm việc, kể từ
ngày ra quyết định tạm đình chỉ giải quyết vụ án dân sự, Tòa án phải gửi quyết
định đó cho đương sự, cơ quan, tổ chức, cá nhân khởi kiện và Viện kiểm sát cùng
cấp.
Điều 215. Hậu quả của việc tạm đình chỉ giải
quyết vụ án dân sự
1. Tòa án không xóa tên vụ án dân sự bị tạm
đình chỉ giải quyết trong sổ thụ lý mà chỉ ghi chú vào sổ thụ lý số và ngày,
tháng, năm của quyết định tạm đình chỉ giải quyết vụ án dân sự đó.
2. Tiền tạm ứng án phí, lệ phí mà đương sự đã
nộp được gửi tại kho bạc nhà nước và được xử lý khi Tòa án tiếp tục giải quyết
vụ án dân sự.
3. Trường hợp tạm đình chỉ theo quy định tại điểm e khoản 1 Điều 214 của Bộ luật này thì trước khi tạm
đình chỉ, Chánh án Tòa án đang giải quyết vụ án phải có văn bản đề nghị Chánh
án Tòa án nhân dân tối cao kiến nghị cơ quan nhà nước có thẩm quyền xem xét sửa
đổi, bổ sung hoặc bãi bỏ văn bản quy phạm pháp luật có dấu hiệu trái với Hiến
pháp, luật, nghị quyết của Quốc hội, pháp lệnh, nghị quyết của Ủy ban Thường vụ
Quốc hội, văn bản quy phạm pháp luật của cơ quan nhà nước cấp trên theo quy
định tại Điều 221 của Bộ luật này.
Trong thời hạn 01 tháng, kể từ ngày nhận được
văn bản kiến nghị của Tòa án, cơ quan có thẩm quyền phải có văn bản trả lời.
Hết thời hạn này mà cơ quan có thẩm quyền không có văn bản trả lời thì Tòa án
tiếp tục giải quyết vụ án theo thủ tục chung.
4. Trong thời gian tạm đình chỉ giải quyết vụ
án, Thẩm phán được phân công giải quyết vụ án vẫn phải có trách nhiệm về việc
giải quyết vụ án.
Sau khi có quyết định tạm đình chỉ giải quyết
vụ án quy định tại khoản 1 Điều 214 của Bộ luật này, Thẩm
phán được phân công giải quyết vụ án có trách nhiệm theo dõi, đôn đốc cơ quan,
tổ chức, cá nhân nhằm khắc phục trong thời gian ngắn nhất những lý do dẫn tới
vụ án bị tạm đình chỉ để kịp thời đưa vụ án ra giải quyết.
5. Quyết định tạm đình chỉ giải quyết vụ án
dân sự có thể bị kháng cáo, kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm.
Điều 216. Quyết định tiếp tục giải quyết vụ
án dân sự
Trong thời hạn 03 ngày làm việc, kể từ ngày
lý do tạm đình chỉ giải quyết vụ án quy định tại Điều 214 của
Bộ luật này không còn thì Tòa án phải ra quyết định tiếp tục giải quyết vụ
án dân sự và gửi quyết định đó cho đương sự, cơ quan, tổ chức, cá nhân khởi
kiện, Viện kiểm sát cùng cấp.
Quyết định tạm đình chỉ giải quyết vụ án dân
sự hết hiệu lực kể từ ngày ban hành quyết định tiếp tục giải quyết vụ án dân
sự. Tòa án tiếp tục giải quyết vụ án kể từ khi ban hành quyết định tiếp tục
giải quyết vụ án dân sự.
Điều 217. Đình chỉ giải quyết vụ án dân sự
1. Sau khi thụ lý vụ án thuộc thẩm quyền của
mình, Tòa án ra quyết định đình chỉ giải quyết vụ án dân sự trong các trường
hợp sau đây:
a) Nguyên đơn hoặc bị đơn là cá nhân đã chết
mà quyền, nghĩa vụ của họ không được thừa kế;
b) Cơ quan, tổ chức đã bị giải thể, phá sản
mà không có cơ quan, tổ chức, cá nhân nào kế thừa quyền, nghĩa vụ tố tụng của
cơ quan, tổ chức đó;
c) Người khởi kiện rút toàn bộ yêu cầu khởi
kiện hoặc nguyên đơn đã được triệu tập hợp lệ lần thứ hai mà vẫn vắng mặt, trừ
trường hợp họ đề nghị xét xử vắng mặt hoặc vì sự kiện bất khả kháng, trở ngại
khách quan;
d) Đã có quyết định của Tòa án mở thủ tục phá
sản đối với doanh nghiệp, hợp tác xã là một bên đương sự trong vụ án mà việc
giải quyết vụ án có liên quan đến nghĩa vụ, tài sản của doanh nghiệp, hợp tác
xã đó;
đ) Nguyên đơn không nộp tiền tạm ứng chi phí
định giá tài sản và chi phí tố tụng khác theo quy định của Bộ luật này.
Trường hợp bị đơn có yêu cầu phản tố, người có
quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có yêu cầu độc lập không nộp tiền tạm ứng chi phí
định giá tài sản và chi phí tố tụng khác theo quy định của Bộ luật này thì Tòa
án đình chỉ việc giải quyết yêu cầu phản tố của bị đơn, yêu cầu độc lập của
người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan;
e) Đương sự có yêu cầu áp dụng thời hiệu
trước khi Tòa án cấp sơ thẩm ra bản án, quyết định giải quyết vụ án và thời
hiệu khởi kiện đã hết;
g) Các trường hợp quy định tại khoản 1 Điều 192 của Bộ luật này mà Tòa án đã thụ lý;
h) Các trường hợp khác theo quy định của pháp
luật.
2. Trường hợp nguyên đơn rút toàn bộ yêu cầu
khởi kiện hoặc đã được triệu tập hợp lệ lần thứ hai mà vẫn vắng mặt không có lý
do chính đáng, không đề nghị xét xử vắng mặt và trong vụ án đó có bị đơn yêu
cầu phản tố, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có yêu cầu độc lập thì giải
quyết như sau:
a) Bị đơn rút toàn bộ yêu cầu phản tố, người
có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan rút toàn bộ yêu cầu độc lập thì Tòa án ra
quyết định đình chỉ giải quyết vụ án;
b) Bị đơn không rút hoặc chỉ rút một phần yêu
cầu phản tố thì Tòa án ra quyết định đình chỉ giải quyết đối với yêu cầu khởi
kiện của nguyên đơn; bị đơn trở thành nguyên đơn, nguyên đơn trở thành bị đơn;
c) Bị đơn rút toàn bộ yêu cầu phản tố, người
có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan không rút hoặc chỉ rút một phần yêu cần độc
lập thì Tòa án ra quyết định đình chỉ giải quyết đối với yêu cầu khởi kiện của
nguyên đơn, yêu cầu phản tố của bị đơn; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan
trở thành nguyên đơn, người nào bị khởi kiện theo yêu cầu độc lập trở thành bị
đơn.
3. Tòa án ra quyết định đình chỉ giải quyết
vụ án dân sự, xóa tên vụ án đó trong sổ thụ lý và trả lại đơn khởi kiện, tài
liệu, chứng cứ kèm theo cho đương sự nếu có yêu cầu; trong trường hợp này, Tòa
án phải sao chụp và lưu lại để làm cơ sở giải quyết khiếu nại, kiến nghị khi có
yêu cầu.
Trong thời hạn 03 ngày làm việc, kể từ ngày
ra quyết định đình chỉ giải quyết vụ án dân sự, Tòa án phải gửi quyết định đó
cho đương sự, cơ quan, tổ chức, cá nhân khởi kiện và Viện kiểm sát cùng cấp.
4. Đối với vụ án được xét xử lại theo thủ tục
sơ thẩm sau khi có quyết định giám đốc thẩm, tái thẩm mà Tòa án quyết định đình
chỉ việc giải quyết vụ án thì Tòa án đồng thời phải giải quyết hậu quả của việc
thi hành án, các vấn đề khác có liên quan (nếu có); trường hợp nguyên đơn rút
đơn khởi kiện hoặc đã được triệu tập hợp lệ lần thứ hai mà vẫn vắng mặt thì
việc đình chỉ giải quyết vụ án phải có sự đồng ý của bị đơn, người có quyền
lợi, nghĩa vụ liên quan.
Điều 218. Hậu quả của việc đình chỉ giải
quyết vụ án dân sự
1. Khi có quyết định đình chỉ giải quyết vụ
án dân sự, đương sự không có quyền khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết lại vụ
án dân sự đó, nếu việc khởi kiện vụ án sau không có gì khác với vụ án trước về
nguyên đơn, bị đơn và quan hệ pháp luật có tranh chấp, trừ trường hợp quy định
tại khoản 3 Điều 192, điểm c khoản 1 Điều 217 của Bộ luật này
và các trường hợp khác theo quy định của pháp luật.
2. Trường hợp Tòa án ra quyết định đình chỉ
giải quyết vụ án dân sự theo quy định tại điểm a và điểm b
khoản 1 Điều 217 hoặc vì lý do nguyên đơn đã được triệu tập hợp lệ lần thứ
hai mà vẫn vắng mặt quy định tại điểm c khoản 1 Điều 217 của
Bộ luật này thì tiền tạm ứng án phí mà đương sự đã nộp được sung vào công
quỹ nhà nước.
3. Trường hợp Tòa án ra quyết định đình chỉ
giải quyết vụ án dân sự do người khởi kiện rút toàn bộ yêu cầu khởi kiện quy
định tại điểm c và trường hợp khác quy định tại các điểm d, đ,
e và g khoản 1 Điều 217 của Bộ luật này thì tiền tạm ứng án phí mà đương sự
đã nộp được trả lại cho họ.
4. Quyết định đình chỉ giải quyết vụ án dân
sự có thể bị kháng cáo, kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm.
1. Trước khi mở phiên tòa, Thẩm phán được
phân công giải quyết vụ án dân sự có thẩm quyền ra quyết định tạm đình chỉ giải
quyết vụ án dân sự, quyết định tiếp tục giải quyết vụ án dân sự, quyết định
đình chỉ giải quyết vụ án dân sự.
2. Tại phiên tòa, Hội đồng xét xử có thẩm
quyền ra quyết định tạm đình chỉ giải quyết vụ án dân sự, quyết định tiếp tục
giải quyết vụ án dân sự, quyết định đình chỉ giải quyết vụ án dân sự.
Điều 220. Quyết định đưa vụ án ra xét xử
1. Quyết định đưa vụ án ra xét xử phải có các
nội dung chính sau đây:
a) Ngày, tháng, năm ra quyết định;
b) Tên Tòa án ra quyết định;
c) Vụ án được đưa ra xét xử;
d) Tên, địa chỉ của nguyên đơn, bị đơn hoặc
cơ quan, tổ chức, cá nhân khởi kiện quy định tại Điều 187 của
Bộ luật này, người có quyền lợi, ng hĩa vụ liên quan;
đ) Họ, tên Thẩm phán, Hội thẩm nhân dân, Thư
ký Tòa án; họ, tên Thẩm phán, Hội thẩm nhân dân dự khuyết (nếu có);
e) Họ, tên Kiểm sát viên tham gia phiên tòa;
họ, tên Kiểm sát viên dự khuyết (nếu có);
g) Ngày, giờ, tháng, năm, địa điểm mở phiên
tòa;
h) Xét xử công khai hoặc xét xử kín;
i) Họ, tên người được triệu tập tham gia
phiên tòa.
2. Quyết định đưa vụ án ra xét xử phải được
gửi cho đương sự và Viện kiểm sát cùng cấp trong thời hạn 03 ngày làm việc, kể
từ ngày ra quyết định.
Trường hợp Viện kiểm sát tham gia phiên tòa
theo quy định tại khoản 2 Điều 21 của Bộ luật này thì Tòa
án phải gửi hồ sơ vụ án cùng quyết định đưa vụ án ra xét xử cho Viện kiểm sát
cùng cấp; trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được hồ sơ, Viện kiểm sát
phải nghiên cứu và trả lại hồ sơ cho Tòa án.
Điều 221. Phát hiện và kiến nghị sửa đổi, bổ
sung hoặc hủy bỏ văn bản quy phạm pháp luật
1. Trong quá trình giải quyết vụ án dân sự,
nếu phát hiện văn bản quy phạm pháp luật liên quan đến việc giải quyết vụ án
dân sự có dấu hiệu trái với Hiến pháp, luật, nghị quyết của Quốc hội, pháp
lệnh, nghị quyết của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, văn bản quy phạm pháp luật của
cơ quan nhà nước cấp trên thì Tòa án thực hiện như sau:
a) Trường hợp chưa có quyết định đưa vụ án ra
xét xử thì Thẩm phán được phân công giải quyết vụ án báo cáo và đề nghị Chánh
án Tòa án đang giải quyết vụ án có văn bản đề nghị Chánh án Tòa án nhân dân tối
cao kiến nghị cơ quan nhà nước có thẩm quyền xem xét sửa đổi, bổ sung hoặc bãi
bỏ văn bản quy phạm pháp luật;
b) Trường hợp đã có quyết định đưa vụ án ra
xét xử hoặc vụ án đang được xem xét tại phiên tòa hoặc đang được xét xử theo
thủ tục giám đốc thẩm, tái thẩm thì Hội đồng xét xử tạm ngừng phiên tòa theo
quy định tại điểm e khoản 1 Điều 259 của Bộ luật này và
báo cáo Chánh án Tòa án đang giải quyết vụ án có văn bản đề nghị Chánh án Tòa
án nhân dân tối cao kiến nghị cơ quan nhà nước có thẩm quyền xem xét sửa đổi,
bổ sung hoặc bãi bỏ văn bản quy phạm pháp luật.
2. Trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận
được văn bản đề nghị của Chánh án Tòa án cấp dưới thì Chánh án Tòa án nhân dân
tối cao phải xem xét và xử lý như sau:
a) Trường hợp đề nghị có căn cứ thì phải ra
văn bản kiến nghị gửi cơ quan nhà nước có thẩm quyền sửa đổi, bổ sung hoặc bãi
bỏ văn bản quy phạm pháp luật và thông báo cho Tòa án đã đề nghị để ra quyết
định tạm đình chỉ giải quyết vụ án;
b) Trường hợp đề nghị không có căn cứ thì
phải ra văn bản trả lời cho Tòa án đã đề nghị để tiếp tục giải quyết vụ án theo
đúng quy định của pháp luật.
3. Cơ quan nhận được kiến nghị của Tòa án về
việc sửa đổi, bổ sung hoặc bãi bỏ văn bản quy phạm pháp luật có trách nhiệm
giải quyết như sau:
a) Đối với văn bản quy phạm pháp luật quy
định chi tiết, hướng dẫn thi hành Hiến pháp, luật, nghị quyết của Quốc hội,
pháp lệnh, nghị quyết của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, văn bản quy phạm pháp luật
của cơ quan nhà nước cấp trên bị kiến nghị xem xét thì trong thời hạn 01 tháng,
kể từ ngày nhận được kiến nghị của Chánh án Tòa án nhân dân tối cao, cơ quan đã
ban hành văn bản đó phải xem xét và trả lời bằng văn bản cho Tòa án nhân dân
tối cao; nếu quá thời hạn này mà
không nhận được văn bản trả lời thì Tòa án áp
dụng văn bản có hiệu lực cao hơn để giải quyết vụ án;
b) Trường hợp kiến nghị xem xét sửa đổi, bổ
sung hoặc bãi bỏ văn bản quy phạm pháp luật là luật, nghị quyết của Quốc hội,
pháp lệnh, nghị quyết của Ủy ban Thường vụ của Quốc hội thì thực hiện theo quy
định của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật.
Mục 1. QUY ĐỊNH CHUNG VỀ PHIÊN TÒA SƠ THẨM
Điều 222. Yêu cầu chung đối với phiên tòa sơ
thẩm
Phiên tòa sơ thẩm phải được tiến hành đúng
thời gian, địa điểm đã được ghi trong quyết định đưa vụ án ra xét xử hoặc trong
giấy báo mở lại phiên tòa trong trường hợp phải hoãn phiên tòa.
Điều 223. Địa điểm tổ chức phiên tòa
Phiên tòa được tổ chức tại trụ sở Tòa án hoặc
có thể ngoài trụ sở Tòa án nhưng phải bảo đảm tính trang nghiêm và hình thức
phòng xử án quy định tại Điều 224 của Bộ luật này.
Điều 224. Hình thức bố trí phòng xử án
1. Quốc huy nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa
Việt Nam được treo chính giữa phía trên phòng xử án và phía trên chỗ ngồi của
Hội đồng xét xử.
2. Phòng xử án phải có các khu vực được bố
trí riêng cho Hội đồng xét xử, Kiểm sát viên, Thư ký Tòa án, đương sự, người
bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự, những người tham gia tố tụng
khác và người tham dự phiên t òa.
Điều 225. Xét xử trực tiếp, bằng lời nói
1. Tòa án phải trực tiếp xác định những tình
tiết của vụ án bằng cách nghe lời trình bày của nguyên đơn, bị đơn, người có
quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án, người đại diện hợp pháp, người bảo vệ
quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự và những người tham gia tố tụng khác, cơ
quan, tổ chức được mời tham dự phiên tòa; hỏi và nghe trả lời câu hỏi; xem xét,
kiểm tra tài liệu, chứng cứ đã thu thập được; điều hành và nghe tranh luận giữa
các đương sự; nghe Kiểm sát viên phát biểu ý kiến của Viện kiểm sát.
2. Việc xét xử phải bằng lời nói và được tiến
hành tại phòng xử án.
Điều 226. Thay thế thành viên Hội đồng xét xử
trong trường hợp đặc biệt
1. Trường hợp có Thẩm phán, Hội thẩm nhân dân
không thể tiếp tục tham gia xét xử vụ án nhưng có Thẩm phán, Hội thẩm nhân dân
dự khuyết thì những người này được tham gia xét xử tiếp vụ án nếu họ có mặt tại
phiên tòa từ đầu.
Trường hợp Hội đồng xét xử có hai Thẩm phán
mà Thẩm phán chủ toạ phiên tòa không thể tiếp tục tham gia xét xử vụ án thì
Thẩm phán là thành viên Hội đồng xét xử làm chủ toạ phiên tòa và Thẩm phán dự
khuyết được bổ sung làm thành viên Hội đồng xét xử.
2. Trường hợp không có Thẩm phán hoặc Hội
thẩm nhân dân dự khuyết để thay thế thành viên Hội đồng xét xử hoặc phải thay
đổi Thẩm phán chủ toạ phiên tòa mà không có Thẩm phán để thay thế theo quy định
tại khoản 1 Điều này thì vụ án phải được xét xử lại từ đầu.
1. Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ nhất,
đương sự hoặc người đại diện của họ, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của
đương sự phải có mặt tại phiên tòa; nếu có người vắng mặt thì Hội đồng xét xử
phải hoãn phiên tòa, trừ trường hợp người đó có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.
Tòa án phải thông báo cho đương sự, người đại
diện, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự về việc hoãn phiên
tòa.
2. Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai, đương
sự hoặc người đại diện của họ, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương
sự phải có mặt tại phiên tòa, trừ trường hợp họ có đơn đề nghị xét xử vắng mặt;
nếu vắng mặt vì sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan thì Tòa án có
thể hoãn phiên tòa, nếu không vì sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan
thì xử lý như sau:
a) Nguyên đơn vắng mặt mà không có người đại
diện tham gia phiên tòa thì bị coi là từ bỏ việc khởi kiện và Tòa án ra quyết
định đình chỉ giải quyết vụ án đối với yêu cầu khởi kiện của người đó, trừ
trường hợp người đó có đơn đề nghị xét xử vắng mặt. Nguyên đơn có quyền khởi
kiện lại theo quy định của pháp luật;
b) Bị đơn không có yêu cầu phản tố, người có
quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không có yêu cầu độc lập vắng mặt mà không có
người đại diện tham gia phiên tòa thì Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt họ;
c) Bị đơn có yêu cầu phản tố vắng mặt mà
không có người đại diện tham gia phiên tòa thì bị coi là từ bỏ yêu cầu phản tố
và Tòa án quyết định đình chỉ giải quyết đối với yêu cầu phản tố, trừ trường
hợp bị đơn có đơn đề nghị xét xử vắng mặt. Bị đơn có quyền khởi kiện lại đối
với yêu cầu phản tố đó theo quy định của pháp luật;
d) Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có
yêu cầu độc lập vắng mặt mà không có người đại diện tham gia phiên tòa thì bị
coi là từ bỏ yêu cầu độc lập và Tòa án quyết định đình chỉ giải quyết đối với
yêu cầu độc lập của người đó, trừ trường hợp người đó có đơn đề nghị xét xử
vắng mặt. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có yêu cầu độc lập có quyền
khởi kiện lại đối với yêu cầu độc lập đó theo quy định của pháp luật;
đ) Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của
đương sự vắng mặt thì Tòa án vẫn tiến hành xét xử vắng mặt họ.
Tòa án vẫn tiến hành xét xử vụ án trong các
trường hợp sau đây:
1. Nguyên đơn, bị đơn, người có quyền lợi,
nghĩa vụ liên quan và người đại diện của họ vắng mặt tại phiên tòa có đơn đề
nghị Tòa án xét xử vắng mặt;
2. Nguyên đơn, bị đơn, người có quyền lợi,
nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa nhưng có người đại diện tham gia
phiên tòa;
3. Các trường hợp quy định tại các điểm b, c, d và đ khoản 2 Điều 227 của Bộ luật này.
Điều 229. Sự có mặt của người làm chứng
1. Người làm chứng có nghĩa vụ tham gia phiên
tòa theo giấy triệu tập của Tòa án.
2. Trường hợp người làm chứng vắng mặt thì
Hội đồng xét xử quyết định vẫn tiến hành xét xử hoặc hoãn phiên tòa.
Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử trong
trường hợp người làm chứng vắng mặt nhưng trước đó họ đã có lời khai trực tiếp
với Tòa án hoặc gửi lời khai cho Tòa án. Chủ toạ phiên tòa công bố lời khai đó.
Hội đồng xét xử quyết định hoãn phiên tòa nếu
việc vắng mặt của người làm chứng tại phiên tòa gây khó khăn, ảnh hưởng đến
việc giải quyết khách quan, toàn diện vụ án.
3. Người làm chứng vắng mặt tại phiên tòa
không có lý do chính đáng và việc vắng mặt của họ gây cản trở cho việc xét xử
thì có thể bị dẫn giải đến phiên tòa theo quyết định của Hội đồng xét xử, trừ
trường hợp người làm chứng là người chưa thành niên.
Điều 230. Sự có mặt của người giám định
1. Người giám định có nghĩa vụ tham gia phiên
tòa theo giấy triệu tập của Tòa án để giải thích, trả lời những vấn đề liên
quan đến việc giám định và kết luận giám định.
2. Trường hợp người giám định vắng mặt thì
Hội đồng xét xử quyết định vẫn tiến hành xét xử hoặc hoãn phiên tòa.
Điều 231. Sự có mặt của người phiên dịch
1. Người phiên dịch có nghĩa vụ tham gia
phiên tòa theo giấy triệu tập của Tòa án.
2. Trường hợp người phiên dịch vắng mặt mà
không có người khác thay thế thì Hội đồng xét xử quyết định hoãn phiên tòa.
Điều 232. Sự có mặt của Kiểm sát viên
1. Kiểm sát viên được Viện trưởng Viện kiểm
sát cùng cấp phân công có nhiệm vụ tham gia phiên tòa; nếu Kiểm sát viên vắng
mặt thì Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử, không hoãn phiên tòa.
2. Trường hợp Kiểm sát viên bị thay đổi tại
phiên tòa hoặc không thể tiếp tục tham gia phiên tòa xét xử, nhưng có Kiểm sát
viên dự khuyết thì người này được tham gia phiên tòa xét xử tiếp vụ án nếu họ
có mặt tại phiên tòa từ đầu.
Điều 233. Thời hạn hoãn phiên tòa và quyết
định hoãn phiên tòa
1. Hội đồng xét xử quyết định hoãn phiên tòa
trong các trường hợp quy định tại khoản 2 Điều 56, khoản 2
Điều 62, khoản 2 Điều 84, Điều 227, khoản 2 Điều 229, khoản 2 Điều 230, khoản 2
Điều 231 và Điều 241 của Bộ luật này. Thời hạn hoãn phiên tòa là không quá
01 tháng, đối với phiên tòa xét xử vụ án theo thủ tục rút gọn là không quá 15
ngày, kể từ ngày ra quyết định hoãn phiên tòa.
2. Quyết định hoãn phiên tòa phải có các nội
dung chính sau đây:
a) Ngày, tháng, năm ra quyết định;
b) Tên Tòa án và họ, tên những người tiến
hành tố tụng;
c) Vụ án được đưa ra xét xử;
d) Lý do của việc hoãn phiên tòa;
đ) Thời gian, địa điểm mở lại phiên tòa.
3. Quyết định hoãn phiên tòa phải được chủ
toạ phiên tòa thay mặt Hội đồng xét xử ký tên và thông báo công khai tại phiên
tòa; đối với người vắng mặt thì Tòa án gửi ngay cho họ quyết định đó, đồng thời
gửi cho Viện kiểm sát cùng cấp.
4. Trường hợp sau khi hoãn phiên tòa mà Tòa
án không thể mở lại phiên tòa đúng thời gian, địa điểm mở lại phiên tòa ghi
trong quyết định hoãn phiên tòa thì Tòa án phải thông báo ngay cho Viện kiểm
sát cùng cấp và những người tham gia tố tụng về thời gian, địa điểm mở lại
phiên tòa.
1. Khi vào phòng xử án, mọi người đều phải
chấp hành việc kiểm tra an ninh của lực lượng có trách nhiệm bảo vệ phiên tòa.
2. Nghiêm cấm mang vào phòng xử án vũ khí,
hung khí, chất nổ, chất cháy, chất độc, chất phóng xạ, đồ vật cấm lưu hành,
truyền đơn, khẩu hiệu và tài liệu, đồ vật khác ảnh hưởng đến sự tôn nghiêm của
phiên tòa, trừ vật chứng của vụ án
phục vụ cho công tác xét xử hoặc vũ khí, công
cụ hỗ trợ được người có thẩm quyền mang theo để làm nhiệm vụ bảo vệ phiên tòa.
3. Người tham gia phiên tòa theo yêu cầu của
Tòa án phải xuất trình giấy triệu tập, giấy mời, các giấy tờ có liên quan khác
cho Thư ký phiên tòa tại bàn thư ký chậm nhất là 15 phút trước giờ khai mạc
phiên tòa và ngồi đúng vị trí trong phòng xử án theo hướng dẫn của Thư ký phiên
tòa; trường hợp đến muộn thì phải xuất trình giấy triệu tập, giấy mời, các giấy
tờ có liên quan khác cho Thư ký phiên tòa thông qua lực lượng làm nhiệm vụ bảo
vệ phiên tòa.
4.[49] (được bãi bỏ)
5. Mọi người tham dự phiên tòa phải có trang
phục nghiêm chỉnh; có thái độ tôn trọng Hội đồng xét xử, giữ trật tự và tuân
theo sự điều khiển của chủ tọa phiên tòa.
6. Không đội mũ, nón, đeo kính màu trong
phòng xử án, trừ trường hợp có lý do chính đáng và được sự đồng ý của chủ tọa
phiên tòa; không sử dụng điện thoại di động, không hút thuốc, không ăn uống
trong phòng xử án hoặc có hành vi khác ảnh hưởng đến sự tôn nghiêm của phiên
tòa.
7. Người tham gia phiên tòa theo yêu cầu của
Tòa án phải có mặt tại phiên tòa trong suốt thời gian xét xử vụ án, trừ trường
hợp được chủ tọa phiên tòa đồng ý cho rời khỏi phòng xử án khi có lý do chính
đáng.
Người dưới mười sáu tuổi không được vào phòng
xử án, trừ trường hợp được Tòa án triệu tập tham gia phiên tòa.
8. Mọi người trong phòng xử án phải đứng dậy
khi Hội đồng xét xử vào phòng xử án và khi tuyên án, trừ trường hợp đặc biệt
được sự đồng ý của chủ tọa phiên tòa.
9. Chỉ những người được Hội đồng xét xử đồng
ý mới được hỏi, trả lời hoặc phát biểu. Người hỏi, trả lời hoặc phát biểu phải
đứng dậy, trừ trường hợp vì lý do sức khỏe được chủ tọa phiên tòa đồng ý cho
ngồi để hỏi, trả lời, phát biểu.
Điều 235. Thủ tục ra bản án và quyết định của
Tòa án tại phiên tòa
1. Bản án phải được Hội đồng xét xử thảo luận
và thông qua tại phòng nghị án.
2. Quyết định thay đổi người tiến hành tố
tụng, người giám định, người phiên dịch, chuyển vụ án, tạm đình chỉ hoặc đình
chỉ giải quyết vụ án, hoãn phiên tòa, quyết định công nhận sự thỏa thuận của
các đương sự, tạm ngừng phiên tòa phải được Hội đồng xét xử thảo luận, thông
qua tại phòng nghị án và lập thành văn bản.
3. Quyết định về các vấn đề khác được Hội
đồng xét xử thảo luận và thông qua tại phòng xử án, không phải lập thành văn
bản nhưng phải được ghi vào biên bản phiên tòa.
1. Biên bản phiên tòa phải ghi đầy đủ các nội
dung sau đây:
a) Các nội dung chính trong quyết định đưa vụ
án ra xét xử quy định tại khoản 1 Điều 220 của Bộ luật này;
b) Mọi diễn biến tại phiên tòa từ khi bắt đầu
cho đến khi kết thúc phiên tòa;
c) Các câu hỏi, câu trả lời và phát biểu tại
phiên tòa.
2. Ngoài việc ghi biên bản phiên tòa, Hội
đồng xét xử có thể thực hiện việc ghi âm, ghi hình về diễn biến phiên tòa.
3. Sau khi kết thúc phiên tòa, chủ toạ phiên
tòa phải kiểm tra biên bản và cùng với Thư ký phiên tòa ký biên bản đó.
4. Kiểm sát viên và những người tham gia tố
tụng có quyền được xem biên bản phiên tòa ngay sau khi kết thúc phiên tòa, yêu
cầu ghi những sửa đổi, bổ sung vào biên bản phiên tòa và ký xác nhận.
Điều 237. Chuẩn bị khai mạc phiên tòa
Trước khi khai mạc phiên tòa, Thư ký phiên
tòa phải tiến hành các công việc sau đây:
1. Phổ biến nội quy phiên tòa.
2. Kiểm tra, xác định sự có mặt, vắng mặt của
những người tham gia phiên tòa theo giấy triệu tập, giấy báo của Tòa án; nếu có
người vắng mặt thì phải làm rõ lý do.
3. Ổn định trật tự trong phòng xử án.
4. Yêu cầu mọi người trong phòng xử án đứng
dậy khi Hội đồng xét xử vào phòng xử án.
Điều 238. Thủ tục xét xử vắng mặt tất cả
những người tham gia tố tụng
1. Tòa án căn cứ vào tài liệu, chứng cứ có
trong hồ sơ để xét xử vắng mặt đương sự, người tham gia tố tụng khác theo quy
định của pháp luật khi có đủ các điều kiện sau đây:
a) Nguyên đơn, người đại diện hợp pháp của
nguyên đơn có đơn đề nghị xét xử vắng mặt;
b) Bị đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên
quan; người đại diện hợp pháp của bị đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên
quan có đơn đề nghị xét xử vắng mặt hoặc đã được triệu tập hợp lệ lần thứ hai
mà vẫn vắng mặt;
c) Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của
nguyên đơn, bị đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có đơn đề nghị xét
xử vắng mặt hoặc đã được triệu tập hợp lệ lần thứ hai mà vẫn vắng mặt.
2. Chủ tọa phiên tòa công bố lý do đương sự
vắng mặt hoặc đơn của đương sự đề nghị Hội đồng xét xử vắng mặt.
3. Chủ tọa phiên tòa công bố tóm tắt nội dung
vụ án và tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án. Hội đồng xét xử thảo luận về
những vấn đề cần giải quyết trong vụ án.
4. Kiểm sát viên phát biểu ý kiến của Viện
kiểm sát.
5. Hội đồng xét xử tiến hành nghị án và tuyên
án theo quy định của Bộ luật này.
Mục 2. THỦ TỤC BẮT ĐẦU PHIÊN TÒA
1. Chủ tọa phiên tòa khai mạc phiên tòa và
đọc quyết định đưa vụ án ra xét xử.
2. Thư ký phiên tòa báo cáo Hội đồng xét xử
về sự có mặt, vắng mặt của những người tham gia phiên tòa theo giấy triệu tập,
giấy báo của Tòa án và lý do vắng mặt.
3. Chủ tọa phiên tòa kiểm tra lại sự có mặt
của những người tham gia phiên tòa theo giấy triệu tập, giấy báo của Tòa án và
kiểm tra căn cước của đương sự, người tham gia tố tụng khác.
4. Chủ tọa phiên tòa phổ biến quyền, nghĩa vụ
của đương sự và của người tham gia tố tụng khác.
5. Chủ toạ phiên tòa giới thiệu họ, tên những
người tiến hành tố tụng, người giám định, người phiên dịch.
6. Chủ tọa phiên tòa hỏi những người có quyền
yêu cầu thay đổi người tiến hành tố tụng, người giám định, người phiên dịch xem
họ có yêu cầu thay đổi ai không.
7. Yêu cầu người làm chứng cam kết khai báo
đúng sự thật, nếu khai không đúng phải chịu trách nhiệm trước pháp luật, trừ
trường hợp người làm chứng là người chưa thành niên.
8. Yêu cầu người giám định, người phiên dịch
cam kết cung cấp kết quả giám định chính xác, phiên dịch đúng nội dung cần
phiên dịch.
Điều 240. Giải quyết yêu cầu thay đổi người
tiến hành tố tụng, người giám định, người phiên dịch
Trường hợp có người yêu cầu thay đổi người
tiến hành tố tụng, người giám định, người phiên dịch thì Hội đồng xét xử phải
xem xét, quyết định theo thủ tục do Bộ luật này quy định và có thể chấp nhận
hoặc không chấp nhận; trường hợp không chấp nhận thì phải nêu rõ lý do.
Điều 241. Xem xét, quyết định hoãn phiên tòa
khi có người vắng mặt
Khi có người tham gia tố tụng vắng mặt tại
phiên tòa mà không thuộc trường hợp Tòa án phải hoãn phiên tòa thì chủ toạ
phiên tòa phải hỏi xem có ai đề nghị hoãn phiên tòa hay không; nếu có người đề
nghị thì Hội đồng xét xử xem xét, quyết định theo thủ tục do Bộ luật này quy
định và có thể chấp nhận hoặc không chấp nhận; trường hợp không chấp nhận thì
phải nêu rõ lý do.
Điều 242. Bảo đảm tính khách quan của người
làm chứng
1. Trước khi hỏi người làm chứng về những vấn
đề mà họ biết có liên quan đến việc giải quyết vụ án, chủ toạ phiên tòa có thể
quyết định những biện pháp cần thiết để những người làm chứng không nghe được
lời khai của nhau hoặc tiếp xúc với những người có liên quan.
2. Trường hợp lời khai của đương sự và người
làm chứng có ảnh hưởng lẫn nhau thì chủ toạ phiên tòa có thể quyết định cách ly
đương sự với người làm chứng trước khi hỏi người làm chứng.
Điều 243. Hỏi đương sự về việc thay đổi, bổ
sung, rút yêu cầu
Thủ tục hỏi đương sự về việc thay đổi, bổ
sung, rút yêu cầu được bắt đầu bằng việc chủ toạ phiên tòa hỏi đương sự về các
vấn đề sau đây:
1. Hỏi nguyên đơn có thay đổi, bổ sung, rút
một phần hoặc toàn bộ yêu cầu khởi kiện hay không;
2. Hỏi bị đơn có thay đổi, bổ sung, rút một
phần hoặc toàn bộ yêu cầu phản tố hay không;
3. Hỏi người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan
có yêu cầu độc lập có thay đổi, bổ sung, rút một phần hoặc toàn bộ yêu cầu độc
lập hay không.
Điều 244. Xem xét việc thay đổi, bổ sung, rút
yêu cầu
1. Hội đồng xét xử chấp nhận việc thay đổi,
bổ sung yêu cầu của đương sự nếu việc thay đổi, bổ sung yêu cầu của họ không
vượt quá phạm vi yêu cầu khởi kiện, yêu cầu phản tố hoặc yêu cầu độc lập ban
đầu.
2. Trường hợp có đương sự rút một phần hoặc
toàn bộ yêu cầu của mình và việc rút yêu cầu của họ là tự nguyện thì Hội đồng
xét xử chấp nhận và đình chỉ xét xử đối với phần yêu cầu hoặc toàn bộ yêu cầu
đương sự đã rút.
Điều 245. Thay đổi địa vị tố tụng
1. Trường hợp nguyên đơn rút toàn bộ yêu cầu
khởi kiện, nhưng bị đơn vẫn giữ nguyên yêu cầu phản tố của mình thì bị đơn trở
thành nguyên đơn và nguyên đơn trở thành bị đơn.
2. Trường hợp nguyên đơn rút toàn bộ yêu cầu
khởi kiện, bị đơn rút toàn bộ yêu cầu phản tố, nhưng người có quyền lợi, nghĩa
vụ liên quan vẫn giữ nguyên yêu cầu độc lập của mình thì người có quyền lợi,
nghĩa vụ liên quan trở thành nguyên đơn, người bị khởi kiện theo yêu cầu độc
lập trở thành bị đơn.
Điều 246. Công nhận sự thoả thuận của các
đương sự
1. Chủ tọa phiên tòa hỏi các đương sự có thoả
thuận được với nhau về việc giải quyết vụ án hay không; trường hợp các đương sự
thoả thuận được với nhau về việc giải quyết vụ án và thoả thuận của họ là tự
nguyện, không vi phạm điều cấm của luật và không trái đạo đức xã hội thì Hội
đồng xét xử ra quyết định công nhận sự thoả thuận của các đương sự về việc giải
quyết vụ án.
2. Quyết định công nhận sự thoả thuận của các
đương sự về việc giải quyết vụ án có hiệu lực pháp luật theo quy định tại Điều 213 của Bộ luật này.
Mục 3. TRANH TỤNG TẠI PHIÊN TÒA
Điều 247. Nội dung và phương thức tranh tụng
tại phiên tòa
1. Tranh tụng tại phiên tòa bao gồm việc
trình bày chứng cứ, hỏi, đối đáp, trả lời và phát biểu quan điểm, lập luận về
đánh giá chứng cứ, tình tiết của vụ án dân sự, quan hệ pháp luật tranh chấp và
pháp luật áp dụng để giải quyết yêu cầu của các đương sự trong vụ án.
2. Việc tranh tụng tại phiên tòa được tiến
hành theo sự điều khiển của chủ tọa phiên tòa.
3. Chủ tọa phiên tòa không được hạn chế thời
gian tranh tụng, tạo điều kiện cho những người tham gia tranh tụng trình bày
hết ý kiến nhưng có quyền yêu cầu họ dừng trình bày những ý kiến không có liên
quan đến vụ án dân sự.
Điều 248. Trình bày của đương sự, người bảo
vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự
1. Trường hợp có đương sự vẫn giữ nguyên yêu
cầu của mình và các đương sự không tự thoả thuận được với nhau về việc giải
quyết vụ án thì các đương sự trình bày theo trình tự sau đây:
a) Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của
nguyên đơn trình bày về yêu cầu và chứng cứ để chứng minh cho yêu cầu của
nguyên đơn là có căn cứ và hợp pháp. Nguyên đơn có quyền bổ sung ý kiến.
Trường hợp cơ quan, tổ chức khởi kiện vụ án
thì đại diện cơ quan, tổ chức trình bày về yêu cầu và chứng cứ để chứng minh
cho yêu cầu khởi kiện là có căn cứ và hợp pháp;
b) Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của
bị đơn trình bày ý kiến của bị đơn đối với yêu cầu của nguyên đơn; yêu cầu phản
tố, đề nghị của bị đơn và chứng cứ để chứng minh cho yêu cầu, đề nghị đó là có
căn cứ và hợp pháp. Bị đơn có quyền bổ sung ý kiến;
c) Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của
người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trình bày ý kiến của người có quyền lợi,
nghĩa vụ liên quan đối với yêu cầu, đề nghị của nguyên đơn, bị đơn; yêu cầu độc
lập, đề nghị của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan và chứng cứ để chứng
minh cho yêu cầu, đề nghị đó là có căn cứ và hợp pháp. Người có quyền lợi,
nghĩa vụ liên quan có quyền bổ sung ý kiến.
2. Trường hợp nguyên đơn, bị đơn, người có
quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không có người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp
cho mình thì họ tự trình bày về yêu cầu, đề nghị của mình và chứng cứ để chứng
minh cho yêu cầu, đề nghị đó là có căn cứ và hợp pháp.
3. Tại phiên tòa, đương sự, người bảo vệ
quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự chỉ có quyền bổ sung chứng cứ theo quy
định tại khoản 4 Điều 96 của Bộ luật này để chứng minh cho
yêu cầu, đề nghị của mình.
Điều 249. Thứ tự và nguyên tắc hỏi tại phiên
tòa
1. Sau khi nghe xong lời trình bày của đương
sự, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự theo quy định tại Điều 248 của Bộ luật này, theo sự điều hành của chủ tọa phiên
tòa, thứ tự hỏi của từng người được thực hiện như sau:
a) Nguyên đơn, người bảo vệ quyền và lợi ích
hợp pháp của nguyên đơn hỏi trước, tiếp đến bị đơn, người bảo vệ quyền và lợi
ích hợp pháp của bị đơn, sau đó là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan,
người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên
quan;
b) Những người tham gia tố tụng khác;
c) Chủ tọa phiên tòa, Hội thẩm nhân dân;
d) Kiểm sát viên tham gia phiên tòa.
2. Việc đặt câu hỏi phải rõ ràng, nghiêm túc,
không trùng lắp, không lợi dụng việc hỏi và trả lời để xâm phạm danh dự, nhân
phẩm của những người tham gia tố tụng.
1. Trường hợp có nhiều nguyên đơn thì phải
hỏi riêng từng nguyên đơn.
2. Chỉ hỏi nguyên đơn về những vấn đề mà
người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn, nguyên đơn trình bày
chưa rõ, có mâu thuẫn với nhau hoặc mâu thuẫn với lời khai của họ trước đó, mâu
thuẫn với lời trình bày của bị đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan và
người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của những người này.
3. Nguyên đơn có thể tự mình trả lời hoặc
người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn trả lời thay cho nguyên
đơn và sau đó nguyên đơn trả lời bổ sung.
1. Trường hợp có nhiều bị đơn thì phải hỏi
riêng từng bị đơn.
2. Chỉ hỏi bị đơn về những vấn đề mà người
bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị đơn, bị đơn trình bày chưa rõ, có mâu
thuẫn với nhau hoặc mâu thuẫn với lời khai của họ trước đó, mâu thuẫn với yêu
cầu, lời trình bày của nguyên đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan và
người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của những người này.
3. Bị đơn có thể tự mình trả lời hoặc người
bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị đơn trả lời thay cho bị đơn và sau đó
bị đơn trả lời bổ sung.
Điều 252. Hỏi người có quyền lợi, nghĩa vụ
liên quan
1. Trường hợp có nhiều người có quyền lợi,
nghĩa vụ liên quan thì phải hỏi riêng từng người một.
2. Chỉ hỏi người có quyền lợi, nghĩa vụ liên
quan về những vấn đề mà họ, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của họ trình
bày chưa rõ, có mâu thuẫn với nhau hoặc mâu thuẫn với lời khai của họ trước đó,
mâu thuẫn với yêu cầu, đề nghị, lời trình bày của nguyên đơn, bị đơn, người bảo
vệ quyền và lợi ích hợp pháp của những người này.
3. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có
thể tự mình trả lời hoặc người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của họ trả lời
thay cho họ và sau đó họ trả lời bổ sung.
1. Trước khi hỏi người làm chứng, chủ tọa
phiên tòa phải hỏi rõ về quan hệ giữa họ với các đương sự trong vụ án; nếu
người làm chứng là người chưa thành niên thì chủ tọa phiên tòa có thể yêu cầu
cha, mẹ, người giám hộ hoặc thầy giáo, cô giáo giúp đỡ để hỏi. Trường hợp có
nhiều người làm chứng thì phải hỏi riêng từng người một.
2. Chủ tọa phiên tòa yêu cầu người làm chứng
trình bày rõ những tình tiết của vụ án mà họ biết; sau khi người làm chứng
trình bày xong thì chỉ hỏi thêm người làm chứng về những điểm mà họ trình bày
chưa rõ, chưa đầy đủ hoặc có mâu thuẫn với nhau, mâu thuẫn với lời khai của họ
trước đó, mâu thuẫn với lời trình bày của đương sự, người bảo vệ quyền và lợi
ích hợp pháp của đương sự.
3. Sau khi đã trình bày xong, người làm chứng
ở lại phòng xử án để có thể được hỏi thêm.
4. Trong trường hợp cần thiết phải bảo đảm an
toàn cho người làm chứng và những người thân thích của họ, Hội đồng xét xử
quyết định không tiết lộ thông tin về nhân thân của người làm chứng và không để
những người trong phiên tòa nhìn thấy họ.
5. Đương sự, người bảo vệ quyền và lợi ích
hợp pháp của đương sự hỏi người làm chứng sau khi được sự đồng ý của chủ tọa
phiên tòa.
Điều 254. Công bố tài liệu, chứng cứ của vụ
án
1. Hội đồng xét xử công bố tài liệu, chứng cứ
của vụ án trong các trường hợp sau đây:
a) Người tham gia tố tụng không có mặt tại
phiên tòa nhưng đã có lời khai trong giai đoạn chuẩn bị xét xử;
b) Lời khai của người tham gia tố tụng tại
phiên tòa mâu thuẫn với lời khai trước đó;
c) Trong các trường hợp khác mà Hội đồng xét
xử thấy cần thiết hoặc có yêu cầu của Kiểm sát viên, đương sự, người bảo vệ
quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự, người tham gia tố tụng khác.
2. Trường hợp đặc biệt cần giữ bí mật nhà
nước, giữ gìn thuần phong mỹ tục của dân tộc, giữ bí mật nghề nghiệp, bí mật
kinh doanh, bí mật cá nhân, bí mật gia đình, bảo vệ người chưa thành niên theo
yêu cầu của đương sự thì Hội đồng xét xử không công bố tài liệu, chứng cứ có
trong hồ sơ vụ án.
Theo yêu cầu của đương sự, người bảo vệ quyền
và lợi ích hợp pháp của đương sự, người tham gia tố tụng khác, Kiểm sát viên
hoặc khi xét thấy cần thiết, Hội đồng xét xử cho nghe băng ghi âm, đĩa ghi âm,
xem băng ghi hình, đĩa ghi hình, thiết bị khác chứa âm thanh, hình ảnh tại
phiên tòa, trừ trường hợp quy định tại khoản 2 Điều 254 của Bộ
luật này.
Vật chứng, ảnh hoặc biên bản xác nhận vật
chứng được đưa ra để xem xét tại phiên tòa.
Khi cần thiết, Hội đồng xét xử có thể cùng
với đương sự đến xem xét tại chỗ vật chứng không thể đưa đến phiên tòa được.
1. Chủ tọa phiên tòa yêu cầu người giám định
trình bày kết luận của mình về vấn đề được yêu cầu giám định. Khi trình bày,
người giám định có quyền giải thích về kết luận giám định, các căn cứ để đưa ra
kết luận giám định.
2. Kiểm sát viên, đương sự, người bảo vệ
quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự, người tham gia tố tụng khác có mặt tại
phiên tòa có quyền nhận xét về kết luận giám định; hỏi những vấn đề còn chưa rõ
hoặc có mâu thuẫn trong kết luận giám định hoặc có mâu thuẫn với những tình
tiết khác của vụ án sau khi được sự đồng ý của chủ tọa phiên tòa.
3. Trường hợp người giám định không có mặt
tại phiên tòa thì chủ tọa phiên tòa công bố kết luận giám định.
4. Khi có đương sự, người bảo vệ quyền và lợi
ích hợp pháp của đương sự không đồng ý với kết luận giám định được công bố tại
phiên tòa và có yêu cầu giám định bổ sung hoặc giám định lại, nếu xét thấy việc
giám định bổ sung, giám định lại là cần thiết cho việc giải quyết vụ án thì Hội
đồng xét xử quyết định giám định bổ sung, giám định lại; trong trường hợp này,
Hội đồng xét xử quyết định tạm ngừng phiên tòa theo quy định tại điểm d khoản 1 Điều 259 của Bộ luật này.
Điều 258. Kết thúc việc hỏi tại phiên tòa
Khi nhận thấy các tình tiết của vụ án đã được
xem xét đầy đủ thì chủ tọa phiên tòa hỏi Kiểm sát viên, đương sự, người bảo vệ
quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự và những người tham gia tố tụng khác xem
họ có yêu cầu hỏi vấn đề gì nữa không; trường hợp có người yêu cầu và xét thấy
yêu cầu đó là có căn cứ thì chủ tọa phiên tòa quyết định tiếp tục việc hỏi.
1. Trong quá trình xét xử, Hội đồng xét xử có
quyền quyết định tạm ngừng phiên tòa khi có một trong các căn cứ sau đây:
a) Do tình trạng sức khỏe hoặc do sự kiện bất
khả kháng, trở ngại khách quan khác mà người tiến hành tố tụng không thể tiếp
tục tiến hành phiên tòa, trừ trường hợp thay thế được người tiến hành tố tụng;
b) Do tình trạng sức khỏe hoặc do sự kiện bất
khả kháng, trở ngại khách quan khác mà người tham gia tố tụng không thể tiếp
tục tham gia phiên tòa, trừ trường hợp người tham gia tố tụng có yêu cầu xét xử
vắng mặt;
c) Cần phải xác minh, thu thập bổ sung tài
liệu, chứng cứ mà nếu không thực hiện thì không thể giải quyết được vụ án và
không thể thực hiện được ngay tại phiên tòa;
d) Chờ kết quả giám định bổ sung, giám định
lại;
đ) Các đương sự thống nhất đề nghị Tòa án tạm
ngừng phiên tòa để họ tự hòa giải;
e) Cần phải báo cáo Chánh án Tòa án để đề
nghị sửa đổi, bổ sung hoặc bãi bỏ văn bản quy phạm pháp luật theo quy định tại Điều 221 của Bộ luật này.
2. Việc tạm ngừng phiên tòa phải được ghi vào
biên bản phiên tòa. Thời hạn tạm ngừng phiên tòa là không quá 01 tháng, kể từ
ngày Hội đồng xét xử quyết định tạm ngừng phiên tòa. Hết thời hạn này, nếu lý
do để ngừng phiên tòa không còn thì Hội đồng xét xử tiếp tục tiến hành phiên
tòa; nếu lý do để ngừng phiên tòa chưa được khắc phục thì Hội đồng xét xử ra
quyết định tạm đình chỉ giải quyết vụ án dân sự. Hội đồng xét xử phải thông báo
bằng văn bản cho những người tham gia tố tụng và Viện kiểm sát cùng cấp về thời
gian tiếp tục phiên tòa.
Điều 260. Trình tự phát biểu khi tranh luận
1. Sau khi kết thúc việc hỏi, Hội đồng xét xử
chuyển sang phần tranh luận tại phiên tòa. Trình tự phát biểu khi tranh luận
được thực hiện như sau:
a) Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của
nguyên đơn trình bày. Nguyên đơn có quyền bổ sung ý kiến. Trường hợp cơ quan,
tổ chức khởi kiện thì đại diện cơ quan, tổ chức trình bày ý kiến. Người có
quyền và lợi ích hợp pháp được bảo vệ có quyền bổ sung ý kiến;
b) Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của
bị đơn tranh luận, đối đáp. Bị đơn có quyền bổ sung ý kiến;
c) Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của
người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trình bày. Người có quyền lợi, nghĩa vụ
liên quan có quyền bổ sung ý kiến;
d) Các đương sự đối đáp theo sự điều khiển
của chủ tọa phiên tòa;
đ) Khi xét thấy cần thiết, Hội đồng xét xử có
thể yêu cầu các đương sự tranh luận bổ sung về những vấn đề cụ thể để làm căn
cứ giải quyết vụ án.
2. Trường hợp nguyên đơn, bị đơn, người có
quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không có người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp
thì họ tự mình trình bày khi tranh luận.
3. Trường hợp vắng mặt một trong các đương sự
và người tham gia tố tụng khác thì chủ tọa phiên tòa phải công bố lời khai của
họ để trên cơ sở đó các đương sự có mặt tại phiên tòa tranh luận và đối đáp.
Điều 261. Phát biểu khi tranh luận và đối đáp
Khi phát biểu về đánh giá chứng cứ, đề xuất
quan điểm của mình về việc giải quyết vụ án, người tham gia tranh luận phải căn
cứ vào tài liệu, chứng cứ đã thu thập được và đã được xem xét, kiểm tra tại
phiên tòa cũng như kết quả việc hỏi tại phiên tòa. Người tham gia tranh luận có
quyền đáp lại ý kiến của người khác.
Điều 262. Phát biểu của Kiểm sát viên
Sau khi những người tham gia tố tụng phát
biểu tranh luận và đối đáp xong, Kiểm sát viên phát biểu ý kiến về việc tuân
theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và của
người tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý cho
đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án và phát biểu ý kiến về việc giải
quyết vụ án.
Ngay sau khi kết thúc phiên tòa, Kiểm sát
viên phải gửi văn bản phát biểu ý kiến cho Tòa án để lưu vào hồ sơ vụ án.
Điều 263. Trở lại việc hỏi và tranh luận
Qua tranh luận, nếu xét thấy có tình tiết của
vụ án chưa được xem xét, việc xem xét chưa được đầy đủ hoặc cần xem xét thêm
chứng cứ thì Hội đồng xét xử quyết định trở lại việc hỏi và tranh luận.
1. Sau khi kết thúc phần tranh luận, Hội đồng
xét xử vào phòng nghị án để nghị án.
2. Chỉ có các thành viên Hội đồng xét xử mới
có quyền nghị án. Khi nghị án, các thành viên Hội đồng xét xử phải căn cứ vào
tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa, kết quả tranh tụng tại phiên
tòa, các quy định của pháp luật, nếu vụ án thuộc trường hợp quy định tại khoản 2 Điều 4 của Bộ luật này thì còn phải căn cứ vào tập
quán, tương tự pháp luật, những nguyên tắc cơ bản của pháp luật dân sự, án lệ
hoặc lẽ công bằng, để giải quyết tất cả các vấn đề của vụ án bằng cách biểu
quyết theo đa số về từng vấn đề. Hội thẩm nhân dân biểu quyết trước, Thẩm phán
chủ tọa phiên tòa biểu quyết sau cùng. Người có ý kiến thiểu số có quyền trình
bày ý kiến của mình bằng văn bản và được đưa vào hồ sơ vụ án.
3. Khi nghị án phải có biên bản ghi lại các ý
kiến đã thảo luận và quyết định của Hội đồng xét xử. Biên bản nghị án phải được
các thành viên Hội đồng xét xử ký tên tại phòng nghị án trước khi tuyên án.
4. Trường hợp vụ án có nhiều tình tiết phức
tạp, việc nghị án đòi hỏi phải có thời gian dài thì Hội đồng xét xử có thể
quyết định thời gian nghị án nhưng không quá 05 ngày làm việc, kể từ khi kết
thúc tranh luận tại phiên tòa.
Hội đồng xét xử phải thông báo cho những
người có mặt tại phiên tòa và người tham gia tố tụng vắng mặt tại phiên tòa về
giờ, ngày và địa điểm tuyên án. Trường hợp Hội đồng xét xử đã thực hiện việc
thông báo mà có người tham gia tố tụng vắng mặt vào ngày, giờ và địa điểm tuyên
án thì Hội đồng xét xử vẫn tiến hành việc tuyên án theo quy định tại Điều 267 của Bộ luật này.
Điều 265. Trở lại việc hỏi và tranh luận
Qua nghị án, nếu xét thấy có tình tiết của vụ
án chưa được xem xét, việc hỏi chưa đầy đủ hoặc cần xem xét thêm chứng cứ thì
Hội đồng xét xử quyết định trở lại việc hỏi và tranh luận.
1. Tòa án ra bản án nhân danh nước Cộng hòa
xã hội chủ nghĩa Việt Nam.
2. Bản án gồm có phần mở đầu, phần nội dung
vụ án và nhận định và phần quyết định của Tòa án, cụ thể như sau:
a) Trong phần mở đầu phải ghi rõ tên Tòa án
xét xử sơ thẩm; số và ngày thụ lý vụ án; số bản án và ngày tuyên án; họ, tên
của các thành viên Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa, Kiểm sát viên, người giám
định, người phiên dịch; tên, địa chỉ của nguyên đơn, bị đơn, người có quyền
lợi, nghĩa vụ liên quan, cơ quan, tổ chức, cá nhân khởi kiện; người đại diện
hợp pháp, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự; đối tượng tranh
chấp; số, ngày, tháng, năm của quyết định đưa vụ án ra xét xử; xét xử công khai
hoặc xét xử kín; thời gian và địa điểm xét xử;
b) Trong phần nội dung vụ án và nhận định của
Tòa án phải ghi yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, yêu cầu khởi kiện của cơ
quan, tổ chức, cá nhân; yêu cầu phản tố, đề nghị của bị đơn; yêu cầu độc lập,
đề nghị của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan.
Tòa án phải căn cứ vào tài liệu, chứng cứ đã
được xem xét tại phiên tòa, kết quả tranh tụng tại phiên tòa để phân tích, đánh
giá, nhận định đầy đủ, khách quan về các tình tiết của vụ án, những căn cứ pháp
luật, nếu vụ án thuộc trường hợp quy định tại khoản 2 Điều 4
của Bộ luật này thì còn phải căn cứ vào tập quán, tương tự pháp luật, những
nguyên tắc cơ bản của pháp luật dân sự, án lệ hoặc lẽ công bằng, để chấp nhận
hoặc không chấp nhận yêu cầu, đề nghị của đương sự, người bảo vệ quyền và lợi
ích hợp pháp của đương sự và giải quyết các vấn đề khác có liên quan;
c) Trong phần quyết định phải ghi rõ các căn
cứ pháp luật, quyết định của Hội đồng xét xử về từng vấn đề phải giải quyết
trong vụ án, về áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời, án phí, chi phí tố tụng và
quyền kháng cáo đối với bản án; trường hợp có quyết định phải thi hành ngay thì
phải ghi rõ quyết định đó.
3. Khi xét xử lại vụ án mà bản án, quyết định
đã bị hủy một phần hoặc toàn bộ theo quyết định giám đốc thẩm, tái thẩm thì Tòa
án phải giải quyết vấn đề tài sản, nghĩa vụ đã được thi hành (nếu có) theo bản
án, quyết định có hiệu lực pháp luật nhưng bị hủy và ghi rõ trong bản án.
Hội đồng xét xử tuyên đọc bản án với sự có
mặt của các đương sự, đại diện cơ quan, tổ chức và cá nhân khởi kiện. Trường
hợp đương sự có mặt tại phiên tòa nhưng vắng mặt khi tuyên án hoặc vắng mặt
trong trường hợp quy định tại khoản 4 Điều 264 của Bộ luật này
thì Hội đồng xét xử vẫn tuyên đọc bản án.
Khi tuyên án, mọi người trong phòng xử án
phải đứng dậy, trừ trường hợp đặc biệt được sự đồng ý của chủ tọa phiên tòa.
Chủ tọa phiên tòa hoặc một thành viên khác của Hội đồng xét xử tuyên đọc bản án
và có thể giải thích thêm về việc thi hành bản án và quyền kháng cáo.
Trường hợp Tòa án xét xử kín theo quy định
tại khoản 2 Điều 15 của Bộ luật này thì Hội đồng xét xử
chỉ tuyên công khai phần mở đầu và phần quyết định của bản án.
Trường hợp đương sự cần có người phiên dịch
thì người phiên dịch phải dịch lại cho họ nghe toàn bộ bản án hoặc phần mở đầu
và phần quyết định của bản án được tuyên công khai.
Điều 268. Sửa chữa, bổ sung bản án
1. Sau khi tuyên án xong thì không được sửa
chữa, bổ sung bản án, trừ trường hợp phát hiện lỗi rõ ràng về chính tả, về số
liệu do nhầm lẫn hoặc tính toán sai.
2. Trường hợp cần sửa chữa, bổ sung bản án
theo quy định tại khoản 1 Điều này thì Thẩm phán phối hợp với các Hội thẩm nhân
dân là thành viên Hội đồng xét xử đã tuyên bản án đó phải ra quyết định sửa
chữa, bổ sung bản án và gửi ngay cho đương sự, cơ quan, tổ chức, cá nhân khởi
kiện, Viện kiểm sát cùng cấp và cơ quan thi hành án dân sự nếu bản án đã được
gửi cho cơ quan thi hành án dân sự.
Trường hợp Thẩm phán đã xét xử vụ án đó không
còn đảm nhiệm chức vụ Thẩm phán tại Tòa án đã ra bản án đó thì Chánh án Tòa án
thực hiện việc sửa chữa, bổ sung bản án.
Điều 269. Cấp trích lục bản án; giao, gửi bản
án
1. Trong thời hạn 03 ngày làm việc, kể từ
ngày kết thúc phiên tòa, các đương sự, cơ quan, tổ chức, cá nhân khởi kiện được
Tòa án cấp trích lục bản án.
2. Trong thời hạn 10 ngày, kể từ ngày tuyên
án, Tòa án phải giao hoặc gửi bản án cho các đương sự, cơ quan, tổ chức, cá
nhân khởi kiện và Viện kiểm sát cùng cấp.
3. Bản án sơ thẩm có hiệu lực pháp luật của
Tòa án giải quyết vụ án dân sự bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng do tổ chức xã
hội tham gia bảo vệ người tiêu dùng khởi kiện phải được niêm yết công khai tại
trụ sở Tòa án và công bố công khai trên một trong các báo hàng ngày của trung
ương hoặc địa phương trong ba số liên tiếp.
Bản án sơ thẩm có hiệu lực pháp luật của Tòa
án có liên quan đến trách nhiệm bồi thường của Nhà nước phải được Tòa án cấp sơ
thẩm gửi cho cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền về bồi thường nhà nước.
Bản án sơ thẩm có hiệu lực pháp luật của Tòa
án có liên quan đến việc thay đổi hộ tịch của cá nhân phải được Tòa án cấp sơ
thẩm thông báo bằng văn bản kèm theo trích lục bản án cho Ủy ban nhân dân nơi
đã đăng ký hộ tịch của cá nhân đó theo quy định của Luật Hộ tịch.
Thời hạn niêm yết, công bố, gửi bản án, thông
báo quy định tại khoản này là 05 ngày làm việc, kể từ ngày bản án có hiệu lực
pháp luật.
4. Bản án sơ thẩm có hiệu lực pháp luật của
Tòa án được công bố trên Cổng thông tin điện tử của Tòa án (nếu có), trừ bản
án, quyết định của Tòa án có chứa thông tin quy định tại khoản
2 Điều 109 của Bộ luật này.
THỦ TỤC GIẢI QUYẾT VỤ ÁN TẠI TÒA ÁN CẤP PHÚC
THẨM
TÍNH CHẤT CỦA XÉT XỬ PHÚC THẨM VÀ KHÁNG CÁO,
KHÁNG NGHỊ BẢN ÁN, QUYẾT ĐỊNH CỦA TÒA ÁN CẤP SƠ THẨM
Điều 270. Tính chất của xét xử phúc thẩm
Xét xử phúc thẩm là việc Tòa án cấp phúc thẩm
trực tiếp xét xử lại vụ án mà bản án, quyết định của Tòa án cấp sơ thẩm chưa có
hiệu lực pháp luật bị kháng cáo, kháng nghị.
Điều 271. Người có quyền kháng cáo
Đương sự, người đại diện hợp pháp của đương
sự, cơ quan, tổ chức, cá nhân khởi kiện có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm,
quyết định tạm đình chỉ giải quyết vụ án dân sự, quyết định đình chỉ giải quyết
vụ án dân sự của Tòa án cấp sơ thẩm để yêu cầu Tòa án cấp phúc thẩm giải quyết
lại theo thủ tục phúc thẩm.
1. Khi thực hiện quyền kháng cáo, người kháng
cáo phải làm đơn kháng cáo. Đơn kháng cáo phải có các nội dung chính sau đây:
a) Ngày, tháng, năm làm đơn kháng cáo;
b) Tên, địa chỉ; số điện thoại, fax, địa chỉ
thư điện tử (nếu có) của người kháng cáo;
c) Kháng cáo toàn bộ hoặc phần của bản án,
quyết định của Tòa án cấp sơ thẩm chưa có hiệu lực pháp luật;
d) Lý do của việc kháng cáo và yêu cầu của
người kháng cáo;
đ) Chữ ký hoặc điểm chỉ của người kháng cáo.
2. Người kháng cáo là cá nhân có đầy đủ năng
lực hành vi tố tụng dân sự có thể tự mình làm đơn kháng cáo. Tại mục tên, địa
chỉ của người kháng cáo trong đơn phải ghi họ, tên, địa chỉ; số điện thoại,
fax, địa chỉ thư điện tử (nếu có) của người kháng cáo. Ở phần cuối đơn kháng
cáo, người kháng cáo phải ký tên hoặc điểm chỉ.
3. Người kháng cáo quy định tại khoản 2 Điều
này nếu không tự mình kháng cáo thì có thể ủy quyền cho người khác đại diện cho
mình kháng cáo. Tại mục tên, địa chỉ của người kháng cáo trong đơn phải ghi họ,
tên, địa chỉ của người đại diện theo ủy quyền của người kháng cáo, của người
kháng cáo ủy quyền kháng cáo; số điện thoại, fax, địa chỉ thư điện tử (nếu có)
của người kháng cáo ủy quyền kháng cáo và văn bản ủy quyền. Ở phần cuối đơn
kháng cáo, người đại diện theo ủy quyền phải ký tên hoặc điểm chỉ.
4. Người đại diện theo pháp luật của đương sự
là cơ quan, tổ chức có thể tự mình làm đơn kháng cáo. Tại mục tên, địa chỉ của
người kháng cáo trong đơn phải ghi tên, địa chỉ; số điện thoại, fax, địa chỉ
thư điện tử (nếu có) của đương sự là cơ quan, tổ chức; họ, tên, chức vụ của
người đại diện theo pháp luật của đương sự là cơ quan, tổ chức. Ở phần cuối đơn
kháng cáo, người đại diện theo pháp luật phải ký tên và đóng dấu của cơ quan,
tổ chức đó, trường hợp doanh nghiệp kháng cáo thì việc sử dụng con dấu theo quy
định của Luật Doanh nghiệp.
Trường hợp người đại diện theo pháp luật của
cơ quan, tổ chức ủy quyền cho người khác kháng cáo thì tại mục tên, địa chỉ của
người kháng cáo trong đơn phải ghi họ, tên, địa chỉ của người đại diện theo ủy
quyền, của đương sự là cơ quan, tổ chức ủy quyền; số điện thoại, fax, địa chỉ
thư điện tử (nếu có) của đương sự là cơ quan, tổ chức ủy quyền; họ, tên, chức
vụ của người đại diện theo pháp luật của đương sự là cơ quan, tổ chức đó và văn
bản ủy quyền. Ở phần cuối đơn kháng cáo, người đại diện theo ủy quyền phải ký
tên hoặc điểm chỉ.
5. Người đại diện theo pháp luật của đương sự
là người chưa thành niên, người mất năng lực hành vi dân sự có thể tự mình làm
đơn kháng cáo. Tại mục tên, địa chỉ của người kháng cáo trong đơn phải ghi họ,
tên, địa chỉ của người đại diện theo pháp luật; họ, tên, địa chỉ của đương sự
là người chưa thành niên, người mất năng lực hành vi dân sự. Ở phần cuối đơn
kháng cáo, người đại diện theo pháp luật phải ký tên hoặc điểm chỉ.
Trường hợp người đại diện theo pháp luật của
đương sự ủy quyền cho người khác đại diện cho mình kháng cáo thì tại mục tên,
địa chỉ của người kháng cáo trong đơn phải ghi họ, tên, địa chỉ của người đại
diện theo ủy quyền và văn bản ủy quyền; họ, tên, địa chỉ của người đại diện
theo pháp luật của đương sự ủy quyền; họ, tên, địa chỉ của đương sự là người
chưa thành niên, người mất năng lực hành vi dân sự. Ở phần cuối đơn kháng cáo,
người đại diện theo ủy quyền phải ký tên hoặc điểm chỉ.
6. Việc ủy quyền quy định tại các khoản 3, 4
và 5 Điều này phải được làm thành văn bản có công chứng, chứng thực hợp pháp,
trừ trường hợp văn bản ủy quyền đó được lập tại Tòa án có sự chứng kiến của
Thẩm phán hoặc người được Chánh án Tòa án phân công. Trong văn bản ủy quyền
phải có nội dung đương sự ủy quyền cho người đại diện theo ủy quyền kháng cáo
bản án, quyết định tạm đình chỉ, đình chỉ giải quyết vụ án của Tòa án cấp sơ
thẩm.
7. Đơn kháng cáo phải được gửi cho Tòa án cấp
sơ thẩm đã ra bản án, quyết định sơ thẩm bị kháng cáo. Trường hợp đơn kháng cáo
được gửi cho Tòa án cấp phúc thẩm thì Tòa án đó phải chuyển cho Tòa án cấp sơ
thẩm để tiến hành các thủ tục cần thiết theo quy định của Bộ luật này.
8. Kèm theo đơn kháng cáo, người kháng cáo
phải gửi tài liệu, chứng cứ bổ sung (nếu có) để chứng minh cho kháng cáo của
mình là có căn cứ và hợp pháp.
1. Thời hạn kháng cáo đối với bản án của Tòa
án cấp sơ thẩm là 15 ngày, kể từ ngày tuyên án; đối với đương sự, đại diện cơ
quan, tổ chức hoặc cá nhân khởi kiện không có mặt tại phiên tòa hoặc không có
mặt khi tuyên án mà có lý do chính đáng thì thời hạn kháng cáo được tính từ
ngày họ nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
Đối với trường hợp đương sự, đại diện cơ
quan, tổ chức hoặc cá nhân khởi kiện đã tham gia phiên tòa nhưng vắng mặt khi
Tòa án tuyên án mà không có lý do chính đáng thì thời hạn kháng cáo được tính
từ ngày tuyên án.
2. Thời hạn kháng cáo đối với quyết định tạm
đình chỉ, đình chỉ giải quyết vụ án của Tòa án cấp sơ thẩm là 07 ngày, kể từ
ngày đương sự, cơ quan, tổ chức, cá nhân khởi kiện nhận được quyết định hoặc kể
từ ngày quyết định được niêm yết theo quy định của Bộ luật này.
3. Trường hợp đơn kháng cáo được gửi qua dịch
vụ bưu chính thì ngày kháng cáo được xác định căn cứ vào ngày tổ chức dịch vụ
bưu chính nơi gửi đóng dấu ở phong bì. Trường hợp người kháng cáo đang bị tạm
giam thì ngày kháng cáo là ngày đơn kháng cáo được giám thị trại giam xác nhận.
Điều 274. Kiểm tra đơn kháng cáo
1. Sau khi nhận được đơn kháng cáo, Tòa án
cấp sơ thẩm phải kiểm tra tính hợp lệ của đơn kháng cáo theo quy định tại Điều 272 của Bộ luật này.
2. Trường hợp đơn kháng cáo quá hạn thì Tòa
án cấp sơ thẩm yêu cầu người kháng cáo trình bày rõ lý do và xuất trình tài
liệu, chứng cứ (nếu có) để chứng minh lý do nộp đơn kháng cáo quá hạn là chính
đáng.
3. Trường hợp đơn kháng cáo chưa đúng quy
định tại Điều 272 của Bộ luật này thì Tòa án cấp sơ thẩm
yêu cầu người kháng cáo làm lại hoặc sửa đổi, bổ sung đơn kháng cáo.
4. Tòa án trả lại đơn kháng cáo trong các
trường hợp sau đây:
a) Người kháng cáo không có quyền kháng cáo;
b) Người kháng cáo không làm lại đơn kháng
cáo hoặc không sửa đổi, bổ sung đơn kháng cáo theo yêu cầu của Tòa án quy định
tại khoản 3 Điều này.
c) Trường hợp quy định tại khoản
2 Điều 276 của Bộ luật này.
Điều 275. Kháng cáo quá hạn và xem xét kháng
cáo quá hạn
1. Kháng cáo quá thời hạn quy định tại Điều 273 của Bộ luật này là kháng cáo quá hạn. Sau khi nhận
được đơn kháng cáo quá hạn, Tòa án cấp sơ thẩm phải gửi đơn kháng cáo, bản
tường trình của người kháng cáo về lý do kháng cáo quá hạn và tài liệu, chứng
cứ (nếu có) cho Tòa án cấp phúc thẩm.
2. Trong thời hạn 10 ngày, kể từ ngày nhận
được đơn kháng cáo quá hạn và tài liệu, chứng cứ kèm theo, Tòa án cấp phúc thẩm
thành lập Hội đồng gồm ba Thẩm phán để xem xét kháng cáo quá hạn. Phiên họp xem
xét kháng cáo quá hạn phải có sự tham gia của đại diện Viện kiểm sát cùng cấp
và người kháng cáo quá hạn. Trường hợp người kháng cáo, Kiểm sát viên vắng mặt
thì Tòa án vẫn tiến hành phiên họp.
3. Căn cứ vào tài liệu, chứng cứ có liên quan
đến việc kháng cáo quá hạn, ý kiến của người kháng cáo quá hạn, đại diện Viện
kiểm sát tại phiên họp, Hội đồng xét kháng cáo quá hạn quyết định theo đa số về
việc chấp nhận hoặc không chấp nhận việc kháng cáo quá hạn và phải ghi rõ lý do
của việc chấp nhận hoặc không chấp nhận trong quyết định. Tòa án cấp phúc thẩm
phải gửi quyết định cho người kháng cáo quá hạn, Tòa án cấp sơ thẩm và Viện
kiểm sát cùng cấp; nếu Tòa án cấp phúc thẩm chấp nhận việc kháng cáo quá hạn
thì Tòa án cấp sơ thẩm phải tiến hành các thủ tục do Bộ luật này quy định.
Điều 276. Thông báo nộp tiền tạm ứng án phí
phúc thẩm
1. Sau khi chấp nhận đơn kháng cáo hợp lệ,
Tòa án cấp sơ thẩm phải thông báo cho người kháng cáo biết để họ nộp tiền tạm
ứng án phí phúc thẩm theo quy định của pháp luật, nếu họ không thuộc trường hợp
được miễn hoặc không phải nộp tiền tạm ứng án phí phúc thẩm.
2. Trong thời hạn 10 ngày, kể từ ngày nhận
được thông báo của Tòa án về việc nộp tiền tạm ứng án phí phúc thẩm, người
kháng cáo phải nộp tiền tạm ứng án phí phúc thẩm và nộp cho Tòa án cấp sơ thẩm
biên lai thu tiền tạm ứng án phí phúc thẩm. Hết thời hạn này mà người kháng cáo
không nộp tiền tạm ứng án phí phúc thẩm thì được coi là từ bỏ việc kháng cáo,
trừ trường hợp có lý do chính đáng.
Trường hợp sau khi hết thời hạn 10 ngày, kể
từ ngày nhận được thông báo của Tòa án về việc nộp tiền tạm ứng án phí phúc
thẩm, người kháng cáo mới nộp cho Tòa án biên lai thu tiền tạm ứng án phí phúc
thẩm mà không nêu rõ lý do thì Tòa án cấp sơ thẩm yêu cầu người kháng cáo trong
thời hạn 03 ngày làm việc, kể từ ngày nhận được yêu cầu của Tòa án phải có văn
bản trình bày lý do chậm nộp biên lai thu tiền tạm ứng án phí phúc thẩm nộp cho
Tòa án cấp sơ thẩm để đưa vào hồ sơ vụ án. Trường hợp này được xử lý theo thủ
tục xem xét kháng cáo quá hạn.
Điều 277. Thông báo về việc kháng cáo
1. Sau khi chấp nhận đơn kháng cáo hợp lệ,
Tòa án cấp sơ thẩm phải thông báo ngay bằng văn bản cho Viện kiểm sát cùng cấp
và đương sự có liên quan đến kháng cáo biết về việc kháng cáo kèm theo bản sao
đơn kháng cáo, tài liệu, chứng cứ bổ sung mà người kháng cáo gửi kèm đơn kháng
cáo.
2. Đương sự có liên quan đến kháng cáo được
thông báo về việc kháng cáo có quyền gửi văn bản nêu ý kiến của mình về nội
dung kháng cáo cho Tòa án cấp phúc thẩm. Văn bản nêu ý kiến của họ được đưa vào
hồ sơ vụ án.
Điều 278. Kháng nghị của Viện kiểm sát
Viện trưởng Viện kiểm sát cùng cấp và cấp
trên trực tiếp có quyền kháng nghị bản án sơ thẩm, quyết định tạm đình chỉ giải
quyết vụ án dân sự, quyết định đình chỉ giải quyết vụ án dân sự của Tòa án cấp
sơ thẩm để yêu cầu Tòa án cấp phúc thẩm giải quyết lại theo thủ tục phúc thẩm.
Điều 279. Quyết định kháng nghị của Viện kiểm
sát
1. Quyết định kháng nghị của Viện kiểm sát
phải bằng văn bản và có các nội dung chính sau đây:
a) Ngày, tháng, năm ra quyết định kháng nghị
và số của quyết định kháng nghị;
b) Tên của Viện kiểm sát ra quyết định kháng
nghị;
c) Kháng nghị toàn bộ hoặc phần của bản án,
quyết định của Tòa án cấp sơ thẩm chưa có hiệu lực pháp luật;
d) Lý do của việc kháng nghị và yêu cầu của
Viện kiểm sát;
đ) Họ, tên của người ký quyết định kháng nghị
và đóng dấu của Viện kiểm sát ra quyết định kháng nghị.
2. Quyết định kháng nghị phải được gửi ngay
cho Tòa án cấp sơ thẩm đã ra bản án, quyết định sơ thẩm bị kháng nghị để Tòa án
cấp sơ thẩm tiến hành các thủ tục do Bộ luật này quy định và gửi hồ sơ vụ án
cho Tòa án cấp phúc thẩm theo quy định tại Điều 283 của Bộ
luật này.
3. Kèm theo quyết định kháng nghị là tài
liệu, chứng cứ bổ sung (nếu có) để chứng minh cho kháng nghị của Viện kiểm sát
là có căn cứ và hợp pháp.
1. Thời hạn kháng nghị đối với bản án của Tòa
án cấp sơ thẩm của Viện kiểm sát cùng cấp là 15 ngày, của Viện kiểm sát cấp
trên trực tiếp là 01 tháng, kể từ ngày tuyên án. Trường hợp Kiểm sát viên không
tham gia phiên tòa thì thời hạn kháng nghị tính từ ngày Viện kiểm sát cùng cấp
nhận được bản án.
2. Thời hạn kháng nghị của Viện kiểm sát cùng
cấp đối với quyết định tạm đình chỉ, quyết định đình chỉ giải quyết vụ án của
Tòa án cấp sơ thẩm là 07 ngày, của Viện kiểm sát cấp trên trực tiếp là 10 ngày,
kể từ ngày Viện kiểm sát cùng cấp nhận được quyết định.
3. Khi Tòa án nhận được quyết định kháng nghị
của Viện kiểm sát mà quyết định kháng nghị đó đã quá thời hạn quy định tại
khoản 1 và khoản 2 Điều này thì Tòa án cấp sơ thẩm yêu cầu Viện kiểm sát giải
thích bằng văn bản và nêu rõ lý do.
Điều 281. Thông báo về việc kháng nghị
1. Viện kiểm sát ra quyết định kháng nghị
phải gửi ngay quyết định kháng nghị cho đương sự có liên quan đến kháng nghị.
2. Người được thông báo về việc kháng nghị có
quyền gửi văn bản nêu ý kiến của mình về nội dung kháng nghị cho Tòa án cấp
phúc thẩm. Văn bản nêu ý kiến của họ được đưa vào hồ sơ vụ án.
Điều 282. Hậu quả của việc kháng cáo, kháng
nghị
1. Bản án sơ thẩm, quyết định của Tòa án cấp
sơ thẩm hoặc những phần bản án sơ thẩm, quyết định của Tòa án cấp sơ thẩm bị
kháng cáo, kháng nghị thì chưa được đưa ra thi hành, trừ trường hợp pháp luật
quy định cho thi hành ngay.
2. Bản án sơ thẩm, quyết định của Tòa án cấp
sơ thẩm hoặc những phần bản án sơ thẩm, quyết định của Tòa án cấp sơ thẩm không
bị kháng cáo, kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm thì có hiệu lực pháp luật kể từ
ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Điều 283. Gửi hồ sơ vụ án và kháng cáo, kháng
nghị
Tòa án cấp sơ thẩm phải gửi hồ sơ vụ án, đơn
kháng cáo, quyết định kháng nghị và tài liệu, chứng cứ bổ sung kèm theo cho Tòa
án cấp phúc thẩm trong thời hạn 05 ngày làm việc, kể từ ngày:
1. Hết thời hạn kháng nghị;
2. Hết thời hạn kháng cáo, người kháng cáo đã
nộp cho Tòa án cấp sơ thẩm biên lai thu tiền tạm ứng án phí phúc thẩm.
Điều 284. Thay đổi, bổ sung, rút kháng cáo,
kháng nghị
1. Trường hợp chưa hết thời hạn kháng cáo
theo quy định tại Điều 273 của Bộ luật này thì người đã
kháng cáo có quyền thay đổi, bổ sung kháng cáo mà không bị giới hạn bởi phạm vi
kháng cáo ban đầu.
Trường hợp chưa hết thời hạn kháng nghị theo
quy định tại Điều 280 của Bộ luật này thì Viện kiểm sát đã
kháng nghị có quyền thay đổi, bổ sung kháng nghị mà không bị giới hạn bởi phạm
vi kháng nghị ban đầu.
2. Trước khi bắt đầu phiên tòa hoặc tại phiên
tòa phúc thẩm, người kháng cáo có quyền thay đổi, bổ sung kháng cáo, Viện kiểm
sát đã kháng nghị có quyền thay đổi, bổ sung kháng nghị, nhưng không được vượt
quá phạm vi kháng cáo, kháng nghị ban đầu, nếu thời hạn kháng cáo, kháng nghị
đã hết.
3. Trước khi bắt đầu phiên tòa hoặc tại phiên
tòa phúc thẩm, người kháng cáo có quyền rút kháng cáo, Viện kiểm sát đã kháng
nghị hoặc Viện kiểm sát cấp trên trực tiếp có quyền rút kháng nghị.
Tòa án cấp phúc thẩm đình chỉ xét xử phúc
thẩm đối với những phần của vụ án mà người kháng cáo đã rút kháng cáo hoặc Viện
kiểm sát đã rút kháng nghị.
Việc đình chỉ xét xử phúc thẩm trước khi mở
phiên tòa do Thẩm phán chủ tọa phiên tòa quyết định, tại phiên tòa do Hội đồng
xét xử quyết định.
4. Việc thay đổi, bổ sung, rút kháng cáo,
kháng nghị trước khi mở phiên tòa phải được lập thành văn bản và gửi cho Tòa án
cấp phúc thẩm. Tòa án cấp phúc thẩm phải thông báo cho các đương sự về việc
thay đổi, bổ sung, rút kháng cáo, kháng nghị, thông báo cho Viện kiểm sát cùng
cấp về việc thay đổi, bổ sung, rút kháng cáo.
Việc thay đổi, bổ sung, rút kháng cáo, kháng
nghị tại phiên tòa phải được ghi vào biên bản phiên tòa.
Điều 285. Thụ lý vụ án để xét xử phúc thẩm
1. Ngay sau khi nhận được hồ sơ vụ án, kháng
cáo, kháng nghị và tài liệu, chứng cứ kèm theo, Tòa án cấp phúc thẩm phải vào
sổ thụ lý.
Trong thời hạn 03 ngày làm việc, kể từ ngày
thụ lý vụ án, Tòa án phải thông báo bằng văn bản cho các đương sự, cơ quan, tổ
chức, cá nhân khởi kiện và Viện kiểm sát cùng cấp về việc Tòa án đã thụ lý vụ
án và thông báo trên Cổng thông tin điện tử của Tòa án (nếu có).
2. Chánh án Tòa án cấp phúc thẩm thành lập
Hội đồng xét xử phúc thẩm và phân công một Thẩm phán làm chủ tọa phiên tòa.
Điều 286. Thời hạn chuẩn bị xét xử phúc thẩm
1. Trong thời hạn 02 tháng, kể từ ngày thụ lý
vụ án, tuỳ từng trường hợp, Tòa án cấp phúc thẩm ra một trong các quyết định
sau đây:
a) Tạm đình chỉ xét xử phúc thẩm vụ án;
b) Đình chỉ xét xử phúc thẩm vụ án;
c) Đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm.
Đối với vụ án có tính chất phức tạp hoặc do
sự kiện bất khả kháng, trở ngại khách quan thì Chánh án Tòa án cấp phúc thẩm có
thể quyết định kéo dài thời hạn chuẩn bị xét xử, nhưng không được quá 01 tháng.
2. Trong thời hạn 01 tháng, kể từ ngày có
quyết định đưa vụ án ra xét xử, Tòa án phải mở phiên tòa phúc thẩm; trường hợp
có lý do chính đáng thì thời hạn này là 02 tháng.
3. Trường hợp có quyết định tạm đình chỉ xét
xử phúc thẩm vụ án thì thời hạn chuẩn bị xét xử phúc thẩm được tính lại kể từ
ngày quyết định tiếp tục giải quyết vụ án của Tòa án có hiệu lực pháp luật.
4. Thời hạn quy định tại Điều này không áp
dụng đối với vụ án xét xử phúc thẩm theo thủ tục rút gọn, vụ án có yếu tố nước
ngoài.
Điều 287. Cung cấp tài liệu, chứng cứ trong
giai đoạn chuẩn bị xét xử phúc thẩm
1. Đương sự được quyền bổ sung tài liệu,
chứng cứ sau đây trong giai đoạn chuẩn bị xét xử phúc thẩm:
a) Tài liệu, chứng cứ mà Tòa án cấp sơ thẩm
đã yêu cầu giao nộp nhưng đương sự không cung cấp, giao nộp được vì có lý do
chính đáng;
b) Tài liệu, chứng cứ mà Tòa án cấp sơ thẩm
không yêu cầu đương sự giao nộp hoặc đương sự không thể biết được trong quá
trình giải quyết vụ việc theo thủ tục sơ thẩm.
2. Thủ tục giao nộp tài liệu, chứng cứ được
thực hiện theo quy định tại Điều 96 của Bộ luật này.
Điều 288. Tạm đình chỉ xét xử phúc thẩm vụ án
1. Trường hợp tòa án cấp phúc thẩm ra quyết
định tạm đình chỉ xét xử phúc thẩm vụ án thì hậu quả của việc tạm đình chỉ xét
xử phúc thẩm và việc tiếp tục xét xử phúc thẩm được thực hiện theo quy định tại
các điều 214, 215 và 216 của Bộ luật này.
2. Quyết định tạm đình chỉ xét xử phúc thẩm
vụ án có hiệu lực thi hành ngay và được gửi ngay cho đương sự, cơ quan, tổ
chức, cá nhân khởi kiện, Viện kiểm sát cùng cấp.
Điều 289. Đình chỉ xét xử phúc thẩm vụ án
1. Tòa án cấp phúc thẩm ra quyết định đình
chỉ xét xử phúc thẩm vụ án hoặc một phần vụ án trong các trường hợp sau đây:
a) Các trường hợp quy định tại điểm a và điểm b khoản 1 Điều 217 của Bộ luật này;
b) Người kháng cáo rút toàn bộ kháng cáo hoặc
Viện kiểm sát rút toàn bộ kháng nghị;
c) Người kháng cáo rút một phần kháng cáo
hoặc Viện kiểm sát rút một phần kháng nghị;
d) Các trường hợp khác theo quy định của pháp
luật.
2. Trường hợp người kháng cáo rút toàn bộ
kháng cáo hoặc Viện kiểm sát rút toàn bộ kháng nghị trước khi Tòa án cấp phúc
thẩm ra quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm thì Thẩm phán được phân công
làm chủ tọa phiên tòa ra quyết định đình chỉ xét xử phúc thẩm; trường hợp người
kháng cáo rút toàn bộ kháng cáo, Viện kiểm sát rút toàn bộ kháng nghị sau khi
Tòa án cấp phúc thẩm ra quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm thì Hội đồng
xét xử phúc thẩm ra quyết định đình chỉ xét xử phúc thẩm.
Trong các trường hợp này, bản án, quyết định
sơ thẩm có hiệu lực pháp luật từ ngày Tòa án cấp phúc thẩm ra quyết định đình
chỉ xét xử phúc thẩm.
3. Trường hợp người kháng cáo rút một phần
kháng cáo hoặc Viện kiểm sát rút một phần kháng nghị thì Hội đồng xét xử phúc
thẩm nhận định về việc người kháng cáo rút một phần kháng cáo, Viện kiểm sát
rút một phần kháng nghị và quyết định đình chỉ xét xử phần kháng cáo, kháng
nghị đó trong bản án phúc thẩm.
4. Quyết định đình chỉ xét xử phúc thẩm vụ án
có hiệu lực thi hành ngay và phải được gửi ngay cho đương sự, cơ quan tổ chức,
cá nhân khởi kiện, Viện kiểm sát cùng cấp.
Điều 290. Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc
thẩm
1. Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm
phải có các nội dung chính sau đây:
a) Các nội dung quy định tại các điểm a, b, c, d, g, h và i khoản 1 Điều 220 của Bộ luật này;
b) Họ, tên Thẩm phán, Thư ký Tòa án; họ, tên
Thẩm phán dự khuyết (nếu có);
c) Họ, tên, tư cách tham gia tố tụng của
người kháng cáo;
d) Viện kiểm sát kháng nghị (nếu có);
đ) Họ, tên Kiểm sát viên tham gia phiên tòa;
họ, tên Kiểm sát viên dự khuyết (nếu có).
2. Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm
phải được gửi cho đương sự, Viện kiểm sát cùng cấp trong thời hạn 03 ngày làm
việc, kể từ ngày ra quyết định.
Điều 291. Quyết định áp dụng, thay đổi, hủy
bỏ biện pháp khẩn cấp tạm thời
Trong thời hạn chuẩn bị xét xử phúc thẩm, Tòa
án cấp phúc thẩm có quyền quyết định áp dụng, thay đổi, hủy bỏ biện pháp khẩn
cấp tạm thời quy định tại Chương VIII của Bộ luật này.
Điều 292. Chuyển hồ sơ vụ án cho Viện kiểm
sát nghiên cứu
1. Tòa án cấp phúc thẩm phải chuyển hồ sơ vụ
án cùng với quyết định đưa vụ án ra xét xử cho Viện kiểm sát cùng cấp nghiên
cứu.
2. Thời hạn nghiên cứu hồ sơ của Viện kiểm
sát cùng cấp là 15 ngày, kể từ ngày nhận được hồ sơ vụ án; hết thời hạn đó,
Viện kiểm sát phải trả hồ sơ vụ án cho Tòa án.
Mục 1. THỦ TỤC BẮT ĐẦU PHIÊN TÒA PHÚC THẨM
Điều 293. Phạm vi xét xử phúc thẩm
Tòa án cấp phúc thẩm chỉ xem xét lại phần của
bản án sơ thẩm, quyết định của Tòa án cấp sơ thẩm có kháng cáo, kháng nghị hoặc
có liên quan đến việc xem xét nội dung kháng cáo, kháng nghị.
Điều 294. Những người tham gia phiên tòa phúc
thẩm
1. Người kháng cáo, đương sự, cơ quan, tổ
chức, cá nhân có liên quan đến việc giải quyết kháng cáo, kháng nghị và người
bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự phải được triệu tập tham gia
phiên tòa. Tòa án có thể triệu tập những người tham gia tố tụng khác tham gia
phiên tòa nếu xét thấy cần thiết cho việc giải quyết kháng cáo, kháng nghị.
2. Kiểm sát viên Viện kiểm sát cùng cấp tham
gia phiên tòa phúc thẩm.
Điều 295. Tạm đình chỉ, đình chỉ xét xử phúc
thẩm tại phiên tòa
Tại phiên tòa phúc thẩm, việc tạm đình chỉ,
đình chỉ xét xử phúc thẩm vụ án được thực hiện theo quy định tại Điều 288 và Điều 289 của Bộ luật này.
Điều 296. Hoãn phiên tòa phúc thẩm
1. Kiểm sát viên được phân công tham gia
phiên tòa phúc thẩm vắng mặt thì Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử, không
hoãn phiên tòa, trừ trường hợp Viện kiểm sát có kháng nghị phúc thẩm.
2. Người kháng cáo, người không kháng cáo
nhưng có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến việc kháng cáo, kháng nghị, người
bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của họ được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ
nhất mà vắng mặt thì phải hoãn phiên tòa. Trường hợp họ có đơn đề nghị xét xử
vắng mặt thì Tòa án tiến hành phiên tòa phúc thẩm xét xử vắng mặt họ.
3. Người kháng cáo được Tòa án triệu tập hợp
lệ lần thứ hai mà vắng mặt thì bị coi như từ bỏ việc kháng cáo và Tòa án đình
chỉ xét xử phúc thẩm đối với yêu cầu kháng cáo của người đó, trừ trường hợp
người đó đề nghị xét xử vắng mặt thì Tòa án tiến hành phiên tòa phúc thẩm xét
xử vắng mặt họ.
Trường hợp người kháng cáo vắng mặt vì sự
kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan thì phải hoãn phiên tòa.
Trường hợp có nhiều người kháng cáo, trong đó
có người kháng cáo được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai mà vắng mặt nhưng
không có đơn đề nghị xét xử vắng mặt thì coi như người đó từ bỏ việc kháng cáo
và Tòa án đưa vụ án ra xét xử. Trong phần quyết định của bản án, Tòa án đình
chỉ xét xử phúc thẩm đối với phần kháng cáo của người kháng cáo vắng mặt đó.
Người không kháng cáo nhưng có quyền lợi,
nghĩa vụ liên quan đến việc kháng cáo, kháng nghị và những người tham gia tố
tụng khác đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai mà vẫn vắng mặt thì Tòa
án tiến hành xét xử vụ án.
4. Thời hạn hoãn phiên tòa và quyết định hoãn
phiên tòa phúc thẩm được thực hiện theo quy định tại Điều 233
của Bộ luật này.
Điều 297. Chuẩn bị khai mạc phiên tòa phúc
thẩm và thủ tục bắt đầu phiên tòa phúc thẩm
Chuẩn bị khai mạc phiên tòa phúc thẩm và thủ
tục bắt đầu phiên tòa phúc thẩm được thực hiện theo quy định tại các điều 237, 239, 240, 241 và 242 của Bộ luật
này.
1. Sau khi kết thúc thủ tục bắt đầu phiên tòa
phúc thẩm thì một thành viên của Hội đồng xét xử phúc thẩm công bố nội dung vụ
án, quyết định của bản án sơ thẩm và nội dung kháng cáo, kháng nghị.
2. Chủ tọa phiên tòa hỏi về các vấn đề sau
đây:
a) Hỏi nguyên đơn có rút đơn khởi kiện hay
không;
b) Hỏi người kháng cáo, Kiểm sát viên có thay
đổi, bổ sung, rút kháng cáo, kháng nghị hay không;
c) Hỏi các đương sự có thoả thuận được với
nhau về việc giải quyết vụ án hay không.
3. Trường hợp người kháng cáo rút một phần
kháng cáo, Viện kiểm sát rút một phần kháng nghị thì Tòa án chấp nhận việc rút
kháng cáo, kháng nghị. Trường hợp người kháng cáo, Viện kiểm sát bổ sung nội
dung mới vượt quá phạm vi kháng cáo, kháng nghị ban đầu thì Tòa án không xem
xét nội dung đó.
Điều 299. Nguyên đơn rút đơn khởi kiện trước
khi mở phiên tòa hoặc tại phiên tòa phúc thẩm
1. Trước khi mở phiên tòa hoặc tại phiên tòa
phúc thẩm, nếu nguyên đơn rút đơn khởi kiện thì Hội đồng xét xử phúc thẩm phải
hỏi bị đơn có đồng ý hay không và tuỳ từng trường hợp mà giải quyết như sau:
a) Bị đơn không đồng ý thì không chấp nhận
việc rút đơn khởi kiện của nguyên đơn;
b) Bị đơn đồng ý thì chấp nhận việc rút đơn
khởi kiện của nguyên đơn. Hội đồng xét xử phúc thẩm ra quyết định hủy bản án sơ
thẩm và đình chỉ giải quyết vụ án. Trong trường hợp này, các đương sự vẫn phải
chịu án phí sơ thẩm theo quyết định của Tòa án cấp sơ thẩm và phải chịu một nửa
án phí phúc thẩm theo quy định của pháp luật.
2. Trường hợp Hội đồng xét xử phúc thẩm ra
quyết định đình chỉ giải quyết vụ án theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều này
thì nguyên đơn có quyền khởi kiện lại vụ án theo thủ tục do Bộ luật này quy
định.
Điều 300. Công nhận sự thoả thuận của các
đương sự tại phiên tòa phúc thẩm
1. Tại phiên tòa phúc thẩm, nếu các đương sự
thoả thuận được với nhau về việc giải quyết vụ án và thoả thuận của họ là tự
nguyện, không vi phạm điều cấm của luật và không trái đạo đức xã hội thì Hội
đồng xét xử phúc thẩm ra bản án phúc thẩm sửa bản án sơ thẩm, công nhận sự thoả
thuận của các đương sự.
2. Các đương sự tự thoả thuận với nhau về
việc chịu án phí sơ thẩm, nếu không thoả thuận được thì Tòa án quyết định theo
quy định của pháp luật.
Mục 2. TRANH TỤNG TẠI PHIÊN TÒA PHÚC THẨM
Điều 301. Nội dung và phương thức tranh tụng
tại phiên tòa phúc thẩm
Nội dung và phương thức tranh tụng tại phiên
tòa phúc thẩm được thực hiện theo quy định tại Điều 247 của Bộ
luật này.
Điều 302. Trình bày của đương sự, Kiểm sát
viên tại phiên tòa phúc thẩm
Trường hợp có đương sự vẫn giữ kháng cáo,
Viện kiểm sát vẫn giữ kháng nghị thì việc trình bày tại phiên tòa phúc thẩm
được tiến hành như sau:
1. Trình bày kháng cáo, kháng nghị:
a) Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của
người kháng cáo trình bày nội dung kháng cáo, căn cứ của việc kháng cáo. Người
kháng cáo có quyền bổ sung ý kiến.
Trường hợp tất cả đương sự đều kháng cáo thì
việc trình bày được thực hiện theo thứ tự người bảo vệ quyền và lợi ích hợp
pháp của nguyên đơn kháng cáo và nguyên đơn; người bảo vệ quyền và lợi ích hợp
pháp của bị đơn kháng cáo và bị đơn; người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của
người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan kháng cáo và người có quyền lợi, nghĩa
vụ liên quan;
b) Trường hợp chỉ có Viện kiểm sát kháng nghị
thì Kiểm sát viên trình bày về nội dung kháng nghị, căn cứ của việc kháng nghị.
Trường hợp vừa có kháng cáo, vừa có kháng nghị thì các đương sự trình bày về
nội dung kháng cáo và các căn cứ của việc kháng cáo trước, sau đó Kiểm sát viên
trình bày về nội dung kháng nghị và các căn cứ của việc kháng nghị;
c) Trường hợp đương sự không có người bảo vệ
quyền và lợi ích hợp pháp cho mình thì họ tự trình bày ý kiến về nội dung kháng
cáo và đề nghị của mình.
2. Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của
các đương sự khác có liên quan đến kháng cáo, kháng nghị trình bày ý kiến về
nội dung kháng cáo, kháng nghị. Đương sự có quyền bổ sung ý kiến.
3. Tại phiên tòa phúc thẩm, đương sự, Kiểm
sát viên có quyền xuất trình bổ sung tài liệu, chứng cứ.
Điều 303. Thủ tục hỏi và công bố tài liệu,
chứng cứ, xem xét vật chứng tại phiên tòa phúc thẩm
1. Thủ tục hỏi những người tham gia tố tụng
và công bố tài liệu, chứng cứ, xem xét vật chứng quy định tại Điều
287 của Bộ luật này tại phiên tòa phúc thẩm được thực hiện như tại phiên
tòa sơ thẩm.
2. Việc hỏi được thực hiện đối với những vấn
đề thuộc phạm vi xét xử phúc thẩm quy định tại Điều 293 của Bộ
luật này.
Điều 304. Tạm ngừng phiên tòa phúc thẩm
Việc tạm ngừng phiên tòa phúc thẩm được thực
hiện theo quy định tại Điều 259 của Bộ luật này.
Điều 305. Tranh luận tại phiên tòa phúc thẩm
1. Tại phiên tòa phúc thẩm, đương sự, người
bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự chỉ được tranh luận về những vấn
đề thuộc phạm vi xét xử phúc thẩm và đã được hỏi tại phiên tòa phúc thẩm.
2. Trình tự tranh luận đối với kháng cáo được
thực hiện như sau:
a) Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của
người kháng cáo trình bày. Người kháng cáo có quyền bổ sung ý kiến;
b) Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của
đương sự tranh luận, đối đáp. Đương sự có quyền bổ sung ý kiến;
c) Khi xét thấy cần thiết, Hội đồng xét xử có
thể yêu cầu các đương sự tranh luận bổ sung về những vấn đề cụ thể để làm căn
cứ giải quyết vụ án.
3. Trình tự tranh luận đối với kháng nghị
được thực hiện như sau:
a) Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của
đương sự phát biểu về tính hợp pháp, tính có căn cứ của kháng nghị. Đương sự có
quyền bổ sung ý kiến;
b) Kiểm sát viên phát biểu ý kiến về những
vấn đề mà người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự, đương sự đã nêu.
4. Trường hợp đương sự không có người bảo vệ
quyền và lợi ích hợp pháp của mình thì họ tự mình tranh luận.
5. Trường hợp vắng mặt một trong các đương sự
và người tham gia tố tụng khác thì chủ tọa phiên tòa phải công bố lời khai của
họ để trên cơ sở đó các đương sự có mặt tại phiên tòa tranh luận và đối đáp.
Điều 306. Phát biểu của Kiểm sát viên tại
phiên tòa phúc thẩm
Sau khi kết thúc việc tranh luận và đối đáp,
Kiểm sát viên phát biểu ý kiến của Viện kiểm sát về việc tuân theo pháp luật
trong quá trình giải quyết vụ án dân sự ở giai đoạn phúc thẩm.
Ngay sau khi kết thúc phiên tòa, Kiểm sát
viên phải gửi văn bản phát biểu ý kiến cho Tòa án để lưu vào hồ sơ vụ án.
Việc nghị án, trở lại việc hỏi và tranh luận,
thời gian nghị án, tuyên án, sửa chữa, bổ sung bản án phúc thẩm được thực hiện
như thủ tục xét xử sơ thẩm.
Điều 308. Thẩm quyền của Hội đồng xét xử phúc
thẩm
Hội đồng xét xử phúc thẩm có quyền sau đây:
1. Giữ nguyên bản án sơ thẩm;
2. Sửa bản án sơ thẩm;
3. Hủy bản án sơ thẩm, hủy một phần bản án sơ
thẩm và chuyển hồ sơ vụ án cho Tòa án cấp sơ thẩm giải quyết lại vụ án theo thủ
tục sơ thẩm;
4. Hủy bản án sơ thẩm và đình chỉ giải quyết
vụ án;
5. Đình chỉ xét xử phúc thẩm;
6. Tạm đình chỉ việc giải quyết vụ án khi có
văn bản của Chánh án Tòa án nhân dân tối cao kiến nghị cơ quan nhà nước có thẩm
quyền xem xét sửa đổi, bổ sung hoặc bãi bỏ văn bản quy phạm pháp luật có dấu
hiệu trái với Hiến pháp, luật, nghị quyết của Quốc hội, pháp lệnh, nghị quyết
của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, văn bản quy phạm pháp luật của cơ quan nhà nước
cấp trên cho đến khi cơ quan nhà nước có thẩm quyền có văn bản trả lời Tòa án
kết quả xử lý.
Hội đồng xét xử phúc thẩm sửa một phần hoặc
toàn bộ bản án sơ thẩm nếu Tòa án cấp sơ thẩm quyết định không đúng pháp luật
trong các trường hợp sau đây:
1. Việc thu thập chứng cứ và chứng minh đã
được thực hiện đầy đủ và theo đúng quy định tại Chương VII của Bộ luật này;
2. Việc thu thập chứng cứ và chứng minh chưa
được thực hiện đầy đủ ở cấp sơ thẩm nhưng tại phiên tòa phúc thẩm đã được bổ
sung đầy đủ.
Hội đồng xét xử phúc thẩm hủy bản án sơ thẩm,
hủy một phần bản án sơ thẩm và chuyển hồ sơ vụ án cho Tòa án cấp sơ thẩm giải
quyết lại vụ án theo thủ tục sơ thẩm khi thuộc một trong các trường hợp sau
đây:
1. Việc thu thập chứng cứ và chứng minh không
theo đúng quy định tại Chương VII của Bộ luật này hoặc chưa được thực hiện đầy
đủ mà tại phiên tòa phúc thẩm không thể thực hiện bổ sung được;
2. Thành phần của Hội đồng xét xử sơ thẩm
không đúng quy định của Bộ luật này hoặc có vi phạm nghiêm trọng khác về thủ
tục tố tụng ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự.
Điều 311. Hủy bản án sơ thẩm và đình chỉ giải
quyết vụ án
Hội đồng xét xử phúc thẩm hủy bản án sơ thẩm
và đình chỉ giải quyết vụ án nếu trong quá trình giải quyết vụ án tại Tòa án
cấp sơ thẩm, vụ án thuộc một trong các trường hợp quy định tại Điều
217, điểm b khoản 1 Điều 299 của Bộ luật này.
Điều 312. Đình chỉ xét xử phúc thẩm
Hội đồng xét xử phúc thẩm đình chỉ xét xử
phúc thẩm và giữ nguyên bản án sơ thẩm khi thuộc một trong các trường hợp sau
đây:
1. Theo quy định tại khoản 2
Điều 289 của Bộ luật này;
2. Người kháng cáo đã được triệu tập hợp lệ
lần thứ hai mà không có mặt theo quy định tại khoản 3 Điều 296
của Bộ luật này, trừ trường hợp vụ án có người khác kháng cáo, Viện kiểm
sát kháng nghị.
1. Hội đồng xét xử phúc thẩm ra bản án phúc
thẩm nhân danh nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam.
2. Bản án phúc thẩm gồm có:
a) Phần mở đầu;
b) Phần nội dung vụ án, kháng cáo, kháng nghị
và nhận định;
c) Phần quyết định.
3. Trong phần mở đầu phải ghi rõ tên của Tòa
án xét xử phúc thẩm; số và ngày thụ lý vụ án; số bản án và ngày tuyên án; họ,
tên của các thành viên Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa, Kiểm sát viên, người
giám định, người phiên dịch; tên, địa chỉ của nguyên đơn, bị đơn, người có
quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, cơ quan, tổ chức, cá nhân khởi kiện; người đại
diện hợp pháp, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của họ; người kháng cáo,
Viện kiểm sát kháng nghị; xét xử công khai hoặc xét xử kín; thời gian và địa điểm
xét xử.
4. Trong phần nội dung vụ án, kháng cáo,
kháng nghị và nhận định phải tóm tắt nội dung vụ án, quyết định của Tòa án cấp
sơ thẩm; nội dung kháng cáo, kháng nghị.
Tòa án phải căn cứ vào tài liệu, chứng cứ đã
được xem xét tại phiên tòa, kết quả tranh tụng tại phiên tòa để phân tích, đánh
giá, nhận định về kháng cáo, kháng nghị, các tình tiết của vụ án, việc giải
quyết, xét xử của Tòa án cấp sơ thẩm, những căn cứ pháp luật mà Tòa án áp dụng,
nếu vụ án thuộc trường hợp quy định tại khoản 2 Điều 4 của Bộ
luật này thì còn phải căn cứ vào tập quán, tương tự pháp luật, những nguyên
tắc cơ bản của pháp luật dân sự, án lệ hoặc lẽ công bằng, để chấp nhận hoặc
không chấp nhận kháng cáo, kháng nghị và giải quyết các vấn đề khác có liên
quan.
Trong phần quyết định phải ghi rõ các căn cứ
pháp luật, quyết định của Hội đồng xét xử về từng vấn đề phải giải quyết trong
vụ án, về áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời, án phí sơ thẩm, phúc thẩm, chi
phí tố tụng (nếu có).
5. Khi xét xử lại vụ án mà bản án, quyết định
đã bị hủy một phần hoặc toàn bộ theo quyết định giám đốc thẩm, tái thẩm thì Tòa
án phải giải quyết vấn đề tài sản, nghĩa vụ đã được thi hành (nếu có) theo bản
án, quyết định có hiệu lực pháp luật nhưng bị hủy và ghi rõ trong bản án.
6. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể
từ ngày tuyên án.
Điều 314. Thủ tục phúc thẩm đối với quyết
định của Tòa án cấp sơ thẩm bị kháng cáo, kháng nghị
1. Khi phúc thẩm đối với quyết định của Tòa
án cấp sơ thẩm bị kháng cáo, kháng nghị, Hội đồng phúc thẩm không phải mở phiên
tòa, không phải triệu tập các đương sự, trừ trường hợp cần phải nghe ý kiến của
họ trước khi ra quyết định.
2. Trong thời hạn 01 tháng, kể từ ngày thụ lý
vụ án có quyết định của Tòa án cấp sơ thẩm bị kháng cáo, kháng nghị, Tòa án
phải mở phiên họp phúc thẩm để xem xét quyết định đó; trường hợp có lý do chính
đáng thì thời hạn này là 02 tháng. Kiểm sát viên Viện kiểm sát cùng cấp tham
gia phiên họp phúc thẩm. Kiểm sát viên vắng mặt thì Tòa án vẫn tiến hành phiên
họp, trừ trường hợp Viện kiểm sát có kháng nghị.
3. Một thành viên của Hội đồng phúc thẩm
trình bày tóm tắt nội dung quyết định sơ thẩm bị kháng cáo, kháng nghị, nội
dung của kháng cáo, kháng nghị và tài liệu, chứng cứ kèm theo (nếu có).
4. Kiểm sát viên phát biểu ý kiến của Viện
kiểm sát về việc giải quyết kháng cáo, kháng nghị trước khi Hội đồng phúc thẩm
ra quyết định.
5. Khi xem xét quyết định của Tòa án cấp sơ
thẩm bị kháng cáo, kháng nghị, Hội đồng phúc thẩm có quyền:
a) Giữ nguyên quyết định của Tòa án cấp sơ
thẩm;
b) Sửa quyết định của Tòa án cấp sơ thẩm;
c) Hủy quyết định của Tòa án cấp sơ thẩm và
chuyển hồ sơ vụ án cho Tòa án cấp sơ thẩm để tiếp tục giải quyết vụ án.
6. Quyết định phúc thẩm có hiệu lực pháp luật
kể từ ngày ra quyết định.
Điều 315. Gửi bản án, quyết định phúc thẩm
1.[50] Trong thời hạn 15
ngày, kể từ ngày ra bản án, quyết định phúc thẩm, Tòa án cấp phúc thẩm phải gửi
bản án, quyết định phúc thẩm cho Tòa án đã xét xử sơ thẩm, Viện kiểm sát cùng
cấp, cơ quan thi hành án dân sự có thẩm quyền, người kháng cáo, người có quyền
lợi, nghĩa vụ liên quan đến việc kháng cáo, kháng nghị hoặc người đại diện hợp
pháp của họ.
2. Bản án, quyết định phúc thẩm có liên quan
đến bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng do tổ chức xã hội tham gia bảo vệ người
tiêu dùng khởi kiện phải được niêm yết công khai tại trụ sở Tòa án và công bố
công khai trên một trong các báo hàng ngày của trung ương hoặc địa phương trong
ba số liên tiếp.
Bản án, quyết định phúc thẩm có liên quan đến
trách nhiệm bồi thường của Nhà nước phải được Tòa án cấp phúc thẩm gửi cho cơ
quan quản lý nhà nước có thẩm quyền về bồi thường nhà nước.
Bản án, quyết định phúc thẩm có liên quan đến
việc thay đổi hộ tịch của cá nhân thì trong thời hạn 05 ngày làm việc, kể từ
ngày bản án, quyết định đó có hiệu lực pháp luật phải được Tòa án cấp phúc thẩm
thông báo bằng văn bản kèm theo trích lục bản án, quyết định cho Ủy ban nhân
dân nơi đã đăng ký hộ tịch của cá nhân đó theo quy định của Luật Hộ tịch.
3. Bản án phúc thẩm được Tòa án cấp phúc thẩm
công bố trên Cổng thông tin điện tử của Tòa án (nếu có), trừ trường hợp có chứa
thông tin quy định tại khoản 2 Điều 109 của Bộ luật này.
GIẢI QUYẾT VỤ ÁN DÂN SỰ THEO THỦ TỤC RÚT GỌN
GIẢI QUYẾT VỤ ÁN DÂN SỰ THEO THỦ TỤC RÚT GỌN
TẠI TÒA ÁN CẤP SƠ THẨM
Điều 316. Phạm vi áp dụng thủ tục rút gọn
1. Thủ tục rút gọn là thủ tục tố tụng được áp
dụng để giải quyết vụ án dân sự có đủ điều kiện theo quy định của Bộ luật này
với trình tự đơn giản so với thủ tục giải quyết các vụ án dân sự thông thường
nhằm giải quyết vụ án nhanh chóng nhưng vẫn bảo đảm đúng pháp luật.
2. Những quy định của Phần này được áp dụng
để giải quyết vụ án theo thủ tục rút gọn; trường hợp không có quy định thì áp
dụng những quy định khác của Bộ luật này để giải quyết vụ án.
3. Trường hợp luật khác có quy định tranh
chấp dân sự được giải quyết theo thủ tục rút gọn thì việc giải quyết tranh chấp
đó được thực hiện theo thủ tục quy định tại Phần này.
Điều 317. Điều kiện áp dụng thủ tục rút gọn
1. Trừ trường hợp quy định tại khoản 5 Điều
này, Tòa án giải quyết vụ án theo thủ tục rút gọn khi có đủ các điều kiện sau
đây:[51]
a) Vụ án có tình tiết đơn giản, quan hệ pháp
luật rõ ràng, đương sự đã thừa nhận nghĩa vụ; tài liệu, chứng cứ đầy đủ, bảo
đảm đủ căn cứ để giải quyết vụ án và Tòa án không phải thu thập tài liệu, chứng
cứ;
b) Các đương sự đều có địa chỉ nơi cư trú,
trụ sở rõ ràng;
c) Không có đương sự cư trú ở nước ngoài, tài
sản tranh chấp ở nước ngoài, trừ trường hợp đương sự ở nước ngoài và đương sự ở
Việt Nam có thỏa thuận đề nghị Tòa án giải quyết theo thủ tục rút gọn hoặc các
đương sự đã xuất trình được chứng cứ về quyền sở hữu hợp pháp tài sản và có
thỏa thuận thống nhất về việc xử lý tài sản.
2. Đối với vụ án lao động đã được thụ lý,
giải quyết theo thủ tục rút gọn mà người sử dụng lao động có quốc tịch nước
ngoài hoặc người đại diện theo pháp luật của họ đã rời khỏi địa chỉ nơi cư trú,
nơi có trụ sở mà không thông báo cho đương sự khác, Tòa án thì bị coi là trường
hợp cố tình giấu địa chỉ. Tòa án vẫn giải quyết vụ án đó theo thủ tục rút gọn
quy định tại Phần này.
3. Trong giai đoạn chuẩn bị xét xử vụ án theo
thủ tục rút gọn, nếu xuất hiện tình tiết mới sau đây làm cho vụ án không còn đủ
điều kiện để giải quyết theo thủ tục rút gọn thì Tòa án ra quyết định chuyển vụ
án sang giải quyết theo thủ tục thông thường:
a) Phát sinh tình tiết mới mà các đương sự
không thống nhất do đó cần phải xác minh, thu thập thêm tài liệu, chứng cứ hoặc
cần phải tiến hành giám định;
b) Cần phải định giá, thẩm định giá tài sản
tranh chấp mà các đương sự không thống nhất về giá;
c) Cần phải áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm
thời;
d) Phát sinh người có quyền lợi, nghĩa vụ
liên quan;
đ) Phát sinh yêu cầu phản tố hoặc yêu cầu độc
lập;
e) Phát sinh đương sự cư trú ở nước ngoài,
tài sản tranh chấp ở nước ngoài, yêu cầu xác minh, thu thập chứng cứ ở nước
ngoài mà cần phải thực hiện ủy thác tư pháp, trừ trường hợp quy định tại điểm c
khoản 1 Điều này.
4. Trường hợp chuyển vụ án sang giải quyết
theo thủ tục thông thường thì thời hạn chuẩn bị xét xử vụ án được tính lại kể
từ ngày ra quyết định chuyển vụ án sang giải quyết theo thủ tục thông thường.
5.[52] Điều kiện áp dụng thủ
tục rút gọn trong việc giải quyết vụ án dân sự về bảo vệ quyền lợi người tiêu
dùng có giá trị giao dịch dưới 100 triệu đồng được thực hiện theo quy định tại
khoản 2 Điều 70 của Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng.
Điều 318. Quyết định đưa vụ án ra xét xử theo
thủ tục rút gọn
1. Trong thời hạn không quá 01 tháng, kể từ
ngày thụ lý vụ án theo quy định tại khoản 3 và khoản 4 Điều
195 của Bộ luật này, Thẩm phán được phân công giải quyết vụ án phải ra
quyết định đưa vụ án ra xét xử theo thủ tục rút gọn và mở phiên tòa xét xử
trong thời hạn 10 ngày, kể từ ngày ra quyết định.
2. Quyết định đưa vụ án ra xét xử theo thủ
tục rút gọn phải có các nội dung chính sau đây:
a) Ngày, tháng, năm ra quyết định;
b) Tên Tòa án ra quyết định;
c) Vụ án được đưa ra xét xử theo thủ tục rút
gọn;
d) Tên, địa chỉ; số điện thoại, fax, địa chỉ
thư điện tử (nếu có) của nguyên đơn, bị đơn hoặc cơ quan, tổ chức, cá nhân khởi
kiện quy định tại Điều 187 của Bộ luật này, người có quyền
lợi, nghĩa vụ liên quan;
đ) Họ, tên Thẩm phán, Thư ký Tòa án; họ, tên
Thẩm phán dự khuyết (nếu có);
e) Họ, tên Kiểm sát viên; họ, tên Kiểm sát
viên dự khuyết (nếu có);
g) Ngày, giờ, tháng, năm, địa điểm mở phiên
tòa;
h) Xét xử công khai hoặc xét xử kín;
i) Họ, tên những người được triệu tập tham
gia phiên tòa.
3. Quyết định đưa vụ án ra xét xử theo thủ
tục rút gọn phải được gửi ngay cho đương sự, Viện kiểm sát cùng cấp.
Trường hợp Viện kiểm sát tham gia phiên tòa
theo quy định tại khoản 2 Điều 21 của Bộ luật này thì Tòa
án phải gửi hồ sơ vụ án cùng quyết định đưa vụ án ra xét xử cho Viện kiểm sát
cùng cấp; trong thời hạn 03 ngày làm việc, kể từ ngày nhận được hồ sơ, Viện
kiểm sát phải nghiên cứu và trả lại hồ sơ cho Tòa án.
1. Trong thời hạn 03 ngày làm việc, kể từ
ngày nhận được quyết định đưa vụ án ra xét xử theo thủ tục rút gọn, đương sự có
quyền khiếu nại, Viện kiểm sát cùng cấp có quyền kiến nghị với Chánh án Tòa án
đã ra quyết định.
2. Trong thời hạn 03 ngày làm việc, kể từ
ngày nhận được khiếu nại, kiến nghị về quyết định đưa vụ án ra xét xử theo thủ
tục rút gọn, Chánh án Tòa án phải ra một trong các quyết định sau đây:
a) Giữ nguyên quyết định đưa vụ án ra xét xử
theo thủ tục rút gọn;
b) Hủy quyết định đưa vụ án ra xét xử theo
thủ tục rút gọn và chuyển vụ án sang giải quyết theo thủ tục thông thường.
3. Quyết định giải quyết khiếu nại, kiến nghị
của Chánh án Tòa án là quyết định cuối cùng và phải được gửi ngay cho đương sự,
Viện kiểm sát cùng cấp.
Điều 320. Phiên tòa xét xử theo thủ tục rút
gọn
1. Các đương sự, Kiểm sát viên Viện kiểm sát
cùng cấp phải có mặt tại phiên tòa xét xử theo thủ tục rút gọn. Trường hợp Kiểm
sát viên vắng mặt thì Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử. Đương sự có quyền
đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt.
Trường hợp bị đơn, người có quyền lợi, nghĩa
vụ liên quan đã được triệu tập hợp lệ mà vắng mặt không có lý do chính đáng thì
Thẩm phán vẫn tiến hành phiên tòa.
2. Thẩm phán tiến hành thủ tục khai mạc phiên
tòa theo quy định tại Điều 239 của Bộ luật này.
3. Sau khi khai mạc phiên tòa, Thẩm phán tiến
hành hòa giải, trừ trường hợp không được hòa giải theo quy định tại Điều 206 hoặc không tiến hành hòa giải được theo quy định tại
Điều 207 của Bộ luật này. Trường hợp các đương sự thỏa
thuận được với nhau về vấn đề phải giải quyết trong vụ án thì Thẩm phán ra
quyết định công nhận sự thoả thuận của các đương sự theo quy định tại Điều 212 của Bộ luật này. Trường hợp các đương sự không thỏa
thuận được với nhau về vấn đề phải giải quyết trong vụ án thì Thẩm phán tiến
hành xét xử.
Việc trình bày, tranh luận, đối đáp, đề xuất
quan điểm về việc giải quyết vụ án được thực hiện theo quy định tại Mục 3
Chương XIV của Bộ luật này.
4. Trường hợp tại phiên tòa mà phát sinh tình
tiết mới quy định tại khoản 3 Điều 317 của Bộ luật này làm
cho vụ án không còn đủ điều kiện để giải quyết theo thủ tục rút gọn thì Thẩm
phán xem xét, ra quyết định chuyển vụ án sang giải quyết theo thủ tục thông
thường. Trong trường hợp này, thời hạn chuẩn bị xét xử vụ án được tính theo quy
định tại khoản 4 Điều 317 của Bộ luật này.
Điều 321. Hiệu lực của bản án, quyết định
theo thủ tục rút gọn
1. Bản án, quyết định sơ thẩm của Tòa án theo
thủ tục rút gọn có thể bị kháng cáo, kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm để yêu
cầu Tòa án cấp phúc thẩm giải quyết lại theo thủ tục phúc thẩm rút gọn.
2. Bản án, quyết định theo thủ tục rút gọn có
thể bị kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm, tái thẩm theo quy định của Bộ
luật này.
GIẢI QUYẾT VỤ ÁN DÂN SỰ THEO THỦ TỤC RÚT GỌN
TẠI TÒA ÁN CẤP PHÚC THẨM
Điều 322. Thời hạn kháng cáo, kháng nghị đối
với bản án, quyết định theo thủ tục rút gọn
1. Thời hạn kháng cáo đối với bản án, quyết
định của Tòa án cấp sơ thẩm theo thủ tục rút gọn là 07 ngày, kể từ ngày tuyên
án. Đối với đương sự không có mặt tại phiên tòa thì thời hạn kháng cáo tính từ
ngày bản án, quyết định được giao cho họ hoặc bản án, quyết định được niêm yết.
2. Thời hạn kháng nghị đối với bản án, quyết
định của Tòa án cấp sơ thẩm theo thủ tục rút gọn của Viện kiểm sát cùng cấp là
07 ngày, của Viện kiểm sát cấp trên trực tiếp là 10 ngày, kể từ ngày nhận được
bản án, quyết định.
Điều 323. Thời hạn chuẩn bị xét xử phúc thẩm
theo thủ tục rút gọn
1. Trong thời hạn 01 tháng, kể từ ngày thụ lý
vụ án, tuỳ từng trường hợp, Thẩm phán được phân công giải quyết vụ án theo thủ
tục phúc thẩm ra một trong các quyết định sau đây:
a) Tạm đình chỉ xét xử phúc thẩm vụ án;
b) Đình chỉ xét xử phúc thẩm vụ án;
c) Đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm.
2. Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm
phải có nội dung quy định tại khoản 1 Điều 290 của Bộ luật này.
Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm phải được gửi ngay cho những người có
liên quan đến kháng cáo, kháng nghị và Viện kiểm sát cùng cấp kèm theo hồ sơ vụ
án để nghiên cứu.
Thời hạn nghiên cứu hồ sơ của Viện kiểm sát
cùng cấp là 05 ngày làm việc, kể từ ngày nhận được hồ sơ vụ án; hết thời hạn
đó, Viện kiểm sát phải trả hồ sơ vụ án cho Tòa án.
3. Trường hợp có quyết định tạm đình chỉ xét
xử phúc thẩm vụ án thì thời hạn chuẩn bị xét xử phúc thẩm được tính lại kể từ
ngày Tòa án cấp phúc thẩm tiếp tục xét xử phúc thẩm vụ án khi lý do tạm đình
chỉ không còn.
4. Trường hợp xuất hiện tình tiết mới quy
định tại khoản 3 Điều 317 của Bộ luật này thì Tòa án ra
quyết định chuyển vụ án sang giải quyết theo thủ tục thông thường. Trong trường
hợp này, thời hạn chuẩn bị xét xử vụ án được tính theo quy định tại khoản 4 Điều 317 của Bộ luật này.
1. Trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày có
quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm, Thẩm phán phải mở phiên tòa phúc
thẩm.
2. Các đương sự, Kiểm sát viên Viện kiểm sát
cùng cấp phải có mặt tại phiên tòa phúc thẩm. Trường hợp Kiểm sát viên vắng mặt
thì Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử, trừ trường hợp Viện kiểm sát có kháng
nghị phúc thẩm. Đương sự có quyền đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt.
Trường hợp đương sự không kháng cáo đã được
triệu tập hợp lệ mà vắng mặt không có lý do chính đáng thì Thẩm phán vẫn tiến
hành phiên tòa.
3. Thẩm phán trình bày tóm tắt nội dung bản
án, quyết định sơ thẩm bị kháng cáo, kháng nghị, nội dung của kháng cáo, kháng
nghị và tài liệu, chứng cứ kèm theo (nếu có).
4. Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của
đương sự trình bày, đương sự bổ sung ý kiến về nội dung kháng cáo, kháng nghị,
tranh luận, đối đáp, đề xuất quan điểm của mình về việc giải quyết vụ án.
5. Sau khi kết thúc việc tranh luận và đối
đáp, Kiểm sát viên phát biểu ý kiến của Viện kiểm sát về việc tuân theo pháp
luật trong quá trình giải quyết vụ án dân sự ở giai đoạn phúc thẩm.
Ngay sau khi kết thúc phiên tòa, Kiểm sát
viên phải gửi văn bản phát biểu ý kiến cho Tòa án để lưu vào hồ sơ vụ án.
6. Khi xem xét bản án, quyết định của Tòa án
cấp sơ thẩm bị kháng cáo, kháng nghị, Thẩm phán có quyền sau đây:
a) Giữ nguyên bản án, quyết định của Tòa án
cấp sơ thẩm;
b) Sửa bản án, quyết định của Tòa án cấp sơ
thẩm;
c) Hủy bản án, quyết định của Tòa án cấp sơ
thẩm và chuyển hồ sơ vụ án cho Tòa án cấp sơ thẩm để giải quyết lại vụ án theo
thủ tục rút gọn hoặc theo thủ tục thông thường nếu không còn đủ các điều kiện
để giải quyết theo thủ tục rút gọn;
d) Hủy bản án sơ thẩm và đình chỉ giải quyết
vụ án;
đ) Đình chỉ xét xử phúc thẩm và giữ nguyên
bản án sơ thẩm.
7. Bản án, quyết định phúc thẩm có hiệu lực
pháp luật kể từ ngày ra bản án, quyết định.
THỦ TỤC XÉT LẠI BẢN ÁN, QUYẾT ĐỊNH ĐÃ CÓ HIỆU
LỰC PHÁP LUẬT
Điều 325. Tính chất của giám đốc thẩm
Giám đốc thẩm là xét lại bản án, quyết định
của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật nhưng bị kháng nghị giám đốc thẩm khi có
căn cứ quy định tại Điều 326 của Bộ luật này.
Điều 326. Căn cứ, điều kiện để kháng nghị
theo thủ tục giám đốc thẩm
1. Bản án, quyết định của Tòa án đã có hiệu
lực pháp luật bị kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm khi có một trong những
căn cứ sau đây:
a) Kết luận trong bản án, quyết định không
phù hợp với những tình tiết khách quan của vụ án gây thiệt hại đến quyền, lợi
ích hợp pháp của đương sự;
b) Có vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng
làm cho đương sự không thực hiện được quyền, nghĩa vụ tố tụng của mình, dẫn đến
quyền, lợi ích hợp pháp của họ không được bảo vệ theo đúng quy định của pháp
luật;
c) Có sai lầm trong việc áp dụng pháp luật
dẫn đến việc ra bản án, quyết định không đúng, gây thiệt hại đến quyền, lợi ích
hợp pháp của đương sự, xâm phạm đến lợi ích công cộng, lợi ích của Nhà nước,
quyền, lợi ích hợp pháp của người thứ ba.
2. Người có thẩm quyền kháng nghị quy định
tại Điều 331 của Bộ luật này kháng nghị bản án, quyết định
của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật khi có một trong các căn cứ quy định tại
khoản 1 Điều này và có đơn đề nghị theo quy định tại Điều 328
của Bộ luật này hoặc có thông báo, kiến nghị theo quy định tại khoản 2 và khoản 3 Điều 327 của Bộ luật này; trường hợp xâm
phạm đến lợi ích công cộng, lợi ích của Nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của
người thứ ba thì không cần phải có đơn đề nghị.
1. Trong thời hạn 01 năm, kể từ ngày bản án,
quyết định của Tòa án có hiệu lực pháp luật, nếu phát hiện có vi phạm pháp luật
trong bản án, quyết định đó thì đương sự có quyền đề nghị bằng văn bản với
người có thẩm quyền kháng nghị quy định tại Điều 331 của Bộ
luật này để xem xét kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm.
2. Trường hợp Tòa án, Viện kiểm sát hoặc cơ
quan, tổ chức, cá nhân khác phát hiện có vi phạm pháp luật trong bản án, quyết
định của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật thì phải thông báo bằng văn bản cho
người có thẩm quyền kháng nghị quy định tại Điều 331 của Bộ
luật này.
3.[53] Chánh án Tòa án nhân
dân khu vực kiến nghị Chánh án Tòa án nhân dân cấp tỉnh hoặc Chánh án Tòa án
nhân dân tối cao, Chánh án Tòa án nhân dân cấp tỉnh kiến nghị Chánh án Tòa án
nhân dân tối cao xem xét kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm bản án, quyết định
của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật nếu phát hiện có căn cứ quy định tại khoản 1 Điều 326 của Bộ luật này.
1. Đơn đề nghị xem xét bản án, quyết định của
Tòa án đã có hiệu lực pháp luật theo thủ tục giám đốc thẩm phải có các nội dung
chính sau đây:
a) Ngày, tháng, năm làm đơn đề nghị;
b) Tên, địa chỉ của người đề nghị;
c) Tên bản án, quyết định của Tòa án đã có
hiệu lực pháp luật được đề nghị xem xét theo thủ tục giám đốc thẩm;
d) Lý do đề nghị, yêu cầu của người đề nghị;
đ) Người đề nghị là cá nhân phải ký tên hoặc
điểm chỉ; người đề nghị là cơ quan, tổ chức thì người đại diện hợp pháp của cơ
quan, tổ chức đó phải ký tên và đóng dấu vào phần cuối đơn; trường hợp tổ chức
đề nghị là doanh nghiệp thì việc sử dụng con dấu được thực hiện theo quy định
của Luật Doanh nghiệp.
2. Kèm theo đơn đề nghị, người đề nghị phải
gửi bản án, quyết định của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật, tài liệu, chứng cứ
(nếu có) để chứng minh cho những yêu cầu của mình là có căn cứ và hợp pháp.
3. Đơn đề nghị và tài liệu, chứng cứ được gửi
cho người có thẩm quyền kháng nghị quy định tại Điều 331 của
Bộ luật này.
1. Tòa án, Viện kiểm sát nhận đơn đề nghị do
đương sự nộp trực tiếp tại Tòa án, Viện kiểm sát hoặc gửi qua dịch vụ bưu chính
và phải ghi vào sổ nhận đơn, cấp giấy xác nhận đã nhận đơn cho đương sự. Ngày
gửi đơn được tính từ ngày đương sự nộp đơn tại Tòa án, Viện kiểm sát hoặc ngày
có dấu dịch vụ bưu chính nơi gửi.
2. Tòa án, Viện kiểm sát chỉ thụ lý đơn đề
nghị khi có đủ các nội dung quy định tại Điều 328 của Bộ luật
này. Trường hợp đơn đề nghị không có đủ điều kiện theo quy định tại Điều 328 của Bộ luật này thì Tòa án, Viện kiểm sát yêu cầu
người gửi đơn sửa đổi, bổ sung trong thời hạn 01 tháng, kể từ ngày nhận được
yêu cầu của Tòa án, Viện kiểm sát; hết thời hạn này mà người gửi đơn không sửa
đổi, bổ sung thì Tòa án, Viện kiểm sát trả lại đơn đề nghị, nêu rõ lý do cho
đương sự và ghi chú vào sổ nhận đơn.
3. Người có thẩm quyền kháng nghị theo thủ
tục giám đốc thẩm phân công người có trách nhiệm tiến hành nghiên cứu đơn,
thông báo, kiến nghị, hồ sơ vụ án, báo cáo người có thẩm quyền kháng nghị xem
xét, quyết định; trường hợp không kháng nghị thì thông báo bằng văn bản, nêu rõ
lý do cho đương sự, cơ quan, tổ chức, cá nhân có văn bản thông báo, kiến nghị.
Chánh án Tòa án nhân dân tối cao phân công
Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao
phân công Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân tối cao nghiên cứu đơn, thông
báo, kiến nghị, hồ sơ vụ án, báo cáo Chánh án Tòa án nhân dân tối cao, Viện
trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao xem xét, quyết định kháng nghị. Trường
hợp không kháng nghị thì Chánh án Tòa án nhân dân tối cao, Viện trưởng Viện
kiểm sát nhân dân tối cao tự mình hoặc ủy quyền cho Thẩm phán Tòa án nhân dân
tối cao, Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân tối cao thông báo bằng văn bản,
nêu rõ lý do cho đương sự, cơ quan, tổ chức, cá nhân có văn bản thông báo, kiến
nghị.
Điều 330. Bổ sung, xác minh tài liệu, chứng
cứ trong thủ tục giám đốc thẩm
1. Đương sự có quyền cung cấp tài liệu, chứng
cứ cho người có thẩm quyền kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm nếu tài liệu,
chứng cứ đó chưa được Tòa án cấp sơ thẩm, Tòa án cấp phúc thẩm yêu cầu đương sự
giao nộp hoặc đã yêu cầu giao nộp nhưng đương sự không giao nộp được vì có lý
do chính đáng hoặc tài liệu, chứng cứ mà đương sự không thể biết được trong quá
trình giải quyết vụ án.
2. Trong quá trình giải quyết đơn đề nghị xem
xét bản án, quyết định của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật theo thủ tục giám
đốc thẩm, người có thẩm quyền kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm có quyền
yêu cầu người có đơn bổ sung tài liệu, chứng cứ hoặc tự mình kiểm tra, xác minh
tài liệu, chứng cứ cần thiết.
Điều 331. Người có thẩm quyền kháng nghị theo
thủ tục giám đốc thẩm[54]
1. Chánh án Tòa án nhân dân tối cao, Viện
trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao có thẩm quyền kháng nghị theo thủ tục
giám đốc thẩm bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật của Tòa án nhân dân
cấp tỉnh; bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật của Tòa án khác khi xét thấy
cần thiết, trừ quyết định của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao.
2. Chánh án Tòa án nhân dân cấp tỉnh, Viện
trưởng Viện kiểm sát nhân dân cấp tỉnh có quyền kháng nghị theo thủ tục giám
đốc thẩm bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật của Tòa án nhân dân khu
vực trong phạm vi thẩm quyền theo lãnh thổ.
Điều 332. Hoãn, tạm đình chỉ thi hành bản án,
quyết định đã có hiệu lực pháp luật
1. Người có thẩm quyền kháng nghị bản án,
quyết định đã có hiệu lực pháp luật của Tòa án có quyền yêu cầu hoãn thi hành
bản án, quyết định để xem xét việc kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm. Việc
hoãn thi hành bản án, quyết định được thực hiện theo quy định của pháp luật thi
hành án dân sự.
2. Người đã kháng nghị theo thủ tục giám đốc
thẩm bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật có quyền quyết định tạm đình
chỉ thi hành bản án, quyết định đó cho đến khi có quyết định giám đốc thẩm.
Điều 333. Quyết định kháng nghị giám đốc thẩm
Quyết định kháng nghị giám đốc thẩm phải có
các nội dung chính sau đây:
1. Ngày, tháng, năm ra quyết định kháng nghị
và số của quyết định kháng nghị;
2. Chức vụ của người ra quyết định kháng
nghị;
3. Số, ngày, tháng, năm của bản án, quyết
định đã có hiệu lực pháp luật bị kháng nghị;
4. Quyết định của bản án, quyết định đã có
hiệu lực pháp luật bị kháng nghị;
5. Nhận xét, phân tích những vi phạm, sai lầm
của bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật bị kháng nghị;
6. Căn cứ pháp luật để quyết định kháng nghị;
7. Kháng nghị toàn bộ hoặc phần của bản án,
quyết định đã có hiệu lực pháp luật;
8. Tên của Tòa án có thẩm quyền giám đốc thẩm
vụ án;
9. Đề nghị của người kháng nghị.
Điều 334. Thời hạn kháng nghị theo thủ tục
giám đốc thẩm
1. Người có thẩm quyền kháng nghị theo thủ
tục giám đốc thẩm có quyền kháng nghị trong thời hạn 03 năm, kể từ ngày bản án,
quyết định của Tòa án có hiệu lực pháp luật, trừ trường hợp quy định tại khoản
2 Điều này.
2. Trường hợp đã hết thời hạn kháng nghị theo
quy định tại khoản 1 Điều này nhưng có các điều kiện sau đây thì thời hạn kháng
nghị được kéo dài thêm 02 năm, kể từ ngày hết thời hạn kháng nghị:
a) Đương sự đã có đơn đề nghị theo quy định
tại khoản 1 Điều 328 của Bộ luật này và sau khi hết thời
hạn kháng nghị quy định tại khoản 1 Điều này đương sự vẫn tiếp tục có đơn đề
nghị;
b) Bản án, quyết định của Tòa án đã có hiệu
lực pháp luật có vi phạm pháp luật theo quy định tại khoản 1
Điều 326 của Bộ luật này, xâm phạm nghiêm trọng đến quyền, lợi ích hợp pháp
của đương sự, của người thứ ba, xâm phạm lợi ích của cộng đồng, lợi ích của Nhà
nước và phải kháng nghị để khắc phục sai lầm trong bản án, quyết định đã có
hiệu lực pháp luật đó.
Điều 335. Thay đổi, bổ sung, rút kháng nghị
giám đốc thẩm
1. Người đã kháng nghị giám đốc thẩm có quyền
thay đổi, bổ sung kháng nghị nếu chưa hết thời hạn kháng nghị quy định tại Điều 334 của Bộ luật này. Việc thay đổi, bổ sung phải được
thực hiện bằng quyết định. Quyết định thay đổi, bổ sung kháng nghị phải được
gửi theo quy định tại Điều 336 của Bộ luật này.
2. Người đã kháng nghị có quyền rút một phần
hoặc toàn bộ kháng nghị trước khi mở phiên tòa hoặc tại phiên tòa giám đốc
thẩm. Việc rút kháng nghị phải được thực hiện bằng quyết định.
3. Khi nhận được quyết định rút toàn bộ kháng
nghị, Tòa án giám đốc thẩm ra quyết định đình chỉ việc xét xử giám đốc thẩm.
Điều 336. Gửi quyết định kháng nghị giám đốc
thẩm[55]
1. Quyết định kháng nghị giám đốc thẩm phải
được gửi ngay cho Tòa án ra bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật bị
kháng nghị, các đương sự, cơ quan thi hành án dân sự có thẩm quyền, người khác
có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến nội dung kháng nghị.
2. Trường hợp Chánh án Tòa án nhân dân tối
cao hoặc Chánh án Tòa án nhân dân cấp tỉnh kháng nghị thì quyết định kháng nghị
cùng hồ sơ vụ án phải được gửi ngay cho Viện kiểm sát cùng cấp. Viện kiểm sát
nghiên cứu hồ sơ trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được hồ sơ vụ án; hết
thời hạn này, Viện kiểm sát phải chuyển hồ sơ vụ án cho Tòa án có thẩm quyền
giám đốc thẩm.
3. Trường hợp Viện trưởng Viện kiểm sát nhân
dân tối cao hoặc Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân cấp tỉnh kháng nghị thì
quyết định kháng nghị cùng hồ sơ vụ án phải được gửi ngay cho Tòa án có thẩm
quyền giám đốc thẩm.
Điều 337. Thẩm quyền giám đốc thẩm[56]
1. Ủy ban Thẩm phán Tòa án nhân dân cấp tỉnh
giám đốc thẩm bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật của Tòa án nhân dân
khu vực trong phạm vi thẩm quyền theo lãnh thổ bị kháng nghị.
2. Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao
giám đốc thẩm bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật của Tòa án nhân dân
cấp tỉnh bị kháng nghị như sau:
a) Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao
xét xử giám đốc thẩm bằng Hội đồng xét xử gồm năm Thẩm phán đối với bản án,
quyết định của Tòa án nhân dân cấp tỉnh bị kháng nghị theo thủ tục giám đốc
thẩm;
b) Toàn thể Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân
dân tối cao xét xử giám đốc thẩm đối với bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp
luật quy định tại điểm a khoản này nhưng có tính chất phức tạp hoặc bản án,
quyết định đã được Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao xét xử giám đốc
thẩm bằng Hội đồng xét xử gồm năm Thẩm phán nhưng không đạt được sự thống nhất
khi biểu quyết thông qua quyết định về việc giải quyết vụ án.
3. Những vụ án có tính chất phức tạp quy định
tại điểm b khoản 2 Điều này là những vụ án thuộc một trong các trường hợp sau
đây:
a) Quy định của pháp luật về những vấn đề cần
giải quyết trong vụ án chưa rõ ràng, chưa được hướng dẫn áp dụng thống nhất;
b) Việc đánh giá chứng cứ, áp dụng pháp luật
có nhiều ý kiến khác nhau;
c) Việc giải quyết vụ án liên quan đến lợi
ích công cộng, lợi ích của Nhà nước, bảo vệ quyền con người, quyền công dân
được dư luận xã hội đặc biệt quan tâm.
4. Chánh án Tòa án nhân dân cấp tỉnh xem xét,
quyết định việc tổ chức xét xử giám đốc thẩm quy định tại khoản 1 Điều này.
Chánh án Tòa án nhân dân tối cao xem xét, quyết định việc tổ chức xét xử giám
đốc thẩm trong các trường hợp quy định tại khoản 2 Điều này.
5. Trường hợp những bản án, quyết định đã có
hiệu lực pháp luật về cùng một vụ án dân sự cùng thuộc thẩm quyền giám đốc thẩm
của Tòa án nhân dân cấp tỉnh và Tòa án nhân dân tối cao thì Tòa án nhân dân tối
cao có thẩm quyền giám đốc thẩm toàn bộ vụ án.
Điều 338. Những người tham gia phiên tòa giám
đốc thẩm
1. Phiên tòa giám đốc thẩm phải có sự tham
gia của Viện kiểm sát cùng cấp.
2. Trường hợp xét thấy cần thiết, Tòa án
triệu tập đương sự hoặc người đại diện hợp pháp, người bảo vệ quyền và lợi ích
hợp pháp của đương sự hoặc người tham gia tố tụng khác có liên quan đến việc
kháng nghị tham gia phiên tòa giám đốc thẩm; nếu họ vắng mặt tại phiên tòa thì
Hội đồng xét xử giám đốc thẩm vẫn tiến hành phiên tòa.
Điều 339. Thời hạn mở phiên tòa giám đốc thẩm
Trong thời hạn 04 tháng, kể từ ngày nhận được
kháng nghị kèm theo hồ sơ vụ án, Tòa án có thẩm quyền giám đốc thẩm phải mở
phiên tòa để xét xử vụ án theo thủ tục giám đốc thẩm.
Điều 340. Chuẩn bị phiên tòa giám đốc thẩm
Chánh án Tòa án phân công một Thẩm phán làm
bản thuyết trình về vụ án tại phiên tòa. Bản thuyết trình tóm tắt nội dung vụ
án và các bản án, quyết định của các cấp Tòa án, nội dung của kháng nghị. Bản
thuyết trình phải được gửi cho các thành viên Hội đồng xét xử giám đốc thẩm
chậm nhất là 07 ngày trước ngày mở phiên tòa giám đốc thẩm.
Điều 341. Thủ tục xét xử tại phiên tòa giám
đốc thẩm
1. Sau khi chủ tọa khai mạc phiên tòa, một
thành viên Hội đồng xét xử giám đốc thẩm trình bày tóm tắt nội dung vụ án, quá
trình xét xử vụ án, quyết định của bản án, quyết định của Tòa án đã có hiệu lực
pháp luật bị kháng nghị, các căn cứ, nhận định của kháng nghị và đề nghị của
người kháng nghị. Trường hợp Viện kiểm sát kháng nghị thì đại diện Viện kiểm
sát trình bày nội dung kháng nghị.
2. Đương sự, người đại diện hợp pháp, người
bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự hoặc người tham gia tố tụng khác
được Tòa án triệu tập đến phiên tòa giám đốc thẩm trình bày ý kiến về những vấn
đề mà Hội đồng giám đốc thẩm yêu cầu. Trường hợp họ vắng mặt nhưng có văn bản
trình bày ý kiến thì Hội đồng xét xử giám đốc thẩm công bố ý kiến của họ.
3. Đại diện Viện kiểm sát phát biểu ý kiến về
quyết định kháng nghị và việc giải quyết vụ án.
Ngay sau khi kết thúc phiên tòa, đại diện
Viện kiểm sát phải gửi văn bản phát biểu ý kiến cho Tòa án để lưu vào hồ sơ vụ
án.
4. Các thành viên Hội đồng xét xử giám đốc
thẩm phát biểu ý kiến và thảo luận. Hội đồng xét xử giám đốc thẩm nghị án và
biểu quyết về việc giải quyết vụ án và công bố nội dung quyết định về việc giải
quyết vụ án tại phiên tòa. Việc nghị án phải được thực hiện theo các nguyên tắc
quy định tại Điều 264 của Bộ luật này.
5.[57] Ủy ban Thẩm phán Tòa
án nhân dân cấp tỉnh xét xử theo quy định tại khoản 1 Điều 337
của Bộ luật này thì phiên tòa xét xử phải có ít nhất hai phần ba tổng số
thành viên tham gia; quyết định của Ủy ban Thẩm phán phải được quá nửa tổng số
thành viên Ủy ban Thẩm phán biểu quyết tán thành.
6.[58] Trường hợp Hội đồng
Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao xét xử theo quy định tại điểm
a khoản 2 Điều 337 của Bộ luật này thì quyết định của Hội đồng xét xử phải
được tất cả thành viên tham gia Hội đồng biểu quyết tán thành.
Trường hợp xét xử theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 337 của Bộ luật này thì phiên tòa xét xử
của toàn thể Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao phải có ít nhất hai
phần ba tổng số thành viên tham gia; quyết định của Hội đồng Thẩm phán phải
được quá nửa tổng số thành viên Hội đồng Thẩm phán biểu quyết tán thành.
Điều 342. Phạm vi giám đốc thẩm
1. Hội đồng xét xử giám đốc thẩm chỉ xem xét
lại phần quyết định của bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật bị kháng
nghị hoặc có liên quan đến việc xem xét nội dung kháng nghị.
2. Hội đồng xét xử giám đốc thẩm có quyền xem
xét phần quyết định của bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật không bị
kháng nghị hoặc không liên quan đến việc xem xét nội dung kháng nghị, nếu phần
quyết định đó xâm phạm đến lợi ích công cộng, lợi ích của Nhà nước, lợi ích của
người thứ ba không phải là đương sự trong vụ án.
Điều 343. Thẩm quyền của Hội đồng xét xử giám
đốc thẩm
Hội đồng xét xử giám đốc thẩm có thẩm quyền
sau đây:
1. Không chấp nhận kháng nghị và giữ nguyên
bản án, quyết định của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật;
2. Hủy bản án, quyết định của Tòa án đã có
hiệu lực pháp luật và giữ nguyên bản án, quyết định đúng pháp luật của Tòa án
cấp dưới đã bị hủy hoặc bị sửa;
3. Hủy một phần hoặc toàn bộ bản án, quyết
định của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật để xét xử lại theo thủ tục sơ thẩm
hoặc xét xử lại theo thủ tục phúc thẩm;
4. Hủy bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp
luật và đình chỉ giải quyết vụ án;
5. Sửa một phần hoặc toàn bộ bản án, quyết
định của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật.
Điều 344. Giữ nguyên bản án, quyết định đúng
pháp luật của Tòa án cấp dưới đã bị hủy hoặc bị sửa
Hội đồng xét xử giám đốc thẩm ra quyết định
hủy bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật bị kháng nghị và giữ nguyên bản
án, quyết định của Tòa án cấp dưới xét xử đúng pháp luật nhưng đã bị bản án,
quyết định đã có hiệu lực pháp luật bị kháng nghị hủy bỏ hoặc sửa đổi một phần
hay toàn bộ.
Trường hợp bản án, quyết định của Tòa án đã
thi hành được một phần hoặc toàn bộ thì Hội đồng xét xử giám đốc thẩm phải giải
quyết hậu quả của việc thi hành án.
Hội đồng xét xử giám đốc thẩm ra quyết định
hủy một phần hoặc toàn bộ bản án, quyết định của Tòa án đã có hiệu lực pháp
luật bị kháng nghị để xét xử lại theo thủ tục sơ thẩm hoặc xét xử lại theo thủ
tục phúc thẩm trong trường hợp sau đây:
1. Việc thu thập chứng cứ và chứng minh chưa
được thực hiện đầy đủ hoặc không theo đúng quy định tại Chương VII của Bộ luật
này;
2. Kết luận trong bản án, quyết định không
phù hợp với những tình tiết khách quan của vụ án hoặc có sai lầm nghiêm trọng
trong việc áp dụng pháp luật;
3. Thành phần của Hội đồng xét xử sơ thẩm
hoặc phúc thẩm không đúng quy định của Bộ luật này hoặc có vi phạm nghiêm trọng
khác về thủ tục tố tụng ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự.
Điều 346. Hủy bản án, quyết định đã có hiệu
lực pháp luật và đình chỉ giải quyết vụ án
Hội đồng xét xử giám đốc thẩm ra quyết định
hủy bản án, quyết định của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật và đình chỉ giải
quyết vụ án, nếu vụ án đó thuộc một trong các trường hợp quy định tại Điều 217 của Bộ luật này.
Trường hợp bản án, quyết định của Tòa án đã
thi hành được một phần hoặc toàn bộ thì Hội đồng xét xử giám đốc thẩm phải giải
quyết hậu quả của việc thi hành án.
Điều 347. Sửa một phần hoặc toàn bộ bản án,
quyết định của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật
1. Hội đồng xét xử giám đốc thẩm ra quyết
định sửa một phần hoặc toàn bộ bản án, quyết định của Tòa án đã có hiệu lực
pháp luật khi có đủ các điều kiện sau đây:
a) Tài liệu, chứng cứ trong hồ sơ vụ án đã
đầy đủ, rõ ràng; có đủ căn cứ để làm rõ các tình tiết trong vụ án;
b) Việc sửa bản án, quyết định bị kháng nghị
không làm ảnh hưởng đến quyền, nghĩa vụ của cơ quan, tổ chức, cá nhân khác.
2. Trường hợp bản án, quyết định của Tòa án
đã thi hành được một phần hoặc toàn bộ thì Hội đồng xét xử giám đốc thẩm phải
giải quyết hậu quả của việc thi hành án.
Điều 348. Quyết định giám đốc thẩm
1. Hội đồng xét xử giám đốc thẩm ra quyết
định nhân danh nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam.
2. Quyết định giám đốc thẩm phải có các nội
dung sau đây:
a) Ngày, tháng, năm và địa điểm mở phiên tòa
giám đốc thẩm;
b)[59] Họ, tên các thành viên
Hội đồng xét xử giám đốc thẩm. Trường hợp Hội đồng xét xử giám đốc thẩm là Ủy
ban Thẩm phán Tòa án nhân dân cấp tỉnh hoặc Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân
tối cao thì ghi họ, tên, chức vụ của chủ tọa phiên tòa và số lượng thành viên
tham gia xét xử;
c) Họ, tên Thư ký Tòa án, Kiểm sát viên tham
gia phiên tòa giám đốc thẩm;
d) Tên vụ án mà Hội đồng đưa ra xét xử giám
đốc thẩm;
đ) Tên, địa chỉ của các đương sự trong vụ án;
e) Tóm tắt nội dung vụ án, quyết định của bản
án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật bị kháng nghị;
g) Quyết định kháng nghị, lý do kháng nghị;
h) Nhận định của Hội đồng xét xử giám đốc
thẩm, trong đó phải phân tích quan điểm về việc giải quyết vụ án và những căn
cứ để chấp nhận hoặc không chấp nhận kháng nghị;
i) Điểm, khoản, điều của Bộ luật Tố tụng dân
sự, văn bản quy phạm pháp luật khác mà Hội đồng xét xử giám đốc thẩm căn cứ để
ra quyết định;
k) Quyết định của Hội đồng xét xử giám đốc
thẩm.
3. Quyết định của Hội đồng xét xử giám đốc
thẩm của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao cần có lập luận để làm rõ
quy định của pháp luật còn có cách hiểu khác nhau; phân tích, giải thích các
vấn đề, sự kiện pháp lý và chỉ ra nguyên nhân, đường lối xử lý, quy phạm pháp
luật cần áp dụng (nếu có).
Điều 349. Hiệu lực của quyết định giám đốc
thẩm
Quyết định giám đốc thẩm có hiệu lực pháp
luật kể từ ngày Hội đồng giám đốc thẩm ra quyết định.
Điều 350. Gửi quyết định giám đốc thẩm
1. Trong thời hạn 05 ngày làm việc, kể từ
ngày ra quyết định, Hội đồng xét xử giám đốc thẩm phải gửi quyết định giám đốc
thẩm cho cơ quan, tổ chức, cá nhân sau đây:
a) Đương sự, người khác có quyền lợi, nghĩa
vụ liên quan theo quyết định giám đốc thẩm;
b) Tòa án ra bản án, quyết định đã có hiệu
lực pháp luật bị kháng nghị;
c) Viện kiểm sát cùng cấp, cơ quan thi hành
án dân sự có thẩm quyền.
2. Quyết định giám đốc thẩm được Tòa án có
thẩm quyền giám đốc thẩm công bố trên Cổng thông tin điện tử của Tòa án (nếu
có), trừ quyết định có chứa thông tin quy định tại khoản 2
Điều 109 của Bộ luật này.
Điều 351. Tính chất của tái thẩm
Tái thẩm là xét lại bản án, quyết định đã có
hiệu lực pháp luật nhưng bị kháng nghị vì có tình tiết mới được phát hiện có
thể làm thay đổi cơ bản nội dung của bản án, quyết định mà Tòa án, các đương sự
không biết được khi Tòa án ra bản án, quyết định đó.
Điều 352. Căn cứ để kháng nghị theo thủ tục
tái thẩm
Bản án, quyết định của Tòa án đã có hiệu lực
pháp luật bị kháng nghị theo thủ tục tái thẩm khi có một trong những căn cứ sau
đây:
1. Mới phát hiện được tình tiết quan trọng
của vụ án mà đương sự đã không thể biết được trong quá trình giải quyết vụ án;
2. Có cơ sở chứng minh kết luận của người
giám định, lời dịch của người phiên dịch không đúng sự thật hoặc có giả mạo
chứng cứ;
3. Thẩm phán, Hội thẩm nhân dân, Kiểm sát
viên cố ý làm sai lệch hồ sơ vụ án hoặc cố ý kết luận trái pháp luật;
4. Bản án, quyết định hình sự, hành chính,
dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại, lao động của Tòa án hoặc
quyết định của cơ quan nhà nước mà Tòa án căn cứ vào đó để giải quyết vụ án đã
bị hủy bỏ.
Điều 353. Thông báo và xác minh tình tiết mới
được phát hiện
1. Đương sự hoặc cơ quan, tổ chức, cá nhân
khác có quyền phát hiện tình tiết mới của vụ án và thông báo bằng văn bản cho
người có thẩm quyền kháng nghị quy định tại Điều 354 của Bộ
luật này.
2. Trường hợp phát hiện tình tiết mới của vụ
án, Viện kiểm sát, Tòa án phải thông báo bằng văn bản cho người có thẩm quyền
kháng nghị quy định tại Điều 354 của Bộ luật này.
Điều 354. Người có thẩm quyền kháng nghị theo
thủ tục tái thẩm
1.[60] Chánh án Tòa án nhân
dân tối cao, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao có thẩm quyền kháng
nghị theo thủ tục tái thẩm bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật của Tòa
án nhân dân cấp tỉnh; bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật của Tòa án khác
khi xét thấy cần thiết, trừ quyết định của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân
tối cao.
2.[61] Chánh án Tòa án nhân
dân cấp tỉnh, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân cấp tỉnh có thẩm quyền kháng
nghị theo thủ tục tái thẩm bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật của Tòa
án nhân dân khu vực trong phạm vi thẩm quyền theo lãnh thổ.
3. Người đã kháng nghị bản án, quyết định đã
có hiệu lực pháp luật có quyền quyết định tạm đình chỉ thi hành bản án, quyết
định đó cho đến khi có quyết định tái thẩm.
Điều 355. Thời hạn kháng nghị theo thủ tục
tái thẩm
Thời hạn kháng nghị theo thủ tục tái thẩm là
01 năm, kể từ ngày người có thẩm quyền kháng nghị biết được căn cứ để kháng
nghị theo thủ tục tái thẩm quy định tại Điều 352 của Bộ luật
này.
Điều 356. Thẩm quyền của Hội đồng xét xử tái
thẩm
Hội đồng xét xử tái thẩm có thẩm quyền sau
đây:
1. Không chấp nhận kháng nghị và giữ nguyên
bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật;
2. Hủy bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp
luật để xét xử sơ thẩm lại theo thủ tục do Bộ luật này quy định;
3. Hủy bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp
luật và đình chỉ giải quyết vụ án.
Điều 357. Áp dụng các quy định về thủ tục
giám đốc thẩm
Các quy định khác về thủ tục tái thẩm được
thực hiện như các quy định của Bộ luật này về thủ tục giám đốc thẩm.
THỦ TỤC ĐẶC BIỆT XEM XÉT LẠI QUYẾT ĐỊNH CỦA
HỘI ĐỒNG THẨM PHÁN TÒA ÁN NHÂN DÂN TỐI CAO
1. Khi có căn cứ xác định quyết định của Hội
đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao có vi phạm pháp luật nghiêm trọng hoặc
phát hiện tình tiết quan trọng mới có thể làm thay đổi cơ bản nội dung quyết
định mà Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao, đương sự đã không thể biết
được khi ra quyết định đó, nếu có yêu cầu của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, kiến
nghị của Ủy ban Pháp luật và Tư pháp của Quốc hội[62],
kiến nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao hoặc đề nghị của Chánh
án Tòa án nhân dân tối cao thì Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao xem
xét lại quyết định đó.
2. Trường hợp có yêu cầu của Ủy ban Thường vụ
Quốc hội thì Chánh án Tòa án nhân dân tối cao có trách nhiệm báo cáo Hội đồng
Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao để xem xét lại quyết định của Hội đồng Thẩm
phán Tòa án nhân dân tối cao.
3. Trường hợp có kiến nghị của Ủy ban Pháp
luật và Tư pháp của Quốc hội[63], kiến nghị của Viện
trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao hoặc Chánh án Tòa án nhân dân tối cao
phát hiện vi phạm, tình tiết mới thì Chánh án Tòa án nhân dân tối cao có trách
nhiệm báo cáo Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao xem xét kiến nghị, đề
nghị đó.
4. Phiên họp của Hội đồng Thẩm phán Tòa án
nhân dân tối cao xem xét kiến nghị, đề nghị quy định tại khoản 3 Điều này phải
có sự tham dự của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao.
Điều 359. Thủ tục xem xét lại quyết định của
Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao
1. Sau khi nhận được yêu cầu của Ủy ban
Thường vụ Quốc hội, kiến nghị của Ủy ban Pháp luật và Tư pháp của Quốc hội[64] hoặc sau khi Chánh án Tòa án nhân dân tối cao có văn bản
đề nghị xem xét lại quyết định của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao
theo quy định tại khoản 2 và khoản 3 Điều 358 của Bộ luật này,
Tòa án nhân dân tối cao gửi cho Viện kiểm sát nhân dân tối cao bản sao văn bản
yêu cầu, kiến nghị hoặc đề nghị đó kèm theo hồ sơ vụ án để Viện kiểm sát nhân
dân tối cao nghiên cứu và chuẩn bị ý kiến phát biểu tại phiên họp xem xét kiến
nghị, đề nghị, yêu cầu. Trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được hồ sơ vụ
án, Viện kiểm sát nhân dân tối cao phải trả lại hồ sơ vụ án cho Tòa án nhân dân
tối cao.
2. Trong thời hạn 01 tháng, kể từ ngày nhận
được kiến nghị của Ủy ban Pháp luật và Tư pháp của Quốc hội[65],
kiến nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao hoặc kể từ ngày Chánh
án Tòa án nhân dân tối cao có văn bản đề nghị thì Hội đồng Thẩm phán Tòa án
nhân dân tối cao phải mở phiên họp để xem xét kiến nghị, đề nghị.
Tòa án nhân dân tối cao thông báo bằng văn
bản về thời gian mở phiên họp để xem xét kiến nghị, đề nghị cho Viện trưởng
Viện kiểm sát nhân dân tối cao.
Đại diện Ủy ban Pháp luật và Tư pháp của Quốc
hội[66] được mời tham dự phiên họp của Hội đồng
Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao để xem xét kiến nghị của Ủy ban Pháp luật và
Tư pháp của Quốc hội[67].
3. Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao
xem xét kiến nghị, đề nghị theo trình tự như sau:
a) Chánh án Tòa án nhân dân tối cao tự mình
hoặc phân công một thành viên Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao trình
bày tóm tắt nội dung vụ án và quá trình giải quyết vụ án;
b) Đại diện Ủy ban Pháp luật và Tư pháp của
Quốc hội[68], Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối
cao, Chánh án Tòa án nhân dân tối cao có kiến nghị, đề nghị xem xét lại quyết
định của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao trình bày về nội dung kiến
nghị, đề nghị; căn cứ của việc kiến nghị, đề nghị; phân tích, đánh giá các tình
tiết của vụ án, chứng cứ cũ và chứng cứ mới bổ sung (nếu có) để làm rõ việc vi
phạm pháp luật nghiêm trọng trong quyết định của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân
dân tối cao hoặc những tình tiết quan trọng mới có thể làm thay đổi cơ bản nội
dung quyết định của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao;
c) Trường hợp xem xét kiến nghị của Ủy ban
Pháp luật và Tư pháp của Quốc hội[69] hoặc xem xét đề nghị
của Chánh án Tòa án nhân dân tối cao thì Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối
cao phát biểu quan điểm và lý do nhất trí hoặc không nhất trí với kiến nghị, đề
nghị đó.
Ý kiến phát biểu của Viện trưởng Viện kiểm
sát nhân dân tối cao phải thể hiện bằng văn bản, có chữ ký của Viện trưởng Viện
kiểm sát nhân dân tối cao và phải được gửi cho Tòa án nhân dân tối cao trong
thời hạn 05 ngày làm việc, kể từ ngày kết thúc phiên họp;
d) Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao
thảo luận và biểu quyết theo đa số về việc nhất trí hoặc không nhất trí với
kiến nghị, đề nghị xem xét lại quyết định của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân
dân tối cao;
đ) Trường hợp nhất trí với kiến nghị của Ủy
ban Pháp luật và Tư pháp của Quốc hội[70], kiến nghị của Viện
trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao hoặc đề nghị của Chánh án Tòa án nhân dân
tối cao thì Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao quyết định về việc mở
phiên họp để xem xét lại quyết định của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối
cao, đồng thời giao cho Chánh án Tòa án nhân dân tối cao tổ chức nghiên cứu hồ
sơ, báo cáo Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao xem xét, quyết định tại
phiên họp xem xét lại quyết định của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối
cao.
Trường hợp không nhất trí kiến nghị, đề nghị
thì Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao phải thông báo bằng văn bản và
nêu rõ lý do cho cá nhân, cơ quan đã kiến nghị, đề nghị;
e) Mọi diễn biến tại phiên họp xem xét kiến
nghị, đề nghị và các quyết định được thông qua tại phiên họp phải được ghi vào
biên bản phiên họp và lưu hồ sơ xem xét kiến nghị, đề nghị;
g) Trong thời hạn 05 ngày làm việc, kể từ
ngày kết thúc phiên họp xem xét kiến nghị, đề nghị xem xét lại quyết định của
Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao, Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân
tối cao gửi cho Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Ủy ban Pháp luật và
Tư pháp của Quốc hội[71] văn bản thông báo về
việc Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao nhất trí hoặc không nhất trí
với kiến nghị, đề nghị xem xét lại quyết định của Hội đồng Thẩm phán Tòa án
nhân dân tối cao.
4. Theo yêu cầu của Ủy ban Thường vụ Quốc hội
hoặc khi có quyết định của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao về việc
mở phiên họp để xem xét lại quyết định của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân
tối cao quy định tại điểm đ khoản 3 Điều này thì Chánh án Tòa án nhân dân tối
cao tổ chức việc nghiên cứu hồ sơ vụ án, xác minh, thu thập tài liệu, chứng cứ
trong trường hợp cần thiết.
Việc nghiên cứu hồ sơ vụ án, xác minh, thu
thập tài liệu, chứng cứ phải làm rõ có hay không có vi phạm pháp luật nghiêm
trọng hoặc tình tiết quan trọng mới có thể làm thay đổi cơ bản nội dung quyết
định của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao.
5. Trong thời hạn 04 tháng, kể từ ngày nhận
được yêu cầu của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định tại khoản
2 Điều 358 của Bộ luật này hoặc kể từ ngày có quyết định của Hội đồng Thẩm
phán Tòa án nhân dân tối cao quy định tại điểm đ khoản 3 Điều này, Hội đồng
Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao phải mở phiên họp với sự tham gia của toàn
thể Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao để xem xét lại quyết định của Hội đồng
Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao.
Tòa án nhân dân tối cao gửi cho Viện kiểm sát
nhân dân tối cao văn bản thông báo về thời gian mở phiên họp xem xét lại quyết
định của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao kèm theo hồ sơ vụ án. Trong
thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được hồ sơ vụ án, Viện kiểm sát nhân dân tối
cao phải trả lại hồ sơ vụ án cho Tòa án nhân dân tối cao.
Phiên họp Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân
tối cao phải có sự tham dự của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao.
Trường hợp xét thấy cần thiết, Tòa án nhân dân tối cao có thể mời cơ quan, tổ
chức, cá nhân có liên quan tham dự phiên họp.
6. Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao
phải tham dự phiên họp xem xét lại quyết định của Hội đồng Thẩm phán Tòa án
nhân dân tối cao và phát biểu quan điểm về việc có hay không có vi phạm pháp
luật nghiêm trọng hoặc tình tiết quan trọng mới có thể làm thay đổi cơ bản nội
dung quyết định của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao và quan điểm về
việc giải quyết vụ án.
Ý kiến phát biểu của Viện trưởng Viện kiểm
sát nhân dân tối cao phải thể hiện bằng văn bản, có chữ ký của Viện trưởng Viện
kiểm sát nhân dân tối cao và phải được gửi cho Tòa án nhân dân tối cao trong
thời hạn 05 ngày làm việc, kể từ ngày kết thúc phiên họp.
7. Trong thời hạn 01 tháng, kể từ ngày Hội
đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao ra quyết định quy định tại khoản 1 Điều 360 của Bộ luật này, Tòa án nhân dân tối cao gửi
quyết định cho Ủy ban Thường vụ Quốc hội, Ủy ban Pháp luật và Tư pháp của Quốc
hội[72], Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Tòa án
nhân dân đã giải quyết vụ án và các đương sự.
Điều 360. Thẩm quyền xem xét lại quyết định
của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao
1. Sau khi nghe Chánh án Tòa án nhân dân tối
cao báo cáo, nghe ý kiến của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao, của cơ
quan, tổ chức, cá nhân có liên quan được mời tham dự (nếu có) và khi xét thấy
quyết định của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao có vi phạm pháp luật
nghiêm trọng hoặc có tình tiết quan trọng mới làm thay đổi cơ bản nội dung
quyết định của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao; bản án, quyết định
đã có hiệu lực pháp luật của Tòa án cấp dưới có vi phạm pháp luật nghiêm trọng
hoặc có tình tiết quan trọng mới làm thay đổi cơ bản nội dung bản án, quyết
định thì tùy từng trường hợp, Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao quyết
định như sau:
a) Hủy quyết định của Hội đồng Thẩm phán Tòa
án nhân dân tối cao, hủy bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật và quyết
định về nội dung vụ án;
b) Hủy quyết định của Hội đồng Thẩm phán Tòa
án nhân dân tối cao, hủy bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật và xác
định trách nhiệm bồi thường thiệt hại của Tòa án nhân dân tối cao có quyết định
vi phạm pháp luật nghiêm trọng bị hủy do lỗi vô ý hoặc cố ý và gây thiệt hại
cho đương sự hoặc xác định trách nhiệm bồi hoàn giá trị tài sản theo quy định
của pháp luật;
c) Hủy quyết định của Hội đồng Thẩm phán Tòa
án nhân dân tối cao, hủy bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật để giao hồ
sơ vụ án cho Tòa án cấp dưới giải quyết theo quy định của pháp luật.
2. Quyết định của Hội đồng Thẩm phán Tòa án
nhân dân tối cao phải được ít nhất ba phần tư tổng số thành viên của Hội đồng
Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao biểu quyết tán thành.
THỦ TỤC GIẢI QUYẾT VIỆC DÂN SỰ
QUY ĐỊNH CHUNG VỀ THỦ TỤC GIẢI QUYẾT VIỆC DÂN
SỰ
Việc dân sự là việc cơ quan, tổ chức, cá nhân
không có tranh chấp, nhưng có yêu cầu Tòa án công nhận hoặc không công nhận một
sự kiện pháp lý là căn cứ làm phát sinh quyền, nghĩa vụ dân sự, hôn nhân và gia
đình, kinh doanh, thương mại, lao động của mình hoặc của cơ quan, tổ chức, cá
nhân khác; yêu cầu Tòa án công nhận cho mình quyền về dân sự, hôn nhân và gia
đình, kinh doanh, thương mại, lao động.
Những quy định của Phần này được áp dụng để
giải quyết việc dân sự quy định tại các khoản 1, 2, 3, 4, 6,
7, 8, 9 và 10 Điều 27, các khoản 1, 2, 3, 4, 5, 6, 7, 8, 10 và 11 Điều 29,
các khoản 1, 2, 3 và 6 Điều 31, các khoản 1, 2 và 5 Điều 33
của Bộ luật này. Trường hợp Phần này không quy định thì áp dụng những quy
định khác của Bộ luật này để giải quyết việc dân sự.
Điều 362. Đơn yêu cầu Tòa án giải quyết việc
dân sự
1. Người yêu cầu Tòa án giải quyết việc dân
sự phải gửi đơn đến Tòa án có thẩm quyền quy định tại Mục 2 Chương III của Bộ
luật này.
Trường hợp Chấp hành viên yêu cầu Tòa án giải
quyết việc dân sự theo quy định của Luật Thi hành án dân sự thì có quyền, nghĩa
vụ của người yêu cầu giải quyết việc dân sự theo quy định của Bộ luật này.
2. Đơn yêu cầu phải có các nội dung chính sau
đây:
a) Ngày, tháng, năm làm đơn;
b) Tên Tòa án có thẩm quyền giải quyết việc
dân sự;
c) Tên, địa chỉ; số điện thoại, fax, địa chỉ
thư điện tử (nếu có) của người yêu cầu;
d) Những vấn đề cụ thể yêu cầu Tòa án giải
quyết và lý do, mục đích, căn cứ của việc yêu cầu Tòa án giải quyết việc dân sự
đó;
đ) Tên, địa chỉ của những người có liên quan
đến việc giải quyết việc dân sự đó (nếu có);
e) Các thông tin khác mà người yêu cầu xét
thấy cần thiết cho việc giải quyết yêu cầu của mình;
g) Người yêu cầu là cá nhân phải ký tên hoặc
điểm chỉ, nếu là cơ quan, tổ chức thì đại diện hợp pháp của cơ quan, tổ chức đó
phải ký tên và đóng dấu vào phần cuối đơn; trường hợp tổ chức yêu cầu là doanh
nghiệp thì việc sử dụng con dấu được thực hiện theo quy định của Luật Doanh
nghiệp.
3. Kèm theo đơn yêu cầu, người yêu cầu phải
gửi tài liệu, chứng cứ để chứng minh cho yêu cầu của mình là có căn cứ và hợp
pháp.
Điều 363. Thủ tục nhận và xử lý đơn yêu cầu
1. Thủ tục nhận đơn yêu cầu được thực hiện
theo quy định tại khoản 1 Điều 191 của Bộ luật này.
Trong thời hạn 03 ngày làm việc, kể từ ngày
nhận đơn yêu cầu và tài liệu, chứng cứ kèm theo, Chánh án Tòa án phân công Thẩm
phán giải quyết đơn yêu cầu.
2. Trường hợp đơn yêu cầu chưa ghi đầy đủ nội
dung theo quy định tại khoản 2 Điều 362 của Bộ luật này
thì Thẩm phán yêu cầu người yêu cầu sửa đổi, bổ sung trong thời hạn 07 ngày, kể
từ ngày nhận được yêu cầu. Thủ tục sửa đổi, bổ sung đơn yêu cầu được thực hiện
theo quy định tại khoản 1 Điều 193 của Bộ luật này.
3. Trường hợp người yêu cầu thực hiện đầy đủ
yêu cầu sửa đổi, bổ sung thì Thẩm phán tiến hành thủ tục thụ lý việc dân sự.
Hết thời hạn quy định tại khoản 2 Điều này mà
người yêu cầu không sửa đổi, bổ sung đơn yêu cầu thì Thẩm phán trả lại đơn yêu
cầu và tài liệu, chứng cứ kèm theo cho họ.
4. Trường hợp xét thấy đơn yêu cầu và tài
liệu, chứng cứ kèm theo đã đủ điều kiện thụ lý thì Thẩm phán thực hiện như sau:
a) Thông báo cho người yêu cầu về việc nộp lệ
phí yêu cầu giải quyết việc dân sự trong thời hạn 05 ngày làm việc, kể từ ngày
nhận được thông báo nộp lệ phí, trừ trường hợp người đó được miễn hoặc không
phải nộp lệ phí theo quy định của pháp luật về phí, lệ phí;
b) Tòa án thụ lý đơn yêu cầu khi người yêu
cầu nộp cho Tòa án biên lai thu tiền lệ phí yêu cầu giải quyết việc dân sự;
c) Trường hợp người yêu cầu được miễn hoặc
không phải nộp lệ phí thì Thẩm phán thụ lý việc dân sự kể từ ngày nhận được đơn
yêu cầu.
1. Tòa án trả lại đơn yêu cầu trong những
trường hợp sau đây:
a) Người yêu cầu không có quyền yêu cầu hoặc
không có đủ năng lực hành vi tố tụng dân sự;
b) Sự việc người yêu cầu yêu cầu đã được Tòa
án hoặc cơ quan nhà nước có thẩm quyền giải quyết;
c) Việc dân sự không thuộc thẩm quyền giải
quyết của Tòa án;
d) Người yêu cầu không sửa đổi, bổ sung đơn
yêu cầu trong thời hạn quy định tại khoản 2 Điều 363 của Bộ
luật này;
đ) Người yêu cầu không nộp lệ phí trong thời
hạn quy định tại điểm a khoản 4 Điều 363 của Bộ luật này,
trừ trường hợp được miễn hoặc không phải nộp lệ phí hoặc chậm nộp vì sự kiện
bất khả kháng, trở ngại khách quan;
e) Người yêu cầu rút đơn yêu cầu;
g) Những trường hợp khác theo quy định của
pháp luật.
2. Khi trả lại đơn yêu cầu và tài liệu, chứng
cứ kèm theo, Tòa án phải thông báo bằng văn bản và nêu rõ lý do.
3. Việc khiếu nại và giải quyết khiếu nại
việc trả lại đơn yêu cầu được thực hiện theo quy định tại Điều
194 của Bộ luật này.
Điều 365. Thông báo thụ lý đơn yêu cầu
1. Trong thời hạn 03 ngày làm việc, kể từ
ngày thụ lý đơn yêu cầu, Tòa án phải thông báo bằng văn bản cho người yêu cầu,
người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến việc giải quyết việc dân sự, cho
Viện kiểm sát cùng cấp về việc Tòa án đã thụ lý đơn yêu cầu.
2. Văn bản thông báo phải có các nội dung
chính sau đây:
a) Ngày, tháng, năm làm văn bản thông báo;
b) Tên, địa chỉ Tòa án đã thụ lý đơn yêu cầu;
c) Tên, địa chỉ của đương sự;
d) Những vấn đề cụ thể đương sự yêu cầu Tòa
án giải quyết;
đ) Danh mục tài liệu, chứng cứ đương sự nộp
kèm theo đơn yêu cầu;
e) Thời hạn người có quyền lợi, nghĩa vụ liên
quan phải có ý kiến bằng văn bản nộp cho Tòa án đối với yêu cầu của người yêu
cầu và tài liệu, chứng cứ kèm theo (nếu có);
g) Hậu quả pháp lý của việc người có quyền
lợi, nghĩa vụ liên quan không nộp cho Tòa án văn bản về ý kiến của mình đối với
yêu cầu giải quyết việc dân sự.
Điều 366. Chuẩn bị xét đơn yêu cầu
1. Thời hạn chuẩn bị xét đơn yêu cầu là 01
tháng, kể từ ngày Tòa án thụ lý đơn yêu cầu, trừ trường hợp Bộ luật này có quy
định khác.
2. Trong thời hạn chuẩn bị xét đơn yêu cầu,
Tòa án tiến hành công việc sau đây:
a) Trường hợp xét thấy tài liệu, chứng cứ
chưa đủ căn cứ để Tòa án giải quyết thì Tòa án yêu cầu đương sự bổ sung tài
liệu, chứng cứ trong thời hạn 05 ngày làm việc, kể từ ngày nhận được yêu cầu
của Tòa án;
b) Trường hợp đương sự có yêu cầu hoặc khi
xét thấy cần thiết thì Thẩm phán ra quyết định yêu cầu cơ quan, tổ chức, cá
nhân cung cấp tài liệu, chứng cứ; triệu tập người làm chứng, trưng cầu giám
định, định giá tài sản. Nếu hết thời hạn chuẩn bị xét đơn yêu cầu quy định tại
khoản 1 Điều này mà chưa có kết quả giám định, định giá tài sản thì thời hạn
chuẩn bị xét đơn yêu cầu được kéo dài nhưng không quá 01 tháng;
c) Quyết định đình chỉ việc xét đơn yêu cầu
và trả lại đơn yêu cầu, tài liệu, chứng cứ kèm theo nếu người yêu cầu rút đơn
yêu cầu;
d) Quyết định mở phiên họp giải quyết việc
dân sự.
3. Tòa án phải gửi ngay quyết định mở phiên
họp giải quyết việc dân sự và hồ sơ việc dân sự cho Viện kiểm sát cùng cấp để
nghiên cứu. Viện kiểm sát phải nghiên cứu trong thời hạn 07 ngày, kể từ ngày
nhận được hồ sơ; hết thời hạn này, Viện kiểm sát phải trả hồ sơ cho Tòa án để
mở phiên họp giải quyết việc dân sự.
4. Tòa án phải mở phiên họp để giải quyết
việc dân sự trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày ra quyết định mở phiên họp.
Điều 367. Những người tham gia phiên họp giải
quyết việc dân sự
1. Kiểm sát viên Viện kiểm sát cùng cấp phải
tham gia phiên họp; trường hợp Kiểm sát viên vắng mặt thì Tòa án vẫn tiến hành
phiên họp.
2. Người yêu cầu hoặc người đại diện hợp
pháp, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của họ phải tham gia phiên họp
theo giấy triệu tập của Tòa án.
Người yêu cầu vắng mặt lần thứ nhất thì Tòa
án hoãn phiên họp, trừ trường hợp người yêu cầu đề nghị Tòa án giải quyết việc
dân sự vắng mặt họ. Trường hợp người yêu cầu đã được triệu tập hợp lệ lần thứ
hai mà vẫn vắng mặt thì bị coi là từ bỏ yêu cầu và Tòa án ra quyết định đình
chỉ giải quyết việc dân sự; trong trường hợp này, quyền yêu cầu Tòa án giải
quyết việc dân sự đó theo thủ tục do Bộ luật này quy định vẫn được bảo đảm.
3. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan
hoặc người đại diện hợp pháp, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của họ
được Tòa án triệu tập tham gia phiên họp. Trong trường hợp cần thiết, Tòa án có
thể triệu tập người làm chứng, người giám định, người phiên dịch tham gia phiên
họp; nếu có người vắng mặt thì Tòa án quyết định hoãn phiên họp hoặc vẫn tiến
hành phiên họp.
Điều 368. Quyết định việc thay đổi người tiến
hành tố tụng khi giải quyết việc dân sự
1. Trước khi mở phiên họp, việc thay đổi Thẩm
phán, Thư ký phiên họp do Chánh án của Tòa án đang giải quyết việc dân sự đó
quyết định; nếu Thẩm phán bị thay đổi là Chánh án của Tòa án đang giải quyết
việc dân sự đó thì việc thay đổi do Chánh án Tòa án trên một cấp trực tiếp
quyết định.
2. Tại phiên họp giải quyết việc dân sự, việc
thay đổi Thẩm phán, Thư ký phiên họp được thực hiện như sau:
a) Trường hợp việc dân sự do một Thẩm phán
giải quyết thì việc thay đổi Thẩm phán, Thư ký phiên họp do Chánh án của Tòa án
đang giải quyết việc dân sự đó quyết định; nếu Thẩm phán bị thay đổi là Chánh
án của Tòa án đang giải quyết việc dân sự đó thì việc thay đổi do Chánh án Tòa
án trên một cấp trực tiếp quyết định;
b) Trường hợp việc dân sự do Hội đồng giải
quyết việc dân sự gồm ba Thẩm phán giải quyết thì việc thay đổi thành viên Hội
đồng, Thư ký phiên họp do Hội đồng giải quyết việc dân sự quyết định.
3. Trước khi mở phiên họp, việc thay đổi Kiểm
sát viên do Viện trưởng Viện kiểm sát cùng cấp quyết định.
Tại phiên họp, việc thay đổi Kiểm sát viên do
Thẩm phán, Hội đồng giải quyết việc dân sự quyết định. Trường hợp phải thay đổi
Kiểm sát viên thì Thẩm phán, Hội đồng giải quyết việc dân sự ra quyết định hoãn
phiên họp và thông báo cho Viện kiểm sát.
Việc cử Kiểm sát viên thay thế Kiểm sát viên
bị thay đổi do Viện trưởng Viện kiểm sát cùng cấp quyết định. Nếu Kiểm sát viên
bị thay đổi là Viện trưởng Viện kiểm sát thì do Viện trưởng Viện kiểm sát cấp
trên trực tiếp quyết định.
Điều 369. Thủ tục tiến hành phiên họp giải
quyết việc dân sự
1. Phiên họp giải quyết việc dân sự được tiến
hành theo trình tự sau đây:
a) Thư ký phiên họp báo cáo Thẩm phán, Hội
đồng giải quyết việc dân sự về sự có mặt, vắng mặt của những người tham gia
phiên họp;
b) Thẩm phán chủ tọa phiên họp khai mạc phiên
họp, kiểm tra về sự có mặt, vắng mặt của những người được triệu tập tham gia
phiên họp và căn cước của họ, giải thích quyền và nghĩa vụ của người tham gia
phiên họp;
c) Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của
người yêu cầu, người yêu cầu hoặc người đại diện hợp pháp của họ trình bày về
những vấn đề cụ thể yêu cầu Tòa án giải quyết, lý do, mục đích và căn cứ của
việc yêu cầu Tòa án giải quyết việc dân sự đó;
d) Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của
người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan
hoặc người đại diện hợp pháp của họ trình bày ý kiến về những vấn đề có liên
quan đến quyền, nghĩa vụ của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trong việc
giải quyết việc dân sự;
đ) Người làm chứng trình bày ý kiến; người
giám định trình bày kết luận giám định, giải thích những vấn đề còn chưa rõ
hoặc có mâu thuẫn (nếu có);
e) Thẩm phán, Hội đồng giải quyết việc dân sự
xem xét tài liệu, chứng cứ;
g) Kiểm sát viên phát biểu ý kiến của Viện
kiểm sát về việc giải quyết việc dân sự và gửi văn bản phát biểu ý kiến cho Tòa
án để lưu vào hồ sơ việc dân sự ngay sau khi kết thúc phiên họp;
h) Thẩm phán, Hội đồng giải quyết việc dân sự
xem xét, quyết định chấp nhận hoặc không chấp nhận yêu cầu giải quyết việc dân
sự.
2. Trường hợp có người được Tòa án triệu tập
tham gia phiên họp vắng mặt thì Thẩm phán, Hội đồng giải quyết việc dân sự cho
công bố lời khai, tài liệu, chứng cứ do người đó cung cấp trước khi xem xét tài
liệu, chứng cứ.
Điều 370. Quyết định giải quyết việc dân sự
1. Quyết định giải quyết việc dân sự phải có
các nội dung sau đây:
a) Ngày, tháng, năm ra quyết định;
b) Tên Tòa án ra quyết định;
c) Họ, tên của Thẩm phán, Kiểm sát viên, Thư
ký phiên họp;
d) Tên, địa chỉ của người yêu cầu giải quyết
việc dân sự;
đ) Những vấn đề cụ thể yêu cầu Tòa án giải
quyết;
e) Tên, địa chỉ của người có quyền lợi, nghĩa
vụ liên quan;
g) Nhận định của Tòa án và những căn cứ để
chấp nhận hoặc không chấp nhận đơn yêu cầu;
h) Căn cứ pháp luật để giải quyết việc dân
sự;
i) Quyết định của Tòa án;
k) Lệ phí phải nộp.
2. Quyết định giải quyết việc dân sự phải
được gửi cho Viện kiểm sát cùng cấp, người yêu cầu giải quyết việc dân sự,
người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến việc giải quyết việc dân sự trong
thời hạn 05 ngày làm việc, kể từ ngày ra quyết định.
Việc gửi quyết định giải quyết việc dân sự
cho cơ quan thi hành án được thực hiện theo quy định của Luật Thi hành án dân
sự.
3. Quyết định giải quyết việc dân sự có hiệu
lực pháp luật của Tòa án có liên quan đến việc thay đổi hộ tịch của cá nhân
phải được Tòa án gửi cho Ủy ban nhân dân nơi đã đăng ký hộ tịch của cá nhân đó
theo quy định của Luật Hộ tịch.
4. Quyết định giải quyết việc dân sự có hiệu
lực pháp luật của Tòa án được công bố trên Cổng thông tin điện tử của Tòa án
(nếu có), trừ quyết định có chứa thông tin quy định tại khoản
2 Điều 109 của Bộ luật này.
Điều 371. Kháng cáo, kháng nghị quyết định
giải quyết việc dân sự
Người yêu cầu, người có quyền lợi, nghĩa vụ
liên quan đến việc giải quyết việc dân sự có quyền kháng cáo, Viện kiểm sát
cùng cấp, Viện kiểm sát cấp trên trực tiếp có quyền kháng nghị quyết định giải
quyết việc dân sự để yêu cầu Tòa án trên một cấp trực tiếp giải quyết lại theo
thủ tục phúc thẩm, trừ quyết định giải quyết việc dân sự quy định tại khoản 7 Điều 27, khoản 2 và khoản 3 Điều 29 của Bộ luật này.
Điều 372. Thời hạn kháng cáo, kháng nghị
1. Người yêu cầu, người có quyền lợi, nghĩa
vụ liên quan đến việc giải quyết việc dân sự có quyền kháng cáo quyết định giải
quyết việc dân sự trong thời hạn 10 ngày, kể từ ngày Tòa án ra quyết định.
Trường hợp họ không có mặt tại phiên họp giải quyết việc dân sự thì thời hạn đó
được tính từ ngày họ nhận được quyết định giải quyết việc dân sự hoặc kể từ
ngày quyết định đó được thông báo, niêm yết.
2. Viện kiểm sát cùng cấp có quyền kháng nghị
quyết định giải quyết việc dân sự trong thời hạn 10 ngày, Viện kiểm sát cấp
trên trực tiếp có quyền kháng nghị trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày Tòa án ra
quyết định.
Điều 373. Chuẩn bị xét kháng cáo, kháng nghị
1. Thời hạn chuẩn bị xét kháng cáo, kháng
nghị là 15 ngày, kể từ ngày Tòa án nhận kháng cáo, kháng nghị.
2. Trong thời hạn chuẩn bị xét kháng cáo,
kháng nghị, Tòa án tiến hành các công việc sau đây:
a) Trường hợp xét thấy tài liệu, chứng cứ
chưa đủ căn cứ để Tòa án giải quyết thì Tòa án yêu cầu đương sự bổ sung tài
liệu, chứng cứ trong thời hạn 05 ngày làm việc, kể từ ngày nhận được yêu cầu
của Tòa án;
b) Trường hợp đương sự có yêu cầu hoặc khi
xét thấy cần thiết, Thẩm phán ra quyết định yêu cầu cơ quan, tổ chức, cá nhân
cung cấp tài liệu, chứng cứ; triệu tập người làm chứng, trưng cầu giám định,
định giá. Nếu hết thời hạn quy định tại khoản 1 Điều này mà chưa có kết quả
giám định, định giá thì thời hạn chuẩn bị xét kháng cáo, kháng nghị được kéo
dài nhưng không quá 15 ngày;
c) Trong thời hạn chuẩn bị xét kháng cáo,
kháng nghị, nếu tất cả người kháng cáo rút đơn kháng cáo, Viện kiểm sát rút
kháng nghị thì Tòa án ra quyết định đình chỉ giải quyết việc xét đơn yêu cầu
theo thủ tục phúc thẩm. Trong trường hợp này, quyết định giải quyết việc dân sự
theo thủ tục sơ thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày Tòa án cấp phúc thẩm ra
quyết định đình chỉ;
d) Quyết định mở phiên họp phúc thẩm giải
quyết việc dân sự.
3. Tòa án phải gửi ngay quyết định mở phiên
họp phúc thẩm giải quyết việc dân sự và hồ sơ việc dân sự cho Viện kiểm sát
cùng cấp để nghiên cứu. Viện kiểm sát phải nghiên cứu trong thời hạn 07 ngày,
kể từ ngày nhận được hồ sơ; hết thời hạn này, Viện kiểm sát phải trả hồ sơ cho
Tòa án để mở phiên họp phúc thẩm giải quyết việc dân sự.
4. Trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày ra
quyết định mở phiên họp, Thẩm phán phải mở phiên họp phúc thẩm giải quyết việc
dân sự.
Điều 374. Những người tham gia phiên họp phúc
thẩm giải quyết việc dân sự
1. Kiểm sát viên Viện kiểm sát cùng cấp phải
tham gia phiên họp phúc thẩm giải quyết việc dân sự; trường hợp Kiểm sát viên
vắng mặt thì Tòa án vẫn tiến hành phiên họp, trừ trường hợp Viện kiểm sát kháng
nghị phúc thẩm.
2. Người có đơn kháng cáo, người đại diện hợp
pháp, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của họ phải tham gia phiên họp
theo giấy triệu tập của Tòa án.
Người kháng cáo vắng mặt lần thứ nhất có lý
do chính đáng thì Tòa án hoãn phiên họp phúc thẩm giải quyết việc dân sự, trừ
trường hợp người kháng cáo yêu cầu giải quyết vắng mặt họ. Nếu người kháng cáo
đã được triệu tập hợp lệ lần thứ hai mà vẫn vắng mặt thì bị coi là từ bỏ kháng
cáo và Tòa án ra quyết định đình chỉ giải quyết phúc thẩm việc dân sự đối với
yêu cầu kháng cáo của họ, trừ trường hợp họ có đơn đề nghị giải quyết vắng mặt
hoặc do sự kiện bất khả kháng, trở ngại khách quan.
3. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan,
người đại diện hợp pháp, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của họ được Tòa
án triệu tập tham gia phiên họp. Trong trường hợp cần thiết, Tòa án có thể
triệu tập người làm chứng, người giám định, người phiên dịch tham gia phiên
họp; nếu có người vắng mặt thì Tòa án quyết định hoãn phiên họp hoặc vẫn tiến
hành phiên họp.
Điều 375. Thủ tục tiến hành phiên họp phúc
thẩm giải quyết việc dân sự
1. Phiên họp phúc thẩm giải quyết việc dân sự
được tiến hành theo trình tự sau đây:
a) Thư ký phiên họp báo cáo về sự có mặt,
vắng mặt của những người tham gia phiên họp;
b) Thẩm phán chủ tọa phiên họp khai mạc phiên
họp, kiểm tra về sự có mặt, vắng mặt của những người được triệu tập tham gia
phiên họp và căn cước của họ, giải thích quyền và nghĩa vụ của người tham gia
phiên họp;
c) Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của
người kháng cáo, người kháng cáo hoặc người đại diện hợp pháp của họ trình bày
về nội dung kháng cáo và căn cứ của việc kháng cáo;
Trường hợp chỉ có Viện kiểm sát kháng nghị
thì Kiểm sát viên trình bày về nội dung kháng nghị và căn cứ của việc kháng
nghị. Trường hợp vừa có kháng cáo, vừa có kháng nghị thì các đương sự trình bày
về nội dung kháng cáo và các căn cứ của việc kháng cáo trước, sau đó Kiểm sát
viên trình bày về nội dung kháng nghị và căn cứ của việc kháng nghị. Trường hợp
Viện kiểm sát không kháng nghị thì Kiểm sát viên phát biểu ý kiến của Viện kiểm
sát về việc giải quyết kháng cáo trước khi Hội đồng phúc thẩm ra quyết định.
Ngay sau khi kết thúc phiên họp, Kiểm sát
viên phải gửi văn bản phát biểu ý kiến cho Tòa án để lưu vào hồ sơ việc dân sự;
d) Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của
người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan
hoặc người đại diện hợp pháp của họ trình bày ý kiến về những vấn đề có liên
quan đến quyền, nghĩa vụ của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trong nội
dung kháng cáo, kháng nghị;
đ) Người làm chứng trình bày ý kiến; người
giám định trình bày kết luận giám định, giải thích những vấn đề còn chưa rõ
hoặc có mâu thuẫn.
2. Trường hợp có người được Tòa án triệu tập
tham gia phiên họp vắng mặt thì Thẩm phán cho công bố lời khai, tài liệu, chứng
cứ do người đó cung cấp.
3. Hội đồng phúc thẩm xem xét quyết định của
Tòa án cấp sơ thẩm bị kháng cáo, kháng nghị, tài liệu, chứng cứ có liên quan và
ra một trong các quyết định sau đây:
a) Giữ nguyên quyết định giải quyết việc dân
sự của Tòa án cấp sơ thẩm;
b) Sửa quyết định giải quyết việc dân sự của
Tòa án cấp sơ thẩm;
c) Hủy quyết định giải quyết việc dân sự của
Tòa án cấp sơ thẩm và chuyển hồ sơ việc dân sự cho Tòa án cấp sơ thẩm để giải
quyết lại theo thủ tục sơ thẩm;
d) Hủy quyết định giải quyết việc dân sự của
Tòa án cấp sơ thẩm và đình chỉ giải quyết việc dân sự;
đ) Đình chỉ giải quyết việc xét đơn yêu cầu
theo thủ tục phúc thẩm nếu tại phiên họp tất cả người kháng cáo rút đơn kháng
cáo, Viện kiểm sát rút kháng nghị.
4. Quyết định phúc thẩm giải quyết việc dân
sự có hiệu lực pháp luật kể từ ngày ra quyết định và được gửi cho cơ quan, tổ
chức, cá nhân quy định tại khoản 2 và khoản 3 Điều 370 của Bộ
luật này.
5. Quyết định phúc thẩm giải quyết việc dân
sự có hiệu lực pháp luật được công bố trên Cổng thông tin điện tử của Tòa án
(nếu có), trừ quyết định có chứa thông tin quy định tại khoản
2 Điều 109 của Bộ luật này.
1. Người có quyền, lợi ích liên quan, cơ
quan, tổ chức hữu quan có quyền yêu cầu Tòa án tuyên bố một người mất năng lực
hành vi dân sự hoặc bị hạn chế năng lực hành vi dân sự hoặc có khó khăn trong
nhận thức, làm chủ hành vi theo quy định của Bộ luật Dân sự.
2. Người thành niên không đủ khả năng nhận
thức, làm chủ hành vi do tình trạng thể chất, tinh thần nhưng chưa đến mức mất
năng lực hành vi dân sự có quyền yêu cầu Tòa án tuyên bố họ là người có khó
khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi theo quy định của Bộ luật Dân sự.
Điều 377. Chuẩn bị xét đơn yêu cầu
Trong thời hạn chuẩn bị xét đơn yêu cầu, theo
đề nghị của người yêu cầu, Tòa án có thể trưng cầu giám định sức khoẻ, bệnh tật
của người bị yêu cầu tuyên bố bị hạn chế năng lực hành vi dân sự hoặc giám định
pháp y tâm thần đối với người bị yêu cầu tuyên bố mất năng lực hành vi dân sự,
người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi. Trong trường hợp này, khi
nhận được kết luận giám định, Tòa án phải ra quyết định mở phiên họp để xét đơn
yêu cầu.
Trường hợp chấp nhận đơn yêu cầu thì Tòa án
ra quyết định tuyên bố một người mất năng lực hành vi dân sự, bị hạn chế năng
lực hành vi dân sự hoặc có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi.
Trong quyết định tuyên bố một người bị hạn
chế năng lực hành vi dân sự, Tòa án phải xác định người đại diện theo pháp luật
của người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự và phạm vi đại diện.
Trong quyết định tuyên bố một người có khó
khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi, Tòa án phải chỉ định người giám hộ, xác
định quyền, nghĩa vụ của người giám hộ.
Khi người bị Tòa án tuyên bố mất năng lực
hành vi dân sự, bị hạn chế năng lực hành vi dân sự hoặc có khó khăn trong nhận
thức, làm chủ hành vi không còn ở trong tình trạng đã bị tuyên bố thì chính
người đó hoặc người có quyền, lợi ích liên quan hoặc cơ quan, tổ chức hữu quan
có quyền yêu cầu Tòa án ra quyết định hủy bỏ quyết định tuyên bố mất năng lực
hành vi dân sự, bị hạn chế năng lực hành vi dân sự hoặc có khó khăn trong nhận
thức, làm chủ hành vi.
Trường hợp chấp nhận đơn yêu cầu thì Tòa án
ra quyết định hủy bỏ quyết định tuyên bố mất năng lực hành vi dân sự hoặc bị
hạn chế năng lực hành vi dân sự hoặc có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành
vi.
THỦ TỤC GIẢI QUYẾT YÊU CẦU THÔNG BÁO TÌM KIẾM
NGƯỜI VẮNG MẶT TẠI NƠI CƯ TRÚ
Điều 381. Đơn yêu cầu thông báo tìm kiếm
người vắng mặt tại nơi cư trú
1. Người có quyền, lợi ích liên quan có quyền
yêu cầu Tòa án thông báo tìm kiếm người vắng mặt tại nơi cư trú khi người đó
biệt tích 06 tháng liền trở lên, đồng thời có thể yêu cầu Tòa án áp dụng biện
pháp quản lý tài sản của người vắng mặt đó theo quy định của Bộ luật Dân sự.
2. Kèm theo đơn yêu cầu Tòa án thông báo tìm
kiếm người vắng mặt tại nơi cư trú, người yêu cầu phải gửi tài liệu, chứng cứ
để chứng minh là người bị yêu cầu biệt tích 06 tháng liền trở lên; trường hợp
có yêu cầu Tòa án áp dụng biện pháp quản lý tài sản của người vắng mặt thì phải
cung cấp tài liệu, chứng cứ về tình hình tài sản của người đó, việc quản lý tài
sản hiện có và danh sách những người thân thích của người đó.
Điều 382. Chuẩn bị xét đơn yêu cầu thông báo
tìm kiếm người vắng mặt tại nơi cư trú
Trong thời hạn chuẩn bị xét đơn yêu cầu, Tòa
án ra quyết định đình chỉ xét đơn yêu cầu thông báo tìm kiếm người vắng mặt tại
nơi cư trú, nếu người bị yêu cầu thông báo tìm kiếm trở về và yêu cầu Tòa án
đình chỉ việc xét đơn yêu cầu.
Điều 383. Quyết định thông báo tìm kiếm người
vắng mặt tại nơi cư trú
Trường hợp chấp nhận đơn yêu cầu thì Tòa án
ra quyết định thông báo tìm kiếm người vắng mặt tại nơi cư trú; trường hợp có
yêu cầu Tòa án áp dụng biện pháp quản lý tài sản của người vắng mặt đó tại nơi
cư trú và được chấp nhận thì trong quyết định, Tòa án còn phải quyết định áp
dụng biện pháp quản lý tài sản của người đó theo quy định của Bộ luật Dân sự.
Điều 384. Thông báo tìm kiếm người vắng mặt
tại nơi cư trú
Thông báo tìm kiếm người vắng mặt tại nơi cư
trú phải có các nội dung chính sau đây:
1. Ngày, tháng, năm ra thông báo;
2. Tên Tòa án ra thông báo;
3. Số và ngày, tháng, năm của quyết định
thông báo tìm kiếm người vắng mặt tại nơi cư trú;
4. Tên, địa chỉ của người yêu cầu Tòa án
thông báo;
5. Họ, tên và ngày, tháng, năm sinh hoặc tuổi
của người cần tìm kiếm và địa chỉ cư trú của người đó trước khi biệt tích;
6. Địa chỉ liên hệ của cơ quan, tổ chức, cá
nhân nếu người cần tìm kiếm biết được thông báo hoặc người khác có được tin tức
về người cần tìm kiếm.
Điều 385. Công bố thông báo tìm kiếm người
vắng mặt tại nơi cư trú
1. Trong thời hạn 01 tháng, kể từ ngày Tòa án
ra quyết định thông báo tìm kiếm người vắng mặt tại nơi cư trú, thông báo này
phải được đăng trên một trong các báo hàng ngày của trung ương trong ba số liên
tiếp, Cổng thông tin điện tử của Tòa án, Ủy ban nhân dân cấp tỉnh (nếu có) và
phát sóng trên Đài phát thanh hoặc Đài truyền hình của trung ương ba lần trong
03 ngày liên tiếp.
2. Chi phí cho việc đăng, phát thông báo tìm
kiếm người vắng mặt tại nơi cư trú do người yêu cầu chịu.
Điều 386. Hiệu lực của quyết định thông báo
tìm kiếm người vắng mặt tại nơi cư trú
Quyết định thông báo tìm kiếm người vắng mặt
tại nơi cư trú quy định tại Điều 383 của Bộ luật này đương
nhiên hết hiệu lực trong trường hợp người cần tìm kiếm trở về.
THỦ TỤC GIẢI QUYẾT YÊU CẦU TUYÊN BỐ MỘT NGƯỜI
MẤT TÍCH
Điều 387. Đơn yêu cầu tuyên bố một người mất
tích
1. Người có quyền, lợi ích liên quan có quyền
yêu cầu Tòa án tuyên bố một người mất tích theo quy định của Bộ luật Dân sự.
2. Kèm theo đơn yêu cầu, người yêu cầu phải
gửi tài liệu, chứng cứ để chứng minh người bị yêu cầu tuyên bố mất tích đã biệt
tích 02 năm liền trở lên mà không có tin tức xác thực về việc người đó còn sống
hoặc đã chết và chứng minh cho việc người yêu cầu đã áp dụng đầy đủ các biện
pháp thông báo tìm kiếm; trường hợp trước đó đã có quyết định của Tòa án thông
báo tìm kiếm người vắng mặt tại nơi cư trú thì phải có bản sao quyết định đó.
Điều 388. Chuẩn bị xét đơn yêu cầu tuyên bố
một người mất tích
1. Trong thời hạn 20 ngày, kể từ ngày thụ lý
đơn yêu cầu tuyên bố một người mất tích, Tòa án ra quyết định thông báo tìm
kiếm người bị yêu cầu tuyên bố mất tích.
2. Nội dung thông báo và việc công bố thông
báo được thực hiện theo quy định tại Điều 384 và Điều 385 của
Bộ luật này. Thời hạn thông báo tìm kiếm người bị yêu cầu tuyên bố mất tích
là 04 tháng, kể từ ngày đăng, phát thông báo lần đầu tiên.
3. Trong thời hạn thông báo, nếu người bị yêu
cầu tuyên bố mất tích trở về và yêu cầu Tòa án đình chỉ việc xét đơn yêu cầu
thì Tòa án ra quyết định đình chỉ việc xét đơn yêu cầu tuyên bố một người mất
tích.
4. Trong thời hạn 10 ngày, kể từ ngày kết
thúc thời hạn thông báo quy định tại khoản 2 Điều này thì Tòa án phải mở phiên
họp xét đơn yêu cầu.
Điều 389. Quyết định tuyên bố một người mất
tích
Trường hợp chấp nhận đơn yêu cầu thì Tòa án
ra quyết định tuyên bố một người mất tích; trường hợp có yêu cầu Tòa án áp dụng
biện pháp quản lý tài sản của người bị tuyên bố mất tích đó và được chấp nhận
thì trong quyết định tuyên bố một người mất tích, Tòa án còn phải quyết định áp
dụng biện pháp quản lý tài sản của người đó theo quy định của Bộ luật Dân sự.
Điều 390. Hủy bỏ quyết định tuyên bố một
người mất tích
1. Người bị Tòa án tuyên bố mất tích trở về
hoặc người có quyền, lợi ích liên quan có quyền yêu cầu Tòa án hủy bỏ quyết
định tuyên bố một người mất tích theo quy định của Bộ luật Dân sự.
2. Trường hợp chấp nhận đơn yêu cầu thì Tòa
án ra quyết định hủy bỏ quyết định tuyên bố một người mất tích, trong đó phải
quyết định về hậu quả pháp lý của việc hủy bỏ quyết định tuyên bố một người mất
tích theo quy định của Bộ luật Dân sự.
THỦ TỤC GIẢI QUYẾT YÊU CẦU TUYÊN BỐ MỘT NGƯỜI
LÀ ĐÃ CHẾT
Điều 391. Quyền yêu cầu tuyên bố một người là
đã chết
1. Người có quyền, lợi ích liên quan có quyền
yêu cầu Tòa án tuyên bố một người là đã chết theo quy định của Bộ luật Dân sự.
2. Kèm theo đơn yêu cầu, người yêu cầu phải
gửi tài liệu, chứng cứ để chứng minh người bị yêu cầu tuyên bố là đã chết thuộc
trường hợp theo quy định của Bộ luật Dân sự.
Điều 392. Chuẩn bị xét đơn yêu cầu tuyên bố
một người là đã chết
1. Trong thời hạn 20 ngày, kể từ ngày thụ lý
đơn yêu cầu tuyên bố một người là đã chết, Tòa án ra quyết định thông báo tìm
kiếm thông tin về người bị yêu cầu tuyên bố là đã chết.
2. Nội dung thông báo, việc công bố thông báo
và thời hạn thông báo được thực hiện theo quy định tại khoản 2
Điều 388 của Bộ luật này.
3. Trong thời hạn thông báo, nếu người yêu
cầu rút đơn yêu cầu hoặc người bị yêu cầu tuyên bố là đã chết trở về và thông
báo cho Tòa án biết thì Tòa án ra quyết định đình chỉ việc xét đơn yêu cầu.
4. Trong thời hạn 10 ngày, kể từ ngày hết
thời hạn thông báo thì Tòa án phải mở phiên họp xét đơn yêu cầu.
Điều 393. Quyết định tuyên bố một người là đã
chết
Trường hợp chấp nhận đơn yêu cầu thì Tòa án
ra quyết định tuyên bố một người là đã chết; trong quyết định này, Tòa án phải
xác định ngày chết của người đó và hậu quả pháp lý của việc tuyên bố một người
là đã chết theo quy định của Bộ luật Dân sự.
Điều 394. Đơn yêu cầu hủy bỏ quyết định tuyên
bố một người là đã chết
1. Khi một người bị tuyên bố là đã chết trở
về hoặc có tin tức xác thực là người đó còn sống thì người đó hoặc người có
quyền, lợi ích liên quan có quyền yêu cầu Tòa án ra quyết định hủy bỏ quyết
định tuyên bố một người là đã chết.
2. Kèm theo đơn yêu cầu, người yêu cầu phải
gửi tài liệu, chứng cứ để chứng minh người bị tuyên bố là đã chết trở về hoặc
chứng minh xác thực là người đó còn sống.
Điều 395. Quyết định hủy bỏ quyết định tuyên
bố một người là đã chết
Trường hợp chấp nhận đơn yêu cầu thì Tòa án
ra quyết định hủy bỏ quyết định tuyên bố một người là đã chết; trong quyết định
này, Tòa án phải quyết định về hậu quả pháp lý của việc hủy bỏ quyết định tuyên
bố một người là đã chết theo quy định của Bộ luật Dân sự.
THỦ TỤC GIẢI QUYẾT YÊU CẦU CÔNG NHẬN THUẬN
TÌNH LY HÔN, THỎA THUẬN NUÔI CON, CHIA TÀI SẢN KHI LY HÔN
Điều 396. Đơn yêu cầu công nhận thuận tình ly
hôn, thỏa thuận nuôi con, chia tài sản khi ly hôn
1. Vợ, chồng yêu cầu Tòa án công nhận thuận
tình ly hôn, thỏa thuận nuôi con, chia tài sản khi ly hôn phải có đơn yêu cầu.
Đơn phải có các nội dung quy định tại khoản 2 Điều 362 của Bộ
luật này.
2. Vợ, chồng cùng yêu cầu Tòa án công nhận
thuận tình ly hôn, thỏa thuận nuôi con, chia tài sản khi ly hôn phải ký tên
hoặc điểm chỉ vào đơn yêu cầu. Trong trường hợp này vợ, chồng cùng được xác
định là người yêu cầu.
3. Kèm theo đơn yêu cầu, người yêu cầu phải
gửi tài liệu, chứng cứ chứng minh thỏa thuận về thuận tình ly hôn, thỏa thuận
nuôi con, chia tài sản khi ly hôn là có căn cứ và hợp pháp.
Điều 397. Hòa giải và công nhận thuận tình ly
hôn, thỏa thuận nuôi con, chia tài sản khi ly hôn
1. Trong thời hạn chuẩn bị xét đơn yêu cầu,
trước khi tiến hành hòa giải để vợ chồng đoàn tụ, khi xét thấy cần thiết, Thẩm
phán có thể tham khảo ý kiến của cơ quan quản lý nhà nước về gia đình, cơ quan
quản lý nhà nước về trẻ em về hoàn cảnh gia đình, nguyên nhân phát sinh mâu
thuẫn và nguyện vọng của vợ, chồng, con có liên quan đến vụ án.
2. Thẩm phán phải tiến hành hòa giải để vợ
chồng đoàn tụ; giải thích về quyền và nghĩa vụ giữa vợ và chồng, giữa cha, mẹ
và con, giữa các thành viên khác trong gia đình, về trách nhiệm cấp dưỡng và
các vấn đề khác liên quan đến hôn nhân và gia đình.
3. Trường hợp sau khi hòa giải, vợ, chồng
đoàn tụ thì Thẩm phán ra quyết định đình chỉ giải quyết yêu cầu của họ.
4. Trường hợp hòa giải đoàn tụ không thành
thì Thẩm phán ra quyết định công nhận thuận tình ly hôn và sự thỏa thuận của
các đương sự theo quy định tại Điều 212 của Bộ luật này
khi có đầy đủ các điều kiện sau đây:
a) Hai bên thực sự tự nguyện ly hôn;
b) Hai bên đã thỏa thuận được với nhau về
việc chia hoặc không chia tài sản chung, việc trông nom, nuôi dưỡng, chăm sóc,
giáo dục con;
c) Sự thỏa thuận phải bảo đảm quyền lợi chính
đáng của vợ, con.
5. Trường hợp hòa giải đoàn tụ không thành và
các đương sự không thỏa thuận được về việc chia tài sản, việc trông nom, nuôi
dưỡng, chăm sóc, giáo dục con thì Tòa án đình chỉ giải quyết việc dân sự về
công nhận thuận tình ly hôn, thỏa thuận nuôi con, chia tài sản khi ly hôn và
thụ lý vụ án để giải quyết. Tòa án không phải thông báo về việc thụ lý vụ án,
không phải phân công lại Thẩm phán giải quyết vụ án. Việc giải quyết vụ án được
thực hiện theo thủ tục chung do Bộ luật này quy định.
THỦ TỤC GIẢI QUYẾT YÊU CẦU TUYÊN BỐ VĂN BẢN
CÔNG CHỨNG VÔ HIỆU
Điều 398. Đơn yêu cầu tuyên bố văn bản công
chứng vô hiệu
1.[73] Công chứng viên đã
thực hiện việc công chứng, người yêu cầu công chứng, người làm chứng, người
phiên dịch, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, cơ quan nhà nước có thẩm
quyền có quyền yêu cầu Tòa án tuyên bố văn bản công chứng vô hiệu khi có căn cứ
cho rằng việc công chứng có vi phạm pháp luật theo quy định của pháp luật về
công chứng.
2. Đơn yêu cầu Tòa án tuyên bố văn bản công
chứng vô hiệu phải có các nội dung quy định tại khoản 2 Điều
362 của Bộ luật này.
3. Kèm theo đơn yêu cầu, người yêu cầu phải
gửi tài liệu, chứng cứ để chứng minh cho yêu cầu tuyên bố văn bản công chứng vô
hiệu là có căn cứ và hợp pháp.
Điều 399. Chuẩn bị xét đơn yêu cầu tuyên bố
văn bản công chứng vô hiệu
1. Thời hạn chuẩn bị xét đơn yêu cầu tuyên bố
văn bản công chứng vô hiệu là 01 tháng, kể từ ngày Tòa án thụ lý đơn yêu cầu;
hết thời hạn này, Tòa án phải ra quyết định mở phiên họp để xét đơn yêu cầu.
2. Sau khi thụ lý đơn yêu cầu tuyên bố văn
bản công chứng vô hiệu, Tòa án có thẩm quyền phải thông báo ngay cho tổ chức
hành nghề công chứng, Công chứng viên đã thực hiện việc công chứng, người yêu
cầu công chứng, người có quyền, lợi ích liên quan, cơ quan nhà nước có thẩm
quyền và Viện kiểm sát cùng cấp.
3. Trong thời hạn chuẩn bị xét đơn yêu cầu,
nếu người yêu cầu rút đơn yêu cầu thì Tòa án ra quyết định đình chỉ việc xét
đơn yêu cầu.
4. Trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày ra
quyết định mở phiên họp, Tòa án phải mở phiên họp để xét đơn yêu cầu.
Điều 400. Quyết định tuyên bố văn bản công
chứng vô hiệu
1. Tòa án có thể chấp nhận hoặc không chấp
nhận đơn yêu cầu tuyên bố văn bản công chứng vô hiệu.
2. Trường hợp chấp nhận đơn yêu cầu thì Tòa
án ra quyết định tuyên bố văn bản công chứng vô hiệu. Trong quyết định này, Tòa
án phải quyết định về hậu quả pháp lý của việc tuyên bố văn bản công chứng vô
hiệu theo quy định của pháp luật.
THỦ TỤC GIẢI QUYẾT YÊU CẦU TUYÊN BỐ HỢP ĐỒNG
LAO ĐỘNG VÔ HIỆU; THỎA ƯỚC LAO ĐỘNG TẬP THỂ VÔ HIỆU
Điều 401. Yêu cầu tuyên bố hợp đồng lao động
vô hiệu, thỏa ước lao động tập thể vô hiệu
1. Người lao động, người sử dụng lao động, tổ
chức đại diện tập thể lao động, cơ quan nhà nước có thẩm quyền có quyền yêu cầu
Tòa án có thẩm quyền tuyên bố hợp đồng lao động, thỏa ước lao động tập thể vô
hiệu khi có căn cứ theo quy định của Bộ luật Lao động.
2. Đơn yêu cầu của người lao động, người sử
dụng lao động, tổ chức đại diện tập thể lao động, văn bản yêu cầu của cơ quan
nhà nước có thẩm quyền phải có các nội dung quy định tại khoản
2 Điều 362 của Bộ luật này.
Điều 402. Xem xét yêu cầu tuyên bố hợp đồng
lao động vô hiệu, thỏa ước lao động tập thể vô hiệu
1. Thời hạn chuẩn bị xét yêu cầu tuyên bố hợp
đồng lao động vô hiệu là 10 ngày, thỏa ước lao động tập thể vô hiệu là 15 ngày,
kể từ ngày Tòa án thụ lý đơn yêu cầu. Hết thời hạn này, Tòa án phải ra quyết
định mở phiên họp để xét đơn yêu cầu.
2. Sau khi thụ lý đơn yêu cầu tuyên bố hợp
đồng lao động vô hiệu, thỏa ước lao động tập thể vô hiệu, Tòa án có trách nhiệm
gửi thông báo thụ lý cho người có đơn yêu cầu, người sử dụng lao động, tổ chức
đại diện tập thể lao động và Viện kiểm sát cùng cấp.
3. Trong thời hạn chuẩn bị xét đơn hoặc văn
bản yêu cầu, nếu người yêu cầu rút yêu cầu thì Tòa án ra quyết định đình chỉ
việc xét đơn, văn bản yêu cầu.
4. Trong thời hạn 05 ngày làm việc, kể từ
ngày ra quyết định mở phiên họp, Tòa án phải mở phiên họp để xét yêu cầu tuyên
bố hợp đồng lao động vô hiệu.
Trong thời hạn 10 ngày, kể từ ngày ra quyết
định mở phiên họp, Tòa án phải mở phiên họp để xét yêu cầu tuyên bố thỏa ước
lao động tập thể vô hiệu.
5. Khi xét đơn yêu cầu, Thẩm phán có thể chấp
nhận hoặc không chấp nhận yêu cầu tuyên bố hợp đồng lao động vô hiệu, thỏa ước
lao động tập thể vô hiệu.
Trường hợp chấp nhận yêu cầu thì Thẩm phán ra
quyết định tuyên bố hợp đồng lao động vô hiệu, thỏa ước lao động tập thể vô
hiệu. Trong quyết định này, Tòa án phải giải quyết hậu quả pháp lý của việc
tuyên bố hợp đồng lao động vô hiệu, thỏa ước lao động tập thể vô hiệu.
6. Quyết định tuyên bố hợp đồng lao động vô
hiệu, thỏa ước lao động tập thể vô hiệu phải gửi đến người có đơn hoặc văn bản
yêu cầu, người sử dụng lao động, tổ chức đại diện tập thể lao động và cơ quan
quản lý nhà nước về lao động nơi doanh nghiệp đóng trụ sở chính, cơ quan quản
lý nhà nước về lao động cùng cấp trong trường hợp có liên quan đến doanh nghiệp
không có trụ sở chính tại Việt Nam.
THỦ TỤC XÉT TÍNH HỢP PHÁP CỦA CUỘC ĐÌNH CÔNG
Điều 403. Yêu cầu Tòa án xét tính hợp pháp
của cuộc đình công
1. Trong quá trình đình công hoặc trong thời
hạn 03 tháng, kể từ ngày chấm dứt đình công, người sử dụng lao động, tổ chức
đại diện tập thể lao động có quyền yêu cầu Tòa án xét tính hợp pháp của cuộc
đình công.
2. Người yêu cầu Tòa án xét tính hợp pháp của
cuộc đình công phải làm đơn yêu cầu gửi Tòa án. Đơn yêu cầu phải có các nội
dung chính sau đây:
a) Những nội dung quy định tại khoản 2 Điều 362 của Bộ luật này;
b) Tên, địa chỉ của tổ chức lãnh đạo cuộc
đình công;
c) Tên, địa chỉ của người sử dụng lao động
nơi tập thể lao động đình công.
3. Kèm theo đơn yêu cầu, người yêu cầu phải
gửi bản sao quyết định đình công, quyết định hoặc biên bản hòa giải của cơ
quan, tổ chức có thẩm quyền giải quyết vụ tranh chấp lao động tập thể, tài
liệu, chứng cứ có liên quan đến việc xét tính hợp pháp của cuộc đình công.
Điều 404. Thủ tục gửi đơn yêu cầu Tòa án xét
tính hợp pháp của cuộc đình công
Thủ tục gửi đơn, nhận đơn, nghĩa vụ cung cấp
tài liệu, chứng cứ đối với việc xét và quyết định về tính hợp pháp của cuộc
đình công tại Tòa án được thực hiện theo quy định của Bộ luật này.
Điều 405. Thẩm quyền xét tính hợp pháp của
cuộc đình công[74]
1. Tòa án nhân dân khu vực nơi xảy ra đình
công có thẩm quyền xét tính hợp pháp của cuộc đình công.
2. Tòa án nhân dân cấp tỉnh có thẩm quyền
giải quyết kháng cáo, kháng nghị đối với quyết định của Tòa án nhân dân khu vực
về tính hợp pháp của cuộc đình công trong phạm vi thẩm quyền theo lãnh thổ.
Điều 406. Thành phần Hội đồng xét tính hợp
pháp của cuộc đình công[75]
1. Tòa án nhân dân khu vực xét tính hợp pháp
của cuộc đình công bằng Hội đồng gồm ba Thẩm phán.
2. Tòa án nhân dân cấp tỉnh giải quyết kháng
cáo, kháng nghị đối với quyết định về tính hợp pháp của cuộc đình công bằng Hội
đồng gồm ba Thẩm phán.
Điều 407. Những người tham gia phiên họp xét
tính hợp pháp của cuộc đình công
1. Hội đồng xét tính hợp pháp của cuộc đình
công do một Thẩm phán làm chủ tọa; Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên họp.
2. Kiểm sát viên Viện kiểm sát cùng cấp.
3. Đại diện tổ chức đại diện tập thể lao động
và người sử dụng lao động.
4. Đại diện cơ quan, tổ chức theo yêu cầu của
Tòa án.
Điều 408. Hoãn phiên họp xét tính hợp pháp
của cuộc đình công
1. Phiên họp xét tính hợp pháp của cuộc đình
công được hoãn theo quy định tại Điều 233 của Bộ luật này
về hoãn phiên tòa.
2. Thời hạn hoãn phiên họp xét tính hợp pháp
của cuộc đình công không quá 03 ngày làm việc, kể từ ngày có quyết định hoãn
phiên họp.
Điều 409. Đình chỉ việc xét tính hợp pháp của
cuộc đình công
Tòa án đình chỉ việc xét tính hợp pháp của
cuộc đình công trong các trường hợp sau đây:
1. Người yêu cầu rút đơn yêu cầu;
2. Các bên đã thoả thuận được với nhau về
giải quyết cuộc đình công và có đơn yêu cầu Tòa án không giải quyết;
3. Người yêu cầu đã được triệu tập hợp lệ lần
thứ hai mà vẫn vắng mặt, trừ trường hợp do sự kiện bất khả kháng, trở ngại
khách quan.
Điều 410. Thủ tục giải quyết đơn yêu cầu xét
tính hợp pháp của cuộc đình công
1.[76] Ngay sau khi nhận đơn
yêu cầu, Chánh án Tòa án nhân dân khu vực quyết định thành lập Hội đồng xét
tính hợp pháp của cuộc đình công và phân công một Thẩm phán chủ trì việc giải
quyết đơn yêu cầu.
2. Trong thời hạn 05 ngày làm việc, kể từ
ngày nhận đơn yêu cầu, Thẩm phán được phân công chủ trì việc giải quyết đơn yêu
cầu phải ra quyết định mở phiên họp xét tính hợp pháp của cuộc đình công. Quyết
định mở phiên họp xét tính hợp pháp của cuộc đình công phải được gửi ngay cho
tổ chức đại diện tập thể lao động, người sử dụng lao động, Viện kiểm sát cùng
cấp và cơ quan, tổ chức liên quan.
3. Trong thời hạn 05 ngày làm việc, kể từ
ngày ra quyết định mở phiên họp xét tính hợp pháp của cuộc đình công, Hội đồng
xét tính hợp pháp của cuộc đình công phải mở phiên họp xét tính hợp pháp của
cuộc đình công.
Điều 411. Trình tự phiên họp xét tính hợp
pháp của cuộc đình công
1. Thẩm phán chủ trì phiên họp xét tính hợp
pháp của cuộc đình công công bố quyết định mở phiên họp xét tính hợp pháp của
cuộc đình công và tóm tắt nội dung đơn yêu cầu.
2. Đại diện tổ chức đại diện tập thể lao động
và đại diện của người sử dụng lao động trình bày ý kiến của mình.
3. Thẩm phán chủ trì phiên họp xét tính hợp
pháp của cuộc đình công có thể yêu cầu đại diện cơ quan, tổ chức tham gia phiên
họp trình bày ý kiến.
4. Kiểm sát viên phát biểu ý kiến của Viện
kiểm sát về việc xét tính hợp pháp của cuộc đình công.
Ngay sau khi kết thúc phiên họp, Kiểm sát
viên phải gửi văn bản phát biểu ý kiến cho Tòa án để lưu vào hồ sơ việc dân sự.
5. Hội đồng xét tính hợp pháp của cuộc đình
công thảo luận và quyết định theo đa số.
Điều 412. Quyết định về tính hợp pháp của
cuộc đình công
1. Quyết định của Tòa án về tính hợp pháp của
cuộc đình công phải nêu rõ lý do và căn cứ để kết luận tính hợp pháp của cuộc
đình công.
Quyết định của Tòa án về tính hợp pháp của
cuộc đình công phải được công bố công khai tại phiên họp và gửi ngay cho tổ
chức đại diện tập thể lao động và người sử dụng lao động, Viện kiểm sát cùng
cấp. Tập thể lao động, người sử dụng lao động có trách nhiệm thi hành quyết
định của Tòa án nhưng có quyền kháng cáo; Viện kiểm sát có quyền kháng nghị
quyết định đó.
2. Sau khi quyết định của Tòa án về tính hợp
pháp của cuộc đình công được công bố, nếu cuộc đình công là bất hợp pháp thì
người lao động đang tham gia đình công phải ngừng ngay đình công và trở lại làm
việc.
Điều 413. Trình tự, thủ tục giải quyết kháng
cáo, kháng nghị quyết định về tính hợp pháp của cuộc đình công[77]
1. Ngay sau khi nhận đơn kháng cáo, quyết
định kháng nghị đối với quyết định về tính hợp pháp của cuộc đình công, Tòa án
nhân dân cấp tỉnh phải có văn bản yêu cầu Tòa án đã xét tính hợp pháp của cuộc
đình công chuyển hồ sơ vụ việc để xem xét, giải quyết.
2. Trong thời hạn 03 ngày làm việc, kể từ
ngày nhận được văn bản yêu cầu, Tòa án đã ra quyết định về tính hợp pháp của
cuộc đình công phải chuyển hồ sơ vụ việc cho Tòa án nhân dân cấp tỉnh để xem
xét, giải quyết.
3. Trong thời hạn 02 ngày làm việc, kể từ
ngày nhận được hồ sơ vụ việc, Chánh án Tòa án nhân dân cấp tỉnh quyết định
thành lập Hội đồng phúc thẩm xét tính hợp pháp của cuộc đình công và phân công
một Thẩm phán chủ trì việc nghiên cứu hồ sơ.
Trong thời hạn 05 ngày làm việc, kể từ ngày
Tòa án nhân dân cấp tỉnh nhận được hồ sơ vụ việc, Hội đồng phúc thẩm phải tiến
hành xét kháng cáo, kháng nghị đối với quyết định về tính hợp pháp của cuộc
đình công.
Quyết định của Hội đồng phúc thẩm xét tính
hợp pháp của cuộc đình công của Tòa án nhân dân cấp tỉnh là quyết định cuối
cùng.
THỦ TỤC GIẢI QUYẾT CÁC VIỆC DÂN SỰ LIÊN QUAN
ĐẾN HOẠT ĐỘNG TRỌNG TÀI THƯƠNG MẠI VIỆT NAM
1. Chỉ định, thay đổi Trọng tài viên.
2. Áp dụng, thay đổi, hủy bỏ biện pháp khẩn
cấp tạm thời.
3. Hủy phán quyết trọng tài.
4. Giải quyết khiếu nại đối với quyết định
của Hội đồng trọng tài về thỏa thuận trọng tài vô hiệu, thỏa thuận trọng tài
không thể thực hiện được, thẩm quyền của Hội đồng trọng tài.
5. Thu thập chứng cứ.
6. Triệu tập người làm chứng.
7. Đăng ký phán quyết trọng tài.
8. Các việc dân sự khác mà pháp luật về Trọng
tài thương mại Việt Nam có quy định.
Thủ tục giải quyết các việc dân sự liên quan
đến hoạt động của Trọng tài thương mại Việt Nam được thực hiện theo quy định
của pháp luật về Trọng tài thương mại Việt Nam.
THỦ TỤC CÔNG NHẬN KẾT QUẢ
HÒA GIẢI THÀNH NGOÀI TÒA ÁN
Điều 416. Công nhận kết quả hòa giải thành
ngoài Tòa án
Kết quả hòa giải vụ việc ngoài Tòa án được
Tòa án xem xét ra quyết định công nhận là kết quả hòa giải thành vụ việc xảy ra
giữa cơ quan, tổ chức, cá nhân do cơ quan, tổ chức, người có thẩm quyền có
nhiệm vụ hòa giải đã hòa giải thành theo quy định của pháp luật về hòa giải.
Điều 417. Điều kiện công nhận kết quả hòa
giải thành ngoài Tòa án
1. Các bên tham gia thỏa thuận hòa giải có
đầy đủ năng lực hành vi dân sự.
2. Các bên tham gia thỏa thuận hòa giải là
người có quyền, nghĩa vụ đối với nội dung thỏa thuận hòa giải. Trường hợp nội
dung thỏa thuận hòa giải thành liên quan đến quyền, nghĩa vụ của người thứ ba
thì phải được người thứ ba đồng ý.
3. Một hoặc cả hai bên có đơn yêu cầu Tòa án
công nhận.
4. Nội dung thỏa thuận hòa giải thành của các
bên là hoàn toàn tự nguyện, không vi phạm điều cấm của luật, không trái đạo đức
xã hội, không nhằm trốn tránh nghĩa vụ với Nhà nước hoặc người thứ ba.
Điều 418. Đơn yêu cầu công nhận kết quả hòa
giải thành ngoài Tòa án
1. Người yêu cầu công nhận kết quả hòa giải
thành ngoài Tòa án phải gửi đơn đến Tòa án trong thời hạn 06 tháng, kể từ ngày
các bên đạt được thỏa thuận hòa giải thành.
Đơn yêu cầu phải có các nội dung chủ yếu sau
đây:
a) Các nội dung quy định tại các điểm a, b, c, đ, e và g khoản 2 Điều 362 của Bộ luật này;
b) Tên, địa chỉ của cá nhân, tổ chức đã tiến
hành hòa giải;
c) Nội dung, thỏa thuận hòa giải thành yêu
cầu Tòa án công nhận.
2. Kèm theo đơn yêu cầu, người yêu cầu phải
gửi văn bản về kết quả hòa giải thành theo quy định của pháp luật có liên quan.
Điều 419. Thủ tục công nhận kết quả hòa giải
thành ngoài Tòa án
1. Thủ tục nhận và xử lý đơn yêu cầu công
nhận kết quả hòa giải thành ngoài Tòa án được thực hiện theo quy định tại các điều 363, 364 và 365 của Bộ luật này.
2. Thời hạn chuẩn bị xét đơn yêu cầu là 15
ngày, kể từ ngày Tòa án thụ lý đơn yêu cầu; hết thời hạn này, Tòa án phải ra
quyết định mở phiên họp xét đơn yêu cầu.
Thời hạn mở phiên họp xét đơn yêu cầu là 10
ngày, kể từ ngày Tòa án ra quyết định mở phiên họp.
3. Trong thời hạn chuẩn bị xét đơn yêu cầu,
Thẩm phán được phân công xét đơn có quyền sau đây:
a) Yêu cầu bên tham gia hòa giải, người có
quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có ý kiến về yêu cầu của người có đơn đề nghị Tòa
án công nhận kết quả hòa giải thành; làm rõ nội dung yêu cầu hoặc bổ sung tài
liệu, nếu xét thấy cần thiết;
b) Yêu cầu cơ quan, tổ chức cá nhân có thẩm
quyền tiến hành hòa giải cung cấp cho Tòa án tài liệu làm cơ sở cho việc xét
đơn yêu cầu của đương sự, nếu xét thấy cần thiết.
Cơ quan, tổ chức, cá nhân được Tòa án yêu cầu
có trách nhiệm trả lời Tòa án trong thời hạn 05 ngày làm việc, kể từ ngày nhận
được yêu cầu của Tòa án.
4. Những người tham gia phiên họp xét đơn yêu
cầu, thủ tục tiến hành phiên họp xét đơn yêu cầu được thực hiện theo quy định
tại Điều 367 và Điều 369 của Bộ luật này.
5. Thẩm phán ra quyết định công nhận kết quả
hòa giải thành ngoài Tòa án khi có đủ các điều kiện quy định tại Điều 417 của Bộ luật này. Quyết định của Tòa án phải có các
nội dung quy định tại Điều 370 của Bộ luật này.
6. Thẩm phán ra quyết định không công nhận
kết quả hòa giải thành ngoài Tòa án đối với trường hợp không có đủ các điều
kiện quy định tại Điều 417 của Bộ luật này.
Việc không công nhận kết quả hòa giải thành
ngoài Tòa án không ảnh hưởng đến nội dung và giá trị pháp lý của kết quả hòa
giải ngoài Tòa án.
7. Quyết định công nhận hoặc không công nhận
kết quả hòa giải thành ngoài Tòa án được gửi cho người tham gia thỏa thuận hòa
giải, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan và Viện kiểm sát cùng cấp.
8. Quyết định công nhận hoặc không công nhận
kết quả hòa giải thành ngoài Tòa án có hiệu lực thi hành ngay, không bị kháng
cáo, kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm.
9. Quyết định công nhận kết quả hòa giải
thành ngoài Tòa án được thi hành theo pháp luật về thi hành án dân sự.
THỦ TỤC GIẢI QUYẾT VIỆC
DÂN SỰ LIÊN QUAN ĐẾN VIỆC BẮT GIỮ TÀU BAY, TÀU BIỂN
Điều 420. Quyền yêu cầu Tòa án bắt giữ tàu
bay, tàu biển
1. Cơ quan, tổ chức, cá nhân có quyền yêu cầu
Tòa án bắt giữ tàu bay tại cảng hàng không, sân bay để bảo đảm lợi ích của chủ
nợ, chủ sở hữu, người thứ ba ở mặt đất bị thiệt hại hoặc người khác có quyền,
lợi ích đối với tàu bay hoặc để thi hành án dân sự theo quy định của pháp luật
về hàng không dân dụng Việt Nam.
2. Cơ quan, tổ chức, cá nhân có quyền yêu cầu
Tòa án bắt giữ tàu biển để bảo đảm giải quyết khiếu nại hàng hải, thi hành án
dân sự, thực hiện tương trợ tư pháp.
Điều 421. Thẩm quyền của Tòa án bắt giữ tàu
bay, tàu biển[78]
1. Tòa án nhân dân khu vực nơi có cảng hàng
không, sân bay mà tàu bay bị yêu cầu bắt giữ hạ cánh có thẩm quyền quyết định
bắt giữ tàu bay.
2. Tòa án nhân dân khu vực nơi có cảng biển,
cảng thủy nội địa mà tàu biển bị yêu cầu bắt giữ đang hoạt động hàng hải có
thẩm quyền quyết định bắt giữ tàu biển. Trường hợp cảng có nhiều bến cảng tại
địa phận các xã, phường, đặc khu thuộc phạm vi thẩm quyền theo lãnh thổ của các
Tòa án nhân dân khu vực khác nhau thì Tòa án nhân dân khu vực nơi có bến cảng
mà tàu biển bị yêu cầu bắt giữ đang hoạt động hàng hải có thẩm quyền quyết định
bắt giữ tàu biển đó.
Điều 422. Thủ tục bắt giữ tàu bay, tàu biển
Thủ tục giải quyết việc dân sự liên quan đến
việc bắt giữ tàu bay, tàu biển được thực hiện theo quy định của pháp luật về
bắt giữ tàu bay, tàu biển.
1. Bản án, quyết định dân sự của Tòa án nước
ngoài sau đây được xem xét công nhận và cho thi hành tại Việt Nam:
a) Bản án, quyết định về dân sự, hôn nhân và
gia đình, kinh doanh, thương mại, lao động, quyết định về tài sản trong bản án,
quyết định hình sự, hành chính của Tòa án nước ngoài được quy định tại điều ước
quốc tế mà nước đó và Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên;
b) Bản án, quyết định về dân sự, hôn nhân và
gia đình, kinh doanh, thương mại, lao động; quyết định về tài sản trong bản án,
quyết định hình sự, hành chính của Tòa án nước ngoài mà nước đó và Cộng hòa xã
hội chủ nghĩa Việt Nam chưa cùng là thành viên của điều ước quốc tế có quy định
về công nhận và cho thi hành bản án, quyết định của Tòa án nước ngoài trên cơ
sở nguyên tắc có đi có lại;
c) Bản án, quyết định dân sự khác của Tòa án
nước ngoài được pháp luật Việt Nam quy định công nhận và cho thi hành.
2. Quyết định về nhân thân, hôn nhân và gia
đình của cơ quan khác có thẩm quyền của nước ngoài cũng được xem xét công nhận
và cho thi hành tại Việt Nam như bản án, quyết định dân sự của Tòa án nước
ngoài quy định tại khoản 1 Điều này.
Điều 424. Phán quyết của Trọng tài nước ngoài
được công nhận và cho thi hành tại Việt Nam
1. Phán quyết của Trọng tài nước ngoài sau
đây được xem xét công nhận và cho thi hành tại Việt Nam:
a) Phán quyết của Trọng tài nước ngoài mà
nước đó và Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam cùng là thành viên của điều ước
quốc tế về công nhận và cho thi hành phán quyết của Trọng tài nước ngoài;
b) Phán quyết của Trọng tài nước ngoài không
thuộc trường hợp quy định tại điểm a khoản này trên cơ sở nguyên tắc có đi có
lại.
2. Phán quyết của Trọng tài nước ngoài quy
định tại khoản 1 Điều này được xem xét công nhận và cho thi hành tại Việt Nam
là phán quyết cuối cùng của Hội đồng trọng tài giải quyết toàn bộ nội dung vụ
tranh chấp, chấm dứt tố tụng trọng tài và có hiệu lực thi hành.
3. Trọng tài nước ngoài, phán quyết của Trọng
tài nước ngoài quy định tại khoản 1 Điều này được xác định theo quy định của
Luật Trọng tài thương mại của Việt Nam.
1. Người được thi hành hoặc người đại diện
hợp pháp của họ có quyền yêu cầu Tòa án Việt Nam công nhận và cho thi hành tại
Việt Nam bản án, quyết định dân sự của Tòa án nước ngoài, phán quyết của Trọng
tài nước ngoài, nếu cá nhân phải thi hành cư trú, làm việc tại Việt Nam hoặc cơ
quan, tổ chức phải thi hành có trụ sở chính tại Việt Nam hoặc tài sản liên quan
đến việc thi hành bản án, quyết định dân sự của Tòa án nước ngoài, phán quyết
của Trọng tài nước ngoài có tại Việt Nam vào thời điểm yêu cầu.
2. Người phải thi hành hoặc người đại diện
hợp pháp của họ có quyền yêu cầu Tòa án Việt Nam không công nhận bản án, quyết
định dân sự của Tòa án nước ngoài.
3. Đương sự, người có quyền, lợi ích hợp pháp
liên quan hoặc người đại diện hợp pháp của họ có quyền yêu cầu Tòa án Việt Nam
không công nhận bản án, quyết định dân sự của Tòa án nước ngoài không có yêu
cầu thi hành tại Việt Nam.
Điều 426. Bảo đảm quyền kháng cáo, kháng nghị[79]
Đương sự có quyền kháng cáo, Viện kiểm sát
nhân dân khu vực, Viện kiểm sát nhân dân cấp tỉnh có quyền kháng nghị quyết
định của Tòa án công nhận và cho thi hành hoặc không công nhận bản án, quyết
định dân sự của Tòa án nước ngoài, quyết định công nhận và cho thi hành phán
quyết của Trọng tài nước ngoài để yêu cầu Tòa án nhân dân cấp tỉnh xét lại theo
quy định của Bộ luật này.
1. Bản án, quyết định dân sự của Tòa án nước
ngoài được Tòa án Việt Nam công nhận và cho thi hành tại Việt Nam có hiệu lực
pháp luật như bản án, quyết định dân sự của Tòa án Việt Nam đã có hiệu lực pháp
luật và được thi hành theo thủ tục thi hành án dân sự. Bản án, quyết định dân
sự của Tòa án nước ngoài không được Tòa án Việt Nam công nhận thì không có hiệu
lực pháp luật tại Việt Nam, trừ trường hợp đương nhiên được công nhận quy định
tại Điều 431 của Bộ luật này.
2. Phán quyết của Trọng tài nước ngoài được
Tòa án Việt Nam công nhận và cho thi hành tại Việt Nam có hiệu lực pháp luật
như quyết định của Tòa án Việt Nam đã có hiệu lực pháp luật và được thi hành
theo thủ tục thi hành án dân sự.
3. Bản án, quyết định dân sự của Tòa án nước
ngoài, phán quyết của Trọng tài nước ngoài chỉ được thi hành tại Việt Nam sau
khi quyết định của Tòa án Việt Nam công nhận và cho thi hành bản án, quyết định
của Tòa án nước ngoài, phán quyết của Trọng tài nước ngoài đó có hiệu lực pháp
luật.
Tòa án có trách nhiệm chuyển giao trực tiếp
hoặc qua dịch vụ bưu chính hoặc thông qua Bộ Tư pháp quyết định của Tòa án cho
người được thi hành, người phải thi hành bản án, quyết định dân sự của Tòa án
nước ngoài, phán quyết của Trọng tài nước ngoài hoặc người đại diện hợp pháp
của họ, Viện kiểm sát cùng cấp và cơ quan thi hành án dân sự theo quy định của
Bộ luật này.
Nhà nước Việt Nam bảo đảm việc chuyển tiền,
tài sản thi hành bản án, quyết định dân sự của Tòa án nước ngoài, phán quyết
của Trọng tài nước ngoài đã được Tòa án Việt Nam công nhận và cho thi hành từ
Việt Nam ra nước ngoài. Việc chuyển tiền, tài sản này được thực hiện theo quy
định của pháp luật Việt Nam.
1. Người yêu cầu Tòa án Việt Nam công nhận và
cho thi hành hoặc không công nhận tại Việt Nam bản án, quyết định dân sự của
Tòa án nước ngoài; công nhận và cho thi hành phán quyết của Trọng tài nước
ngoài phải nộp lệ phí theo quy định của pháp luật Việt Nam.
2. Người yêu cầu quy định tại khoản 1 Điều
này phải chịu chi phí tống đạt ra nước ngoài văn bản tố tụng của Tòa án Việt
Nam liên quan đến yêu cầu của họ.
1. Bản án, quyết định dân sự của Tòa án nước
ngoài, quyết định của cơ quan khác có thẩm quyền của nước ngoài không có yêu
cầu thi hành tại Việt Nam và không có đơn yêu cầu không công nhận tại Việt Nam
được quy định tại điều ước quốc tế mà Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là
thành viên.
2. Bản án, quyết định về hôn nhân và gia đình
của Tòa án nước ngoài, quyết định về hôn nhân và gia đình của cơ quan khác có
thẩm quyền của nước ngoài mà nước đó và Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam chưa
cùng là thành viên của điều ước quốc tế không có yêu cầu thi hành tại Việt Nam
và không có đơn yêu cầu không công nhận tại Việt Nam.
Điều 432. Thời hiệu yêu cầu công nhận và cho
thi hành
1. Trong thời hạn 03 năm, kể từ ngày bản án,
quyết định dân sự của Tòa án nước ngoài có hiệu lực pháp luật, người được thi
hành, người có quyền, lợi ích hợp pháp liên quan hoặc người đại diện hợp pháp
của họ có quyền gửi đơn đến Bộ Tư pháp Việt Nam theo quy định của điều ước quốc
tế mà Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam và nước có Tòa án đã ra bản án, quyết
định cùng là thành viên hoặc Tòa án Việt Nam có thẩm quyền quy định tại Bộ luật
này để yêu cầu công nhận và cho thi hành tại Việt Nam bản án, quyết định dân sự
đó.
2. Trường hợp người làm đơn chứng minh được
vì sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan mà không thể gửi đơn đúng
thời hạn quy định tại khoản 1 Điều này thì thời gian có sự kiện bất khả kháng
hoặc trở ngại khách quan đó không tính vào thời hạn gửi đơn.
Điều 433. Đơn yêu cầu công nhận và cho thi
hành
1. Đơn yêu cầu công nhận và cho thi hành phải
có các nội dung chính sau đây:
a) Họ, tên, địa chỉ nơi cư trú hoặc nơi làm
việc của người được thi hành, người đại diện hợp pháp của người đó; nếu người
được thi hành án là cơ quan, tổ chức thì phải ghi đầy đủ tên và địa chỉ trụ sở
chính của cơ quan, tổ chức đó;
b) Họ, tên, địa chỉ nơi cư trú hoặc nơi làm
việc của người phải thi hành; nếu người phải thi hành là cơ quan, tổ chức thì
ghi đầy đủ tên và địa chỉ trụ sở chính của cơ quan, tổ chức đó; trường hợp
người phải thi hành là cá nhân không có nơi cư trú hoặc nơi làm việc tại Việt
Nam, người phải thi hành là cơ quan, tổ chức không có trụ sở chính tại Việt Nam
thì trong đơn yêu cầu phải ghi rõ địa chỉ nơi có tài sản và các loại tài sản
liên quan đến việc thi hành bản án, quyết định dân sự của Tòa án nước ngoài tại
Việt Nam;
c) Yêu cầu của người được thi hành; trường
hợp bản án, quyết định của Tòa án nước ngoài đã được thi hành một phần thì
người được thi hành phải ghi rõ phần đã được thi hành và phần còn lại có yêu
cầu công nhận và cho thi hành tiếp tại Việt Nam.
2. Đơn yêu cầu bằng tiếng nước ngoài phải
được gửi kèm theo bản dịch ra tiếng Việt, được công chứng, chứng thực hợp pháp.
Điều 434. Giấy tờ, tài liệu gửi kèm theo đơn
yêu cầu
1. Gửi kèm theo đơn yêu cầu là giấy tờ, tài
liệu được quy định tại điều ước quốc tế mà Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam
và nước có Tòa án đã ra bản án, quyết định cùng là thành viên. Trường hợp Cộng
hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam và nước có Tòa án đã ra bản án, quyết định chưa
cùng là thành viên của điều ước quốc tế có quy định về vấn đề này thì kèm theo
đơn yêu cầu phải có giấy tờ, tài liệu sau đây:
a) Bản chính hoặc bản sao có chứng thực bản
án, quyết định do Tòa án nước ngoài cấp;
b) Văn bản của Tòa án nước ngoài hoặc cơ quan
khác có thẩm quyền của nước ngoài xác nhận bản án, quyết định đó có hiệu lực
pháp luật, chưa hết thời hiệu thi hành và cần được thi hành tại Việt Nam, trừ
trường hợp trong bản án, quyết định đó đã thể hiện rõ những nội dung này;
c) Văn bản của Tòa án nước ngoài hoặc cơ quan
có thẩm quyền của nước ngoài xác nhận kết quả tống đạt hợp lệ bản án, quyết
định đó cho người phải thi hành;
d) Văn bản của Tòa án nước ngoài hoặc cơ quan
có thẩm quyền của nước ngoài xác nhận người phải thi hành hoặc người đại diện
hợp pháp của người đó đã được triệu tập hợp lệ trong trường hợp Tòa án nước
ngoài ra bản án vắng mặt họ.
2. Giấy tờ, tài liệu kèm theo đơn yêu cầu
bằng tiếng nước ngoài phải được gửi kèm theo bản dịch ra tiếng Việt, được công
chứng, chứng thực hợp pháp.
Điều 435. Chuyển hồ sơ cho Tòa án[80]
Trường hợp Bộ Tư pháp nhận được đơn yêu cầu
và giấy tờ, tài liệu quy định tại khoản 1 Điều 434 của Bộ luật
này thì trong thời hạn 05 ngày làm việc, kể từ ngày nhận được hồ sơ, Bộ Tư
pháp phải chuyển cho Tòa án có thẩm quyền theo quy định tại Điều
35 và Điều 39 của Bộ luật này.
Trong thời hạn 05 ngày làm việc, kể từ ngày
nhận được hồ sơ do Bộ Tư pháp chuyển đến hoặc kể từ ngày nhận được đơn yêu cầu
và giấy tờ, tài liệu kèm theo do người có yêu cầu gửi đến, Tòa án căn cứ vào
các điều 363, 364 và 365 của Bộ luật này để xem xét, thụ
lý hồ sơ và thông báo cho người có đơn yêu cầu, người phải thi hành hoặc người
đại diện hợp pháp của họ tại Việt Nam, Viện kiểm sát cùng cấp và Bộ Tư pháp.
Điều 437. Chuẩn bị xét đơn yêu cầu
1. Trong thời hạn chuẩn bị xét đơn yêu cầu,
Tòa án có quyền yêu cầu người được thi hành giải thích những điểm chưa rõ trong
đơn; yêu cầu Tòa án nước ngoài đã ra bản án, quyết định giải thích những điểm
chưa rõ trong hồ sơ.
2. Văn bản yêu cầu giải thích của Tòa án được
gửi cho người được thi hành hoặc người đại diện hợp pháp của họ tại Việt Nam,
Tòa án nước ngoài theo đường dịch vụ bưu chính.
Trường hợp Tòa án Việt Nam yêu cầu Tòa án
nước ngoài giải thích thì văn bản yêu cầu được dịch ra ngôn ngữ quy định tại
điều ước quốc tế mà Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên. Trường
hợp giữa Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam và nước ngoài chưa có điều ước quốc
tế thì hồ sơ phải kèm theo bản dịch ra ngôn ngữ của nước được yêu cầu tương trợ
tư pháp hoặc dịch ra một ngôn ngữ khác mà nước được yêu cầu chấp nhận. Người
yêu cầu công nhận và cho thi hành tại Việt Nam bản án, quyết định của Tòa án nước
ngoài phải chịu chi phí dịch và chi phí dịch vụ bưu chính gửi văn bản yêu cầu
giải thích của Tòa án Việt Nam cho Tòa án nước ngoài.
3. Thời hạn chuẩn bị xét đơn yêu cầu là 04
tháng, kể từ ngày thụ lý. Trong thời hạn này, tuỳ từng trường hợp mà Tòa án ra
một trong các quyết định sau đây:
a) Tạm đình chỉ việc xét đơn yêu cầu;
b) Đình chỉ việc xét đơn yêu cầu;
c) Mở phiên họp xét đơn yêu cầu.
Trường hợp Tòa án yêu cầu giải thích theo quy
định tại khoản 1 Điều này thì thời hạn chuẩn bị xét đơn yêu cầu được kéo dài
nhưng không quá 02 tháng. Nếu hết thời hạn này mà Tòa án không nhận được văn
bản giải thích của đương sự hoặc của Tòa án nước ngoài thì Tòa án căn cứ vào
tài liệu có trong hồ sơ để giải quyết yêu cầu của đương sự.
Tòa án phải mở phiên họp trong thời hạn 01
tháng, kể từ ngày ra quyết định mở phiên họp xét đơn yêu cầu.
Tòa án chuyển hồ sơ cho Viện kiểm sát cùng
cấp nghiên cứu trong thời hạn 15 ngày trước ngày mở phiên họp; hết thời hạn
này, Viện kiểm sát phải gửi trả lại hồ sơ cho Tòa án để mở phiên họp xét đơn
yêu cầu.
4. Tòa án ra quyết định tạm đình chỉ việc xét
đơn yêu cầu khi có một trong các căn cứ sau đây:
a) Người phải thi hành là cá nhân chết hoặc
người phải thi hành là cơ quan, tổ chức đã sáp nhập, hợp nhất, chia, tách, giải
thể mà chưa có cơ quan, tổ chức, cá nhân kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng của
cơ quan, tổ chức, cá nhân đó;
b) Người phải thi hành là cá nhân bị mất năng
lực hành vi dân sự mà chưa xác định được người đại diện theo pháp luật;
c) Chấm dứt đại diện hợp pháp của người phải
thi hành mà chưa có người thay thế;
d) Việc thi hành bản án, quyết định đã bị tạm
đình chỉ tại nước có Tòa án đã ra bản án, quyết định;
đ) Bản án, quyết định đang được xem xét lại
hoặc đang chờ xem xét lại theo thủ tục tố tụng tại nước nơi Tòa án đã ra bản
án, quyết định đó.
5. Tòa án ra quyết định đình chỉ việc xét đơn
yêu cầu khi có một trong các căn cứ sau đây:
a) Người được thi hành rút đơn yêu cầu hoặc
người phải thi hành đã tự nguyện thi hành bản án, quyết định của Tòa án nước
ngoài;
b) Người phải thi hành là cá nhân chết mà
quyền, nghĩa vụ của người đó không được thừa kế;
c) Người phải thi hành là cơ quan, tổ chức đã
bị giải thể, phá sản mà quyền, nghĩa vụ của cơ quan, tổ chức đó đã được giải
quyết theo quy định của pháp luật Việt Nam;
d) Người phải thi hành là cơ quan, tổ chức đã
bị giải thể, phá sản mà không có cơ quan, tổ chức, cá nhân nào kế thừa quyền,
nghĩa vụ tố tụng của cơ quan, tổ chức đó;
đ) Đã có quyết định của Tòa án mở thủ tục phá
sản đối với người phải thi hành;
e) Tòa án không xác định được địa chỉ của
người phải thi hành và địa điểm nơi có tài sản liên quan đến việc thi hành;
g) Thẩm quyền giải quyết yêu cầu thuộc Tòa án
khác và hồ sơ đã được chuyển cho Tòa án đó giải quyết;
h) Tòa án không xác định được địa điểm nơi có
tài sản liên quan đến việc thi hành tại Việt Nam trong trường hợp cơ quan, tổ
chức phải thi hành không có trụ sở chính tại Việt Nam, cá nhân phải thi hành
không cư trú, làm việc tại Việt Nam.
Điều 438. Phiên họp xét đơn yêu cầu
1. Việc xét đơn yêu cầu được tiến hành tại
phiên họp do Hội đồng xét đơn yêu cầu gồm ba Thẩm phán thực hiện, trong đó một
Thẩm phán làm chủ tọa theo sự phân công của Chánh án Tòa án.
2. Kiểm sát viên Viện kiểm sát cùng cấp tham
gia phiên họp; trường hợp Kiểm sát viên vắng mặt thì Tòa án vẫn tiến hành phiên
họp.
3. Phiên họp được tiến hành với sự có mặt của
người được thi hành, người phải thi hành hoặc người đại diện hợp pháp của họ;
nếu một trong những người này vắng mặt lần thứ nhất thì phải hoãn phiên họp.
Việc xét đơn yêu cầu vẫn được tiến hành nếu
người được thi hành hoặc người đại diện hợp pháp của họ, người phải thi hành
hoặc người đại diện hợp pháp của họ có đơn yêu cầu Tòa án xét đơn vắng mặt hoặc
người phải thi hành hoặc người đại diện hợp pháp của họ đã được triệu tập hợp
lệ lần thứ hai mà vẫn vắng mặt.
Hội đồng ra quyết định đình chỉ việc xét đơn
nếu người được thi hành hoặc người đại diện hợp pháp của họ đã được triệu tập
hợp lệ lần thứ hai mà vẫn vắng mặt hoặc khi có một trong các căn cứ quy định
tại khoản 5 Điều 437 của Bộ luật này.
4. Khi xem xét đơn yêu cầu công nhận và cho
thi hành, Hội đồng không được xét xử lại vụ án đã được Tòa án nước ngoài ra bản
án, quyết định. Tòa án chỉ được kiểm tra, đối chiếu bản án, quyết định dân sự
của Tòa án nước ngoài, giấy tờ, tài liệu kèm theo đơn yêu cầu với các quy định
tại Chương XXXV và Chương XXXVI của Bộ luật này, các quy định khác có liên quan
của pháp luật Việt Nam và điều ước quốc tế mà Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt
Nam là thành viên để làm cơ sở cho việc ra quyết định công nhận và cho thi hành
hoặc không công nhận bản án, quyết định đó.
5. Sau khi xem xét đơn yêu cầu, các giấy tờ,
tài liệu kèm theo, nghe ý kiến của người được triệu tập, của Kiểm sát viên, Hội
đồng thảo luận và quyết định theo đa số.
Hội đồng có quyền ra quyết định công nhận và
cho thi hành tại Việt Nam hoặc quyết định không công nhận bản án, quyết định
dân sự của Tòa án nước ngoài.
6. Trong thời hạn chuẩn bị xét đơn yêu cầu,
Tòa án cấp sơ thẩm có quyền quyết định áp dụng, thay đổi, hủy bỏ biện pháp khẩn
cấp tạm thời quy định tại Chương VIII của Bộ luật này.
1. Bản án, quyết định dân sự của Tòa án nước
ngoài không đáp ứng được một trong các điều kiện để được công nhận quy định tại
điều ước quốc tế mà Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên.
2. Bản án, quyết định dân sự chưa có hiệu lực
pháp luật theo quy định của pháp luật của nước có Tòa án đã ra bản án, quyết
định đó.
3. Người phải thi hành hoặc người đại diện
hợp pháp của người đó đã vắng mặt tại phiên tòa của Tòa án nước ngoài do không
được triệu tập hợp lệ hoặc văn bản của Tòa án nước ngoài không được tống đạt
cho họ trong một thời hạn hợp lý theo quy định của pháp luật của nước có Tòa án
nước ngoài đó để họ thực hiện quyền tự bảo vệ.
4. Tòa án nước đã ra bản án, quyết định không
có thẩm quyền giải quyết vụ việc dân sự đó theo quy định tại Điều
440 của Bộ luật này.
5. Vụ việc dân sự này đã có bản án, quyết
định dân sự đã có hiệu lực pháp luật của Tòa án Việt Nam hoặc trước khi cơ quan
xét xử của nước ngoài thụ lý vụ việc, Tòa án Việt Nam đã thụ lý và đang giải
quyết vụ việc hoặc đã có bản án, quyết định dân sự của Tòa án nước thứ ba đã
được Tòa án Việt Nam công nhận và cho thi hành.
6. Đã hết thời hiệu thi hành án theo pháp
luật của nước có Tòa án đã ra bản án, quyết định dân sự đó hoặc theo pháp luật
thi hành án dân sự của Việt Nam.
7. Việc thi hành bản án, quyết định đã bị hủy
bỏ hoặc đình chỉ thi hành tại nước có Tòa án đã ra bản án, quyết định đó.
8. Việc công nhận và cho thi hành bản án,
quyết định dân sự của Tòa án nước ngoài tại Việt Nam trái với các nguyên tắc cơ
bản của pháp luật nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam.
Điều 440. Tòa án nước ngoài có thẩm quyền
giải quyết tranh chấp, yêu cầu
Tòa án nước ngoài đã ra bản án, quyết định mà
bản án, quyết định đó đang được xem xét để công nhận và cho thi hành tại Việt
Nam có thẩm quyền giải quyết vụ việc dân sự đó trong những trường hợp sau đây:
1. Vụ việc dân sự không thuộc thẩm quyền
riêng biệt của Tòa án Việt Nam quy định tại Điều 470 của Bộ
luật này;
2. Vụ việc dân sự quy định tại Điều 469 của Bộ luật này nhưng có một trong các điều kiện sau
đây:
a) Bị đơn tham gia tranh tụng mà không có ý
kiến phản đối thẩm quyền của Tòa án nước ngoài đó;
b) Vụ việc dân sự này chưa có bản án, quyết
định của Tòa án nước thứ ba đã được Tòa án Việt Nam công nhận và cho thi hành;
c) Vụ việc dân sự này đã được Tòa án nước
ngoài thụ lý trước khi Tòa án Việt Nam thụ lý.
Điều 441. Gửi quyết định của Tòa án
1. Trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày ra
quyết định quy định tại khoản 5 Điều 438 của Bộ luật này,
Tòa án phải gửi quyết định đó cho các đương sự hoặc người đại diện hợp pháp của
họ, Bộ Tư pháp và Viện kiểm sát cùng cấp.
2. Trong thời hạn 05 ngày làm việc, kể từ
ngày ra quyết định tạm đình chỉ, quyết định đình chỉ việc giải quyết đơn quy
định tại khoản 4 và khoản 5 Điều 437 của Bộ luật này, Tòa
án phải gửi quyết định đó cho các đương sự hoặc người đại diện hợp pháp của họ,
Bộ Tư pháp và Viện kiểm sát cùng cấp.
3. Ngay sau khi ra quyết định áp dụng, thay
đổi, hủy bỏ biện pháp khẩn cấp tạm thời quy định tại khoản 6
Điều 438 của Bộ luật này, Tòa án phải gửi quyết định đó cho các đương sự
hoặc người đại diện hợp pháp của họ, cơ quan thi hành án dân sự có thẩm quyền,
Bộ Tư pháp và Viện kiểm sát cùng cấp.
4. Việc gửi quyết định của Tòa án cho đương
sự ở nước ngoài được thực hiện theo các phương thức quy định tại Điều 474 của Bộ luật này.
Điều 442. Kháng cáo, kháng nghị
1. Trong thời hạn 07 ngày, kể từ ngày Tòa án
ra quyết định tạm đình chỉ, quyết định đình chỉ xét đơn yêu cầu và 15 ngày, kể
từ ngày Tòa án ra quyết định công nhận và cho thi hành hoặc không công nhận bản
án, quyết định của Tòa án nước ngoài, đương sự, người đại diện hợp pháp của họ
có quyền kháng cáo quyết định đó; trường hợp đương sự, người đại diện hợp pháp
của họ không có mặt tại phiên họp xét đơn yêu cầu thì thời hạn kháng cáo được
tính từ ngày họ nhận được quyết định đó. Đơn kháng cáo phải nêu rõ lý do và yêu
cầu kháng cáo.
Trong trường hợp có sự kiện bất khả kháng
hoặc trở ngại khách quan làm cho đương sự, người đại diện hợp pháp của họ không
thể kháng cáo trong thời hạn nêu trên thì thời gian có sự kiện bất khả kháng
hoặc trở ngại khách quan đó không tính vào thời hạn kháng cáo.
2.[81] Viện trưởng Viện
kiểm sát nhân dân khu vực hoặc Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân cấp tỉnh có
quyền kháng nghị quyết định của Tòa án quy định tại khoản 4,
khoản 5 Điều 437 và khoản 5 Điều 438 của Bộ luật này.
Thời hạn kháng nghị của Viện kiểm sát nhân
dân khu vực là 07 ngày, của Viện kiểm sát nhân dân cấp tỉnh là 10 ngày, kể từ
ngày Viện kiểm sát nhận được quyết định.
Điều 443. Xét kháng cáo, kháng nghị
1.[82] Tòa án nhân dân cấp
tỉnh xét quyết định của Tòa án nhân dân khu vực trong phạm vi thẩm quyền theo
lãnh thổ bị kháng cáo, kháng nghị trong thời hạn 01 tháng, kể từ ngày nhận được
hồ sơ; trường hợp cần phải yêu cầu giải thích theo quy định tại khoản
1 và khoản 2 Điều 437 của Bộ luật này thì thời hạn này được kéo dài, nhưng
không quá 02 tháng.
2.[83] Thành phần Hội đồng
xét quyết định bị kháng cáo, kháng nghị gồm ba Thẩm phán, trong đó một Thẩm
phán làm chủ tọa theo sự phân công của Chánh Tòa án nhân dân cấp tỉnh.
Phiên họp xét lại quyết định bị kháng cáo,
kháng nghị được tiến hành như phiên họp xét đơn yêu cầu quy định tại Điều 438 của Bộ luật này.
3. Hội đồng xét quyết định bị kháng cáo,
kháng nghị có các quyền sau đây:
a) Giữ nguyên quyết định của Tòa án cấp sơ
thẩm;
b) Sửa một phần hoặc toàn bộ quyết định của
Tòa án cấp sơ thẩm;
c) Tạm đình chỉ giải quyết kháng cáo, kháng
nghị;
d) Đình chỉ giải quyết kháng cáo, kháng nghị;
đ) Hủy quyết định của Tòa án cấp sơ thẩm và
chuyển hồ sơ cho Tòa án cấp sơ thẩm để giải quyết lại theo thủ tục sơ thẩm;
e) Hủy quyết định của Tòa án cấp sơ thẩm và
đình chỉ việc xét đơn yêu cầu khi có một trong các căn cứ quy định tại khoản 5 Điều 437 của Bộ luật này.
4.[84] Quyết định của Tòa án
nhân dân cấp tỉnh có hiệu lực pháp luật kể từ ngày ra quyết định và có thể bị
kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm, tái thẩm theo quy định của Bộ luật này.
Mục 2. THỦ TỤC XÉT ĐƠN YÊU CẦU KHÔNG CÔNG
NHẬN BẢN ÁN, QUYẾT ĐỊNH DÂN SỰ CỦA TÒA ÁN NƯỚC NGOÀI
1. Trong thời hạn 03 năm, kể từ ngày bản án,
quyết định dân sự của Tòa án nước ngoài có hiệu lực pháp luật, người phải thi
hành hoặc người đại diện hợp pháp của họ có quyền yêu cầu Tòa án Việt Nam không
công nhận bản án, quyết định dân sự của Tòa án nước ngoài.
2. Trường hợp người yêu cầu chứng minh được
vì sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan mà không thể yêu cầu đúng
thời hạn quy định tại khoản 1 Điều này thì thời gian có sự kiện bất khả kháng
hoặc trở ngại khách quan đó không tính vào thời hạn gửi đơn.
Điều 445. Đơn yêu cầu không công nhận bản án,
quyết định dân sự của Tòa án nước ngoài tại Việt Nam
1. Người yêu cầu quy định tại khoản
1 Điều 444 của Bộ luật này phải làm đơn yêu cầu. Đơn yêu cầu phải có các
nội dung chính sau đây:
a) Họ, tên, địa chỉ nơi cư trú hoặc nơi làm
việc của người phải thi hành; nếu người phải thi hành là cơ quan, tổ chức thì
ghi đầy đủ tên và địa chỉ trụ sở chính của cơ quan, tổ chức đó; trường hợp
người phải thi hành là cá nhân không có nơi cư trú hoặc nơi làm việc tại Việt
Nam, người phải thi hành là cơ quan, tổ chức không có trụ sở chính tại Việt Nam
thì trong đơn yêu cầu phải ghi rõ địa chỉ nơi có tài sản và các loại tài sản
liên quan đến việc thi hành bản án, quyết định dân sự của Tòa án nước ngoài tại
Việt Nam;
b) Họ, tên, địa chỉ nơi cư trú hoặc nơi làm
việc của người được thi hành, người đại diện hợp pháp của người đó; nếu người
được thi hành án là cơ quan, tổ chức thì phải ghi đầy đủ tên và địa chỉ trụ sở
chính của cơ quan, tổ chức đó;
c) Yêu cầu của người phải thi hành; trường
hợp bản án, quyết định của Tòa án nước ngoài đã được thi hành một phần thì phải
ghi rõ phần đã được thi hành và phần còn lại có yêu cầu không công nhận tại
Việt Nam.
2. Đơn yêu cầu bằng tiếng nước ngoài phải
được gửi kèm theo bản dịch ra tiếng Việt, được công chứng, chứng thực hợp pháp.
1. Gửi kèm theo đơn yêu cầu là giấy tờ, tài
liệu quy định tại điều ước quốc tế mà Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là
thành viên. Trường hợp Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam và nước có Tòa án đã
ra bản án, quyết định chưa cùng là thành viên của điều ước quốc tế có quy định
về vấn đề này thì kèm theo đơn yêu cầu phải có bản chính hoặc bản sao có chứng
thực bản án, quyết định do Tòa án nước ngoài cấp và giấy tờ, tài liệu chứng
minh cho yêu cầu không công nhận.
2. Giấy tờ, tài liệu kèm theo đơn yêu cầu
bằng tiếng nước ngoài phải được gửi kèm theo bản dịch ra tiếng Việt, được công
chứng, chứng thực hợp pháp.
3. Thủ tục xét đơn yêu cầu, việc gửi quyết
định của Tòa án, việc kháng cáo, kháng nghị và xét kháng cáo, kháng nghị được
thực hiện theo quy định tại các điều tương ứng tại Mục 1 Chương này.
1. Trong thời hạn 06 tháng, kể từ ngày nhận
được bản án, quyết định dân sự đã có hiệu lực pháp luật của Tòa án nước ngoài
mà không có yêu cầu thi hành tại Việt Nam, đương sự, người có quyền, lợi ích
hợp pháp liên quan hoặc người đại diện hợp pháp của họ có quyền gửi đơn đến Bộ
Tư pháp Việt Nam theo quy định của điều ước quốc tế mà Cộng hòa xã hội chủ
nghĩa Việt Nam là thành viên hoặc Tòa án có thẩm quyền của Việt Nam theo quy
định của Bộ luật này trong trường hợp điều ước quốc tế mà Cộng hòa xã hội chủ nghĩa
Việt Nam là thành viên không quy định hoặc không có điều ước quốc tế liên quan
để yêu cầu Tòa án không công nhận bản án, quyết định dân sự đó.
2. Trường hợp người làm đơn chứng minh được
vì sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan mà không thể gửi đơn đúng
thời hạn quy định tại khoản 1 Điều này thì thời gian có sự kiện bất khả kháng
hoặc trở ngại khách quan đó không tính vào thời hạn gửi đơn.
1. Đơn yêu cầu không công nhận bản án, quyết
định dân sự của Tòa án nước ngoài không có yêu cầu thi hành tại Việt Nam phải
có các nội dung chính sau đây:
a) Họ, tên, địa chỉ nơi cư trú hoặc nơi làm
việc của người làm đơn; nếu là cơ quan, tổ chức thì ghi đầy đủ tên và địa chỉ
trụ sở chính của cơ quan, tổ chức đó;
b) Yêu cầu của người làm đơn.
2. Kèm theo đơn yêu cầu phải có bản chính
hoặc bản sao có chứng thực bản án, quyết định dân sự của Tòa án nước ngoài và
giấy tờ, tài liệu cần thiết để chứng minh yêu cầu không công nhận của mình là
có căn cứ và hợp pháp.
3. Đơn yêu cầu và giấy tờ, tài liệu kèm theo
bằng tiếng nước ngoài phải được gửi kèm theo bản dịch ra tiếng Việt, được công
chứng, chứng thực hợp pháp.
1. Việc thụ lý đơn, chuẩn bị xét đơn yêu cầu
và phiên họp xét đơn yêu cầu không công nhận bản án, quyết định dân sự của Tòa
án nước ngoài không có yêu cầu thi hành tại Việt Nam được thực hiện theo quy
định tại các điều 436, 437 và 438 của Bộ luật này.
2. Hội đồng xét đơn yêu cầu có quyền ra một
trong các quyết định sau đây:
a) Không công nhận bản án, quyết định dân sự
của Tòa án nước ngoài;
b) Bác đơn yêu cầu không công nhận.
3. Bản án, quyết định dân sự của Tòa án nước
ngoài không có yêu cầu thi hành tại Việt Nam không được công nhận trong các
trường hợp quy định tại Điều 439 của Bộ luật này.
Điều 450. Gửi quyết định của Tòa án và việc
kháng cáo, kháng nghị
Việc gửi quyết định của Tòa án; việc kháng
cáo, kháng nghị và xét kháng cáo, kháng nghị được thực hiện theo quy định tại
các điều 441, 442 và 443 của Bộ luật này.
THỦ TỤC XÉT ĐƠN YÊU CẦU
CÔNG NHẬN VÀ CHO THI HÀNH TẠI VIỆT NAM PHÁN QUYẾT CỦA TRỌNG TÀI NƯỚC NGOÀI
Điều 451. Thời hạn gửi đơn yêu cầu công nhận
và cho thi hành
1. Trong thời hạn 03 năm, kể từ ngày phán
quyết của Trọng tài nước ngoài có hiệu lực pháp luật, người được thi hành,
người có quyền, lợi ích hợp pháp liên quan hoặc người đại diện hợp pháp của họ
có quyền gửi đơn đến Bộ Tư pháp Việt Nam theo quy định của điều ước quốc tế mà
Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên hoặc Tòa án có thẩm quyền của
Việt Nam theo quy định của Bộ luật này trong trường hợp điều ước quốc tế mà
Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên không quy định hoặc không có điều
ước quốc tế liên quan để yêu cầu Tòa án công nhận và cho thi hành tại Việt Nam
phán quyết đó.
2. Trường hợp người làm đơn chứng minh được
vì sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan mà không thể gửi đơn đúng
thời hạn quy định tại khoản 1 Điều này thì thời gian có sự kiện bất khả kháng
hoặc trở ngại khách quan đó không tính vào thời hạn gửi đơn.
Điều 452. Đơn yêu cầu công nhận và cho thi
hành tại Việt Nam phán quyết của Trọng tài nước ngoài
1. Đơn yêu cầu công nhận và cho thi hành tại
Việt Nam phán quyết của Trọng tài nước ngoài phải có các nội dung chính sau
đây:
a) Họ, tên, địa chỉ nơi cư trú hoặc nơi làm
việc của người được thi hành, người đại diện hợp pháp tại Việt Nam của người
đó; nếu người được thi hành án là cơ quan, tổ chức thì phải ghi đầy đủ tên và
địa chỉ trụ sở chính của cơ quan, tổ chức đó;
b) Họ, tên, địa chỉ nơi cư trú hoặc nơi làm
việc của người phải thi hành; nếu người phải thi hành là cơ quan, tổ chức thì
ghi đầy đủ tên và địa chỉ trụ sở chính của cơ quan, tổ chức đó; trường hợp
người phải thi hành là cá nhân không có nơi cư trú hoặc nơi làm việc tại Việt
Nam, người phải thi hành là cơ quan, tổ chức không có trụ sở chính tại Việt Nam
thì trong đơn yêu cầu phải ghi rõ địa chỉ nơi có tài sản và các loại tài sản
liên quan đến việc thi hành phán quyết của Trọng tài nước ngoài tại Việt Nam;
c) Yêu cầu của người được thi hành.
2. Đơn yêu cầu bằng tiếng nước ngoài phải
được gửi kèm theo bản dịch ra tiếng Việt, được công chứng, chứng thực hợp pháp.
Điều 453. Giấy tờ, tài liệu gửi kèm theo đơn
yêu cầu
1. Gửi kèm theo đơn yêu cầu là giấy tờ, tài
liệu quy định tại điều ước quốc tế mà Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là
thành viên; trường hợp không có điều ước quốc tế hoặc điều ước quốc tế không
quy định thì kèm theo đơn yêu cầu phải có giấy tờ, tài liệu sau đây:
a) Bản chính hoặc bản sao có chứng thực phán
quyết của Trọng tài nước ngoài;
b) Bản chính hoặc bản sao có chứng thực thỏa
thuận trọng tài giữa các bên.
2. Giấy tờ, tài liệu kèm theo đơn yêu cầu
bằng tiếng nước ngoài thì phải được gửi kèm theo bản dịch ra tiếng Việt, được
công chứng, chứng thực hợp pháp.
Điều 454. Chuyển hồ sơ cho Tòa án
1. Trong thời hạn 05 ngày làm việc, kể từ
ngày nhận được đơn yêu cầu và giấy tờ, tài liệu quy định tại Điều
453 của Bộ luật này thì Bộ Tư pháp phải chuyển cho Tòa án có thẩm quyền.
2. Trường hợp Bộ Tư pháp đã chuyển hồ sơ cho
Tòa án mà sau đó lại nhận được thông báo của cơ quan có thẩm quyền của nước
ngoài cho biết đang xem xét hoặc đã hủy bỏ, đình chỉ thi hành phán quyết của
Trọng tài nước ngoài thì Bộ Tư pháp phải thông báo ngay bằng văn bản cho Tòa án
biết.
Trong thời hạn 05 ngày làm việc, kể từ ngày
nhận được hồ sơ do Bộ Tư pháp chuyển đến hoặc nhận được đơn và giấy tờ, tài
liệu kèm theo do người có đơn yêu cầu gửi đến, Tòa án có thẩm quyền căn cứ vào
các điều 363, 364 và 365 của Bộ luật này để xem xét, thụ
lý và thông báo bằng văn bản cho người được thi hành, người phải thi hành hoặc
người đại diện hợp pháp của họ tại Việt Nam, Viện kiểm sát cùng cấp và Bộ Tư
pháp.
Điều 456. Chuyển hồ sơ cho Tòa án khác, giải
quyết tranh chấp về thẩm quyền
Trường hợp sau khi thụ lý mà Tòa án xét thấy
việc giải quyết yêu cầu công nhận và cho thi hành tại Việt Nam phán quyết của
Trọng tài nước ngoài thuộc thẩm quyền của Tòa án khác của Việt Nam thì Tòa án
đã thụ lý ra quyết định chuyển hồ sơ cho Tòa án có thẩm quyền và xóa tên yêu
cầu đó trong sổ thụ lý. Quyết định này phải được gửi ngay cho Viện kiểm sát
cùng cấp và đương sự.
Đương sự có quyền khiếu nại, Viện kiểm sát có
quyền kiến nghị đối với quyết định này trong thời hạn 03 ngày làm việc, kể từ
ngày nhận được quyết định. Trình tự, thủ tục giải quyết khiếu nại, kiến nghị,
giải quyết tranh chấp về thẩm quyền được thực hiện theo quy định tại Điều 41 của Bộ luật này.
Điều 457. Chuẩn bị xét đơn yêu cầu
1. Trong thời hạn 02 tháng, kể từ ngày thụ
lý, tuỳ từng trường hợp mà Tòa án ra một trong các quyết định sau đây:
a) Tạm đình chỉ việc xét đơn yêu cầu;
b) Đình chỉ việc xét đơn yêu cầu;
c) Mở phiên họp xét đơn yêu cầu.
Trong thời hạn chuẩn bị xét đơn yêu cầu, Tòa
án có quyền yêu cầu người được thi hành giải thích những điểm chưa rõ trong
đơn. Trong trường hợp này, thời hạn chuẩn bị xét đơn yêu cầu được kéo dài nhưng
không quá 02 tháng.
Tòa án phải mở phiên họp trong thời hạn 20
ngày, kể từ ngày ra quyết định mở phiên họp xét đơn yêu cầu. Tòa án chuyển hồ
sơ cho Viện kiểm sát cùng cấp nghiên cứu trong thời hạn 15 ngày trước ngày mở
phiên họp; hết thời hạn này, Viện kiểm sát phải gửi trả lại hồ sơ cho Tòa án để
mở phiên họp xét đơn yêu cầu.
2. Tòa án ra quyết định tạm đình chỉ việc xét
đơn yêu cầu khi có một trong các căn cứ sau đây:
a) Phán quyết của Trọng tài nước ngoài đang
được cơ quan có thẩm quyền của nước nơi Trọng tài ra phán quyết xem xét lại;
b) Người phải thi hành là cá nhân chết hoặc
người phải thi hành là cơ quan, tổ chức đã sáp nhập, hợp nhất, chia, tách, giải
thể mà chưa có cơ quan, tổ chức, cá nhân kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng của
cơ quan, tổ chức, cá nhân đó;
c) Người phải thi hành là cá nhân bị mất năng
lực hành vi dân sự mà chưa xác định được người đại diện theo pháp luật.
Trong thời gian tạm đình chỉ, Thẩm phán được
phân công giải quyết vẫn phải có trách nhiệm về việc giải quyết đơn yêu cầu.
Sau khi có quyết định tạm đình chỉ giải quyết
đơn yêu cầu theo quy định tại khoản này, Thẩm phán có trách nhiệm theo dõi, đôn
đốc cơ quan, tổ chức, cá nhân nhằm khắc phục những lý do dẫn tới việc tạm đình
chỉ trong thời gian ngắn nhất để kịp thời tiếp tục giải quyết đơn yêu cầu. Khi
lý do tạm đình chỉ không còn thì Thẩm phán phải ra quyết định tiếp tục giải
quyết đơn yêu cầu.
3. Tòa án ra quyết định đình chỉ việc xét đơn
yêu cầu khi có một trong các căn cứ sau đây:
a) Người được thi hành rút đơn yêu cầu hoặc
người phải thi hành đã tự nguyện thi hành phán quyết của Trọng tài nước ngoài;
b) Người phải thi hành là cá nhân chết mà
quyền, nghĩa vụ của người đó không được thừa kế;
c) Người phải thi hành là cơ quan, tổ chức đã
bị giải thể, phá sản mà quyền, nghĩa vụ của cơ quan, tổ chức đó đã được giải
quyết theo quy định của pháp luật Việt Nam;
d) Người phải thi hành là cơ quan, tổ chức đã
bị giải thể, phá sản mà không có cơ quan, tổ chức, cá nhân nào kế thừa quyền,
nghĩa vụ tố tụng của cơ quan, tổ chức đó;
đ) Tòa án không xác định được địa điểm nơi có
tài sản tại Việt Nam của người phải thi hành theo yêu cầu của người được thi
hành phán quyết trọng tài.
Điều 458. Phiên họp xét đơn yêu cầu
1. Việc xét đơn yêu cầu được tiến hành tại
phiên họp do Hội đồng xét đơn yêu cầu gồm ba Thẩm phán thực hiện, trong đó một
Thẩm phán làm chủ tọa theo sự phân công của Chánh án Tòa án.
2. Kiểm sát viên Viện kiểm sát cùng cấp phải
tham gia phiên họp; trường hợp Kiểm sát viên vắng mặt thì Tòa án vẫn tiến hành
phiên họp.
3. Phiên họp được tiến hành với sự có mặt của
người được thi hành, người phải thi hành hoặc người đại diện hợp pháp của họ,
nếu một trong những người này vắng mặt lần thứ nhất có lý do chính đáng thì
phải hoãn phiên họp.
Việc xét đơn yêu cầu vẫn được tiến hành nếu
người được thi hành hoặc người đại diện hợp pháp của họ, người phải thi hành
hoặc người đại diện hợp pháp của họ yêu cầu Tòa án xét đơn vắng mặt họ hoặc
người phải thi hành hoặc người đại diện hợp pháp của họ đã được triệu tập hợp
lệ lần thứ hai mà vẫn vắng mặt.
Hội đồng xét đơn ra quyết định đình chỉ việc
giải quyết đơn nếu người được thi hành hoặc người đại diện hợp pháp của họ đã
được triệu tập hợp lệ lần thứ hai mà vẫn vắng mặt hoặc khi có một trong các căn
cứ quy định tại khoản 3 Điều 457 của Bộ luật này.
4. Khi xem xét đơn yêu cầu công nhận và cho
thi hành, Hội đồng không được xét xử lại tranh chấp đã được Trọng tài nước
ngoài ra phán quyết. Tòa án chỉ được kiểm tra, đối chiếu phán quyết của Trọng
tài nước ngoài, giấy tờ, tài liệu kèm theo đơn yêu cầu với các quy định tại
Chương XXXV và Chương XXXVII của Bộ luật này, các quy định khác có liên quan
của pháp luật Việt Nam và điều ước quốc tế mà Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt
Nam là thành viên để làm cơ sở cho việc ra quyết định công nhận hoặc không công
nhận phán quyết đó.
5. Sau khi xem xét đơn yêu cầu, giấy tờ, tài
liệu kèm theo, nghe ý kiến của người được triệu tập, của Kiểm sát viên, Hội
đồng thảo luận và quyết định theo đa số.
Hội đồng có quyền ra quyết định công nhận và
cho thi hành tại Việt Nam phán quyết của Trọng tài nước ngoài hoặc quyết định
không công nhận phán quyết của Trọng tài nước ngoài.
Điều 459. Những trường hợp không công nhận
1. Tòa án không công nhận phán quyết của
Trọng tài nước ngoài khi xét thấy chứng cứ do bên phải thi hành cung cấp cho
Tòa án để phản đối yêu cầu công nhận là có căn cứ, hợp pháp và phán quyết trọng
tài thuộc một trong các trường hợp sau đây:
a) Các bên ký kết thỏa thuận trọng tài không
có năng lực để ký kết thỏa thuận đó theo pháp luật được áp dụng cho mỗi bên;
b) Thỏa thuận trọng tài không có giá trị pháp
lý theo pháp luật của nước mà các bên đã chọn để áp dụng hoặc theo pháp luật
của nước nơi phán quyết đã được tuyên, nếu các bên không chọn pháp luật áp dụng
cho thỏa thuận đó;
c) Cơ quan, tổ chức, cá nhân phải thi hành
không được thông báo kịp thời và hợp thức về việc chỉ định Trọng tài viên, về
thủ tục giải quyết vụ tranh chấp tại Trọng tài nước ngoài hoặc vì nguyên nhân
chính đáng khác mà không thể thực hiện được quyền tố tụng của mình;
d) Phán quyết của Trọng tài nước ngoài được
tuyên về một vụ tranh chấp không được các bên yêu cầu giải quyết hoặc vượt quá
yêu cầu của các bên ký kết thỏa thuận trọng tài. Trường hợp có thể tách được
phần quyết định về vấn đề đã được yêu cầu và phần quyết định về vấn đề không
được yêu cầu giải quyết tại Trọng tài nước ngoài thì phần quyết định về vấn đề
được yêu cầu giải quyết có thể được công nhận và cho thi hành tại Việt Nam;
đ) Thành phần của Trọng tài nước ngoài, thủ
tục giải quyết tranh chấp của Trọng tài nước ngoài không phù hợp với thỏa thuận
trọng tài hoặc với pháp luật của nước nơi phán quyết của Trọng tài nước ngoài
đã được tuyên, nếu thỏa thuận trọng tài không quy định về các vấn đề đó;
e) Phán quyết của Trọng tài nước ngoài chưa
có hiệu lực bắt buộc đối với các bên;
g) Phán quyết của Trọng tài nước ngoài bị cơ
quan có thẩm quyền của nước nơi phán quyết đã được tuyên hoặc của nước có pháp
luật đã được áp dụng hủy bỏ hoặc đình chỉ thi hành.
2. Phán quyết của Trọng tài nước ngoài cũng
không được công nhận, nếu Tòa án Việt Nam xét thấy:
a) Theo pháp luật Việt Nam, vụ tranh chấp
không được giải quyết theo thể thức trọng tài;
b) Việc công nhận và cho thi hành tại Việt
Nam phán quyết của Trọng tài nước ngoài trái với các nguyên tắc cơ bản của pháp
luật của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam.
Điều 460. Gửi quyết định của Tòa án
1. Trong thời hạn 05 ngày làm việc, kể từ
ngày ra quyết định tạm đình chỉ, quyết định đình chỉ việc giải quyết đơn quy
định tại khoản 2 và khoản 3 Điều 457 của Bộ luật này, Tòa
án phải gửi quyết định đó cho các đương sự hoặc người đại diện hợp pháp của họ,
Bộ Tư pháp và Viện kiểm sát cùng cấp.
2. Trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày ra
quyết định công nhận và cho thi hành hoặc không công nhận tại Việt Nam phán
quyết của Trọng tài nước ngoài quy định tại khoản 5 Điều 458
của Bộ luật này, Tòa án phải gửi quyết định đó cho các đương sự hoặc người
đại diện hợp pháp của họ, Bộ Tư pháp và Viện kiểm sát cùng cấp. Nếu đương sự ở
nước ngoài không có người đại diện hợp pháp tại Việt Nam và Tòa án đã ra quyết
định vắng mặt họ theo quy định tại khoản 3 Điều 458 của Bộ
luật này thì Tòa án gửi quyết định cho họ theo đường dịch vụ bưu chính hoặc
thông qua Bộ Tư pháp theo quy định của điều ước quốc tế mà Cộng hòa xã hội chủ
nghĩa Việt Nam là thành viên.
3. Việc gửi quyết định của Tòa án được thực
hiện theo các phương thức quy định tại Điều 474 của Bộ luật
này.
Điều 461. Kháng cáo, kháng nghị
1. Trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày Tòa án
ra quyết định quy định tại khoản 2 và khoản 3 Điều 457 hoặc
khoản 5 Điều 458 của Bộ luật này, đương sự, người đại diện hợp pháp của họ
có quyền kháng cáo quyết định đó; trường hợp đương sự không có mặt tại phiên
họp xét đơn yêu cầu thì thời hạn kháng cáo được tính từ ngày họ nhận được quyết
định. Đơn kháng cáo phải nêu rõ lý do và yêu cầu kháng cáo.
Trường hợp có sự kiện bất khả kháng hoặc trở
ngại khách quan làm cho đương sự, người đại diện hợp pháp của họ không thể
kháng cáo trong thời hạn nêu trên thì thời gian có sự kiện bất khả kháng hoặc
trở ngại khách quan đó không tính vào thời hạn kháng cáo.
2.[85] Viện trưởng Viện kiểm
sát nhân dân khu vực hoặc Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân cấp tỉnh có quyền
kháng nghị quyết định của Tòa án quy định tại khoản 2 và khoản
3 Điều 457 và khoản 5 Điều 458 của Bộ luật này.
Thời hạn kháng nghị của Viện kiểm sát nhân
dân khu vực là 07 ngày, của Viện kiểm sát nhân dân cấp tỉnh là 10 ngày, kể từ
ngày Viện kiểm sát nhận được quyết định.
Điều 462. Xét kháng cáo, kháng nghị
1.[86] Tòa án nhân dân cấp
tỉnh xét lại quyết định của Tòa án nhân dân khu vực bị kháng cáo, kháng nghị
trong thời hạn 01 tháng, kể từ ngày nhận được hồ sơ; trường hợp cần phải yêu
cầu giải thích theo quy định tại khoản 1 Điều 457 của Bộ luật
này thì thời hạn này được kéo dài, nhưng không quá 02 tháng.
2.[87] Thành phần Hội đồng
xét quyết định bị kháng cáo, kháng nghị gồm ba Thẩm phán, trong đó có một Thẩm
phán làm chủ tọa theo sự phân công của Chánh án Tòa án nhân dân cấp tỉnh. Phiên
họp xét lại quyết định bị kháng cáo, kháng nghị được tiến hành như phiên họp
xét đơn yêu cầu quy định tại Điều 458 của Bộ luật này.
3. Hội đồng xét quyết định bị kháng cáo,
kháng nghị có các quyền sau đây:
a) Giữ nguyên quyết định của Tòa án cấp sơ
thẩm;
b) Sửa một phần hoặc toàn bộ quyết định của
Tòa án cấp sơ thẩm;
c) Tạm đình chỉ giải quyết kháng cáo, kháng
nghị;
d) Đình chỉ giải quyết kháng cáo, kháng nghị;
đ) Hủy quyết định của Tòa án cấp sơ thẩm và
chuyển hồ sơ cho Tòa án cấp sơ thẩm để giải quyết lại theo thủ tục sơ thẩm;
e) Hủy quyết định sơ thẩm và đình chỉ giải
quyết đơn yêu cầu khi có một trong các căn cứ quy định tại khoản
3 Điều 457 của Bộ luật này.
4. Hội đồng xét quyết định bị kháng cáo,
kháng nghị đình chỉ giải quyết kháng cáo, kháng nghị trong các trường hợp sau
đây:
a) Đương sự kháng cáo rút toàn bộ kháng cáo
hoặc Viện kiểm sát rút toàn bộ kháng nghị;
b) Đương sự kháng cáo đã được triệu tập hợp
lệ lần thứ hai mà vẫn vắng mặt và không có đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt.
Trường hợp đương sự kháng cáo rút toàn bộ
kháng cáo hoặc Viện kiểm sát rút toàn bộ kháng nghị trước khi Tòa án cấp phúc
thẩm ra quyết định mở phiên họp xét kháng cáo, kháng nghị thì Thẩm phán được
phân công làm chủ tọa phiên họp ra quyết định đình chỉ giải quyết kháng cáo,
kháng nghị. Trường hợp đương sự kháng cáo rút toàn bộ kháng cáo, Viện kiểm sát
rút toàn bộ kháng nghị sau khi Tòa án cấp phúc thẩm ra quyết định mở phiên họp
xét kháng cáo, kháng nghị thì Hội đồng xét kháng cáo, kháng nghị ra quyết định
đình chỉ giải quyết xét kháng cáo, kháng nghị.
Trong các trường hợp này, quyết định của Tòa
án cấp sơ thẩm có hiệu lực pháp luật từ ngày Tòa án cấp phúc thẩm ra quyết định
đình chỉ xét kháng cáo, kháng nghị.
5. Hội đồng xét quyết định bị kháng cáo,
kháng nghị hủy quyết định của Tòa án cấp sơ thẩm và chuyển hồ sơ cho Tòa án cấp
sơ thẩm để giải quyết lại theo thủ tục sơ thẩm trong các trường hợp sau đây:
a) Việc chứng minh của đương sự phản đối việc
công nhận phán quyết của Trọng tài nước ngoài hoặc căn cứ để Tòa án cấp sơ thẩm
ra quyết định công nhận hoặc không công nhận phán quyết của Trọng tài nước
ngoài không đúng quy định tại Chương XXXV và Chương XXXVII của Bộ luật này, các
quy định khác có liên quan của pháp luật Việt Nam và điều ước quốc tế mà Cộng
hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên;
b) Thành phần của Hội đồng xét đơn của Tòa án
cấp sơ thẩm không đúng quy định tại Chương XXXVII của Bộ luật này hoặc có vi
phạm nghiêm trọng khác về thủ tục tố tụng ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp
pháp của đương sự.
6.[88] Quyết định của Tòa án
nhân dân cấp tỉnh có hiệu lực pháp luật kể từ ngày ra quyết định và có thể bị
kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm, tái thẩm theo quy định của Bộ luật này.
1. Ngay sau khi nhận được thông báo bằng văn
bản của cơ quan có thẩm quyền của nước ngoài về việc đang xem xét yêu cầu hủy
bỏ hoặc đình chỉ thi hành phán quyết của Trọng tài nước ngoài từ đương sự hoặc
Bộ Tư pháp, Tòa án đã ra quyết định công nhận và cho thi hành tại Việt Nam phán
quyết đó phải yêu cầu Thủ trưởng cơ quan thi hành án dân sự ra quyết định tạm
đình chỉ thi hành phán quyết.
Ngay sau khi nhận được yêu cầu của Tòa án,
Thủ trưởng cơ quan thi hành án dân sự ra quyết định tạm đình chỉ thi hành phán
quyết và gửi quyết định đó cho Tòa án đã ra quyết định công nhận và cho thi
hành tại Việt Nam phán quyết của Trọng tài nước ngoài, đồng thời gửi cho đương
sự, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan.
Thủ trưởng cơ quan thi hành án dân sự có thể
áp dụng biện pháp bảo đảm cần thiết cho việc tiếp tục thi hành phán quyết của
Trọng tài nước ngoài theo quy định của pháp luật về thi hành án dân sự nếu có
yêu cầu của cơ quan, tổ chức, cá nhân được thi hành.
2. Ngay sau khi nhận được thông báo bằng văn
bản của cơ quan có thẩm quyền của nước ngoài hủy bỏ hoặc đình chỉ thi hành phán
quyết của Trọng tài nước ngoài, Tòa án Việt Nam đã ra quyết định công nhận và
cho thi hành tại Việt Nam phán quyết của Trọng tài nước ngoài ra quyết định hủy
bỏ quyết định đó và gửi quyết định này cho đương sự, người có quyền lợi, nghĩa
vụ liên quan, cơ quan thi hành án dân sự.
Ngay sau khi nhận được quyết định của Tòa án,
Thủ trưởng cơ quan thi hành án dân sự ra quyết định đình chỉ việc thi hành phán
quyết của Trọng tài nước ngoài.
THỦ TỤC GIẢI QUYẾT VỤ VIỆC
DÂN SỰ CÓ YẾU TỐ NƯỚC NGOÀI
QUY ĐỊNH CHUNG VỀ THỦ TỤC
GIẢI QUYẾT VỤ VIỆC DÂN SỰ CÓ YẾU TỐ NƯỚC NGOÀI
1. Phần này quy định về thẩm quyền, thủ tục
giải quyết vụ việc dân sự có yếu tố nước ngoài; trường hợp Phần này không có
quy định thì áp dụng các quy định khác có liên quan của Bộ luật này để giải
quyết.
2. Vụ việc dân sự có yếu tố nước ngoài là vụ
việc dân sự thuộc một trong các trường hợp sau đây:
a) Có ít nhất một trong các bên tham gia là
cá nhân, cơ quan, tổ chức nước ngoài;
b) Các bên tham gia đều là công dân, cơ quan,
tổ chức Việt Nam nhưng việc xác lập, thay đổi, thực hiện hoặc chấm dứt quan hệ
đó xảy ra tại nước ngoài;
c) Các bên tham gia đều là công dân, cơ quan,
tổ chức Việt Nam nhưng đối tượng của quan hệ dân sự đó ở nước ngoài.
3. Các hoạt động tương trợ tư pháp trong tố
tụng dân sự được thực hiện theo quy định của pháp luật về tương trợ tư pháp.
1. Người nước ngoài, cơ quan, tổ chức nước
ngoài, tổ chức quốc tế, cơ quan đại diện của tổ chức quốc tế tại Việt Nam có
quyền khởi kiện đến Tòa án Việt Nam để yêu cầu bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp
của mình khi bị xâm phạm hoặc có tranh chấp.
Chi nhánh, văn phòng đại diện tại Việt Nam
của cơ quan, tổ chức nước ngoài theo ủy quyền có quyền khởi kiện đến Tòa án
Việt Nam để yêu cầu bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của cơ quan, tổ chức nước
ngoài ủy quyền bị xâm phạm hoặc có tranh chấp.
2. Khi tham gia tố tụng dân sự, người nước
ngoài, cơ quan, tổ chức nước ngoài, chi nhánh, văn phòng đại diện tại Việt Nam
của cơ quan, tổ chức nước ngoài, tổ chức quốc tế, cơ quan đại diện của tổ chức
quốc tế tại Việt Nam, Nhà nước nước ngoài có quyền, nghĩa vụ tố tụng như công
dân, cơ quan, tổ chức Việt Nam.
3. Nhà nước Việt Nam có thể áp dụng nguyên
tắc có đi có lại để hạn chế quyền tố tụng dân sự tương ứng của người nước
ngoài, cơ quan, tổ chức nước ngoài, chi nhánh, văn phòng đại diện tại Việt Nam
của cơ quan, tổ chức nước ngoài mà Tòa án của nước đó đã hạn chế quyền tố tụng
dân sự đối với công dân, cơ quan, tổ chức Việt Nam, chi nhánh, văn phòng đại
diện tại nước ngoài của cơ quan, tổ chức Việt Nam.
Điều 466. Năng lực pháp luật tố tụng dân sự
và năng lực hành vi tố tụng dân sự của người nước ngoài
1. Năng lực pháp luật tố tụng dân sự và năng
lực hành vi tố tụng dân sự của người nước ngoài được xác định như sau:
a) Theo pháp luật của nước mà người nước
ngoài có quốc tịch; trường hợp người nước ngoài là người không quốc tịch thì
theo pháp luật của nước nơi người đó cư trú; nếu người không quốc tịch thường
trú tại Việt Nam thì theo pháp luật Việt Nam;
b) Theo pháp luật của nước nơi người nước
ngoài có quốc tịch và cư trú tại một trong các nước mà họ có quốc tịch nếu họ
có nhiều quốc tịch nước ngoài.
Trường hợp người nước ngoài có nhiều quốc
tịch và cư trú ở nước mà không cùng với quốc tịch của nước đó thì theo pháp
luật của nước nơi người nước ngoài có thời gian mang quốc tịch dài nhất;
c) Theo pháp luật Việt Nam nếu người nước
ngoài có nhiều quốc tịch và một trong quốc tịch đó là quốc tịch Việt Nam hoặc
người nước ngoài có thẻ thường trú hoặc thẻ tạm trú tại Việt Nam.
2. Người nước ngoài có thể được công nhận có
năng lực hành vi tố tụng dân sự tại Tòa án Việt Nam, nếu theo quy định của pháp
luật nước ngoài thì họ không có năng lực hành vi tố tụng dân sự, nhưng theo quy
định của pháp luật Việt Nam thì họ có năng lực hành vi tố tụng dân sự.
1. Năng lực pháp luật tố tụng dân sự của cơ
quan, tổ chức nước ngoài được xác định theo pháp luật của nước nơi cơ quan, tổ
chức đó được thành lập.
Năng lực pháp luật tố tụng dân sự của chi
nhánh, văn phòng đại diện tại Việt Nam của cơ quan, tổ chức nước ngoài được xác
định theo pháp luật Việt Nam.
2. Năng lực pháp luật tố tụng dân sự của tổ
chức quốc tế, cơ quan đại diện của tổ chức quốc tế được xác định trên cơ sở
điều ước quốc tế là căn cứ để thành lập tổ chức đó, quy chế hoạt động của tổ
chức quốc tế hoặc điều ước quốc tế mà Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là
thành viên.
Trường hợp tổ chức quốc tế tuyên bố từ bỏ
quyền ưu đãi, quyền miễn trừ thì năng lực pháp luật tố tụng dân sự của tổ chức
quốc tế đó được xác định theo pháp luật Việt Nam.
Đương sự là người nước ngoài, cơ quan, tổ
chức nước ngoài, chi nhánh, văn phòng đại diện tại Việt Nam của cơ quan, tổ
chức nước ngoài, tổ chức quốc tế, cơ quan đại diện của tổ chức quốc tế tại Việt
Nam, Nhà nước nước ngoài tham gia tố tụng tại Tòa án Việt Nam có quyền tự mình
hoặc nhờ luật sư, người khác bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho mình theo quy
định của pháp luật Việt Nam.
1. Tòa án Việt Nam có thẩm quyền giải quyết
các vụ việc dân sự có yếu tố nước ngoài trong những trường hợp sau đây:
a) Bị đơn là cá nhân cư trú, làm ăn, sinh
sống lâu dài tại Việt Nam;
b) Bị đơn là cơ quan, tổ chức có trụ sở tại
Việt Nam hoặc bị đơn là cơ quan, tổ chức có chi nhánh, văn phòng đại diện tại
Việt Nam đối với các vụ việc liên quan đến hoạt động của chi nhánh, văn phòng
đại diện của cơ quan, tổ chức đó tại Việt Nam;
c) Bị đơn có tài sản trên lãnh thổ Việt Nam;
d) Vụ việc ly hôn mà nguyên đơn hoặc bị đơn
là công dân Việt Nam hoặc các đương sự là người nước ngoài cư trú, làm ăn, sinh
sống lâu dài tại Việt Nam;
đ) Vụ việc về quan hệ dân sự mà việc xác lập,
thay đổi, chấm dứt quan hệ đó xảy ra ở Việt Nam, đối tượng của quan hệ đó là
tài sản trên lãnh thổ Việt Nam hoặc công việc được thực hiện trên lãnh thổ Việt
Nam;
e) Vụ việc về quan hệ dân sự mà việc xác lập,
thay đổi, chấm dứt quan hệ đó xảy ra ở ngoài lãnh thổ Việt Nam nhưng có liên
quan đến quyền và nghĩa vụ của cơ quan, tổ chức, cá nhân Việt Nam hoặc có trụ
sở, nơi cư trú tại Việt Nam.
2. Sau khi xác định thẩm quyền của Tòa án
Việt Nam theo quy định của Chương này, Tòa án áp dụng các quy định tại Chương
III của Bộ luật này để xác định thẩm quyền của Tòa án cụ thể giải quyết vụ việc
dân sự có yếu tố nước ngoài.
Điều 470. Thẩm quyền riêng biệt của Tòa án
Việt Nam
1. Những vụ án dân sự có yếu tố nước ngoài
sau đây thuộc thẩm quyền giải quyết riêng biệt của Tòa án Việt Nam:
a) Vụ án dân sự đó có liên quan đến quyền đối
với tài sản là bất động sản có trên lãnh thổ Việt Nam;
b) Vụ án ly hôn giữa công dân Việt Nam với
công dân nước ngoài hoặc người không quốc tịch, nếu cả hai vợ chồng cư trú, làm
ăn, sinh sống lâu dài ở Việt Nam;
c) Vụ án dân sự khác mà các bên được lựa chọn
Tòa án Việt Nam để giải quyết theo pháp luật Việt Nam hoặc điều ước quốc tế mà
Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên và các bên đồng ý lựa chọn Tòa
án Việt Nam.
2. Những việc dân sự có yếu tố nước ngoài sau
đây thuộc thẩm quyền giải quyết riêng biệt của Tòa án Việt Nam:
a) Các yêu cầu không có tranh chấp phát sinh
từ quan hệ pháp luật dân sự quy định tại khoản 1 Điều này;
b) Yêu cầu xác định một sự kiện pháp lý xảy
ra trên lãnh thổ Việt Nam;
c) Tuyên bố công dân Việt Nam hoặc người nước
ngoài cư trú tại Việt Nam bị mất tích, đã chết nếu việc tuyên bố đó có liên
quan đến việc xác lập quyền, nghĩa vụ của họ trên lãnh thổ Việt Nam, trừ trường
hợp điều ước quốc tế mà Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên có quy
định khác;
d) Tuyên bố người nước ngoài cư trú tại Việt
Nam bị hạn chế năng lực hành vi dân sự, mất năng lực hành vi dân sự nếu việc
tuyên bố đó có liên quan đến việc xác lập quyền, nghĩa vụ của họ trên lãnh thổ
Việt Nam;
đ) Công nhận tài sản có trên lãnh thổ Việt
Nam là vô chủ, công nhận quyền sở hữu của người đang quản lý đối với tài sản vô
chủ trên lãnh thổ Việt Nam.
Điều 471. Không thay đổi thẩm quyền giải
quyết của Tòa án
Vụ việc dân sự có yếu tố nước ngoài đã được
một Tòa án Việt Nam thụ lý giải quyết theo quy định về thẩm quyền của Bộ luật
này thì phải được Tòa án đó tiếp tục giải quyết mặc dù trong quá trình giải
quyết có sự thay đổi quốc tịch, nơi cư trú, địa chỉ của các đương sự hoặc có
tình tiết mới làm cho vụ việc dân sự đó thuộc thẩm quyền của Tòa án khác của
Việt Nam hoặc của Tòa án nước ngoài.
1. Tòa án Việt Nam phải trả lại đơn khởi
kiện, đơn yêu cầu hoặc đình chỉ giải quyết vụ việc dân sự có yếu tố nước ngoài
nếu vụ việc dân sự thuộc thẩm quyền chung của Tòa án Việt Nam nhưng thuộc một
trong các trường hợp sau đây:
a) Các đương sự được thỏa thuận lựa chọn
phương thức giải quyết tranh chấp theo quy định của pháp luật áp dụng đối với
quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài và đã lựa chọn Trọng tài hoặc Tòa án nước
ngoài giải quyết vụ việc đó.
Trường hợp các bên thay đổi thỏa thuận lựa
chọn Trọng tài hoặc Tòa án nước ngoài bằng thỏa thuận lựa chọn Tòa án Việt Nam
hoặc thỏa thuận lựa chọn Trọng tài hoặc Tòa án nước ngoài bị vô hiệu hoặc không
thể thực hiện được, hoặc Trọng tài hoặc Tòa án nước ngoài từ chối thụ lý đơn
thì Tòa án Việt Nam vẫn có thẩm quyền giải quyết;
b) Vụ việc không thuộc thẩm quyền riêng biệt
của Tòa án Việt Nam quy định tại Điều 470 của Bộ luật này
và vụ việc thuộc thẩm quyền riêng biệt của Tòa án nước ngoài có liên quan;
c) Vụ việc không thuộc thẩm quyền riêng biệt
của Tòa án Việt Nam quy định tại Điều 470 của Bộ luật này
và đã được Trọng tài hoặc Tòa án nước ngoài thụ lý giải quyết;
d) Vụ việc đã được giải quyết bằng bản án,
quyết định của Tòa án nước ngoài hoặc phán quyết của Trọng tài.
Trường hợp bản án, quyết định của Tòa án nước
ngoài, phán quyết của Trọng tài nước ngoài không được Tòa án Việt Nam công nhận
thì Tòa án Việt Nam vẫn có thẩm quyền giải quyết vụ việc đó;
đ) Bị đơn được hưởng quyền miễn trừ tư pháp.
2. Trường hợp trả lại đơn hoặc đình chỉ giải
quyết vụ việc dân sự có yếu tố nước ngoài quy định tại khoản 1 Điều này thì
tiền tạm ứng án phí, lệ phí được xử lý theo quy định của Bộ luật này.
Điều 473. Yêu cầu cung cấp thông tin về nhân
thân, xác định địa chỉ của đương sự ở nước ngoài
1. Người khởi kiện, người yêu cầu phải ghi
đầy đủ họ, tên, địa chỉ, quốc tịch của đương sự ở nước ngoài trong đơn khởi
kiện, đơn yêu cầu kèm theo giấy tờ, tài liệu xác thực họ, tên, địa chỉ, quốc
tịch của đương sự đó.
Trường hợp không ghi đầy đủ họ, tên, địa chỉ,
quốc tịch của đương sự ở nước ngoài hoặc thiếu những nội dung trên thì phải bổ
sung trong thời hạn do Tòa án ấn định, hết thời hạn đó mà không cung cấp được
thì Tòa án trả lại đơn khởi kiện, đơn yêu cầu.
2. Trường hợp không xác định được địa chỉ của
đương sự ở nước ngoài thì người khởi kiện, người yêu cầu có thể yêu cầu Tòa án
Việt Nam đề nghị cơ quan có thẩm quyền của nước ngoài xác định địa chỉ của
đương sự hoặc có thể yêu cầu cơ quan có thẩm quyền tìm kiếm người vắng mặt tại
nơi cư trú hoặc yêu cầu Tòa án Việt Nam hoặc cơ quan có thẩm quyền của nước
ngoài tuyên bố đương sự mất tích hoặc đã chết theo quy định của pháp luật Việt
Nam hoặc pháp luật nước ngoài hoặc điều ước quốc tế mà Cộng hòa xã hội chủ nghĩa
Việt Nam là thành viên.
Trường hợp cơ quan có thẩm quyền của nước
ngoài trả lời cho Tòa án Việt Nam không xác định được địa chỉ của đương sự ở
nước ngoài hoặc sau 06 tháng mà không có trả lời thì Tòa án trả lại đơn khởi
kiện, đơn yêu cầu.
Điều 474. Các phương thức tống đạt, thông báo
văn bản tố tụng của Tòa án cho đương sự ở nước ngoài
1. Tòa án thực hiện việc tống đạt, thông báo
văn bản tố tụng của Tòa án theo một trong các phương thức sau đây:
a) Theo phương thức được quy định tại điều
ước quốc tế mà Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên;
b) Theo đường ngoại giao đối với đương sự cư
trú ở nước mà nước đó và Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam chưa cùng là thành
viên của điều ước quốc tế;
c) Theo đường dịch vụ bưu chính đến địa chỉ
của đương sự đang cư trú ở nước ngoài với điều kiện pháp luật nước đó đồng ý
với phương thức tống đạt này;
d) Theo đường dịch vụ bưu chính đến cơ quan
đại diện nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam ở nước ngoài để tống đạt cho
đương sự là công dân Việt Nam ở nước ngoài;
đ) Đối với cơ quan, tổ chức nước ngoài có văn
phòng đại diện, chi nhánh tại Việt Nam thì việc tống đạt có thể được thực hiện
qua văn phòng đại diện, chi nhánh của họ tại Việt Nam theo quy định của Bộ luật
này;
e) Theo đường dịch vụ bưu chính cho người đại
diện theo pháp luật hoặc đại diện theo ủy quyền tại Việt Nam của đương sự ở
nước ngoài.
2. Các phương thức tống đạt quy định tại điểm
a và điểm b khoản 1 Điều này được thực hiện theo pháp luật tương trợ tư pháp.
3. Trường hợp các phương thức tống đạt quy
định tại khoản 1 Điều này thực hiện không có kết quả thì Tòa án tiến hành niêm
yết công khai tại trụ sở cơ quan đại diện nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt
Nam ở nước ngoài, Tòa án đang giải quyết vụ việc hoặc tại nơi cư trú cuối cùng
của đương sự tại Việt Nam trong thời hạn 01 tháng và thông báo trên Cổng thông
tin điện tử của Tòa án (nếu có), Cổng thông tin điện tử của cơ quan đại diện
nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam ở nước ngoài; trường hợp cần thiết, Tòa
án có thể thông báo qua kênh dành cho người nước ngoài của Đài phát thanh hoặc
Đài truyền hình của trung ương ba lần trong 03 ngày liên tiếp.
Điều 475. Thu thập chứng cứ ở nước ngoài
Tòa án thực hiện thu thập chứng cứ ở nước
ngoài theo một trong các phương thức sau đây:
1. Theo quy định tại điểm a
và điểm b khoản 1 Điều 474 của Bộ luật này;
2. Theo đường dịch vụ bưu chính yêu cầu đương
sự là công dân Việt Nam đang cư trú ở nước ngoài gửi giấy tờ, tài liệu, chứng
cứ cho Tòa án Việt Nam.
Điều 476. Thông báo về việc thụ lý, ngày mở
phiên họp, phiên tòa
1. Tòa án phải gửi thông báo thụ lý vụ án,
trong đó nêu rõ thời gian, địa điểm mở phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp
cận, công khai chứng cứ và hòa giải (sau đây gọi chung là phiên họp hòa giải),
mở lại phiên họp hòa giải, mở phiên tòa và mở lại phiên tòa trong văn bản thông
báo thụ lý vụ án cho đương sự ở nước ngoài.
2. Thời hạn mở phiên tòa, phiên họp hòa giải
được xác định như sau:
a) Phiên họp hòa giải phải được mở sớm nhất
là 06 tháng và chậm nhất là 08 tháng, kể từ ngày ra văn bản thông báo thụ lý vụ
án. Ngày mở lại phiên họp hòa giải (nếu có) được ấn định cách ngày mở phiên họp
hòa giải chậm nhất là 01 tháng;
b) Phiên tòa phải được mở sớm nhất là 09
tháng và chậm nhất là 12 tháng, kể từ ngày ra văn bản thông báo thụ lý vụ án.
Ngày mở lại phiên tòa (nếu có) được ấn định cách ngày mở phiên tòa chậm nhất là
01 tháng, trừ trường hợp quy định tại khoản 4 Điều 477 của Bộ
luật này.
3. Tòa án phải gửi thông báo thụ lý việc dân
sự, trong đó nêu rõ thời gian, địa điểm mở phiên họp, mở lại phiên họp giải
quyết việc dân sự trong văn bản thông báo thụ lý việc dân sự cho đương sự ở
nước ngoài.
Phiên họp phải được mở sớm nhất là 06 tháng
và chậm nhất là 08 tháng, kể từ ngày ra văn bản thông báo thụ lý việc dân sự.
Ngày mở lại phiên họp giải quyết việc dân sự (nếu có) được ấn định cách ngày mở
phiên họp lần đầu chậm nhất là 01 tháng.
Khi nhận được kết quả tống đạt và kết quả thu
thập chứng cứ ở nước ngoài, tùy từng trường hợp cụ thể mà Tòa án xử lý như sau:
1. Không mở phiên họp hòa giải khi đã nhận
được kết quả tống đạt theo một trong các phương thức quy định tại khoản 1 Điều 474 của Bộ luật này , đương sự đã cung cấp đầy
đủ lời khai, tài liệu, chứng cứ và vụ án dân sự thuộc trường hợp không tiến
hành hòa giải được quy định tại Điều 207 của Bộ luật này;
2. Hoãn phiên họp hòa giải nếu đã nhận được
thông báo về việc tống đạt đã hoàn thành nhưng đến ngày mở phiên họp hòa giải
mà Tòa án vẫn không nhận được lời khai, tài liệu, chứng cứ của đương sự và họ
không đề nghị được vắng mặt tại phiên họp hòa giải. Nếu đến ngày mở lại phiên
họp hòa giải mà đương sự ở nước ngoài vẫn vắng mặt thì Tòa án xác định đây là
trường hợp không tiến hành hòa giải được;
3. Tòa án hoãn phiên tòa trong các trường hợp
sau đây:
a) Đương sự ở nước ngoài đề nghị hoãn phiên
tòa lần thứ nhất;
b) Đương sự ở nước ngoài vắng mặt tại phiên
tòa lần thứ nhất, trừ trường hợp họ có đơn đề nghị xét xử vắng mặt;
4. Tòa án không nhận được văn bản thông báo
về kết quả tống đạt cũng như lời khai, tài liệu, chứng cứ của đương sự ở nước
ngoài và đến ngày mở phiên tòa đương sự ở nước ngoài không có mặt, không có đơn
đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt họ thì Tòa án hoãn phiên tòa. Ngay sau khi hoãn
phiên tòa thì Tòa án có văn bản đề nghị Bộ Tư pháp hoặc cơ quan đại diện nước
Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam ở nước ngoài thông báo về việc thực hiện
tống đạt văn bản tố tụng của Tòa án cho đương sự ở nước ngoài trong trường hợp
Tòa án thực hiện việc tống đạt thông qua các cơ quan này theo một trong các
phương thức quy định tại các điểm a, b và d khoản 1 Điều 474
của Bộ luật này.
Trong thời hạn 01 tháng, kể từ ngày nhận được
văn bản của Tòa án, cơ quan đại diện nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam ở
nước ngoài phải thông báo cho Tòa án về kết quả thực hiện việc tống đạt văn bản
tố tụng cho đương sự ở nước ngoài.
Trong thời hạn 10 ngày, kể từ ngày Bộ Tư pháp
nhận được văn bản của Tòa án, Bộ Tư pháp phải có văn bản đề nghị cơ quan có
thẩm quyền ở nước ngoài trả lời về kết quả thực hiện ủy thác tư pháp.
Trong thời hạn 05 ngày làm việc, kể từ ngày
nhận được văn bản của cơ quan có thẩm quyền ở nước ngoài gửi về thì Bộ Tư pháp
phải trả lời cho Tòa án.
Hết thời hạn 03 tháng, kể từ ngày chuyển văn
bản của Tòa án cho cơ quan có thẩm quyền ở nước ngoài mà không nhận được văn
bản trả lời thì Bộ Tư pháp phải thông báo cho Tòa án biết để làm căn cứ giải
quyết vụ án;
5. Tòa án xét xử vắng mặt đương sự ở nước
ngoài trong các trường hợp sau đây:
a) Tòa án đã nhận được kết quả tống đạt theo
một trong các phương thức tống đạt quy định tại khoản 1 Điều
474 của Bộ luật này, đương sự đã cung cấp đầy đủ lời khai, tài liệu, chứng
cứ và đương sự đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt họ;
b) Tòa án đã thực hiện các biện pháp quy định
tại khoản 3 Điều 474 của Bộ luật này;
c) Tòa án không nhận được thông báo của cơ
quan có thẩm quyền theo quy định tại khoản 4 Điều này về kết quả thực hiện việc
tống đạt cho đương sự ở nước ngoài;
6. Nếu Tòa án nhận được văn bản thông báo về
việc tống đạt không thực hiện được do họ, tên, địa chỉ của đương sự không đúng
hoặc đương sự đã chuyển đến địa chỉ mới nhưng không rõ địa chỉ mới thì Tòa án
giải quyết như sau:
a) Tòa án yêu cầu nguyên đơn và người thân
thích trong nước của đương sự ở nước ngoài (nếu có) cung cấp địa chỉ đúng hoặc
địa chỉ mới của đương sự ở nước ngoài. Tòa án tiếp tục tống đạt thông báo thụ
lý cho đương sự ở nước ngoài theo địa chỉ do nguyên đơn, người thân thích trong
nước của đương sự ở nước ngoài cung cấp;
b) Nếu nguyên đơn, người thân thích trong
nước của đương sự không cung cấp được hoặc người thân thích trong nước của
đương sự từ chối cung cấp địa chỉ đúng hoặc địa chỉ mới của đương sự ở nước
ngoài hoặc đương sự ở nước ngoài không có người thân thích ở Việt Nam thì Tòa
án ra quyết định đình chỉ việc giải quyết vụ án. Đồng thời, Tòa án giải thích
cho người khởi kiện biết quyền yêu cầu Tòa án thông báo tìm kiếm đương sự vắng
mặt tại nơi cư trú hoặc yêu cầu Tòa án tuyên bố đương sự mất tích hoặc đã chết;
c) Trường hợp nguyên đơn là công dân Việt Nam
yêu cầu ly hôn với người nước ngoài đang cư trú ở nước ngoài mà không thể thực
hiện việc cung cấp đúng họ, tên, địa chỉ hoặc địa chỉ mới của người nước ngoài
theo yêu cầu của Tòa án mặc dù nguyên đơn, thân nhân của họ hoặc cơ quan có
thẩm quyền của Việt Nam hoặc của nước ngoài đã tiến hành xác minh tin tức, địa
chỉ của người nước ngoài đó nhưng không có kết quả thì nguyên đơn yêu cầu Tòa
án thông báo trên Cổng thông tin điện tử của Tòa án (nếu có), Cổng thông tin
điện tử của cơ quan đại diện nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam ở nước
ngoài; trường hợp cần thiết, theo yêu cầu của nguyên đơn, Tòa án có thể thông
báo qua kênh dành cho người nước ngoài của Đài phát thanh hoặc Đài truyền hình
của trung ương ba lần trong 03 ngày liên tiếp.
Trong trường hợp này, Tòa án không phải tống
đạt lại văn bản tố tụng cho đương sự ở nước ngoài. Hết thời hạn 01 tháng, kể từ
ngày đăng thông báo, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt đương sự.
1. Tòa án Việt Nam công nhận giấy tờ, tài
liệu do cơ quan, tổ chức có thẩm quyền nước ngoài lập, cấp, xác nhận trong các
trường hợp sau:
a) Giấy tờ, tài liệu và bản dịch tiếng Việt
có công chứng, chứng thực đã được hợp pháp hoá lãnh sự;
b) Giấy tờ, tài liệu đó được miễn hợp pháp
hóa lãnh sự theo quy định của pháp luật Việt Nam hoặc điều ước quốc tế mà Cộng
hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên.
2. Tòa án Việt Nam công nhận giấy tờ, tài
liệu do cá nhân cư trú ở nước ngoài lập trong các trường hợp sau đây:
a) Giấy tờ, tài liệu lập bằng tiếng nước
ngoài đã được dịch ra tiếng Việt có công chứng, chứng thực hợp pháp theo quy
định của pháp luật Việt Nam;
b) Giấy tờ, tài liệu được lập ở nước ngoài
được công chứng, chứng thực theo quy định của pháp luật nước ngoài và đã được
hợp pháp hóa lãnh sự;
c) Giấy tờ, tài liệu do công dân Việt Nam ở
nước ngoài lập bằng tiếng Việt có chữ ký của người lập giấy tờ, tài liệu đó và
đã được công chứng, chứng thực theo quy định của pháp luật Việt Nam.
Điều 479. Thời hạn kháng cáo bản án, quyết
định của Tòa án xét xử vụ án dân sự có yếu tố nước ngoài
1. Đương sự có mặt tại Việt Nam có quyền
kháng cáo bản án, quyết định của Tòa án trong thời hạn quy định tại Điều 273 của Bộ luật này.
2. Đương sự cư trú ở nước ngoài không có mặt
tại phiên tòa thì thời hạn kháng cáo bản án, quyết định của Tòa án là 01 tháng,
kể từ ngày bản án, quyết định được tống đạt hợp lệ hoặc kể từ ngày bản án,
quyết định được niêm yết hợp lệ theo quy định của pháp luật.
3. Trường hợp Tòa án xét xử vắng mặt đương sự
ở nước ngoài theo quy định tại điểm c khoản 5 Điều 477 của Bộ
luật này thì thời hạn kháng cáo là 12 tháng, kể từ ngày tuyên án.
Tòa án cấp phúc thẩm thực hiện việc tống đạt,
thông báo văn bản tố tụng xử lý kết quả tống đạt, thông báo văn bản tố tụng cho
đương sự ở nước ngoài theo quy định tại các điều 474, 476 và
477 của Bộ luật này.
Trường hợp Tòa án Việt Nam áp dụng pháp luật
nước ngoài để giải quyết vụ việc dân sự có yếu tố nước ngoài theo quy định của
luật Việt Nam, điều ước quốc tế mà Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành
viên thì trách nhiệm xác định và cung cấp pháp luật nước ngoài được thực hiện
như sau:
1. Trường hợp đương sự được quyền lựa chọn
pháp luật áp dụng là pháp luật nước ngoài và đã lựa chọn áp dụng pháp luật nước
ngoài đó thì có nghĩa vụ cung cấp pháp luật nước ngoài đó cho Tòa án đang giải
quyết vụ việc dân sự. Các đương sự chịu trách nhiệm về tính chính xác và hợp
pháp của pháp luật nước ngoài đã cung cấp.
Trường hợp các đương sự không thống nhất được
với nhau về pháp luật nước ngoài hoặc trong trường hợp cần thiết, Tòa án yêu
cầu Bộ Tư pháp, Bộ ngoại giao, cơ quan đại diện nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa
Việt Nam ở nước ngoài hoặc thông qua Bộ Ngoại giao đề nghị cơ quan đại diện
ngoại giao của nước ngoài tại Việt Nam cung cấp pháp luật nước ngoài;
2. Trường hợp luật của Việt Nam, điều ước
quốc tế mà Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên quy định phải áp
dụng pháp luật nước ngoài thì đương sự có quyền cung cấp pháp luật nước ngoài
cho Tòa án hoặc Tòa án yêu cầu Bộ Tư pháp, Bộ Ngoại giao hoặc cơ quan đại diện
nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam ở nước ngoài cung cấp pháp luật nước
ngoài;
3. Tòa án có thể yêu cầu cơ quan, tổ chức, cá
nhân có chuyên môn về pháp luật nước ngoài cung cấp thông tin về pháp luật nước
ngoài;
4. Hết thời hạn 06 tháng, kể từ ngày Tòa án
yêu cầu cung cấp pháp luật nước ngoài theo quy định tại Điều này mà không có
kết quả thì Tòa án áp dụng pháp luật của Việt Nam để giải quyết vụ việc dân sự
đó.
THI HÀNH BẢN ÁN, QUYẾT
ĐỊNH DÂN SỰ CỦA TÒA ÁN
THI HÀNH BẢN ÁN, QUYẾT
ĐỊNH DÂN SỰ CỦA TÒA ÁN
Điều 482. Những bản án, quyết định của Tòa án
được thi hành
1. Bản án, quyết định dân sự của Tòa án được
thi hành là bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật, bao gồm:
a) Bản án, quyết định hoặc phần bản án, quyết
định của Tòa án cấp sơ thẩm không bị kháng cáo, kháng nghị theo thủ tục phúc
thẩm;
b) Bản án, quyết định của Tòa án cấp phúc
thẩm;
c) Quyết định giám đốc thẩm hoặc tái thẩm của
Tòa án; quyết định của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao quy định tại Điều 360 của Bộ luật này;
d) Bản án, quyết định dân sự của Tòa án nước
ngoài, phán quyết của Trọng tài nước ngoài đã được Tòa án Việt Nam công nhận và
cho thi hành tại Việt Nam.
2. Những bản án, quyết định sau đây của Tòa
án cấp sơ thẩm được thi hành ngay mặc dù có thể bị kháng cáo, khiếu nại, kháng
nghị, kiến nghị:
a) Bản án, quyết định về cấp dưỡng, trả công
lao động, nhận người lao động trở lại làm việc, trả lương, trợ cấp thôi việc,
trợ cấp mất sức lao động, trợ cấp mất việc làm, bảo hiểm xã hội, bảo hiểm thất
nghiệp, bảo hiểm y tế hoặc bồi thường thiệt hại về tính mạng, sức khoẻ, tổn
thất tinh thần của công dân; quyết định về tính hợp pháp của cuộc đình công;
b) Quyết định về việc áp dụng biện pháp khẩn
cấp tạm thời.
Điều 483. Ghi nhận và giải thích về quyền yêu
cầu thi hành án dân sự
1. Trường hợp trong bản án, quyết định của
Tòa án có quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 482
của Bộ luật này thì trong phần quyết định của bản án, quyết định của Tòa án
phải ghi rõ nội dung về quyền yêu cầu thi hành án, nghĩa vụ thi hành án, thời
hiệu yêu cầu thi hành án.
2. Khi ra bản án, quyết định, Tòa án phải
giải thích rõ cho đương sự biết về quyền yêu cầu thi hành án, nghĩa vụ thi hành
án, thời hiệu yêu cầu thi hành án theo quy định của Luật Thi hành án dân sự.
Điều 484. Cấp bản án, quyết định của Tòa án
Khi bản án, quyết định của Tòa án thuộc
trường hợp được thi hành theo quy định tại Điều 482 của Bộ
luật này thì Tòa án đã ra bản án, quyết định đó phải cấp cho người được thi
hành án và người phải thi hành án bản án hoặc quyết định đó có ghi “để thi
hành”.
Điều 485. Thời hạn chuyển giao bản án, quyết
định
1. Tòa án đã ra bản án, quyết định quy định
tại khoản 1 Điều 482 của Bộ luật này phải chuyển giao bản
án, quyết định đó cho cơ quan thi hành án dân sự có thẩm quyền trong thời hạn
01 tháng, kể từ ngày bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật, trừ trường hợp
pháp luật có quy định khác.
2. Tòa án đã ra bản án, quyết định quy định
tại điểm a khoản 2 Điều 482 của Bộ luật này phải chuyển
giao bản án, quyết định đó cho cơ quan thi hành án dân sự có thẩm quyền trong
thời hạn 15 ngày, kể từ ngày ra bản án, quyết định.
3. Tòa án đã ra quyết định áp dụng biện pháp
khẩn cấp tạm thời, quyết định về tính hợp pháp của cuộc đình công phải chuyển
giao quyết định đó cho cơ quan thi hành án dân sự có thẩm quyền ngay sau khi ra
quyết định.
4. Trường hợp cơ quan có thẩm quyền đã kê
biên tài sản, tạm giữ tài sản, thu giữ vật chứng hoặc thu giữ các tài liệu khác
có liên quan đến việc thi hành án thì khi chuyển giao bản án, quyết định cho cơ
quan thi hành án dân sự, Tòa án phải gửi kèm theo bản sao biên bản về việc kê
biên, tạm giữ tài sản, thu giữ vật chứng hoặc tài liệu khác có liên quan.
Điều 486. Giải thích, sửa chữa bản án, quyết
định của Tòa án
1. Người được thi hành án, người phải thi
hành án, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến việc thi hành bản án, quyết
định của Tòa án và cơ quan thi hành án có quyền yêu cầu bằng văn bản Tòa án đã
ra bản án, quyết định, giải thích, sửa chữa những điểm chưa rõ trong bản án,
quyết định để thi hành.
2. Thẩm phán đã ra quyết định hoặc Thẩm phán
là chủ tọa phiên tòa có trách nhiệm giải thích, sửa chữa những điểm chưa rõ
trong bản án, quyết định của Tòa án. Trường hợp họ không còn là Thẩm phán của
Tòa án thì Chánh án Tòa án đó có trách nhiệm giải thích, sửa chữa bản án, quyết
định của Tòa án.
3. Việc giải thích bản án, quyết định của Tòa
án phải căn cứ vào biên bản phiên tòa, biên bản phiên họp, biên bản nghị án.
Việc sửa chữa bản án, quyết định được thực hiện theo quy định tại Điều 268 của Bộ luật này.
Điều 487. Giải quyết yêu cầu, kiến nghị đối
với bản án, quyết định của Tòa án
Trường hợp cơ quan thi hành án dân sự kiến
nghị về việc xem xét lại bản án, quyết định của Tòa án theo thủ tục giám đốc
thẩm, tái thẩm thì Tòa án có thẩm quyền phải trả lời trong thời hạn 03 tháng,
kể từ ngày nhận được kiến nghị; trường hợp vụ việc phức tạp thì thời hạn trả
lời không quá 04 tháng, kể từ ngày nhận được văn bản kiến nghị.
1.[89] Thẩm quyền xét miễn,
giảm nghĩa vụ thi hành án đối với khoản thu nộp ngân sách nhà nước của Tòa án
được xác định như sau:
a) Tòa án nhân dân khu vực nơi cơ quan thi
hành án dân sự đang tổ chức việc thi hành án có trụ sở, có thẩm quyền xét đề
nghị việc miễn, giảm nghĩa vụ thi hành án đối với khoản thu nộp ngân sách nhà
nước;
b) Tòa án nhân dân cấp tỉnh có thẩm quyền xem
xét theo thủ tục phúc thẩm đối với quyết định miễn, giảm nghĩa vụ thi hành án
đối với khoản thu nộp ngân sách nhà nước của Tòa án bị Viện kiểm sát kháng
nghị;
c) Tòa án nhân dân cấp tỉnh có thẩm quyền xem
xét theo thủ tục tái thẩm đối với quyết định miễn, giảm nghĩa vụ thi hành án đã
có hiệu lực pháp luật của Tòa án nhân dân khu vực trong phạm vi thẩm quyền theo
lãnh thổ bị kháng nghị;
d) Tòa án nhân dân tối cao có thẩm quyền xem
xét theo thủ tục tái thẩm đối với quyết định miễn, giảm nghĩa vụ thi hành án đã
có hiệu lực pháp luật của Tòa án nhân dân cấp tỉnh bị kháng nghị.
2. Trình tự, thủ tục xét miễn, giảm nghĩa vụ
thi hành án đối với khoản thu nộp ngân sách nhà nước được thực hiện theo quy
định của Luật Thi hành án dân sự.
XỬ LÝ HÀNH VI CẢN TRỞ HOẠT ĐỘNG TỐ TỤNG DÂN
SỰ; KHIẾU NẠI, TỐ CÁO TRONG TỐ TỤNG DÂN SỰ
Chương XL
XỬ LÝ HÀNH VI CẢN TRỞ HOẠT ĐỘNG TỐ TỤNG DÂN
SỰ
Điều 489. Xử lý hành vi cản trở hoạt động xác
minh, thu thập chứng cứ của người tiến hành tố tụng
Người nào có một trong các hành vi sau đây
thì tuỳ theo tính chất, mức độ vi phạm mà có thể bị xử lý kỷ luật, xử phạt hành
chính hoặc truy cứu trách nhiệm hình sự theo quy định của pháp luật:
1. Làm giả, hủy hoại chứng cứ quan trọng gây
trở ngại cho việc giải quyết vụ án của Tòa án;
2. Từ chối khai báo, khai báo gian dối hoặc
cung cấp tài liệu sai sự thật khi làm chứng;
3. Từ chối kết luận giám định hoặc từ chối
cung cấp tài liệu mà không có lý do chính đáng, kết luận giám định sai sự thật;
4. Cố ý dịch sai sự thật;
5. Không cử người tham gia Hội đồng định giá
theo yêu cầu của Tòa án mà không có lý do chính đáng; không tham gia thực hiện
nhiệm vụ của Hội đồng định giá mà không có lý do chính đáng;
6. Cản trở người tiến hành tố tụng tiến hành
xem xét thẩm định tại chỗ, định giá, giám định hoặc xác minh, thu thập chứng cứ
khác do Bộ luật này quy định;
7. Lừa dối, mua chuộc, đe dọa, cưỡng ép, sử
dụng vũ lực nhằm ngăn cản người làm chứng ra làm chứng hoặc buộc người khác ra
làm chứng gian dối;
8. Lừa dối, mua chuộc, đe dọa, cưỡng ép, sử
dụng vũ lực nhằm ngăn cản người giám định thực hiện nhiệm vụ hoặc buộc người
giám định kết luận sai với sự thật khách quan;
9. Lừa dối, mua chuộc, đe dọa, cưỡng ép, sử
dụng vũ lực nhằm ngăn cản người phiên dịch thực hiện nhiệm vụ hoặc buộc người
phiên dịch dịch không trung thực, không khách quan, không đúng nghĩa.
Điều 490. Xử lý hành vi cố ý không có mặt
theo giấy triệu tập của Tòa án
1. Người làm chứng, người phiên dịch, người
giám định đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng cố ý không đến Tòa án hoặc
không có mặt tại phiên tòa, phiên họp mà không có lý do chính đáng và nếu sự
vắng mặt của họ gây trở ngại cho việc thu thập, xác minh chứng cứ hoặc giải
quyết vụ việc thì bị xử phạt hành chính theo quy định của pháp luật.
2. Trong trường hợp quy định tại khoản 1 Điều
này, Tòa án có quyền ra quyết định dẫn giải người làm chứng đến phiên tòa,
phiên họp, trừ trường hợp người làm chứng là người chưa thành niên. Quyết định
dẫn giải người làm chứng phải ghi rõ thời gian, địa điểm ra quyết định; họ,
tên, chức vụ người ra quyết định; họ, tên, ngày, tháng, năm sinh, nơi cư trú
của người làm chứng; thời gian, địa điểm người làm chứng phải có mặt.
3. Cơ quan công an có nhiệm vụ thi hành quyết
định của Tòa án dẫn giải người làm chứng. Người thi hành quyết định dẫn giải
người làm chứng phải đọc, giải thích quyết định dẫn giải cho người bị dẫn giải
biết và lập biên bản về việc dẫn giải.
Điều 491. Xử lý hành vi vi phạm nội quy phiên
tòa
1. Người có hành vi vi phạm nội quy phiên tòa
quy định tại Điều 234 của Bộ luật này thì tuỳ theo tính
chất, mức độ vi phạm mà có thể bị chủ tọa phiên tòa xử phạt hành chính theo quy
định của pháp luật.
2. Chủ tọa phiên tòa có quyền ra quyết định
buộc người vi phạm quy định tại khoản 1 Điều này rời khỏi phòng xử án. Cơ quan
công an có nhiệm vụ bảo vệ phiên tòa hoặc người có nhiệm vụ bảo vệ trật tự
phiên tòa thi hành quyết định của chủ tọa phiên tòa về việc buộc rời khỏi phòng
xử án hoặc tạm giữ hành chính người gây rối trật tự tại phiên tòa.
3.[90] Trường hợp người vi
phạm nội quy phiên tòa có dấu hiệu tội phạm thì Tòa án yêu cầu, kiến nghị khởi
tố theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự.
4. Quy định tại Điều này cũng được áp dụng
đối với người có hành vi vi phạm tại phiên họp của Tòa án.
Người có hành vi xúc phạm, xâm hại đến sự tôn
nghiêm, uy tín của Tòa án, danh dự, nhân phẩm, sức khỏe của người tiến hành tố
tụng hoặc những người khác thực hiện nhiệm vụ theo yêu cầu của Tòa án thì tuỳ
theo tính chất, mức độ vi phạm mà bị xử phạt hành chính hoặc bị truy cứu trách
nhiệm hình sự theo quy định của pháp luật.
Điều 493. Xử lý hành vi cản trở việc cấp,
giao, nhận, tống đạt, thông báo văn bản tố tụng của Tòa án
Người có một trong các hành vi sau đây thì
tuỳ theo tính chất, mức độ vi phạm mà bị xử lý kỷ luật, xử phạt hành chính hoặc
bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo quy định của pháp luật:
1. Không thực hiện việc cấp, giao, tống đạt,
thông báo văn bản tố tụng của Tòa án theo yêu cầu của Tòa án mà không có lý do
chính đáng;
2. Hủy hoại văn bản tố tụng của Tòa án mà
mình được giao để cấp, tống đạt, thông báo theo yêu cầu của Tòa án;
3. Giả mạo kết quả thực hiện việc tống đạt,
thông báo văn bản tố tụng của Tòa án mà mình được giao thực hiện;
4. Ngăn cản việc cấp, giao, nhận, tống đạt,
thông báo văn bản tố tụng của Tòa án.
Người có hành vi đe dọa, hành hung hoặc lợi
dụng sự lệ thuộc nhằm cản trở đại diện của cơ quan, tổ chức hoặc cá nhân đến
phiên tòa, phiên họp theo triệu tập của Tòa án thì tuỳ theo tính chất, mức độ
vi phạm mà bị xử phạt hành chính hoặc bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo quy
định của pháp luật.
1. Cơ quan, tổ chức, cá nhân không thi hành
quyết định của Tòa án về việc cung cấp tài liệu, chứng cứ mà cơ quan, tổ chức,
cá nhân đó đang quản lý, lưu giữ thì có thể bị Tòa án xử phạt hành chính theo
quy định của pháp luật.
2. Người có hành vi đưa tin sai sự thật nhằm
cản trở Tòa án giải quyết vụ án thì tùy theo tính chất, mức độ vi phạm mà bị xử
phạt hành chính hoặc bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo quy định của pháp
luật.
Điều 496. Xử lý hành vi can thiệp vào việc
giải quyết vụ việc dân sự
Người nào bằng ảnh hưởng của mình có hành vi
tác động dưới bất kỳ hình thức nào đối với Thẩm phán, thành viên Hội đồng xét
xử nhằm làm cho việc giải quyết vụ việc không khách quan, không đúng pháp luật
thì tùy theo tính chất, mức độ vi phạm mà bị xử lý kỷ luật, xử phạt hành chính
hoặc bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo quy định của pháp luật.
Điều 498. Hình thức xử phạt, thẩm quyền,
trình tự, thủ tục, xử phạt
Hình thức xử phạt, thẩm quyền, trình tự, thủ
tục xử phạt hành chính đối với các hành vi cản trở hoạt động tố tụng dân sự
được thực hiện theo quy định của Luật Xử lý vi phạm hành chính và pháp luật có
liên quan.
KHIẾU NẠI, TỐ CÁO TRONG TỐ TỤNG DÂN SỰ
Điều 499. Quyết định, hành vi trong tố tụng
dân sự có thể bị khiếu nại
1. Cơ quan, tổ chức, cá nhân có quyền khiếu
nại quyết định, hành vi trong tố tụng dân sự của cơ quan, người tiến hành tố
tụng dân sự khi có căn cứ cho rằng quyết định, hành vi đó là trái pháp luật,
xâm phạm quyền và lợi ích hợp pháp của mình.
2. Đối với bản án, quyết định sơ thẩm, phúc
thẩm, giám đốc thẩm, tái thẩm của Tòa án nếu có kháng cáo, kháng nghị và các
quyết định tố tụng khác do người tiến hành tố tụng dân sự ban hành nếu có khiếu
nại, kiến nghị thì không giải quyết theo quy định của Chương này mà được giải
quyết theo quy định của các chương tương ứng của Bộ luật này.
Điều 500. Quyền, nghĩa vụ của người khiếu nại
1. Người khiếu nại có các quyền sau đây:
a) Tự mình hoặc thông qua người đại diện hợp
pháp khiếu nại;
b) Khiếu nại trong bất kỳ giai đoạn nào của
quá trình giải quyết vụ án;
c) Rút khiếu nại trong bất kỳ giai đoạn nào
của quá trình giải quyết khiếu nại;
d) Được nhận văn bản trả lời về việc thụ lý
để giải quyết khiếu nại; nhận quyết định giải quyết khiếu nại;
đ) Được khôi phục quyền và lợi ích hợp pháp
đã bị xâm phạm, được bồi thường thiệt hại theo quy định của pháp luật.
2. Người khiếu nại có các nghĩa vụ sau đây:
a) Khiếu nại đến đúng người có thẩm quyền
giải quyết;
b) Trình bày trung thực sự việc, cung cấp
thông tin, tài liệu cho người giải quyết khiếu nại; chịu trách nhiệm trước pháp
luật về nội dung trình bày và việc cung cấp thông tin, tài liệu đó;
c) Không được lạm dụng quyền khiếu nại để cản
trở hoạt động tố tụng của Tòa án;
d) Chấp hành quyết định, hành vi của người
tiến hành tố tụng mà mình đang khiếu nại trong thời gian khiếu nại;
đ) Chấp hành nghiêm chỉnh quyết định giải
quyết khiếu nại đã có hiệu lực pháp luật.
Điều 501. Quyền, nghĩa vụ của người bị khiếu
nại
1. Người bị khiếu nại có các quyền sau đây:
a) Được biết các căn cứ khiếu nại của người
khiếu nại; đưa ra bằng chứng về tính hợp pháp của quyết định, hành vi trong tố
tụng bị khiếu nại;
b) Được nhận quyết định giải quyết khiếu nại
về quyết định, hành vi trong tố tụng của mình.
2. Người bị khiếu nại có các nghĩa vụ sau
đây:
a) Giải trình về quyết định, hành vi trong tố
tụng dân sự bị khiếu nại; cung cấp thông tin, tài liệu liên quan khi cơ quan,
tổ chức, cá nhân có thẩm quyền yêu cầu;
b) Chấp hành nghiêm chỉnh quyết định giải
quyết khiếu nại đã có hiệu lực pháp luật;
c) Bồi thường thiệt hại, bồi hoàn hoặc khắc
phục hậu quả do quyết định, hành vi trong tố tụng dân sự trái pháp luật của
mình gây ra theo quy định của pháp luật.
Thời hiệu khiếu nại là 15 ngày, kể từ ngày
người khiếu nại nhận được hoặc biết được quyết định, hành vi tố tụng mà người
đó cho rằng có vi phạm pháp luật.
Trường hợp có sự kiện bất khả kháng hoặc trở
ngại khách quan mà người khiếu nại không thực hiện được quyền khiếu nại theo
đúng thời hạn quy định tại Điều này thì thời gian có sự kiện bất khả kháng hoặc
trở ngại khách quan đó không tính vào thời hiệu khiếu nại.
Việc khiếu nại phải được thực hiện bằng đơn.
Trong đơn khiếu nại phải ghi rõ ngày, tháng, năm; họ, tên, địa chỉ của người
khiếu nại; nội dung, lý do khiếu nại, yêu cầu của người khiếu nại, có chữ ký
hoặc điểm chỉ của người khiếu nại.
Điều 504. Thẩm quyền giải quyết khiếu nại đối
với quyết định, hành vi của người tiến hành tố tụng
1. Khiếu nại quyết định, hành vi của người
tiến hành tố tụng là Thẩm phán, Phó Chánh án, Thẩm tra viên Tòa án[92], Thư ký Tòa án, Hội thẩm nhân dân do Chánh án Tòa án
đang giải quyết vụ việc dân sự có thẩm quyền giải quyết.
Đối với khiếu nại quyết định, hành vi tố tụng
của Chánh án Tòa án thì Chánh án Tòa án trên một cấp trực tiếp có thẩm quyền
giải quyết.
2. Khiếu nại quyết định, hành vi của người
tiến hành tố tụng là Kiểm sát viên, Kiểm tra viên, Phó Viện trưởng Viện kiểm
sát do Viện trưởng Viện kiểm sát giải quyết.
Đối với khiếu nại quyết định, hành vi tố tụng
của Viện trưởng Viện kiểm sát thì Viện trưởng Viện kiểm sát cấp trên trực tiếp
có thẩm quyền giải quyết.
3. Khiếu nại quyết định giải quyết khiếu nại
lần đầu của Chánh án Tòa án, Viện trưởng Viện kiểm sát quy định tại khoản 1 và
khoản 2 Điều này do Chánh án Tòa án trên một cấp trực tiếp, Viện trưởng Viện
kiểm sát cấp trên trực tiếp giải quyết.
Điều 505. Thời hạn giải quyết khiếu nại
Thời hạn giải quyết khiếu nại lần đầu là 15
ngày, kể từ ngày Tòa án, Viện kiểm sát nhận được khiếu nại. Trường hợp cần
thiết, đối với vụ việc có tính chất phức tạp thì thời hạn giải quyết khiếu nại
có thể được kéo dài nhưng không quá 15 ngày, kể từ ngày hết thời hạn giải quyết
khiếu nại.
Điều 506. Nội dung quyết định giải quyết
khiếu nại lần đầu
1. Người giải quyết khiếu nại lần đầu phải ra
quyết định giải quyết khiếu nại bằng văn bản. Quyết định giải quyết khiếu nại
phải có các nội dung sau đây:
a) Ngày, tháng, năm ra quyết định;
b) Tên, địa chỉ của người khiếu nại, người bị
khiếu nại;
c) Nội dung khiếu nại;
d) Kết quả xác minh nội dung khiếu nại;
đ) Căn cứ pháp luật để giải quyết khiếu nại;
e) Nội dung quyết định giải quyết khiếu nại.
2. Quyết định giải quyết khiếu nại lần đầu
phải được gửi cho người khiếu nại, cá nhân, cơ quan, tổ chức có liên quan;
trường hợp là quyết định của Chánh án Tòa án thì còn phải gửi cho Viện kiểm sát
cùng cấp.
Điều 507. Thủ tục giải quyết khiếu nại lần
hai
1. Trong thời hạn 05 ngày làm việc, kể từ
ngày người khiếu nại nhận được quyết định giải quyết khiếu nại lần đầu, nếu
không đồng ý với quyết định đó thì có quyền khiếu nại đến người có thẩm quyền
giải quyết khiếu nại lần hai.
2. Đơn khiếu nại phải kèm theo bản sao quyết
định giải quyết khiếu nại lần đầu và các tài liệu kèm theo.
Đơn khiếu nại phải ghi rõ ngày, tháng năm làm
đơn; họ, tên, địa chỉ của người khiếu nại; nội dung, lý do khiếu nại; có chữ ký
hoặc điểm chỉ của người khiếu nại.
3. Quyết định giải quyết khiếu nại lần hai
phải có các nội dung sau đây:
a) Các nội dung quy định tại các điểm a, b, c, d và đ khoản 1 Điều 506 của Bộ luật này;
b) Kết quả giải quyết khiếu nại của người
giải quyết khiếu nại lần đầu;
c) Kết luận về từng vấn đề cụ thể trong nội
dung khiếu nại của người khiếu nại và việc giải quyết của người giải quyết
khiếu nại lần hai.
4. Quyết định giải quyết khiếu nại lần hai
phải được gửi cho người khiếu nại, cá nhân, cơ quan, tổ chức có liên quan;
trường hợp là quyết định của Chánh án Tòa án thì còn phải gửi cho Viện kiểm sát
cùng cấp.
5. Quyết định giải quyết khiếu nại lần hai có
hiệu lực thi hành.
Điều 508. Giải quyết khiếu nại về hoạt động
giám định trong tố tụng dân sự
Việc giải quyết khiếu nại về hoạt động giám
định trong tố tụng dân sự được thực hiện theo quy định của pháp luật về giám
định tư pháp và pháp luật có liên quan.
Điều 509. Người có quyền tố cáo
Cá nhân có quyền tố cáo với cơ quan, tổ chức,
cá nhân có thẩm quyền về hành vi vi phạm pháp luật của người có thẩm quyền tiến
hành tố tụng gây thiệt hại hoặc đe dọa gây thiệt hại đến lợi ích của Nhà nước,
quyền và lợi ích hợp pháp của cơ quan, tổ chức, cá nhân.
Điều 510. Quyền, nghĩa vụ của người tố cáo
1. Người tố cáo có các quyền sau đây:
a) Gửi đơn hoặc trực tiếp tố cáo với cơ quan,
tổ chức, cá nhân có thẩm quyền;
b) Yêu cầu giữ bí mật họ, tên, địa chỉ, bút
tích của mình;
c) Yêu cầu được thông báo kết quả giải quyết
tố cáo;
d) Yêu cầu cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm
quyền bảo vệ khi bị đe dọa, trù dập, trả thù.
2. Người tố cáo có các nghĩa vụ sau đây:
a) Trình bày trung thực về nội dung tố cáo;
b) Nêu rõ họ, tên, địa chỉ của mình;
c) Chịu trách nhiệm trước pháp luật về việc
tố cáo sai sự thật.
Điều 511. Quyền, nghĩa vụ của người bị tố cáo
1. Người bị tố cáo có các quyền sau đây:
a) Được thông báo về nội dung tố cáo;
b) Đưa ra bằng chứng để chứng minh nội dung
tố cáo là không đúng sự thật;
c) Được khôi phục quyền và lợi ích hợp pháp
bị xâm phạm; được phục hồi danh dự, được bồi thường thiệt hại do việc tố cáo
không đúng gây ra;
d) Yêu cầu cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm
quyền xử lý người tố cáo sai sự thật.
2. Người bị tố cáo có các nghĩa vụ sau đây:
a) Giải trình về hành vi bị tố cáo; cung cấp
thông tin, tài liệu liên quan khi cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền yêu
cầu;
b) Chấp hành nghiêm chỉnh quyết định xử lý
của cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền;
c) Bồi thường thiệt hại, bồi hoàn hoặc khắc
phục hậu quả do hành vi tố tụng dân sự trái pháp luật của mình gây ra theo quy
định của pháp luật.
Điều 512. Thẩm quyền và thời hạn giải quyết
tố cáo
1. Tố cáo hành vi vi phạm pháp luật của người
có thẩm quyền tiến hành tố tụng thuộc cơ quan có thẩm quyền nào thì người đứng
đầu cơ quan đó có trách nhiệm giải quyết.
Trường hợp người bị tố cáo là Chánh án, Phó
Chánh án Tòa án, Viện trưởng, Phó Viện trưởng Viện kiểm sát thì Chánh án Tòa án
trên một cấp trực tiếp, Viện trưởng Viện kiểm sát cấp trên trực tiếp có trách
nhiệm giải quyết.
Thời hạn giải quyết tố cáo là không quá 02
tháng, kể từ ngày thụ lý; đối với vụ việc phức tạp thì thời hạn giải quyết tố
cáo có thể dài hơn, nhưng không quá 03 tháng.
2. Tố cáo về hành vi vi phạm pháp luật có dấu
hiệu tội phạm được giải quyết theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự.
Điều 513. Thủ tục giải quyết tố cáo
Thủ tục giải quyết tố cáo được thực hiện theo
quy định của pháp luật về tố cáo.
Điều 514. Trách nhiệm của người có thẩm quyền
giải quyết khiếu nại, tố cáo
1. Cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền
trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình có trách nhiệm tiếp nhận và giải
quyết kịp thời, đúng pháp luật; xử lý nghiêm minh người vi phạm; áp dụng biện
pháp cần thiết nhằm ngăn chặn thiệt hại có thể xảy ra; bảo đảm cho quyết định
giải quyết được thi hành nghiêm chỉnh và phải chịu trách nhiệm trước pháp luật
về quyết định của mình.
2. Người có thẩm quyền giải quyết khiếu nại,
tố cáo mà không giải quyết, thiếu trách nhiệm trong việc giải quyết, giải quyết
trái pháp luật thì tuỳ theo tính chất, mức độ vi phạm mà bị xử lý kỷ luật hoặc
truy cứu trách nhiệm hình sự; nếu gây thiệt hại thì phải bồi thường theo quy
định của pháp luật.
Viện kiểm sát kiểm sát việc tuân theo pháp
luật trong việc giải quyết khiếu nại, tố cáo trong tố tụng dân sự theo quy định
của pháp luật. Viện kiểm sát có quyền yêu cầu, kiến nghị đối với Tòa án cùng
cấp và cấp dưới, cơ quan, tổ chức và cá nhân có trách nhiệm để bảo đảm việc
giải quyết khiếu nại, tố cáo có căn cứ, đúng pháp luật.
Điều 516. Sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ
luật Lao động số 10/2012/QH13
1. Điều 51 được sửa đổi, bổ sung như sau:
“Điều 51. Thẩm quyền tuyên bố hợp
đồng lao động vô hiệu
Tòa án nhân dân có quyền tuyên bố hợp đồng
lao động vô hiệu.”.
2. Bãi bỏ các điều 223, 224, 225, 226, 227,
228, 229, 230, 231, 232 và 234 Mục 5 Chương XIV của Bộ luật Lao động số
10/2012/QH13.
1. Bộ luật này có hiệu lực thi hành từ ngày
01 tháng 7 năm 2016, trừ các quy định sau đây của Bộ luật này có liên quan đến
quy định của Bộ luật Dân sự số 91/2015/QH13 thì có hiệu lực thi hành từ ngày 01
tháng 01 năm 2017:
a) Quy định liên quan đến việc Tòa án không
được từ chối giải quyết vụ việc dân sự vì lý do chưa có điều luật để áp dụng
quy định tại khoản 2 Điều 4, các điều 43, 44 và 45 của Bộ luật
này;
b) Quy định liên quan đến người có khó khăn
trong nhận thức, làm chủ hành vi;
c) Quy định liên quan đến áp dụng thời hiệu
tại khoản 2 Điều 184 và điểm e khoản 1 Điều 217 của Bộ luật
này;
d) Quy định liên quan đến pháp nhân là người
đại diện, người giám hộ.
2. Bộ luật Tố tụng dân sự số 24/2004/QH11 đã
được sửa đổi, bổ sung theo Luật số 65/2011/QH12 hết hiệu lực kể từ ngày Bộ luật
này có hiệu lực thi hành, trừ các quy định tại Điều 159 và điểm h khoản 1 Điếu
192 tiếp tục có hiệu lực thi hành đến hết ngày 31 tháng 12 năm 2016.
|
VĂN PHÒNG QUỐC HỘI Số: 99/VBHN-VPQH Nơi nhận: |
XÁC THỰC VĂN BẢN HỢP NHẤT Hà Nội, ngày 26 tháng 8 năm 2025 CHỦ NHIỆM |
____________________________
[1] Bộ luật Lao động số 45/2019/QH14 có căn cứ
ban hành như sau: “Căn cứ Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam;
Quốc hội ban hành Bộ luật Lao động.”.
Luật Doanh nghiệp số 59/2020/QH14 có căn cứ
ban hành như sau: “Căn cứ Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam;
Quốc hội ban hành Luật Doanh nghiệp.”.
Luật Phòng, chống bạo lực gia đình số
13/2022/QH15 có căn cứ ban hành như sau: “Căn cứ Hiến pháp nước Cộng hòa xã
hội chủ nghĩa Việt Nam;
Quốc hội ban hành Luật Phòng, chống bạo lực
gia đình.”.
Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng số
19/2023/QH15 có căn cứ ban hành như sau: “Căn cứ Hiến pháp nước Cộng hòa xã
hội chủ nghĩa Việt Nam;
Quốc hội ban hành Luật Bảo vệ quyền lợi người
tiêu dùng.”.
Luật Tổ chức Tòa án nhân dân số 34/2024/QH15
có căn cứ ban hành như sau:
“Căn cứ Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ
nghĩa Việt Nam;
Quốc hội ban hành Luật Tổ chức Tòa án nhân
dân.”.
Luật Công chứng số 46/2024/QH15 có căn cứ ban
hành như sau:
“Căn cứ Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ
nghĩa Việt Nam;
Quốc hội ban hành Luật Công chứng.”.
Luật số 85/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số
điều của Bộ luật Tố tụng dân sự, Luật Tố tụng hành chính, Luật Tư pháp người
chưa thành niên, Luật Phá sản và Luật Hòa giải, đối thoại tại Tòa án có căn cứ
ban hành như sau:
“Căn cứ Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ
nghĩa Việt Nam đã được sửa đổi, bổ sung một số điều theo Nghị quyết số
203/2025/QH15;
Quốc hội ban hành Luật sửa đổi, bổ sung một
số điều của Bộ luật Tố tụng dân sự số 92/2015/QH13 đã được sửa đổi, bổ sung một
số điều theo Bộ luật số 45/2019/QH14, Luật số 59/2020/QH14, Luật số
13/2022/QH15, Luật số 19/2023/QH15, Luật số 34/2024/QH15 và Luật số
46/2024/QH15; Luật Tố tụng hành chính số 93/2015/QH13 đã được sửa đổi, bổ sung
một số điều theo Luật số 55/2019/QH14 và Luật số 34/2024/QH15; Luật Tư pháp
người chưa thành niên số 59/2024/QH15; Luật Phá sản số 51/2014/QH13 và Luật Hòa
giải, đối thoại tại Tòa án số 58/2020/QH14.”.
[2] Cụm từ “Thẩm tra viên” được thay thế bằng
cụm từ “Thẩm tra viên Tòa án” theo quy định tại khoản 32 Điều 1 của Luật số
85/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Tố tụng dân sự, Luật Tố
tụng hành chính, Luật Tư pháp người chưa thành niên, Luật Phá sản và Luật Hòa
giải, đối thoại tại Tòa án, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2025.
[3] Điều này được sửa đổi, bổ sung theo quy
định tại khoản 1 Điều 1 của Luật số 85/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều
của Bộ luật Tố tụng dân sự, Luật Tố tụng hành chính, Luật Tư pháp người chưa
thành niên, Luật Phá sản và Luật Hòa giải, đối thoại tại Tòa án, có hiệu lực kể
từ ngày 01 tháng 7 năm 2025.
[4] Tên Điều này được sửa đổi, bổ sung theo
quy định tại điểm a khoản 2 Điều 219 của Bộ luật Lao động số 45/2019/QH14, có
hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 01 năm 2021.
[5] Khoản này được sửa đổi, bổ sung theo quy
định tại điểm a khoản 2 Điều 219 của Bộ luật Lao động số 45/2019/QH14, có hiệu
lực kể từ ngày 01 tháng 01 năm 2021.
[6] Khoản này được bổ sung theo quy định tại
điểm a khoản 2 Điều 219 của Bộ luật Lao động số 45/2019/QH14, có hiệu lực kể từ
ngày 01 tháng 01 năm 2021.
[7] Khoản này được bổ sung theo quy định tại
điểm a khoản 2 Điều 219 của Bộ luật Lao động số 45/2019/QH14, có hiệu lực kể từ
ngày 01 tháng 01 năm 2021.
[8] Khoản này được bổ sung theo quy định tại
điểm a khoản 2 Điều 219 của Bộ luật Lao động số 45/2019/QH14, có hiệu lực kể từ
ngày 01 tháng 01 năm 2021.
[9] Khoản này được bãi bỏ theo quy định tại
điểm b khoản 2 Điều 219 của Bộ luật Lao động số 45/2019/QH14, có hiệu lực kể từ
ngày 01 tháng 01 năm 2021.
[10] Khoản này được bãi bỏ theo quy định tại
khoản 34 Điều 1 của Luật số 85/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ
luật Tố tụng dân sự, Luật Tố tụng hành chính, Luật Tư pháp người chưa thành
niên, Luật Phá sản và Luật Hòa giải, đối thoại tại Tòa án, có hiệu lực kể từ
ngày 01 tháng 7 năm 2025.
[11] Điều này được sửa đổi, bổ sung theo quy
định tại khoản 2 Điều 1 của Luật số 85/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều
của Bộ luật Tố tụng dân sự, Luật Tố tụng hành chính, Luật Tư pháp người chưa
thành niên, Luật Phá sản và Luật Hòa giải, đối thoại tại Tòa án, có hiệu lực kể
từ ngày 01 tháng 7 năm 2025.
[12] Điều này được sửa đổi, bổ sung theo quy
định tại khoản 3 Điều 1 của Luật số 85/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều
của Bộ luật Tố tụng dân sự, Luật Tố tụng hành chính, Luật Tư pháp người chưa
thành niên, Luật Phá sản và Luật Hòa giải, đối thoại tại Tòa án, có hiệu lực kể
từ ngày 01 tháng 7 năm 2025.
[13] Điều này được sửa đổi, bổ sung theo quy
định tại khoản 4 Điều 1 của Luật số 85/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều
của Bộ luật Tố tụng dân sự, Luật Tố tụng hành chính, Luật Tư pháp người chưa
thành niên, Luật Phá sản và Luật Hòa giải, đối thoại tại Tòa án, có hiệu lực kể
từ ngày 01 tháng 7 năm 2025.
[14] Điều này được sửa đổi, bổ sung theo quy
định tại khoản 5 Điều 1 của Luật số 85/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều
của Bộ luật Tố tụng dân sự, Luật Tố tụng hành chính, Luật Tư pháp người chưa
thành niên, Luật Phá sản và Luật Hòa giải, đối thoại tại Tòa án, có hiệu lực kể
từ ngày 01 tháng 7 năm 2025.
[15] Điều này được sửa đổi, bổ sung theo quy
định tại khoản 6 Điều 1 của Luật số 85/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều
của Bộ luật Tố tụng dân sự, Luật Tố tụng hành chính, Luật Tư pháp người chưa
thành niên, Luật Phá sản và Luật Hòa giải, đối thoại tại Tòa án, có hiệu lực kể
từ ngày 01 tháng 7 năm 2025.
[16] Cụm từ “Thẩm tra viên” được thay thế bằng
cụm từ “Thẩm tra viên Tòa án” theo quy định tại khoản 32 Điều 1 của Luật số
85/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Tố tụng dân sự, Luật Tố
tụng hành chính, Luật Tư pháp người chưa thành niên, Luật Phá sản và Luật Hòa
giải, đối thoại tại Tòa án, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2025.
[17] Cụm từ “Thẩm tra viên” được thay thế bằng
cụm từ “Thẩm tra viên Tòa án” theo quy định tại khoản 32 Điều 1 của Luật số
85/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Tố tụng dân sự, Luật Tố
tụng hành chính, Luật Tư pháp người chưa thành niên, Luật Phá sản và Luật Hòa
giải, đối thoại tại Tòa án, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2025.
[18] Cụm từ “Thẩm tra viên” được thay thế bằng
cụm từ “Thẩm tra viên Tòa án” theo quy định tại khoản 32 Điều 1 của Luật số
85/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Tố tụng dân sự, Luật Tố
tụng hành chính, Luật Tư pháp người chưa thành niên, Luật Phá sản và Luật Hòa
giải, đối thoại tại Tòa án, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2025.
[19] Cụm từ “Thẩm tra viên” được thay thế bằng
cụm từ “Thẩm tra viên Tòa án” theo quy định tại khoản 32 Điều 1 của Luật số
85/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Tố tụng dân sự, Luật Tố
tụng hành chính, Luật Tư pháp người chưa thành niên, Luật Phá sản và Luật Hòa
giải, đối thoại tại Tòa án, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2025.
[20] Cụm từ “Thẩm tra viên” được thay thế bằng
cụm từ “Thẩm tra viên Tòa án” theo quy định tại khoản 32 Điều 1 của Luật số
85/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Tố tụng dân sự, Luật Tố
tụng hành chính, Luật Tư pháp người chưa thành niên, Luật Phá sản và Luật Hòa
giải, đối thoại tại Tòa án, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2025.
[21] Cụm từ “Thẩm tra viên” được thay thế bằng
cụm từ “Thẩm tra viên Tòa án” theo quy định tại khoản 32 Điều 1 của Luật số
85/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Tố tụng dân sự, Luật Tố
tụng hành chính, Luật Tư pháp người chưa thành niên, Luật Phá sản và Luật Hòa
giải, đối thoại tại Tòa án, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2025.
[22] Khoản này được sửa đổi, bổ sung theo quy
định tại khoản 7 Điều 1 của Luật số 85/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều
của Bộ luật Tố tụng dân sự, Luật Tố tụng hành chính, Luật Tư pháp người chưa
thành niên, Luật Phá sản và Luật Hòa giải, đối thoại tại Tòa án, có hiệu lực kể
từ ngày 01 tháng 7 năm 2025.
[23] Khoản này được sửa đổi, bổ sung theo quy
định tại khoản 7 Điều 1 của Luật số 85/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều
của Bộ luật Tố tụng dân sự, Luật Tố tụng hành chính, Luật Tư pháp người chưa
thành niên, Luật Phá sản và Luật Hòa giải, đối thoại tại Tòa án, có hiệu lực kể
từ ngày 01 tháng 7 năm 2025.
[24] Cụm từ “Thẩm tra viên” được thay thế bằng
cụm từ “Thẩm tra viên Tòa án” theo quy định tại khoản 32 Điều 1 của Luật số
85/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Tố tụng dân sự, Luật Tố
tụng hành chính, Luật Tư pháp người chưa thành niên, Luật Phá sản và Luật Hòa
giải, đối thoại tại Tòa án, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2025.
[25] Cụm từ “Thẩm tra viên” được thay thế bằng
cụm từ “Thẩm tra viên Tòa án” theo quy định tại khoản 32 Điều 1 của Luật số
85/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Tố tụng dân sự, Luật Tố
tụng hành chính, Luật Tư pháp người chưa thành niên, Luật Phá sản và Luật Hòa
giải, đối thoại tại Tòa án, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2025.
[26] Cụm từ “Thẩm tra viên” được thay thế bằng
cụm từ “Thẩm tra viên Tòa án” theo quy định tại khoản 32 Điều 1 của Luật số
85/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Tố tụng dân sự, Luật Tố
tụng hành chính, Luật Tư pháp người chưa thành niên, Luật Phá sản và Luật Hòa
giải, đối thoại tại Tòa án, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2025.
[27] Cụm từ “Thẩm tra viên” được thay thế bằng
cụm từ “Thẩm tra viên Tòa án” theo quy định tại khoản 32 Điều 1 của Luật số
85/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Tố tụng dân sự, Luật Tố
tụng hành chính, Luật Tư pháp người chưa thành niên, Luật Phá sản và Luật Hòa
giải, đối thoại tại Tòa án, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2025.
[28] Cụm từ “Thẩm tra viên” được thay thế bằng
cụm từ “Thẩm tra viên Tòa án” theo quy định tại khoản 32 Điều 1 của Luật số
85/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Tố tụng dân sự, Luật Tố
tụng hành chính, Luật Tư pháp người chưa thành niên, Luật Phá sản và Luật Hòa
giải, đối thoại tại Tòa án, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2025.
[29] Điều này được sửa đổi, bổ sung theo quy
định tại khoản 8 Điều 1 của Luật số 85/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều
của Bộ luật Tố tụng dân sự, Luật Tố tụng hành chính, Luật Tư pháp người chưa
thành niên, Luật Phá sản và Luật Hòa giải, đối thoại tại Tòa án, có hiệu lực kể
từ ngày 01 tháng 7 năm 2025.
[30] Cụm từ “Thẩm tra viên” được thay thế bằng
cụm từ “Thẩm tra viên Tòa án” theo quy định tại khoản 32 Điều 1 của Luật số
85/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Tố tụng dân sự, Luật Tố
tụng hành chính, Luật Tư pháp người chưa thành niên, Luật Phá sản và Luật Hòa
giải, đối thoại tại Tòa án, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2025.
[31] Khoản này được sửa đổi, bổ sung theo quy
định tại khoản 9 Điều 1 của Luật số 85/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều
của Bộ luật Tố tụng dân sự, Luật Tố tụng hành chính, Luật Tư pháp người chưa
thành niên, Luật Phá sản và Luật Hòa giải, đối thoại tại Tòa án, có hiệu lực kể
từ ngày 01 tháng 7 năm 2025.
[32] Cụm từ “doanh nghiệp nhà nước” được thay
thế bằng cụm từ “doanh nghiệp do Nhà nước nắm giữ 100% vốn điều lệ” theo quy
định tại khoản 3 Điều 217 của Luật Doanh nghiệp số 59/2020/QH14, có hiệu lực kể
từ ngày 01 tháng 01 năm 2021.
[33] Cụm từ “Thẩm tra viên” được thay thế bằng
cụm từ “Thẩm tra viên Tòa án” theo quy định tại khoản 32 Điều 1 của Luật số
85/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Tố tụng dân sự, Luật Tố
tụng hành chính, Luật Tư pháp người chưa thành niên, Luật Phá sản và Luật Hòa
giải, đối thoại tại Tòa án, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2025.
[34] Cụm từ “Thẩm tra viên” được thay thế bằng
cụm từ “Thẩm tra viên Tòa án” theo quy định tại khoản 32 Điều 1 của Luật số
85/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Tố tụng dân sự, Luật Tố
tụng hành chính, Luật Tư pháp người chưa thành niên, Luật Phá sản và Luật Hòa
giải, đối thoại tại Tòa án, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2025.
[35] Cụm từ “Thẩm tra viên” được thay thế bằng
cụm từ “Thẩm tra viên Tòa án” theo quy định tại khoản 32 Điều 1 của Luật số
85/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Tố tụng dân sự, Luật Tố
tụng hành chính, Luật Tư pháp người chưa thành niên, Luật Phá sản và Luật Hòa
giải, đối thoại tại Tòa án, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2025.
[36] Cụm từ “Thẩm tra viên” được thay thế bằng
cụm từ “Thẩm tra viên Tòa án” theo quy định tại khoản 32 Điều 1 của Luật số
85/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Tố tụng dân sự, Luật Tố
tụng hành chính, Luật Tư pháp người chưa thành niên, Luật Phá sản và Luật Hòa
giải, đối thoại tại Tòa án, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2025.
[37] Cụm từ “Công an xã, phường, thị trấn”
được thay thế bằng cụm từ “Công an xã, phường, đặc khu” theo quy định tại khoản
33 Điều 1 của Luật số 85/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Tố
tụng dân sự, Luật Tố tụng hành chính, Luật Tư pháp người chưa thành niên, Luật
Phá sản và Luật Hòa giải, đối thoại tại Tòa án, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng
7 năm 2025.
[38] Cụm từ “Công an xã, phường, thị trấn”
được thay thế bằng cụm từ “Công an xã, phường, đặc khu” theo quy định tại khoản
33 Điều 1 của Luật số 85/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Tố
tụng dân sự, Luật Tố tụng hành chính, Luật Tư pháp người chưa thành niên, Luật
Phá sản và Luật Hòa giải, đối thoại tại Tòa án, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng
7 năm 2025.
[39] Cụm từ “Công an xã, phường, thị trấn”
được thay thế bằng cụm từ “Công an xã, phường, đặc khu” theo quy định tại khoản
33 Điều 1 của Luật số 85/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Tố
tụng dân sự, Luật Tố tụng hành chính, Luật Tư pháp người chưa thành niên, Luật
Phá sản và Luật Hòa giải, đối thoại tại Tòa án, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng
7 năm 2025.
[40] Cụm từ “Công an xã, phường, thị trấn”
được thay thế bằng cụm từ “Công an xã, phường, đặc khu” theo quy định tại khoản
33 Điều 1 của Luật số 85/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Tố
tụng dân sự, Luật Tố tụng hành chính, Luật Tư pháp người chưa thành niên, Luật
Phá sản và Luật Hòa giải, đối thoại tại Tòa án, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng
7 năm 2025.
[41] Cụm từ “Công an xã, phường, thị trấn”
được thay thế bằng cụm từ “Công an xã, phường, đặc khu” theo quy định tại khoản
33 Điều 1 của Luật số 85/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Tố
tụng dân sự, Luật Tố tụng hành chính, Luật Tư pháp người chưa thành niên, Luật
Phá sản và Luật Hòa giải, đối thoại tại Tòa án, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng
7 năm 2025.
[42] Điều này được sửa đổi, bổ sung theo quy
định tại Điều 55 của Luật Phòng, chống bạo lực gia đình số 13/2022/QH15, có
hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2023.
[43] Cụm từ “Công an xã, phường, thị trấn”
được thay thế bằng cụm từ “Công an xã, phường, đặc khu” theo quy định tại khoản
33 Điều 1 của Luật số 85/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Tố
tụng dân sự, Luật Tố tụng hành chính, Luật Tư pháp người chưa thành niên, Luật
Phá sản và Luật Hòa giải, đối thoại tại Tòa án, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng
7 năm 2025.
[44] Cụm từ “Công an xã, phường, thị trấn”
được thay thế bằng cụm từ “Công an xã, phường, đặc khu” theo quy định tại khoản
33 Điều 1 của Luật số 85/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Tố
tụng dân sự, Luật Tố tụng hành chính, Luật Tư pháp người chưa thành niên, Luật
Phá sản và Luật Hòa giải, đối thoại tại Tòa án, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng
7 năm 2025.
[45] Điểm này được sửa đổi, bổ sung theo quy
định tại khoản 1 Điều 78 của Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng số
19/2023/QH15, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2024.
[46] Khoản này được sửa đổi, bổ sung theo quy
định tại điểm a khoản 10 Điều 1 của Luật số 85/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một
số điều của Bộ luật Tố tụng dân sự, Luật Tố tụng hành chính, Luật Tư pháp người
chưa thành niên, Luật Phá sản và Luật Hòa giải, đối thoại tại Tòa án, có hiệu
lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2025.
[47] Khoản này được bãi bỏ theo quy định tại
điểm a khoản 10 Điều 1 của Luật số 85/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều
của Bộ luật Tố tụng dân sự, Luật Tố tụng hành chính, Luật Tư pháp người chưa
thành niên, Luật Phá sản và Luật Hòa giải, đối thoại tại Tòa án, có hiệu lực kể
từ ngày 01 tháng 7 năm 2025.
[48] Cụm từ “Thẩm tra viên” được thay thế bằng
cụm từ “Thẩm tra viên Tòa án” theo quy định tại khoản 32 Điều 1 của Luật số
85/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Tố tụng dân sự, Luật Tố
tụng hành chính, Luật Tư pháp người chưa thành niên, Luật Phá sản và Luật Hòa
giải, đối thoại tại Tòa án, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2025.
[49] Khoản này được bãi bỏ theo quy định tại
điểm a khoản 2 Điều 150 của Luật Tổ chức Tòa án nhân dân số 34/2024/QH15, có
hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 01 năm 2025.
[50] Khoản này được sửa đổi, bổ sung theo quy
định tại điểm khoản 11 Điều 1 của Luật số 85/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số
điều của Bộ luật Tố tụng dân sự, Luật Tố tụng hành chính, Luật Tư pháp người
chưa thành niên, Luật Phá sản và Luật Hòa giải, đối thoại tại Tòa án, có hiệu
lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2025.
[51] Đoạn mở đầu này được sửa đổi, bổ sung
theo quy định tại điểm a khoản 2 Điều 78 của Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu
dùng số 19/2023/QH15, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2024.
[52] Khoản này được bổ sung theo quy định tại
điểm b khoản 2 Điều 78 của Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng số
19/2023/QH15, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2024.
[53] Khoản này được sửa đổi, bổ sung theo quy
định tại khoản 12 Điều 1 của Luật số 85/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều
của Bộ luật Tố tụng dân sự, Luật Tố tụng hành chính, Luật Tư pháp người chưa
thành niên, Luật Phá sản và Luật Hòa giải, đối thoại tại Tòa án, có hiệu lực kể
từ ngày 01 tháng 7 năm 2025.
[54] Điều này được sửa đổi, bổ sung theo quy
định tại khoản 13 Điều 1 của Luật số 85/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều
của Bộ luật Tố tụng dân sự, Luật Tố tụng hành chính, Luật Tư pháp người chưa
thành niên, Luật Phá sản và Luật Hòa giải, đối thoại tại Tòa án, có hiệu lực kể
từ ngày 01 tháng 7 năm 2025.
[55] Điều này được sửa đổi, bổ sung theo quy
định tại khoản 14 Điều 1 của Luật số 85/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều
của Bộ luật Tố tụng dân sự, Luật Tố tụng hành chính, Luật Tư pháp người chưa
thành niên, Luật Phá sản và Luật Hòa giải, đối thoại tại Tòa án, có hiệu lực kể
từ ngày 01 tháng 7 năm 2025.
[56] Điều này được sửa đổi, bổ sung theo quy
định tại khoản 15 Điều 1 của Luật số 85/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều
của Bộ luật Tố tụng dân sự, Luật Tố tụng hành chính, Luật Tư pháp người chưa
thành niên, Luật Phá sản và Luật Hòa giải, đối thoại tại Tòa án, có hiệu lực kể
từ ngày 01 tháng 7 năm 2025.
[57] Khoản này được sửa đổi, bổ sung theo quy
định tại khoản 16 Điều 1 của Luật số 85/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều
của Bộ luật Tố tụng dân sự, Luật Tố tụng hành chính, Luật Tư pháp người chưa
thành niên, Luật Phá sản và Luật Hòa giải, đối thoại tại Tòa án, có hiệu lực kể
từ ngày 01 tháng 7 năm 2025.
[58] Khoản này được sửa đổi, bổ sung theo quy
định tại khoản 16 Điều 1 của Luật số 85/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều
của Bộ luật Tố tụng dân sự, Luật Tố tụng hành chính, Luật Tư pháp người chưa
thành niên, Luật Phá sản và Luật Hòa giải, đối thoại tại Tòa án, có hiệu lực kể
từ ngày 01 tháng 7 năm 2025.
[59] Điểm này được sửa đổi, bổ sung theo quy
định tại khoản 17 Điều 1 của Luật số 85/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều
của Bộ luật Tố tụng dân sự, Luật Tố tụng hành chính, Luật Tư pháp người chưa
thành niên, Luật Phá sản và Luật Hòa giải, đối thoại tại Tòa án, có hiệu lực kể
từ ngày 01 tháng 7 năm 2025.
[60] Khoản này được sửa đổi, bổ sung theo quy
định tại khoản 18 Điều 1 của Luật số 85/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều
của Bộ luật Tố tụng dân sự, Luật Tố tụng hành chính, Luật Tư pháp người chưa
thành niên, Luật Phá sản và Luật Hòa giải, đối thoại tại Tòa án, có hiệu lực kể
từ ngày 01 tháng 7 năm 2025.
[61] Khoản này được sửa đổi, bổ sung theo quy
định tại khoản 18 Điều 1 của Luật số 85/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều
của Bộ luật Tố tụng dân sự, Luật Tố tụng hành chính, Luật Tư pháp người chưa
thành niên, Luật Phá sản và Luật Hòa giải, đối thoại tại Tòa án, có hiệu lực kể
từ ngày 01 tháng 7 năm 2025.
[62] Cụm từ “Ủy ban tư pháp của Quốc hội” được
thay thế bằng cụm từ “Ủy ban Pháp luật và Tư pháp của Quốc hội” theo quy định
tại khoản 31 Điều 1 của Luật số 85/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều của
Bộ luật Tố tụng dân sự, Luật Tố tụng hành chính, Luật Tư pháp người chưa thành
niên, Luật Phá sản và Luật Hòa giải, đối thoại tại Tòa án, có hiệu lực kể từ
ngày 01 tháng 7 năm 2025.
[63] Cụm từ “Ủy ban tư pháp của Quốc hội” được
thay thế bằng cụm từ “Ủy ban Pháp luật và Tư pháp của Quốc hội” theo quy định
tại khoản 31 Điều 1 của Luật số 85/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều của
Bộ luật Tố tụng dân sự, Luật Tố tụng hành chính, Luật Tư pháp người chưa thành
niên, Luật Phá sản và Luật Hòa giải, đối thoại tại Tòa án, có hiệu lực kể từ
ngày 01 tháng 7 năm 2025.
[64] Cụm từ “Ủy ban tư pháp của Quốc hội” được
thay thế bằng cụm từ “Ủy ban Pháp luật và Tư pháp của Quốc hội” theo quy định
tại khoản 31 Điều 1 của Luật số 85/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều của
Bộ luật Tố tụng dân sự, Luật Tố tụng hành chính, Luật Tư pháp người chưa thành
niên, Luật Phá sản và Luật Hòa giải, đối thoại tại Tòa án, có hiệu lực kể từ
ngày 01 tháng 7 năm 2025.
[65] Cụm từ “Ủy ban tư pháp của Quốc hội” được
thay thế bằng cụm từ “Ủy ban Pháp luật và Tư pháp của Quốc hội” theo quy định
tại khoản 31 Điều 1 của Luật số 85/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều của
Bộ luật Tố tụng dân sự, Luật Tố tụng hành chính, Luật Tư pháp người chưa thành
niên, Luật Phá sản và Luật Hòa giải, đối thoại tại Tòa án, có hiệu lực kể từ
ngày 01 tháng 7 năm 2025.
[66] Cụm từ “Ủy ban tư pháp của Quốc hội” được
thay thế bằng cụm từ “Ủy ban Pháp luật và Tư pháp của Quốc hội” theo quy định
tại khoản 31 Điều 1 của Luật số 85/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều của
Bộ luật Tố tụng dân sự, Luật Tố tụng hành chính, Luật Tư pháp người chưa thành
niên, Luật Phá sản và Luật Hòa giải, đối thoại tại Tòa án, có hiệu lực kể từ
ngày 01 tháng 7 năm 2025.
[67] Cụm từ “Ủy ban tư pháp của Quốc hội” được
thay thế bằng cụm từ “Ủy ban Pháp luật và Tư pháp của Quốc hội” theo quy định
tại khoản 31 Điều 1 của Luật số 85/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều của
Bộ luật Tố tụng dân sự, Luật Tố tụng hành chính, Luật Tư pháp người chưa thành
niên, Luật Phá sản và Luật Hòa giải, đối thoại tại Tòa án, có hiệu lực kể từ
ngày 01 tháng 7 năm 2025.
[68] Cụm từ “Ủy ban tư pháp của Quốc hội” được
thay thế bằng cụm từ “Ủy ban Pháp luật và Tư pháp của Quốc hội” theo quy định
tại khoản 31 Điều 1 của Luật số 85/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều của
Bộ luật Tố tụng dân sự, Luật Tố tụng hành chính, Luật Tư pháp người chưa thành
niên, Luật Phá sản và Luật Hòa giải, đối thoại tại Tòa án, có hiệu lực kể từ
ngày 01 tháng 7 năm 2025.
[69] Cụm từ “Ủy ban tư pháp của Quốc hội” được
thay thế bằng cụm từ “Ủy ban Pháp luật và Tư pháp của Quốc hội” theo quy định
tại khoản 31 Điều 1 của Luật số 85/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều của
Bộ luật Tố tụng dân sự, Luật Tố tụng hành chính, Luật Tư pháp người chưa thành
niên, Luật Phá sản và Luật Hòa giải, đối thoại tại Tòa án, có hiệu lực kể từ
ngày 01 tháng 7 năm 2025.
[70] Cụm từ “Ủy ban tư pháp của Quốc hội” được
thay thế bằng cụm từ “Ủy ban Pháp luật và Tư pháp của Quốc hội” theo quy định
tại khoản 31 Điều 1 của Luật số 85/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều của
Bộ luật Tố tụng dân sự, Luật Tố tụng hành chính, Luật Tư pháp người chưa thành
niên, Luật Phá sản và Luật Hòa giải, đối thoại tại Tòa án, có hiệu lực kể từ
ngày 01 tháng 7 năm 2025.
[71] Cụm từ “Ủy ban tư pháp của Quốc hội” được
thay thế bằng cụm từ “Ủy ban Pháp luật và Tư pháp của Quốc hội” theo quy định
tại khoản 31 Điều 1 của Luật số 85/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều của
Bộ luật Tố tụng dân sự, Luật Tố tụng hành chính, Luật Tư pháp người chưa thành
niên, Luật Phá sản và Luật Hòa giải, đối thoại tại Tòa án, có hiệu lực kể từ
ngày 01 tháng 7 năm 2025.
[72] Cụm từ “Ủy ban tư pháp của Quốc hội” được
thay thế bằng cụm từ “Ủy ban Pháp luật và Tư pháp của Quốc hội” theo quy định
tại khoản 31 Điều 1 của Luật số 85/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều của
Bộ luật Tố tụng dân sự, Luật Tố tụng hành chính, Luật Tư pháp người chưa thành
niên, Luật Phá sản và Luật Hòa giải, đối thoại tại Tòa án, có hiệu lực kể từ
ngày 01 tháng 7 năm 2025.
[73] Khoản này được sửa đổi, bổ sung theo quy
định tại Điều 74 của Luật Công chứng số 46/2024/QH15, có hiệu lực kể từ ngày 01
tháng 7 năm 2025.
[74] Điều này được sửa đổi, bổ sung theo quy
định tại khoản 19 Điều 1 của Luật số 85/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều
của Bộ luật Tố tụng dân sự, Luật Tố tụng hành chính, Luật Tư pháp người chưa
thành niên, Luật Phá sản và Luật Hòa giải, đối thoại tại Tòa án, có hiệu lực kể
từ ngày 01 tháng 7 năm 2025.
[75] Điều này được sửa đổi, bổ sung theo quy
định tại khoản 20 Điều 1 của Luật số 85/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều
của Bộ luật Tố tụng dân sự, Luật Tố tụng hành chính, Luật Tư pháp người chưa
thành niên, Luật Phá sản và Luật Hòa giải, đối thoại tại Tòa án, có hiệu lực kể
từ ngày 01 tháng 7 năm 2025.
[76] Khoản này được sửa đổi, bổ sung theo quy
định tại khoản 21 Điều 1 của Luật số 85/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều
của Bộ luật Tố tụng dân sự, Luật Tố tụng hành chính, Luật Tư pháp người chưa
thành niên, Luật Phá sản và Luật Hòa giải, đối thoại tại Tòa án, có hiệu lực kể
từ ngày 01 tháng 7 năm 2025.
[77] Điều này được sửa đổi, bổ sung theo quy
định tại khoản 22 Điều 1 của Luật số 85/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều
của Bộ luật Tố tụng dân sự, Luật Tố tụng hành chính, Luật Tư pháp người chưa
thành niên, Luật Phá sản và Luật Hòa giải, đối thoại tại Tòa án, có hiệu lực kể
từ ngày 01 tháng 7 năm 2025.
[78] Điều này được sửa đổi, bổ sung theo quy
định tại khoản 23 Điều 1 của Luật số 85/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều
của Bộ luật Tố tụng dân sự, Luật Tố tụng hành chính, Luật Tư pháp người chưa
thành niên, Luật Phá sản và Luật Hòa giải, đối thoại tại Tòa án, có hiệu lực kể
từ ngày 01 tháng 7 năm 2025.
[79] Điều này được sửa đổi, bổ sung theo quy
định tại khoản 24 Điều 1 của Luật số 85/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều
của Bộ luật Tố tụng dân sự, Luật Tố tụng hành chính, Luật Tư pháp người chưa
thành niên, Luật Phá sản và Luật Hòa giải, đối thoại tại Tòa án, có hiệu lực kể
từ ngày 01 tháng 7 năm 2025.
[80] Điều này được sửa đổi, bổ sung theo quy
định tại khoản 25 Điều 1 của Luật số 85/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều
của Bộ luật Tố tụng dân sự, Luật Tố tụng hành chính, Luật Tư pháp người chưa
thành niên, Luật Phá sản và Luật Hòa giải, đối thoại tại Tòa án, có hiệu lực kể
từ ngày 01 tháng 7 năm 2025.
[81] Khoản này được sửa đổi, bổ sung theo quy
định tại khoản 26 Điều 1 của Luật số 85/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều
của Bộ luật Tố tụng dân sự, Luật Tố tụng hành chính, Luật Tư pháp người chưa
thành niên, Luật Phá sản và Luật Hòa giải, đối thoại tại Tòa án, có hiệu lực kể
từ ngày 01 tháng 7 năm 2025.
[82] Khoản này được sửa đổi, bổ sung theo quy
định tại điểm a khoản 27 Điều 1 của Luật số 85/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một
số điều của Bộ luật Tố tụng dân sự, Luật Tố tụng hành chính, Luật Tư pháp người
chưa thành niên, Luật Phá sản và Luật Hòa giải, đối thoại tại Tòa án, có hiệu
lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2025.
[83] Khoản này được sửa đổi, bổ sung theo quy
định tại điểm a khoản 27 Điều 1 của Luật số 85/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một
số điều của Bộ luật Tố tụng dân sự, Luật Tố tụng hành chính, Luật Tư pháp người
chưa thành niên, Luật Phá sản và Luật Hòa giải, đối thoại tại Tòa án, có hiệu
lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2025.
[84] Khoản này được sửa đổi, bổ sung theo quy
định tại điểm b khoản 27 Điều 1 của Luật số 85/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một
số điều của Bộ luật Tố tụng dân sự, Luật Tố tụng hành chính, Luật Tư pháp người
chưa thành niên, Luật Phá sản và Luật Hòa giải, đối thoại tại Tòa án, có hiệu
lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2025.
[85] Khoản này được sửa đổi, bổ sung theo quy
định tại khoản 28 Điều 1 của Luật số 85/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều
của Bộ luật Tố tụng dân sự, Luật Tố tụng hành chính, Luật Tư pháp người chưa
thành niên, Luật Phá sản và Luật Hòa giải, đối thoại tại Tòa án, có hiệu lực kể
từ ngày 01 tháng 7 năm 2025.
[86] Khoản này được sửa đổi, bổ sung theo quy
định tại điểm a khoản 29 Điều 1 của Luật số 85/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một
số điều của Bộ luật Tố tụng dân sự, Luật Tố tụng hành chính, Luật Tư pháp người
chưa thành niên, Luật Phá sản và Luật Hòa giải, đối thoại tại Tòa án, có hiệu
lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2025.
[87] Khoản này được sửa đổi, bổ sung theo quy
định tại điểm a khoản 29 Điều 1 của Luật số 85/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một
số điều của Bộ luật Tố tụng dân sự, Luật Tố tụng hành chính, Luật Tư pháp người
chưa thành niên, Luật Phá sản và Luật Hòa giải, đối thoại tại Tòa án, có hiệu
lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2025.
[88] Khoản này được sửa đổi, bổ sung theo quy
định tại điểm b khoản 29 Điều 1 của Luật số 85/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một
số điều của Bộ luật Tố tụng dân sự, Luật Tố tụng hành chính, Luật Tư pháp người
chưa thành niên, Luật Phá sản và Luật Hòa giải, đối thoại tại Tòa án, có hiệu
lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2025.
[89] Khoản này được sửa đổi, bổ sung theo quy
định tại khoản 30 Điều 1 của Luật số 85/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều
của Bộ luật Tố tụng dân sự, Luật Tố tụng hành chính, Luật Tư pháp người chưa
thành niên, Luật Phá sản và Luật Hòa giải, đối thoại tại Tòa án, có hiệu lực kể
từ ngày 01 tháng 7 năm 2025.
[90] Khoản này được sửa đổi, bổ sung theo quy
định tại điểm b khoản 2 Điều 150 của Luật Tổ chức Tòa án nhân dân số
34/2024/QH15, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 01 năm 2025.
[91] Điều này được bãi bỏ theo quy định tại
điểm c khoản 2 Điều 150 của Luật Tổ chức Tòa án nhân dân số 34/2024/QH15, có
hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 01 năm 2025.
[92] Cụm từ “Thẩm tra viên” được thay thế bằng
cụm từ “Thẩm tra viên Tòa án” theo quy định tại khoản 32 Điều 1 của Luật số
85/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Tố tụng dân sự, Luật Tố
tụng hành chính, Luật Tư pháp người chưa thành niên, Luật Phá sản và Luật Hòa
giải, đối thoại tại Tòa án, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2025.
[93] Điều 220 của Bộ luật Lao động số
45/2019/QH14, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 01 năm 2021 quy định như sau:
“Điều 220. Hiệu lực thi hành
1. Bộ luật này có hiệu lực thi hành từ ngày
01 tháng 01 năm 2021.
Bộ luật Lao động số 10/2012/QH13 hết hiệu lực
thi hành kể từ ngày Bộ luật này có hiệu lực.
2. Kể từ ngày Bộ luật này có hiệu lực thi
hành, hợp đồng lao động, thỏa ước lao động tập thể, các thỏa thuận hợp pháp đã
giao kết có nội dung không trái hoặc bảo đảm cho người lao động có quyền và
điều kiện thuận lợi hơn so với quy định của Bộ luật này được tiếp tục thực
hiện, trừ trường hợp các bên có thỏa thuận về việc sửa đổi, bổ sung để phù hợp
và để áp dụng quy định của Bộ luật này.
3. Chế độ lao động đối với cán bộ, công chức,
viên chức, người thuộc lực lượng Quân đội nhân dân, Công an nhân dân, tổ chức
xã hội, xã viên hợp tác xã, người làm việc không có quan hệ lao động do các văn
bản pháp luật khác quy định nhưng tùy từng đối tượng mà được áp dụng một số quy
định trong Bộ luật này.”.
Điều 217 và Điều 218 của Luật Doanh nghiệp số
59/2020/QH14, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 01 năm 2021 quy định như sau:
“Điều 217. Điều khoản thi hành
1. Luật này có hiệu lực thi hành từ ngày 01
tháng 01 năm 2021.
2. Luật Doanh nghiệp số 68/2014/QH13 hết hiệu
lực kể từ ngày Luật này có hiệu lực thi hành.
3. Thay thế cụm từ “doanh nghiệp nhà nước”
bằng cụm từ “doanh nghiệp do Nhà nước nắm giữ 100% vốn điều lệ” quy định tại
điểm m khoản 1 Điều 35 và điểm k khoản 1 Điều 37 của Luật Ngân sách nhà nước số
83/2015/QH13; điểm a khoản 3 Điều 23 của Luật Thủy lợi số 08/2017/QH14 đã được
sửa đổi, bổ sung một số điều theo Luật số 35/2018/QH14; điểm b khoản 2 Điều 74
của Bộ luật Tố tụng dân sự số 92/2015/QH13 đã được sửa đổi, bổ sung một số điều
theo Luật số 45/2019/QH14; điểm a khoản 2 Điều 43 của Luật Quản lý, sử dụng vũ
khí, vật liệu nổ và công cụ hỗ trợ số 14/2017/QH14 đã được sửa đổi, bổ sung một
số điều theo Luật số 50/2019/QH14; Điều 19 của Luật Tố cáo số 25/2018/QH14; các
điều 3, 20, 30, 34, 39 và 61 của Luật Phòng, chống tham nhũng số 36/2018/QH14.
4. Chính phủ quy định việc đăng ký và hoạt
động của hộ kinh doanh.
5. Căn cứ vào quy định của Luật này, Chính
phủ quy định chi tiết việc tổ chức quản lý và hoạt động của doanh nghiệp nhà
nước trực tiếp phục vụ quốc phòng, an ninh hoặc kết hợp kinh tế với quốc phòng,
an ninh.
Điều 218. Quy định chuyển tiếp
1. Các công ty không có cổ phần hoặc phần vốn
góp do Nhà nước nắm giữ thực hiện góp vốn, mua cổ phần trước ngày 01 tháng 7
năm 2015 không phải thực hiện theo quy định tại khoản 2 Điều 195 của Luật này
nhưng không được tăng tỷ lệ sở hữu chéo.
2. Đối tượng là người quản lý doanh nghiệp,
Kiểm soát viên và người đại diện theo ủy quyền mà không đáp ứng đủ tiêu chuẩn,
điều kiện quy định tại điểm b khoản 5 Điều 14, khoản 3 Điều 64, khoản 3 Điều
93, khoản 3 Điều 101, các điểm a, b và c khoản 3 Điều 103, điểm d khoản 1 Điều
155, điểm b khoản 5 Điều 162 và khoản 2 Điều 169 của Luật này được tiếp tục
thực hiện nhiệm vụ đến hết thời gian còn lại của nhiệm kỳ.”.
Điều 56 của Luật Phòng, chống bạo lực gia
đình số 13/2022/QH15, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2023 quy định như
sau:
“Điều 56. Hiệu lực thi hành
1. Luật này có hiệu lực thi hành từ ngày 01
tháng 7 năm 2023.
2. Luật Phòng, chống bạo lực gia đình số
02/2007/QH12 hết hiệu lực kể từ ngày Luật này có hiệu lực thi hành.”.
Điều 79 và Điều 80 của Luật Bảo vệ quyền lợi
người tiêu dùng số 19/2023/QH15, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2024 quy
định như sau:
“Điều 79. Hiệu lực thi hành
1. Luật này có hiệu lực thi hành từ ngày 01
tháng 7 năm 2024.
2. Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng số
59/2010/QH12 đã được sửa đổi, bổ sung một số điều theo Luật số 35/2018/QH14 hết
hiệu lực kể từ ngày Luật này có hiệu lực thi hành, trừ trường hợp quy định tại
điểm a khoản 1 và khoản 2 Điều 80 của Luật này.
Điều 80. Điều khoản chuyển tiếp
1. Đối với giao dịch giữa tổ chức, cá nhân
kinh doanh và người tiêu dùng được xác lập trước ngày Luật này có hiệu lực thi
hành thì việc áp dụng pháp luật được thực hiện như sau:
a) Giao dịch giữa tổ chức, cá nhân kinh doanh
và người tiêu dùng chưa được thực hiện mà có nội dung, hình thức khác với quy
định của Luật này thì các bên tiếp tục thực hiện theo quy định của Luật Bảo vệ
quyền lợi người tiêu dùng số 59/2010/QH12 đã được sửa đổi, bổ sung một số điều
theo Luật số 35/2018/QH14. Trường hợp các bên có thỏa thuận mới về việc sửa
đổi, bổ sung nội dung, hình thức của giao dịch thì phải bảo đảm phù hợp với
Luật này và áp dụng quy định của Luật này kể từ ngày Luật này có hiệu lực thi hành.
Giao dịch giữa tổ chức, cá nhân kinh doanh và
người tiêu dùng đang được thực hiện mà có nội dung, hình thức khác với quy định
của Luật này thì áp dụng quy định của Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng số
59/2010/QH12 đã được sửa đổi, bổ sung một số điều theo Luật số 35/2018/QH14;
b) Giao dịch giữa tổ chức, cá nhân kinh doanh
và người tiêu dùng chưa được thực hiện hoặc đang được thực hiện mà có nội dung
và hình thức phù hợp với quy định của Luật này thì áp dụng quy định của Luật
này.
2. Đối với hợp đồng theo mẫu, điều kiện giao
dịch chung đã được công khai, áp dụng đối với người tiêu dùng trước ngày Luật
này có hiệu lực thi hành thì việc áp dụng pháp luật được quy định như sau:
a) Hợp đồng theo mẫu, điều kiện giao dịch
chung không thuộc trường hợp phải đăng ký theo quy định của pháp luật, tổ chức,
cá nhân kinh doanh phải hoàn thành việc sửa đổi, bổ sung nội dung, hình thức
của hợp đồng theo mẫu, điều kiện giao dịch chung và công khai để phù hợp với
quy định của Luật này trước ngày 31 tháng 12 năm 2024;
b) Hợp đồng theo mẫu, điều kiện giao dịch
chung thuộc trường hợp phải đăng ký theo quy định của pháp luật tại thời điểm
Luật này có hiệu lực thi hành, tổ chức, cá nhân kinh doanh phải hoàn thành việc
đăng ký hợp đồng theo mẫu, điều kiện giao dịch chung phù hợp với quy định của
Luật này trước ngày 31 tháng 12 năm 2024.”.
Điều 151 của Luật Tổ chức Tòa án nhân dân số
34/2024/QH15, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 01 năm 2025 quy định như sau:
“Điều 151. Hiệu lực thi hành
1. Luật này có hiệu lực thi hành từ ngày 01
tháng 01 năm 2025.
2. Luật Tổ chức Tòa án nhân dân số
62/2014/QH13 hết hiệu lực từ ngày Luật này có hiệu lực thi hành, trừ trường hợp
quy định tại khoản 1 và khoản 2 Điều 152 của Luật này.”.
Điều 75 của Luật Công chứng số 46/2024/QH15,
có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2025 quy định như sau:
“Điều 75. Hiệu lực thi hành
1. Luật này có hiệu lực thi hành từ ngày 01
tháng 7 năm 2025.
2. Luật Công chứng số 53/2014/QH13 đã được
sửa đổi, bổ sung một số điều theo Luật số 28/2018/QH14 và Luật số 16/2023/QH15
(sau đây gọi là Luật Công chứng số 53/2014/QH13) hết hiệu lực kể từ ngày Luật
này có hiệu lực thi hành, trừ trường hợp quy định tại các khoản 1, 2, 3, 6, 7,
9, 11, 12 và 14 Điều 76 của Luật này.”.
Điều 6 của Luật số 85/2025/QH15 sửa đổi, bổ
sung một số điều của Bộ luật Tố tụng dân sự, Luật Tố tụng hành chính, Luật Tư
pháp người chưa thành niên, Luật Phá sản và Luật Hòa giải, đối thoại tại Tòa
án, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2025 quy định như sau:
“Điều 6. Hiệu lực thi hành
Luật này có hiệu lực thi hành từ ngày 01
tháng 7 năm 2025, trừ trường hợp Luật Tư pháp người chưa thành niên có quy định
khác.”.
Việc thi hành Luật số 85/2025/QH15 sửa đổi,
bổ sung một số điều của Bộ luật Tố tụng dân sự, Luật Tố tụng hành chính, Luật
Tư pháp người chưa thành niên, Luật Phá sản và Luật Hòa giải, đối thoại tại Tòa
án được thực hiện theo Nghị quyết số 225/2025/QH15 ngày 27 tháng 6 năm 2025 của
Quốc hội về việc thi hành Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Tổ chức
Tòa án nhân dân, Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Tổ chức Viện kiểm
sát nhân dân, các luật tố tụng và luật khác có liên quan, có hiệu lực kể từ
ngày 01 tháng 7 năm 2025.
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét