Chương II
XỬ LÝ VI PHẠM PHÁP LUẬT VỀ ĐẤT ĐAI CỦA TỔ CHỨC, CÁ NHÂN
XẢY RA TRƯỚC KHI LUẬT ĐẤT ĐAI NĂM 2024 CÓ HIỆU LỰC
Điều 5. Không truy cứu trách nhiệm hình sự
Cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng không truy cứu trách nhiệm hình sự trong các trường hợp sau:
1. Không gây thất thoát, lãng phí tài sản nhà nước thì phải đáp ứng đủ các điều kiện sau:
a) Không tham nhũng;
b) Vì mục đích phát triển kinh tế - xã hội, vì mục đích bảo đảm quốc phòng, an ninh;
c) Dự án, công trình đã hoàn thành, mang lại hiệu quả kinh tế - xã hội cho địa phương, đất nước;
d) Không có khiếu nại, tố cáo hoặc có khiếu nại, tố cáo nhưng đã giải quyết dứt điểm các khiếu nại, tố cáo liên quan theo quy định.
2. Có gây thất thoát, lãng phí tài sản nhà nước thì phải bảo đảm các điều kiện quy định tại khoản 1 Điều này và đã khắc phục toàn bộ hậu quả.
Điều 6. Tạm hoãn truy cứu trách nhiệm hình sự
Cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng xem xét tạm hoãn truy cứu trách nhiệm hình sự để tổ chức, cá nhân khắc phục hậu quả nếu bảo đảm đủ các điều kiện sau:
1. Có hành vi vi phạm nhưng vì mục đích phát triển kinh tế - xã hội, vì mục đích bảo đảm quốc phòng, an ninh;
2. Có gây thất thoát, lãng phí tài sản nhà nước nhưng không tham nhũng;
3. Các dự án, công trình đang thực hiện, chưa hoàn thành, chưa khắc phục được hậu quả do nguyên nhân khách quan nhưng vẫn có khả năng, phương án, điều kiện để khắc phục, mang lại hiệu quả kinh tế - xã hội cho địa phương, đất nước, có cam kết của tổ chức, cá nhân liên quan khắc phục hậu quả và tích cực khắc phục theo tiến độ, phương án đã cam kết.
Điều 7. Miễn trách nhiệm hình sự
Trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử, các cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng miễn trách nhiệm hình sự đối với các trường hợp quy định tại Điều 5 của Nghị quyết này.
Điều 8. Không khởi tố vụ án hình sự; tạm đình chỉ giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố; tạm đình chỉ, đình chỉ điều tra vụ án; tạm đình chỉ, đình chỉ điều tra đối với bị can; tạm đình chỉ, đình chỉ vụ án; tạm đình chỉ, đình chỉ vụ án đối với bị can, bị cáo và hoãn phiên tòa
1. Trong quá trình giải quyết nguồn tin về tội phạm, nếu có đủ căn cứ quy định tại Điều 5 của Nghị quyết này thì cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng ra quyết định không khởi tố vụ án hình sự.
Trường hợp có đủ căn cứ quy định tại Điều 6 của Nghị quyết này thì cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng ra quyết định tạm đình chỉ giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố. Thời hạn tạm đình chỉ tối đa là 02 năm kể từ ngày ra quyết định và không tính vào thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự.
2. Trong giai đoạn điều tra, truy tố, xét xử nếu có đủ căn cứ quy định tại Điều 5, Điều 7 của Nghị quyết này thì Cơ quan điều tra ra quyết định đình chỉ điều tra; Viện kiểm sát, Tòa án ra quyết định đình chỉ vụ án, đình chỉ vụ án đối với bị can, bị cáo.
Trường hợp có đủ căn cứ quy định tại Điều 6 Nghị quyết này thì Cơ quan điều tra ra quyết định tạm đình chỉ điều tra; Viện kiểm sát ra quyết định tạm đình chỉ vụ án, tạm đình chỉ vụ án đối với bị can; Tòa án ra quyết định tạm đình chỉ vụ án, tạm đình chỉ vụ án đối với bị can, bị cáo, hoãn phiên tòa.
Thời hạn tạm đình chỉ điều tra vụ án, tạm đình chỉ điều tra đối với bị can, tạm đình chỉ vụ án, tạm đình chỉ vụ án đối với bị can, bị cáo, hoãn phiên tòa tối đa là 02 năm kể từ thời điểm ban hành quyết định và không tính vào thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự.
3. Hết thời hạn tạm đình chỉ giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố, tạm đình chỉ điều tra vụ án, tạm đình chỉ điều tra đối với bị can, tạm đình chỉ vụ án, tạm đình chỉ vụ án đối với bị can, bị cáo, hoãn phiên tòa quy định tại khoản 1 và khoản 2 Điều này thì các cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng xử lý như sau:
a) Trường hợp đã khắc phục được toàn bộ hậu quả thì Cơ quan điều tra ra quyết định không khởi tố vụ án hình sự, đình chỉ điều tra; Viện kiểm sát, Tòa án ra quyết định đình chỉ vụ án, đình chỉ vụ án đối với bị can, bị cáo;
b) Trường hợp không khắc phục được toàn bộ hậu quả thì các cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng thực hiện các thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự và căn cứ tỷ lệ khắc phục hậu quả, hiệu quả kinh tế - xã hội cho địa phương, đất nước để quyết định giảm nhẹ trách nhiệm hình sự.
Điều 9. Hoãn chấp hành hình phạt, miễn, giảm hình phạt và xóa án tích đối với trường hợp đã có bản án
1. Trường hợp cá nhân đã có bản án của Tòa án nhưng chưa có quyết định thi hành án mà có đủ căn cứ quy định tại Điều 6 của Nghị quyết này thì Tòa án ra quyết định hoãn chấp hành hình phạt.
Thời hạn hoãn chấp hành hình phạt tối đa là 02 năm kể từ thời điểm ban hành quyết định, không tính vào thời hiệu thi hành bản án và thời gian chấp hành hình phạt.
2. Hết thời hạn hoãn chấp hành hình phạt quy định tại khoản 1 Điều này thì xử lý như sau:
a) Trường hợp đã khắc phục được toàn bộ hậu quả thì Tòa án quyết định miễn chấp hành hình phạt;
b) Trường hợp không khắc phục được toàn bộ hậu quả thì Tòa án có thẩm quyền ra quyết định thi hành án; đồng thời căn cứ tỷ lệ khắc phục hậu quả và hiệu quả kinh tế - xã hội cho địa phương, đất nước để quyết định giảm mức hình phạt đã tuyên, giảm thời hạn chấp hành hình phạt trong trường hợp đặc biệt.
3. Đối với người có hành vi vi phạm đáp ứng điều kiện thuộc các trường hợp quy định tại Điều 5 của Nghị quyết này mà đang chấp hành án hoặc đang được tạm đình chỉ thi hành án thì được miễn chấp hành hình phạt còn lại; chưa chấp hành án hoặc đang được hoãn thi hành án thì được miễn chấp hành hình phạt.
4. Đối với người đang chấp hành hình phạt tù mà có đủ căn cứ quy định tại Điều 6 của Nghị quyết này thì Tòa án quyết định tạm đình chỉ chấp hành án phạt tù. Thời hạn tạm đình chỉ án phạt tù tối đa là 02 năm kể từ thời điểm ban hành quyết định, không tính vào thời gian chấp hành hình phạt.
Hết thời hạn tạm đình chỉ chấp hành án phạt tù quy định tại khoản này thì xử lý như sau:
a) Trường hợp đã khắc phục được toàn bộ hậu quả thì Tòa án quyết định miễn chấp hành thời hạn chấp hành án phạt còn lại;
b) Trường hợp không khắc phục được toàn bộ hậu quả thì Tòa án ra quyết định tiếp tục thi hành án; đồng thời căn cứ tỷ lệ khắc phục hậu quả và hiệu quả kinh tế - xã hội cho địa phương, đất nước để quyết định giảm mức hình phạt đã tuyên, giảm thời hạn chấp hành hình phạt trong trường hợp đặc biệt. Sau khi đã chấp hành xong bản án theo quy định, Tòa án xem xét quyết định giảm thời hạn để xóa án tích.
5. Đối với người vi phạm đã chấp hành xong bản án và chưa xóa án tích mà có đủ căn cứ quy định tại Điều 5 của Nghị quyết này thì đương nhiên được xóa án tích và miễn thời gian thử thách theo quy định của Bộ luật Hình sự.
6. Đối với người đang chấp hành án phạt tù có đủ các điều kiện quy định tại khoản 1 và khoản 2 Điều 6 của Nghị quyết này nhưng không có điều kiện để khắc phục hậu quả thì Tòa án xem xét giảm thời hạn chấp hành án phạt tù. Sau khi đã chấp hành xong bản án theo quy định, Tòa án xem xét quyết định giảm thời hạn để xóa án tích.
Điều 10. Quy định về xử lý kỷ luật cán bộ, công chức, viên chức, người thuộc lực lượng vũ trang nhân dân
1. Cán bộ, công chức, viên chức, người thuộc lực lượng vũ trang nhân dân vi phạm kỷ luật theo quy định của pháp luật nhưng vì mục đích phát triển kinh tế - xã hội, vì mục đích bảo đảm quốc phòng, an ninh, không tham nhũng, dự án, công trình đã hoàn thành, mang lại hiệu quả kinh tế - xã hội cho địa phương, đất nước, không có khiếu nại, tố cáo hoặc có khiếu nại, tố cáo nhưng đã giải quyết dứt điểm theo quy định được miễn kỷ luật nếu đáp ứng một trong các điều kiện sau:
a) Không gây thất thoát, lãng phí tài sản nhà nước;
b) Có gây thất thoát, lãng phí tài sản nhà nước nhưng đã khắc phục toàn bộ hậu quả.
2. Cán bộ, công chức, viên chức, người thuộc lực lượng vũ trang nhân dân vi phạm kỷ luật theo quy định của pháp luật nhưng vì mục đích phát triển kinh tế - xã hội, vì mục đích bảo đảm quốc phòng, an ninh, có gây thất thoát, lãng phí tài sản nhà nước nhưng không tham nhũng, các dự án, công trình đang thực hiện, chưa hoàn thành, chưa khắc phục được hậu quả do nguyên nhân khách quan nhưng vẫn có khả năng, phương án, điều kiện khắc phục để mang lại hiệu quả kinh tế - xã hội cho địa phương, đất nước, có cam kết của tổ chức, cá nhân liên quan khắc phục hậu quả và tích cực khắc phục theo tiến độ, phương án đã cam kết thì xem xét chưa xử lý kỷ luật để khắc phục hậu quả. Thời hạn chưa xem xét xử lý kỷ luật tối đa là 02 năm, không tính vào thời hiệu xử lý kỷ luật.
3. Hết thời hạn quy định tại khoản 2 Điều này thì xử lý như sau:
a) Trường hợp đã khắc phục được toàn bộ hậu quả thì áp dụng quy định tại khoản 1 Điều này;
b) Trường hợp không khắc phục được toàn bộ hậu quả thì cơ quan có thẩm quyền căn cứ tỷ lệ khắc phục hậu quả và hiệu quả kinh tế - xã hội cho địa phương, đất nước để quyết định giảm nhẹ mức kỷ luật.
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét