Nội dung Văn Bản Quy Phạm Pháp Luật được biên tập lại từ 04 nguồn chính: https://vbpl.vn/; www.congbao.hochiminhcity.gov.vn; https://congbao.chinhphu.vn/ và https://www.ipvietnam.gov.vn /

218 DANH MỤC VĂN BẢN PHÁP LUẬT

Chương III SỐ HÓA HỒ SƠ VỤ ÁN

 Chương III

SỐ HÓA HỒ SƠ VỤ ÁN

 

Điều 10. Thực hiện số hóa hồ sơ vụ án

1. Thực hiện số hóa đối với toàn bộ hồ sơ vụ án quy định tại khoản 2 Điều 131 Bộ luật Tố tụng hình sự. Trong giai đoạn thực hiện thí điểm, trường hợp đã lập hồ sơ vụ án điện tử thì việc tiếp tục lập hồ sơ vụ án bằng văn bản giấy do cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng quyết định. Việc số hóa hồ sơ vụ án được thực hiện theo quy định tại Điều 22 Thông tư liên tịch này.

2. Người có thẩm quyền quy định tại khoản 3 Điều 2 Thông tư liên tịch này, trong phạm vi nhiệm vụ được giao chịu trách nhiệm về việc khởi tạo dữ liệu, số hóa, số hóa bổ sung hồ sơ vụ án; kiểm tra và bảo đảm tính chính xác, đầy đủ, kịp thời của dữ liệu về hồ sơ vụ án được khởi tạo, bổ sung, cập nhật.

3. Hồ sơ vụ án điện tử được lập, đăng ký, quản lý theo quy định, gắn một mã hồ sơ điện tử duy nhất ngay từ khi lập; đánh số, gắn dấu bút lục điện tử, sử dụng xuyên suốt trong mọi giai đoạn của hoạt động tố tụng và có thống kê tài liệu trong hồ sơ. Trường hợp có bổ sung tài liệu vào hồ sơ vụ án thì phải đánh dấu bút lục và có thống kê tài liệu bổ sung và báo diễn biến theo quy định.

Điều 11. Phương thức số hóa hồ sơ vụ án

1. Lập hồ sơ vụ án điện tử ngay từ đầu trên phần mềm chuyên dụng là việc lập văn bản tố tụng, tài liệu chứng cứ khác trong hồ sơ vụ án thông qua việc khởi tạo dữ liệu về hồ sơ vụ án trên phần mềm chuyên dụng theo cấu trúc dữ liệu, chuẩn dữ liệu, chuẩn dữ liệu dùng chung; sao chụp, chuyển đổi tài liệu, chứng cứ dạng vật lý sang định dạng dữ liệu điện tử có thể xem, đọc được trên thiết bị điện tử; tích hợp thông tin, tài liệu, dữ liệu điện tử đã thu thập được vào hồ sơ vụ án điện tử có xác thực dữ liệu.

Việc khởi tạo, cập nhật dữ liệu phải tuân thủ trình tự, thủ tục tố tụng. Việc khởi tạo dữ liệu về người tham gia tố tụng phải được truy xuất tự động các thông tin cơ bản trong Cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư (chỉ nhập thủ công trong trường hợp không có thông tin trong Cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư).

2. Chuyển đổi văn bản tố tụng, tài liệu chứng cứ khác đã lập bằng văn bản giấy trong quá trình lập hồ sơ vụ án điện tử sang dữ liệu điện tử được thực hiện bằng việc khởi tạo dữ liệu về hồ sơ vụ án trên phần mềm chuyên dụng theo cấu trúc dữ liệu, chuẩn dữ liệu, chuẩn dữ liệu dùng chung của cơ sở dữ liệu về hồ sơ vụ án, có xác thực dữ liệu.

Việc chuyển đổi phải đáp ứng các yêu cầu quy định tại Điều 4 Nghị định số 137/2024/NĐ-CP ngày 23/10/2024 của Chính phủ quy định về giao dịch điện tử của cơ quan nhà nước và hệ thống thông tin phục vụ giao dịch điện tử, thực hiện xác thực dữ liệu theo quy định.

3. Việc số hóa hồ sơ vụ án đã được lập từ văn bản giấy trước thời điểm liên ngành công bố thống nhất triển khai đồng bộ việc ký số, số hóa hồ sơ vụ án do cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng quyết định.

Điều 12. Tài liệu, vật chứng, đồ vật không tích hợp trực tiếp vào hồ sơ vụ án điện tử

1. Tài liệu, vật chứng gốc dạng vật lý không thể sao chụp, quét hoặc chuyển đổi sang định dạng điện tử, bao gồm: Đồ vật, mẫu vật, dữ liệu điện tử được niêm phong; vật chứng là tiền, vàng, bạc, kim khí quý, đá quý, đồ cổ, chất nổ, chất cháy, chất độc, chất phóng xạ, vũ khí quân dụng phải giám định; vật chứng là vi khuẩn nguy hại, bộ phận cơ thể người, mẫu mô, mẫu máu và các mẫu vật khác của cơ thể người; vật chứng thuộc loại mau hỏng hoặc khó bảo quản; vật chứng là tài liệu, hình ảnh, bản in, bản vẽ, sơ đồ hiện trường, vật chứng có yêu cầu giám định trực tiếp trên bản gốc.

2. Tài liệu, vật chứng có đặc thù vật lý hoặc kỹ thuật mà việc chuyển đổi sang định dạng điện tử có nguy cơ làm mất, biến dạng hoặc làm giảm giá trị chứng minh, như: tài liệu viết tay bằng mực đặc biệt, tài liệu xuống cấp, bản đồ, bản vẽ kỹ thuật, dấu vân tay, mẫu sinh học, mẫu hóa chất, vật liệu.

3. Đối với các tài liệu, vật chứng, đồ vật quy định tại khoản 1, khoản 2 Điều này không thể tích hợp trực tiếp vào hồ sơ vụ án điện tử thì người có thẩm quyền thể hiện trong hồ sơ vụ án điện tử thông qua văn bản tố tụng, biên bản, hình ảnh, dữ liệu số hoặc tài liệu mô tả kèm theo; việc quản lý, bảo quản các tài liệu, vật chứng gốc thực hiện theo quy định của pháp luật về quản lý vật chứng.

Điều 13. Giá trị pháp lý của hồ sơ vụ án điện tử

Hồ sơ vụ án điện tử có giá trị pháp lý khi bảo đảm các nội dung:

1. Được lập, thu thập, chuyển đổi, gắn mã hồ sơ điện tử, mã bút lụcdấu bút lục điện tử đúng quy định.

2. Văn bản tố tụng điện tử trong hồ sơ vụ án điện tử phải bảo đảm thống nhất về mẫu, thể thức trình bày văn bản.

3. Tất cả tài liệu được ký số bằng chứng thư chữ ký số chuyên dùng công vụ còn hiệu lực và đóng dấu điện tử theo quy định, được ký số hoặc sử dụng hình thức xác nhận khác của người tham gia tố tụng theo quy định tại Thông tư liên tịch này.

4. Được lưu trữ, quản lý theo quy định tại Điều 16 Thông tư liên tịch này.

Điều 14. Bảo đảm an ninh, an toàn thông tin, dữ liệu hồ sơ vụ án điện tử

1. Hồ sơ vụ án điện tử chứa bí mật nhà nước phải được quản lý, sử dụng theo đúng quy định của pháp luật về bảo vệ bí mật nhà nước, an ninh, an toàn thông tin trên môi trường mạng.

2. Các cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng thực hiện việc phân quyền truy cập và bảo đảm việc truy cập đúng thẩm quyền, phân quyền và mọi hoạt động truy cập, đọc, ghi chép, sao chụp, chỉnh sửa phải được ghi nhận vào nhật ký hệ thống.

3. Việc cấp, giao, chuyển, nhận, gửi, thông báo, thi hành, lưu trữ văn bản tố tụng điện tử, hồ sơ vụ án điện tử, dữ liệu thuộc danh mục bí mật nhà nước phải thực hiện theo quy định của pháp luật về bảo vệ bí mật nhà nước và pháp luật về cơ yếu.

4. Mọi hoạt động kết nối, chia sẻ, liên thông dữ liệu phải sẵn sàng phương án sao lưu, dự phòng đảm bảo an toàn hệ thống, kế hoạch ứng phó, khắc phục sự cố và khôi phục dữ liệu đầy đủ, toàn vẹn, liên tục, tuân thủ chặt chẽ quy định pháp luật về an toàn thông tin, an ninh mạng, bảo vệ dữ liệu.

Điều 15. Giao, chuyển, nhận, đọc, ghi chép, sao chụp hồ sơ vụ án điện tử

1. Việc giao, chuyển, nhận hồ sơ vụ án điện tử được thực hiện trên phần mềm chuyên dụng tích hợp trên cơ sở dữ liệu về hồ sơ vụ án, có biên bản giao, nhận điện tử thể hiện thời gian, nhật ký truy xuất bảo đảm đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục và thời hạn theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự.

Cơ quan nhận phải kịp thời kiểm tra tính hợp pháp của hồ sơ vụ án điện tử, xác nhận việc tiếp nhận trên phần mềm chuyên dụng tích hợp trên cơ sở dữ liệu về hồ sơ vụ án.

2. Việc đọc, ghi chép và sao chụp tài liệu trong hồ sơ vụ án điện tử của người tham gia tố tụng được thực hiện thông qua tài khoản định danh điện tử, tài khoản giao dịch điện tử hoặc tài khoản do cơ quan tiến hành tố tụng cấp, tiến hành theo hình thức truy cập từ xa hoặc bố trí địa điểm, thiết bị tại trụ sở cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng.

Việc đọc, ghi chép và sao chụp tài liệu trong hồ sơ vụ án điện tử phải được người có thẩm quyền giám sát chặt chẽ, bảo đảm quy định về bảo vệ bí mật nhà nước, bí mật điều tra, bảo vệ dữ liệu cá nhân, được lập biên bản ghi nhận, có bản thống kê kèm theo.

Điều 16. Lưu trữ, quản lý hồ sơ vụ án điện tử

1. Hồ sơ vụ án điện tử phải được lưu trữ, quản lý tập trung trên cơ sở dữ liệu về hồ sơ vụ án của từng bộ, ngành, bảo đảm đầy đủ, đúng thời hạn theo quy định của pháp luật và quy định về chế độ lưu trữ hồ sơ, có lưu trữ dự phòng, cơ chế phục hồi nhanh khi xảy ra sự cố để bảo đảm dự phòng an toàn dữ liệu và đáp ứng yêu cầu quản lý tập trung trong phạm vi mỗi bộ, ngành, cho phép lưu trữ có tổ chức dữ liệu điều tra, truy tố, xét xử đồng bộ, cho phép thông báo diễn biến thay đổi bổ sung, cập nhật thông tin theo hồ sơ vụ án.

2 . Tài liệu lập bằng văn bản giấy và tài liệu, chứng cứ dạng vật lý, dữ liệu điện tử sau khi thực hiện số hóa phải lưu trữ, quản lý theo quy định của pháp luật về quản lý vật chứng và chế độ lưu trữ hồ sơ vụ án.

_Xem toàn bộ văn bản>>>>【Thông tư liên tịch 04/2026/TTLT-BCA-BQP-VKSNDTC-TANDTC

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét