Nội dung Văn Bản Quy Phạm Pháp Luật được biên tập lại từ 04 nguồn chính: https://vbpl.vn/; www.congbao.hochiminhcity.gov.vn; https://congbao.chinhphu.vn/ và https://www.ipvietnam.gov.vn /

218 DANH MỤC VĂN BẢN PHÁP LUẬT

Chương III THÁO GỠ KHÓ KHĂN, VƯỚNG MẮC CHO CÁC DỰ ÁN TỒN ĐỌNG, KÉO DÀI

 Chương III

THÁO GỠ KHÓ KHĂN, VƯỚNG MẮC CHO CÁC DỰ ÁN TỒN ĐỌNG, KÉO DÀI

 

Điều 11. Xử lý dự án đã được cấp giấy chứng nhận không đúng quy định

Đối với dự án đã được cấp giấy chứng nhận không đúng quy định thì Ủy ban nhân dân cấp tỉnh rà soát các quy hoạch theo quy định của pháp luật về quy hoạch đô thị và nông thôn bảo đảm tính độc lập, khách quan, minh bạch. Sau khi rà soát thì việc xử lý dự án được thực hiện như sau:

1. Trường hợp dự án phù hợp với quy hoạch có chức năng sử dụng đất để xây dựng nhà ở:

a) Ủy ban nhân dân cấp tỉnh xác định tiền sử dụng đất, tiền thuê đất của dự án theo chính sách và giá đất tại thời điểm được nhà nước điều chỉnh giấy chứng nhận không đúng quy định sang mục đích là đất ở để xác định số tiền cần phải thu từ phần chênh lệch tiền sử dụng đất, tiền thuê đất tại thời điểm điều chỉnh giấy chứng nhận được cấp theo quy định tại Nghị quyết này;

b) Nhà đầu tư, chủ đầu tư thực hiện dự án hoàn thành nghĩa vụ tài chính với cơ quan nhà nước và bảo đảm năng lực tiếp tục triển khai dự án theo quy định của pháp luật.

Trường hợp nhà đầu tư, chủ đầu tư không thực hiện đầy đủ nghĩa vụ tài chính với cơ quan nhà nước theo quy định và không bảo đảm năng lực tiếp tục triển khai dự án thì xử lý theo quy định tại khoản 2 Điều này;

c) Điều chỉnh mục đích sử dụng đất trong giấy chứng nhận không đúng quy định của nhà đầu tư, chủ đầu tư hoặc Giấy chứng nhận không đúng quy định của người sử dụng đất đã nhận chuyển quyền sử dụng đất trong dự án sang đất ở. Thời hạn sử dụng đất, chế độ sử dụng đất theo quy định của pháp luật về đất đai đối với đất ở.

2. Đối với các dự án không thuộc trường hợp quy định tại khoản 1 Điều này:

a) Điều chỉnh mục đích sử dụng đất trong giấy chứng nhận không đúng quy định của nhà đầu tư, chủ đầu tư sang đất thương mại, dịch vụ;

Thời hạn sử dụng đất thực hiện theo quy định của pháp luật về đất đai, được tính từ thời điểm cơ quan nhà nước có thẩm quyền cấp giấy phép xây dựng công trình trên đất theo quy định của pháp luật về xây dựng; trường hợp không phải cấp giấy phép xây dựng thì thời hạn sử dụng đất được tính từ thời điểm bắt đầu xây dựng công trình do Ủy ban nhân dân cấp tỉnh xác định.

b) Điều chỉnh mục đích sử dụng đất trong giấy chứng nhận không đúng quy định của người sử dụng đất đã nhận chuyển quyền sử dụng đất trong dự án sang đất thương mại, dịch vụ. Thời hạn sử dụng đất là 50 năm được tính từ thời điểm nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất từ chủ đầu tư thực hiện dự án;

c) Trường hợp quy định tại điểm a và điểm b khoản này mà nhà đầu tư, chủ đầu tư chưa thực hiện đầy đủ nghĩa vụ tài chính tại thời điểm cấp giấy chứng nhận không đúng quy định thì nhà đầu tư, chủ đầu tư phải hoàn thành nghĩa vụ tài chính chưa thực hiện tại thời điểm cấp giấy chứng nhận không đúng quy định trước khi điều chỉnh giấy chứng nhận không đúng quy định.

Điều 12. Xử lý về việc tiếp tục giao đất, cho thuê đất đối với các dự án vi phạm về lựa chọn nhà đầu tư, về quản lý, sử dụng đất

1. Ủy ban nhân dân cấp tỉnh rà soát các dự án, đất đai vi phạm về lựa chọn nhà đầu tư, giao đất, cho thuê đất, cho phép chuyển mục đích sử dụng đất trong kết luận thanh tra, kiểm tra, bản án để áp dụng chính sách theo quy định tại Điều 4 và Điều 5 Nghị quyết số 170/2024/QH15 đối với các trường hợp sau đây:

a) Dự án đầu tư đã lựa chọn nhà đầu tư (bao gồm cả cơ quan nhà nước, cơ quan Đảng Cộng sản Việt Nam được giao là chủ đầu tư) không thông qua đấu giá quyền sử dụng đất, không thông qua đấu thầu lựa chọn nhà đầu tư, chưa được cơ quan nhà nước ban hành quyết định giao đất, cho thuê đất nhưng đã được triển khai thi công xây dựng trên đất;

b) Dự án đầu tư đã lựa chọn nhà đầu tư không thông qua đấu giá quyền sử dụng đất, không thông qua đấu thầu lựa chọn nhà đầu tư, đã được cơ quan nhà nước ban hành quyết định giao đất, cho thuê đất đối với một phần hoặc toàn bộ khu đất thực hiện dự án;

c) Dự án đã được cơ quan nhà nước ban hành quyết định giao đất, cho thuê đất đối với toàn bộ hoặc một phần khu đất thực hiện dự án và đã được triển khai thi công xây dựng trên đất nhưng bị thu hồi quyết định giao đất, cho thuê đất;

d) Dự án mà nhà đầu tư đã ứng một phần hoặc toàn bộ số tiền bồi thường, hỗ trợ, tái định cư hoặc thực hiện bồi thường, hỗ trợ, tái định cư để Nhà nước thu hồi đất đối với một phần hoặc toàn bộ khu đất thực hiện dự án hoặc đã nộp tiền ký quỹ bảo đảm thực hiện dự án nhưng chưa được cơ quan nhà nước ban hành quyết định giao đất, cho thuê đất;

đ) Dự án đầu tư xây dựng nhà ở, khu đô thị, khu dân cư đã được chấp thuận, quyết định chủ trương đầu tư, cho phép chuyển mục đích sử dụng đất sang đất ở trong trường hợp nhà đầu tư thỏa thuận về nhận quyền sử dụng đất nhưng không có đất ở.

2. Đối với các trường hợp dự án được Ủy ban nhân dân cấp tỉnh rà soát, quyết định việc áp dụng quy định tại Điều 4 và Điều 5 của Nghị quyết số 170/2024/QH15 theo quy định tại điểm a và điểm b khoản 1 Điều này không phải thực hiện lại thủ tục đấu giá quyền sử dụng đất, đấu thầu lựa chọn nhà đầu tư.

3. Đối với các trường hợp dự án được Ủy ban nhân dân cấp tỉnh rà soát, quyết định việc áp dụng quy định tại Điều 4 và Điều 5 của Nghị quyết số 170/2024/QH15 theo quy định tại điểm c và điểm d khoản 1 Điều này mà chưa hoàn thành thủ tục chấp thuận chủ trương đầu tư, quyết định chủ trương đầu tư, lựa chọn nhà đầu tư thì thực hiện thủ tục chấp thuận chủ trương đầu tư đồng thời chấp thuận nhà đầu tư để thực hiện dự án.

Trường hợp nhà đầu tư không bảo đảm năng lực để tiếp tục thực hiện dự án thì Ủy ban nhân dân cấp tỉnh tổ chức lựa chọn nhà đầu tư khác theo quy định của pháp luật. Ủy ban nhân dân cấp tỉnh thực hiện việc hoàn trả tiền bồi thường, hỗ trợ, tái định cư mà nhà đầu tư đã ứng và chi phí xây dựng trên khu đất thực hiện dự án (nếu có) cho nhà đầu tư.

4. Việc chấp thuận chủ trương đầu tư, điều chỉnh chủ trương đầu tư theo quy định của Điều này phải bảo đảm không mở rộng diện tích sử dụng đất so với dự án đầu tư đã đề xuất với cơ quan nhà nước có thẩm quyền trước ngày 01 tháng 8 năm 2024.

5. Đối với các dự án được Ủy ban nhân dân cấp tỉnh rà soát, quyết định áp dụng quy định tại Điều 4 và Điều 5 của Nghị quyết số 170/2024/QH15 theo quy định tại khoản 1 Điều này tiếp tục được Nhà nước thu hồi đất, giao đất, cho thuê đất đối với phần diện tích chưa được ban hành quyết định giao đất, cho thuê đất theo quy định pháp luật về đất đai tại thời điểm áp dụng Nghị quyết này.

Điều 13. Xử lý đối với dự án đầu tư trên khu đất mà Nhà nước đã thu hồi đất không thuộc trường hợp thu hồi đất theo quy định của pháp luật

Dự án đầu tư trên khu đất mà Nhà nước đã thu hồi đất không thuộc trường hợp thu hồi đất theo quy định của pháp luật mà chủ đầu tư dự án đã bỏ kinh phí để thực hiện thu hồi toàn bộ diện tích đất của dự án thì xử lý như sau:

1. Chủ đầu tư được tiếp tục thực hiện khi đáp ứng các điều kiện sau:

a) Nhà đầu tư đáp ứng năng lực, điều kiện thực hiện dự án theo quy định của pháp luật, đang quản lý, sử dụng, thực hiện đầu tư xây dựng trên khu đất được xác định có vi phạm về thu hồi đất, trong đó có phần lỗi của Nhà nước theo kết luận thanh tra, kiểm tra, bản án;

b) Dự án không có tranh chấp, khiếu kiện hoặc đã giải quyết xong tranh chấp, khiếu kiện (nếu có);

c) Phù hợp với quy hoạch sử dụng đất cấp huyện, kế hoạch sử dụng đất hằng năm cấp huyện đã được phê duyệt trước ngày 01 tháng 7 năm 2025 hoặc phương án phân bổ và khoanh vùng đất đai của quy hoạch tỉnh hoặc quy hoạch được lập theo quy định của pháp luật về quy hoạch đô thị và nông thôn.

2. Việc giao đất, cho thuê đất, cho phép chuyển mục đích sử dụng đất thực hiện theo quy định hiện hành của pháp luật đất đai.

3. Trường hợp dự án không bảo đảm các điều kiện quy định tại khoản 1 Điều này thì Nhà nước chấm dứt thực hiện dự ánhoàn trả kinh phí Chủ đầu tư đã bỏ ra để thu hồi đất theo quy định của Chính phủ.

Đối với tài sản là công trình xây dựng (nếu có) gắn liền với đất trong trường hợp Nhà nước chấm dứt thực hiện dự án thì chủ sở hữu tài sản được xử lý theo quy định của pháp luật.

Điều 14. Xử lý các dự án đầu tư trong trường hợp có vi phạm về mục đích sử dụng đất

Trường hợp dự án đầu tư có vi phạm về mục đích sử dụng đất đã được cơ quan nhà nước có thẩm quyền quyết định hoặc chấp thuận chủ trương đầu tư, chấp thuận đầu tư, chấp thuận nhà đầu tư, phù hợp với quy hoạch sử dụng đất, quy hoạch lâm nghiệp, quy hoạch sử dụng đất quốc phòng, quy hoạch sử dụng đất an ninh hoặc quy hoạch được lập theo quy định của pháp luật về quy hoạch đô thị và nông thôn, quy hoạch lâm nghiệp, quy hoạch sử dụng đất quốc phòng, quy hoạch sử dụng đất an ninh thì thực hiện như sau:

1. Ủy ban nhân dân cấp tỉnh rà soát, điều chỉnh mục tiêu dự án, điều chỉnh quyết định giao đất, cho thuê đất, cho phép chuyển mục đích sử dụng đất để tiếp tục thực hiện dự án theo quy định của pháp luật. Nhà đầu tư phải thực hiện đầy đủ nghĩa vụ tài chính về đất đai;

2. Nhà đầu tư vẫn bị xử phạt hành chính nhưng không phải tháo dỡ đối với phần công trình phù hợp quy hoạch đô thị và nông thôn; không buộc khôi phục tình trạng ban đầu của đất nhưng phải nộp lại số lợi bất hợp pháp có được do thực hiện hành vi vi phạm theo quy định của pháp luật về đất đai, xây dựng.

Điều 15. Xử lý dự án đầu tư xây dựng lưới điện đang triển khai đầu tư xây dựng nhưng chưa thực hiện thủ tục chấp thuận chủ trương đầu tư

1. Đối với dự án đầu tư xây dựng lưới điện thuộc diện chấp thuận chủ trương đầu tư, quyết định chủ trương đầu tư theo quy định của pháp luật đang triển khai đầu tư xây dựng nhưng chưa thực hiện thủ tục chấp thuận chủ trương đầu tư thì không phải thực hiện lại thủ tục chấp thuận chủ trương đầu tư.

2. Quyết định phê duyệt dự án đầu tư là căn cứ để thực hiện các thủ tục về đất đai, xây dựng và các thủ tục có liên quan theo quy định của pháp luật.

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét