Chương III
YÊU CẦU TƯƠNG TRỢ TƯ PHÁP VỀ HÌNH SỰ CỦA NƯỚC NGOÀI
Điều 27. Hồ sơ yêu cầu tương trợ tư pháp về hình sự của nước ngoài
1. Hồ sơ yêu cầu tương trợ tư pháp về hình sự của nước ngoài gửi Việt Nam bao gồm các tài liệu sau đây:
a) Văn bản yêu cầu tương trợ tư pháp về hình sự của nước ngoài quy định tại Điều 28 của Luật này;
b) Tài liệu khác (nếu có).
2. Hồ sơ yêu cầu tương trợ tư pháp về hình sự của nước ngoài được lập thành 03 bộ, trừ trường hợp có thỏa thuận khác. Ngôn ngữ được sử dụng để lập hồ sơ theo quy định tại Điều 8 của Luật này.
Điều 28. Văn bản yêu cầu tương trợ tư pháp về hình sự của nước ngoài
Văn bản yêu cầu tương trợ tư pháp về hình sự của nước ngoài gửi Việt Nam phải có các nội dung chính sau đây:
1. Tên cơ quan lập yêu cầu;
2. Căn cứ lập yêu cầu;
3. Tên, địa chỉ của cá nhân, tổ chức có liên quan đến yêu cầu;
4. Mục đích của yêu cầu;
5. Thông tin về vụ việc, vụ án hình sự, thi hành án; các tình tiết của vụ việc, vụ án hình sự, thi hành án liên quan đến Việt Nam; mối liên hệ giữa cá nhân, tổ chức có liên quan đến yêu cầu với nội dung vụ việc, vụ án hình sự, thi hành án; tiến độ giải quyết vụ việc, vụ án hình sự, thi hành án;
6. Quy định pháp luật của nước yêu cầu về tội danh và hình phạt có thể áp dụng;
7. Các nội dung yêu cầu Việt Nam tương trợ;
8. Thời hạn thông báo kết quả thực hiện yêu cầu (nếu có);
9. Yêu cầu bảo mật thông tin (nếu có).
Điều 29. Tiếp nhận hồ sơ yêu cầu tương trợ tư pháp về hình sự của nước ngoài
1. Trong thời hạn 10 ngày kể từ ngày nhận được hồ sơ yêu cầu của cơ quan có thẩm quyền của nước ngoài, Viện kiểm sát nhân dân tối cao vào sổ thụ lý, kiểm tra tính hợp lệ của hồ sơ yêu cầu. Trường hợp hồ sơ hợp lệ, Viện kiểm sát nhân dân tối cao chuyển hồ sơ cho cơ quan thực hiện yêu cầu để thực hiện. Trường hợp hồ sơ không hợp lệ, Viện kiểm sát nhân dân tối cao trả lại hồ sơ cho cơ quan có thẩm quyền của nước ngoài hoặc đề nghị bổ sung thông tin và nêu rõ lý do.
2. Trường hợp điều ước quốc tế giữa Việt Nam và nước ngoài quy định yêu cầu tương trợ tư pháp về hình sự có thể được lập bằng ngôn ngữ khác, nếu hồ sơ chưa được dịch ra tiếng Việt, Viện kiểm sát nhân dân tối cao tổ chức dịch hồ sơ ra tiếng Việt theo quy định của pháp luật. Trong thời hạn 10 ngày kể từ ngày nhận được bản dịch, Viện kiểm sát nhân dân tối cao xử lý hồ sơ theo quy định tại khoản 1 Điều này.
3. Trường hợp hồ sơ yêu cầu tương trợ tư pháp về hình sự được gửi qua các cơ quan khác thì trong thời hạn 05 ngày làm việc kể từ ngày nhận được hồ sơ yêu cầu, cơ quan nhận được hồ sơ có trách nhiệm chuyển hồ sơ cho Viện kiểm sát nhân dân tối cao.
4. Việc tiếp nhận, chuyển giao văn bản, tài liệu, hồ sơ có thể được tiến hành trên môi trường điện tử theo quy định của pháp luật.
Điều 30. Từ chối, hoãn thực hiện yêu cầu tương trợ tư pháp về hình sự của nước ngoài
1. Yêu cầu tương trợ tư pháp về hình sự của nước ngoài bị từ chối thực hiện khi thuộc một trong các trường hợp sau đây:
a) Theo quy định của điều ước quốc tế mà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên;
b) Vi phạm nguyên tắc quy định tại khoản 1 Điều 5 của Luật này;
c) Gây phương hại đến chủ quyền, an ninh quốc gia, lợi ích quốc gia, trật tự công cộng của Việt Nam;
d) Liên quan đến việc truy cứu trách nhiệm hình sự một người về hành vi phạm tội mà người đó đã bị kết án, được tuyên không có tội hoặc được đại xá, đặc xá tại Việt Nam;
đ) Liên quan đến hành vi phạm tội đã hết thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự theo quy định của pháp luật hình sự Việt Nam;
e) Có căn cứ cho rằng yêu cầu tương trợ tư pháp về hình sự nhằm truy cứu trách nhiệm hình sự một người vì lý do chủng tộc, tôn giáo, quốc tịch, nguồn gốc dân tộc, quan điểm chính trị của người đó hoặc vì những lý do này mà người đó có thể bị đối xử không công bằng trong quá trình truy cứu trách nhiệm hình sự.
2. Yêu cầu tương trợ tư pháp về hình sự của nước ngoài có thể bị từ chối thực hiện khi thuộc một trong các trường hợp sau đây:
a) Có hành vi vi phạm pháp luật nhưng không cấu thành tội phạm theo quy định của pháp luật hình sự Việt Nam;
b) Việc thực hiện yêu cầu vượt quá khả năng, điều kiện của các cơ quan thực hiện yêu cầu ở Việt Nam;
c) Yêu cầu đối với tội phạm có liên quan đến chính trị hoặc lĩnh vực quân sự theo quy định của điều ước quốc tế mà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên.
3. Yêu cầu tương trợ tư pháp về hình sự của nước ngoài có thể bị hoãn thực hiện tại Việt Nam nếu việc thực hiện cản trở quá trình khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử, thi hành án tại Việt Nam.
4. Khi quyết định từ chối hoặc hoãn thực hiện yêu cầu tương trợ tư pháp về hình sự theo quy định tại các khoản 1, 2 và 3 Điều này, Viện kiểm sát nhân dân tối cao thông báo cho cơ quan có thẩm quyền của nước ngoài và nêu rõ lý do.
Điều 31. Thực hiện yêu cầu tương trợ tư pháp về hình sự của nước ngoài
1. Cơ quan thực hiện yêu cầu ở Việt Nam bao gồm:
a) Cơ quan trung ương của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong tương trợ tư pháp về hình sự,
b) Cơ quan điều tra;
c) Viện kiểm sát;
d) Tòa án;
đ) Cơ quan thi hành án hình sự, cơ quan thi hành án dân sự;
e) Cơ quan khác theo quy định của pháp luật.
2. Sau khi thực hiện yêu cầu, cơ quan thực hiện yêu cầu quy định tại các điểm b, c, d, đ và e khoản 1 Điều này gửi kết quả thực hiện yêu cầu tương trợ tư pháp về hình sự cho Viện kiểm sát nhân dân tối cao. Trong thời hạn 05 ngày làm việc kể từ ngày nhận được kết quả, Viện kiểm sát nhân dân tối cao gửi kết quả cho cơ quan có thẩm quyền của nước ngoài theo quy định của điều ước quốc tế mà Việt Nam và nước ngoài là thành viên hoặc thông qua kênh ngoại giao.
3. Trường hợp không thực hiện được yêu cầu tương trợ tư pháp về hình sự hoặc cần bổ sung thông tin, tài liệu, cơ quan thực hiện yêu cầu thông báo bằng văn bản cho Viện kiểm sát nhân dân tối cao và nêu rõ lý do để Viện kiểm sát nhân dân tối cao thông báo cho cơ quan có thẩm quyền của nước ngoài.
4. Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao chủ trì, phối hợp với Chánh án Tòa án nhân dân tối cao, Bộ trưởng Bộ Công an, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng, Bộ trưởng Bộ Tư pháp và Bộ trưởng Bộ Ngoại giao quy định chi tiết khoản 1 Điều này.
Điều 32. Thực hiện yêu cầu về tống đạt, giao, gửi giấy triệu tập
1. Trường hợp triệu tập người làm chứng, người giám định hoặc những người có liên quan khác đang có mặt tại Việt Nam sang nước yêu cầu, cơ quan có thẩm quyền của nước yêu cầu gửi văn bản yêu cầu kèm theo giấy triệu tập (nếu có) cho Viện kiểm sát nhân dân tối cao chậm nhất là 90 ngày trước ngày người đó phải có mặt tại nước yêu cầu. Trong trường hợp khẩn cấp, Viện kiểm sát nhân dân tối cao có thể không áp dụng thời hạn này.
2. Viện kiểm sát nhân dân tối cao chuyển yêu cầu cho cơ quan thực hiện yêu cầu khi có đủ các điều kiện sau đây:
a) Yêu cầu có liên quan đến vụ việc, vụ án hình sự, thi hành án ở nước yêu cầu;
b) Có căn cứ cho rằng người cần triệu tập đang có mặt tại Việt Nam.
3. Cơ quan thực hiện yêu cầu phải kịp thời thực hiện việc tống đạt, giao, gửi giấy triệu tập theo trình tự, thủ tục quy định của pháp luật về tố tụng hình sự hoặc theo đề nghị trong yêu cầu tương trợ tư pháp về hình sự. Sau khi tống đạt, giao, gửi giấy triệu tập, cơ quan thực hiện yêu cầu phải gửi ngay cho Viện kiểm sát nhân dân tối cao văn bản xác nhận đã tống đạt, giao, gửi hoặc nếu không tống đạt, giao, gửi được thì phải nêu rõ lý do để thông báo cho nước yêu cầu.
Điều 33. Thực hiện yêu cầu về lấy lời khai trực tuyến
1. Sau khi tiếp nhận yêu cầu về lấy lời khai trực tuyến, cơ quan thực hiện yêu cầu tiến hành xác minh thông tin và địa chỉ của người được đề nghị lấy lời khai trực tuyến; lấy ý kiến của người đó về việc đồng ý hoặc không đồng ý tham gia hoạt động lấy lời khai trực tuyến và thông báo các vấn đề khác có liên quan.
2. Cơ quan thực hiện yêu cầu thông báo ý kiến của người được đề nghị lấy lời khai trực tuyến cho Viện kiểm sát nhân dân tối cao để thông báo cho nước yêu cầu.
3. Trường hợp người được đề nghị lấy lời khai trực tuyến đồng ý và yêu cầu tương trợ tư pháp về hình sự đáp ứng các điều kiện của Việt Nam, thì Viện kiểm sát nhân dân tối cao thông báo cho nước yêu cầu và đề nghị nước yêu cầu cung cấp thông tin về thời gian, địa điểm tiến hành lấy lời khai; các khoản chi phí cho người được lấy lời khai; thành phần tham gia lấy lời khai tại điểm cầu của nước yêu cầu và các thông tin cần thiết khác.
Trường hợp người được đề nghị lấy lời khai trực tuyến không đồng ý hoặc đồng ý nhưng kèm theo điều kiện thì Viện kiểm sát nhân dân tối cao thông báo cho nước yêu cầu biết.
4. Trường hợp nước yêu cầu đáp ứng quy định tại khoản 3 Điều này, Viện kiểm sát nhân dân tối cao thông báo cho cơ quan thực hiện yêu cầu để triển khai thực hiện.
5. Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao chủ trì, phối hợp với Chánh án Tòa án nhân dân tối cao, Bộ trưởng Bộ Công an, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng, Bộ trưởng Bộ Tư pháp và Bộ trưởng Bộ Ngoại giao quy định chi tiết Điều này.
Điều 34. Thực hiện yêu cầu về tịch thu, trả lại, xử lý vật chứng, tài sản
1. Cơ quan có thẩm quyền của Việt Nam áp dụng các biện pháp tố tụng nhằm bảo đảm việc tịch thu, trả lại, xử lý vật chứng, tài sản liên quan đến hành vi phạm tội theo quy định của pháp luật về tố tụng hình sự và quy định khác của pháp luật có liên quan.
2. Trường hợp Việt Nam và nước ngoài cùng là thành viên của điều ước quốc tế về tương trợ tư pháp về hình sự, việc trả lại tài sản bị tịch thu được thực hiện theo quy định của điều ước quốc tế. Trường hợp Việt Nam và nước ngoài không cùng là thành viên của điều ước quốc tế về tương trợ tư pháp về hình sự hoặc điều ước quốc tế mà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên không quy định, việc trả lại tài sản bị tịch thu được thực hiện theo thỏa thuận về chia sẻ tài sản giữa Việt Nam và nước ngoài.
3. Các chi phí phát sinh trong quá trình thực hiện yêu cầu tương trợ tư pháp về hình sự được khấu trừ trước khi tiến hành thỏa thuận về chia sẻ tài sản giữa Việt Nam và nước ngoài.
4. Khi áp dụng Điều này, các quyền và lợi ích hợp pháp của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan được tôn trọng và bảo vệ.
5. Viện kiểm sát nhân dân tối cao chủ trì, phối hợp với các cơ quan có liên quan xác định chi phí phát sinh và thỏa thuận về chia sẻ tài sản giữa Việt Nam và nước ngoài.
Điều 35. Tổ chức cho người ở Việt Nam sang nước ngoài để hỗ trợ điều tra, cung cấp chứng cứ
1. Theo đề nghị của cơ quan có thẩm quyền của nước ngoài, Viện kiểm sát nhân dân tối cao có thể tổ chức cho người không thuộc trường hợp quy định tại Điều 37 của Luật này sang nước ngoài để hỗ trợ điều tra, cung cấp chứng cứ. Khi xét thấy cần thiết, Viện kiểm sát nhân dân tối cao thông báo cho cơ quan có thẩm quyền của nước ngoài để tiếp tục áp dụng biện pháp hạn chế tự do đối với người đó.:
2. Sau khi xem xét các điều kiện mà cơ quan có thẩm quyền của nước ngoài cam kết bằng văn bản theo quy định tại Điều 11 của Luật này, cam kết bảo đảm an toàn về tính mạng, sức khỏe, điều kiện ăn ở, đi lại và các điều kiện cần thiết khác, Viện kiểm sát nhân dân tối cao phối hợp với cơ quan thực hiện yêu cầu đề nghị người quy định tại khoản 1 Điều này hỗ trợ điều tra hoặc cung cấp chứng cứ trên lãnh thổ của nước ngoài; thông báo cho người đó việc bảo đảm an toàn, điều kiện ăn ở, đi lại tại nước ngoài, số tiền trợ cấp hoặc chi phí có thể được hưởng và các thông tin liên quan khác.
3. Viện kiểm sát nhân dân tối cao thông báo ngay ý kiến của người đó cho cơ quan có thẩm quyền của nước ngoài. Nếu người đó có ý kiến đồng ý thì tiến hành các thủ tục cần thiết để tổ chức cho người đó sang nước ngoài hỗ trợ điều tra, cung cấp chứng cứ.
Điều 36. Tổ chức cho người có thẩm quyền của nước ngoài đến Việt Nam để có mặt trong quá trình thực hiện yêu cầu tương trợ tư pháp về hình sự
Trường hợp cơ quan có thẩm quyền của nước ngoài đề nghị Việt Nam cho phép người có thẩm quyền nêu trong yêu cầu tương trợ tư pháp về hình sự có mặt trong quá trình thực hiện yêu cầu ở Việt Nam, Viện kiểm sát nhân dân tối cao lấy ý kiến của cơ quan thực hiện yêu cầu; nếu đồng ý, Viện kiểm sát nhân dân tối cao thông báo cho cơ quan có thẩm quyền của nước ngoài về thời gian và địa điểm thực hiện yêu cầu tương trợ tư pháp về hình sự; nếu không đồng ý hoặc phát sinh tình huống có thể hoãn việc thực hiện yêu cầu tương trợ tư pháp về hình sự, Viện kiểm sát nhân dân tối cao thông báo cho cơ quan có thẩm quyền của nước ngoài và nêu rõ lý do.
Điều 37. Chuyển giao tạm thời người đang bị tạm giam hoặc đang chấp hành án phạt tù tại Việt Nam sang nước ngoài để hỗ trợ điều tra, cung cấp chứng cứ
1. Người đang bị tạm giam hoặc đang chấp hành án phạt tù tại Việt Nam có thể được chuyển giao tạm thời cho cơ quan có thẩm quyền của nước ngoài để hỗ trợ điều tra, cung cấp chứng cứ tại nước ngoài. Trong trường hợp này, Viện kiểm sát nhân dân tối cao thông báo cho cơ quan có thẩm quyền của nước ngoài để tiếp tục giam giữ người bị chuyển giao tạm thời.
2. Cơ quan có thẩm quyền của Việt Nam chỉ chuyển giao tạm thời người đang bị tạm giam, người đang chấp hành án phạt tù theo quy định tại khoản 1 Điều này khi đáp ứng đủ các điều kiện sau đây:
a) Người đó đồng ý với việc chuyển giao tạm thời để hỗ trợ điều tra, cung cấp chứng cứ tại nước ngoài;
b) Có cam kết bằng văn bản của cơ quan có thẩm quyền của nước ngoài về việc bảo đảm an toàn theo quy định tại Điều 11 của Luật này, bảo đảm an toàn về tính mạng, sức khỏe, điều kiện ăn ở, đi lại, thời hạn, phương thức tiếp nhận, trao trả và các điều kiện khác liên quan đến việc chuyển giao tạm thời. Việc trao trả lại người bị chuyển giao tạm thời cho cơ quan có thẩm quyền của Việt Nam phải được thực hiện theo đúng thời hạn đã cam kết
3. Thời gian mà người bị chuyển giao tạm thời bị áp giải, lưu lại ở nước ngoài được tính vào thời hạn tạm giam hoặc thời hạn chấp hành án phạt tù của người đó.
4. Khi thời hạn tạm giam hoặc thời hạn chấp hành án phạt tù đã hết hoặc khi xét thấy không cần phải tiếp tục giam giữ người bị chuyển giao tạm thời, Viện kiểm sát nhân dân tối cao thông báo cho cơ quan có thẩm quyền của nước ngoài để trả tự do và bảo đảm các điều kiện quy định tại khoản 2 Điều 35 của Luật này đối với người đó.
Trường hợp xét thấy cần thiết, Viện kiểm sát nhân dân tối cao thông báo cho cơ quan có thẩm quyền của nước ngoài để áp dụng biện pháp hạn chế tự do khác đối với người bị tạm giam đã được trả tự do quy định tại khoản này.
5. Khi thực hiện quy định tại khoản 1 Điều này, trình tự, thủ tục, thẩm quyền; quyết định, thi hành việc chuyển giao tạm thời được thực hiện tương tự quy định về 1 trích xuất, áp giải người đang bị tạm giam, người đang chấp hành án phạt tù theo quy định của pháp luật về tố tụng hình sự, thi hành tạm giữ, tạm giam, thi hành án hình sự và quy định khác của pháp luật có liên quan.
6. Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao chủ trì, phối hợp với Chánh án Tòa án nhân dân tối cao, Bộ trưởng Bộ Công an, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng, Bộ trưởng Bộ Tư pháp và Bộ trưởng Bộ Ngoại giao quy định chi tiết Điều này.
Điều 38. Xử lý yêu cầu của nước ngoài về truy cứu trách nhiệm hình sự
1. Khi nhận được hồ sơ yêu cầu của nước ngoài về việc tiếp tục truy cứu trách nhiệm hình sự đối với công dân Việt Nam phạm tội ở nước ngoài đang có mặt tại Việt Nam, Viện kiểm sát nhân dân tối cao kiểm tra tính hợp lệ của hồ sơ và xử lý như sau:
a) Chuyển cho Cơ quan điều tra Bộ Công an hoặc Cơ quan điều tra Bộ Quốc phòng để tiến hành điều tra theo thẩm quyền;
b) Chuyển cho Viện kiểm sát nhân dân cấp tỉnh nơi người bị đề nghị tiếp tục truy cứu trách nhiệm hình sự cư trú cuối cùng trước khi ra nước ngoài hoặc Viện kiểm sát quân sự cấp quân khu có thẩm quyền để tiếp tục truy cứu trách nhiệm hình sự hoặc để chuyển cho Cơ quan điều tra cùng cấp tiến hành điều tra theo thẩm quyền.
2. Việc điều tra, truy tố, xét xử đối với vụ án quy định tại khoản 1 Điều này được thực hiện theo quy định của pháp luật Việt Nam.
3. Trong quá trình xử lý yêu cầu của nước ngoài về việc tiếp tục truy cứu trách nhiệm hình sự, nếu cần có thêm thông tin, tài liệu từ nước ngoài, cơ quan thực hiện yêu cầu có văn bản gửi Viện kiểm sát nhân dân tối cao để đề nghị cơ quan có thẩm quyền của nước ngoài cung cấp bổ sung thông tin, tài liệu.
Điều 39. Kết thúc việc thực hiện yêu cầu tương trợ tư pháp về hình sự
1. Việc thực hiện yêu cầu tương trợ tư pháp về hình sự kết thúc trong các trường hợp sau đây:
a) Viện kiểm sát nhân dân tối cao thông báo kết quả thực hiện cho nước yêu cầu;
b) Viện kiểm sát nhân dân tối cao thông báo cho nước yêu cầu việc không thực hiện được yêu cầu tương trợ tư pháp về hình sự;
c) Nước yêu cầu thông báo kết thúc việc yêu cầu tương trợ tư pháp về hình sự.
2. Trường hợp quy định tại điểm c khoản 1 Điều này, Viện kiểm sát nhân dân tối cao thông báo cho cơ quan thực hiện yêu cầu để kết thúc việc thực hiện yêu cầu tương trợ tư pháp về hình sự.
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét