Chương IV
THI HÀNH ÁN TREO, ÁN PHẠT CẢNH CÁO,
CẢI TẠO KHÔNG GIAM GIỮ
Mục 1
THI HÀNH ÁN TREO
Điều 79. Quyết định thi hành án treo
1. Quyết định thi hành án treo phải ghi rõ họ tên, chức vụ người ra quyết định; bản án, quyết định được thi hành; tên cơ quan có nhiệm vụ thi hành; họ tên, ngày, tháng, năm sinh, nơi cư trú của người được hưởng án treo; mức hình phạt tù và thời gian thử thách của người được hưởng án treo; hình phạt bổ sung, trừ hình phạt bổ sung là hình phạt tiền; hậu quả của việc vi phạm nghĩa vụ trong thời gian thử thách theo quy định tại khoản 5 Điều 65 của Bộ luật Hình sự; Ủy ban nhân dân cấp xã, Công an cấp xã, đơn vị quân đội được giao quản lý, giám sát, giáo dục người được hưởng án treo.
2. Trong thời hạn 03 ngày làm việc kể từ ngày ra quyết định thi hành án treo, Tòa án phải gửi quyết định đó cho cá nhân, cơ quan sau đây:
a) Người được hưởng án treo và người đại diện trong trường hợp người được hưởng án treo là người dưới 18 tuổi;
b) Viện kiểm sát cùng cấp;
c) Cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp tỉnh nơi Ủy ban nhân dân cấp xã, Công an cấp xã được giao quản lý, giám sát, giáo dục người được hưởng án treo, cơ quan thi hành án hình sự cấp quân khu nơi người được hưởng án treo làm việc;
d) Ủy ban nhân dân cấp xã, Công an cấp xã, đơn vị quân đội được giao quản lý, giám sát, giáo dục người được hưởng án treo.
Điều 80. Thi hành quyết định thi hành án treo
1. Trong thời hạn 03 ngày làm việc kể từ ngày nhận được quyết định thi hành án treo, Công an cấp xã, cơ quan thi hành án hình sự cấp quân khu phải triệu tập người được hưởng án treo, người đại diện trong trường hợp người được hưởng án treo là người dưới 18 tuổi đến trụ sở Công an cấp xã nơi người đó cư trú, đơn vị quân đội nơi người đó làm việc để cam kết việc chấp hành án. Người được hưởng án treo, người đại diện của người được hưởng án treo phải có mặt theo giấy triệu tập, trừ trường hợp do tình trạng khẩn cấp, lý do bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan.
Trường hợp người được hưởng án treo không có mặt theo giấy triệu tập hoặc không cam kết thì Công an cấp xã, cơ quan thi hành án hình sự cấp quân khu lập biên bản vi phạm nghĩa vụ.
Trường hợp có căn cứ xác định người được hưởng án treo đã thay đổi nơi cư trú, không còn cư trú tại nơi chấp hành án thì Công an cấp xã báo cáo cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp tỉnh để thông báo cho Tòa án đã ra quyết định thi hành án để ủy thác thi hành án, trả lại ủy thác hoặc thông báo cho cơ quan thi hành án hình sự tổ chức thi hành án.
2. Trong thời hạn 03 ngày làm việc kể từ ngày nhận được quyết định thi hành án treo, cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp tỉnh, cơ quan thi hành án hình sự cấp quân khu lập hồ sơ thi hành án và bàn giao cho Công an cấp xã, đơn vị quân đội được giao quản lý, giám sát, giáo dục người được hưởng án treo.
3. Hồ sơ thi hành án bao gồm:
a) Bản án, quyết định của Tòa án có hiệu lực pháp luật;
b) Quyết định thi hành án treo;
c) Cam kết của người được hưởng án treo. Đối với người được hưởng án treo là người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi thì bản cam kết của người đó phải có xác nhận của người đại diện;
d) Bản nhận xét của Công an cấp xã, đơn vị quân đội được giao quản lý, giám sát, giáo dục về việc chấp hành nghĩa vụ của người được hưởng án treo;
đ) Bản tự nhận xét của người được hưởng án treo về việc thực hiện nghĩa vụ chấp hành pháp luật; trường hợp người được hưởng án treo bị kiểm điểm theo quy định tại Điều 86 của Luật này thì phải có bản kiểm điểm và biên bản cuộc họp kiểm điểm;
e) Trường hợp người được hưởng án treo được rút ngắn thời gian thử thách thì phải có quyết định của Tòa án;
g) Tài liệu khác có liên quan.
4. Trong thời gian thử thách, Công an cấp xã, đơn vị quân đội thực hiện các biện pháp quản lý, giám sát, giáo dục người chấp hành án, phòng ngừa người chấp hành án vi phạm nghĩa vụ, vi phạm pháp luật; hằng tháng, đánh giá, nhận xét và báo cáo cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp tỉnh, cơ quan thi hành án hình sự cấp quân khu kết quả quản lý, giám sát, giáo dục người chấp hành án.
5. 03 ngày trước khi hết thời gian thử thách hoặc kể từ ngày nhận được quyết định về rút ngắn hết thời gian thử thách còn lại, Công an cấp xã, đơn vị quân đội được giao quản lý, giám sát, giáo dục bàn giao hồ sơ thi hành án cho cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp tỉnh, cơ quan thi hành án hình sự cấp quân khu.
Vào ngày cuối cùng của thời gian thử thách hoặc ngày quyết định rút ngắn hết thời gian thử thách của Tòa án có hiệu lực pháp luật, cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp tỉnh, cơ quan thi hành án hình sự cấp quân khu phải cấp chứng nhận chấp hành xong thời gian thử thách. Chứng nhận phải gửi cho người được hưởng án treo. Ủy ban nhân dân cấp xã, Công an cấp xã, đơn vị quân đội được giao quản lý, giám sát, giáo dục, Tòa án đã ra quyết định thi hành án, Viện kiểm sát có thẩm quyền.
Trường hợp người chấp hành án treo bị khởi tố bị can hoặc đang bị đề nghị buộc chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo thì chưa cấp chứng nhận chấp hành xong thời gian thử thách. Ngay sau khi nhận được quyết định của cơ quan có thẩm quyền xác định người chấp hành án treo không vi phạm pháp luật hình sự hoặc không chấp nhận đề nghị buộc chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo thì thực hiện cấp chứng nhận chấp hành xong thời gian thử thách.
6. Trường hợp người được hưởng án treo chết, Công an cấp xã, đơn vị quân đội được giao quản lý, giám sát, giáo dục thông báo cho cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp tỉnh, cơ quan thi hành án hình sự cấp quân khu để thông báo cho Tòa án đã ra quyết định thi hành án.
Trong thời hạn 03 ngày làm việc kể từ ngày nhận được thông báo, Tòa án đã ra quyết định thi hành án phải ra quyết định đình chỉ thi hành án và gửi cho cơ quan quy định tại các điểm b, c và d khoản 2 Điều 79 của Luật này.
Điều 81. Nhiệm vụ, quyền hạn của Ủy ban nhân dân cấp xã, Công an cấp xã, đơn vị quân đội được giao quản lý, giám sát, giáo dục người được hưởng án treo
1. Ủy ban nhân dân cấp xã quản lý, giám sát, giáo dục người được hưởng án treo.
2. Công an cấp xã có nhiệm vụ trực tiếp giúp Ủy ban nhân dân cấp xã quản lý, giám sát, giáo dục người được hưởng án treo và có nhiệm vụ, quyền hạn sau đây:
a) Tiếp nhận hồ sơ, tổ chức quản lý, giám sát, giáo dục người được hưởng án treo; bàn giao hồ sơ cho cơ quan thi hành án hình sự có thẩm quyền theo quy định của Luật này;
b) Yêu cầu người được hưởng án treo thực hiện đầy đủ nghĩa vụ của mình; có biện pháp giáo dục, phòng ngừa khi người đó có dấu hiệu vi phạm pháp luật;
c) Biểu dương người được hưởng án treo có nhiều tiến bộ hoặc lập công;
d) Giải quyết cho người được hưởng án treo được vắng mặt hoặc thay đổi nơi cư trú theo quy định của Luật này và pháp luật về cư trú, được ra khỏi nơi cư trú để làm việc, học tập;
đ) Phối hợp với Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức thành viên, gia đình và cơ quan, tổ chức nơi người được hưởng án treo làm việc, học tập trong việc quản lý, giám sát, giáo dục người đó;
e) Báo cáo cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp tỉnh để đề nghị Tòa án có thẩm quyền xem xét, quyết định việc rút ngắn thời gian thử thách;
g) Báo cáo cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp tỉnh tiến hành trình tự, thủ tục đề nghị Tòa án có thẩm quyền quyết định buộc người được hưởng án treo vi phạm nghĩa vụ phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo theo quy định của Luật này;
h) Báo cáo cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp tỉnh khi người được hưởng án treo bỏ trốn;
i) Hằng tháng, nhận xét bằng văn bản về quá trình chấp hành án của người được hưởng án treo và lưu hồ sơ;
k) Báo cáo cơ quan thi hành án hình sự có thẩm quyền về kết quả thi hành án.
3. Trưởng Công an cấp xã có trách nhiệm báo cáo định kỳ hoặc theo yêu cầu của Ủy ban nhân dân cấp xã về việc thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn theo quy định tại khoản 2 Điều này.
4. Đơn vị quân đội được giao quản lý, giám sát, giáo dục người được hưởng án treo có nhiệm vụ, quyền hạn sau đây:
a) Nhiệm vụ, quyền hạn quy định tại các điểm a, b, c, i và k khoản 2 Điều này;
b) Phối hợp với Công an cấp xã giải quyết cho người được hưởng án treo được vắng mặt hoặc thay đổi nơi cư trú theo quy định của Luật này và pháp luật về cư trú;
c) Phối hợp với gia đình và Ủy ban nhân dân cấp xã, Công an cấp xã nơi người được hưởng án treo cư trú trong việc quản lý, giám sát, giáo dục người đó;
d) Báo cáo cơ quan thi hành án hình sự cấp quân khu đề nghị Tòa án quân sự khu vực xem xét, quyết định việc rút ngắn thời gian thử thách;
đ) Báo cáo cơ quan thi hành án hình sự cấp quân khu tiến hành trình tự, thủ tục đề nghị Tòa án có thẩm quyền quyết định buộc người được hưởng án treo vi phạm nghĩa vụ phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo theo quy định của Luật này;
e) Báo cáo cơ quan thi hành án hình sự cấp quân khu khi người được hưởng án treo bỏ trốn.
Điều 82. Nghĩa vụ của người được hưởng án treo
1. Có mặt theo giấy triệu tập và cam kết việc chấp hành án theo quy định tại khoản 1 Điều 80 của Luật này.
2. Thực hiện nghiêm chỉnh cam kết trong việc tuân thủ pháp luật, nghĩa vụ công dân, nội quy, quy chế của nơi cư trú, nơi làm việc, học tập; chấp hành đầy đủ hình phạt bổ sung, nghĩa vụ bồi thường thiệt hại, trừ trường hợp vì lý do khách quan được cơ quan nhà nước có thẩm quyền xác nhận.
3. Chấp hành sự quản lý, giám sát, giáo dục của Ủy ban nhân dân cấp xã, Công an cấp xã, đơn vị quân đội được giao quản lý, giám sát, giáo dục, cơ quan thi hành án hình sự cấp quân khu nơi cư trú, nơi làm việc; chỉ được cư trú trên địa giới hành chính cấp xã theo quyết định thi hành án của Tòa án có thẩm quyền, trừ trường hợp quy định tại Điều 87 và Điều 88 của Luật này.
4. Chấp hành quy định tại Điều 87 của Luật này.
5. Phải có mặt theo yêu cầu của Ủy ban nhân dân cấp xã, Công an cấp xã hoặc đơn vị quân đội được giao quản lý, giám sát, giáo dục, cơ quan thi hành án hình sự cấp quân khu.
6. Hằng tháng, phải báo cáo bằng văn bản với Công an cấp xã, đơn vị quân đội được giao quản lý, giám sát, giáo dục về tình hình chấp hành nghĩa vụ của mình. Trường hợp vắng mặt theo quy định tại khoản 1 Điều 87 của Luật này thì khi hết thời hạn vắng mặt, người được hưởng án treo phải báo cáo về tình hình chấp hành nghĩa vụ của mình.
Điều 83. Việc lao động, học tập của người được hưởng án treo
1. Người được hưởng án treo là cán bộ, công chức, viên chức, sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp, hạ sĩ quan, chiến sĩ, công nhân quốc phòng, công nhân công an, người lao động nếu được tiếp tục làm việc tại cơ quan, tổ chức thì được bố trí công việc bảo đảm yêu cầu quản lý, giám sát, giáo dục, được hưởng tiền lương và chế độ khác phù hợp với công việc mà họ đảm nhiệm, được tính vào thời gian công tác, thời gian tại ngũ theo quy định của pháp luật.
2. Người được hưởng án treo được cơ sở giáo dục phổ thông, giáo dục nghề nghiệp tiếp nhận học tập thì được hưởng quyền lợi theo quy chế của cơ sở đó.
3. Người được hưởng án treo không thuộc trường hợp quy định tại khoản 1 và khoản 2 Điều này thì được Ủy ban nhân dân cấp xã nơi người đó cư trú tạo điều kiện tìm việc làm.
4. Người được hưởng án treo thuộc đối tượng được hưởng chế độ ưu đãi người có công với cách mạng, người đang hưởng chế độ bảo hiểm xã hội thì thực hiện theo quy định của pháp luật.
Điều 84. Rút ngắn thời gian thử thách đối với người được hưởng án treo
1. Người được hưởng án treo được đề nghị rút ngắn thời gian thử thách khi có đủ các điều kiện sau đây:
a) Đã chấp hành được một phần hai thời gian thử thách;
b) Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo đã chấp hành nghiêm chỉnh pháp luật, các nghĩa vụ theo quy định tại Điều 82 của Luật này; tích cực học tập, lao động, sửa chữa lỗi lầm hoặc lập thành tích trong lao động, bảo vệ an ninh, trật tự được cơ quan nhà nước có thẩm quyền khen thưởng;
c) Có đơn đề nghị rút ngắn thời gian thử thách án treo.
2. Người được hưởng án treo chỉ được xét rút ngắn thời gian thử thách mỗi năm 01 lần, thời gian rút ngắn mỗi lần từ 01 tháng đến 01 năm. Trường hợp thời gian thử thách còn lại không quá 01 tháng thì có thể lượt rút ngắn hết thời gian thử thách còn lại. Người được hưởng án treo có thể được rút ngắn thời gian thử thách nhiều lần, nhưng phải bảo đảm thực tế đã chấp hành ba phần tư thời gian thử thách.
3. Trường hợp người được hưởng án treo lập công hoặc bị bệnh hiểm nghèo và có đủ các điều kiện quy định tại khoản 1 Điều này thì Tòa án có thể rút ngắn hết thời gian thử thách còn lại.
4. Trường hợp người được hưởng án treo đã được rút ngắn thời gian thử thách nhưng sau đó vi phạm nghĩa vụ quy định tại Điều 82 của Luật này và bị Tòa án quyết định buộc người đó phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo thì thời gian thử thách đã được rút ngắn không được tính để trừ vào thời gian chấp hành án phạt tù.
Điều 85. Thủ tục rút ngắn thời gian thử thách đối với người được hưởng án treo
1. Việc rút ngắn thời gian thử thách đối với người được hưởng án treo được thực hiện mỗi năm 03 đợt, vào dịp tết Dương lịch, ngày Chiến thắng và Quốc khánh.
2. Công an cấp xã, đơn vị quân đội được giao quản lý, giám sát, giáo dục người được hưởng án treo có trách nhiệm rà soát, lập danh sách những người đủ điều kiện rút ngắn thời gian thử thách, báo cáo cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp tỉnh, cơ quan thi hành án hình sự cấp quân khu kèm theo tài liệu có liên quan để đề nghị xét rút ngắn thời gian thử thách.
3. Trong thời hạn 05 ngày làm việc kể từ ngày nhận được báo cáo, cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp tỉnh, cơ quan thi hành án hình sự cấp quân khu lập hồ sơ và có văn bản đề nghị rút ngắn thời gian thử thách đối với người có đủ điều kiện gửi đến Tòa án và Viện kiểm sát có thẩm quyền. Trường hợp xét thấy không đủ điều kiện lập hồ sơ rút ngắn thời gian thử thách, cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp tỉnh, cơ quan thi hành án hình sự cấp quân khu có văn bản thông báo cho Công an cấp xã, đơn vị quân đội được giao quản lý, giám sát, giáo dục người được hưởng án treo.
4. Hồ sơ đề nghị rút ngắn thời gian thử thách bao gồm:
a) Văn bản đề nghị rút ngắn thời gian thử thách của cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp tỉnh, cơ quan thi hành án hình sự cấp quân khu;
b) Đơn đề nghị rút ngắn thời gian thử thách của người được hưởng án treo;
c) Bản sao bản án. Đối với trường hợp xét rút ngắn thời gian thử thách từ lần thứ hai thì bản sao bản án được thay bằng bản sao quyết định thi hành án treo;
d) Báo cáo đề nghị rút ngắn thời gian thử thách của Công an cấp xã, đơn vị quân đội được giao quản lý, giám sát, giáo dục người được hưởng án treo;
đ) Trường hợp người được hưởng án treo được khen thưởng hoặc lập công thì hồ sơ phải có quyết định khen thưởng hoặc giấy xác nhận của cơ quan có thẩm quyền; trường hợp người được hưởng án treo bị bệnh hiểm nghèo thì phải có kết luận hoặc xác nhận về tình trạng bệnh của cơ sở khám bệnh, chữa bệnh đang điều trị hoặc cơ sở khám bệnh, chữa bệnh cấp cơ bản trở lên;
e) Trường hợp người được hưởng án treo đã được rút ngắn thời gian thử thách thì phải có bản sao quyết định rút ngắn thời gian thử thách.
5. Trong thời hạn 02 ngày làm việc kể từ ngày nhận được hồ sơ đề nghị rút ngắn thời gian thử thách, Chánh án Tòa án nhân dân khu vực, Chánh án Tòa án quân sự khu vực nơi người được hưởng án treo cư trú, làm việc phân công 01 Thẩm phán chủ trì phiên họp để xét rút ngắn thời gian thử thách. Trong thời hạn 05 ngày làm việc kể từ ngày được phân công, Thẩm phán phải mở phiên họp và ra quyết định về việc rút ngắn thời gian thử thách; quyết định phải nêu rõ việc chấp nhận hoặc không chấp nhận rút ngắn thời gian thử thách đối với người được hưởng án treo.
Phiên họp phải có sự tham gia của Kiểm sát viên Viện kiểm sát cùng cấp. Trường hợp hồ sơ phải bổ sung theo yêu cầu của Tòa án thì thời hạn mở phiên họp được tính từ ngày nhận được hồ sơ bổ sung.
6. Trong thời hạn 03 ngày làm việc kể từ ngày ra quyết định, Tòa án phải gửi quyết định đó cho người chấp hành án, Viện kiểm sát cùng cấp, Viện kiểm sát cấp trên trực tiếp, cơ quan đề nghị rút ngắn thời gian thử thách, Tòa án đã ra quyết định cho hưởng án treo.
Điều 86. Việc kiểm điểm người được hưởng án treo
1. Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo thuộc một trong các trường hợp sau đây thì Công an cấp xã, đơn vị quân đội được giao giám sát tổ chức kiểm điểm:
a) Vi phạm nghĩa vụ quy định tại các khoản 2, 3, 4, 5 và 6 Điều 82 của Luật này và đã bị nhắc nhở bằng văn bản về việc vi phạm mà tiếp tục vi phạm;
b) Đã bị xử phạt vi phạm hành chính;
c) Thực hiện một trong các hành vi thuộc trường hợp bị áp dụng biện pháp giáo dục tại xã, phường, đặc khu theo quy định của pháp luật về xử lý vi phạm hành chính.
2. Việc kiểm điểm phải được lập thành biên bản, lưu hồ sơ và báo cáo cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp tỉnh, cơ quan thi hành án hình sự cấp quân khu.
Điều 87. Giải quyết việc vắng mặt tại nơi cư trú, thay đổi nơi cư trú hoặc nơi làm việc của người được hưởng án treo
1. Người được hưởng án treo có thể vắng mặt tại nơi cư trú nếu có lý do chính đáng và phải xin phép theo quy định tại khoản 2 Điều này, phải thực hiện khai báo tạm vắng theo quy định của pháp luật về cư trú. Thời gian vắng mặt tại nơi cư trú mỗi lần không quá 30 ngày và tổng số thời gian vắng mặt tại nơi cư trú không được vượt quá một phần ba thời gian thử thách, trừ trường hợp quy định tại Điều 88 của Luật này hoặc trường hợp người được hưởng án treo bị bệnh phải điều trị tại cơ sở khám bệnh, chữa bệnh theo chỉ định của bác sĩ và có xác nhận điều trị của cơ sở khám bệnh, chữa bệnh đó.
2. Người được hưởng án treo khi vắng mặt tại nơi cư trú phải có đơn xin phép và được sự đồng ý của Công an cấp xã, đơn vị quân đội được giao quản lý, giám sát, giáo dục; trường hợp không đồng ý thì Công an cấp xã, đơn vị quân đội phải trả lời bằng văn bản và nêu rõ lý do.
Trường hợp do tình trạng khẩn cấp, lý do bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan tại nơi cư trú, người được hưởng án treo phải có đơn xin phép ngay sau khi không còn lý do vắng mặt.
Người được hưởng án treo khi đến nơi cư trú mới phải trình báo với Công an cấp xã nơi mình đến tạm trú, lưu trú; hết thời hạn tạm trú, lưu trú phải có xác nhận của Công an cấp xã nơi tạm trú, lưu trú.
Trường hợp người được hưởng án treo vi phạm pháp luật, Công an cấp xã nơi người đó đến tạm trú, lưu trú phải thông báo cho Công an cấp xã, đơn vị quân đội được giao quản lý, giám sát, giáo dục kèm theo tài liệu có liên quan.
3. Việc giải quyết trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú hoặc nơi làm việc thực hiện theo quy định tại Điều 66 của Luật này.
4. Người được hưởng án treo bị tạm hoãn xuất cảnh trong thời gian thử thách.
Điều 88. Giải quyết trường hợp người được hưởng án treo có nguyện vọng làm việc, học tập ngoài nơi cư trú
1. Trường hợp người được hưởng án treo có nguyện vọng lựa chọn làm việc, học tập ngoài nơi cư trú thì phải xin phép và được sự đồng ý bằng văn bản của Công an cấp xã, đơn vị quân đội được giao quản lý, giám sát, giáo dục; trường hợp không đồng ý thì Công an cấp xã, đơn vị quân đội được giao quản lý, giám sát, giáo dục phải trả lời bằng văn bản và nêu rõ lý do.
2. Người được hưởng án treo có trách nhiệm báo cáo Công an cấp xã, đơn vị quân đội được giao quản lý, giám sát, giáo dục về kế hoạch lao động, hợp đồng lao động, chương trình học tập có xác nhận của cơ quan, tổ chức, cá nhân nơi người đó làm việc, học tập.
3. Trong thời hạn 03 ngày làm việc sau khi được Công an cấp xã, đơn vị quân đội được giao quản lý, giám sát, giáo dục đồng ý về việc cho người được hưởng án treo làm việc, học tập ngoài nơi cư trú thì người được hưởng án treo phải trình báo với Công an cấp xã nơi mình đến làm việc, học tập; khi kết thúc hợp đồng lao động, kết thúc học tập phải có xác nhận của Công an cấp xã tại nơi họ làm việc, học tập.
4. Công an cấp xã, đơn vị quân đội được giao quản lý, giám sát, giáo dục người được hưởng án treo phải thông báo cho cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp tỉnh, cơ quan thi hành án hình sự cấp quân khu về việc giải quyết cho người được hưởng án treo ra khỏi nơi cư trú để làm việc, học tập.
5. Người được hưởng án treo trong thời gian làm việc, học tập ngoài nơi cư trú phải chấp hành nghiêm chỉnh nghĩa vụ của mình.
Trường hợp người được hưởng án treo vi phạm pháp luật tại nơi làm việc, học tập, Công an cấp xã nơi người đó đến làm việc, học tập phải thông báo cho Công an cấp xã, đơn vị quân đội được giao quản lý, giám sát, giáo dục để phối hợp giải quyết.
Điều 89. Xử lý vi phạm đối với người được hưởng án treo
1. Trường hợp người được hưởng án treo vi phạm nghĩa vụ quy định tại khoản 1 Điều 82 của Luật này thì Công an cấp xã, đơn vị quân đội lập biên bản vi phạm, đồng thời yêu cầu người được hưởng án treo phải có mặt trong thời hạn 05 ngày kể từ ngày lập biên bản vi phạm. Hếu thời hạn này mà người được hưởng án treo vẫn không có mặt thì Công an cấp xã, đơn vị quân đội lập biên bản vi phạm và báo cáo cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp tỉnh, cơ quan thi hành án hình sự cấp quân khu đề nghị Tòa án nhân dân khu vực nơi người được hưởng án treo cư trú. Tòa án quân sự khu vực nơi người được hưởng án treo làm việc quyết định buộc người đó phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
2. Trong thời gian thử thách, nếu người được hưởng án treo đã bị kiểm điểm theo quy định tại Điều 86 của Luật này nhưng sau khi kiểm điểm vẫn tiếp tục vi phạm và đã được nhắc nhở bằng văn bản mà vẫn cố ý vi phạm thì Công an cấp xã, đơn vị quân đội báo cáo cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp tỉnh, cơ quan thi hành án hình sự cấp quân khu tiến hành trình tự, thủ tục đề nghị Tòa án có thẩm quyền quyết định buộc người đó phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
Trường hợp người được hưởng án treo bỏ đi khỏi nơi cư trú, nơi làm việc không xin phép, Công an cấp xã, đơn vị quân đội lập biên bản vi phạm nghĩa vụ, nhắc nhở bằng văn bản và triệu tập người được hưởng án treo đến làm việc nhưng họ vẫn không có mặt thì thực hiện kiểm điểm vắng mặt và lập biên bản kiểm điểm vắng mặt. Sau khi kiểm điểm, Công an cấp xã, đơn vị quân đội tiếp tục triệu tập người được hưởng án treo đến làm việc mà họ vẫn không có mặt thì lập biên bản và nhắc nhở bằng văn bản, tiếp tục triệu tập nhưng họ vẫn không có mặt thì Công an cấp xã, đơn vị quân đội lập biên bản xác nhận sự vắng mặt và báo cáo cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp tỉnh, cơ quan thi hành án hình sự cấp quân khu tiến hành trình tự, thủ tục đề nghị Tòa án có thẩm quyền quyết định buộc người đó phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
3. Trong thời hạn 05 ngày làm việc kể từ ngày nhận được báo cáo, cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp tỉnh, cơ quan thi hành án hình sự cấp quân khu lập hồ sơ đề nghị buộc chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo gửi Tòa án có thẩm quyền quy định tại khoản 1 Điều này để xem xét, quyết định, đồng thời gửi Viện kiểm sát cùng cấp với Tòa án. Hồ sơ bao gồm:
a) Văn bản đề nghị của cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp tỉnh hoặc cơ quan thi hành án hình sự cấp quân khu;
b) Báo cáo của Công an cấp xã hoặc của đơn vị quân đội được giao quản lý, giám sát, giáo dục người được hưởng án treo về việc người được hưởng án treo vi phạm nghĩa vụ từ 02 lần trở lên;
c) Biên bản người được hưởng án treo vi phạm nghĩa vụ;
d) Quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với người được hưởng án treo trong trường hợp người đó bị xử phạt vi phạm hành chính;
đ) Biên bản kiểm điểm người được hưởng án treo vi phạm nghĩa vụ;
e) Tài liệu khác có liên quan.
4. Trong thời hạn 02 ngày làm việc kể từ ngày nhận được hồ sơ đề nghị, Chánh án Tòa án nhân dân khu vực, Chánh án Tòa án quân sự khu vực nơi người được hưởng án treo cư trú hoặc làm việc phân công 01 Thẩm phán chủ trì phiên họp để xét buộc chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo. Trong thời hạn 07 ngày kể từ ngày được phân công, Thẩm phán phải mở phiên họp xét buộc chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo và ra quyết định về việc buộc chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo; quyết định phải nêu rõ việc chấp nhận hoặc không chấp nhận đề nghị buộc chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
Phiên họp có sự tham gia của Kiểm sát viên Viện kiểm sát cùng cấp. Trường hợp hồ sơ phải bổ sung theo yêu cầu của Tòa án thì thời hạn mở phiên họp được tính từ ngày nhận được hồ sơ bổ sung.
Trong thời hạn 03 ngày làm việc kể từ ngày ra quyết định về việc buộc chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo, Tòa án phải gửi quyết định cho cá nhân, cơ quan quy định tại khoản 2 Điều 79 của Luật này.
5. Trong thời hạn 03 ngày làm việc kể từ ngày quyết định của Tòa án có hiệu lực pháp luật, cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp tỉnh, cơ quan thi hành án hình sự cấp quân khu phải làm thủ tục đưa người bị buộc chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo đi chấp hành án phạt tù. Trường hợp người bị Tòa án quyết định chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo bỏ trốn thì cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp tỉnh, cơ quan thi hành án hình sự cấp quân khu ra quyết định truy nã và tổ chức truy bắt.
Trường hợp Tòa án không chấp nhận đề nghị buộc chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo thì cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp tỉnh, cơ quan thi hành án hình sự cấp quân khu lưu quyết định và các tài liệu có liên quan vào hồ sơ thi hành án treo và thông báo quyết định cho Công an cấp xã, đơn vị quân đội được giao quản lý, giám sát, giáo dục người được hưởng án treo để tiếp tục quản lý, giám sát, giáo dục.
6. Trường hợp người được hưởng án treo bị áp dụng các biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở giáo dục bắt buộc, trường giáo dưỡng, cơ sở cai nghiện bắt buộc thì Công an cấp xã phối hợp cơ quan đó để quản lý, giám sát, giáo dục họ.
7. Trường hợp người được hưởng án treo bị khởi tố bị can nhưng chưa bị tạm giam thì cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp tỉnh, cơ quan thi hành án hình sự cấp quân khu, Công an cấp xã, đơn vị quân đội phối hợp với cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng đang thụ lý vụ án để phục vụ việc quản lý, giám sát, giáo dục họ.
Điều 90. Trách nhiệm quản lý, giám sát, giáo dục của cơ quan, tổ chức và gia đình đối với người được hưởng án treo
1. Cơ quan, tổ chức có liên quan có trách nhiệm phối hợp với Ủy ban nhân dân cấp xã, Công an cấp xã, đơn vị quân đội trong việc quản lý, giám sát, giáo dục người được hưởng án treo.
2. Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức thành viên, lực lượng tham gia bảo vệ an ninh, trật tự ở cơ sở phân công người tham gia quản lý, giám sát, giáo dục người chấp hành án treo theo quyết định của Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã.
3. Gia đình người được hưởng án treo có trách nhiệm phối hợp trong việc quản lý, giám sát, giáo dục và thông báo kết quả chấp hành án của người được hưởng án treo cho Ủy ban nhân dân cấp xã, Công an cấp xã, đơn vị quân đội được giao quản lý, giám sát, giáo dục khi có yêu cầu; phải có mặt tại cuộc họp kiểm điểm người được hưởng án treo theo yêu cầu của Ủy ban nhân dân cấp xã, Công an cấp xã, đơn vị quân đội được giao quản lý, giám sát, giáo dục.
Mục 2
THI HÀNH ÁN PHẠT CẢNH CÁO
Điều 91. Thi hành án phạt cảnh cáo
1. Trong thời hạn 03 ngày làm việc kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật, Tòa án đã xét xử sơ thẩm phải gửi bản án cho người bị phạt cảnh cáo, cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp tỉnh, cơ quan thi hành án hình sự cấp quân khu, Ủy ban nhân dân cấp xã, Công an cấp xã, đơn vị quân đội nơi người bị phạt cảnh cáo cư trú hoặc làm việc.
2. Cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp tỉnh, cơ quan thi hành án hình sự cấp quân khu có trách nhiệm theo dõi, thống kê, báo cáo theo quy định của Luật này.
Mục 3
THI HÀNH ÁN PHẠT CẢI TẠO KHÔNG GIAM GIỮ
Điều 92. Quyết định thi hành án phạt cải tạo không giam giữ
1. Quyết định thi hành án phạt cải tạo không giam giữ phải ghi rõ họ tên, chức vụ người ra quyết định; bản án, quyết định được thi hành; họ tên, ngày, tháng, năm sinh, nơi cư trú của người chấp hành án; thời hạn chấp hành án phạt cải tạo không giam giữ; hình phạt bổ sung, trừ hình phạt bổ sung là hình phạt tiền; nơi chấp hành án, tên cơ quan có nhiệm vụ thi hành; Ủy ban nhân dân cấp xã, Công an cấp xã, đơn vị quân đội được giao quản lý, giám sát, giáo dục người chấp hành án.
2. Trong thời hạn 03 ngày làm việc kể từ ngày ra quyết định thi hành án phạt cải tạo không giam giữ, Tòa án phải gửi quyết định đó cho cá nhân, cơ quan sau đây:
a) Người chấp hành án, người đại diện trong trường hợp người chấp hành án là người dưới 18 tuổi;
b) Viện kiểm sát cùng cấp;
c) Cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp tỉnh nơi Ủy ban nhân dân cấp xã, Công an cấp xã được giao quản lý, giám sát, giáo dục người chấp hành án, cơ quan thi hành án hình sự cấp quân khu nơi người chấp hành án làm việc;
d) Ủy ban nhân dân cấp xã, Công an cấp xã, đơn vị quân đội được giao quản lý, giám sát, giáo dục người chấp hành án.
Điều 93. Thi hành quyết định thi hành án phạt cải tạo không giam giữ
1. Trong thời hạn 03 ngày làm việc kể từ ngày nhận được quyết định thi hành án phạt cải tạo không giam giữ, Công an cấp xã, cơ quan thi hành án hình sự cấp quân khu phải triệu tập người chấp hành án, người đại diện trong trường hợp người chấp hành án là người dưới 18 tuổi đến trụ sở Công an cấp xã nơi người đó cư trú, đơn vị quân đội nơi người đó làm việc để cam kết việc chấp hành án. Người chấp hành án, người đại diện của người chấp hành án phải có mặt theo giấy triệu tập, trừ trường hợp do tình trạng khẩn cấp, lý do bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan.
Trường hợp người chấp hành án không có mặt theo giấy triệu tập hoặc không cam kết thì Công an cấp xã, cơ quan thi hành án hình sự cấp quân khu lập biên bản vi phạm nghĩa vụ.
2. Trong thời hạn 03 ngày làm việc kể từ ngày nhận được quyết định thi hành án, cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp tỉnh, cơ quan thi hành án hình sự cấp quân khu lập hồ sơ thi hành án và bàn giao cho Công an cấp xã, đơn vị quân đội được giao quản lý, giám sát, giáo dục người chấp hành án. Hồ sơ bao gồm:
a) Bản án, quyết định của Tòa án có hiệu lực pháp luật;
b) Quyết định thi hành án;
c) Cam kết của người chấp hành án. Đối với người chấp hành án là người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi thì bản cam kết của người đó phải có xác nhận của người đại diện;
d) Bản nhận xét của Công an cấp xã, đơn vị quân đội được giao quản lý, giám sát, giáo dục về việc chấp hành nghĩa vụ của người chấp hành án;
d) Bản tự nhận xét việc thực hiện nghĩa vụ của người chấp hành án;
e) Trường hợp được giảm thời hạn chấp hành án, miễn chấp hành án phạt cải tạo không giam giữ thì phải có quyết định của Tòa án;
g) Tài liệu khác có liên quan.
3. Trong thời gian chấp hành án, Công an cấp xã, đơn vị quân đội được giao quản lý, giám sát, giáo dục thực hiện các biện pháp quản lý, giám sát, giáo dục người chấp hành án, phòng ngừa người chấp hành án vi phạm nghĩa vụ, vi phạm pháp luật; hằng tháng, đánh giá, nhận xét và báo cáo cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp tỉnh, cơ quan thi hành án hình sự cấp quân khu kết quả quản lý, giám sát, giáo dục người chấp hành án.
4. 03 ngày trước khi hết thời hạn chấp hành án hoặc kể từ ngày nhận được quyết định miễn, giảm hết thời hạn chấp hành án, Công an cấp xã, đơn vị quân đội được giao quản lý, giám sát, giáo dục bàn giao hồ sơ thi hành án cho cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp tỉnh, cơ quan thi hành án hình sự cấp quân khu.
Vào ngày cuối cùng của thời hạn chấp hành án phạt cải tạo không giam giữ hoặc ngày quyết định miễn, giảm hết thời hạn chấp hành án có hiệu lực, cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp tỉnh, cơ quan thi hành án hình sự cấp quân khu phải cấp chứng nhận chấp hành xong án phạt cải tạo không giam giữ.
Chứng nhận phải gửi cho người chấp hành án, Ủy ban nhân dân cấp xã, Công an cấp xã, đơn vị quân đội được giao quản lý, giám sát, giáo dục, Tòa án đã ra quyết định thi hành án, Viện kiểm sát có thẩm quyền.
Trường hợp người chấp hành án bỏ đi khỏi địa phương chưa xác định nơi cư trú cụ thể hoặc đang bị cơ quan, người có thẩm quyền xử lý vì hành vi vi phạm pháp luật hình sự thì cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp tỉnh, cơ quan thi hành án hình sự cấp quân khu chưa cấp chứng nhận chấp hành xong án phạt cải tạo không giam giữ.
5. Trường hợp người chấp hành án chết, Công an cấp xã, đơn vị quân đội được giao quản lý, giám sát, giáo dục thông báo và bàn giao hồ sơ thi hành án cho cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp tỉnh, cơ quan thi hành án hình sự cấp quân khu để thông báo cho Tòa án đã ra quyết định thi hành án.
Trong thời hạn 03 ngày làm việc kể từ ngày nhận được thông báo, Tòa án đã ra quyết định thi hành án phải ra quyết định đình chỉ thi hành án và gửi cho cơ quan quy định tại các điểm b, c và d khoản 2 Điều 92 của Luật này.
Điều 94. Nhiệm vụ, quyền hạn của Ủy ban nhân dân cấp xã, Công an cấp xã, đơn vị quân đội được giao quản lý, giám sát, giáo dục người chấp hành án phạt cải tạo không giam giữ
1. Ủy ban nhân dân cấp xã quản lý, giám sát, giáo dục người chấp hành án phạt cải tạo không giam giữ.
2. Công an cấp xã có nhiệm vụ trực tiếp giúp Ủy ban nhân dân cấp xã quản lý, giám sát, giáo dục người chấp hành án phạt cải tạo không giam giữ và có nhiệm vụ, quyền hạn sau đây:
a) Tiếp nhận hồ sơ, tổ chức quản lý, giám sát, giáo dục người chấp hành án; bàn giao hồ sơ cho cơ quan thi hành án hình sự có thẩm quyền theo quy định của Luật này;
b) Yêu cầu người chấp hành án thực hiện đầy đủ nghĩa vụ của mình; có biện pháp giáo dục, phòng ngừa khi người đó có dấu hiệu vi phạm pháp luật;
c) Biểu dương người chấp hành án có nhiều tiến bộ hoặc lập công;
d) Giải quyết cho người chấp hành án được vắng mặt hoặc thay đổi nơi cư trú theo quy định của Luật này và pháp luật về cư trú; giải quyết trường hợp người chấp hành án ra khỏi nơi cư trú để làm việc, học tập;
đ) Phối hợp với Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức thành viên, gia đình và cơ quan, tổ chức nơi người chấp hành án làm việc, học tập trong việc quản lý, giám sát, giáo dục người đó;
e) Báo cáo cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp tỉnh để đề nghị Tòa án có thẩm quyền xem xét, quyết định giảm thời hạn chấp hành án, miễn chấp hành án;
g) Phối hợp với cơ quan thi hành án dân sự thực hiện khấu trừ một phần thu nhập của người chấp hành án theo quyết định của Tòa án để sung quỹ nhà nước;
h) Tổ chức giám sát người chấp hành án thực hiện một số công việc lao động phục vụ cộng đồng;
i) Đề nghị cơ quan, người có thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính hoặc xem xét, truy cứu trách nhiệm hình sự người chấp hành án trong trường hợp quy định tại khoản 3 Điều 102 của Luật này;
k)Hằng tháng, nhận xét bằng văn bản về quá trình chấp hành án của người chấp hành án và lưu hồ sơ;
l) Báo cáo cơ quan thi hành án hình sự có thẩm quyền về kết quả thi hành án.
3. Trưởng Công an cấp xã có trách nhiệm báo cáo định kỳ hoặc theo yêu cầu của Ủy ban nhân dân cấp xã về việc thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn theo quy định tại khoản 2 Điều này.
4. Đơn vị quân đội được giao quản lý, giám sát, giáo dục người chấp hành án có nhiệm vụ, quyền hạn sau đây:
a) Nhiệm vụ, quyền hạn quy định tại các điểm a, b, c, g, i, k và l khoản 2 Điều này;
b) Phối hợp với Công an cấp xã giải quyết cho người chấp hành án được vắng mặt hoặc thay đổi nơi cư trú theo quy định của Luật này và pháp luật về cư trú;
c) Phối hợp với gia đình và Ủy ban nhân dân cấp xã, Công an cấp xã nơi người chấp hành án cư trú trong việc quản lý, giám sát, giáo dục người đó;
d) Báo cáo cơ quan thi hành án hình sự cấp quân khu để đề nghị Tòa án có thẩm quyền xem xét, quyết định giảm thời hạn chấp hành án, miễn chấp hành án.
Điều 95. Nghĩa vụ của người chấp hành án phạt cải tạo không giam giữ
1. Có mặt theo giấy triệu tập và cam kết việc chấp hành án theo quy định tại khoản 1 Điều 93 của Luật này.
2. Chấp hành nghiêm chỉnh cam kết tuân thủ pháp luật, thực hiện đầy đủ nghĩa vụ công dân, nội quy, quy chế của nơi cư trú, nơi làm việc; tích cực tham gia lao động, học tập; chấp hành đầy đủ nghĩa vụ bồi thường thiệt hại, các hình phạt bổ sung theo bản án của Tòa án.
3. Thực hiện nghĩa vụ nộp phần thu nhập bị khấu trừ; thực hiện một số công việc lao động phục vụ cộng đồng theo quy định của pháp luật.
4. Chấp hành sự quản lý, giám sát, giáo dục của Ủy ban nhân dân cấp xã, Công an cấp xã, đơn vị quân đội được giao quản lý, giám sát, giáo dục, cơ quan thi hành án hình sự cấp quân khu nơi cư trú, nơi làm việc; chỉ được cư trú trên địa giới hành chính cấp xã theo quyết định thi hành án của Tòa án có thẩm quyền, trừ trường hợp quy định tại Điều 96 và Điều 97 của Luật này.
5. Chấp hành quy định tại Điều 96 của Luật này.
6. Có mặt theo yêu cầu của Ủy ban nhân dân cấp xã, Công an cấp xã, đơn vị quân đội được giao quản lý, giám sát, giáo dục, cơ quan thi hành án hình sự cấp quân khu.
7. Hằng tháng, phải báo cáo bằng văn bản với Ủy ban nhân dân cấp xã, Công an cấp xã, đơn vị quân đội được giao quản lý, giám sát, giáo dục về tình hình chấp hành nghĩa vụ của mình. Trường hợp vắng mặt theo quy định tại khoản 1 Điều 96 của Luật này thì khi hết thời hạn vắng mặt, người chấp hành án phải báo cáo về tình hình chấp hành nghĩa vụ của mình.
Điều 96. Giải quyết việc vắng mặt tại nơi cư trú, thay đổi nơi cư trú hoặc nơi làm việc của người chấp hành án phạt cải tạo không giam giữ
1. Người chấp hành án có thể vắng mặt tại nơi cư trú nếu có lý do chính đáng và phải xin phép theo quy định tại khoản 2 Điều này, phải thực hiện khai báo tạm vắng theo quy định của pháp luật về cư trú.
Thời gian vắng mặt tại nơi cư trú mỗi lần không quá 30 ngày và tổng số thời gian vắng mặt tại nơi cư trú không được vượt quá một phần ba thời gian chấp hành án, trừ trường hợp quy định tại Điều 97 của Luật này hoặc trường hợp người chấp hành án bị bệnh phải điều trị tại cơ sở khám bệnh, chữa bệnh theo chỉ định của bác sĩ và có xác nhận điều trị của cơ sở khám bệnh, chữa bệnh đó.
2. Người chấp hành án khi vắng mặt tại nơi cư trú phải có đơn xin phép và được sự đồng ý của Công an cấp xã, đơn vị quân đội được giao quản lý, giám sát, giáo dục; trường hợp không đồng ý thì Công an cấp xã, đơn vị quân đội phải trả lời bằng văn bản và nêu rõ lý do.
Trường hợp do tình trạng khẩn cấp, lý do bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan mà vắng mặt tại nơi cư trú, người chấp hành án phạt cải tạo không giam giữ phải có đơn xin phép ngay sau khi không còn lý do vắng mặt.
Người chấp hành án khi đến nơi cư trú mới phải trình báo với Công an cấp xã nơi mình đến tạm trú, lưu trú; hết thời hạn tạm trú, lưu trú phải có xác nhận của Công an cấp xã nơi tạm trú, lưu trú.
Trường hợp người chấp hành án vi phạm pháp luật, Công an cấp xã nơi người đó đến lưu trú phải thông báo cho Công an cấp xã, đơn vị quân đội được giao quản lý, giám sát, giáo dục kèm theo tài liệu có liên quan.
3. Việc giải quyết trường hợp người chấp hành án thay đổi nơi cư trú hoặc nơi làm việc trong quân đội thực hiện theo quy định tại Điều 66 của Luật này.
4. Người chấp hành án bị tạm hoãn xuất cảnh trong thời gian chấp hành án.
Điều 97. Giải quyết trường hợp người chấp hành án phạt cải tạo không giam giữ có nguyện vọng làm việc, học tập ngoài nơi cư trú
1. Trường hợp người chấp hành án phạt cải tạo không giam giữ có nguyện vọng lựa chọn việc làm, học tập ngoài nơi cư trú thì phải xin phép và được sự đồng ý bằng văn bản của Công an cấp xã, đơn vị quân đội được giao quản lý, giám sát, giáo dục; trường hợp không đồng ý thì Công an cấp xã, đơn vị quân đội được giao quản lý, giám sát, giáo dục phải trả lời bằng văn bản và nêu rõ lý do.
2. Người chấp hành án phạt cải tạo không giam giữ có trách nhiệm báo cáo Công an cấp xã, đơn vị quân đội được giao quản lý, giám sát, giáo dục về kế hoạch lao động, hợp đồng lao động, chương trình học tập có xác nhận của cơ quan, tổ chức, cá nhân nơi người đó làm việc, học tập.
3. Trong thời hạn 03 ngày làm việc sau khi được Công an cấp xã, đơn vị quân đội được giao quản lý, giám sát, giáo dục đồng ý về việc cho người chấp hành án phạt cải tạo không giam giữ làm việc ngoài nơi cư trú thì người chấp hành án phạt cải tạo không giam giữ phải trình báo với Công an cấp xã nơi mình đến làm việc, học tập; khi kết thúc hợp đồng lao động, chương trình học tập phải có xác nhận của Công an cấp xã tại nơi mình làm việc, học tập.
4. Công an cấp xã, đơn vị quân đội được giao quản lý, giám sát, giáo dục người chấp hành án phạt cải tạo không giam giữ phải thông báo cho cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp tỉnh, cơ quan thi hành án hình sự cấp quân khu về việc giải quyết cho người chấp hành án phạt cải tạo không giam giữ đi khỏi nơi cư trú để làm việc, học tập.
5. Người chấp hành án phạt cải tạo không giam giữ trong thời gian làm việc, học tập ngoài nơi cư trú phải chấp hành nghiêm chỉnh nghĩa vụ của mình. Trường hợp người chấp hành án phạt cải tạo không giam giữ vi phạm pháp luật tại nơi làm việc, học tập, Công an cấp xã nơi người đó đến làm việc, học tập phải thông báo cho Công an cấp xã, đơn vị quân đội được giao quản lý, giám sát, giáo dục người này để phối hợp giải quyết.
Điều 98. Việc lao động, học tập của người chấp hành án phạt cải tạo không giam giữ
1. Người chấp hành án là cán bộ, công chức, viên chức, sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp, hạ sĩ quan, chiến sĩ, công nhân và viên chức quốc phòng, công nhân công an, người lao động nếu được tiếp tục làm việc tại cơ quan, tổ chức thì được bố trí công việc bảo đảm yêu cầu quản lý, giám sát, giáo dục, được hưởng tiền lương và chế độ khác phù hợp với công việc mà họ đảm nhiệm, được tính vào thời gian công tác, thời gian lại ngũ theo quy định của pháp luật.
2. Người chấp hành án được cơ sở giáo dục phổ thông, giáo dục nghề nghiệp tiếp nhận học tập thì được hưởng quyền lợi theo quy chế của cơ sở đó.
3. Người chấp hành án không thuộc trường hợp quy định tại khoản 1 và khoản 2 Điều này được Ủy ban nhân dân cấp xã nơi người đó chấp hành án tạo điều kiện tìm việc làm.
4. Người chấp hành án thuộc đối tượng được hưởng chế độ ưu đãi người có công với cách mạng, người đang hưởng chế độ bảo hiểm xã hội thì thực hiện theo quy định của pháp luật.
5. Người chấp hành án không có việc làm hoặc bị mất việc làm trong thời gian chấp hành án thì phải thực hiện một số công việc lao động phục vụ cộng đồng.
Trong thời hạn 03 ngày làm việc kể từ ngày người chấp hành án được xác định là không có việc làm hoặc bị mất việc làm, Công an cấp xã có trách nhiệm báo cáo Ủy ban nhân dân cấp xã. Trong thời hạn 03 ngày làm việc kể từ ngày nhận được báo cáo, Ủy ban nhân dân cấp xã phải xem xét, quyết định buộc người chấp hành án thực hiện một số công việc lao động phục vụ cộng đồng. Quyết định của Ủy ban nhân dân cấp xã phải nêu rõ loại công việc, thời gian lao động phục vụ cộng đồng dự kiến buộc người chấp hành án phải thực hiện. Công an cấp xã có trách nhiệm giám sát người chấp hành án thực hiện một số công việc lao động phục vụ cộng đồng.
Ngay sau khi người chấp hành án có việc làm, Công an cấp xã báo cáo Ủy ban nhân dân cấp xã để ra quyết định chấm dứt việc lao động phục vụ cộng đồng.
Điều 99. Giảm thời hạn chấp hành án phạt cải tạo không giam giữ
1. Người chấp hành án có thể được giảm thời hạn chấp hành án khi có đủ các điều kiện sau đây:
a) Đã chấp hành được một phần ba thời hạn án phạt; đối với người dưới 18 tuổi thì phải chấp hành được một phần tư thời hạn án phạt;
b) Trong thời gian chấp hành án phạt cải tạo không giam giữ người chấp hành án đã chấp hành nghiêm chỉnh các nghĩa vụ theo quy định tại Điều 95 của Luật này; tích cực học tập, lao động, sửa chữa lỗi lầm hoặc lập thành tích trong lao động, bảo đảm an ninh, trật tự được cơ quan nhà nước có thẩm quyền khen thưởng;
c) Bồi thường được một phần nghĩa vụ dân sự trong trường hợp có nghĩa vụ dân sự;
d) Có đơn đề nghị giảm thời hạn chấp hành án phạt cải tạo không giam giữ.
2. Người chấp hành án mỗi năm có thể được xét giảm thời hạn chấp hành án 01 lần, mỗi lần có thể được giảm từ 03 tháng đến 09 tháng.
3. Người chấp hành án có thể được giảm thời hạn chấp hành án nhiều lần nhưng phải bảo đảm thời gian thực tế chấp hành án là một phần hai mức án, đối với người chấp hành án là người dưới 18 tuổi thì phải bảo đảm thời gian thực tế chấp hành án là hai phần năm mức án.
4. Người chấp hành án đã lập công, người đã quá già yếu hoặc người bị bệnh hiểm nghèo đã chấp hành được một phần tư thời hạn án phạt thì có thể được xét giảm thời hạn chấp hành án, mức giảm mỗi lần cao nhất là 01 năm nhưng phải bảo đảm thời gian thực tế chấp hành án là hai phần năm mức án.
5. Người chấp hành án là người dưới 18 tuổi nếu lập công hoặc bị bệnh hiểm nghèo thì được xét giảm ngay. Trường hợp đã chấp hành được hai phần năm mức án thì có thể được giảm hết thời hạn còn lại.
Điều 100. Thủ tục giảm thời hạn chấp hành án phạt cải tạo không giam giữ
1. Việc giảm thời hạn chấp hành án phạt cải tạo không giam giữ được thực hiện mỗi năm 03 đợt, vào dịp tết Dương lịch, ngày Chiến thắng và Quốc khánh.
2. Công an cấp xã, đơn vị quân đội được giao quản lý, giám sát, giáo dục người chấp hành án có trách nhiệm rà soát người đủ điều kiện giảm thời hạn chấp hành án, báo cáo cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp tỉnh, cơ quan thi hành án hình sự cấp quân khu kèm theo tài liệu có liên quan để đề nghị giảm thời hạn chấp hành án.
3. Trong thời hạn 07 ngày kể từ ngày nhận được báo cáo, cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp tỉnh, cơ quan thi hành án hình sự cấp quân khu lập hồ sơ và có văn bản đề nghị giảm thời hạn chấp hành án đối với người có đủ điều kiện gửi đến Tòa án và Viện kiểm sát có thẩm quyền. Trường hợp xét thấy không đủ điều kiện lập hồ sơ giảm thời hạn chấp hành án, cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp tỉnh, cơ quan thi hành án hình sự cấp quân khu có văn bản thông báo cho Công an cấp xã, đơn vị quân đội được giao quản lý, giám sát, giáo dục người chấp hành án.
4. Hồ sơ đề nghị giảm thời hạn chấp hành án bao gồm:
a) Văn bản của cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp tỉnh, cơ quan thi hành án hình sự cấp quân khu đề nghị giảm thời hạn chấp hành án phạt cải tạo không giam giữ:
b) Đơn đề nghị giảm thời hạn chấp hành án của người chấp hành án;
c) Bản sao bản án. Đối với trường hợp xét giảm thời hạn chấp hành án từ lần thứ hai thì bản sao bản án được thay bằng bản sao quyết định thi hành án;
d) Báo cáo đề nghị giảm thời hạn chấp hành án của Công an cấp xã, đơn vị quân đội được giao quản lý, giám sát, giáo dục người chấp hành án;
d) Trường hợp người chấp hành án được khen thưởng hoặc lập công thì hồ sơ phải có quyết định khen thưởng hoặc giấy xác nhận của cơ quan có thẩm quyền về việc người chấp hành án lập công; trường hợp bị bệnh hiểm nghèo thì phải có kết luận về tình trạng bệnh của cơ sở khám bệnh, chữa bệnh đang điều trị cho người chấp hành án, cơ sở khám bệnh, chữa bệnh cấp cơ bản trở lên; tài liệu thể hiện đã thực hiện được một phần nghĩa vụ dân sự;
e) Trường hợp người chấp hành án đã được giảm thời hạn chấp hành án thì phải có bản sao quyết định giảm thời hạn chấp hành án;
g) Tài liệu khác có liên quan.
5. Trong thời hạn 02 ngày làm việc kể từ ngày nhận được hồ sơ đề nghị giảm thời hạn chấp hành án, Chánh án Tòa án nhân dân khu vực, Chánh án Tòa án quân sự khu vực nơi người chấp hành án cư trú, làm việc phân công 01 Thẩm phán chủ trì phiên họp để xét giảm thời hạn chấp hành án phạt cải tạo không giam giữ. Trong thời hạn 05 ngày làm việc kể từ ngày được phân công, Thẩm phán phải mở phiên họp xét giảm thời hạn chấp hành án phạt cải tạo không giam giữ và ra quyết định về việc giảm thời hạn chấp hành án; quyết định phải nêu rõ việc chấp nhận hoặc không chấp nhận giảm thời hạn chấp hành án phạt cải tạo không giam giữ.
Phiên họp phải có sự tham gia của Kiểm sát viên Viện kiểm sát cùng cấp. Trường hợp hồ sơ phải bổ sung theo yêu cầu của Tòa án thì thời hạn mở phiên họp được tính từ ngày nhận được hồ sơ bổ sung.
6. Trong thời hạn 03 ngày làm việc kể từ ngày ra quyết định, Tòa án phải gửi quyết định đó cho người chấp hành án, Viện kiểm sát cùng cấp, Viện kiểm sát cấp trên trực tiếp, cơ quan đề nghị giảm thời hạn chấp hành án, Tòa án đã ra quyết định thi hành án.
Điều 101. Thủ tục miễn chấp hành án phạt cải tạo không giam giữ
1. Viện kiểm sát nhân dân khu vực, Viện kiểm sát quân sự khu vực nơi người chấp hành án đang cư trú, làm việc, tự mình hoặc theo đề nghị của cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp tỉnh, cơ quan thi hành án hình sự cấp quân khu xem xét, lập hồ sơ đề nghị Tòa án cùng cấp xét miễn chấp hành án. Hồ sơ bao gồm:
a) Bản sao bản án, quyết định của Tòa án có hiệu lực pháp luật;
b) Văn bản đề nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát;
c) Văn bản đề nghị của cơ quan thi hành án hình sự trong trường hợp cơ quan này đề nghị;
d) Đơn xin miễn chấp hành án của người bị kết án hoặc người đại diện theo quy định của pháp luật;
đ) Xác nhận của cơ quan có thẩm quyền về việc người bị kết án đã lập công; kết luận về tình trạng bệnh của cơ sở khám bệnh, chữa bệnh đang điều trị cho người chấp hành án hoặc cơ sở khám bệnh, chữa bệnh cấp cơ bản trở lên; xác nhận của cơ quan có thẩm quyền về việc người bị kết án chấp hành tốt pháp luật, có hoàn cảnh gia đình đặc biệt khó khăn.
2. Trong thời hạn 02 ngày làm việc kể từ ngày nhận được hồ sơ quy định tại khoản 1 Điều này, Chánh án Tòa án có thẩm quyền phân công 01 Thẩm phán chủ trì phiên họp để xét miễn chấp hành án phạt cải tạo không giam giữ. Trong thời hạn 07 ngày kể từ ngày được phân công, Thẩm phán phải mở phiên họp xét miễn chấp hành án phạt cải tạo không giam giữ và ra quyết định về việc miễn chấp hành án phạt cải tạo không giam giữ; quyết định phải nêu rõ việc chấp nhận hoặc không chấp nhận miễn chấp hành án phạt cải tạo không giam giữ.
Phiên họp phải có sự tham gia của Kiểm sát viên Viện kiểm sát cùng cấp. Trường hợp hồ sơ phải bổ sung theo yêu cầu của Tòa án thì thời hạn mở phiên họp được tính từ ngày nhận được hồ sơ bổ sung.
3. Trong thời hạn 03 ngày làm việc kể từ ngày ra quyết định về việc miễn chấp hành án phạt cải tạo không giam giữ, Tòa án phải gửi quyết định đó cho người bị kết án, Viện kiểm sát cùng cấp, Viện kiểm sát cấp trên trực tiếp, Tòa án đã ra quyết định thi hành án, Công an cấp xã, đơn vị quân đội được giao quản lý, giám sát, giáo dục người chấp hành án.
Điều 102. Xử lý vi phạm đối với người chấp hành án phạt cải tạo không giam giữ
1. Trường hợp người chấp hành án cố ý vi phạm nghĩa vụ quy định tại Điều 95 của Luật này thì Công an cấp xã, đơn vị quân đội lập biên bản về việc vi phạm.
2. Trường hợp đã lập biên bản về việc vi phạm nghĩa vụ 02 lần nhưng người chấp hành án vẫn tiếp tục vi phạm hoặc đã bị xử phạt vi phạm hành chính hoặc thực hiện một trong các hành vi thuộc trường hợp bị áp dụng biện pháp giáo dục tại xã, phường, đặc khu theo quy định của pháp luật về xử lý vi phạm hành chính thì Công an cấp xã tổ chức kiểm điểm người đó; trường hợp người chấp hành án do đơn vị quân đội quản lý, giám sát, giáo dục thì đơn vị quân đội tổ chức kiểm điểm người đó. Việc kiểm điểm phải được lập thành biên bản, lưu hồ sơ và báo cáo cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp tỉnh, cơ quan thi hành án hình sự cấp quân khu.
3. Người chấp hành án đã bị kiểm điểm nhưng tiếp tục cố ý không chấp hành nghĩa vụ hoặc tiếp tục bị xử phạt vi phạm hành chính hoặc tiếp tục thực hiện một trong các hành vi thuộc trường hợp bị áp dụng biện pháp giáo dục tại xã, phường, đặc khu theo quy định của pháp luật về xử lý vi phạm hành chính thì không được xem xét giảm thời hạn chấp hành án và Công an cấp xã, đơn vị quân đội được giao quản lý, giám sát, giáo dục báo cáo cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp tỉnh, cơ quan thi hành án hình sự cấp quân khu đề nghị Tòa án có thẩm quyền xử lý. Tùy theo tính chất, mức độ của hành vi vi phạm, Công an cấp xã, đơn vị quân đội được giao quản lý, giám sát, giáo dục đề nghị cơ quan, người có thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính hoặc xem xét truy cứu trách nhiệm hình sự.
4. Trường hợp người chấp hành án phạt cải tạo không giam giữ bị áp dụng các biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở giáo dục bắt buộc, trường giáo dưỡng, cơ sở cai nghiện bắt buộc thì Công an cấp xã phối hợp cơ quan đó để quản lý, giám sát, giáo dục họ.
5. Trường hợp người chấp hành án phạt cải tạo không giam giữ bị khởi tố bị can nhưng chưa bị tạm giam thì cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp tỉnh, cơ quan thi hành án hình sự cấp quân khu, Công an cấp xã, đơn vị quân đội phối hợp với cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng đang thụ lý vụ án để phục vụ việc quản lý, giám sát, giáo dục họ.
Điều 103. Trách nhiệm của cơ quan, tổ chức và gia đình đối với người chấp hành án phạt cải tạo không giam giữ
1. Cơ quan, tổ chức có liên quan có trách nhiệm phối hợp với Ủy ban nhân dân cấp xã, Công an cấp xã, đơn vị quân đội trong việc quản lý, giám sát, giáo dục người chấp hành án.
2. Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức thành viên, lực lượng tham gia bảo vệ an ninh, trật tự ở cơ sở phân công người tham gia quản lý, giám sát, giáo dục người chấp hành án theo quyết định của Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã.
3. Gia đình người chấp hành án có trách nhiệm phối hợp trong việc quản lý, giám sát, giáo dục và thông báo kết quả chấp hành án của người chấp hành án cho Ủy ban nhân dân cấp xã, Công an cấp xã được giao quản lý, giám sát, giáo dục khi có yêu cầu; phải có mặt tại cuộc họp kiểm điểm người chấp hành án theo yêu cầu của Ủy ban nhân dân cấp xã, Công an cấp xã, đơn vị quân đội được giao quản lý, giám sát, giáo dục.
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét