Chương IV
YÊU CẦU CỦA PHẦN MỀM CHUYÊN DỤNG
VÀ CƠ SỞ DỮ LIỆU HỒ SƠ VỤ ÁN
Điều 17. Yêu cầu của phần mềm chuyên dụng
Phần mềm chuyên dụng phải phù hợp với khung kiến trúc tổng thể, bảo đảm yêu cầu về pháp lý, kỹ thuật, nghiệp vụ và bảo mật theo quy định của pháp luật về dữ liệu, giao dịch điện tử, bảo đảm an toàn thông tin, an ninh mạng, lưu trữ, định danh điện tử như sau:
1. Các chức năng nghiệp vụ
a) Ký số, xác thực điện tử, thực hiện hình thức xác nhận khác không phải là chữ ký điện tử của người tham gia tố tụng:
Ký số đối với văn bản tố tụng, hồ sơ vụ án và tài liệu điện tử theo đúng định dạng, chuẩn ký số do cơ quan có thẩm quyền ban hành; cho phép kiểm tra chứng thư số, ghi nhận nhật ký điện tử về thời điểm ký, người ký, loại văn bản ký và xác thực chữ ký số tự động; có khả năng xác minh tính toàn vẹn dữ liệu bằng công cụ kiểm tra chữ ký số và mã băm.
Cho phép thực hiện hình thức xác nhận khác không phải là chữ ký điện tử của người tham gia tố tụng trong quá trình lập hồ sơ vụ án điện tử. Việc thực hiện phải bảo đảm xác thực danh tính chủ thể thực hiện, khả năng chống chối bỏ, tính toàn vẹn của dữ liệu;
b) Số hóa hồ sơ vụ án: Cho phép lập, quét, nhận dạng, lưu trữ, gắn mã số hồ sơ và định danh điện tử cho từng tài liệu trong hồ sơ vụ án (có chức năng hỗ trợ dữ liệu đa phương tiện: ảnh, video, âm thanh), gắn mã bút lục và dấu bút lục điện tử chống giả mạo; bảo đảm tính toàn vẹn, không bị chỉnh sửa, thay đổi hoặc thất lạc trong quá trình xử lý; có khả năng ghi nhận lịch sử thao tác trên hồ sơ, người thực hiện số hóa, người truy cập và các thay đổi để phục vụ kiểm tra, giám sát;
c) Quản lý hồ sơ vụ án điện tử: Cho phép sắp xếp, tìm kiếm, trích xuất, in ấn, sao lưu hồ sơ vụ án điện tử; theo dõi tiến độ từng giai đoạn của vụ án; tự động nhắc thời hạn tố tụng; bảo đảm khả năng đồng bộ với hồ sơ giấy (nếu có), đáp ứng yêu cầu thống kê, phân tích, đánh giá phục vụ chỉ đạo điều hành của cơ quan, người có thẩm quyền.
d) Cấp, gửi, chuyển, nhận, thông báo, thi hành văn bản tố tụng điện tử và hồ sơ vụ án điện tử: Cho phép thực hiện việc cấp, chuyển, gửi, nhận, thông báo, thi hành, xác nhận và theo dõi tình trạng văn bản, tài liệu, hồ sơ vụ án điện tử giữa các cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng giữa cơ quan tiến hành tố tụng với cơ quan thi hành tạm giữ, tạm giam và thi hành án hình sự thông qua cơ sở dữ liệu về hồ sơ vụ án và có biên bản điện tử ghi nhận việc cấp, chuyển, gửi, nhận, thông báo, thi hành;
đ) Lưu vết và giám sát hệ thống: Ghi nhận toàn bộ hoạt động truy cập, ký số, gửi, nhận, chỉnh sửa, đọc, sao chụp dữ liệu; bảo đảm khả năng kiểm tra, truy xuất và đối chiếu khi cần thiết;
e) Bảo đảm khả năng kết nối, liên thông
Có tính năng kết nối, liên thông, chia sẻ, đồng bộ dữ liệu với phần mềm chuyên dụng của các bộ, ngành; với phần mềm quản lý tạm giữ, tạm giam và thi hành án hình sự của Bộ Công an, Bộ Quốc phòng, khả năng liên kết, truy xuất tự động các thông tin cơ bản của người tham gia tố tụng từ Cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư; Trung tâm dữ liệu quốc gia; hệ thống lý lịch tư pháp, hộ tịch, cơ sở dữ liệu về thi hành tạm giữ, tạm giam và thi hành án hình sự để hỗ trợ tự động hóa quy trình tố tụng. Cho phép phần mềm quản lý, thi hành tạm giữ, tạm giam và thi hành án hình sự truy xuất tự động các thông tin cơ bản có liên quan từ phần mềm chuyên dụng để khởi tạo dữ liệu về người bị tạm giữ, tạm giam và người chấp hành án.
Đảm bảo khả năng kết nối, liên thông theo quy định tại Nghị định số 278/2025/NQ-CP ngày 22/10/2025 của Chính phủ về quy định về kết nối, chia sẻ dữ liệu bắt buộc giữa các cơ quan thuộc hệ thống chính trị;
g) Được thiết kế phần mềm theo kiến trúc mở, dễ tích hợp, có khả năng mở rộng tính năng trong tương lai.
2. Đáp ứng các yêu cầu kỹ thuật, an ninh, an toàn thông tin và bảo mật
a) Phần mềm chuyên dụng phải được sử dụng các giải pháp công nghệ hiện đại, phù hợp với hạ tầng kỹ thuật hiện có của từng bộ, ngành; ưu tiên tận dụng và nâng cấp phần mềm của các bộ, ngành được triển khai trên hạ tầng kỹ thuật đáp ứng yêu cầu an toàn hệ thống thông tin tối thiểu mức 4 theo quy định;
b) Hỗ trợ đa người dùng, phân quyền truy cập chi tiết theo thẩm quyền, giai đoạn tố tụng;
c) Có cơ chế xác thực người dùng đa lớp (định danh điện tử, OTP, sử dụng chứng thư chữ ký số);
d) Có khả năng sao lưu, phục hồi dữ liệu, bảo đảm hoạt động liên tục không gián đoạn;
đ) Bảo đảm tương thích với tiêu chuẩn kỹ thuật quốc gia về định dạng dữ liệu, chữ ký số, giao tiếp dịch vụ và kiến trúc Chính phủ số; tương thích với tiêu chuẩn kỹ thuật quốc gia về Khung kiến trúc tổng thể dữ liệu quốc gia số; Khung quản trị, quản lý dữ liệu quốc gia;
e) Có cơ chế giám sát, phát hiện, tự động thông báo, cảnh báo và báo cáo sự cố, tấn công mạng, khóa truy cập khi phát hiện truy cập trái phép hoặc vi phạm phân quyền, có khả năng ứng phó, khắc phục sự cố khi xảy ra mất an toàn thông tin; cảnh báo vi phạm thời hạn giao, nhận hoặc chưa được xác nhận việc nhận hồ sơ vụ án điện tử, văn bản tố tụng sử dụng chữ ký số;
g) Ghi nhận phản hồi của người dùng và trợ giúp trực tuyến từ phần mềm chuyên dụng;
h) Cập nhật bản vá lỗi kỹ thuật tự động.
3. Phần mềm chuyên dụng có thể được nâng cấp, bổ sung các chức năng nghiệp vụ và yêu cầu kỹ thuật, an ninh, an toàn thông tin, bảo mật cho phù hợp với tiến bộ khoa học kỹ thuật, đáp ứng yêu cầu thực tiễn.
4. Phần mềm chuyên dụng chỉ được đưa vào sử dụng chính thức khi được kiểm thử, nghiệm thu, kiểm tra, đánh giá điều kiện về chức năng nghiệp vụ, hiệu năng, an toàn, an ninh mạng, bảo mật; được cơ quan có thẩm quyền xác nhận đáp ứng yêu cầu quy định tại các khoản 1 và 2 Điều này và được giám sát, kiểm tra định kỳ, đột xuất trong quá trình vận hành.
Điều 18. Yêu cầu của cơ sở dữ liệu hồ sơ vụ án
1. Cơ sở dữ liệu hồ sơ vụ án được thiết kế theo khung quản trị, quản lý dữ liệu quốc gia, theo mô hình phân tán - kết nối tập trung, bảo đảm tính chủ động, bảo mật và liên thông giữa các bộ, ngành. Việc xây dựng cơ sở dữ liệu hồ sơ vụ án phải bảo đảm cấu trúc dữ liệu, chuẩn dữ liệu, chuẩn dữ liệu dùng chung, đáp ứng yêu cầu thống kê, phân tích, đánh giá phục vụ chỉ đạo điều hành của cơ quan, người có thẩm quyền, lưu trữ, chia sẻ, liên thông, giao, nhận tài liệu phù hợp với thực tế.
2. Mỗi bộ, ngành xây dựng, quản lý, sử dụng cơ sở dữ liệu hồ sơ vụ án riêng để lưu trữ, quản lý toàn bộ văn bản tố tụng, tài liệu, chứng cứ, dữ liệu điện tử được số hoá, ký số và quản lý thống nhất theo mã hồ sơ điện tử duy nhất cho mỗi vụ án theo cấu trúc dữ liệu, chuẩn dữ liệu, chuẩn dữ liệu dùng chung. Có cơ chế đồng bộ dữ liệu tự động hoặc bán tự động, bảo đảm khi một cơ quan lập, sửa đổi, bổ sung hồ sơ số hóa thì các cơ quan liên quan cập nhật tự động kịp thời.
3. Thực hiện kết nối cơ sở dữ liệu về hồ sơ vụ án của các bộ, ngành với cơ sở dữ liệu dùng chung đặt tại Trung tâm dữ liệu quốc gia, với cơ sở dữ liệu về thi hành tạm giữ, tạm giam và thi hành án hình sự, các cơ sở dữ liệu chuyên ngành khác và hệ thống thông tin thông qua nền tảng chia sẻ, điều phối dữ liệu bảo đảm tuân thủ tiêu chuẩn kỹ thuật, quy định về định danh, xác thực và mã hóa dữ liệu, ghi nhật ký giao dịch, báo diễn biến và tự động đồng bộ khi phát sinh thay đổi. Kết nối từ cấp cơ sở đến trung ương đảm bảo đường truyền riêng biệt, tốc độ cao, an toàn. Trang bị hệ thống sao lưu đa lớp định kỳ, phục hồi nhanh khi có sự cố, có lưu trữ dự phòng tài liệu tại Trung tâm dữ liệu của từng ngành.
4. Thiết lập cơ sở dữ liệu dùng chung đóng vai trò trung gian điều phối, quản lý danh mục và trạng thái các hồ sơ, quyết định, bản án được phép chia sẻ giữa các cơ quan. Cơ sở dữ liệu không lưu toàn bộ nội dung chi tiết hồ sơ, mà chỉ lưu thông tin định danh và bản ghi trạng thái, bảo đảm nguyên tắc chia sẻ có chọn lọc, đúng thẩm quyền, phục vụ việc đồng bộ, cảnh báo, nhắc việc tự động giữa các phần mềm của các cơ quan.
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét