|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỐI
CAO |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM |
|
Số: 326/TANDTC-PC |
Hà Nội, ngày 31
tháng 12 năm 2015 |
|
Kính gửi: |
- Các đồng chí Chánh án Tòa án nhân
dân và Tòa án quân sự các cấp; |
Ngày 27-11-2015, Quốc hội nước Cộng hòa
xã hội chủ nghĩa Việt Nam đã thông qua Bộ luật hình sự năm 2015 và Nghị quyết số109/2015/QH13 về việc thi hành Bộ luật hình sự năm 2015 (sau đây gọi tắt là Nghị
quyết số 109). Khoản 2 Điều 1 của Nghị quyết số 109 đã quy định
đường lối, chính sách xử lý đối với một số trường hợp cụ thể được áp dụng kể từ
ngày Bộ luật hình sự được công bố (ngày 18-12-2015). Để thi
hành đúng, kịp thời các quy định tại khoản 2 Điều 1 của Nghị quyết
số 109, Tòa án nhân dân tối cao đề nghị các đồng chí quán triệt và thực hiện
một số nội dung sau đây:
1. Kể từ ngày 18-12-2015, khi xét xử sơ thẩm, xét xử phúc thẩm, không áp dụng
hình phạt tử hình đối với người phạm tội mà Bộ luật hình sự năm 2015 đã bỏ
hình phạt tử hình, người đủ 75 tuổi trở lên khi phạm tội hoặc khi xét xử (không
phân biệt hành vi phạm tội được thực hiện trước hay sau ngày 18-12-2015).
2. Trường hợp hình phạt tử hình đã tuyên trước ngày 18-12-2015 đối với người
được nêu tại điểm a, điểm c khoản 2 Điều 1 của Nghị quyết số 109
và bản án đã có hiệu lực pháp luật, thì Chánh án Tòa án đã xét xử sơ thẩm
báo cáo ngay cho Chánh án Tòa án nhân dân tối cao để
Chánh án Tòa án nhân dân tối cao ra quyết định chuyển hình phạt tử hình thành
hình phạt tù chung thân đối với người bị kết án.
3. Kể từ ngày 18-12-2015, không xử lý về hình sự đối với người thực hiện một
trong các hành vi được quy định tại điểm d và đ khoản 2 Điều 1 của
Nghị quyết số 109. Trường hợp vụ án đang trong giai đoạn xét xử sơ thẩm hoặc
phúc thẩm, thì cần phân biệt như sau:
a) Trường hợp Viện kiểm sát có Công
văn rút lại hồ sơ để điều tra bổ sung làm rõ trách nhiệm hình sự của
bị can mà Tòa án cấp sơ thẩm xét thấy có căn cứ, thì Tòa án áp dụng điểm b khoản 2 Điều 176 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003 (kể
từ ngày 01-7-2016 thì áp dụng điểm b khoản 1 Điều 277 của Bộ luật
tố tụng hình sự năm 2015) ra quyết định trả hồ sơ cho Viện kiểm
sát;
b) Trường hợp Viện kiểm sát có Công
văn (hoặc Quyết định) rút quyết định truy tố và đề nghị Tòa án đình chỉ vụ án,
thì Thẩm phán được phân công làm chủ tọa phiên tòa xét xử vụ án đó
áp dụng điểm d hoặc điểm đ khoản 2 Điều 1 của Nghị quyết số 109
và Điều 181 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003 (kể từ ngày
01-7-2016 thì áp dụng Điều 285 của Bộ luật tố tụng hình sự năm
2015) ra quyết định đình chỉ vụ án;
c) Trường hợp Viện kiểm sát vẫn giữ
nguyên quyết định truy tố, thì Thẩm phán được phân công làm chủ tọa phiên tòa
(nếu trong thời hạn chuẩn bị xét xử) hoặc Hội đồng xét xử (nếu tại phiên tòa sơ
thẩm) áp dụng điểm d hoặc điểm đ khoản 2 Điều 1 của Nghị quyết
số 109, khoản 2 Điều 107 và Điều 180 của Bộ luật tố tụng
hình sự năm 2003 (kể từ ngày 01-7-2016 thì áp dụng khoản 2
Điều 157 và Điều 282 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015) ra quyết định
đình chỉ vụ án;
d) Trường hợp vụ án đang trong giai đoạn
xét xử phúc thẩm, thì Tòa án cấp phúc thẩm phải mở phiên tòa và Hội
đồng xét xử áp dụng điểm d hoặc điểm đ khoản 2 Điều 1 của Nghị
quyết số 109, khoản 2 Điều 107 và Điều 251 của Bộ luật tố tụng
hình sự năm 2003 (kể từ ngày 1-7-2016 thì áp dụng khoản 2
Điều 157 và Điều 359 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015) quyết định hủy bản
án sơ thẩm, tuyên bị cáo không có tội và đình chỉ vụ
án;
đ) Cần chú ý rằng việc đình chỉ vụ án
đối với các trường hợp được quy định tại điểm d và điểm đ khoản
2 Điều 1 của Nghị quyết số 109 về mặt hình sự, còn các vấn đề
khác như trách nhiệm bồi thường thiệt hại, xử lý vật chứng...
(kể cả việc xử lý hành chính, xử lý kỷ luật) hoặc xét xử về các
tội phạm khác, các bị cáo khác trong vụ án (nếu có), thì vẫn được giải quyết
theo thủ tục chung.
4. Việc miễn chấp hành hình phạt quy định tại điểm d và điểm
đ khoản 2 Điều 1 của Nghị quyết số 109 được thực hiện như sau:
a) Đối với người đang chấp hành hình
phạt tù, hình phạt cải tạo ở đơn vị kỷ luật của Quân đội,
thì Chánh án Tòa án nhân dân cấp tỉnh, Chánh án Tòa án quân
sự cấp quân khu nơi người bị kết án đang chấp hành hình phạt ra quyết định miễn
chấp hành phần hình phạt còn lại theo đề nghị của cơ quan thi hành án phạt tù
hoặc cơ quan thi hành hình phạt cải tạo ở đơn vị kỷ luật
của Quân đội;
b) Đối với người đang chấp hành hình
phạt cải tạo không giam giữ, thì Chánh án Tòa án nhân dân cấp huyện
nơi người đó chấp hành hình phạt ra quyết định miễn chấp hành phần hình phạt còn lại theo đề
nghị của cơ quan, tổ chức hoặc chính quyền địa phương được giao trách nhiệm trực
tiếp giám sát, giáo dục;
c) Đối với người đang chấp hành hình
phạt cấm cư trú hoặc quản chế, thì Chánh án Tòa án nhân dân cấp huyện, Chánh án
Tòa án quân sự khu vực nơi người đó chấp hành hình phạt ra quyết định miễn chấp
hành thời hạn cấm cư trú hoặc thời hạn quản chế còn lại theo đề nghị của chính
quyền địa phương nơi người đó chấp hành hình phạt;
d) Đối với người đang chấp hành hình
phạt cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định, tước một
số quyền công dân, thì Chánh án Tòa án nhân dân cấp huyện, Chánh án Tòa án quân sự khu vực
nơi người đó cư trú hoặc làm việc ra quyết định miễn chấp hành thời hạn cấm đảm
nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định, thời hạn tước một số
quyền công dân còn lại theo đề nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân cấp
huyện, Viện trưởng Viện kiểm sát quân sự khu vực nơi người đó cư trú hoặc làm việc;
đ) Đối với người bị xử phạt tù, xử phạt
cải tạo ở đơn vị kỷ luật của Quân đội đang được tạm đình chỉ chấp hành hình phạt,
đang được hoãn chấp hành hình phạt hoặc chưa chấp hành hình phạt, thì Chánh án
Tòa án nhân dân cấp tỉnh, Chánh án Tòa án quân sự cấp quân khu nơi
người đó cư trú hoặc làm việc ra quyết định miễn chấp hành phần hình phạt còn lại
hoặc miễn chấp hành toàn bộ hình phạt theo đề nghị của Viện trưởng Viện kiểm
sát nhân dân cấp tỉnh, Viện trưởng Viện kiểm sát quân sự cấp quân khu nơi người
đó cư trú hoặc làm việc;
e) Đối với người bị xử phạt bằng các
hình phạt khác đang được tạm đình chỉ chấp hành hình phạt, đang được hoãn chấp
hành hình phạt hoặc chưa chấp hành hình phạt, thì Chánh án Tòa án nhân dân cấp
huyện, Chánh án Tòa án quân sự khu vực nơi người đó cư trú hoặc làm
việc ra quyết định miễn chấp hành phần hình phạt còn lại hoặc miễn chấp hành
toàn bộ hình phạt theo đề nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân cấp huyện,
Viện trưởng Viện kiểm sát quân sự khu vực nơi người đó cư trú hoặc làm việc;
g) Khi xem xét, quyết định việc miễn
chấp hành hình phạt cần chú ý một số vấn đề sau đây:
g.1) Điểm d và điểm đ
khoản 2 Điều 1 của Nghị quyết số 109 chỉ quy định việc miễn chấp
hành hình phạt (cả hình phạt chính và hình phạt bổ sung), còn đối với các vấn đề khác đối với
họ, như trách nhiệm bồi thường thiệt hại, trả lại tài sản, xử lý vật chứng thì
họ vẫn phải thi hành;
g.2) Trường hợp một người bị kết án về
nhiều tội (trong cùng một bản án hoặc trong nhiều bản án), trong đó có tội mà Bộ
luật hình sự năm 2015 không quy định là tội phạm nữa, thì việc miễn chấp hành
hình phạt đối với tội này được thực hiện như sau:
- Nếu người bị kết án chưa chấp hành
hình phạt hoặc đang chấp hành hình phạt nhưng thời gian đã
chấp hành hình phạt chưa vượt quá mức hình phạt mà Tòa án đã xử phạt đối với tội
không thuộc trường hợp quy định tại điểm d và điểm đ khoản 2 Điều
1 của Nghị quyết số 109, thì họ được miễn chấp hành toàn bộ hình phạt đối với
tội mà Bộ luật hình sự năm 2015 không quy định là tội phạm nữa.
-
Nếu người bị kết án đã chấp hành một phần hình phạt hoặc đang chấp hành hình
phạt nhưng thời gian đã chấp hành hình phạt bằng hoặc vượt quá mức hình phạt mà
Tòa án đã xử phạt đối với tội không thuộc trường hợp quy định tại điểm d và điểm đ khoản 2 Điều 1 của Nghị quyết số 109, thì họ được miễn chấp hành phần hình phạt còn lại.
5. Khi đình chỉ vụ án cũng như miễn chấp hành hình phạt, thì Tòa án ra quyết
định đình chỉ hoặc quyết định miễn chấp hành hình phạt cần giải thích cho người
được đình chỉ vụ án hoặc được miễn chấp hành hình phạt biết là việc đình chỉ hoặc
miễn chấp hành hình phạt này là do chính sách hình sự mới nhân đạo của Nhà nước
ta, chứ không phải oan sai do cơ quan tiến hành tố tụng gây ra; do
đó, họ không có quyền đòi yêu cầu bồi thường thiệt hại theo quy định của Bộ luật
dân sự và theo Luật trách nhiệm bồi thường của nhà nước.
6. Đối với các đối tượng được quy định tại điểm d và điểm đ
khoản 2 Điều 1 của Nghị quyết số 109 mà đang bị truy nã, thì Tòa án đã ra
quyết định đình chỉ vụ án hoặc miễn chấp hành hình phạt đồng thời phải thông
báo cho cơ quan đã ra quyết định truy nã biết để cơ quan này ra quyết định đình
nã, nếu họ không bị truy nã về hành vi phạm tội khác.
7. Đối với người bị kết án thuộc trường hợp quy định tại điểm
d và điểm đ khoản 2 Điều 1 của Nghị quyết số 109 thì đương nhiên được xóa
án tích.
Tòa án nhân dân tối cao yêu cầu các đồng
chí Chánh án Tòa án nhân dân và Tòa án quân sự các cấp; Thủ trưởng các đơn vị
thuộc Tòa án nhân dân tối cao nhận được Công văn này cần tổ chức triển khai,
quán triệt trong cơ quan, đơn vị mình nhằm bảo đảm cho việc thi hành đúng và thống
nhất khoản 2 Điều 1 Nghị quyết số 109 của Quốc hội.
Trong quá trình thực hiện nếu có vấn đề
gì vướng mắc cần được giải thích, hướng dẫn bổ sung thì kịp thời phản ánh cho
Tòa án nhân dân tối cao để có sự giải thích, hướng dẫn bổ sung./.
|
Nơi nhận: |
KT.
CHÁNH ÁN |
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét