|
BỘ CÔNG AN |
CỘNG HÒA XÃ
HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM |
HƯỚNG DẪN
Về việc thực hiện bố trí Điều tra viên, Cán bộ điều tra ở Công an cấp
xã;
việc tiếp nhận, phân loại, xử lý tố giác, tin báo về tội phạm của Công
an cấp xã
______________________
Thực hiện Nghị quyết số
190/2025/QH15 ngày 19 tháng 02 năm 2025 của Quốc hội quy định về xử lý một số
vấn đề liên quan đến sắp xếp tổ chức bộ máy nhà nước và để nâng cao năng lực
đấu tranh phòng, chống tội phạm của Công an xã, phường, thị trấn (sau đây gọi
chung là Công an cấp xã), giải quyết ngay vụ việc khi mới phát sinh tại địa bàn
cơ sở, không để nảy sinh phức tạp, tạo nguồn bổ nhiệm, nâng cao năng lực Điều
tra viên bố trí ở các cấp khi không tổ chức Công an huyện, quận, thị xã, thành
phố thuộc tỉnh, thành phố thuộc thành phố trực thuộc trung ương, Bộ Công an ban
hành Hướng dẫn về việc thực hiện bố trí Điều tra viên, Cán bộ điều tra ở Công
an cấp xã; việc tiếp nhận, phân loại, xử lý tố giác, tin báo về tội phạm của
Công an cấp xã như sau:
Điều 1.
Điều tra viên bố trí ở Công an cấp xã
1. Bổ nhiệm chức danh
(hoặc bố trí) Điều tra viên thuộc Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh, thành
phố trực thuộc trung ương (sau đây gọi chung là Công an cấp tỉnh) đối với
Trưởng Công an cấp xã. Trường hợp Trưởng Công an cấp xã chưa đủ tiêu chuẩn bổ nhiệm
Điều tra viên thì bổ nhiệm chức danh (hoặc bố trí) Điều tra viên đối với Phó
Trưởng Công an cấp xã phụ trách về công tác phòng, chống tội phạm. Tiến tới bổ
nhiệm chức danh (hoặc bố trí) Điều tra viên thuộc Cơ quan Cảnh sát điều tra
Công an cấp tỉnh đối với Trưởng Công an cấp xã và Phó Trưởng Công an cấp xã phụ
trách về công tác phòng, chống tội phạm.
Ngoài Trưởng Công an cấp
xã, Phó Trưởng Công an cấp xã có thể bổ nhiệm chức danh (hoặc bố trí) Điều tra
viên thuộc Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an cấp tỉnh đối với cán bộ thuộc Tổ
Cảnh sát phòng, chống tội phạm hoặc cán bộ trực tiếp thực hiện nhiệm vụ kiểm
tra, xác minh sơ bộ tố giác, tin báo về tội phạm và phòng, chống tội phạm ở
Công an cấp xã.
2. Việc bổ nhiệm chức danh
Điều tra viên bố trí ở Công an cấp xã phải lựa chọn cán bộ đủ tiêu chuẩn, năng
lực. Việc bổ nhiệm phải thực chất, tránh tràn lan, chạy theo chỉ tiêu mà không
chú trọng đến việc bồi dưỡng, đào tạo đội ngũ Điều tra viên đủ trình độ, năng
lực, đáp ứng yêu cầu công tác điều tra. Không bổ nhiệm Điều tra viên đối với
cán bộ không có năng lực điều tra.
3. Điều tra viên bố trí ở
Công an cấp xã do Văn phòng Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an cấp tỉnh quản lý.
4. Giao Giám đốc Công an
cấp tỉnh căn cứ tình hình thực tế để bổ nhiệm số lượng Điều tra viên bố trí ở
Công an cấp xã cho phù hợp.
Điều 2.
Cán bộ điều tra bố trí ở Công an cấp xã
1. Bổ nhiệm chức danh
(hoặc bố trí) Cán bộ điều tra thuộc Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an cấp tỉnh
đối với cán bộ thuộc Tổ Cảnh sát phòng, chống tội phạm hoặc cán bộ trực tiếp
thực hiện nhiệm vụ kiểm tra, xác minh sơ bộ tố giác, tin báo về tội phạm và phòng,
chống tội phạm ở Công an cấp xã đủ tiêu chuẩn, năng lực bổ nhiệm Cán bộ điều
tra.
2. Cán bộ điều tra bố trí
ở Công an cấp xã do Văn phòng Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an cấp tỉnh quản
lý.
3. Giao Giám đốc Công an
cấp tỉnh căn cứ tình hình thực tế để bổ nhiệm số lượng Cán bộ điều tra bố trí ở
Công an cấp xã cho phù hợp.
Điều 3.
Chế độ chính sách đối với Điều tra viên, Cán bộ điều tra bố trí ở Công an cấp
xã
Điều tra viên, Cán bộ điều
tra thuộc Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an cấp tỉnh bố trí ở Công an cấp xã là
kiêm nhiệm, biên chế cán bộ thuộc Công an cấp xã. Để bảo đảm chế độ, chính sách
khi bổ nhiệm (hoặc bố trí) Điều tra viên, Cán bộ điều tra ở Công an cấp xã thì
vẫn giữ các chức danh, ngạch, bậc chức danh khác theo quy định của Bộ Công an
(như: Trinh sát viên, Cảnh sát viên...) và được hưởng chế độ, chính sách đối
với chức danh, ngạch, bậc chức danh cao nhất.
Điều 4.
Thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn của Điều tra viên khi bố trí ở Công an cấp xã
1. Thụ lý, giải quyết tố
giác, tin báo về tội phạm thuộc thẩm quyền thụ lý, giải quyết của Văn phòng Cơ
quan Cảnh sát điều tra Công an cấp tỉnh khi bảo đảm đủ các điều kiện sau:
a) Người bị tố giác có nơi
cư trú, lý lịch rõ ràng;
b) Về tội phạm ít nghiêm
trọng hoặc tội phạm nghiêm trọng;
c) Sự việc đơn giản, chứng
cứ rõ ràng;
d) Xảy ra trên địa bàn
thuộc Công an cấp xã quản lý.
2. Thụ lý điều tra vụ án
hình sự thuộc thẩm quyền điều tra của Văn phòng Cơ quan Cảnh sát điều tra Công
an cấp tỉnh đối với những trường hợp sau:
a) Vụ án hình sự được khởi
tố từ tố giác, tin báo về tội phạm mà Điều tra viên bố trí ở Công an cấp xã
được phân công thụ lý, giải quyết tại khoản 1 Điều này;
b) Vụ án hình sự bảo đảm
đủ các điều kiện sau:
- Đã rõ người thực hiện
hành vi phạm tội;
- Sự việc phạm tội đơn
giản, chứng cứ rõ ràng;
- Tội phạm đã thực hiện là
tội phạm ít nghiêm trọng hoặc nghiêm trọng;
- Người phạm tội có nơi cư
trú, lý lịch rõ ràng;
- Xảy ra trên địa bàn
thuộc Công an cấp xã quản lý.
3. Ngoài tố giác, tin báo
về tội phạm, vụ án hình sự tại khoản 1 và khoản 2 Điều này thì Thủ trưởng (hoặc
Phó Thủ trưởng được ủy quyền) Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an cấp tỉnh căn cứ
trình độ, năng lực, số lượng vụ án, vụ việc Điều tra viên bố trí ở Công an cấp
xã đang thụ lý, điều kiện công việc thực tế của Công an cấp xã, điều kiện địa
lý... để phân công Điều tra viên bố trí ở Công an cấp xã giải quyết tố giác,
tin báo về tội phạm, điều tra vụ án hình sự đã rõ người thực hiện hành vi phạm
tội thuộc thẩm quyền điều tra của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an cấp tỉnh
đối với tội phạm có mức cao nhất của khung hình phạt do Bộ luật Hình sự năm
2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) quy định đến 15 năm tù.
4. Tham gia thực hiện một
số hoạt động điều tra theo phân công của Thủ trưởng (hoặc Phó Thủ trưởng được
ủy quyền) Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an cấp tỉnh.
Điều 5.
Thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn của Cán bộ điều tra khi bố trí ở Công an cấp xã
Cán bộ điều tra bố trí ở
Công an cấp xã thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn và trách nhiệm quy định tại Điều 38 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm
2021) và Điều 59 Luật Tổ chức Cơ quan điều tra hình sự năm 2015
theo sự phân công của Điều tra viên bố trí ở Công an cấp xã.
Điều 6.
Tiếp nhận, phân loại, xử lý tố giác, tin báo về tội phạm của Công an cấp xã
Khi tiếp nhận tin về an
ninh, trật tự, Công an cấp xã phải đánh giá ngay nội dung thông tin tiếp nhận,
đối với tố giác, tin báo về tội phạm thì thực hiện việc tiếp nhận, phân loại,
xử lý theo quy định của pháp luật và Hướng dẫn này, cụ thể như sau:
1. Trường hợp tố giác, tin
báo về tội phạm thuộc trường hợp tại khoản 1 Điều 4 Hướng dẫn
này thì xử lý như sau:
a) Tố giác, tin báo về tội
phạm (phạm tội quả tang, người phạm tội đầu thú, tự thú, người dân đưa đối
tượng đến Công an cấp xã...) thuộc trường hợp có thể áp dụng ngay biện pháp
ngăn chặn tạm giữ hoặc giữ người trong trường hợp khẩn cấp, Công an cấp xã, Điều
tra viên bố trí ở Công an cấp xã tiến hành các bước tiếp nhận, giải quyết theo
quy định của pháp luật và của Hướng dẫn này; trong thời hạn 12 giờ kể từ khi
tiếp nhận tố giác, tin báo về tội phạm (hoặc 24 giờ đối với các xã ở vùng rừng
núi xa xôi, hẻo lánh, hải đảo, điều kiện đi lại khó khăn) phải báo cáo, đề xuất
Thủ trưởng Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an cấp tỉnh để phân công Điều tra
viên bố trí ở Công an cấp xã thụ lý, giải quyết. Trường hợp Công an cấp xã đề
xuất không phân công Điều tra viên bố trí ở Công an cấp xã thụ lý, giải quyết
thì phải nêu rõ lý do.
b) Tố giác, tin báo về tội
phạm không thuộc trường hợp tại điểm a khoản này, Công an cấp xã tiến hành tiếp
nhận, kiểm tra, xác minh sơ bộ theo quy định của pháp luật và của Hướng dẫn
này; báo cáo, đề xuất Thủ trưởng Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an cấp tỉnh
trong thời hạn 07 ngày (kể từ khi tiếp nhận tố giác, tin báo về tội phạm) để
phân công Điều tra viên bố trí ở Công an cấp xã thụ lý, giải quyết. Trường hợp
Công an cấp xã đề xuất không phân công Điều tra viên bố trí ở Công an cấp xã
thụ lý, giải quyết thì phải nêu rõ lý do.
2. Trường hợp người đang
bị truy nã, người phạm tội đến tự thú, đầu thú thì kiểm tra giấy tờ tùy thân
(nếu có), tiến hành lập biên bản tiếp nhận, ghi lời khai của người đến tự thú,
đầu thú; tạm giữ, thu giữ tài liệu, đồ vật, chứng cứ có liên quan đến hành vi
phạm tội, thu giữ vũ khí, hung khí (nếu có). Nếu thuộc trường hợp tại khoản 1
Điều này thì thực hiện theo khoản 1 Điều này, nếu không thuộc khoản 1 Điều này
thì báo ngay bằng hình thức liên lạc nhanh nhất cho đơn vị điều tra có thẩm
quyền thuộc Cơ quan điều tra Công an cấp tỉnh.
3. Trường hợp bắt người
đang bị truy nã thì tiến hành tước và thu giữ vũ khí, hung khí của người bị
bắt; thu giữ, tạm giữ đồ vật, tài liệu có liên quan; lập biên bản bắt, lấy lời
khai ban đầu; giải ngay người bị bắt hoặc báo ngay cho đơn vị điều tra có thẩm
quyền thuộc Cơ quan điều tra Công an cấp tỉnh.
Trường hợp tiếp nhận người
đang bị truy nã do các cá nhân, tổ chức khác giải đến thì tiến hành thu giữ vũ
khí, hung khí, kiểm tra giấy tờ tùy thân (nếu có); lập biên bản tiếp nhận, lấy
lời khai ban đầu; thu giữ, tạm giữ và bảo quản đồ vật, tài liệu có liên quan;
giải ngay người bị bắt hoặc báo ngay cho đơn vị điều tra có thẩm quyền thuộc Cơ
quan điều tra Công an cấp tỉnh.
4. Trường hợp phát hiện
bắt giữ người phạm tội quả tang (trừ trường hợp tại khoản 1 Điều này) thì Công
an cấp xã, Điều tra viên bố trí ở Công an cấp xã thực hiện biện pháp cấp bách
tại hiện trường phù hợp, sau đó tiến hành lập biên bản bắt người phạm tội quả
tang, tiến hành lấy lời khai của những người có liên quan và thực hiện các hoạt
động kiểm tra, xác minh sơ bộ ban đầu theo quy định của pháp luật; đồng thời
giải ngay người bị bắt hoặc báo ngay bằng hình thức liên lạc nhanh nhất cho đơn
vị điều tra có thẩm quyền thuộc Cơ quan điều tra Công an cấp tỉnh.
5. Trường hợp tiếp nhận
người phạm tội quả tang (trừ trường hợp tại khoản 1 Điều này) thì Công an cấp
xã, Điều tra viên bố trí ở Công an cấp xã tiến hành lập biên bản tiếp nhận
người bị bắt trong trường hợp phạm tội quả tang, tiến hành lấy lời khai của những
người có liên quan và thực hiện các hoạt động kiểm tra, xác minh sơ bộ ban đầu
theo quy định của pháp luật; đồng thời tổ chức lực lượng đến hiện trường, áp
dụng biện pháp cấp bách tại hiện trường phù hợp và giải ngay người bị bắt hoặc
báo ngay bằng hình thức liên lạc nhanh nhất cho đơn vị điều tra có thẩm quyền
thuộc Cơ quan điều tra Công an cấp tỉnh.
6. Trường hợp tiếp nhận tố
giác, tin báo về hành vi phạm tội đang diễn ra hoặc hành vi phạm tội diễn ra
vừa kết thúc xảy ra trên địa bàn mình (trừ trường hợp tại khoản 1 Điều này)
hoặc địa bàn giáp ranh thì khẩn trương tổ chức lực lượng đến hiện trường và
tiến hành biện pháp cấp bách tại hiện trường phù hợp. Đồng thời, thông báo ngay
bằng hình thức liên lạc nhanh nhất cho Công an cấp xã giáp ranh (trường hợp
hành vi phạm tội xảy ra trên địa bàn giáp ranh) và đơn vị điều tra có thẩm
quyền thuộc Cơ quan điều tra Công an cấp tỉnh.
7. Đối với tố giác, tin
báo về hành vi phạm tội rất nghiêm trọng, đặc biệt nghiêm trọng hoặc được dư
luận xã hội quan tâm, tố giác, tin báo về tội phạm đã rõ người thực hiện hành
vi phạm tội hoặc rõ người bị tố giác mà có căn cứ cho rằng người đó có thể bỏ
trốn, có căn cứ và cần thiết phải áp dụng các biện pháp ngăn chặn (trừ trường
hợp tại khoản 1 Điều này) thì Công an cấp xã tổ chức ngay lực lượng đến hiện
trường, thực hiện biện pháp cấp bách tại hiện trường phù hợp; đồng thời báo
ngay bằng các hình thức liên lạc nhanh nhất cho đơn vị điều tra có thẩm quyền
thuộc Cơ quan điều tra Công an cấp tỉnh. Sau đó, tiến hành lấy lời khai người
tố giác, báo tin về tội phạm, bị hại, người làm chứng, người bị tố giác và
những người có liên quan; xác minh, làm rõ nhân thân, lai lịch của người bị tố
giác, bị hại và những người có liên quan; phát hiện, thu giữ, tạm giữ đồ vật,
tài liệu có liên quan đến tố giác, tin báo về tội phạm.
8. Đối với tố giác, tin
báo về tội phạm không thuộc trường hợp tại các khoản từ 1 đến 7 Điều này thì
Công an cấp xã lập biên bản tiếp nhận tố giác, tin báo về tội phạm, lấy lời
khai của người tố giác, báo tin về tội phạm, bị hại, người làm chứng, người bị
tố giác và những người có liên quan; tiến hành kiểm tra, xác định nơi xảy ra vụ
việc, vẽ sơ đồ nơi xảy ra vụ việc, bảo vệ hiện trường; xác minh, làm rõ nhân
thân, lai lịch của người bị tố giác, bị hại và những người có liên quan; xác
minh sơ bộ thông tin về hậu quả thiệt hại; phát hiện, tạm giữ, bảo quản tài
liệu, đồ vật có liên quan đến hành vi có dấu hiệu tội phạm. Sau khi tiến hành
kiểm tra, xác minh sơ bộ ban đầu, nếu xác định tố giác, tin báo về tội phạm
thuộc khoản 1 Điều này thì thực hiện theo khoản 1 Điều này; nếu không thuộc
khoản 1 Điều này thì Công an cấp xã chuyển tố giác, tin báo về tội phạm (kèm
theo tài liệu, đồ vật có liên quan) hoặc báo cho đơn vị điều tra có thẩm quyền
thuộc Cơ quan điều tra Công an cấp tỉnh trong thời hạn không quá 07 ngày, kể từ
khi tiếp nhận.
9. Trường hợp khẩn cấp,
cấp bách, cần ngăn chặn ngay tội phạm hoặc cần tiến hành khám nghiệm hiện
trường, khám xét hoặc trưng cầu giám định ngay thì Công an cấp xã phải báo ngay
đến đơn vị điều tra có thẩm quyền thuộc Cơ quan điều tra Công an cấp tỉnh bằng
hình thức liên lạc nhanh nhất và thực hiện các biện pháp xử lý kịp thời theo
quy định của pháp luật và của Hướng dẫn này.
10. Biện pháp cấp bách tại
hiện trường bao gồm:
a) Ngăn chặn ngay hành vi
phạm tội đang xảy ra hoặc có thể tiếp tục xảy ra; bắt người phạm tội quả tang
hoặc truy bắt đối tượng thực hiện hành vi phạm tội theo dấu vết nóng; ngăn chặn
việc tiêu hủy tài liệu, chứng cứ, tẩu tán tang vật và những hậu quả khác có thể
xảy ra; cứu tài sản; đánh dấu các vị trí khoanh vùng hiện trường và cấp cứu
người bị nạn (đánh dấu vị trí và ghi nhận vị trí của người bị nạn khi tổ chức
cấp cứu); xác định nhân thân người bị nạn (thu thập giấy tờ tùy thân của người
bị nạn mang theo hoặc xác định bằng các hình thức khác), liên hệ, thông báo cho
gia đình hoặc người thân của họ;
b) Tổ chức bảo vệ hiện
trường;
c) Ổn định tình hình an
ninh, trật tự trong khu vực và trên địa bàn; ổn định tinh thần cho nạn nhân và
thân nhân nạn nhân;
d) Kiểm tra giấy tờ tùy
thân của người thực hiện hành vi vi phạm;
đ) Ghi lời khai (hoặc ghi
âm và các hình thức ghi nhận lời khai phù hợp khác) của những người có liên
quan đến vụ việc phạm tội đang trong tình trạng nguy hiểm đến tính mạng; lấy
lời khai đối tượng bị bắt giữ, người thực hiện hành vi vi phạm, người làm chứng,
bị hại, người có liên quan, người đại diện hợp pháp của bị hại (trường hợp bị
hại là trẻ em, người đang bị bệnh hiểm nghèo, có nhược điểm về thể chất, tâm
thần...), người đại diện hợp pháp hoặc người được ủy quyền của cơ quan, tổ chức
bị thiệt hại;
e) Tạm giữ, thu giữ vũ
khí, hung khí, chứng cứ, đồ vật, tài liệu có liên quan;
g) Tiến hành tra soát
camera.
11. Khi thực hiện các hoạt
động tại các khoản từ 1 đến 10 của Điều này, Công an cấp xã, Điều tra viên, Cán
bộ điều tra bố trí ở Công an cấp xã sử dụng biểu mẫu ban hành kèm theo Thông tư
số 119/2021/TT-BCA ngày 08/12/2021 của Bộ trưởng Bộ Công an quy định về biểu
mẫu, giấy tờ, sổ sách về điều tra hình sự.
Khi tiến hành thu giữ, tạm
giữ vũ khí, hung khí, chứng cứ, đồ vật, tài liệu thì Công an cấp xã, Điều tra
viên, Cán bộ điều tra bố trí ở Công an cấp xã phải lập biên bản thu giữ, tạm
giữ và bảo quản theo đúng quy định, không để mất mát, hư hỏng, biến dạng.
12. Trường hợp tiếp nhận
thông tin về các hành vi vi phạm khác, sau khi xác minh sơ bộ ban đầu nếu xác
định là vi phạm hành chính thì thực hiện theo quy định của pháp luật về xử lý
vi phạm hành chính.
1. Căn cứ tình hình thực
tế về bố trí lực lượng, điều kiện địa lý, số lượng vụ án, vụ việc thụ lý, giải
quyết... Giám đốc Công an cấp tỉnh ban hành Quy chế về công tác chỉ đạo, phối
hợp, thông tin báo cáo, hướng dẫn, kiểm tra, giám sát của Cơ quan điều tra Công
an cấp tỉnh, các đơn vị điều tra thuộc Công an cấp tỉnh đối với Công an cấp xã,
Điều tra viên, Cán bộ điều tra bố trí ở Công an cấp xã bảo đảm tính kịp thời,
rõ người, rõ việc, rõ trách nhiệm, không để xảy ra tình trạng đùn đẩy trách
nhiệm giữa các cá nhân, cơ quan, đơn vị; không để xảy ra sai phạm, phát sinh
tình huống phức tạp.
Quy chế phải phù hợp với
quy định của pháp luật và không trái với các quy định, hướng dẫn của Bộ Công
an.
2. Đối với tố giác, tin
báo về tội phạm, vụ án hình sự tại khoản 1 và khoản 2 Điều 4
Hướng dẫn này phải phân công cho Điều tra viên bố trí ở Công an cấp xã thụ
lý, giải quyết (trừ trường hợp quá tải về công việc), bảo đảm không để xảy ra
tình trạng không phân việc hoặc phân công hình thức. Có thể phân công Điều tra
viên có năng lực, kinh nghiệm ở các đơn vị điều tra thuộc Cơ quan Cảnh sát điều
tra Công an cấp tỉnh cùng thụ lý, giải quyết vụ việc, vụ án với Điều tra viên
bố trí ở Công an cấp xã, nhưng bảo đảm nguyên tắc Điều tra viên bố trí ở Công
an cấp xã thụ lý chính, trực tiếp quản lý hồ sơ vụ việc, vụ án; Điều tra viên ở
các đơn vị điều tra chủ yếu thực hiện việc hướng dẫn, kiểm tra, giám sát, không
làm thay.
3. Trong quá trình thực
hiện các nhiệm vụ, quyền hạn, nếu có khó khăn, vướng mắc phát sinh thì Công an
cấp xã, Điều tra viên, Cán bộ điều tra bố trí ở Công an cấp xã kịp thời báo cáo
Cơ quan điều tra Công an cấp tỉnh để có hướng dẫn, chỉ đạo.
1. Hướng dẫn này có hiệu
lực kể từ ngày 01 tháng 3 năm 2025.
Hướng dẫn số 10/HD-BCA-V03
ngày 10 tháng 4 năm 2024 của Bộ Công an về việc thực hiện bố trí Điều tra viên,
Cán bộ điều tra ở Công an cấp xã hết hiệu lực thi hành kể từ ngày 01 tháng 3
năm 2025.
2. Việc thực hiện bố trí
Điều tra viên, Cán bộ điều tra ở Công an cấp xã; việc tiếp nhận, phân loại, xử
lý tố giác, tin báo về tội phạm của Công an cấp xã được thực hiện theo Hướng
dẫn này và quy định của các văn bản quy phạm pháp luật đã ban hành trước ngày
Hướng dẫn này có hiệu lực mà không trái với Hướng dẫn này.
1. Giám đốc Công an cấp
tỉnh có trách nhiệm:
a) Xây dựng, ban hành Kế
hoạch triển khai thực hiện Hướng dẫn này;
b) Chủ động rà soát, báo
cáo cơ quan có thẩm quyền để bố trí nơi làm việc; thường xuyên đào tạo, bồi
dưỡng, cập nhật kiến thức pháp luật, nghiệp vụ; tăng cường công tác bồi dưỡng,
hướng dẫn thông qua hình thức “cầm tay, chỉ việc” để nâng cao trình độ, năng
lực của Điều tra viên, Cán bộ điều tra bố trí ở Công an cấp xã đáp ứng yêu cầu,
nhiệm vụ trong tình hình mới;
c) Rà soát đội ngũ cán bộ
để tổ chức, sắp xếp phù hợp với tình hình thực tế tại địa phương, bảo đảm mỗi
Công an cấp xã có ít nhất 01 Điều tra viên đủ năng lực độc lập thụ lý, giải
quyết tố giác, tin báo về tội phạm, điều tra vụ án hình sự tại khoản
1 và khoản 2 Điều 4 Hướng dẫn này;
d) Rà soát đội ngũ Điều
tra viên đã bố trí ở Công an cấp xã là Trưởng, Phó Trưởng Công an cấp xã để
đánh giá năng lực điều tra hình sự. Trường hợp không bảo đảm về năng lực điều
tra theo yêu cầu thì điều động sang vị trí công tác khác, lựa chọn Điều tra viên
có đủ tiêu chuẩn, phẩm chất, năng lực để thay thế.
2. C01 có trách nhiệm
hướng dẫn việc chấp hành pháp luật trong hoạt động điều tra hình sự và thực
hiện nhiệm vụ, quyền hạn của Điều tra viên, Cán bộ điều tra bố trí ở Công an
cấp xã.
3. V03 có trách nhiệm kiểm
tra, theo dõi, tập hợp chung về khó khăn, vướng mắc của Công an các đơn vị, địa
phương trong quá trình thực hiện để kịp thời tham mưu tháo gỡ khó khăn, vướng
mắc; định kỳ báo cáo lãnh đạo Bộ về kết quả thực hiện Hướng dẫn này.
Trên đây là Hướng dẫn của Bộ Công an, yêu cầu
Công an các đơn vị, địa phương nghiêm túc triển khai thực hiện. Quá trình triển
khai thực hiện khó khăn, vướng mắc thì kịp thời báo cáo về Bộ (qua V03) để có
hướng dẫn./.
|
Nơi nhận: |
BỘ TRƯỞNG |
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét