Điều 112. Quyền kháng nghị, kiến nghị của Viện kiểm sát nhân dân
1. Thẩm quyền kháng nghị, kiến nghị của Viện kiểm sát nhân dân thực hiện như sau:
a) Viện kiểm sát nhân dân khu vực có thẩm quyền kháng nghị, kiến nghị quyết định, hành vi của Thủ trưởng cơ quan thi hành án dân sự tỉnh, thành phố, Chấp hành viên trong việc thi hành án do Phòng Thi hành án dân sự khu vực tổ chức thi hành; quyết định, hành vi của Trưởng văn phòng thi hành án dân sự, Thừa hành viên và cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan trong phạm vi khu vực.
Viện kiểm sát nhân dân cấp tỉnh có thẩm quyền kháng nghị, kiến nghị quyết định, hành vi của Thủ trưởng cơ quan thi hành án dân sự tỉnh, thành phố, Chấp hành viên, Trưởng văn phòng thi hành án dân sự, Thừa hành viên và cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan trong địa bàn tỉnh, thành phố.
Viện kiểm sát nhân dân tối cao có thẩm quyền kháng nghị, kiến nghị quyết định, hành vi của Thủ trưởng cơ quan thi hành án dân sự tỉnh, thành phố, Chấp hành viên, Trưởng văn phòng thi hành án dân sự, Thừa hành viên và cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan trên phạm vi toàn quốc;
b) Viện kiểm sát quân sự trung ương, Viện kiểm sát quân sự cấp quân khu kháng nghị, kiến nghị quyết định, hành vi của Thủ trưởng, Chấp hành viên cơ quan thi hành án cấp quân khu trong việc thi hành án.
2. Thời hạn kháng nghị của Viện kiểm sát nhân dân khu vực, Viện kiểm sát quân sự cấp quân khu, Viện kiểm sát nhân dân cấp tỉnh đối với quyết định, hành vi trong việc thi hành án là 15 ngày; của Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Viện kiểm sát quân sự trung ương là 30 ngày kể từ ngày nhận được quyết định hoặc phát hiện hành vi vi phạm.
Trường hợp việc thi hành án đã kết thúc thì thời hạn kháng nghị là 01 năm kể từ ngày Viện kiểm sát nhân dân có thẩm quyền nhận được thông báo về kết thúc việc thi hành án.
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét