Điều 29. Thứ tự thanh toán tiền thi hành án
1. Trường hợp bản án, quyết định tuyên lãi chậm thi hành án thì khi thu được tiền, cơ quan thi hành án dân sự thanh toán số tiền được tuyên trong bản án, quyết định theo quyết định thi hành án trước, sau đó mới thanh toán tiền lãi chậm thi hành án theo yêu cầu tương ứng với thời gian chưa thi hành án, trừ trường hợp đương sự có thỏa thuận khác hoặc bản án, quyết định có nội dung khác.
2. Khi tính lãi chậm thi hành án chỉ tính lãi của số tiền còn phải thi hành theo quyết định thi hành án mà không tính lãi của số tiền lãi chưa trả.
Thời điểm bắt đầu tính lãi chậm thi hành án được thực hiện theo bản án, quyết định; trường hợp bản án, quyết định không xác định thì được tính từ ngày yêu cầu thi hành án theo quy định tại khoản 3 Điều 9 Nghị định này. Lãi chậm thi hành án được tính đến thời điểm cơ quan thi hành án dân sự thu được tiền; trường hợp bán tài sản hoặc giao tài sản cho người được thi hành án để trừ vào tiền thi hành án thì lãi chậm thi hành án được tính đến thời điểm giao tài sản cho người mua được tài sản hoặc người được thi hành án nhận tài sản để trừ vào tiền thi hành án.
3. Trường hợp có quyết định kê biên bổ sung theo quy định tại khoản 3 Điều 80 của Luật Thi hành án dân sự thì thời điểm để xác định thứ tự ưu tiên thanh toán là thời điểm có quyết định kê biên ban đầu.
Trường hợp người phải thi hành án thỏa thuận với người được thi hành án về việc giao tài sản cho người được thi hành án để trừ vào tiền thi hành án thì thời điểm để xác định thứ tự ưu tiên thanh toán là thời điểm có biên bản về việc giao tài sản quy định tại khoản 6 Điều 14 Nghị định này.
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét