Điều 32. Thẩm quyền thi hành án
1. Cơ quan thi hành án dân sự tỉnh, thành phố có thẩm quyền thi hành các bản án, quyết định sau đây:
a) Bản án, quyết định sơ thẩm của Tòa án nhân dân khu vực; bản án, quyết định sơ thẩm, phúc thẩm, giám đốc thẩm, tái thẩm của Tòa án nhân dân cấp tỉnh nơi cơ quan thi hành án dân sự có trụ sở;
b) Bản án, quyết định của Tòa Phúc thẩm Tòa án nhân dân tối cao đối với bản án, quyết định sơ thẩm của Tòa án nhân dân cấp tỉnh nơi cơ quan thi hành án dân sự có trụ sở;
c) Quyết định giám đốc thẩm, tái thẩm của Tòa án nhân dân tối cao đối với bản án, quyết định của Tòa án nhân dân cấp tỉnh nơi cơ quan thi hành án dân sự có trụ sở;
d) Quyết định giám đốc thẩm, tái thẩm của Tòa án nhân dân tối cao đối với bản án, quyết định của Tòa Phúc thẩm Tòa án nhân dân tối cao nơi Tòa án nhân dân cấp tỉnh đã xét xử sơ thẩm có trụ sở;
đ) Quyết định của Tòa án nhân dân tối cao chuyển giao cho cơ quan thi hành án dân sự tỉnh, thành phố;
e) Quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời, Quyết định công nhận kết quả hòa giải thành của Tòa án nơi cơ quan thi hành án dân sự có trụ sở;
g) Bản án, quyết định dân sự của Tòa án nước ngoài, phán quyết của Trọng tài nước ngoài được Tòa án nơi cơ quan thi hành án dân sự có trụ sở công nhận và cho thi hành tại Việt Nam;
h) Phán quyết trọng tài, quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời của Hội đồng trọng tài nơi cơ quan thi hành án dân sự có trụ sở;
i) Quyết định xử lý vụ việc cạnh tranh của Chủ tịch Ủy ban Cạnh tranh Quốc gia, Hội đồng xử lý vụ việc hạn chế cạnh tranh; quyết định giải quyết khiếu nại quyết định xử lý vụ việc cạnh tranh của Chủ tịch Ủy ban Cạnh tranh Quốc gia, Hội đồng giải quyết khiếu nại quyết định xử lý vụ việc cạnh tranh do cơ quan thi hành án dân sự nơi các cơ quan này có trụ sở thi hành;
k) Bản án, quyết định do cơ quan thi hành án dân sự nơi khác ủy thác;
l) Quyết định áp dụng biện pháp xử lý chuyển hướng bồi thường thiệt hại của Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát nhân dân, Tòa án nhân dân nơi cơ quan thi hành án dân sự có trụ sở;
m) Quyết định tuyên bố phá sản của Tòa án nhân dân khu vực nơi cơ quan thi hành án dân sự có trụ sở;
n) Bản án, quyết định khác theo quy định của pháp luật.
2. Phòng Nghiệp vụ và tổ chức thi hành án dân sự, Phòng Thi hành án dân sự khu vực tổ chức thi hành các bản án, quyết định quy định tại khoản 1 Điều này theo phân công của Thủ trưởng cơ quan thi hành án dân sự tỉnh, thành phố.
3. Cơ quan thi hành án cấp quân khu có thẩm quyền thi hành các bản án, quyết định sau đây:
a) Quyết định về hình phạt tiền, tịch thu tài sản, truy thu tiền, tài sản thu lợi bất chính, xử lý vật chứng, tài sản, án phí và quyết định dân sự trong bản án, quyết định hình sự của Tòa án quân sự quân khu và tương đương, Tòa án quân sự khu vực trên địa bàn;
b) Quyết định về hình phạt tiền, tịch thu tài sản, truy thu tiền, tài sản thu lợi bất chính, xử lý vật chứng, tài sản, án phí và quyết định dân sự trong bản án, quyết định hình sự của Tòa án quân sự trung ương chuyển giao cho cơ quan thi hành án cấp quân khu;
c) Quyết định dân sự của Tòa án nhân dân tối cao chuyển giao cho cơ quan thi hành án cấp quân khu;
d) Quyết định áp dụng biện pháp xử lý chuyển hướng bồi thường thiệt hại của Cơ quan điều tra trong quân đội nhân dân, Viện kiểm sát quân sự, Tòa án quân sự nơi cơ quan thi hành án cấp quân khu có trụ sở;
đ) Bản án, quyết định do cơ quan thi hành án dân sự nơi khác ủy thác;
e) Bản án, quyết định khác theo quy định của pháp luật.
_Xem toàn bộ văn bản>>>>【Luật số 106/2025/QH15 Thi hành án dân sự】
Điều 32
trong văn bản mới này có nhiều điểm đột phá và cải cách tư pháp rõ rệt mà bạn
có thể đưa vào bài nghiên cứu hoặc ôn tập của mình:
1. Thay đổi
về mặt mô hình tổ chức hệ thống cơ quan Thi hành án
- Sự xuất hiện của "Tòa án
nhân dân khu vực" và "Phòng Thi hành án dân sự khu vực": Điều này phản ánh đúng tinh thần
của Luật Tổ chức Tòa án nhân dân mới, thực hiện cải cách tư pháp bằng cách
tổ chức Tòa án và Cơ quan thi hành án theo thẩm quyền xét xử/thi hành (cấp
khu vực) chứ không còn gắn cứng hoàn toàn vào địa giới hành chính cấp huyện
như trước đây.
- Phân định rõ vai trò nội bộ (Khoản
2): Điều luật
đã luật hóa rõ ràng thẩm quyền của Phòng Nghiệp vụ và tổ chức thi hành
án dân sự cùng Phòng Thi hành án dân sự khu vực trong việc tổ
chức thi hành án theo sự phân công của Thủ trưởng cơ quan thi hành án cấp
tỉnh, giúp minh bạch hóa quy trình quản lý nội bộ.
2. Mở rộng
diện các Quyết định/Bản án thuộc thẩm quyền thi hành
Điều luật đã
cập nhật rất kịp thời các định hướng và văn bản pháp luật chuyên ngành mới ban
hành gần đây:
- Cơ chế xử lý chuyển hướng (Điểm
l khoản 1 và Điểm d khoản 3): Thẩm quyền thi hành Quyết định áp dụng biện pháp xử
lý chuyển hướng bồi thường thiệt hại của các cơ quan tiến hành tố tụng
(Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Tòa án) được bổ sung. Đây là tư duy pháp
lý mới nhằm tăng cường tính nhân văn, bảo vệ quyền lợi người bị hại ngay từ
giai đoạn điều tra, truy tố hoặc xét xử mà không cần đợi một bản án hình sự
toàn diện.
- Cập nhật thẩm quyền về cạnh
tranh (Điểm i khoản 1): Quy định rõ thẩm quyền thi hành các quyết định xử lý vụ
việc cạnh tranh của Chủ tịch Ủy ban Cạnh tranh Quốc gia và Hội đồng
xử lý vụ việc hạn chế cạnh tranh, đồng bộ với hệ thống pháp luật cạnh
tranh hiện hành.
3. Đồng bộ
hóa với Luật Phá sản mới
- Điểm m khoản 1: Giao thẩm quyền thi hành Quyết
định tuyên bố phá sản của Tòa án nhân dân khu vực cho Cơ quan thi hành
án dân sự cấp tỉnh, giúp tập trung đầu mối xử lý các vụ việc phá sản (vốn
phức tạp, liên quan nhiều chủ nợ) lên cấp tỉnh để đảm bảo tính chuyên môn
hóa.
Nội dung này
rất phù hợp để làm luận cứ chứng minh cho xu hướng "Chuyên môn hóa, hiện
đại hóa và cải cách mô hình cơ quan thi hành án theo thẩm quyền khu vực"
trong các bài báo cáo, nghiên cứu pháp luật. Nếu bạn cần phân tích sâu hơn hoặc
so sánh cụ thể điểm khác biệt giữa điều khoản mới này với Luật Thi hành án dân
sự năm 2008 cũ ở một khía cạnh nào đó, bạn cứ cho tôi biết nhé!
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét