Nội dung Văn Bản Quy Phạm Pháp Luật được biên tập lại từ 04 nguồn chính: https://vbpl.vn/; www.congbao.hochiminhcity.gov.vn; https://congbao.chinhphu.vn/ và https://www.ipvietnam.gov.vn /

218 DANH MỤC VĂN BẢN PHÁP LUẬT

Điều 35. Nguyên tắc áp dụng biện pháp xử lý chuyển hướng

 Điều 35. Nguyên tắc áp dụng biện pháp xử lý chuyển hướng

1. Việc áp dụng biện pháp xử lý chuyển hướng phải căn cứ vào tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tộikhả năng giáo dục, phục hồi của người chưa thành niên phạm tội và sự an toàn của bị hại, cộng đồng.

2. Việc lựa chọn biện pháp xử lý chuyển hướng áp dụng đối với người chưa thành niên phạm tội phải phù hợp với hoàn cảnh, độ tuổi, đặc điểm tâm sinh lý của họ.

3. Người chưa thành niên phạm tội có thể bị áp dụng một hoặc nhiều biện pháp xử lý chuyển hướng tại cộng đồng. Biện pháp xử lý chuyển hướng quy định tại các khoản 6, 7, 8, 9, 10 và 11 Điều 36 của Luật này phải áp dụng đồng thời với một hoặc nhiều biện pháp xử lý chuyển hướng quy định tại các khoản 1, 2, 3, 4 và 5 Điều 36 của Luật này.

Trường hợp người chưa thành niên phạm tội bị áp dụng nhiều biện pháp xử lý chuyển hướng tại cộng đồng khác nhau nhưng cùng phải thực hiện nghĩa vụ quy định tại các điểm b, c, d và đ khoản 2 Điều 23 của Luật này thì thời gian thực hiện nghĩa vụ không vượt quá mức thời hạn cao nhất quy định đối với biện pháp được áp dụng.

4. Không áp dụng biện pháp giáo dục tại trường giáo dưỡng đồng thời với các biện pháp xử lý chuyển hướng tại cộng đồng.

5. Không áp dụng biện pháp xử lý chuyển hướng nếu tại thời điểm xem xét người phạm tội đã đủ 18 tuổi.

==================

Phân tích nội dung Điều 35

1. Căn cứ toàn diện khi xem xét áp dụng (Khoản 1)

Khoản 1 thiết lập một "kiềng ba chân" bắt buộc cơ quan tiến hành tố tụng phải cân nhắc trước khi quyết định cho người chưa thành niên hưởng chính sách chuyển hướng:

  • Yếu tố khách quan: Tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi (để bảo đảm tính công bằng, không bỏ lọt tội phạm nghiêm trọng không thuộc diện chuyển hướng).
  • Yếu tố chủ quan/nhân thân: Khả năng giáo dục, phục hồi (đánh giá thái độ, hoàn cảnh xem họ có hợp tác và có khả năng sửa sai khi ở cộng đồng hay không).
  • Yếu tố xã hội: Sự an toàn của bị hại và cộng đồng (chuyển hướng nhưng không được làm tổn hại đến trật tự xã hội hoặc gây nguy hiểm cho nạn nhân).

2. Nguyên tắc cá thể hóa biện pháp xử lý (Khoản 2)

Quy định này yêu cầu việc lựa chọn biện pháp (ví dụ: khiển trách, xin lỗi công khai, tham gia chương trình học tập...) không được áp dụng rập khuôn mà phải "may đo" theo từng đối tượng. Sự phù hợp về hoàn cảnh (gia đình, kinh tế), độ tuổi (dưới 14, từ 14 - dưới 16, hay từ 16 - dưới 18) và tâm sinh lý đặc thù sẽ quyết định hiệu quả thực tế của biện pháp.

3. Nguyên tắc kết hợp linh hoạt và giới hạn nghĩa vụ (Khoản 3)

Đây là một quy định mang tính kỹ thuật lập pháp rất cao và thực tế:

  • Cho phép kết hợp đa dạng: Một người có thể chịu nhiều biện pháp tại cộng đồng để tăng tính răn đe và giáo dục.
  • Bắt buộc đi kèm: Điều luật quy định các biện pháp mang tính "hành động/nghĩa vụ nặng hơn" (từ khoản 6 đến 11 của Điều 36) bắt buộc phải được áp dụng song hành với các biện pháp mang tính "nhận thức/giám sát nền tảng" (từ khoản 1 đến 5 của Điều 36). Điều này bảo đảm người chưa thành niên vừa phải thực hiện nghĩa vụ thực tế, vừa nhận được sự giáo dục, uốn nắn tư tưởng.
  • Trần thời gian nghĩa vụ: Để tránh việc cộng dồn quá nhiều biện pháp dẫn đến gánh nặng quá tải cho người chưa thành niên (làm ảnh hưởng đến việc học tập, phát triển), luật khống chế tổng thời gian thực hiện các nghĩa vụ cốt lõi không được vượt quá mức trần cao nhất của biện pháp nặng nhất được áp dụng.

4. Nguyên tắc loại trừ lẫn nhau giữa Cộng đồng và Biệt lập (Khoản 4)

  • Giáo dục tại trường giáo dưỡng là biện pháp tư pháp có tính chất cách ly người chưa thành niên khỏi môi trường sống bình thường (gần như cách ly xã hội). Do đó, về mặt logic và thực tiễn pháp lý, không thể áp dụng đồng thời nó với các biện pháp tại cộng đồng (vốn dựa vào môi trường gia đình, xã hội bình thường). Khoản này loại bỏ sự chồng chéo và mâu thuẫn khi ra quyết định.

5. Giới hạn về độ tuổi áp dụng (Khoản 5)

  • Chính sách xử lý chuyển hướng này được thiết kế riêng cho hệ thống tư pháp người chưa thành niên. Vì vậy, mốc thời gian xem xét là thời điểm cơ quan thẩm quyền ra quyết định. Nếu tại thời điểm đó họ đã bước sang tuổi 18 (trở thành người thành niên), họ sẽ phải chịu trách nhiệm hình sự theo quy trình phổ thông dành cho người trưởng thành, không còn thuộc đối tượng điều chỉnh của cơ quan tư pháp thân thiện này nữa.

Gợi ý nghiên cứu: Đối với bài báo cáo của bạn, các Khoản 3 và Khoản 4 của Điều này là những điểm rất hay để phân tích sâu về "tính khả thi trong thực tiễn""sự tiến bộ của kỹ thuật lập pháp Việt Nam" nhằm đồng bộ hóa với Công ước quốc tế về Quyền trẻ em (CRC).

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét