Điều 37. Xác minh điều kiện thi hành án
1. Trong thời hạn 09 ngày kể từ ngày hết thời hạn tự nguyện thi hành án mà người phải thi hành án không tự nguyện thi hành thì Chấp hành viên tiến hành xác minh, trường hợp thi hành quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời thì tiến hành xác minh ngay.
Người phải thi hành án có trách nhiệm kê khai trung thực, cung cấp đầy đủ thông tin về tài sản, thu nhập, điều kiện thi hành án và phải chịu trách nhiệm về việc kê khai của mình, nếu gây thiệt hại thì phải bồi thường theo quy định của pháp luật.
2. Khi xác minh điều kiện thi hành án, Chấp hành viên có trách nhiệm xác minh cụ thể tài sản, thu nhập, các điều kiện khác để thi hành án. Đối với tài sản phải đăng ký quyền sở hữu, quyền sử dụng hoặc đăng ký giao dịch bảo đảm thì còn phải xác minh tại cơ quan có chức năng đăng ký tài sản, giao dịch đó.
3. Việc xác minh điều kiện thi hành án được thực hiện trên môi trường số, trực tiếp hoặc bằng văn bản theo quy định của pháp luật.
Trường hợp xác minh trên môi trường số, Chấp hành viên có quyền khai thác thông tin từ các cơ sở dữ liệu về tài sản, thu nhập, điều kiện thi hành án khác của người phải thi hành án.
Trường hợp xác minh trực tiếp, Chấp hành viên lập biên bản thể hiện đầy đủ kết quả xác minh, có xác nhận của cơ quan, tổ chức, cá nhân nơi tiến hành xác minh.
Trường hợp xác minh bằng văn bản thì văn bản yêu cầu cung cấp thông tin phải nêu rõ nội dung cần cung cấp và các thông tin cần thiết khác.
4. Khi xác minh điều kiện thi hành án, trong từng trường hợp cụ thể, Chấp hành viên thực hiện như sau:
a) Yêu cầu đương sự cung cấp thông tin về tài sản, thu nhập và các thông tin khác về điều kiện thi hành án; yêu cầu người phải thi hành án nộp các giấy tờ về quyền sở hữu tài sản, quyền sử dụng đất và các tài liệu khác có liên quan đến điều kiện thi hành án;
b) Yêu cầu cơ quan, tổ chức, cá nhân đang quản lý, bảo quản, lưu giữ, nắm giữ thông tin tài sản, tài khoản, thu nhập và các thông tin khác về điều kiện thi hành án của người phải thi hành án cung cấp thông tin, giao nộp hoặc cung cấp giấy tờ về quyền sở hữu tài sản, quyền sử dụng đất; những tài liệu có liên quan đến giải quyết việc thi hành án mà cơ quan, tổ chức, cá nhân đang quản lý, lưu giữ;
c) Xác minh cụ thể hiện trạng tài sản, thu nhập và các điều kiện khác của người phải thi hành án. Trong từng trường hợp cụ thể, Chấp hành viên có quyền:
Yêu cầu cơ quan chuyên môn hoặc mời, thuê tổ chức, cá nhân có chuyên môn để xem xét hiện trạng tài sản, sổ sách quản lý vốn, tài sản của người phải thi hành án hoặc làm rõ các nội dung cần xác minh.
Yêu cầu cơ quan có thẩm quyền xác định số cổ phần, phần vốn góp, tài sản số và các tài sản đặc thù khác của người phải thi hành án.
Trưng cầu tổ chức, cá nhân có chuyên môn xác định giá trị tài sản của người phải thi hành án.
Tự mình thực hiện hoặc yêu cầu cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan thực hiện việc mở khóa, mở gói; đo đạc tài sản hoặc các biện pháp cần thiết khác để thực hiện việc xác minh.
Trường hợp cần thiết, Chấp hành viên đề nghị cơ quan chuyên môn thực hiện đo vẽ, xác định ranh giới, mốc giới đối với tài sản là quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất.
Trường hợp đương sự hoặc những người khác có hành vi cản trở, chống đối việc xác minh, xem xét, kiểm tra hiện trạng tài sản thì Chấp hành viên đề nghị Ủy ban nhân dân cấp xã hoặc cơ quan, tổ chức có thẩm quyền để yêu cầu người đó chấm dứt hành vi cản trở, chống đối hoặc tạm thời rời khỏi nơi có tài sản để thực hiện việc xác minh;
d) Cơ quan thi hành án dân sự có thể xác minh ngoài địa bàn tỉnh, thành phố nơi đặt trụ sở hoặc ủy quyền cho cơ quan thi hành án dân sự khác nơi người phải thi hành án có tài sản, cư trú, làm việc hoặc có trụ sở để xác minh điều kiện thi hành án.
5. Người được thi hành án có quyền tự mình hoặc ủy quyền cho người khác xác minh điều kiện thi hành án; cung cấp thông tin về tài sản, thu nhập, điều kiện khác của người phải thi hành án cho cơ quan thi hành án dân sự.
Trường hợp Chấp hành viên thấy cần thiết hoặc kết quả xác minh của Chấp hành viên và người được thi hành án khác nhau hoặc có kháng nghị của Viện kiểm sát nhân dân về kết quả xác minh thì phải xác minh lại. Việc xác minh lại được tiến hành trong thời hạn 05 ngày làm việc kể từ ngày nhận được kết quả xác minh do đương sự cung cấp hoặc nhận được kháng nghị của Viện kiểm sát nhân dân.
6. Các cơ quan, tổ chức, cá nhân quy định tại khoản 1 Điều 14 của Luật này và cơ quan, tổ chức, cá nhân khác đang nắm giữ thông tin hoặc quản lý tài sản, tài khoản của người phải thi hành án có trách nhiệm:
a) Chia sẻ dữ liệu theo đề nghị của cơ quan thi hành án dân sự, Chấp hành viên;
b) Cung cấp thông tin, tài liệu đầy đủ, chính xác, đúng thời hạn theo yêu cầu của Chấp hành viên, người được thi hành án theo quy định của pháp luật; ký vào biên bản xác minh trong trường hợp Chấp hành viên xác minh trực tiếp hoặc trả lời bằng văn bản trong thời hạn 03 ngày làm việc kể từ ngày nhận được yêu cầu; đối với thông tin về tài khoản hoặc trường hợp thi hành biện pháp khẩn cấp tạm thời thì phải cung cấp ngay;
c) Cơ quan có thẩm quyền quản lý, đăng ký tài sản có trách nhiệm cung cấp thông tin về người có quyền sở hữu, quyền sử dụng tài sản trong thời hạn 03 ngày làm việc kể từ ngày nhận được yêu cầu của cơ quan thi hành án dân sự, Chấp hành viên.
Cơ quan thi hành án dân sự, Chấp hành viên yêu cầu cung cấp thông tin theo quy định của pháp luật thì không phải chịu chi phí.
7. Cơ quan, tổ chức, cá nhân không cung cấp, chậm cung cấp hoặc cung cấp thông tin sai sự thật về điều kiện thi hành án của người phải thi hành án thì cá nhân, người đứng đầu của cơ quan, tổ chức đó phải chịu trách nhiệm, nếu gây thiệt hại thì phải bồi thường theo quy định của pháp luật.
8. Chấp hành viên có thể sử dụng kết quả xác minh điều kiện thi hành án do văn phòng thi hành án dân sự, Thừa hành viên thực hiện để tổ chức thi hành án theo quy định của Luật này.
_Xem toàn bộ văn bản>>>>【Luật số 106/2025/QH15 Thi hành án dân sự】
Quy định tại
Điều 37 Luật Thi hành án dân sự năm 2025 (Luật số 106/2025/QH15) về Xác
minh điều kiện thi hành án đã thể hiện một bước đột phá mạnh mẽ về mặt công
nghệ, chuyển đổi số tư pháp và làm rõ ràng hơn rất nhiều so với cơ chế xác minh
cũ.
Dưới đây là
phân tích và làm nổi bật các điểm mới cốt lõi mang tính thực tiễn cao của
điều luật này phục vụ cho công tác nghiên cứu, đánh giá lập pháp:
1. Rút ngắn
thời hạn bắt đầu xác minh (Khoản 1)
- Luật 2025: Chấp hành viên phải tiến hành
xác minh trong thời hạn 09 ngày kể từ ngày hết thời hạn tự nguyện.
- So với Luật cũ: Thời hạn này trước đây là 10
ngày. Việc giảm bớt 01 ngày cho thấy tinh thần thúc đẩy nhanh tiến độ,
giảm thiểu rủi ro tẩu tán tài sản của người phải thi hành án.
2. Pháp
lý hóa và cụ thể hóa "Xác minh trên môi trường số" (Khoản 3)
Đây là điểm
sáng lớn nhất của điều luật. Việc xác minh không còn bó hẹp trong phương thức
truyền thống (trực tiếp hoặc gửi văn bản giấy).
- Chấp hành viên được trao quyền khai
thác trực tiếp dữ liệu thông tin từ các cơ sở dữ liệu điện tử về tài sản,
thu nhập của người phải thi hành án.
- Cơ chế này sẽ giải quyết triệt để
bài toán "chờ đợi phản hồi" bằng văn bản giấy giữa các cơ quan,
giúp nhận diện dòng tiền và tài sản một cách nhanh chóng.
3. Nhận
diện và quét sạch các loại "Tài sản đặc thù mới" (Khoản 4 Điểm c)
Đón đầu xu
hướng phát triển của nền kinh tế số, Luật năm 2025 đã chính thức đưa các loại
hình tài sản mới vào diện xác minh và xử lý:
- Tài sản số: Lần đầu tiên văn bản luật tối
cao về thi hành án ghi nhận khái niệm này một cách chính thức trong hoạt động
xác minh.
- Cổ phần, phần vốn góp, tài sản đặc
thù khác: Quy định
rõ thẩm quyền của Chấp hành viên trong việc yêu cầu cơ quan chuyên môn xác
định rõ ràng quyền sở hữu, tạo tiền đề cho việc kê biên, cưỡng chế chuẩn
xác.
4. Cơ chế
phối hợp liên ngành siết chặt thời gian (Khoản 6)
Để tránh
tình trạng "ngâm" văn bản yêu cầu phối hợp từ phía các cơ quan, tổ chức
nắm giữ thông tin (nhà đất, ngân hàng, văn phòng đăng ký...), Luật ấn định thời
hạn cực kỳ nghiêm khắc:
- 03 ngày làm việc: Là thời hạn tối đa để các cơ
quan, tổ chức (bao gồm cả cơ quan quản lý, đăng ký tài sản) phải cung cấp
thông tin, tài liệu khi có yêu cầu.
- Cung cấp NGAY: Đối với thông tin liên quan đến
tài khoản ngân hàng hoặc trường hợp thi hành quyết định áp dụng
biện pháp khẩn cấp tạm thời.
- Miễn chi phí: Cơ quan thi hành án và Chấp
hành viên được miễn toàn bộ chi phí khi yêu cầu các cơ quan chức năng cung
cấp thông tin tài sản.
5. Cơ chế
giải quyết khi có xung đột kết quả xác minh (Khoản 5)
Luật ghi nhận
quyền tự xác minh của người được thi hành án. Tuy nhiên, để đảm bảo tính khách
quan và chính xác tối đa:
- Nếu xảy ra tình trạng kết quả của
Chấp hành viên và người được thi hành án khác nhau, hoặc khi có kháng
nghị của Viện kiểm sát, Chấp hành viên bắt buộc phải tiến hành xác
minh lại trong thời hạn 05 ngày làm việc.
⚖️ Đánh giá chung:
Điều 37 của
Luật số 106/2025/QH15 đã thiết lập một hành lang pháp lý rất "mạnh
tay", gia tăng quyền hạn kỹ thuật cho Chấp hành viên (thông qua môi trường
số, mở khóa, mở gói, đo vẽ mốc giới), đồng thời gắn trách nhiệm bồi thường thiệt
hại rõ ràng cho cả đương sự kê khai không trung thực lẫn cơ quan chậm trễ cung
cấp thông tin (Khoản 7). Điều này hứa hẹn sẽ giảm thiểu tối đa tỷ lệ án tồn đọng
do "chưa có điều kiện thi hành" ảo trên thực tế.
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét