Điều 47. Tạm đình chỉ thi hành án
1. Thủ trưởng cơ quan thi hành án dân sự ra quyết định tạm đình chỉ thi hành án trong thời hạn 05 ngày làm việc kể từ ngày có một trong các căn cứ sau đây:
a) Trường hợp thi hành nghĩa vụ về tài sản mà nhận được thông báo của Tòa án về việc đã thụ lý đơn yêu cầu áp dụng thủ tục phục hồi hoặc áp dụng thủ tục phá sản đối với người phải thi hành án, trừ trường hợp bản án, quyết định buộc doanh nghiệp, hợp tác xã bồi thường về tính mạng, sức khỏe, danh dự hoặc trợ cấp thôi việc, trả lương cho người lao động; quyết định kê biên tài sản của doanh nghiệp, hợp tác xã để sung vào công quỹ nhà nước; bản án, quyết định buộc doanh nghiệp, hợp tác xã thực hiện nghĩa vụ được bảo đảm bằng tài sản của bên thứ ba hoặc trường hợp khác theo quy định của pháp luật;
b) Nhận được yêu cầu của Tòa án về việc tạm đình chỉ thi hành quyết định công nhận và cho thi hành phán quyết của Trọng tài nước ngoài theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Trường hợp vụ việc đã được thi hành xong toàn bộ thì Thủ trưởng cơ quan thi hành án dân sự không ra quyết định tạm đình chỉ thi hành án mà có văn bản thông báo cho Tòa án biết.
2. Cơ quan thi hành án dân sự thông báo cho đương sự, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan về việc tạm đình chỉ thi hành án trong thời hạn 05 ngày làm việc kể từ ngày nhận được quyết định tạm đình chỉ thi hành án của người có thẩm quyền kháng nghị bản án, quyết định theo thủ tục giám đốc thẩm, tái thẩm hoặc quyết định tạm đình chỉ việc thi hành quyết định xử lý vụ việc cạnh tranh của Chủ tịch Ủy ban Cạnh tranh Quốc gia.
Trường hợp bản án, quyết định đã được thi hành một phần hoặc toàn bộ thì Thủ trưởng cơ quan thi hành án dân sự phải thông báo ngay bằng văn bản cho người đã kháng nghị hoặc Chủ tịch Ủy ban Cạnh tranh quốc gia. Trong thời gian tạm đình chỉ thi hành án thì người phải thi hành án không phải chịu lãi chậm thi hành án.
3. Thủ trưởng cơ quan thi hành án dân sự phải ra quyết định tiếp tục thi hành án trong thời hạn 05 ngày làm việc kể từ khi nhận được một trong các văn bản sau đây:
a) Quyết định rút kháng nghị của người có thẩm quyền;
b) Quyết định giám đốc thẩm, tái thẩm của Tòa án giữ nguyên hoặc sửa một phần hoặc toàn bộ bản án, quyết định bị kháng nghị;
d) Quyết định của Tòa án về việc không mở thủ tục phá sản.
============
Tương tự như
Điều 46, dưới đây là bảng tổng hợp và phân loại chi tiết các quy định về Tạm
đình chỉ thi hành án dựa trên Điều 47 Luật Thi hành án dân sự (Luật số
106/2025/QH15) để bạn dễ dàng nắm bắt:
1. Căn cứ
Thủ trưởng cơ quan THADS ra quyết định tạm đình chỉ (Khoản 1)
Trong thời hạn
05 ngày làm việc kể từ ngày có căn cứ, Thủ trưởng cơ quan thi hành án
dân sự (THADS) phải ra quyết định tạm đình chỉ thi hành án đối với 2 nhóm trường
hợp sau:
|
Nhóm
căn cứ |
Chi tiết
trường hợp cụ thể |
Ngoại
lệ (Không tạm đình chỉ) |
|
Liên
quan đến Phá sản / Phục hồi doanh nghiệp |
Nhận được
thông báo của Tòa án về việc đã thụ lý đơn yêu cầu áp dụng thủ tục phục hồi
hoặc phá sản đối với người phải thi hành án (khi thi hành nghĩa vụ tài sản). |
Vẫn tiếp tục
thi hành đối với bản án, quyết định về:
• Bồi thường
tính mạng, sức khỏe, danh dự.
• Trợ cấp
thôi việc, trả lương cho người lao động.
• Kê biên
tài sản doanh nghiệp/hợp tác xã để sung công quỹ nhà nước.
• Nghĩa vụ
được bảo đảm bằng tài sản của bên thứ ba.
• Các trường
hợp khác theo pháp luật. |
|
Liên
quan đến Trọng tài nước ngoài |
Nhận được yêu
cầu của Tòa án về việc tạm đình chỉ thi hành quyết định công nhận và cho
thi hành phán quyết của Trọng tài nước ngoài. |
• Nếu vụ
việc đã được thi hành xong toàn bộ, Thủ trưởng cơ quan THADS không ra
quyết định tạm đình chỉ mà gửi văn bản thông báo cho Tòa án biết. |
2. Trường
hợp tạm đình chỉ theo quyết định của cơ quan khác (Khoản 2)
Đây là trường
hợp quyết định tạm đình chỉ do người có thẩm quyền kháng nghị hoặc Chủ tịch Ủy
ban Cạnh tranh Quốc gia ban hành, cơ quan THADS đóng vai trò thông báo và thực
hiện:
- Thời hạn thông báo: Trong vòng 05 ngày làm việc
kể từ ngày nhận được quyết định tạm đình chỉ từ người có thẩm quyền kháng
nghị (theo thủ tục giám đốc thẩm, tái thẩm) hoặc quyết định của Chủ tịch Ủy
ban Cạnh tranh Quốc gia, cơ quan THADS phải thông báo cho đương sự và người
có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan.
- Xử lý khi đã thi hành một phần
hoặc toàn bộ:
Thủ trưởng cơ quan THADS phải thông báo ngay bằng văn bản cho người
đã ra quyết định kháng nghị hoặc Chủ tịch Ủy ban Cạnh tranh Quốc gia.
- Quyền lợi về lãi suất: Trong thời gian tạm đình chỉ
thi hành án, người phải thi hành án không phải chịu lãi chậm thi hành
án.
3. Khi
nào phải ra quyết định tiếp tục thi hành án? (Khoản 3)
Trong thời hạn
05 ngày làm việc, Thủ trưởng cơ quan THADS bắt buộc phải ra quyết định
tiếp tục thi hành án kể từ khi nhận được một trong các văn bản sau:
- Văn bản từ người kháng nghị: Quyết định rút kháng nghị của
người có thẩm quyền.
- Văn bản từ Tòa án (về xét xử): Quyết định giám đốc thẩm, tái
thẩm của Tòa án giữ nguyên, sửa một phần hoặc sửa toàn bộ bản án, quyết định
bị kháng nghị.
- Văn bản từ Tòa án (về phá sản):
- Thông báo của Tòa án về việc
đình chỉ thủ tục phục hồi hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp, hợp tác
xã (trong trường hợp nghĩa vụ tài sản bị tạm đình chỉ chưa được thanh
toán).
- Quyết định của Tòa án về việc không
mở thủ tục phá sản.
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét